Thứ Năm, 24 tháng 4, 2025

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: KHỞI ĐỘNG ĐÀM PHÁN KINH TẾ, THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VIỆT NAM VÀ HOA KỲ!

         Tối 23/4, tại Hà Nội, Bộ trưởng Công thương, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Nguyễn Hồng Diên đã có cuộc điện đàm với Trưởng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson L.Greer để chính thức khởi động đàm phán vấn đề kinh tế, thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Đây là cuộc làm việc quan trọng để thảo luận về những vấn đề nguyên tắc, phạm vi và lộ trình đàm phán. Tham dự cuộc điện đàm có thành viên Đoàn đàm phán Chính phủ và cấp kỹ thuật đại diện cho các bộ, ngành liên quan.

Tại cuộc điện đàm, Bộ trưởng Công thương, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Nguyễn Hồng Diên khẳng định Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ, mong muốn thúc đẩy quan hệ kinh tế-thương mại theo hướng cân bằng, ổn định, bền vững, hiệu quả với Hoa Kỳ; các bộ, ngành của Việt Nam sẵn sàng đàm phán xử lý những vấn đề Hoa Kỳ quan tâm, cùng với Hoa Kỳ tìm ra các giải pháp hợp lý để hai bên cùng có lợi, trên tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ.

Về phần mình, Trưởng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson L.Greer đánh giá cao việc hai nước nhất trí đàm phán thỏa thuận thương mại song phương; bày tỏ tin tưởng hai bên sẽ sớm đạt được những giải pháp phù hợp, thúc đẩy quan hệ kinh tế-thương mại ổn định, cùng có lợi.

Kết thúc cuộc làm việc, hai Trưởng đoàn đàm phán cũng nhất trí sẽ duy trì trao đổi thường xuyên ở Trưởng đoàn đàm phán và cấp kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình đàm phán đối với từng vấn đề cụ thể./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC!

Ngày 24 tháng 4
“Ngòi bút là vũ khí, bài báo là tờ hịch cách mạng”.

Cách đây 79 năm, ngày 24-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Hội đồng Chính phủ nhằm ứng phó với việc thực dân Pháp khiêu khích bắt bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - là thành viên phía Việt Nam tham gia Hội nghị trù bị Việt - Pháp đang họp tại Đà Lạt - cũng như việc quân Pháp định tiến đóng Điện Biên Phủ và việc quân đội Trung Hoa Quốc dân Đảng thỏa thuận tỷ giá giữa đồng Quan kim đang mất giá để đổi lấy tiền Đông Dương nhằm phá hoại nền tài chính của nước ta...

Cùng ngày Bác ký một sắc lệnh cho phép phát hành con tem in hình Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu kèm theo dòng chữ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Dân sinh” để tạo nguồn phụ thu cho “Quỹ cứu tế quốc gia”.

Ngày 24-4-1950, tại Chiến khu Việt Bắc, Bác đến thăm và nói chuyện với học viên khóa II Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, đưa ra những quan điểm về phương pháp và mục tiêu học tập lý luận. Bác nói: “Việc học không phải chỉ xem sách nhiều là được. Như vậy là lý luận suông. Phải kết hợp thực tiễn với lý luận, học đi đôi với trao đổi kinh nghiệm thực tế. Học phải tự giác và tự động... Cần, Kiệm, Liêm, Chính và gần gũi quần chúng, hai điểm ấy các đồng chí phải làm cho được. Như thế mới xứng đáng là người đảng viên, là người cách mạng”.

Cũng trên mặt trận giáo dục, tháng 4-1952, Bác gửi thư cho các giáo sư và sinh viên Trường dự bị đại học ở Thanh Hóa, cảm ơn đã gửi đến Bác lời thăm hỏi. Đồng thời, Bác nhắc nhở: “Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc. Vậy giáo dục cần nhằm vào mục đích là thật thà phụng sự nhân dân”.

Ngày 24-4-1960, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, trước đông đảo bà con cử tri, với tư cách là một ứng cử viên cuộc bầu cử Quốc hội khóa II, Bác Hồ đã ra mắt đồng bào và bày tỏ sự tin tưởng rằng: “Quốc hội khóa I là Quốc hội chiến đấu. Quốc hội khóa II phải là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nền tảng vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà... Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đầy tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

Ngày 24-4-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh thăng cấp từ đại tá lên thiếu tướng cho các vị Phạm Kiệt, Phạm Ngọc Mậu, Lê Trọng Tấn, Tạ Xuân Thu - những người mà sau đó đều trở thành những vị tướng tài của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

Ngày 24-4-1965, là một nhà báo cách mạng lão luyện, trong điện chúc mừng Ngày Nhà báo Á - Phi gửi Hội Nhà báo Á - Phi, Bác viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc - đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”./.
Môi trường ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 24 THÁNG 4 NĂM 1965!

     “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng...”!

Trích trong Điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Hội Nhà báo Á - Phi, năm 1965. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm báo, trước hết là chiến sĩ cách mạng - người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, phải đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ công tác quan trọng Đảng, Nhà nước giao cho. Hơn nữa, người làm báo nắm trong tay công cụ, phương tiện thông tin đại chúng cực kỳ quan trọng đối với đời sống xã hội hiện đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự trau dồi đạo đức, phong cách của người chiến sĩ trên mặt trận báo chí và chính Người đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của báo chí cách mạng nước ta. Người căn dặn những người làm báo Việt Nam “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang viết là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.

Là một bộ phận của báo chí cách mạng Việt Nam, là thành tố quan trọng trong hoạt động CTĐ, CTCT, báo chí quân đội có vai trò quan trọng đối với việc giữ vững phương hướng chính trị của Đảng, bảo đảm cho đường lối quân sự của Đảng được quán triệt sâu sắc, được tuyên truyền sâu rộng và thực hiện sáng tạo, hiệu quả trong quân đội. Báo chí quân đội còn có vai trò quan trọng cung cấp thông tin định hướng dư luận, tuyên truyền giáo dục nhằm không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị, củng cố niềm tin, tăng cường sự nhất trí về chính trị tư tưởng, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ thành người quân nhân cách mạng, góp phần vào xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, xây dựng Quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. 

Hiện nay, đội ngũ phóng viên báo chí quân đội đã có chuyển biến trên nhiều mặt được đào tạo cơ bản với trên 85% trình độ đại học và trên đại học, được rèn luyện trưởng thành trong thực tế, đại bộ phận báo chí trong quân đội đều khẳng định được vị trí và phát huy tốt vai trò của mình, uy tín tốt, thực sự là diễn đàn tin cậy của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Cùng với đội ngũ phóng viên chuyên nghiệp, lực lượng cộng tác viên cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác thông tin tuyên truyền để kịp thời phản ánh tình hình của các cơ quan, đơn vị; đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch… của Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng đến với bộ đội.

Do đó, đối với mỗi phóng viên, mỗi cộng tác viên của các cơ quan báo chí quân đội phải luôn trau dồi phẩm chất chính trị vững vàng, có chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp trong sáng; tăng cường kỷ luật kỷ cương; phải luôn coi mình là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hoá, lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh chống lại các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chủ động thông tin bác bỏ những nội dung bôi nhọ, bịa đặt, vu khống, gây chia rẽ nội bộ, định hướng dư luận xã hội, hướng quân và dân vào những giá trị chân, thiện, mỹ, tạo sự đồng thuận trong xã hội./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH NƯỚC “VIỆT NAM LÀ HÌNH MẪU CỦA KHÉP LẠI QUÁ KHỨ, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI”!

     Chủ tịch nước Lương Cường chia sẻ: “Câu chuyện Việt Nam” vẫn vẹn nguyên, tỏa sáng những giá trị cao đẹp của hành trình tìm kiếm hòa bình bền vững, đối thoại, hàn gắn vết thương chiến tranh, hòa hợp dân tộc, tái thiết và phát triển.
Bộ Ngoại giao sáng nay tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề “50 năm thống nhất đất nước: Vai trò kiến tạo của Ngoại giao trong lịch sử và hiện tại”. 

Phát biểu tại hội thảo, Chủ tịch nước Lương Cường nêu rõ mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới, dù lớn hay nhỏ, nói chung đều trải qua những thời khắc mang tính bước ngoặt, những ngã rẽ lịch sử quyết định vận mệnh và con đường phát triển của mình.

Với Việt Nam, chiến thắng 30/4/1975 là một sự kiện vô cùng trọng đại trong lịch sử dân tộc. Từ đây, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối; dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên lịch sử mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên CNXH. 

Chủ tịch nước cho biết, trong chiến thắng lịch sử đó có đóng góp to lớn của ngoại giao Việt Nam. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử và những bài học sâu sắc từ chiến thắng 30/4/1975 đối với ngoại giao Việt Nam trong kiến tạo hòa bình, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc vẫn còn nguyên giá trị.

Chủ tịch nước cho rằng nhìn lại lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất đất nước, càng nhận thức rõ ràng hơn về vai trò rất quan trọng của công tác ngoại giao.

Chủ tịch nước phân tích ngoại giao đã huy động được sự ủng hộ to lớn cả vật chất và tinh thần từ các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên thế giới, tạo nên phong trào quốc tế rộng lớn chưa từng có ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Chủ tịch nước cho rằng trong lịch sử thế kỷ 20, hiếm có cuộc đấu tranh của dân tộc nào lại quy tụ được sự ủng hộ rộng khắp và mạnh mẽ cả ở trong và ngoài nước như dân tộc Việt Nam.

Ngoại giao đã phối hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ với mặt trận quân sự và chính trị, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”, qua đó giành thắng lợi từng bước, tạo tiền đề đưa sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đi đến toàn thắng.

Những cuộc đấu trí cam go trên bàn đàm phán Hội nghị Geneva năm 1954, Hội nghị Paris (từ năm 1968-1973) của các nhà chính trị, ngoại giao Việt Nam, tiêu biểu như các nhà ngoại giao Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thủy… đã đi vào sử sách, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, khiến đối phương phải nể phục.

Ngoại giao đã góp phần quan trọng trong tái thiết đất nước, triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại thời kỳ Đổi mới, mở ra cục diện đối ngoại thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khi đất nước vẫn chìm trong khói lửa bom đạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng tôi sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút”.

Việc Việt Nam đối xử nhân đạo với các tù binh Mỹ, tiến hành trao đổi tù binh trong quá trình thực hiện Hiệp định Paris, tạo điều kiện thuận lợi để phía Mỹ di tản công dân, nhân viên quân sự trong những ngày cuối tháng 4/1975, và hợp tác tìm kiếm người Mỹ mất tích… là những cử chỉ thiện chí, tạo tiền đề để hai bên nối lại nhịp cầu hợp tác.

Sau này, chính những cựu binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam như John McCain, John Kerry là những người năng nổ và tích cực trong thúc đẩy bình thường hóa và phát triển quan hệ với Việt Nam. 

Tính thời đại và thời sự sâu sắc của “câu chuyện Việt Nam” vẫn vẹn nguyên
Điểm lại những thành tựu 40 năm Đổi mới, Chủ tịch nước lưu ý trong thời bình, đối ngoại tham gia đi đầu trong kiến tạo hòa bình, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, mở rộng không gian phát triển của đất nước và gắn kết quan hệ hữu nghị bền chặt, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

Chủ tịch nước khẳng định chiến thắng lịch sử 30/4/1975 và sự hồi sinh, phát triển mạnh mẽ của Việt Nam là hình mẫu điển hình về sự yêu chuộng hòa bình; khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. 

Chủ tịch nước bày tỏ, năm tháng dù trôi qua, tính thời đại và thời sự sâu sắc của “câu chuyện Việt Nam” vẫn vẹn nguyên, tỏa sáng những giá trị cao đẹp của hành trình tìm kiếm hòa bình bền vững, đối thoại, hàn gắn vết thương chiến tranh, hòa hợp dân tộc, tái thiết và phát triển. 

Còn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn cho biết, ngày nay, trước những biến chuyển to lớn của thời đại, ngoại giao Việt Nam đang có những đổi mới căn bản bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Thế và lực mới của đất nước cho phép Việt Nam có cách tiếp cận mới trong tình hình mới. Từ một vị thế của một quốc gia tiếp nhận sang quốc gia đóng góp, từ một quốc gia đi sau sang một quốc gia vươn lên, có khả năng và điều kiện tham gia sâu hơn, trách nhiệm hơn vào việc giải quyết các vấn đề chung của thế giới.

Phó Thủ tướng khẳng định, từ bài học trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, Việt Nam sẽ tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế, nâng tầm đóng góp của Việt Nam vào việc bảo đảm an ninh và kiến tạo hòa bình trên thế giới./.

Yêu nước ST.

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2025

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước - Bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trong kỷ nguyên mới

 TCCS - Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường có bài viết chia sẻ về những bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trong kỷ nguyên mới. Tạp chí Cộng sản xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:


Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước với đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, là một thắng lợi vĩ đại của lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(1). Thắng lợi vĩ đại đó đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thành quả của nhiều nhân tố, đó là: Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chiến tranh, phương pháp cách mạng đúng đắn; là tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta trong suốt 21 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ, hy sinh; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự chi viện to lớn của hậu phương miền Bắc và ý chí quật khởi của tiền tuyến lớn miền Nam; là tình đoàn kết chiến đấu, gắn bó keo sơn giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, cùng với sự giúp đỡ to lớn, quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Đóng góp vào thắng lợi vĩ đại đó có những chiến công xuất sắc của lực lượng vũ trang nhân dân, sự hy sinh của hàng triệu anh hùng, liệt sĩ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976) ghi nhận: “Đại hội tuyên dương cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, suốt mấy chục năm ròng đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, từ gậy tầm vông, súng kíp đã lớn lên thành những binh đoàn hùng mạnh, đánh thắng những kẻ thù hung ác, lập được những chiến công oanh liệt từ trận Điện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của quân đội ta, cùng với toàn dân viết nên bản anh hùng ca kỳ diệu của chiến tranh cách mạng Việt Nam!”(2). Để thực hiện thành công những nhiệm vụ chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân phát triển lớn mạnh, làm nòng cốt cùng toàn dân chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, nổi bật:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân.

Đây không chỉ là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, mà còn là nguyên tắc bất di, bất dịch trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, Nhà nước ta. Ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 mở rộng (tháng 3-1957) đã ra Nghị quyết về vấn đề xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Nghị quyết xác định phương châm “tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hóa và hiện đại hóa”(3) và xác định xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, nghị quyết chỉ rõ: “yếu tố quyết định là cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ”(4). Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự đùm bọc, nuôi dưỡng, giúp đỡ của nhân dân, quân đội ta đã liên tục phát triển, ngày càng lớn mạnh, có đủ các thành phần, lực lượng lục quân, hải quân, phòng không - không quân và các quân đoàn chủ lực; cùng các lực lượng khác và toàn dân tạo nên sức mạnh tổng hợp lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Mỹ - Ngụy.

Cùng với lãnh đạo xây dựng quân đội nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng công an nhân dân và dân quân tự vệ. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng công an nhân dân thành lực lượng chuyên chính tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, liên hệ mật thiết với quần chúng, một lực lượng chiến đấu vững mạnh, có tính chất vũ trang, có tổ chức chặt chẽ, tinh thông về nghiệp vụ và có trình độ khoa học, kỹ thuật; đặt lực lượng công an nhân dân dưới sự lãnh đạo “trực tiếp, toàn diện và thống nhất về mọi mặt”(5) của Đảng. Đối với lực lượng dân quân tự vệ, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Đảng ta chủ trương “lấy củng cố làm chủ yếu, đồng thời phát triển từng bước vững chắc ở khắp mọi nơi, trọng tâm là các vùng xung yếu”, “các xí nghiệp, công, nông trường mới xây dựng đều phải có tổ chức tự vệ, có cán bộ phụ trách chỉ đạo chặt chẽ”(6); theo đó, lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng, phát triển vững chắc, rộng khắp, vừa bảo đảm lao động sản xuất, vừa bảo đảm nhiệm vụ trị an, tác chiến khi cần thiết.

Dự báo thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là tiền đề quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, đất nước còn phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới, nhất là những hạn chế, yếu kém, mâu thuẫn, trong xã hội chưa được giải quyết dứt điểm; các thế lực thù địch tăng cường chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Tình hình đó đòi hỏi việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc càng trở nên cấp thiết, có ý nghĩa quyết định quá trình phát triển, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của lực lượng vũ trang nhân dân.

Bối cảnh mới đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị bằng những chủ trương, giải pháp quyết liệt, đồng bộ, không ngừng, không nghỉ, toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Cùng với nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, Đảng, Nhà nước tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân, gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; không để bị bị động, bất ngờ trước mọi tình huống.

Hai là, đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần của lực lượng vũ trang nhân dân.

Quán triệt sâu sắc luận điểm của V.I. Lê-nin: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”(7) và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”(8), Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng công tác xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của lực lượng vũ trang nhân dân và toàn dân, đặc biệt là trong cuộc kháng chống Mỹ, cứu nước, khi mà quân và dân ta phải chiến đấu chống lại kẻ thù hung bạo, có tiềm lực kinh tế và quân sự bậc nhất thế giới. Đảng ta chỉ rõ: “Về mặt tư tưởng, phải quán triệt hơn nữa quan điểm trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh nhất định thắng lợi; phải bồi dưỡng ý chí kiên cường, tinh thần anh dũng chiến đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm giết giặc cứu nước, tiến tới hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; phải đề cao cảnh giác, khéo léo bảo toàn và che giấu lực lượng, chống phiêu lưu mạo hiểm, nóng vội; phải giáo dục ý thức thắng không kiêu, bại không nản”(9).

Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, ác liệt, Đảng ta chủ trương trước hết phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tiến hành chỉnh huấn chính trị trong toàn quân, củng cố lập trường giai cấp công nông, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần yêu nước kết hợp chặt chẽ với tinh thần quốc tế chân chính, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng và bồi dưỡng chí khí chiến đấu; khắc phục tư tưởng giảm sút ý chí chiến đấu, công thần, kiêu ngạo, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật. Do xây dựng được nhân tố chính trị, tinh thần vững chắc, lực lượng vũ trang nhân dân đã không sợ gian khổ, hy sinh, không chịu khuất phục trước kẻ thù hung bạo, chiến đấu anh dũng, mưu trí, sáng tạo, lập nên những chiến công hiển hách, cùng toàn dân giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước; làm rạng danh đất nước, con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân được tạo nên bởi nhiều nhân tố; trong đó, nhân tố chính trị, tinh thần là cơ bản nhất. Quán triệt quan điểm “Người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tình hình hiện nay tiếp tục xác định xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là vấn đề có tính nguyên tắc, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân. Quán triệt nguyên tắc này, trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân về chủ trương, đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh của Đảng. Trên cơ sở thấu triệt quan điểm “bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”, lực lượng vũ trang nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, thường xuyên nắm chắc tình hình, tham mưu và trực tiếp xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không để bị động bất ngờ, ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, mất an ninh, trật tự, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Trước sự xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương - Bộ Công an và cấp ủy, chỉ huy, chính quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân về mọi mặt; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.


Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân đủ về số lượng, có tổ chức, cơ cấu, thành phần đồng bộ, cân đối, hợp lý, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Nghị quyết của Bộ Chính trị (họp từ ngày 6 đến ngày 10-12-1962) về tình hình, phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam đã đề ra phương châm xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở miền Nam, trong đó xác định: “Phát triển rộng rãi du kích và dân quân, nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương”(10); đồng thời, xác định rõ phương hướng và số lượng cụ thể của mỗi thứ quân cần tập trung xây dựng ở miền Nam.

Trong cuộc kháng chiến này, Đảng, Nhà nước ta xây dựng, phát triển bộ đội chủ lực gồm các binh chủng và quân chủng. Trong đó, xây dựng các quân đoàn chủ lực làm lực lượng nòng cốt trên chiến trường miền Nam. Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân chủng Hải quân được xây dựng và phát triển ngày càng lớn mạnh, cùng nhân dân và các lực lượng khác đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Cùng với đó là việc tổ chức, phát triển các mặt trận, các khối chủ lực lớn ở các khu, bộ đội vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn, đã làm cho bộ đội chủ lực thực sự là lực lượng chủ yếu để thực hiện chiến lược làm chủ và tiến công tiêu diệt địch trên cả nước, cùng toàn dân chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, bộ đội địa phương được xây dựng và phát triển nhanh chóng trên cả nước, có sự phát triển về chất trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước. Trên miền Bắc, bộ đội địa phương được xây dựng đáp ứng với nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa với nhiều đơn vị bộ binh, phòng không, công binh, pháo binh được thành lập… Trên chiến trường miền Nam, tất cả các quận, huyện, thị xã, tỉnh, thành phố đều tổ chức bộ đội địa phương để phát triển đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, phát triển ba mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị).

Dân quân tự vệ được phát triển rộng khắp theo nguyên tắc có tổ chức đảng lãnh đạo, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, công trường, nông trường, nhà máy, xí nghiệp, với quy mô vừa và nhỏ, phù hợp với các loại hình chiến tranh khác nhau, các tình huống khác nhau.

Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước đã bảo đảm sự cân đối giữa các thứ quân, lực lượng, phù hợp với sự phát triển của đấu tranh vũ trang cách mạng, với vị trí chiến lược của từng thứ quân, phù hợp với đường lối chiến tranh nhân dân trong từng thời kỳ, trên từng chiến trường và trên cả nước. Mỗi thứ quân, mỗi lực lượng được huấn luyện, rèn luyện toàn diện, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân, cùng toàn dân làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Ngày nay, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, lực lượng vũ trang nhân dân cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh, sắp xếp, tổ chức lại, bảo đảm chất lượng, có số lượng, thành phần, tổ chức, cơ cấu phù hợp. Theo đó, lực lượng vũ trang nhân dân cần quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm, hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; về xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân, nhất là Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-3-2022, của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tiếp tục điều chỉnh tổ chức quân đội nhân dân theo hướng tinh, gọn, mạnh gắn với bố trí lại lực lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị; điều chỉnh tổ chức bộ máy công an nhân dân theo hướng bộ tinh, tỉnh toàn diện, xã vững mạnh, bám cơ sở; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng miền, trên biển. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự, trình độ kỹ, chiến thuật, giáo dục chính trị, rèn luyện toàn diện gắn với bảo đảm tốt hậu cần, kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, bảo đảm tốt vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân; tích cực nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự Việt Nam đáp ứng các loại hình chiến tranh và thực tiễn phát triển của đối tượng tác chiến.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, cùng với quan điểm “Người trước, súng sau”, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định vũ khí, trang bị là nhân tố cơ bản, tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta có nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác cải tiến, bảo đảm vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật cho lực lượng vũ trang theo phương hướng: “kết hợp vũ khí thô sơ, vũ khí thông thường và vũ khí tương đối hiện đại, tiến lên ngày càng hiện đại”(11). Các biện pháp chính để cải tiến, bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn này là: mua sắm, nhận viện trợ, tự sản xuất trong nước, thu gom của địch; đồng thời, sử dụng thành thạo, sáng tạo các vũ khí, trang bị hiện có với hiệu suất cao. Nhờ đó, lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là quân đội nhân dân đã có một hệ thống vũ khí, trang bị tương đối đồng bộ, tương đối hiện đại, bảo đảm cho chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu được nâng lên, đủ sức đánh bại kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt trội về vũ khí, trang bị.

Song song với bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, phát triển và vận dụng sáng tạo, linh hoạt, nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự phù hợp trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Quy luật phát triển của cuộc kháng chiến này ở miền Nam là kết hợp đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, kết hợp chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ. Trong đó, đấu tranh vũ trang giữ vai trò quyết định và chi phối trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến bằng những chiến dịch quân sự quy mô lớn. Các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân đã vận dụng linh hoạt, mềm dẻo và không ngừng sáng tạo nghệ thuật tác chiến trong từng trận đánh, từng chiến dịch, nhất là nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng, nghệ thuật cơ động lực lượng, nghệ thuật tạo lập thế trận, nghệ thuật nghi binh, nghệ thuật chọn hướng, mũi, mục tiêu tiến công và cách đánh… tạo nên ưu thế vượt trội về sức mạnh để giành chiến thắng từng bước, tiến đến thắng lợi cuối cùng.

Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, an ninh thế hệ mới, hiện đại cho lực lượng vũ trang trở thành xu thế của nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện đại hóa lực lượng vũ trang, nhất là quân đội nhân dân và công an nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta, phù hợp với điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và xu thế phát triển khoa học - kỹ thuật quân sự, an ninh trên thế giới. Để hiện thực hóa chủ trương đó, cùng với xây dựng con người là nhân tố trung tâm, có ý nghĩa quyết định, cần quan tâm bảo đảm tốt vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân, mà giải pháp có tính bền vững lâu dài là phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh. Tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối về phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh với phương châm chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, bảo đảm tốt vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang trong mọi tình huống. Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm thế giới để phát triển nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới.


Năm là, xây dựng và phát triển mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, cùng toàn dân thực hiện thắng lợi đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Dựa chắc vào nhân dân, tuyệt đối trung thành, phục vụ nhân dân và đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân vừa là nguyên tắc căn bản trong nâng cao bản chất cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc của lực lượng vũ trang, vừa là nét đẹp truyền thống quý báu của quân đội nhân dân, công an nhân dân và dân quân tự vệ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra là nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”(12).

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, sự nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che, giúp đỡ của nhân dân, được nhân dân cung cấp nhân lực và vật lực với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã giúp lực lượng vũ trang nhân dân nhanh chóng phát triển lớn mạnh. Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 12-1962) xác định: “Quá trình phát triển của cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là quá trình phát triển của một cuộc chiến tranh du kích, toàn dân, toàn diện và trường kỳ, chống lại một kẻ địch mạnh, tàn bạo và thâm độc”(13). Vì vậy, xây dựng và phát triển bền vững mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, cùng toàn dân chiến đấu và chiến thắng không chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn là sách lược chủ yếu để thực hiện thắng lợi đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm 1959 - 1960, lực lượng vũ trang đã hỗ trợ đắc lực cho nhân dân miền Nam vùng lên, tiến hành phong trào Đồng khởi, làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Trong những năm đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965), quân và dân miền Nam đẩy mạnh phương châm đấu tranh “hai chân, ba mũi”, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; đồng thời, vận động đồng bào trong các ấp chiến lược đấu tranh, kết hợp với các đòn tiến công quân sự và binh vận, phá vỡ kế hoạch lập ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy. Khi đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968), quân và dân ta tiếp tục thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, chủ động tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, đồng thời đánh thắng các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là những biểu tượng sinh động nhất của sức mạnh toàn dân kháng chiến với lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, quân đội nhân dân, công an nhân dân, dân quân tự vệ cần không ngừng phát huy truyền thống vẻ vang, đặc biệt là xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân, bảo vệ nhân dân. Phát huy bản chất, truyền thống và thành tựu đã đạt được lực lượng vũ trang nhân dân cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác dân vận bằng những việc làm thiết thực nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và cuộc sống bình yên của nhân dân; xung kích đi đầu trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, sẵn sàng có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang và nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh, phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Khẳng định sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng với yêu cầu cao của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Lực lượng vũ trang nhân dân đã làm tròn sứ mệnh cao cả, cùng toàn dân hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có những bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng và phát huy hơn nữa, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới./.

Q1

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong bối cảnh mới ở Việt Nam hiện nay

 TCCS - Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người được hình thành trên cơ sở kế thừa chủ nghĩa nhân văn trong truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam; mang ý nghĩa định hướng cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Trong bối cảnh mới, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người theo cách thức phù hợp, khoa học, đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn đất nước.


Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người được hình thành và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ: 1- Chủ nghĩa nhân văn trong truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc Việt Nam, nơi mà các giá trị nhân đạo, tình thương, công bằng và bình đẳng được coi trọng. Đặc biệt là tư tưởng về tự do, độc lập đã được thể hiện đậm nét qua lịch sử đấu tranh chống áp bức và xâm lược của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, qua quá trình lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy rằng quyền con người không chỉ là vấn đề của từng cá nhân, mà còn gắn liền với quyền tự do, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia dân tộc. Người đã nhận thức sâu sắc rằng chỉ khi một dân tộc giành được độc lập, người dân mới thực sự có được các quyền cơ bản; 2- Triết lý và tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển sáng tạo tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về giải phóng con người và xã hội không có áp bức, bóc lột; 3- Các giá trị tư tưởng tiến bộ của nhân loại: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu giá trị phổ quát về quyền con người từ các cuộc cách mạng lớn trên thế giới, đặc biệt là từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp, các tư tưởng tiến bộ khác của nhân loại và Người đã vận dụng một cách sáng tạo giá trị phổ quát này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; 4- Kinh nghiệm sống và hoạt động thực tiễn: Trong quá trình bôn ba ở nhiều quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng kiến sự bất công và mất tự do của nhiều dân tộc, đặc biệt là nhân dân Việt Nam. Trải nghiệm thực tế này đã củng cố tư tưởng của Người về sự cần thiết của việc giải phóng nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi áp bức, bất công, đấu tranh cho sự bình đẳng và công bằng xã hội, bảo vệ quyền con người. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người mang đậm tính nhân văn, phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của dân tộc Việt Nam trong quá trình đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước, có giá trị thời đại và vượt thời đại.

Kể từ khi thành lập, Đảng ta luôn khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm “kim chỉ nam” cho mọi hành động, phải được nắm vững, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn nhằm “góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”(1). Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về giải phóng con người, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, về quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân..., là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng, phát triển sáng tạo nguyên tắc quyền độc lập, tự do, hạnh phúc trên cơ sở gắn kết truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam với tinh hoa văn hóa nhân loại, như tư tưởng của lãnh tụ V. I. Lê-nin về quyền dân tộc tự quyết dưới mô hình chủ nghĩa xã hội thời Xô-viết; giá trị tự do, bình đẳng, bác ái của Cách mạng tư sản Pháp (năm 1789); học thuyết “Tam dân” (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của nhà yêu nước Trung Quốc Tôn Trung Sơn; giá trị phổ quát về quyền con người từ góc độ pháp luật và thông lệ quốc tế,..., vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam. Trong đó, nội dung cốt lõi tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người được thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm quyền con người cho mọi người trên đất nước Việt Nam, rằng “có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”(2). Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta mang bản chất xã hội hiện thực do con người, vì con người; đề cao giá trị tự do, ấm no, hạnh phúc; kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân, tập thể với lợi ích xã hội; giải quyết thỏa đáng giữa cống hiến và hưởng thụ; có trình độ đạo đức nhân văn cao cả nhất, thể hiện khát vọng của nhân loại nói chung, dân tộc và nhân dân Việt Nam nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội là nơi sẽ “đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng(3), “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(4), bởi vì trong chế độ cộng sản “ai cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thông thái và có đạo đức”(5). Trên tinh thần đó, Người dành nhiều tâm huyết chuẩn bị toàn diện, đầy đủ cho sự ra đời của một xã hội mới, đầy tươi đẹp, tiến bộ, văn minh, nơi mà ở đó nhân dân ta thực sự được giải phóng toàn diện và có điều kiện để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần. Bởi theo Người: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(6) và “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7).

Thứ hai, bản chất cốt lõi của quyền con người luôn gắn với “độc lập - tự do - hạnh phúc”, gắn với quyền dân tộc, giai cấp, bởi vì để giành được quyền con người “là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”(8). Thực tiễn lịch sử cho thấy, khi đất nước bị mất chủ quyền thì quyền con người bị chà đạp nghiêm trọng, cụ thể trong thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách độc ác trơ tráo đến thế”(9); điều kiện tiên quyết để quyền con người được bảo đảm là dân tộc phải có tự do, độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Thật vậy, chỉ đến khi Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, nhân dân ta mới thoát khỏi thân phận nô lệ, được hưởng thụ giá trị của độc lập, tự do; từ đây, các quyền công dân lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Đất nước phát triển hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” - biểu hiện cao nhất và cụ thể nhất của quyền con người, của sự bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, “dân chủ” là yếu tố cơ bản trong xác lập và bảo vệ quyền con người, thể hiện ở quyền là chủ gắn với quyền làm chủ, bởi “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra(10). Như vậy, nhân dân là chủ thể đích thực của chế độ, nắm chính quyền, bầu đại biểu thay mặt mình điều hành chính quyền ấy và nếu “Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(11). Có thể nói, “dân chủ” là nền tảng để xây dựng hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, gắn với lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ tư, quyền con người phải được bảo đảm ở tất cả giai cấp, tầng lớp xã hội, từ nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, công nhân, nông dân, trí thức, đồng bào dân tộc thiểu số,... trên tinh thần “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”(12). Bên cạnh đó, quyền con người được thể hiện trên tất cả lĩnh vực, như chính trị, kinh tế, dân sự, văn hóa, xã hội, mọi người đều bình đẳng, nam nữ bình quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau”(13). Điều này được thể hiện ở việc mọi công dân đều được tham gia chính quyền, được quyền bầu cử; tự do ngôn luận, xuất bản, tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng và cư trú, đi lại trong nước, nước ngoài; đồng thời, các nhóm yếu thế trong xã hội luôn được hỗ trợ, bảo vệ theo nguyên tắc phân phối công bằng “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”(14).

Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tập trung hoàn thành trách nhiệm ở vị trí “công bộc”, “đày tớ” phục vụ tối đa việc bảo đảm quyền lợi cho nhân dân. Mặt khác, khẳng định sâu sắc hơn quan điểm quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân, rằng “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân”(15). Sách trắng “Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam” cũng nhấn mạnh: “các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội”(16). Ngoài ra, theo Người, cần xác định quyền lợi của dân tộc Việt Nam được bảo đảm trên cơ sở tôn trọng quyền lợi của các dân tộc khác.

Thực tiễn vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Thành tựu

Giai đoạn trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên một số quy định trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam về quyền con người chưa phát huy hết hiệu quả. Kể từ sau năm 1986, thành tựu về bảo vệ, bảo đảm quyền con người của Việt Nam ngày càng được thế giới nhìn nhận, đánh giá cao... Thêm vào đó, Việt Nam đã và đang tiếp tục xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân với chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo đảm các quyền con người được lồng ghép vào mọi chiến lược, chương trình phát triển của đất nước, góp phần giúp người dân có cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc.

Cùng với đó, Việt Nam đã tham gia hầu hết điều ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người, như Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; là thành viên tích cực trong các diễn đàn, hội nghị khu vực và quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền,...; qua đó, thể hiện vị thế, uy tín quốc tế nước ta ngày càng cao, bác bỏ các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc, chống phá từ các thế lực thù địch về thành tựu bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Mặt khác, hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền con người trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, dân sự, xã hội và văn hóa thể chế hóa  kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên tinh thần “Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết”(17).

Như vậy, dựa trên việc kế thừa, phát huy kết quả công tác bảo vệ, thực hiện quyền công dân, quyền con người qua các giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền lợi của mọi giai tầng xã hội, từ nhi đồng, thiếu niên, đến thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, người khuyết tật,... Cùng với đó, các giá trị độc lập - tự do - hạnh phúc cho mỗi người và mỗi dân tộc được bảo vệ; giải quyết đúng đắn, phù hợp mối quan hệ hai chiều giữa tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền bình đẳng, tương trợ, đoàn kết của mọi người và của các cộng đồng lớn nhỏ (giới, dân tộc, tôn giáo,…) hướng tới nhiệm vụ phát huy “tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”(18).

Một số hạn chế

Một là, quá trình hoàn thiện và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong công tác bảo vệ quyền con người còn một số hạn chế: “(i) Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được thể chế kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế nhưng tính khả thi không cao; (ii) hệ thống pháp luật còn có quy định mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội, chậm được bổ sung, sửa đổi, thay thế. (iii) Cơ chế, chính sách, pháp luật chưa tạo dựng được môi trường thực sự thuận lợi để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút nguồn lực của các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng như trong Nhân dân”(19). Một số cán bộ, công chức và người dân nhận thức chưa đầy đủ về quyền con người; về quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ; thể chế về nghĩa vụ công dân chưa hoàn thiện; chưa bảo đảm tốt việc cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền lợi về môi trường, quyền sử dụng đất đai, và quyền của các nhóm yếu thế; thiếu cơ chế giám sát độc lập và hiệu quả việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong công tác bảo vệ quyền con người; người dân chưa có nhiều cơ hội để tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách liên quan đến quyền con người.

Hai là, thách thức từ việc nhận thức chưa đầy đủ, thực hiện chưa thật sự hiệu quả cách tiếp cận dựa trên quyền con người trong hoạch định, triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Chủ thể trao quyền thực hiện chưa nghiêm trách nhiệm giải trình, đạo đức công vụ, suy thoái đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực dẫn đến hạn chế quyền con người của người dân.

Ba là, thiếu cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành trung ương với địa phương trong giải quyết hài hòa, hợp lý một số vấn đề về quyền con người.

Bốn là, việc sử dụng phương tiện truyền thông chính thống để thông tin, tuyên truyền đối ngoại thông qua các kênh khác nhau, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài, trong nhận diện, phản bác thông tin xấu độc, các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch về thành tựu bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam chưa thật sự kịp thời, hiệu quả chưa cao. Có lúc chưa thật sự chủ động, tích cực tiếp cận và giải quyết để hạn chế âm mưu, thủ đoạn “chính trị hóa” vấn đề quyền con người của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, cũng như “chính sách ngoại giao nhân quyền” theo kiểu phương Tây.

Bối cảnh mới đặt ra yêu cầu vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Bối cảnh mới của Việt Nam hiện nay có thể được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh, từ chính trị, kinh tế, xã hội, quan hệ quốc tế. Đây là thời kỳ Việt Nam đang đối mặt với nhiều cơ hội, thách thức lớn, khi tiếp tục quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: “… đó là kỷ nguyên phát triển,… Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dâu giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”(20).

Một làchuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế: Việt Nam đã trải qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế ổn định trong nhiều năm, thu hút đầu tư nước ngoài mạnh mẽ, và cải thiện đời sống nhân dân. Vị thế quốc gia ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, đặc biệt là trong các vấn đề kinh tế và thương mại khu vực. Tuy nhiên, cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu ngày càng gia tăng, đặt ra thách thức về việc làm cho bộ phận người lao động chưa đươc đào tạo nghề theo tiêu chuẩn quốc tế.

Hai là, chính trị Việt Nam ổn định, nhưng đối mặt với yêu cầu mới: Sự ổn định về chính trị là yếu tố quan trọng giúp bảo đảm sự phát triển liên tục của nền kinh tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong quyết sách chính trị và phát triển đất nước. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối diện với thách thức lớn về yêu cầu hoàn thiện cơ chế để đổi mới công tác quản lý, cải cách hành chính, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, về triển khai hiệu quả chủ trương, chính sách, pháp luật về quyền con người, đặc biệt là áp lực từ việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị ngày càng gay gắt.

Ba là, văn hóa đa dạng, phong phú, nhưng còn nhiều thách thức: Việt Nam có 54 dân tộc anh em và nhiều tôn giáo khác nhau, tạo nên sự phong phú về văn hóa, quyền giữ gìn, tiếp cận và hưởng thụ văn hóa, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, đất nước vẫn đối mặt với một số vấn đề xã hội, như chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội, và sự phân hóa giữa các vùng, miền.

Bốn là, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số mở ra cơ hội phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam, từ các ngành sản xuất đến dịch vụ. Tuy nhiên, chất lượng của nguồn nhân lực cho cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể sẽ là thách thức, rào cản trong tiếp cận việc làm; việc bảo mật thông tin, quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng là thách thức khi điều này ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh hội nhập.

Năm là, quan hệ quốc tế và vị thế toàn cầu hóa: Mối quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với nhiều quốc gia lớn, như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ,.. và các quốc gia trong ASEAN giúp Việt Nam phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh quốc gia; tham gia sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) và tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về các vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, và phòng, chống dịch bệnh. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra thách thức về bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, đồng thời đặt ra yêu cầu có phương thức ứng xử linh hoạt, khéo léo về các vấn đề đối ngoại và các mối quan hệ quốc tế phức tạp.

Sáu là, vấn đề môi trường và phát triển bền vững: Việt Nam có thể tận dụng cơ hội từ các sáng kiến toàn cầu về phát triển bền vững và tăng trưởng xanh do cộng đồng quốc tế đang chú trọng đến việc phát triển xanh, sử dụng năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải đối mặt với thách thức lớn về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và thiên tai là các vấn đề đang ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân; thách thức về bảo đảm quyền con người trong tình trạng khẩn cấp do hậu quả thiên tai từ biến đổi khí hậu: quyền an toàn tính mạng, sức khỏe, quyền có mức sống thỏa đáng, quyền được sống trong môi trường trong lành.


Nhiệm vụ, giải pháp vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong bối cảnh mới

Một là, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người để bảo đảm tốt nhất quyền con người cho mọi người dân Việt Nam đòi hỏi tiếp tục thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ quyền con người(21); xác định quyền con người là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên tinh thần chung “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”(22). Nhiệm vụ này không chỉ đòi hỏi sự lãnh đạo, quản lý đúng đắn từ phía Đảng và Nhà nước, mà còn cần sự tham gia tích cực từ toàn thể nhân dân.

Quyền con người cần được bảo đảm thông qua thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể: 1- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các cơ quan nhà nước phải tuân thủ pháp luật, đồng thời cũng phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Điều này đòi hỏi một hệ thống pháp luật minh bạch, công bằng và hiệu quả; 2- Các tỉnh, thành phố, ban, bộ, ngành chủ động đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý trên cơ sở vận dụng, coi trọng việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục các vấn đề về quyền con người gắn với dân chủ; thực hiện tốt công tác thông tin - báo chí, tư pháp, tôn giáo, dân tộc thiểu số; 3- Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên giữa các bộ, ban, ngành, địa phương trong giải quyết hài hòa, hợp lý các vấn đề về quyền con ngườiChỉ có như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội mới thực sự được vận dụng sáng tạo và hiệu quả, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người, góp phần xây dựng một Việt Nam thịnh vượng, công bằng và hạnh phúc.

Hai là, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong tình hình hiện nay đòi hỏi thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ và giải pháp như sau: 1- Bảo vệ, củng cố nền độc lập. Độc lập dân tộc là nền tảng cơ bản để bảo đảm quyền con người. Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ và củng cố nền độc lập của Tổ quốc trước mọi thách thức từ bên ngoài. Đẩy mạnh quốc phòng, an ninh; tăng cường đoàn kết dân tộc và nâng cao tinh thần yêu nước. Đồng thời, cần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ để tạo ra cơ sở vững chắc cho việc bảo đảm quyền con người; 2- Kết hợp chặt chẽ giữa quyền con người và quyền dân tộc, quyền giai cấp. Bảo đảm quyền con người không tách rời khỏi quyền dân tộc và bản chất giai cấp. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh. Đồng thời, tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; 3- Gìn giữ giá trị phổ quát về quyền con người trên cơ sở bảo vệ chủ quyền quốc gia gắn với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối thoại về quyền con người; nâng cao chất lượng, hiệu quả phương tiện truyền thông chính thống trong nhận diện, phản bác thông tin xấu độc, các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch về thành tựu bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; tổ chức tốt công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại thông qua các kênh khác nhau, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài. Đặc biệt, trong quan hệ đối nội, đối ngoại, phải chủ động, tích cực tiếp cận và giải quyết vấn đề nhân quyền để ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn “chính trị hóa” của các thế lực phản động, thù địch bôi nhọ, xuyên tạc thành tựu về bảo vệ quyền con người của Việt Nam, cũng như phản bác việc áp đặt “chính sách ngoại giao nhân quyền” theo kiểu phương Tây.

Ba là, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân chủ”, dân là chủ gắn với quyền làm chủ của nhân dân đòi hỏi: 1- Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, nơi mà pháp luật là công cụ bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Pháp luật phải thực sự là tiếng nói và công cụ để nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình; 2- Mở rộng quyền dân chủ cho nhân dân trong tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình ra quyết định của Nhà nước thông qua các cơ chế dân chủ trực tiếp và gián tiếp. Tăng cường vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng trong việc phản biện xã hội, giám sát và đóng góp ý kiến cho việc hoạch định và thực thi chính sách của Nhà nước; 3- Bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước; 4- Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm quyền làm chủ của người lao động và nhân dân, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội; 5- Tạo điều kiện để truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm thông tin được truyền tải một cách trung thực, công bằng và kịp thời đến nhân dân; góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, nơi mà mọi người dân đều có cơ hội và điều kiện để phát triển toàn diện.

Bốn là, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người phải gắn với tất cả giai cấp, tầng lớp xã hội và trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, dân sự, xã hội và văn hóa, quyền của nhóm dễ bị tổn thương, cụ thể: 1- Bảo đảm quyền con người cho tất cả giai cấp và tầng lớp xã hội, từ người lao động, nông dân, đến tầng lớp trí thức, doanh nhân, và các nhóm yếu thế khác; 2- Hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm quyền con người cho mọi giai tầng xã hội. Pháp luật phải được thực hiện một cách công bằng, không thiên vị bất kỳ giai cấp hay tầng lớp nào, không để ai ở lại phía sau. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân vừa bảo đảm phù hợp với cam kết quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện của Việt Nam; giải quyết hiệu quả lợi ích trong quan hệ giữa các dân tộc trước tác động của quá trình phân hóa giàu nghèo, bùng nổ dân số,…; 3- Sử dụng phổ biến, sâu rộng cách tiếp cận dựa trên quyền con người trong hoạch định, triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Đảng và Nhà nước chuyển từ việc quyết định và trao quyền cho người dân sang bảo đảm người dân được thụ hưởng quyền của mình; tạo điều kiện, khuyến khích ngày càng nhiều người dân tham gia tích cực, chủ động vào hoạch định, triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, xã hội...; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thực hiện nghiêm trách nhiệm giải trình, đạo đức công vụ; đề cao vai trò chủ thể hưởng thụ quyền là nhân dân; 4- Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo đảm quyền con người cho mọi tầng lớp xã hội. Điều này bao gồm việc nâng cao mức sống, bảo đảm an sinh xã hội, và tạo cơ hội phát triển cho tất cả tầng lớp trong xã hội. Thực hiện chương trình phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa, thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ vừa bảo đảm tôn trọng quy luật thị trường, vừa phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tạo điều kiện cho người dân ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn có thể phát triển kinh tế và hưởng thụ dịch vụ xã hội cơ bản.

Năm là, cơ quan nhà nước tập trung hoàn thành trách nhiệm ở vị trí “công bộc”, “đày tớ”, phục vụ tối đa việc bảo đảm quyền lợi cho nhân dân: 1- Đề cao vai trò của nhân dân: Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Chính sách, quyết định phải xuất phát từ lợi ích của người dân, tránh tình trạng quan liêu, xa rời quần chúng; 2- Cải cách hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ: Để làm tốt vai trò “công bộc”, các cơ quan nhà nước cần cải tiến quy trình làm việc, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân; 3- Kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực: Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là trở ngại lớn trong việc thực hiện vai trò phục vụ của cơ quan nhà nước. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục quyết liệt, kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong công tác phòng, chống tham nhũng, tạo ra một bộ máy trong sạch, vững mạnh để phục vụ nhân dân tốt hơn; 4- Nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ nhân dân, không ngừng học tập và rèn luyện để hoàn thành tốt nhiệm vụ; 5- Đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý: Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới: “i) Thực hiện nghiêm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tuyệt đối không để xảy ra bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng. (ii) Tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, bộ “tổng tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước”(23); phát huy tối đa trí tuệ tập thể, sáng tạo của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước tập trung hoàn thành các mục tiêu phát triển toàn diện con người, đặt vị trí, quyền lợi của người dân làm trung tâm trên cơ sở nhất quán lấy hiệu quả kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội làm tiền đề để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Cần nhận thức sâu sắc để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, bảo đảm quyền gắn liền với nghĩa vụ; chú trọng từng bước bảo đảm sự bình đẳng giữa các quyền thông qua thể chế dân chủ và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là: 1- Đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo, nghiên cứu về quyền con người, đa dạng hóa hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận của nước ta về quyền con người trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới. Cần thường xuyên tuyên truyền, giáo dục quyền con người để nâng cao nhận thức của mọi người về mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa tự do cá nhân và trách nhiệm công dân; 2- Xây dựng văn hóa pháp luật: Phát triển và củng cố một nền văn hóa pháp luật, trong đó mọi cá nhân đều nhận thức rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; 3- Cần hoàn thiện cơ chế để bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời bảo đảm mọi cá nhân đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với xã hội, quy định rõ ràng nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong các lĩnh vực khác nhau; 4- Khuyến khích và tạo điều kiện cho công dân tham gia vào hoạt động chính trị, xã hội, qua đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; 5- Thực hiện biện pháp giám sát và kiểm tra nhằm bảo đảm mọi cá nhân đều thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mình, đồng thời xử lý nghiêm vi phạm; 6- Tăng cường sự tham gia của tổ chức xã hội trong việc giáo dục và giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, góp phần xây dựng một xã hội công bằng và văn minh ./.

Q1