Thứ Tư, 23 tháng 4, 2025

Bộ đội Biên phòng với các giải pháp đột phá để xây dựng “thế trận lòng dân” khu vực biên giới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

 TCCS - Kể từ khi được thành lập đến nay, Bộ độ Biên phòng luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, ban hành nhiều chủ trương, giải pháp nhằm xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới, góp phần huy động sức mạnh toàn dân trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền biên giới quốc gia. Thời gian tới, Bộ đội Biên phòng tiếp tục tập trung thực hiện hiệu quả các giải pháp trọng tâm để củng cố hơn nữa “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới, góp phần đưa đất nước ta vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 


Kết quả nổi bật trong thời gian qua

Kế thừa truyền thống, kinh nghiệm coi “sức dân như sức nước”, “dân là gốc”(1) trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, với tư tưởng, quan điểm sâu sắc, toàn diện, như “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”(2), “trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”(3), “sức mạnh của Đảng là sự gắn bó máu thịt với nhân dân”(4),...

Trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, Đảng và Nhà nước ta xác định: Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là chủ thể, “mỗi người dân biên giới là một cột mốc sống”. Đồng thời, khẳng định: Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ biên giới quốc gia.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, với vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, Bộ đội Biên phòng  đã quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời, có nhiều chủ trương, giải pháp chủ động, tích cực, sáng tạo trong triển khai phong trào, chương trình, mô hình giúp người dân phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; trực tiếp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới với các kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, phối hợp chặt chẽ với ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương tổ chức chương trình phối hợp, huy động sức mạnh cả nước cùng hướng về biên giới, hải đảo.

Nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cả nước vào sự nghiệp bảo vệ biên giới, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã ký chương trình phối hợp với các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương triển khai nhiều hoạt động hướng về biên giới, hải đảo, tiêu biểu, như Phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân tổ chức Chương trình “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, đến nay đã trao tặng hơn 7.900 căn nhà, hơn 450 công trình dân sinh, với tổng giá trị trên 362 tỷ đồng; phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội và các cơ quan Trung ương tổ chức Chương trình “Bò giống giúp người nghèo biên giới”, qua đó trao tặng gần 30.000 con bò giống cho người nghèo biên giới, với tổng giá trị hơn 400 tỷ đồng; phối hợp với Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, huy động nguồn lực xã hội hơn 291 tỷ đồng hỗ trợ hơn 6,5 triệu con giống gia súc, gia cầm, 4,9 tỷ đồng vốn vay, 850 mô hình sinh kế giúp phụ nữ nghèo phát triển kinh tế, 872 căn nhà mái ấm tình thương, trao tặng trên 5.000 suất quà cho hội viên phụ nữ, 7.000 suất học bổng cho học sinh dân tộc thiểu số tại 210 xã biên giới. Bên cạnh đó, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện hiệu quả các Đề án “Bảo tồn bền vững và phát triển dân tộc La Hủ” ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; “Bảo tồn bền vững và phát triển tộc người thiểu số Đan Lai” ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; “Bảo tồn, phát triển đồng bào dân tộc Chứt” ở bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

 Các chương trình phối hợp đã huy động sự chung tay, góp sức của cả hệ thống chính trị và xã hội hướng về biên giới, hải đảo; động viên, chia sẻ khó khăn với quân và dân nơi biên giới, cùng các địa phương từng bước ổn định, cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội, tạo “thế trận lòng dân” bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Thứ hai, triển khai trong toàn lực lượng các phong trào, chương trình, mô hình giúp dân phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh.

Với phương châm “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng cam cộng khổ với đồng bào các dân tộc. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã chỉ đạo các đơn vị rà soát, đánh giá cụ thể tình hình phát triển kinh tế của địa phương. Trên cơ sở đó, tham mưu, tham gia, phối hợp với địa phương đề ra chủ trương, giải pháp và triển khai thực hiện hiệu quả chương trình, dự án của Nhà nước đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng ở khu vực biên giới. Tích cực, chủ động trong tham gia, phối hợp thực hiện Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; cuộc vận động “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”; chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội; chủ trì triển khai Dự án “Các bộ, chiến sĩ Quân đội nâng bước em tới trường” trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi... Qua đó, các đơn vị Bộ đội Biên phòng đã giúp 105 xã ở khu vực biên giới từ yếu, kém lên trung bình, 198 xã từ trung bình lên khá về phát triển kinh tế - xã hội; trực tiếp nhận đỡ đầu, giúp đỡ 85 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 120 xã đang hoàn thiện các tiêu chí và hơn 9.500 hộ dân giảm nghèo nhanh và bền vững.

Đồng thời, Bộ đội Biên phòng trực tiếp triển khai 22 phong trào, chương trình, mô hình giúp dân phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, tiêu biểu như:

Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng Dân bản”: Đã trao tặng 11,84 tỷ đồng, 133 công trình dân sinh, 583 căn nhà “Mái ấm biên cương”, 375 con bò giống, 162 tấn gạo, 160.999 chiếc bánh chưng, 213.633 suất quà Tết cho nhân dân, 13.164 suất học bổng cho học sinh; tổ chức 30 đợt khám, chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho nhân dân; tổng trị giá khoảng 200 tỷ đồng.

Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn biên phòng”: Từ năm 2016 đến nay, hằng năm duy trì nhận đỡ đầu, giúp đỡ gần 3.000 học sinh (trong đó, có gần 200 học sinh của các nước bạn Lào và Cam-pu-chia) với mức 500 nghìn đồng/tháng/học sinh; nhận nuôi gần 400 học sinh tại các đồn Biên phòng, tổng trị giá Chương trình khoảng 153 tỷ đồng. Với sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chương trình, hằng năm tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng giảm mạnh, kết quả học tập của học sinh năm sau cao hơn năm trước; hơn 800 người tốt nghiệp trung học phổ thông, 383 người đỗ vào các trường đại học, cao đẳng; gần 200 người đạt giải kỳ thi các cấp.

Chương trình “Thầy giáo quân hàm xanh”: Tính riêng từ năm 2010 đến nay, các đơn vị Bộ đội Biên phòng đã trực tiếp mở 584 lớp học xóa mù chữ cho hơn 11.713 lượt người ở mọi lứa tuổi, thành phần; phối hợp với ngành giáo dục địa phương mở 349 lớp phổ cập giáo dục tiểu học, lớp học tình thương cho hơn 8.043 trẻ em nghèo. Vận động hơn 114.583 trẻ em đến trường; phối hợp sửa chữa hàng nghìn phòng học; vận động trao tặng hàng chục nghìn suất học bổng, đồ dùng học tập, phương tiện đến trường... trị giá hàng tỷ đồng.

Chương trình “Thầy thuốc quân hàm xanh”: Các đơn vị Bộ đội Biên phòng thường xuyên duy trì 150 trạm quân dân y kết hợp với hơn 400 y sĩ, bác sĩ vừa chăm sóc sức khỏe cho bộ đội, vừa kết hợp khám, chữa bệnh cho nhân dân, cấp phát thuốc miễn phí trị giá hàng chục tỷ đồng cho nhân dân ở khu vực biên giới nước ta và cả nước bạn Lào, Cam-pu-chia...

Mô hình “Phân công đảng viên đồn Biên phòng phụ trách các hộ gia đình ở khu vực biên giới”: Các đồn Biên phòng duy trì phân công hơn 10 nghìn lượt đảng viên phụ trách hơn 40 nghìn hộ gia đình để nắm tình hình, giúp đỡ, hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn hộ gia đình chăn nuôi, trồng trọt phát triển kinh tế hộ gia đình. Đến nay, đảng viên đã trực tiếp hỗ trợ, giúp đỡ hơn 4.500 hộ gia đình thoát nghèo; xây dựng hơn 12 nghìn gia đình văn hóa.

Qua triển khai các phong trào, chương trình, mô hình của Bộ đội Biên phòng đã góp phần từng bước giải quyết vấn đề khó khăn, cấp thiết trong nhân dân ở khu vực biên giới, nhất là vấn đề kinh tế, giáo dục, y tế. Đồng thời xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ là con em đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng với nhân dân ở khu vực biên giới, củng cố tiềm lực về kinh tế, chính trị tinh thần, “thế trận lòng dân” vững chắc trong xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân bảo vệ biên giới.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa tham mưu, tham gia, phối hợp phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, Quân đội và cấp ủy, chính quyền các cấp; xây dựng “biên giới lòng dân” vững mạnh.

Trước thực trạng hệ thống chính trị ở cơ sở tại nhiều địa bàn khu vực biên giới còn khó khăn, Bộ đội Biên phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện từng bước củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền cấp xã biên giới. Đảng ủy Bộ đội Biên phòng đã ký Quy chế phối hợp với 44 tỉnh ủy, thành ủy biên giới, chỉ đạo Đảng ủy Bộ đội Biên phòng các tỉnh, thành phố ký Quy chế phối hợp với cấp ủy cấp huyện biên giới, các đồn biên phòng quy chế phối hợp với cấp ủy cấp xã biên giới. Với nhiều cách làm mới, sáng tạo, mô hình hiệu quả, như giới thiệu gần 700 lượt cán bộ đồn biên phòng tham gia cấp ủy cấp huyện, xã biên giới nhiệm kỳ 2020 - 2025; thường xuyên tăng cường hơn 300 cán bộ cho các xã biên giới (từ năm 1999 đến nay), giới thiệu, duy trì gần 3.000 đảng viên đồn biên phòng tham gia sinh hoạt chi bộ thôn, bản biên giới. Đội ngũ cán bộ, đảng viên đồn biên phòng đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, cùng với cấp ủy các xã, phường, thị trấn biên giới đề ra nhiều chủ trương, giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từng bước nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và năng lực điều hành, quản lý của chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở. Chỉ tính từ năm 2010 đến này, đã phát hiện, bồi dưỡng và giới thiệu kết nạp Đảng cho 31.168 quần chúng ưu tú (trong đó, có 9.189 đảng viên người dân tộc thiểu số), xóa tình trạng “trắng đảng viên và tổ chức đảng” ở 721 thôn, bản.

Qua đó, giúp địa phương củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền, là cầu nối quan trọng, đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với nhân dân và tổ chức thực hiện thắng lợi ở cơ sở. Kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, Quân đội; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiềm lực chính trị, nêu cao tinh thần trong bảo vệ biên giới quốc gia.


Thứ tư, gắn việc thực hiện các phong trào, chương trình, mô hình giúp dân phát triển kinh tế - xã hội với các phong trào bảo vệ biên giới và các hoạt động Ngày Biên phòng toàn dân, tạo sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia bảo vệ biên giới.

Nhằm tập hợp và phát huy sức mạnh to lớn của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã phát động phong trào quần chúng tham gia tự quản đường biên, mốc quốc giới và giữ gìn an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, xác định đây là một chủ trương vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong quản lý, bảo vệ biên giới. Ngày 9-1-2015, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tham mưu với Bộ Quốc phòng báo cáo Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg, “Về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”. Để tổ chức thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 01/CT-TTg, Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo các đơn vị tích cực tuyên truyền, vận động cán bộ, nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác, xác định rõ trách nhiệm, quyền lợi trong tham gia bảo vệ biên giới. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và ở địa phương trong việc tập hợp, huy động nhân dân tham gia bảo vệ biên giới. Tổ chức phát động và hướng dẫn quần chúng tích cực tham gia các phong trào, như “đoạn đường biên thanh niên tự quản”, “người phụ nữ vì biên cương Tổ quốc”, “họ đạo mẫu mực”; “Lũy tre biên thùy”, “Tiếng kẻng vùng biên”, “Tổ tự quản trật tự, an ninh thôn, bản”, “Thôn xóm bình yên, gia đình hòa thuận”, “Già làng, trưởng bản gương mẫu”, “tuổi già gương sáng”,...

Qua đó, ý thức về quốc gia, quốc giới của công dân mà trực tiếp, thường xuyên là cán bộ, nhân dân ở khu vực biên giới được nâng lên rõ rệt; các gia đình, dòng họ, thôn, xóm, bản biên giới tích cực tham gia tổ chức ký cam kết chấp hành quy chế biên giới, quy định về an ninh, trật tự. Hiện nay, đã huy động được gần 46.000 hộ gia đình và 115.000 quần chúng nhân dân đăng ký tham gia tự quản hơn 90% hệ thống đường biên giới, mốc quốc giới; thành lập hơn 3.000 tổ tàu thuyền an toàn, đoàn kết tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo; 400 tổ bến bãi an toàn và 100% thôn, bản biên giới thành lập hàng vạn tổ tự quản an ninh, trật tự. Nhân dân đã cung cấp hàng nghìn tin có giá trị phục vụ nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với hành vi vi phạm quy chế biên giới, các loại tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy, mua bán người, buôn lậu, xuất, nhập cảnh trái phép... Từ đó, góp phần tập hợp, huy động sức mạnh của toàn dân, tạo “vành đai nhân dân” tham gia bảo vệ biên giới, xây dựng, củng cố nền biên phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới.

Đồng thời, để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của toàn Đảng, toàn dân, của tuyến sau hướng về tuyến trước phục vụ nhiệm vụ xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia, ngày 22-2-1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 16/HĐBT về tổ chức thực hiện “Ngày Biên phòng”. Nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ đó, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo các địa phương tổ chức hiệu quả các hoạt động của Ngày hội Biên phòng toàn dân ở cơ sở, với nội dung bao gồm 2 phần (lễ và hội). Trong đó, phần lễ tập trung đánh giá kết quả và biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân tiêu biểu trong thực hiện phong trào toàn dân tham gia quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phần hội, tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống sôi nổi, gắn với phong tục, tập quán từng dân tộc, từng địa phương; khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân; tổ chức gian hàng “0” đồng…, tạo khí thế vui tươi, phấn khởi, trở thành ngày hội của không chỉ đồng bào các dân tộc khu vực biên giới, mà còn là ngày hội của nhân dân cả nước; góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và chiến sĩ lực lượng vũ trang đối với nhiệm vụ bảo vệ biên giới.

Bên cạnh đó, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã triển khai thực hiện tốt công tác đối ngoại nhân dân. Tham mưu địa phương tổ chức tốt Phong trào “Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới”. Đẩy mạnh xây dựng mối quan hệ giữa chính quyền, nhân dân hai bên biên giới, tạo điều kiện giao thương, trao đổi hàng hóa, phát triển kinh tế; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng, góp phần thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Như vậy, các phong trào, chương trình, mô hình giúp dân phát triển kinh tế - xã hội đã thực sự mang lại kết quả, hiệu quả, là sự tri ân của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng với đồng bào các dân tộc nơi biên giới; chung tay, góp sức cùng cấp ủy, chính quyền địa phương biên giới xóa đói, giảm nghèo bền vững, thực hiện hiệu quả chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh; xây dựng khu vực biên giới ngày càng ổn định, phát triển.

Một số giải pháp đột phá xây dựng “thế trận lòng dân” khu vực biên giới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Trong những năm tới, tình hình trên các tuyến biên giới, biển, đảo dự báo vẫn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, khó lường; các thế lực thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng vấn đề về dân tộc, tôn giáo, về biên giới, biển, đảo để chống phá cách mạng nước ta; các vấn đề an ninh phi truyền thống tiềm ẩn nhiều thách thức, tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh và sự nghiệp xây dựng, quản lý và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh... Để tiếp tăng cường củng cố “thế trận lòng dân” vững mạnh ở khu vực biên giới, góp phần đưa đất nước ta vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Bộ đội Biên phòng xác định cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tham mưu quán triệt, triển khai thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, biên phòng. Trọng tâm là quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả “Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia”, Luật Biên phòng Việt Nam, Đề án “Xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ở khu vực biên giới”, góp phần xây dựng khu vực biên giới vững mạnh.

Hai là, tăng cường phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, các ngành, các lực lượng nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, nhằm giúp quần chúng nhân dân nhận thức đầy đủ hơn nữa về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia, xây dựng “thế trận lòng dân”, nền biên phòng toàn dân vững mạnh ở khu vực biên giới để mỗi người dân nơi biên giới đều nêu cao trách nhiệm “mỗi người dân biên giới là một cột mốc sống”.

Ba là, tích cực, chủ động tham mưu, tham gia xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở ở khu vực biên giới vững mạnh, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo trong tình hình mới. Tiếp tục tăng cường cán bộ cho các xã biên giới, giới thiệu đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt tại chi bộ thôn, bản và phụ trách hộ gia đình ở khu vực biên giới. Duy trì, thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa cấp ủy Bộ đội Biên phòng với cấp ủy địa phương biên giới các cấp; nhất là thực hiện Kết luận số 68-KL/TW, của Ban Bí thư, “Về chủ trương tăng thêm cấp ủy viên là cán bộ đồn Biên phòng tham gia cấp ủy cấp huyện, cấp xã biên giới, hải đảo nhiệm kỳ 2025 - 2030”.

Bốn là, tích cực tham mưu, tham gia xây dựng, triển khai các đề án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương tổ chức hoạt động hướng về biên giới, hải đảo; duy trì, nhân rộng các chương trình, mô hình giúp dân phát triển kinh tế - xã hội của Bộ đội Biên phòng ở khu vực biên giới đã được khẳng định, với phương châm “thực tâm, thực chất, trách nhiệm, hiệu quả”, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ở khu vực biên giới, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Bộ đội Biên phòng.

Năm là, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể địa phương quán triệt, thực hiện tốt phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới gắn với tổ chức các hoạt động “Ngày Biên phòng toàn dân” phong phú, thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết trong nhân dân,… phát huy sức mạnh “thế trận lòng dân”, nền biên phòng toàn dân trong quản lý và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia ngay từ cơ sở. Trọng tâm là tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg.

Tổ chức hiệu quả các phong trào, chương trình, mô hình giúp nhân dân phát triển kinh tế - xã hội sẽ góp phần tích cực cùng với các cấp, các ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ở khu vực biên giới; củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại; củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Bộ đội Biên phòng; huy động được sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền biên phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển ./...

Q1

Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay

 TCCS - Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến công vang dội của một dân tộc vốn là thuộc địa, đánh thắng quân đội hiện đại của một đế quốc phương Tây. Đây cũng là chiến thắng điển hình nhất trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống quân xâm lược nước ngoài, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Chính vì vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của tinh thần quật cường, bất khuất, trí thông minh, sáng tạo của nhân dân Việt Nam. Bảy mươi năm đã trôi qua, song chiến thắng này vẫn còn vẹn nguyên giá trị, ý nghĩa trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.


1- Tháng 1-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ tư, phân tích một cách sâu sắc, khoa học hình thái chiến sự trên chiến trường Việt Nam và chiến trường toàn Đông Dương. Trung ương nhận định, do tình hình phát triển không đồng đều của lực lượng ta trên các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, nên đại bộ phận chủ lực của địch đã dần dần tập trung ở Bắc Bộ, trong lúc chúng còn nhiều sơ hở trên các chiến trường khác. Ở Bắc Bộ, lực lượng của chúng tập trung ở đồng bằng, còn ở chiến trường miền núi thì chúng tương đối yếu hơn, điều kiện địa hình ở đó lại có lợi cho ta, không có lợi cho địch.

Từ phân tích sát tình hình, nắm vững tư tưởng tiêu diệt sinh lực địch là chính, Trung ương Đảng đã đề ra phương hướng chiến lược hết sức đúng đắn là: Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, giải phóng đất đai; đồng thời, buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa điểm xung yếu mà chúng không thể bỏ; từ đó, do địch phải phân tán binh lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng. Nói một cách cụ thể hơn, trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, trước mắt tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, cũng có thể dùng một bộ phận chủ lực để đánh những trận nhỏ. Còn các chiến dịch lớn thì nên mở vào những hướng khác, làm như vậy cũng tức là dần dần tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng.

Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc với Hiệp định đình chiến (7-1953), chúng ta đã dự đoán âm mưu mới của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là ra sức tăng cường lực lượng và mở rộng chiến tranh xâm lược ở Đông Dương. Tình hình chiến sự vào mùa hè năm 1953 đã trở nên khẩn trương một cách rõ rệt, nhất là từ khi tướng H. Na-va được cử làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Song, nhân dân và quân đội ta không hề nao núng trước những âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Nhiệm vụ của chúng ta là phải kiên quyết chiến đấu để phá tan kế hoạch Na-va(1) của địch.

Đảng ta thấy rõ những nét chính của kế hoạch Na-va, nhưng âm mưu của địch vẫn chưa bộc lộ một cách cụ thể. Trung ương Đảng nghiên cứu và phân tích tình hình, tư tưởng và phương hướng chiến lược cơ bản đã được đề ra từ trước, đi tới xác định chủ trương tác chiến trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 là: Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do, để cho quân chủ lực có điều kiện tập trung làm nhiệm vụ.

Vào thời điểm các cuộc tiến công Đông - Xuân của ta chuẩn bị bắt đầu, cục diện chiến sự có một sự biến chuyển mới. Địch phát hiện sự di chuyển của một bộ phận chủ lực ta lên hướng Tây Bắc. Ngày 20-11-1953, chúng đã dùng một bộ phận lực lượng cơ động, nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ. Chúng ta đã kịp thời nhận định tình huống mới: Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, mặc dù ta không phán đoán được cụ thể về địa điểm và thời gian, nhưng cũng nằm trong phạm vi phán đoán trước của ta là nếu Tây Bắc bị uy hiếp thì địch sẽ tăng viện lên hướng đó. Như vậy là, trước sự uy hiếp của ta, địch đã phải bị động đối phó, phải phân tán một bộ phận lực lượng cơ động lên Điện Biên Phủ để yểm hộ cho Tây Bắc, che chở cho Thượng Lào.

Căn cứ vào nhận định trên, các đơn vị chủ lực của ta đang tiến quân lên Tây Bắc nhận được mệnh lệnh gấp rút tiến công tiêu diệt địch ở Lai Châu; đồng thời, một cánh quân tiến nhanh về phía bắc Điện Biên Phủ cắt đường rút lui của quân địch ở Lai Châu về phía Điện Biên Phủ, ngăn chặn không cho quân địch ở Điện Biên Phủ tiến lên đón chúng; cùng lúc đó, ta tiến hành bám sát địch ở Điện Biên Phủ, bao vây Điện Biên Phủ và chuẩn bị chiến trường.

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc. Cánh đồng Điện Biên Phủ có chiều dài khoảng 18km, chiều rộng từ 6km đến 8km. Đây là cánh đồng lớn nhất, giàu có nhất và dân cư đông đúc nhất ở Tây Bắc. Điện Biên Phủ ở gần biên giới Việt Nam - Lào, nằm trên ngã ba nhiều đường lớn và đường nhỏ quan trọng, phía đông bắc nối liền với Lai Châu, phía đông và đông nam nối liền với Tuần Giáo, Sơn La, Nà Sản, phía tây thông với Luông Prabăng, phía nam thông với Sầm Nưa (Lào). Đối với thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, vùng Thượng Lào và miền Tây Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân có tác dụng rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam Á. Lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ được bố trí thành tập đoàn cứ điểm bao gồm 3 phân khu yểm hộ lẫn nhau, tất cả có 49 cứ điểm. Mỗi cứ điểm đều có khả năng phòng ngự; nhiều cứ điểm được tổ chức lại thành những cụm cứ điểm gọi là “trung tâm đề kháng theo kiểu phức tạp”, có lực lượng cơ động, hỏa lực mạnh, hệ thống công sự vững chắc, xung quanh có hào giao thông và hàng rào dây thép gai, có khả năng độc lập phòng ngự khá mạnh. Mỗi phân khu bao gồm nhiều trung tâm đề kháng kiên cố như vậy. Mỗi trung tâm đề kháng cũng như toàn bộ tập đoàn cứ điểm đều được bảo vệ bằng hệ thống công sự nằm chìm dưới mặt đất, bằng một hệ thống công sự phụ (hàng rào hoặc bãi dây thép gai, bãi mìn) và bằng một hệ thống hỏa lực rất mạnh.

Điện Biên Phủ có hai sân bay. Ngoài sân bay chính ở Mường Thanh, còn có một sân bay dự bị ở Hồng Cúm, ngày ngày được nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không, trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiếc máy bay vận tải tiếp tế khoảng từ 200 đến 300 tấn hàng và thả dù khoảng từ 100 đến 150 tấn. Với lực lượng hùng hậu và cơ cấu phòng ngự vững chắc, H. Na-va đã từng nhận định rằng, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương, là một “pháo đài không thể công phá”. Từ nhận định chủ quan đó, địch đã phán đoán rằng quân ta ít có khả năng tiến công vào Điện Biên Phủ.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có đủ những yếu tố mạnh của mọi tập đoàn cứ điểm, lại có thêm những chỗ mạnh đặc biệt nữa. Mặc dù vậy, do vị trí của nó nằm cô lập ở giữa núi rừng trùng điệp và mênh mông của miền Tây Bắc Việt Nam và vùng Thượng Lào, rất xa những căn cứ hậu phương, nhất là những căn cứ không quân lớn của địch, mọi việc tăng viện hoặc tiếp tế đều hoàn toàn dựa vào đường không. Do đó, nếu đường hàng không bị hạn chế hay bị cắt đứt thì tập đoàn cứ điểm rất mạnh này sẽ ngày càng lộ rõ nhược điểm của mình, có thể mất dần sức chiến đấu và lâm vào thế bị động phòng ngự trong những điều kiện ngày càng khó khăn; trường hợp lâm nguy cũng khó lòng rút quân được toàn vẹn.

Về phía ta, lực lượng ta có những đơn vị chủ lực tinh nhuệ có tinh thần chiến đấu cao, trình độ trang bị vũ khí, kỹ thuật có tiến bộ, hăng hái phấn khởi, quyết tâm tiêu diệt địch. Chúng ta có thể tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực để đánh địch, lại đã có kinh nghiệm nhất định về đánh địch trong công sự vững chắc, đã bước đầu được huấn luyện để đánh tập đoàn cứ điểm, có khả năng khắc phục khó khăn, giải quyết những vấn đề cần thiết để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm. Vấn đề tiếp tế lương thực và đạn dược cho một lực lượng lớn ở xa hậu phương trong một thời gian dài đứng trước những khó khăn rất lớn, nhưng ta lại có sức mạnh của một hậu phương rộng lớn, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng tập trung toàn lực để chi viện tiền tuyến, bảo đảm lương thực, đạn dược cho quân đội làm tròn nhiệm vụ. Chúng ta cũng đã từng cân nhắc đến khả năng tăng viện của địch trong khi H. Na-va còn có sẵn trong tay một lực lượng cơ động lớn. Tuy nhiên, do những cuộc tiến công mùa đông của ta, khối cơ động đó đã bị phân tán rất nhiều. Chúng ta dự đoán, trong thời gian tới lực lượng địch có thể bị phân tán nhiều hơn nữa. Điều đó tạo điều kiện tốt cho chủ lực ta tiến công tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, hạn chế sự tăng viện của địch lên mặt trận Điện Biên Phủ.

Xuất phát từ sự phân tích trên, nắm vững nguyên tắc tiêu diệt sinh lực địch và đánh chắc thắng, Trung ương Đảng ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Trong khi H. Na-va chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân chủ lực ta thì chúng ta cũng chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với địch. Chúng ta hạ quyết tâm tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ của ta lên mặt trận Điện Biên Phủ để tiêu diệt binh lực tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương. Quyết tâm rất lớn trên đây quán triệt phương châm tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt mà Trung ương đã đề ra khi chỉ đạo tác chiến trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954. Sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng vào ngày 7-5-1954(2). Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 của quân ta đã kết thúc bằng một chiến thắng vĩ đại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tạo cơ sở căn bản và quyết định chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp ở ba nước Đông Dương, là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây cũng là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, của ý chí quyết chiến, quyết thắng, “dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng”; của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Chiều sâu của chiến thắng Điện Biên Phủ tiềm ẩn trong truyền thống quật cường, bất khuất mấy nghìn năm của dân tộc, từ khí phách huyền thoại của em bé làng Gióng mới lên ba tuổi đã đánh giặc nước mà đã cho là muộn, giận chín tầng trời còn thấp khi bay tận mây xanh. Chiều sâu ấy tiềm ẩn trong câu thơ: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” của Lý Thường Kiệt, từ Hịch Tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo... đến Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(3).


2- Bảy mươi năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử, tầm vóc thời đại và những bài học kinh nghiệm quý báu của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là biểu tượng vĩ đại của lòng yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam. Trận quyết chiến Điện Biên Phủ diễn ra ở địa hình rừng núi hiểm trở, xa hậu phương, có nhiều đèo cao, vực sâu, mạng lưới giao thông chiến lược hầu như chưa có. Trước tình hình đó, Đảng ta đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả hậu phương và tiền tuyến nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của bộ đội trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch. Với lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, đóng góp sức người, sức của phục vụ chiến dịch. Lần đầu tiên, ta tập trung gần 5 đại đoàn chủ lực vào một trận đánh, động viên các chiến trường trong cả nước và có hai nước bạn Lào, Căm-pu-chia chiến đấu phối hợp với chiến trường chính. Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, nhân dân các dân tộc khắc phục khó khăn, ngày đêm phục vụ chiến dịch. Hàng chục vạn đồng bào đã hăng hái đi dân công, thanh niên xung phong, tham gia làm đường, vận tải, phục vụ chiến trường, bảo đảm hậu cần cho một mặt trận xa hậu phương hàng trăm ki-lô mét, trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ, địch đánh phá ác liệt. 

Bên cạnh tinh thần đại đoàn kết và những đóng góp sức người, sức của to lớn cho chiến dịch Điện Biên Phủ, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam còn được thể hiện ở tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn thể dân tộc, đặc biệt là các chiến sĩ xung kích ngoài mặt trận, trực tiếp chiến đấu với quân thù. Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch dài ngày, nơi tập trung nỗ lực cao nhất của cả hai bên. Chính vì vậy, đây là cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ với nhiều mất mát, hy sinh. Nhưng dưới sự lãnh đạo, tổ chức, giáo dục và rèn luyện của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguồn sức mạnh tinh thần vô địch của dân tộc đã được khơi dậy, chuyển hóa thành sức mạnh vật chất để chiến thắng kẻ thù.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tạo cơ sở căn bản và quyết định đi đến ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 là chiến công lớn nhất, chói lọi nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Chiến thắng này góp phần quyết định đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”(4).

Nắm chắc diễn biến trên chiến trường, nhận thức rõ ý nghĩa của Điện Biên Phủ đối với cục diện chiến tranh và đàm phán, đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị quyết định tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ, nhấn mạnh: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế”(5). Ngày 26-4-1954, Hội nghị Giơ-ne-vơ chính thức khai mạc, trùng với thời gian Quân đội nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công đợt hai ở Điện Biên Phủ. Lúc này, địa danh Điện Biên Phủ với khói lửa ác liệt đang là tâm điểm chú ý của thế giới. Muốn giành lợi thế tại Giơ-ne-vơ, cần có những hành động quyết liệt - cả phía Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều quá thuộc bài học vỡ lòng đó(6). Mục tiêu trên bàn đàm phán Hội nghị Giơ-ne-vơ đã biến Điện Biên Phủ thành một đấu trường khốc liệt, khi cả hai bên tham chiến đặt lên bàn cờ tất cả lực lượng dự trữ của mình. Với Việt Nam, hoạt động quân sự tại Điện Biên Phủ không còn đơn thuần là hoạt động quân sự, mà mang một ý nghĩa rộng lớn hơn - ý nghĩa chính trị - quân sự. Và 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, Quân đội nhân dân Việt Nam đánh chiếm Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ bộ tham mưu bị bắt sống. Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi hoàn toàn một ngày trước khi Hội nghị Giơ-ne-vơ chính thức bàn về vấn đề Đông Dương đã tạo “thế” và “lực” mới cho ta trên bàn đàm phán, góp phần kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Việt Nam giành được sự công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, một nửa đất nước hoàn toàn được giải phóng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp bàn nhiệm vụ quân sự Đông - Xuân 1953 - 1954, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và tác chiến là chọn nơi địch sơ hở, nơi địch tương đối yếu để đánh, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng, không thể tập trung lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị thông qua Phương án tác chiến mùa Xuân 1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ; giao cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh chiến dịch. Trước khi ra mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao toàn quyền quyết định cho Đại tướng và căn dặn: Chiến dịch này rất quan trọng cả về chính trị và quân sự, phải đánh thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Tháng 12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi cán bộ và chiến sĩ chiến dịch Điện Biên Phủ, động viên tinh thần chiến đấu, giữ vững quyết tâm giành thắng lợi.

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, từ trẻ đến già đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức của bảo đảm mọi điều kiện cho chiến trường, tiếp thêm ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, với ý chí “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, đồng bào các dân tộc trong cả nước, đặc biệt là đồng bào Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 đã đóng góp hơn 260 nghìn dân công (tính ra khoảng 14 triệu ngày công), 20.991 xe đạp thồ và hàng chục nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ và nửa thô sơ. Về bảo đảm vật chất, đồng bào đã đóng góp cho chiến dịch 25.056 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác. Chỉ tính riêng số vật phẩm đã chuyển được ra mặt trận là hơn 20 nghìn tấn, trong đó có 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62,7 tấn đường, 577 tấn thịt và 565 tấn thức ăn khô(7). Sự tham gia, đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực to lớn đó của nhân dân là nhân tố quan trọng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Do sớm đề ra và tổ chức thực hiện thành công đường lối kháng chiến toàn dân gắn với toàn diện, Đảng ta đã khơi dậy, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, tính năng động, sáng tạo của nhân dân trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa; quy tụ, tập hợp được sức mạnh to lớn của nhân dân từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ vùng tự do đến vùng tạm bị chiếm; từ hậu phương đến tiền tuyến; phát huy được sức mạnh của các yếu tố nội lực, truyền thống và con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc. Mỗi người dân yêu nước trên từng cương vị của mình đều tích cực tham gia sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đóng góp vào chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội ta. Điện Biên Phủ là chiến dịch mà cả ta và địch đều tập trung sự nỗ lực, cùng sức mạnh lớn nhất để giành thắng lợi quyết định. Trong chiến dịch này, ta đã tập trung về đây những lực lượng mạnh nhất và tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng, tạo sức mạnh đánh thắng kẻ thù. Phần lớn đại đoàn chủ lực, sử dụng nhiều trang bị hiện đại nhất của quân đội ta thời kỳ đó, như lựu pháo 105mm, cao xạ 37mm được đưa vào tác chiến. Đây là chiến dịch có quy mô sử dụng lực lượng lớn nhất của quân đội ta, với 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo, hàng vạn dân công làm đường và vận chuyển chi viện cho chiến dịch. Đó còn là chiến dịch có trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu sự trưởng thành và lớn mạnh của quân đội ta. Cùng với tập trung lực lượng, cách đánh của chiến dịch cũng có bước phát triển rất quan trọng so với các chiến dịch tiến công trước đây. Cách đánh “đánh chắc, tiến chắc”(8), chuẩn bị khi nào chắc thắng thì đánh, chưa chắc thắng thì chưa đánh đã khẳng định rõ sự chủ động tiến công địch trên chiến trường của bộ đội ta. Từ ngày 13-3-1954, tại mặt trận Điện Biên Phủ, quân ta đã tiêu diệt lần lượt từng cứ điểm, vây lấn địch từng mét hào và mở những đợt tiến công quyết định đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết tinh sức mạnh của dân tộc Việt Nam với sức mạnh thời đại. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, chiến thắng Điện Biên Phủ, “là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”(9)

Cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam vì độc lập, hoà bình đã nhận được sự ủng hộ của nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của thời đại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội được mở đầu từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam nhận được sự phối hợp chiến đấu của nhân dân hai nước bạn Lào và Căm-pu-chia; sự giúp đỡ quan trọng của Trung Quốc, Liên Xô và sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế, kể cả nhân dân yêu chuộng hòa bình ở Pháp. Các dân tộc đều phải tự mình đấu tranh để giành độc lập, tự do, song sự xúc tác dây chuyền mà Điện Biên Phủ châm ngòi với sức mạnh tạo chấn động lớn, sự hỗ trợ của sức mạnh thời đại, tạo ra những yếu tố về thời cơ, về nguồn lực, sự phối hợp đấu tranh giữa các trào lưu tiến bộ, đã giúp nhiều dân tộc trên con đường đấu tranh cho độc lập, tự do giành thắng lợi.


3- Tiếp nối chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, dân tộc ta đã viết tiếp bản anh hùng ca chói lọi trong thời đại Hồ Chí Minh, lập nên những chiến công hiển hách: Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972; chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ, trải qua gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần làm cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(10). Tuy nhiên, trước những biến động nhanh chóng, khó dự báo của tình hình thế giới và khu vực, đòi hỏi chúng ta tiếp tục phát huy những bài học lịch sử quý báu từ chiến thắng Điện Biên Phủ trong điều kiện mới.

Đó là bài học về giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong bối cảnh, điều kiện hiện nay, cần củng cố sức mạnh chính trị, sức mạnh tư tưởng và xây dựng tổ chức của Đảng. Phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực một cách hiệu quả. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các biểu hiện suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Đó là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới. Trong tình hình mới, Ðảng ta tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân(11) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ðộng viên và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn gắn liền với yêu cầu mở rộng dân chủ và giữ vững kỷ cương phép nước trong đời sống xã hội. Để thực hiện thành công, thắng lợi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, cần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí, nghị lực và sức sáng tạo của con người Việt Nam trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, để phát huy vai trò là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thì bản thân Đảng phải là tấm gương về đoàn kết, thống nhất. “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế”(12).

Đó là bài học về tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Bối cảnh mới hiện nay đặt ra yêu cầu hiểu đúng và nắm vững nội hàm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam. Nếu trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân, đế quốc, sức mạnh dân tộc được xác định là tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, ý chí quyết chiến, quyết thắng, thì hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh đến yếu tố “sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc” với vấn đề căn cốt là đại đoàn kết toàn dân tộc - là sự tổng hòa tiềm lực của đất nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh được tạo nên bởi quy mô và chất lượng dân số cả nước, được thể hiện ở sự tổng hợp của cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Trong bối cảnh hiện nay, nguồn lực của sức mạnh thời đại hết sức đa dạng. Sức mạnh thời đại được cấu thành bởi các xu thế lớn, đặc biệt là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển; trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm, dân chủ, bình đẳng; sức mạnh của các lực lượng tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu hòa bình, sức mạnh của các quốc gia...

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chúng ta càng thêm tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; tự hào về dân tộc Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng./.

Q1

Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng ở nước ta hiện nay

 TCCS - Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra nhanh chóng, mạnh mẽ. Bên cạnh những thành tựu và kết quả đạt được, nhiều nguy cơ, thách thức đối với vấn đề an ninh quốc gia trên không gian mạng được đặt ra. Trong bối cảnh đó, bên cạnh việc tận dụng những cơ hội của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần tăng cường hơn nữa các biện pháp bảo vệ an toàn, an ninh quốc gia trên không gian mạng, góp phần đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vấn đề an ninh trên không gian mạng 

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra nhanh chóng chưa từng có trong lịch sử, với nhiều tiến bộ khoa học - công nghệ phổ biến... Theo đó, “trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn và điện toán đám mây đang dần trở thành những công cụ sản xuất quan trọng trong nhiều ngành, lĩnh vực”(1). Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra thời đại mới, vượt qua phạm vi của công nghệ thông tin và điện tử, được thúc đẩy bởi các hệ thống tích hợp cả dữ liệu kỹ thuật số và dữ liệu tương tự trên môi trường tính toán và vật lý; thay đổi ngành công nghiệp theo một số cách thức chính: dữ liệu tương tự lớn (big analog data), thiết bị kích thước nhỏ hơn, nhưng hiệu suất cao hơn, cho phép các nhóm chuyên gia thiết kế nhỏ hơn, không còn khoảng cách địa lý và việc giáo dục dễ dàng hơn(2).

Quy mô, tốc độ phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động lớn đến nhiều lĩnh vực của đời sống, nhất là lĩnh vực kinh tế. Xét về góc độ quy mô, tốc độ lan truyền của công nghệ hiện đại ngày càng nhanh chóng hơn. Đơn cử như đối với điện thoại cần đến 75 năm, điện cần 46 năm, ti-vi cần 22 năm, mạng internet chỉ cần 7 năm; các phương tiện truyền thông xã hội khác như Facebook cần 4 năm, đặc biệt nền tảng xã hội WeChat chỉ cần 1 năm, Pokemon Go cần có 19 ngày… để đạt ngưỡng 50 triệu người sử dụng (Xem hình 1). Đối với các nền tảng khác như TikTok chỉ cần 9 tháng và ChatGPT là 2 tháng để đạt ngưỡng 100 triệu người dùng(3). Xét về góc độ kinh tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động lớn đến tiêu dùng, sản xuất, năng suất và giá cả... Một ví dụ điển hình là thị trường công nghệ in 3D đã gia tăng nhanh chóng về giá trị, từ mức chỉ khoảng 3 tỷ USD năm 2012, đạt mức 20,67 tỷ USD năm 2023; dự kiến đạt 98,31 tỷ USD vào năm 2032(4).

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi căn bản thói quen con người sống, làm việc và tương tác với nhau. Tiến bộ khoa học - công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra những biến đổi sâu sắc đối với đời sống xã hội, năng suất lao động, cơ cấu nghề nghiệp, sự chuyển đổi của hệ thống sản xuất, kinh doanh...(5). Không gian mạng trở thành “môi trường thứ năm”, với sự ra đời của chiến tranh mạng, tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh của mọi quốc gia(6). Lúc này, nội hàm của khái niệm “an ninh quốc gia” được mở rộng, không chỉ còn giới hạn ở trên đất liền mà còn được hiểu là những vấn đề an ninh trên nhiều lĩnh vực, nhất là an ninh trên không gian mạng. Công nghệ thông tin hiện đại một mặt đem lại những thành tựu tiến bộ đối với đời sống kinh tế - xã hội, mặt khác tạo ra nhiều thách thức lớn đối với việc bảo đảm an ninh quốc gia, đặc biệt là vấn đề tội phạm công nghệ cao, an ninh thông tin, an ninh mạng. Điển hình là sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) thời gian qua đem lại những thay đổi to lớn đối với đời sống kinh tế, xã hội, chính trị trên thế giới. Tuy nhiên, AI cũng đặt ra nhiều thách thức, bao gồm sự gia tăng của các cuộc tấn công mạng thông qua AI. “Các cuộc tấn công mạng thông qua AI gia tăng, gây hậu quả tổn thất kinh tế nghiêm trọng. Theo thống kê, năm 2023, thế giới ước tính thiệt hại tới 8.000 tỷ USD bởi các cuộc tấn công mạng (tương đương gần 21 tỷ USD mỗi ngày). Con số đó tăng lên 9.500 nghìn tỷ USD vào năm 2024”(7). Các đối tượng khủng bố lợi dụng tiến bộ của công nghệ AI để thực hiện các mục đích xấu, như gửi email độc hại, phát tán thông tin sai lệch, thu hút người ủng hộ, lên kế hoạch tấn công khủng bố; hay việc các đối tượng lợi dụng công nghệ tạo các sản phẩm công nghệ giả (deepfake) để tạo ra ảnh khỏa thân giả nhằm vào phụ nữ và trẻ em tại Mỹ, Hàn Quốc…(8)

Thực tiễn cho thấy, không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng dụng công nghệ thông tin đang là công cụ để các thế lực thù địch, tội phạm lợi dụng(9). Số lượng các vụ tấn công mạng diễn ra ngày càng nhiều, gây thiệt hại nghiêm trọng, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19, khi các chính phủ và doanh nghiệp phải chuyển sang trạng thái làm việc từ xa. Các cuộc tấn công bằng phần mềm độc hại tăng từng năm(10). Số vụ tấn công mạng năm 2023 là 2.365 vụ với hơn 343 triệu nạn nhân. Trong các vụ tấn công bằng phần mềm độc hại, tấn công qua email là dạng phổ biến nhất, chiếm khoảng 35% số vụ tấn công(11).

Tại Việt Nam, tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao thời gian qua diễn biến ngày càng phức tạp. Không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng dụng công nghệ thông tin đang bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng để thực hiện nhiều mưu đồ thâm độc. Trong gần 10 năm qua, các thế lực thù địch, phần tử xấu đã, đang sử dụng 8.784 web, blog có tên miền nước ngoài; 381 web, blog có tên miền trong nước thường xuyên đăng tải thông tin xấu, độc chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam; đã phát hiện 279 vụ sử dụng internet xâm phạm an ninh quốc gia, đấu tranh với hơn 200 đối tượng; xử lý 140 đối tượng. Đáng chú ý, trong đó có 219 vụ kích động biểu tình trên không gian mạng; 138 hội, nhóm trá hình hoạt động trên không gian mạng; 45.498 lượt cổng thông tin, trang tin điện tử có tên miền “.vn” bị tấn công, trong đó có 2.113 lượt tấn công các cổng thông tin, trang tin điện tử của cơ quan Đảng, Nhà nước, gây ra những hậu quả nghiêm trọng(12)

Các cuộc tấn công mạng, lừa đảo qua không gian mạng xuất hiện ngày càng nhiều, với quy mô lớn, cường độ cao, gia tăng về tính chất nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Theo một báo cáo gần đây của Microsoft, tỷ lệ tấn công nhằm vào Việt Nam sử dụng phần mềm độc hại ransomware cao nhất ở châu Á - Thái Bình Dương, là một trong ba quốc gia trong khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất của các cuộc tấn công phần mềm độc hại (sau Indonesia và Sri Lanka) và đứng thứ sáu trên thế giới về số lượt tải mã độc không chủ ý(13). Khủng bố mạng nổi lên như một thách thức đe dọa nghiêm trọng tới an ninh quốc gia. Hoạt động phạm tội trên không gian mạng ngày càng gia tăng về số vụ, với thủ đoạn tinh vi gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, ảnh hưởng đến tư tưởng, văn hóa, xã hội… Đáng lo ngại, tình trạng lây nhiễm virus và xuất hiện phần mềm gián điệp gây nguy cơ mất an ninh, an toàn hệ thống thông tin mạng. Ở nước ta hiện nay có khoảng 26 hình thức lừa đảo trên không gian mạng đang diễn ra thường xuyên. Trong đó 72,6% là lừa đảo trực tiếp vào tài chính, còn 26,4% là các dạng lừa đảo trực tuyến, 1% dạng khác(14).

Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng mạng internet và các thiết bị kết nối công nghệ IoT dẫn đến các nguy cơ lộ, lọt bí mật nhà nước và các thông tin cá nhân, quyền riêng tư. Các đối tượng xấu lợi dụng các kẽ hở trong bảo mật thông tin, bảo mật tài liệu để thực hiện các cuộc tấn công quy mô lớn nhằm đánh cắp thông tin, can thiệp vào hoạt động chính trị - xã hội hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Một số giải pháp bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng ở nước ta trong bối cảnh mới 

Trước những tác động nhiều mặt của khoa học - công nghệ, các quốc gia đều phải tư duy lại cách thức quản trị theo hướng tận dụng mặt tích cực để phát triển, tăng tính cạnh tranh quốc gia, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại. Trên thực tế, các quốc gia đều tích cực đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số vào công tác quản trị quốc gia nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời chủ động ngăn chặn, phòng ngừa và bảo đảm an ninh, an toàn mạng. 

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác chuyển đổi số, xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu giúp đất nước tận dụng được cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững, mau chóng tiến kịp với các nước phát triển trên thế giới. Trong quá trình tham gia vào công cuộc chuyển đổi số, Đảng ta thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong triển khai thực hiện, đó là: “Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp”(15), “tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm…; nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ và sâu sắc…; hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng số còn nhiều hạn chế; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức”(16). Trước yêu cầu phải có cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đề ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; giúp đổi mới cách nghĩ, cách làm, xóa bỏ rào cản, giải phóng năng lực để đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh: “Bảo đảm an toàn, an ninh mạng và chủ quyền quốc gia trên nền tảng số và không gian mạng; an ninh, an toàn dữ liệu hợp pháp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và chủ quyền an ninh dữ liệu quốc gia”(17), coi đó là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.


Để tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, cũng như tăng cường bảo đảm an ninh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số, cần chú ý một số giải pháp sau: 

Một là, chủ động quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ, nhất là những mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về khoa học - công nghệ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hai là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về những tác động và những vấn đề đặt ra mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, đặc biệt là tác động đối với vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Chú trọng nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức, bảo đảm khả năng làm chủ các thành tựu khoa học - công nghệ; nắm bắt và chủ động phòng, chống lại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, các loại tội phạm khác trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, bảo vệ an toàn, an ninh quốc gia trên không gian mạng. 

Ba là, tận dụng tối đa những thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong triển khai, sắp xếp tổ chức bộ máy lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh quốc gia bảo đảm tinh gọn, hiệu quả. Phát huy tối đa lợi thế của mạng internet và các phương tiện truyền thông nhằm cung cấp, cập nhật thường xuyên các thông tin, quan điểm chính thống của Đảng, Nhà nước, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chính trị, đấu tranh chống lại các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trên không gian mạng.

Bốn là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế; tăng cường hợp tác với các quốc gia tiên tiến, các tổ chức quốc tế nhằm tranh thủ tối đa mọi nguồn lực để phát triển khoa học, chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang thật sự trong sách, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có nền công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng, hiện đại; có hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia bảo đảm… Kiện toàn, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chuyên trách bảo đảm an ninh quốc gia, đáp ứng các yêu cầu về trình độ lý luận chính trị, nghiệp vụ, ứng dụng khoa học - công nghệ. Xác định rõ trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số là xu hướng tất yếu trên thế giới, việc đẩy mạnh chuyển đổi số phải gắn liền với bảo đảm an ninh để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới./.

Q1

Phát triển vùng Đông Nam Bộ bền vững: Cần khơi thông “điểm nghẽn” về phát triển hạ tầng kỹ thuật

 TCCS - Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thời gian qua, vùng Đông Nam Bộ đã có sự phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP cả nước. Thành công này gắn liền với sự chú trọng đầu tư và phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên, hiện nay, vùng vẫn đang gặp phải không ít vướng mắc, "điểm nghẽn" về kết cấu hạ tầng cần khơi thông để phát triển đồng bộ, bền vững.

Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật vùng Đông Nam Bộ

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm giao thông vận tải, năng lượng, thông tin, truyền thông và các công trình công ích khác. Đây chính là nền tảng vững chắc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của vùng Đông Nam Bộ, vùng có vị trí trung tâm, cửa ngõ chiến lược về đường biển, hàng không của cả nước và khu vực phía Nam. Kết nối với các khu vực khác thông qua 5 phương thức vận tải: đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, hàng không và đường biển. Hệ thống giao thông vận tải hiện đại là xương sống của sự phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ. Các tuyến cao tốc liên vùng như cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Mỹ Phước - Tân Vạn... cùng với hệ thống đường bộ quốc lộ, tỉnh lộ được nâng cấp, mở rộng, đã rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa và hành khách, giảm chi phí logistics, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư. Hệ thống cảng biển quốc tế Cát Lái, cảng Thị Vải, cùng với sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối Đông Nam Bộ với thị trường trong nước và quốc tế.

Đông Nam Bộ là trung tâm phụ tải của hệ thống điện miền Nam, tiêu thụ điện chủ yếu tập trung ở 3 địa phương Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai. Hiện trạng hạ tầng điện lực vùng Đông Nam Bộ cho thấy sự phát triển đáng kể trong những năm gần đây. Hệ thống điện lưới quốc gia đã được mở rộng, nâng cấp với nhiều nhà máy điện lớn đi vào hoạt động, đáp ứng phần lớn nhu cầu năng lượng của khu vực. 

Hạ tầng của lĩnh vực viễn thông vùng Đông Nam Bộ đã được phát triển theo hướng đồng bộ, hiện đại và rộng khắp, với dung lượng lớn, tốc độ cao… Việc kết nối liên xã, liên huyện, liên tỉnh thông suốt đã góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

Các tỉnh, thành trong vùng Đông Nam Bộ thời gian qua luôn chú trọng phát triển hạ tầng chính quyền số nhằm phục vụ tốt hơn công tác điều hành, lãnh đạo ở các cấp. Theo đó, tất cả các sở, ban, ngành, ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã trong toàn vùng đã được đầu tư hệ thống mạng LAN, internet và mạng diện rộng. Điều này tạo điều kiện cho việc triển khai ứng dụng các phần mềm dùng chung, phần mềm chuyên ngành tại đơn vị. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong quá trình kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu luôn được các đơn vị chú trọng.

“Điểm nghẽn” trong hạ tầng kỹ thuật

Trong quá trình phát triển, vùng Đông Nam Bộ đã và đang gặp phải những hạn chế, thách thức do các “điểm nghẽn” về hạ tầng kỹ thuật tạo ra.

Thứ nhất, về giao thông đường bộ, thời gian qua, các tuyến đường bộ chính kết nối các cảng biển tiếp tục được đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, một số tuyến đường liên vùng và hướng tâm bị quá tải. Hệ thống đường vành đai của vùng chậm triển khai nên luồng xe chở hàng hóa hành khách phải đi vòng theo Quốc lộ 1A, 1K hoặc đi xuyên qua khu vực đô thị, gây ra nhiều tai nạn, ùn tắc giao thông, ô nhiễm về khí thải và tiếng ồn. Bên cạnh đó, vùng còn thiếu cầu qua các sông lớn như sông Đồng Nai, Sài Gòn, Nhà Bè, Vàm Cỏ… làm tăng cự ly vận tải. Kết cấu hạ tầng còn chưa theo kịp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và đang ngày càng quá tải; ùn tắc giao thông trên các tuyến đường quốc lộ và các tuyến đường nội đô ngày càng nghiêm trọng.

Thứ hai, về đường thủy nội địa và đường biển. Đối với đường thủy nội địa, do hầu hết các cầu trên tuyến đường thủy nội địa liên vùng có “tĩnh không” thấp nên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giao lưu vận tải hàng hóa giữa vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hơn thế, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang ảnh hưởng trực tiếp đến các cảng và luồng tuyến đường thủy nội địa. Đối với đường biển, một số bến cảng container tại Cái Mép - Thị Vải chưa khai thác hiệu quả, ít hàng, trong khi hàng vẫn dồn về cảng Cát Lái, Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống đường bộ kết nối đến một số cảng vẫn chưa hoàn chỉnh, một số tuyến đã đầu tư nhưng còn chậm và chưa đồng bộ với quy mô cũng như tiến trình khai thác cảng.

Thứ ba, về đường sắt và đường hàng không. Mạng đường sắt đầu mối chưa phát triển, tuyến đường sắt Bắc - Nam hiện hữu với kết cấu hạ tầng yếu kém, nhiều đoạn giao cắt với đường phố đô thị; chưa có tuyến kết nối trực tiếp đến các cảng biển trong vùng. Đầu tư hệ thống đường sắt đô thị còn chậm, mới chỉ có 1 tuyến Bến Thành - Suối Tiên chuẩn bị được đưa vào khai thác. Năng lực vận chuyển hành khách và hàng hóa ở Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nằm ngay trong nội đô thành phố nên thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông ở những tuyến đường ra vào sân bay và đang trở nên quá tải.

Thứ tư, hạ tầng viễn thông vẫn chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Sự chênh lệch về chất lượng dịch vụ internet giữa các khu vực đô thị và nông thôn vẫn còn rất rõ rệt. Trong khi đó, công tác quy hoạch và phát triển hạ tầng viễn thông còn thiếu đồng bộ, đặc biệt giữa hạ tầng viễn thông và các hạ tầng kỹ thuật khác (giao thông, cấp thoát nước, chiếu sáng, điện lực…). Kinh phí đầu tư cho nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin mạng còn thấp.

Thứ năm, do được xây dựng từ lâu và thường xuyên chịu tác động của thiên tai, thiếu kinh phí bảo trì thường xuyên nên hệ thống công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn đang bị xuống cấp. Các công trình phục vụ nền nông nghiệp đa dạng và công nghệ cao chưa được đầu tư đồng bộ dẫn đến hiệu quả phục vụ thấp. Hệ thống công trình thủy lợi chống ngập cho Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng kéo dài nên chưa phát huy hiệu quả.

Thứ sáu, hạ tầng cung ứng điện chưa đáp ứng kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế, gây gián đoạn sản xuất, làm giảm năng suất và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Tình trạng thiếu nước sạch, đặc biệt trong mùa khô, ảnh hưởng đến đời sống dân cư và hoạt động sản xuất, đặc biệt là các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nước.

Thứ bảy, công tác quy hoạch và quản lý đô thị thiếu đồng bộ, chưa thực sự hiệu quả trong phát triển hạ tầng. Việc thiếu quỹ đất sạch cho phát triển công nghiệp và nhà ở khiến chi phí đầu tư tăng cao. Quản lý chất thải rắn và xử lý nước thải chưa được tốt, gây ô nhiễm môi trường.

Thứ tám, kết cấu hạ tầng ở cấp vùng và liên vùng hiện vẫn chưa đáp ứng nhu cầu, gây cản trở sự phát triển và sức lan tỏa của khu vực. Sự không đồng bộ trong phát triển các phương thức vận tải, cũng như giữa hệ thống giao thông với các cảng biển và trung tâm logistics đã dẫn đến tình trạng chậm trễ trong luân chuyển hàng hóa. Điều này làm giảm đi năng lực cạnh tranh và kìm hãm sự phát triển của vùng. 

Thứ chín, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng và hội nhập quốc tế sâu rộng. 

Những bất cập về hạ tầng kỹ thuật đã được Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 7-10-2022, của Bộ Chính trị, “Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết số 24-NQ/TW) chỉ ra: “Mạng lưới kết cấu hạ tầng cấp vùng, liên vùng, nhất là hạ tầng giao thông kết nối nội vùng và liên vùng còn thiếu, yếu, chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến sự phát triển và sức lan tỏa của vùng. Một số công trình trọng điểm chậm tiến độ. Tình trạng tắc nghẽn giao thông, ngập úng nghiêm trọng chậm được khắc phục” cần được khơi thông.


Khơi thông “điểm nghẽn” kết cấu hạ tầng để tăng trưởng của vùng tương xứng với tiềm năng

Xây dựng Đông Nam Bộ trở thành vùng phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh cao trong khu vực… là quan điểm được xác định trong Nghị quyết số 24-NQ/TW. Điều này đòi hỏi các cấp, các ngành liên quan cần có những giải pháp đồng bộ để kịp thời hóa giải những điểm “nghẽn” về hạ tầng kỹ thuật, qua đó giữ vững đà tăng trưởng mạnh mẽ của vùng Đông Nam Bộ. Vì vậy, vùng Đông Nam Bộ cần có các cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội và được phân cấp, phân quyền mạnh để phát triển kết cấu hạ tầng, qua đó tạo dựng môi trường đầu tư có tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực và quốc tế, thu hút được các dự án đầu tư quy mô lớn, chất lượng cao của nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Thứ nhất, hệ thống giao thông cần được phát triển mạnh mẽ nhằm bảo đảm sự kết nối liên tục giữa các đô thị, trung tâm kinh tế và cảng biển trong khu vực, cũng như giữa các vùng lân cận. Đặc biệt, tập trung đầu tư vào việc xây dựng và nâng cấp các trục giao thông liên vùng, với trọng điểm là các tuyến cao tốc, như Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Thành phố Hồ Chí Minh - Chơn Thành - Hoa Lư, Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa - Vũng Tàu và đường vành đai 3, vành đai 4 của Thành phố Hồ Chí Minh.

Phát triển các tuyến giao thông nhằm hỗ trợ cho việc kết nối toàn tuyến hành lang với các cao tốc như Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài và Biên Hòa - Vũng Tàu; đồng thời, xây dựng tuyến đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu để kết nối với cảng biển cửa ngõ, xây dựng tuyến Metro Thủ Thiêm - Long Thành để kết nối đến cảng hàng không quốc tế. Phát triển cảng Cái Mép - Thị Vải và xây dựng cảng Cần Giờ thực sự trở thành cảng trung chuyển quốc tế.

Thứ hai, thúc đẩy liên kết giữa đô thị trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh với các đô thị ở Bình Dương, Đồng Nai, các tỉnh trong vùng để hình thành mạng lưới đô thị phát triển đồng bộ về hạ tầng giao thông đô thị, kiến trúc, cảnh quan, các tiện ích, nhà ở và chất lượng sống của người dân đô thị. Triển khai áp dụng mô hình TOD (Transit Oriented Development) với chuỗi đô thị dọc theo các tuyến giao thông công cộng, qua đó giảm chi phí đầu tư cho các tuyến giao thông công cộng.

Thứ ba, đẩy nhanh tiến độ phát triển hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu cần được đẩy mạnh để tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số và thúc đẩy kinh tế, xã hội trong kỷ nguyên số. Chú trọng phát triển hạ tầng xã hội để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực kinh tế, đồng thời cung cấp dịch vụ xã hội thiết yếu cho mọi tầng lớp dân cư. Cùng với đó, hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường cũng cần được cải thiện nhằm phòng, chống thiên tai và bảo đảm điều kiện cho sự phát triển bền vững.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng các trung tâm logistics và những doanh nghiệp logistics có năng lực cạnh tranh cao. Hình thành trung tâm logistics hàng không gắn với Cảng hàng không quốc tế Long Thành; hệ thống logistics tại cảng trung chuyển quốc tế Cái Mép - Thị Vải. Đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ số, công nghệ quản lý hiện đại trong vận hành của các trung tâm logistics để nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm chi phí, bảo đảm năng lực cạnh tranh và hội nhập được với các trung tâm logistics của khu vực, thế giới.

Thứ năm, cần tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng hạ tầng kỹ thuật chuỗi cung ứng hàng hóa; tuân thủ và thực hiện hiệu quả các chủ trương quy hoạch phát triển vùng của Chính phủ, gồm Quyết định số 370/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; các quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch các tỉnh, thành trong vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050...

Thứ sáu, thúc đẩy chuyển đổi số hạ tầng quản lý kỹ thuật chuỗi cung ứng của vùng Đông Nam Bộ. Chuyển đổi số cho phép tự động hóa các hoạt động trong chuỗi cung ứng như lập kế hoạch, theo dõi đơn hàng, quản lý tồn kho và giao nhận hàng hóa. Việc số hóa dữ liệu giúp loại bỏ các sai sót từ quá trình nhập liệu thủ công, đồng thời tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong việc theo dõi và phân tích dữ liệu thời gian thực, giúp dự đoán nhu cầu, quản lý kho bãi hiệu quả và giảm chi phí vận hành. 

Thứ bảy, tăng cường hợp tác công - tư (PPP). Tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án hợp tác công - tư trong việc phát triển hạ tầng kỹ thuật, từ việc xây dựng các tuyến đường mới đến việc phát triển các kết cấu hạ tầng kho bãi. Đối tác công tư (PPP) là một công cụ thiết yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ phát triển công nghiệp vùng Đông Nam Bộ.

Thứ tám, để nâng cao hiệu quả quản lý hạ tầng kỹ thuật phục vụ chuỗi cung ứng hàng hóa, cần đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực cho vùng Đông Nam Bộ. Công tác đào tạo và phát triển kỹ năng trong lĩnh vực quản lý chuỗi cung ứng, logistics và công nghệ thông tin cần được tỉnh, thành phố trong vùng chú trọng hơn nữa. Thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo chuyên ngành để cập nhật kiến thức và công nghệ mới nhất cho đội ngũ nhân lực. Điều này sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của khu vực.

Hạ tầng kỹ thuật là động lực then chốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đông Nam Bộ. Việc đầu tư bài bản, đồng bộ và hiệu quả vào các lĩnh vực giao thông vận tải, năng lượng, thông tin, truyền thông và công trình công ích là cần thiết để xây dựng một vùng kinh tế năng động, hiện đại, bền vững, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Sự quan tâm của Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương đối với việc hoàn thiện và nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật sẽ quyết định đến sự thành công trong việc biến tiềm năng to lớn của Đông Nam Bộ thành hiện thực./.

Q1