Thứ Tư, 30 tháng 4, 2025

 Doanh nhân Việt kiều Peter Hong: Tôi đau đáu ước nguyện đem các nguồn lực về đầu tư xây dựng quê hương

Doanh nhân Peter Hong.

Phóng viên (PV): Xin chào doanh nhân Peter Hong! Ông có thể chia sẻ về hành trình khởi nghiệp nơi xứ người của mình với bạn đọc Tạp chí Xây dựng Đảng?

Ông Peter Hong: Đây là một câu hỏi mang lại cho tôi nhiều cảm xúc. Quay thời gian trở về năm 1979, khi lần đầu tiên tôi rời TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để đặt chân tới nước Úc định cư. Hoàn cảnh lúc bấy giờ còn rất nhiều khó khăn, tôi phải tự tìm cách khắc phục từ những thứ thiết yếu nhất. Lúc đó, tôi xác định có ba việc ưu tiên hàng đầu là học tiếng, chỗ ở và việc làm.

Tuy nhiên, xét ra so với các bạn học đồng trang lứa thời điểm đó ở Việt Nam, họ cầm súng ra chiến trường, chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc và tây - nam thì tôi thuận lợi hơn rất nhiều vì được đi học đại học. Chính cơ hội đó đã mở ra cho tôi một quyết tâm và khát khao nỗ lực học tập để quay về đóng góp cho quê hương.

PV: Vậy ý định về việc kết nối các doanh nhân Việt kiều góp sức xây dựng quê hương Việt Nam nhen nhóm lên từ khi nào, thưa ông?

Ông Peter Hong: Tôi đã từng gặp gỡ, trao đổi với nhiều doanh nhân Việt kiều có tên tuổi ở những nước họ đang sinh sống và họ đều có chung một mong ước là sẽ mở rộng đầu tư về Việt Nam.

Tôi cũng như bao kiều bào Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài khác đều có mong ước mình sẽ làm được điều gì đó cho quê hương và đất nước. Bởi quê hương, đất nước đối với chúng tôi luôn là một điều rất thiêng liêng trong trái tim. Do đó, năm 1992 tôi đã về Việt Nam và bắt đầu tham gia các dự án của Chính phủ Úc đầu tư tại Việt Nam.

Trong thời gian qua, các doanh nhân, kiều bào ở nước ngoài cảm thấy ngày càng được quan tâm, ưu tiên, tạo điều kiện, được coi như một người Việt Nam sinh sống, làm việc và đầu tư ở trong nước và là một bộ phận không thể tách rời trong vận mệnh của dân tộc, trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

PV: Với một trái tim luôn đau đáu hướng về quê hương, ông muốn hình ảnh đất nước, con người Việt Nam được hiện lên như thế nào trên bản đồ thế giới?

Ông Peter Hong: Với tôi, khi mới rời xa quê hương, hình ảnh Việt Nam hiện lên còn rất nhiều khó khăn khi vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc và bắt đầu công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước. Ngay tại thời điểm đó, chúng ta có rất nhiều việc phải làm, tuy nhiên suy nghĩ thường trực trong tôi luôn là niềm đau đáu về việc làm thế nào để hình ảnh của Việt Nam ta trở nên tốt đẹp hơn trong mắt bạn bè quốc tế, làm thế nào để Việt Nam thời điểm đó có thể tham gia Liên hiệp quốc, làm thế nào để trong tương lai đất nước ta trù phú, xuất khẩu các loại hàng hóa, người dân được cơm no, áo ấm, hưởng cuộc sống hạnh phúc, xã hội phát triển.

PV: Vậy ông nhìn nhận như thế nào về đất nước ta sau gần 40 năm Đổi mới?

Ông Peter Hong: Nhờ có chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đất nước ta đã vươn lên từ một nước nghèo trở thành một quốc gia đang phát triển, trong nhóm 40 nước có nền kinh tế phát triển của thế giới.

FDI trong vòng 30 năm qua đều ghi nhận được những con số kỷ lục. Chúng ta đã bứt tốc để về đích việc hoàn thành thu hút FDI trong năm 2024 là 40 tỷ đô-la Mỹ, mức độ giải ngân khoảng 230 tỷ đô-la Mỹ. Đây là một trong “cú hích” tăng trưởng đối với nền kinh tế của Việt Nam.

Có thể nhận định trong suốt những năm qua, Việt Nam có một thể chế chính trị vững chắc, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt của Đảng, Chính phủ với những quyết sách đồng bộ từ trên xuống dưới. Nước ta lại đang bước vào thời điểm dân số vàng với đội ngũ người lao động có năng lực và trình độ ngày càng cao. Việt Nam cũng đang có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới, từ khi tham gia Liên hiệp quốc. Kiều bào ta đang định cư ở hàng trăm quốc gia và vùng lãnh thổ… Đó là những thay đổi thần kỳ, đồng thời là tiềm năng mà chúng ta có thể tập trung khai thác trong vận hội vươn mình của đất nước.

PV: Được biết trong hơn 30 năm qua, ông đã miệt mài không ngưng nghỉ với vai trò làm cầu nối hỗ trợ các doanh nghiệp Việt kiều đầu tư về Việt Nam, ông có thể chia sẻ về quá trình này?

Ông Peter Hong: Như tôi đã chia sẻ, tôi rất đau đáu ước nguyện đem các nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài về đầu tư xây dựng quê hương, đất nước. Là người Việt Nam ở nước ngoài, tôi rất tự hào về vị thế của đất nước trên trường quốc tế trong những năm qua. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển rất nhanh của đất nước, tôi nhận thấy cơ chế hoạt động giữa Trung ương và địa phương còn rất nhiều khó khăn. Mặc dù đứng ra làm cầu nối mời doanh nghiệp nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam, tôi thấy vẫn còn nhiều trở ngại về mặt thể chế và chính sách khiến kiều bào đôi lúc chưa hiểu rõ hay các tỉnh, thành phố chưa nắm được hết… Đó cũng chính là mục tiêu, chiến lược mà Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài (BAOOV) được thành lập.

Từ năm 2009 đến nay, BAOOV đã trải qua 3 nhiệm kỳ, đang ở nhiệm kỳ 4. Tôi tham gia từ khóa 3 với cương vị Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký, giờ là khóa 4 với cương vị Chủ tịch.

Năm 2019, khi tôi mới được bầu làm Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký của Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài, danh sách thành viên của Hiệp hội chỉ có tại 12 hay 13 quốc gia, vùng lãnh thổ. Hiện tại, Hiệp hội đã dần lớn mạnh, có chi hội tại 40 quốc gia, vùng lãnh thổ.

PV: Với vai trò hiện nay là Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài, theo ông sứ mệnh Hiệp hội đã, đang và sẽ tiếp nối là gì?

Ông Peter Hong: Tôi thấy sứ mệnh của BAOOV là làm sao đoàn kết để đưa hội viên ở các quốc gia trên thế giới kết nối giao thương với nhau, đưa được chủ trương của Đảng và Nhà nước tới kiều bào, để kiều bào hiểu được đất nước đang mở cửa và có nhiều tiềm năng để về đầu tư. Tôi muốn các kiều bào trên thế giới đoàn kết lại để phục vụ cho quê hương, đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

PV: Để hiện thực hóa mục tiêu và sứ mệnh của mình, Hiệp hội trong nhiều năm qua đã thực hiện những chiến lược phát triển như thế nào, thưa ông?

Ông Peter Hong: Trong những năm qua, Hiệp hội và Hội Doanh nhân Việt Nam ở các nước đã tổ chức, tham gia các hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại do Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và các tỉnh, thành phố tổ chức, với nhiều quy mô và đạt hiệu quả thiết thực, thu hút hàng trăm lượt các doanh nghiệp kiều bào và doanh nghiệp trong nước tham gia, đã có nhiều bản ghi nhớ hợp tác có giá trị được ký kết.

Hiệp hội đã tham gia vào nhiều diễn đàn, hội nghị xúc tiến đầu tư, hội nghị, hội thảo. Hiệp hội đã triển khai hiệu quả hàng trăm hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại. Đồng thời, đã chủ động hợp tác thành lập, phát triển 7 trung tâm xúc tiến và trưng bày hàng Việt Nam tại nước ngoài tại Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Lào, Nga, Úc và Trung Quốc; vận động kiều bào, cộng đồng doanh nghiệp kiều bào gửi kiều hối về đầu tư, xây dựng quê hương.

PV: Xin ông chia sẻ thêm về một trong những điểm nhấn trong nhiệm kỳ qua của Hiệp hội mà ông cho rằng nổi bật nhất?

Ông Peter Hong: Thời gian qua, Hiệp hội đã tư vấn cho Chính phủ Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, xuất khẩu hàng Việt Nam chất lượng cao ra nước ngoài, thông qua kiều bào”. Đây có thể nói là một kênh giới thiệu sản phẩm của ta ra nước ngoài rất hiệu quả. Để làm được điều này, chúng tôi đã tổ chức rất nhiều hội thảo, các chương trình xúc tiến đầu tư tại nhiều nước trên thế giới, mời lãnh đạo các tỉnh, thành phố tham gia… Qua đó, chúng tôi có nhiều cơ hội để giới thiệu doanh nhân Việt kiều và doanh nhân trong nước về các sản phẩm hàng hóa nội địa Việt Nam. Trong tương lai, chúng tôi sẽ hướng tới tổ chức nhiều chương trình xúc tiến hơn nữa, có thể là hằng tháng với nhiều chủ đề giới thiệu về thị trường ở mỗi quốc gia, giới thiệu hàng Việt Nam tại các quốc gia đó, đưa hàng Việt Nam ra nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

PV: Hiện nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, theo ông Việt Nam cần tập trung ưu tiên phát triển lĩnh vực gì đưa dân tộc bước sang một cột mốc phát triển mới?

Ông Peter Hong: Thời gian qua, những quyết sách thể hiện tầm nhìn tương lai và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Chính phủ Việt Nam nhằm đưa Việt Nam bứt phá bằng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới đã được thể hiện rõ nét. Đặc biệt là việc Tổng Bí thư Tô Lâm làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tôi coi đây là hướng đi chiến lược rất đúng đắn, thể hiện Đảng và Nhà nước đã có sự nhìn nhận, chuẩn bị rất tốt để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

PV: Vậy theo ông, chúng ta nên lựa chọn những mũi nhọn chiến lược nào để đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số?

Ông Peter Hong: Chúng ta đang đứng trước sự thay đổi như vũ bão của khoa học - công nghệ. Để đi tắt đón đầu, theo tôi chúng ta nên tập trung vào những ngành khoa học, công nghệ cao như chip, bán dẫn, AI… Bản thân các hội thành viên của Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài cũng có những hoạt động hỗ trợ đào tạo và hợp tác công nghệ cao, đặc biệt là công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam.

Hiện số lượng hội viên trẻ tuổi (độ tuổi từ 30 đến 45) trong Hiệp hội rất đông đảo, chiếm 61%. Thế mạnh của thế hệ doanh nhân Việt kiều trẻ chính là năng lực khai thác, đầu tư các ngành công nghệ cao và mới nổi như fintech, blockchain, sử dụng công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI) trong các hoạt động. Hiện cũng có khoảng 50.000 người Việt làm trong lĩnh vực công nghệ, trong đó có một số lượng đáng kể làm về vi mạch bán dẫn. Tại các công ty trên thế giới, người Việt tham gia vào tất cả các khâu trong chuỗi sản xuất bán dẫn từ nghiên cứu thiết kế chip tới nghiên cứu vật liệu bán dẫn. Trong vài năm gần đây, nhiều kỹ sư Việt Nam đã từ nước ngoài trở về làm việc cho các công ty FDI trong lĩnh vực bán dẫn tại Việt Nam.

PV: Vậy ông nhìn nhận ra sao về câu chuyện Chính phủ Việt Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn Công nghệ hàng đầu thế giới NVIDIA?

Ông Peter Hong: Phải nói một cách thẳng thắn rằng, NVIDIA là một tập đoàn toàn cầu và khi họ chọn một đất nước để đầu tư, đó là câu chuyện của hàng chục năm. Nó giống như việc con chim đại bàng khi muốn đẻ trứng thì phải nghĩ đến sự an toàn của con cái sau này. Do vậy, có thể nói việc NVIDIA lựa chọn Việt Nam để đầu tư chiến lược lâu dài đang chứng minh đất nước ta đang là một điểm đến đầy sức hút về đổi mới khoa học - công nghệ đối với các tập đoàn hàng đầu của thế giới.

Hiệp hội cũng đã thành lập Ủy ban Chip bán dẫn Đài Loan - Nhật Bản - Việt Nam, việc được hợp tác với NVIDIA cũng mở ra nhiều cánh cửa đối với sự phát triển của các doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam, cũng như trên thế giới. Chúng tôi cũng xác định chip bán dẫn là một trong những lối đi chiến lược để phát triển đất nước. Đây là một trong những ngành nghề thế giới đang rất trọng dụng, mở ra một tương lai rộng mở cho đất nước ta.

PV: Trong tương lai, ông còn dự định gì vẫn đang ấp ủ?

Ông Peter Hong: Thời gian qua, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung, trong đó có Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước; sự hỗ trợ tích cực của Ủy ban Nhà nước Về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao, các bộ, ban, ngành, địa phương... Chúng tôi luôn muốn mình trở thành nhịp cầu nối gắn kết để đem nhiều nguồn lực hơn cống hiến cho quê hương.

Tôi mong muốn từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần có thêm nhiều bằng sáng chế để đất nước phát triển. Bởi, hiện nay rất nhiều công trình, bằng sáng chế chưa được ứng dụng triệt để, đặc biệt liên quan đến các lĩnh vực như: môi trường, năng lượng, sinh học… Hy vọng rằng, Đảng và Nhà nước sẽ có cơ chế mới cho phép kiều bào được đăng ký, cống hiến sáng chế của mình cho đất nước.

Ngoài các hoạt động kết nối trong lĩnh vực kinh doanh - đầu tư, tôi cũng rất coi trọng vấn đề giáo dục và đào tạo cho thế hệ trẻ Việt Nam. Do đó, tới đây sẽ có nhiều dự án hơn đầu tư cho phát triển giáo dục tại Việt Nam. Tôi luôn mong muốn các bạn trẻ Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội để tiếp cận với những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, giúp trau dồi, phát triển bản thân để cùng nhau xây dựng một Việt Nam hiện đại, văn minh và giàu đẹp hơn.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!         

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI CỦA VIỆT NAM!

BÀI 2: CÁC CỨ LIỆU LỊCH SỬ KHẲNG ĐỊNH BẢN CHẤT CUỘC KHÁNG CHIẾN!
(Tiếp theo và hết)
     Để phản bác và làm thất bại âm mưu, luận điệu nham hiểm của các thế lực phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết cần dựa vào các cứ liệu lịch sử để khẳng định chính đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam kéo dài trong suốt 30 năm (1945-1975) và trải qua nhiều giai đoạn...

Giai đoạn 1 (1945-1954)
Trong giai đoạn này, Mỹ ủng hộ toàn diện về kinh tế, chính trị và quân sự cho thực dân Pháp để chúng xâm lược nước ta một lần nữa. 

Với tham vọng tiếp tục duy trì ách thống trị ở Việt Nam và được đế quốc Mỹ “chống lưng”, thực dân Pháp đưa quân trở lại xâm lược đất nước ta một lần nữa với toan tính tiêu diệt chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn non trẻ. Đứng trước tình hình vô cùng nguy cấp đó, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, toàn quân và toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên" vào ngày 7-5-1954.

Trên thực tế, chiến thắng của Việt Nam ở Điện Biên Phủ còn làm thất bại chủ trương của Mỹ xâm lược theo phương thức sử dụng quân đội Pháp để tiến hành “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” trên đất nước ta. Theo các cứ liệu lịch sử được công bố ở Mỹ và phương Tây, phần lớn vũ khí và bom đạn được thực dân Pháp sử dụng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đều là của Mỹ, kể cả 3 tàu sân bay thuộc Hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương. Thậm chí, Mỹ còn có kế hoạch sử dụng bom nguyên tử một khi Pháp đứng trước nguy cơ thất bại ở Điện Biên Phủ. Bị thất bại nhục nhã ở Điện Biên Phủ, ngày 20-7-1954, thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, khôi phục hòa bình, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập không chỉ của Việt Nam mà cả của Lào và Campuchia. Theo Hiệp định Geneva, lãnh thổ Việt Nam bị tạm thời phân chia thành hai miền và được phân định bằng vĩ tuyến 17. Các bên tham gia ký kết tại hội nghị nhấn mạnh rằng trong bất cứ trường hợp nào, không thể coi vĩ tuyến 17 là biên giới chính trị hay biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia, rằng sự chia cắt đó chỉ là tạm thời và hai miền sẽ được thống nhất trước tháng 7-1956 thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ.

Giai đoạn 2 (1954-1960)
Mỹ coi Hiệp định Geneva là “mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản đối với thế giới tự do". Núp dưới chiêu bài “ngăn chặn hiểm họa cộng sản”, ngày 8-9-1954, Mỹ thành lập liên minh quân sự theo Hiệp ước SEATO (Southeast Asia Treaty Organization), bao gồm các nước Hoa Kỳ, Liên hiệp Anh, Australia, New Zealand, Pháp, Philippines, Thái Lan và Pakistan. Với Hiệp ước SEATO, Mỹ toan tính biến miền Nam Việt Nam thành pháo đài chống cộng ở Đông Nam Á. Để thực hiện toan tính chiến lược đó, năm 1954, Mỹ dựng lên chính quyền thực dân mới ở Sài Gòn do Ngô Đình Diệm đứng đầu để tiến hành “cuộc chiến tranh ủy nhiệm”, hoặc “chiến tranh qua tay người khác”-một thủ đoạn quen thuộc của chủ nghĩa thực dân mới. Ngụy quyền Sài Gòn trở thành lực lượng xung kích để Mỹ thực hiện sách lược “tố cộng, diệt cộng”, âm mưu tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta. Trong bối cảnh đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15, khoá II của Đảng thông qua nghị quyết xác định một trong những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ bằng phương thức kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Thực hiện nghị quyết này, LLVT giải phóng miền Nam được thành lập, làm cơ sở cho phong trào đấu tranh chính trị, làm thất bại "cuộc chiến tranh ủy nhiệm" của Mỹ thông qua ngụy quyền Ngô Đình Diệm

Giai đoạn 3 (1960-1965)
Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt" (1961-1965). Theo chiến lược này, Mỹ đưa cố vấn quân sự và một bộ phận lực lượng chính quy vào trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đồng thời huấn luyện chiến đấu và trang bị vũ khí hiện đại nhất cho ngụy quân Sài Gòn để tiến hành các chiến dịch càn quét và tìm diệt lực lượng cách mạng nhằm “bình định” miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng. Tính đến cuối năm 1962, quân Mỹ ở miền Nam đã lên tới 11.300 tên, được biên chế thành 13 đại đội máy bay trực thăng, 5 đại đội máy bay trinh sát, tấn công và vận tải, 4 phi đội máy bay phản lực chiến đấu với 257 máy bay các loại, 8 đại đội công binh, thông tin và 1 đơn vị tác chiến đặc biệt.

Được sự viện trợ của Mỹ, số quân ngụy tăng nhanh, từ 16 vạn quân chính quy năm 1960 lên hơn 36 vạn trong năm 1962. Ngoài ra, lực lượng bảo an của ngụy quyền Sài Gòn tăng từ 70.000 tên năm 1960 lên 174.500 tên năm 1962. Riêng lực lượng dân vệ của quân ngụy được biên chế thành 128 đại đội, hơn 1.000 trung đội, 2.000 tiểu đội là lực lượng chiếm đóng, kìm kẹp nhân dân ở các ấp, xã. Mỹ coi dồn dân để lập cái gọi là “ấp chiến lược” là nội dung cơ bản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", là biện pháp chủ yếu để tiến hành các cuộc hành quân càn quét, đánh phá, triệt hạ làng mạc, chiếm đóng và đưa nhân dân miền Nam Việt Nam vào ách kìm kẹp của chúng. Tính đến cuối năm 1962, Mỹ-ngụy đã dồn được 10 triệu dân ở nông thôn miền Nam vào 1.700 ấp chiến lược. Đặc biệt, trên phần lớn lãnh thổ miền Nam, quân đội Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh hóa học lâu dài nhất, ác liệt nhất để huỷ hoại môi trường sinh thái. Theo số liệu thống kê của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, ở nước ta có 4,8 triệu người bị nhiễm chất độc hóa học.  

Để làm thất bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, tháng 1-1961, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) ra Chỉ thị thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam-một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chiến đấu trên chiến trường miền Nam. Nhận được sự chi viện đắc lực, kịp thời của hậu phương miền Bắc, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam nhanh chóng trưởng thành, lớn mạnh, lập nên những chiến công xuất sắc, đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ.

Giai đoạn 4 (1965-1975)
Bị thất bại trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt", Mỹ quyết định phát động "chiến tranh cục bộ", mở rộng phạm vi chiến tranh trên cả hai chiến trường miền Nam và miền Bắc Việt Nam (1965-1973). Trên chiến trường miền Nam, Mỹ ồ ạt đổ quân vào với quân số hơn nửa triệu tên được trang bị vũ khí hiện đại nhất để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta, tạo điều kiện cho quân ngụy chiếm đóng, bình định và kìm kẹp hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam trong vòng 25-30 tháng (từ giữa năm 1965 đến 1967). Trên chiến trường miền Bắc, đế quốc Mỹ sử dụng lực lượng lớn không quân và hải quân lớn nhất của chúng kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai để tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại với toan tính sẽ "đưa Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá" hòng ngăn chặn sự chi viện của ta cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Với tinh thần cảnh giác cao độ và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu cao, quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bắn rơi 3.243 máy bay, bắt sống 363 phi công; bắn cháy, bắn chìm 143 tàu chiến; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho miền Nam và giúp đỡ cách mạng Lào, Campuchia. Đầu năm 1968, nhận thấy so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta, Bộ Chính trị Đảng ta thông qua quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân, giáng đòn quyết định để đánh sập ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Bị thất bại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ", Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson buộc phải đưa ra tuyên bố chấm dứt việc đưa quân Mỹ vào miền Nam, chuyển giao vai trò chiến đấu chủ lực và trực tiếp cho quân đội ngụy Sài Gòn, đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Paris. Tuy nhiên, lên cầm quyền vào năm 1969, Tổng thống Mỹ Nixon chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

Cuộc đàm phán ở Paris giữa 4 bên là Mỹ, Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa là cuộc đấu trí quyết liệt trên bàn đàm phán kéo dài từ năm 1968 đến 1973. Sau 5 năm đàm phán cam go, cuối cùng Mỹ chấp nhận những nội dung cơ bản của Hiệp định Paris. Tuy nhiên, do bản chất xâm lược, Mỹ muốn lật ngược tình thế bằng cách tiến hành chiến dịch tập kích mạnh mẽ nhất bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 vào Thủ đô Hà Nội, TP Hải Phòng cũng như nhiều thành phố khác trên miền Bắc Việt Nam vào cuối năm 1972. Trong đó, Mỹ sử dụng 663 lần chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném hơn 100 nghìn tấn bom, đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc.

Bị thất bại nặng nề và không đạt được mục đích của chiến dịch tập kích chiến lược này, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris. Theo hiệp định này, Mỹ chấp nhận nhiều cam kết và những cam kết này là điều kiện thuận lợi để chúng ta đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và thực hiện thành công chủ trương chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Như vậy, toàn bộ lịch sử cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chứng tỏ Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam kéo dài 30 năm và hoàn toàn bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc lịch sử cho rằng “Mỹ không hề xâm lược Việt Nam”, rằng “miền Bắc xâm lược miền Nam”. Việc Mỹ thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam là do chúng ta sẵn sàng gác lại quá khứ để hai nước hợp tác cùng có lợi, vì hòa bình trong khu vực và trên thế giới trong bối cảnh cục diện chính trị thế giới đã thay đổi căn bản. Điều này hoàn toàn bác bỏ luận điệu cho rằng Mỹ tiến hành chiến tranh chỉ là nhằm “giúp Việt Nam tiếp cận nền văn minh của phương Tây”./.
Ảnh: Nhân dân Sài Gòn đón chào quân giải phóng chiếm phủ tổng thống ngụy, trưa 30-4-1975.
Theo QĐND 
Yêu nước ST.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI CỦA VIỆT NAM!

BÀI 1: TỪ BÀI HỌC SỤP ĐỔ LIÊN XÔ ĐẾN CHIẾN LƯỢC CHỐNG PHÁ VIỆT NAM!
     Năm 2025, Việt Nam long trọng kỷ niệm 50 năm chiến thắng vĩ đại trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975-mốc son chói lọi đánh dấu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta kết thúc thắng lợi và thực hiện trọn vẹn tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong khi đó, các thế lực phản động và cơ hội chính trị tăng cường các hoạt động tuyên truyền, chống phá. Chúng tung ra luận điệu xuyên tạc bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, thậm chí chúng cho rằng: “Mỹ không hề xâm lược Việt Nam”!?... Những luận điệu, thủ đoạn nguy hiểm này phải được vạch trần, phản bác.

Một trong những mưu toan của các thế lực phản động và cơ hội chính trị theo đuổi trong suốt các thập niên qua là xuyên tạc và bác bỏ thành quả cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, chúng áp dụng một trong những thủ đoạn chiến tranh thông tin hết sức nguy hiểm và thâm độc từng được Mỹ và các nước phương Tây áp dụng thành công để thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” trong kỷ nguyên Chiến tranh lạnh. Đó là xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

"Vũ khí" phá hoại khủng khiếp
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các tập đoàn tài phiệt Mỹ quyết định đầu tư toàn diện cho Đức Quốc xã để sử dụng lực lượng này tiến hành “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” dưới hình thức Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm tiêu diệt Liên Xô. Sau khi nhận thấy Liên Xô hoàn toàn có khả năng đánh bại phát xít Đức, Mỹ buộc phải nhảy vào tham chiến với vai trò là “đồng minh” với Liên Xô để ngăn chặn Moscow giải phóng toàn bộ châu Âu. Chính vì thế, ngay sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ và các đồng minh phương Tây ngay lập tức phát động Chiến tranh lạnh nhằm làm tan rã Liên Xô. Do đó, Chiến tranh lạnh còn được phương Tây gọi là chiến lược “không đánh mà thắng”. Để thực hiện mục tiêu này, Mỹ đứng đầu phương Tây tiến hành cuộc chiến tranh thông tin với nội dung cốt lõi là xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, coi Liên Xô là quốc gia “xâm lược châu Âu” chứ không phải giải phóng châu Âu thoát khỏi hiểm họa của chủ nghĩa phát xít Đức.

Chiến dịch xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai được Mỹ và phương Tây tiến hành gia tăng quyết liệt trong những năm “cải tổ” ở Liên Xô (1985-1991). Núp dưới chiêu bài “công khai hóa” để thực hiện “tư duy chính trị mới” của tập đoàn lãnh đạo theo đuổi tư tưởng phản bội chủ nghĩa xã hội do M.Gorbachev và A.Yakovlev đứng đầu, bộ máy truyền thông do các thế lực phản động, cơ hội chính trị kiểm soát nhận được sự chỉ đạo và tài trợ của Mỹ cùng các nước phương Tây thực hiện chiến dịch tuyên truyền rầm rộ, công khai với cường độ cao chưa từng có để xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trực tiếp chỉ đạo chiến dịch xuyên tạc này không ai khác mà chính là A.Yakovlev-điệp viên ảnh hưởng của Mỹ được M.Gorbachev giao trọng trách Trưởng ban tuyên truyền của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Mặc dù lịch sử đã ghi nhận bằng các văn kiện có giá trị pháp lý quốc tế rằng Liên Xô đã hy sinh 27 triệu người trong cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng để giải phóng loài người khỏi ách thống trị của phát xít Đức và quân phiệt Nhật, các thế lực phản động và cơ hội chính trị tiến hành chiến dịch xuyên tạc rằng “Liên Xô xâm lược Châu Âu” trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Thậm chí chúng còn thêu dệt nên những câu chuyện hoang đường rằng các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô đã có những hành động cướp phá và hãm hiếp phụ nữ ở những khu vực vừa được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của phát xít Đức!? Đáng chú ý là chiến dịch xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai được kết hợp với những luận điệu xuyên tạc các giá trị của chủ nghĩa xã hội nhằm làm tan rã Liên bang Xô viết theo chiến lược “không đánh mà thắng”. 

Về sau, các chuyên gia nghiên cứu lịch sử, phân tích chính trị và quân sự của Nga rút ra kết luận: Chiến dịch xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai đóng vai trò như một trong những nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn tới sụp đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Họ cho rằng, cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ và các nước phương Tây đã làm được điều mà hàng trăm sư đoàn tinh nhuệ của phát xít Đức không thể làm được trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lịch sử Liên Xô bị chính những kẻ mang danh “các chuyên gia nghiên cứu” và “các nhà lịch sử” xuyên tạc có tác dụng tàn phá còn mạnh hơn vũ khí nguyên tử! Bị tác động của các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các lực lượng phản động và cơ hội chính trị, nhiều người dân Xô viết, thậm chí cả một số cán bộ, đảng viên bắt đầu hoang mang, hoài nghi vai trò lãnh đạo và chính sách đối ngoại hòa bình của Đảng Cộng sản Liên Xô, hoài nghi các giá trị của chủ nghĩa xã hội. Chính vì thế, ý chí của họ hoàn toàn bị tê liệt, không còn ý thức phản kháng khi M.Gorbachev đưa ra tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên bang Xô viết mặc dù tuyên bố đó vi phạm trắng trợn Hiến pháp Liên Xô.

Ngày nay, mặc dù Liên Xô không còn nữa, các thế lực phản động và cơ hội chính trị vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, coi Liên Xô là “quốc gia xâm lược Châu Âu” để suy diễn ra Liên bang Nga - quốc gia được kế thừa vị thế của Liên Xô, cũng là “quốc gia xâm lược”!? Tiếp sức cho luận điệu này, Nghị viện châu Âu thông qua nghị quyết khẳng định Adolf Hitler - trùm phát xít và J.Stalin - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đều có tội như nhau là gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai. Với luận điệu xuyên tạc này, tượng đài kỷ niệm các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô hy sinh trong Chiến tranh thế giới thứ hai ở nhiều nước châu Âu đã bị đập phá. 

Cùng với chiến dịch xuyên tạc Liên Xô và Nga, các phần tử từng chiến đấu trong hàng ngũ phát xít Đức di tản ra khỏi châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai và thế hệ con cháu của họ đã quay trở lại nắm quyền trong bộ máy lãnh đạo của nhiều nước châu Âu, đánh dấu sự phục hồi tư tưởng của chủ nghĩa phát xít. Đứng trước hiểm họa này, Liên bang Nga đề xuất Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết chống phục hồi chủ nghĩa phát xít. Nghị quyết này được tuyệt đại đa số quốc gia thành viên Liên hợp quốc ủng hộ, trong đó có Việt Nam. Để bảo vệ ký ức lịch sử, Tổng thống Nga ban hành sắc lệnh thành lập Ủy ban đặc biệt có nhiệm vụ chống lại các âm mưu xuyên tạc lịch sử Liên Xô và chính sách đối ngoại hòa bình của Liên bang Nga.

Luận điệu xuyên tạc trắng trợn
Ở nước ta, kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng gần 40 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, được đông đảo các quốc gia, bè bạn quốc tế ghi nhận. Trong khi đó, các thế lực phản động và cơ hội chính trị vẫn tiếp tục sử dụng thủ đoạn thâm độc xuyên tạc, phủ nhận sự thật đó. Mốc lịch sử Đại thắng mùa Xuân vào ngày 30-4-1975 càng lùi xa, thủ đoạn của các thế lực phản động và cơ hội chính trị xuyên tạc lịch sử càng nguy hiểm trong bối cảnh Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ-quốc gia từng tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam còn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với các đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến này như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia.  

Các thế lực phản động và cơ hội chính trị tung ra những luận điệu xuyên tạc trắng trợn rằng “Mỹ không hề xâm lược Việt Nam”, rằng “Mỹ chỉ tiến hành chiến tranh để giúp Việt Nam tiếp cận nền văn minh”!? Thậm chí, chúng còn cho rằng ở Việt Nam chỉ có “miền Bắc xâm lược miền Nam”. Vì thế, chúng coi ngày 30-4-1975 là “Ngày quốc hận”! Bị tác động bởi các luận điệu xuyên tạc đó, một số người cho rằng trong dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước “không nên nói về người thắng, kẻ thua”. Lợi dụng việc Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ, các thế lực phản động và cơ hội chính trị lu loa rằng việc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ là “không cần thiết” hoặc “hoàn toàn vô nghĩa”. Dư luận cần cảnh giác cao độ và kiên quyết phản bác các luận điệu xuyên tạc nguy hiểm đó./.
Ảnh: Niềm vui giải phóng của người dân Sài Gòn ngày 30-4-1975.
(còn nữa)
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯ CẢM ƠN CỦA QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG, BỘ QUỐC PHÒNG!

     Nhân dịp tổ chức thành công diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025), ngày 30-4, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có thư cảm ơn. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn thư cảm ơn:

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp, thường xuyên là Ban chỉ đạo Trung ương kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước trong 3 năm 2023-2025; Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương tổ chức thành công diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, góp phần khơi dậy tinh thần yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, niềm tự hào và ý chí, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thành công của lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành đã tiếp thêm sức mạnh, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Thư cảm ơn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
 
Thư cảm ơn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
 
Thư cảm ơn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
Các khối tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trân trọng cảm ơn sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng, Nhà nước; những tình cảm tốt đẹp và sự giúp đỡ quý báu, sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, hiệu quả của các ban, bộ, ngành Trung ương, cấp ủy đảng, chính quyền, nhân dân TP Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương và các địa phương, các hãng hàng không, Công ty Cổ phần Vận tải đường sắt Việt Nam đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất để Tiểu ban Diễu binh, diễu hành và các lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam luyện tập, cơ động, tham gia diễu binh, diễu hành trong lễ kỷ niệm và cơ động trở về các cơ quan, đơn vị bảo đảm chu đáo, an toàn tuyệt đối. Qua đó, tăng cường quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân-dân, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn để Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng kính mong tiếp tục nhận được nhiều hơn nữa sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của các ban, bộ, ngành Trung ương, cấp ủy đảng, chính quyền, nhân dân các địa phương, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp để Quân đội nhân dân Việt Nam hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trân trọng cảm ơn!




Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÃNH ĐẠO CHÍNH ĐẢNG, CÁC NƯỚC CHÚC MỪNG 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

     Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thống nhất đất nước, lãnh đạo các chính đảng và các nước gửi thư, điện chúc mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng cùng các cấp lãnh đạo của Việt Nam.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Lào, Chính phủ, Quốc hội và Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước đã đồng gửi điện mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chính phủ, Quốc hội và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Nội dung điện mừng khẳng định Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh đã thắng lợi hoàn toàn vào ngày 30/4/1975, là sự kiện quan trọng được lưu danh vào lịch sử thế giới, là dấu ấn lịch sử chói lọi của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thắng lợi này không chỉ là thắng lợi của quân đội và nhân dân Việt Nam mà còn là thắng lợi chung của tình đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt Lào-Việt Nam, cũng như của nhân dân ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia.

Lào bày tỏ ấn tượng và khâm phục trước những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà Việt Nam đã giành được trong thời gian qua, góp phần đưa vị thế của Việt Nam không ngừng được nâng cao ở khu vực và quốc tế.

Lào tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới to lớn hơn nữa...

Nhân dịp này, Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone đã gửi thư chúc mừng tới Thủ tướng Phạm Minh Chính; Bộ trưởng Ngoại giao Lào Thongsavanh Phomvihane và Quyền Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Bunlua Phandanouvong đã gửi thư chúc mừng tới Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn.

Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen đã gửi thư chúc mừng tới Tổng Bí thư Tô Lâm; Thủ tướng Campuchia Hun Manet gửi thư chúc mừng tới Thủ tướng Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Campuchia Khuon Sudary gửi thư chúc mừng tới Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia Prak Sokhonn gửi thư chúc mừng tới Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn.

Các lãnh đạo cấp cao Campuchia viết: Chiến thắng ngày 30/4/1975 là trang sử đầy tự hào, là minh chứng cho tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí kiên cường, dũng cảm và hy sinh của Đảng, quân đội và nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp chính nghĩa giải phóng và thống nhất đất nước.

Lãnh đạo Campuchia đánh giá cao và bày tỏ sự khâm phục trước những thành tựu xây dựng và phát triển đất nước mà Việt Nam đã đạt được 50 năm qua và tin tưởng chắc chắn rằng Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu mới và tiến bước vững chắc tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2030.

Quan hệ Campuchia - Việt Nam được gắn kết bởi tình hữu nghị truyền thống bền chặt và hợp tác chặt chẽ trên mọi lĩnh vực, sự hỗ trợ và ủng hộ lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước.

Campuchia tiếp tục thúc đẩy, gìn giữ và phát triển quan hệ hợp tác tốt đẹp này lên một tầm cao mới theo tinh thần láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia.

Đảng Cộng sản Ấn Độ gửi thư chúc mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ S. Jaishankar gửi thư chúc mừng tới Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thành Sơn.

Thủ tướng Thái Lan Paetongtarn Shinawatra gửi điện mừng tới Thủ tướng Phạm Minh Chính. Trong điện, Thủ tướng Thái Lan bày tỏ coi trọng quan hệ hữu nghị và láng giềng gần gũi giữa hai nước, khẳng định quyết tâm chung tay hợp tác với Việt Nam nhằm nâng cấp quan hệ hai nước lên tầm cao mới.

Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Maris Sangiampongsa gửi điện mừng tới Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn.

Cũng trong dịp này, Đảng Mặt trận Giải phóng Nhân dân Sri Lanka gửi thư chúc mừng tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Bangladesh Shah Alam gửi thư chúc mừng tới Tổng Bí thư Tô Lâm; Chủ tịch Thượng viện Quốc hội Belarus Natalia Kochanova và Chủ tịch Hạ viện Igor Sergeenko gửi thư chúc mừng tới Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia Mohamad Bin Haji Hasan gửi thư chúc mừng tới Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THIẾU TƯỚNG TRẦN NGỌC THỔ “KHÔNG CÓ NHÂN DÂN, KHÔNG CÓ CHÚNG TÔI HÔM NAY!”

         Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ, 79 tuổi, nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7 đã có bài phát biểu xúc động tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025) cấp quốc gia diễn ra sáng 30-4!

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các vị đại biểu, khách quý!

Kính thưa đồng chí, đồng bào!

Tôi là Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ, 79 tuổi, nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7. Tôi rất vinh dự, tự hào được đại diện cho các lực lượng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh phát biểu tại buổi lễ trọng thể này.

Kính thưa đồng chí, đồng bào!

Cũng như nhiều thanh niên yêu nước khác, căm thù quân xâm lược, năm 1966, khi mới 17 tuổi, theo tiếng gọi của Tổ quốc, tạm biệt quê hương, tôi lên đường nhập ngũ. Nhớ những ngày kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng khó khăn, thiếu thốn; bộ đội ta thiếu ăn, ốm đau, bệnh tật, đặc biệt là sốt rét, suy dinh dưỡng, chiến đấu ác liệt, song cán bộ, chiến sĩ ta cùng quân dân các địa phương đã kiên cường vượt qua tất cả để chiến thắng kẻ thù, đập tan âm mưu xâm lược và đô hộ lâu dài nước ta của chủ nghĩa thực dân mới; đập tan bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.  

Chiến thắng 30-4-1975 đến nay vừa tròn 50 năm, nhưng những ký ức của một thời đánh Mỹ vẫn luôn rạo rực, mãi không bao giờ phai nhạt trong trái tim người dân nước Việt Nam mỗi khi nhắc đến chiến thắng vĩ đại này. Được dự buổi lễ kỷ niệm long trọng này, tôi vô cùng xúc động, tưởng nhớ những người đồng chí, đồng đội sống chết cùng nhau trên các chiến trường đánh giặc, trong đó nhiều người đã anh dũng hy sinh vì sự toàn thắng của dân tộc; bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đã hiến dâng những người chồng, người con ưu tú nhất cuộc đời mình cho Tổ quốc.

Chúng tôi ghi sâu công ơn của nhân dân trên mọi miền đất nước đã hy sinh, quên mình chở che, đùm bọc, nuôi dưỡng bộ đội trong suốt chiều dài tháng, năm. Với riêng tôi không thể nào quên được sự cưu mang, sẻ chia của bà con miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ - nơi tôi trực tiếp chiến đấu vô cùng gian khổ và ác liệt. Không có nhân dân, không có chúng tôi hôm nay!

Với tôi, trưởng thành từ một người lính, đi qua hai cuộc chiến tranh, chống Mỹ, cứu nước và bảo vệ Tổ quốc, tôi đã trực tiếp tham gia chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 vô cùng ác liệt và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử; được chứng kiến biết bao cảnh tang tóc, đau thương mà đội quân viễn chinh Mỹ cùng lính đánh thuê và bọn tay sai bán nước đàn áp, giết hại dân lành. Thật xúc động, cảm phục trước những người lính đã ngã xuống khi tuổi đời mới mười tám, đôi mươi, để lại phía sau những người mẹ già, vợ trẻ, con thơ.     

Kính thưa đồng chí, đồng bào!

Là những người trở về từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, được sống trong đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng tôi vô cùng phấn khởi, tự hào trước những thành tựu to lớn của nước ta sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Những cựu chiến binh chúng tôi luôn tự răn mình, phải sống sao cho xứng đáng với truyền thống Quyết chiến, Quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; kiên định, vững vàng, trong sáng về phẩm chất, gương mẫu về hành động, nói và làm theo chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân… xứng đáng với những đồng chí, đồng đội mà mình đã từng kề vai sát cánh chiến đấu và các anh đã anh dũng hy sinh.

Thế hệ chúng tôi tự hào và khẳng định rằng, đã hoàn thành sứ mệnh chiến đấu, chiến thắng, thu giang sơn về một mối và tạo ra những tiền đề cho đất nước phát triển. Chúng tôi tin tưởng rằng, thế hệ trẻ hôm nay và mai sau sẽ kế thừa và phát huy truyền thống của cha anh, dân tộc, truyền thống Quyết chiến, Quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam, đem hết sức mình xây dựng đất nước ta ngày càng giàu đẹp, phồn vinh và hạnh phúc, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới, sánh vai với các cường quốc năm châu, như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Một lần nữa, xin kính chúc các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các quý vị đại biểu, bạn bè quốc tế, các đồng chí, đồng bào mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trên mọi lĩnh vực./.
Theo QĐND
Môi trường ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: HỒ DUY HÙNG - PHI CÔNG VIỆT TỪNG KHIẾN THẾ GIỚI CHẤN ĐỘNG KHI MỘT MÌNH CƯỚP MÁY BAY ĐỊCH!

         Một mình giữa đất địch, ông Hùng len lỏi vào khu vực trực thăng, trèo lên buồng lái, cướp chiếc trực thăng UH-1, bay về vùng giải phóng.
Giữa cái nắng như đổ lửa của tháng 4, khi cả miền Nam đang náo nức chuẩn bị cho lễ Kỷ niệm 50 năm Ngày thống nhất đất nước, ông Hồ Duy Hùng lặng lẽ ngồi lật từng trang sách Điệp viên gãy cánh, cuốn sách gói trọn cả một đời làm tình báo thầm lặng và kiêu hãnh.

Người từng khiến thế giới chấn động khi đánh cắp trực thăng UH-1 của Mỹ năm 1973, vượt khỏi vòng kiểm soát của địch để bay về vùng giải phóng, giờ đây sống bình dị trong ký ức cũ. Ông từng được cài cắm sâu vào nội bộ chính quyền Sài Gòn, sống giữa lằn ranh sinh tử để chuyển tin về cho cách mạng.

Những trang sách chứa cả tuổi trẻ hào hùng, nhưng với ông Hùng chẳng đáng nhắc đến so với bao máu thịt của đồng đội, đồng bào hi sinh để có được hòa bình.

"Sức tôi chẳng đáng kể gì", ông khiêm tốn.

Năm nay, trong lòng người điệp viên già vẫn bồi hồi chờ đợi ngày diễu binh. Ông mong có thể gặp lại những đồng đội năm xưa - những người từng cùng ông chiến đấu, sống chết vì lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc.

Ông Hồ Duy Hùng, bí danh Chín Chinh, (SN 1947 tại Cẩm Sơn, Duy Trung, Duy Xuyên, Quảng Nam), sinh ra trong một gia đình cách mạng. Cha ông - cụ Hồ Duy Từ - là một trong những Đảng viên đầu tiên của huyện Duy Xuyên, các anh chị em đều tham gia hoạt động bí mật, có người làm điệp báo trong vùng địch.

14 tuổi, ông học Trường Trần Cao Vân (Tam Kỳ) tham gia phong trào học sinh chống chính quyền. Năm 1967, bị lộ ông rời quê vào Quy Nhơn sống với chú, vừa học vừa tiếp tục hoạt động bí mật trong phong trào sinh viên Sài Gòn - Gia Định.

Năm 1968, theo chỉ đạo của tổ chức, ông gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng hòa, vào học trường sĩ quan Thủ Đức. Cuối năm đó, ông Hồ Duy Hùng được chọn học Anh ngữ phi hành, tháng 12/1969, sau khi tốt nghiệp Trường Sinh ngữ Quân đội, ông được cử sang Mỹ học lái trực thăng.

Tại Mỹ, ông tốt nghiệp loại giỏi với dòng UH-1 và được đào tạo thêm về điều khiển trực thăng vũ trang (gunship).

"Để có được tấm bằng lái ấy, tôi đã phải nỗ lực vượt qua chính mình, cả nỗi đau bị người thân ghẻ lạnh, mỉa mai...", ông Hùng nói.

Năm 1970, ông về nước, được phân về Phi đoàn 215, Sư đoàn 2 Không quân Việt Nam Cộng hòa đóng tại Nha Trang, đồng thời tổ chức giao cho làm thành viên tổ điệp báo E4.

Nhờ vị trí này, ông cung cấp nhiều tài liệu tuyệt mật: Bản đồ, ảnh trinh sát, tần số liên lạc của quân Mỹ... giúp ích rất lớn cho lực lượng cách mạng ta.

Tuy nhiên, sau 5 tháng trở về nước, tháng 3/1971, ông bị An ninh quân đội Sài Gòn bắt giữ vì bị phát hiện có xuất thân từ gia đình cách mạng, nhiều người tham gia hoạt động cho Mặt trận Giải phóng. Ông bị giam, thẩm vấn suốt 5 tháng. Không có đủ bằng chứng buộc tội hoạt động chống chính quyền, ông bị sa thải khỏi quân đội với lý do "khai man lý lịch, có dấu hiệu thân Cộng".

Trở về lực lượng ta, năm 1972, ông Hùng được giao nhiệm vụ đánh cắp hoặc cướp máy bay của địch trong chiến dịch "Mùa hè đỏ lửa". Nhưng khi đó tình hình chiến sự ác liệt, quân địch đóng dày đặc, kiểm soát nghiêm ngặt các sân bay, không thể thực hiện.

Một năm sau, tháng 11/1973, ông Hùng trở lại Đà Lạt, nhận nhiệm vụ do quân báo Quân khu Sài Gòn - Gia Định giao, lấy một chiếc trực thăng UH-1, bay về vùng giải phóng để phục vụ cho kế hoạch đánh vào Dinh Độc Lập.

"Thực tế nhiệm vụ này do tôi tự đề xuất", ông nói.

Ông hiểu rõ đây là nhiệm vụ mà cái chết có thể ập đến trong chớp mắt - thất bại đồng nghĩa với hi sinh. Với ông, làm tình báo là đi trên lưỡi dao, chỉ một bước hụt là mất mạng. Nhưng nếu tính toán đủ kỹ, xác suất sống sót vẫn là 50-50, ông chọn bước tiếp.

"Tôi chuẩn bị tinh thần. Nếu thất bại, tôi chết. Nhưng giữa chiến trường, ai mà chẳng đối mặt với cái chết? Đã nhận nhiệm vụ thì không quay đầu", ông nói, giọng chắc nịch.

Kế hoạch tiếp cận máy bay được ông chuẩn bị kỹ lưỡng, từng chi tiết như một ván cờ sinh tử. Ông chọn bãi đất trống gần nhà hàng Thủy Tạ, bên hồ Xuân Hương - nơi từng là điểm đáp quen thuộc khi ông còn là phi công của Phi đoàn 215. Nhờ kinh nghiệm dày dạn, ông nắm rõ mọi ngóc ngách khu vực này.

Tại đây, gần như không có lực lượng quân sự canh gác. Chốt duy nhất là người dân vệ đứng ở sân tennis - một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng, chính là cơ hội vàng để ông hành động.

Vị trí đỗ máy bay nằm ngay trong tầm quan sát tuyến đường lên chợ Đà Lạt. Ông tính toán: "Nếu phi công Mỹ xuất hiện bất ngờ, tôi có thể phát hiện từ xa và xử lý ngay, hoặc rút lui an toàn, hoặc ra tay chớp nhoáng, khiến đối phương không kịp phản ứng".

Ngày 4/11, ông tiếp cận một chiếc trực thăng đang đậu tại bãi, sau khi kiểm tra, phát hiện nhiên liệu không đủ bay về căn cứ nên lặng lẽ rút lui.

Sáng 7/11, dù thời tiết xấu, ông vẫn kiên trì theo dõi. Đúng 9h, một chiếc UH-1 mang số hiệu 60139 bất ngờ hạ cánh.

Ông lập tức tiếp cận, nhanh chóng leo vào buồng lái, kiểm tra cần điều khiển và hệ thống khóa, sau đó kiểm tra nhiên liệu và điện áp. Thấy đồng hồ báo đủ 24V - mức có thể khởi động - ông Hùng bật công tắc, kiểm tra lần cuối. Điện ổn định, ông yên tâm rời buồng lái, tháo dây cố định cánh quạt đuôi rồi quay lại vị trí điều khiển.

Thay vì mất 3-4 phút như quy trình thông thường (tháo dây chằng đuôi, cuộn dây, đưa vào khoang, thắt dây an toàn, khởi động, theo dõi vòng tua, nhiệt độ động cơ…), ông chỉ mất 40 giây để đưa chiếc trực thăng cất cánh.

Chiếc UH-1 nghiêng mình lướt qua mặt hồ Xuân Hương, lao thẳng vào màn mưa trắng xóa, biến mất giữa bầu trời xám xịt, hướng về căn cứ cách mạng.

Khoảnh khắc đặt chân vào buồng lái, với ông Hùng, chẳng khác nào cưỡi ngựa xông pha trận mạc - không chỗ cho sợ hãi hay do dự. Trong đầu ông lúc ấy chỉ còn một mục tiêu: Khởi động máy bay, đạt đủ vòng tua, cất cánh an toàn.

Nhưng bầu trời Đà Lạt cuối năm không dễ dàng buông tha. Vừa rời mặt đất, mây mù bao phủ dày đặc, vừa cất cánh, mưa trút xuống. Trong lúc khẩn trương, ông sơ ý quên bật thiết bị chuyển điện - bộ phận điều khiển đồng hồ chân trời, thứ duy nhất giúp định hướng trong mù sương.

"Bay vào mây không có chỉ báo phương ngang, tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào", ông Hùng kể lại giây phút sinh tử năm ấy.

Mây đặc bao vây chiếc UH-1. Không ánh sáng, không phương hướng, ông gần như bị nuốt chửng giữa bầu trời trắng xóa. May thay, chiếc đồng hồ đo độ cao - loại cơ học sử dụng áp suất không khí - vẫn hoạt động. Ông lập tức kéo cần lái, đưa trực thăng vọt lên độ cao trên 2.000m, tránh nguy cơ đâm vào núi trong địa hình hiểm trở của Đà Lạt.

Dù hành động này đi ngược lại quy định tác chiến, phải bay sát ngọn cây để tránh radar địch, ông chấp nhận rủi ro bị phát hiện để đổi lấy sự an toàn cho chiếc trực thăng.

Trong tình huống không còn đồng hồ chân trời, ông Hùng buộc phải dùng đồng hồ tốc độ làm cơ sở giữ thăng bằng. "Tốc độ quá thấp, máy bay sẽ mất lực nâng và rơi. Ngược lại, nếu vượt ngưỡng, mũi máy bay sẽ chúi xuống rất nguy hiểm", nam phi công giải thích.

Tay điều khiển không ngừng hoạt động, ông giữ tốc độ ổn định ở mức 120-130km/h, từng giây giành giật với tử thần giữa không trung.

Khi thấy đường băng Liên Khương hiện ra dưới lớp mây, ông hét lên: "Sống rồi!". Giữa hành trình bay vật lộn trong mây mù, khi lấy lại bình tĩnh, ông Hùng sực nhớ, mình quên bật công tắc inverter để xác định vị trí.

"Tôi vội bật lên. Ngay lập tức, đồng hồ chân trời sáng đèn trở lại, đồng hồ nhiên liệu cũng hiện thông số. Lúc đó mới biết mình đã bay suốt 20 phút trong vùng trời trắng xóa", ông kể. Với ông, đó là 20 phút dài nhất cuộc đời.

Xác định lại được vị trí, ông lập tức hạ thấp độ cao, trở lại lộ trình ban đầu. Nhưng chưa kịp thở phào, một nỗi lo khác ập đến. "Tôi sợ bộ binh dưới đất bắn nhầm, tưởng là trực thăng địch", người phi công cho hay.

Khi còn cách mục tiêu một đoạn, đèn báo nhiên liệu bật đỏ - chỉ còn 15 phút bay, trong khi căn cứ vẫn cách 50-60km, thấy phía dưới là trại bộ đội ta, ông Hùng quyết định hạ cánh gần đó. Sau khi giấu kín và ngụy trang chiếc UH-1 cẩn thận, ông một mình đi bộ hơn 2km tìm đến đơn vị.

Mặc thường phục, ông không để lộ thân phận là phi công. "Tôi thấy một đồng chí đang gác, báo cáo xin được gặp thủ trưởng. Một lúc sau, đồng chí chính trị viên đi ra, cùng tôi quay lại hiện trường kiểm tra máy bay", ông kể.

Ban đầu, các chiến sĩ tỏ ra dè chừng, máy bay quá xa không thể trông giúp, yêu cầu bay về gần doanh trại. 

Theo kế hoạch ban đầu, chiếc trực thăng UH-1 do ông Hùng cướp về sẽ mang theo nửa tấn thuốc nổ, "nhập thần" bay dọc sông Sài Gòn vào sáng ngày 1/1/1974 để đánh thẳng vào Dinh Độc Lập. Tuy nhiên, kế hoạch không được phê duyệt thay vào đó, chiếc máy bay được điều động lên biên giới Lộc Ninh.

Phi vụ cướp máy bay của ông Hùng gây chấn động dư luận thời bấy giờ. Ngay sau sự kiện, báo chí Sài Gòn đồng loạt đưa tin, từ các tờ nhật báo lớn cho tới các tuần san nhỏ đều khai thác rầm rộ, mô tả vụ việc như một trong những sự kiện hy hữu và táo bạo nhất lịch sử hàng không Việt Nam.

Theo một tờ báo của Sài Gòn, toàn bộ phi hành đoàn liên quan đến chiếc trực thăng bị lập tức tạm giữ để phục vụ điều tra. Trong khi đó, một cuộc truy lùng quy mô lớn được triển khai khắp nơi, ráo riết lần theo từng dấu vết để tìm ra tung tích của kẻ đã liều lĩnh đánh cắp máy bay.

Không chỉ khuấy đảo báo giới trong nước, phi vụ của ông Hùng còn khiến truyền thông quốc tế… chấn động. Nhiều tờ báo nước ngoài tỏ ra kinh ngạc trước sự liều lĩnh và táo tợn của người phi công, coi đây là một sự kiện "không tưởng" giữa thời điểm lịch sử đầy biến động.

Trong khi cả thế giới đang chấn động bởi phi vụ của mình, ông Hùng nhận nhiệm vụ khảo sát địa bàn, phối hợp với đơn vị tác chiến của Đoàn 75 pháo binh đưa máy bay vào điểm tập kết an toàn.

Trong quá trình chuẩn bị, một chiến sĩ pháo phòng không từ miền Bắc được giao nhiệm vụ dẫn đường. Đúng lúc chuẩn bị cất cánh, trinh sát địch bay qua, sợ bị lộ ông Hùng buộc phải trì hoãn, đợi trời tối và kẻ thù rút đi.

Mặt trời khuất dần, trong ánh sáng mờ nhạt, ông Hùng không thể xác định chính xác vị trí hẹn trước. Theo kế hoạch, mặt đất sẽ đốt khói làm tín hiệu. Nhưng đúng lúc đó, một đám khói khác - từ nhóm người đang nấu ăn gần đó - khiến ông nhầm lẫn.

"Khi tôi hạ cánh, thì ra bên dưới là nhóm bộ đội đang nấu cơm chiều, không phải đơn vị đón tôi. Thấy máy bay lạ, họ lập tức nã đạn từ ba phía", ông nhớ lại.

Giữa làn đạn dồn dập, ông Hùng buộc phải kéo cần điều khiển, đưa máy bay lẩn sâu vào rừng. Trong bóng tối, ông nhìn thấy một khu đất trũng không có cây, lập tức cho máy bay đáp xuống. Máy bay đã trúng đạn, nhưng may mắn không phải phần trọng yếu.

Tối hôm đó, ông Hùng cùng đồng đội bàn bạc sáng hôm sau sẽ quay lại vị trí bị bắn nhầm, chọn đúng thời điểm bộ đội đang tập thể dục hoặc tưới rau - ít cảnh giác nhất - để hạ cánh.

Sáng hôm sau, đúng như dự tính, ông cất cánh, vòng trở lại khu vực cũ, hạ máy bay xuống bãi cỏ tranh cách khu trồng rau 200m. Người dẫn đường mặc quân phục, đội nón cối, nhảy xuống trước rồi nhanh chóng di chuyển theo đúng kế hoạch. Ông Hùng cũng lập tức tắt máy, nhảy ra sau.

Chưa kịp làm gì, cả hai người đã bị bao vây. Các chiến sĩ tại đó chĩa súng thẳng vào. Căng thẳng lên tới đỉnh điểm, dù chưa ai nổ súng, họ lập tức liên lạc với Bộ Tư lệnh để xin chỉ thị.

Trong giây phút sinh tử, ông Hùng nhanh trí rút ra một tờ giấy - vật bất ly thân mà Phó Tham mưu Miền đích thân trao tận tay từ trước, dặn phải luôn mang theo bên người phòng bất trắc. Tờ giấy vỏn vẹn vài dòng: "Đồng chí Chín Chinh đang thực hiện nhiệm vụ do Bộ Tham mưu giao. Đề nghị các đơn vị tạo điều kiện, hỗ trợ".

May mắn, người chỉ huy trung đội nhìn thấy giấy liền nhận ra chữ ký của cấp trên. Tình thế nguy cấp được hóa giải trong chớp mắt.

"Một tờ giấy nhỏ mà cứu được cả hai mạng người và một chiếc máy bay vô cùng quý giá", ông Hùng xúc động nhớ lại.

Chiếc trực thăng UH-1 nằm tại Lộc Ninh khoảng một tháng thì một đoàn cán bộ Không quân - gồm phi công và kỹ thuật viên từ Hà Nội - được cử vào khảo sát, tập huấn.

"Lúc bàn bạc, chúng tôi nhận ra nếu cứ để trực thăng hoạt động tại vùng này sớm muộn cũng bị địch phát hiện, ném bom phá hủy. Sau khi báo cáo, cấp trên chỉ đạo phải tìm cách đưa chiếc trực thăng ra miền Bắc phục vụ huấn luyện", ông Hùng kể lại.

Tuy nhiên, bay thẳng ra Bắc là điều không tưởng - quãng đường quá xa, nguy cơ bị đánh chặn trên không rất cao. Giải pháp duy nhất là tháo rời chiếc máy bay và vận chuyển theo đường Trường Sơn, vượt hơn 1.000km đèo dốc, suối sâu, núi hiểm. "Khó nhất là khi đến nơi, máy bay vẫn phải còn nguyên vẹn và bay được", ông Hùng nhấn mạnh.

Sau nhiều tính toán, phương án tối ưu được lựa chọn, tháo rời chiếc UH-1 thành nhiều bộ phận. Hệ thống xe tải quân dụng chiến lợi phẩm được điều động. Hai chiếc Zin 157, cùng một chiếc cần cẩu GMC của Mỹ được huy động đến để phục vụ tháo dỡ và di chuyển UH-1 ra Bắc. Mọi chi tiết đều được cố định chắc chắn và ngụy trang kỹ lưỡng.

Ngày 26/3/1974, đoàn xe đặc biệt âm thầm lăn bánh. Sau gần một tháng vượt núi băng rừng, đối mặt với đủ hiểm nguy và thử thách, chiếc UH-1 cuối cùng được đưa an toàn về tới sân bay Hòa Lạc (Sơn Tây). Tại đây, chiếc trực thăng đặc biệt ấy chính thức được biên chế vào Tiểu đoàn 5, Lữ đoàn Không quân 919 - mở đầu cho một hành trình mới, góp phần vào chiến thắng cuối cùng của dân tộc.

52 năm trôi qua kể từ phi vụ lịch sử ấy, mỗi khi nhắc lại câu chuyện, ánh mắt ông Hùng vẫn ánh lên niềm xúc động như đang sống lại khoảnh khắc ngày 7/11/1973. Người lính năm xưa không chỉ cướp được một chiếc máy bay - mà còn thể hiện được bản lĩnh, sự gan dạ, không khuất phục trước kẻ thù./.
Yêu nước ST.

Khát vọng giải phóng non sông, thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm nhưng độc lập thực sự nhất thiết phải gắn với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đây là vấn đề nguyên tắc nên ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, ý chí bảo vệ độc lập dân tộc luôn song hành với ý chí đấu tranh thống nhất nước nhà. Trước việc đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai tiến hành chia cắt lâu dài đất nước ta, Người luôn khẳng định “Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn. Núi có thể mòn. Song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Năm 1964, thời điểm tròn 10 năm đất nước bị chia cắt, trong Thư chúc mừng năm mới, Người đã nhắn nhủ nhân dân: “Bắc Nam như cội với cành/ Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng/ Rồi đây thống nhất thành công/ Bắc-Nam ta lại vui chung một nhà”. Con người chan chứa tình cảm ấy cũng là con người có lập trường “sắt đá” về mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Người từng nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Dù nó ném bom hóa biển cũng phải giải phóng miền Nam cho kỳ được. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, mục tiêu giải phóng miền Nam chưa đạt được, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục kêu gọi nhân dân “Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc-Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”. Với bản lĩnh phi thường và uy tín “có một không hai”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biến khát vọng thống nhất đất nước thành hành động quật khởi của toàn dân tộc để thực hiện bằng được mục tiêu thống nhất nước nhà.

Cảnh giác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của kẻ thù

 Các thế lực thù địch đã và đang áp dụng đủ chiêu trò, mở chiến dịch truyền thông quy mô rầm rộ để kích động, xuyên tạc, chống phá ngày hội non sông của đất nước ta. Nhưng, hiện thực đời sống xã hội ở Việt Nam đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ chính là bằng chứng sống động, thuyết phục nhất, cuốn phăng luận điệu xuyên tạc, khẳng định giá trị trường tồn của thành quả cách mạng. Chỉ cần thông qua những góc nhìn cận cảnh đời sống xã hội ở TP Hồ Chí Minh những ngày này, ai ai cũng thấy rõ điều đó. Hàng vạn người từ khắp nơi đổ về thành phố đón chào những đoàn quân làm nhiệm vụ diễu binh, diễu hành. Trong các buổi hợp luyện, tổng hợp luyện, sơ duyệt, tổng duyệt diễu binh, diễu hành, dòng người chen kín các trục đường, các địa điểm công cộng. Tất cả đều rạng rỡ thần thái, cờ hoa, biểu ngữ rực rỡ đón chào các khối diễu binh, diễu hành, tự hào chiêm ngưỡng những cánh bay mang khát vọng hòa bình, hưng thịnh trên bầu trời rực rỡ nắng vàng. Từ những góc nhỏ trong các quán cà phê, không gian giải trí đến những khu vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đâu đâu cũng ngập tràn sắc âm mừng Đại lễ 30-4. Ngập trên các nền tảng mạng xã hội là hào khí, hình ảnh thể hiện tinh thần yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Đặc biệt, mặc dù lượng người đổ về khu vực trung tâm thành phố đông nghịt, nhưng tất cả đều diễn ra trong trật tự, hòa chung bầu không khí tự hào Việt Nam...Nguồn năng lượng tích cực mang hào khí, khát vọng dân tộc như dòng nước mát lành giữa mùa khô nắng nóng, như những đợt sóng trào từ đại dương, lan tỏa, bừng lên, kết nối triệu cánh tay, triệu trái tim về một mối. Đó là bản sắc, là khí chất, là bản lĩnh, là ý chí, là khát vọng Việt Nam, thấm sâu vào nếp nghĩ, vào huyết quản, vào trái tim mỗi người dân đất Việt, trở thành nhu cầu tự thân. Tất cả tạo nên bầu không khí mừng đại lễ của dân tộc, trang trọng, ấm áp, nghĩa tình, hưng vận. “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Hào khí Đại thắng 30-4, nửa thế kỷ bừng lên, rực sáng, củng cố niềm tin, tạo thế và lực để đất nước vươn mình mạnh mẽ vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khát vọng hưng thịnh, phồn vinh. Đó là ý nguyện, là khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước. Và, khi lòng dân đã thuận, ý Đảng đã quyết, thì không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phá hoại được thành quả cách mạng, thành trì tư tưởng của chúng ta. Được sống, được hòa mình trong bầu không khí ấy, nguồn hưng khí, hưng vận ấy, là hạnh phúc của mọi cán bộ, đảng viên, những "công bộc" của dân. Hưng khí giang sơn, hưng vận dân tộc được kết tinh từ linh khí của xương máu ông cha. Tổ chức Đại lễ 30-4 một cách trang trọng, thiêng liêng không chỉ là cách khẳng định vị thế, uy tín, niềm tự hào, tự tôn dân tộc mà còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tri ân sự hy sinh, công lao cống hiến của thế hệ cha anh và ông bà, tiên tổ. Hồn thiêng của các anh hùng liệt sĩ, các thế hệ hiền nhân sẽ hiển linh hội tụ trong sắc nắng, màu mây; trong màu cờ, sắc áo đại lễ. Biết như thế, hiểu như thế, ngẫm như thế để mỗi chúng ta biết cách mà nâng niu, trân quý giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; tiếp thêm niềm tin và nhiệt huyết chiến đấu, góp phần đập tan, cuốn phăng những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng

Cuốn phăng luận điệu xuyên tạc của kẻ thù

Có một kiểu lập luận ngụy biện, ngụy hàn lâm dưới chiêu bài dân túy được các tổ chức phản động rêu rao trên không gian mạng, chúng ta phải hết sức cảnh giác và tỉnh táo nhận diện để đấu tranh. Đó là kiểu tư duy lập lờ, kiểu lập ngôn “cắt khúc”, “hớt ngọn”. Sự thật lịch sử là ngụy quyền Sài Gòn trước thời điểm 30-4-1975 là một chính quyền tay sai do Mỹ dựng lên để thực hiện âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam buộc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam là thành quả kháng chiến của cả dân tộc trên tất cả các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao... Sau khi “đánh cho Mỹ cút”, việc “đánh cho ngụy nhào” là bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến để đi đến mục tiêu “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Đó là sự thật lịch sử, không ai, không thế lực nào, không có bất cứ lý do gì có thể thay đổi, xuyên tạc, phủ nhận. Thế nhưng, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc, đất nước, các thế lực thù địch đã sử dụng chiêu bài dân túy, ngụy biện, ngụy hàn lâm... để tẩy sử, lật sử. Chúng đánh tráo khái niệm, coi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, là một cuộc “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc. Thành quả cách mạng lật đổ ngụy quân, ngụy quyền tay sai bán nước bị chúng cố tình đánh tráo bản chất, thay bằng “nồi da xáo thịt”, “huynh đệ tương tàn”... Thậm chí, chúng đòi viết lại lịch sử, công nhận ngụy quyền Sài Gòn là một “chính thể” để hợp thức hóa âm mưu biến cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân tộc thành cuộc “nội chiến”.

Khi những thứ ngụy hàn lâm này bị lật tẩy, bởi nó là những luận điệu đã lỗi thời, lạc lõng, các thế lực thù địch liền thay đổi phương thức tiếp cận bằng chiêu bài dân túy, lấy cớ thúc đẩy hòa hợp dân tộc, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai bằng kiểu lập ngôn “cắt khúc”, “hớt ngọn”, “lập lờ đánh lận con đen”... Theo đó, chúng cho rằng, chỉ cần nói “thống nhất đất nước” là đủ, bỏ cụm từ “giải phóng miền Nam” cho ngắn gọn, súc tích. Thoạt nghe, không ít người tưởng là có lý. Tuy nhiên, bằng tư duy biện chứng, chúng ta thấy rõ, nếu không có “giải phóng miền Nam” thì làm gì có “thống nhất đất nước”? Cách nói “cắt khúc”, “hớt ngọn” này chính là một kiểu thao túng tâm lý, đánh lừa nhận thức. Nếu nhận thức chính trị, lập trường tư tưởng thiếu vững vàng sẽ dễ sa vào cái bẫy ngôn từ trong chiến dịch truyền thông chống phá của các thế lực thù địch, dẫn đến nhận thức lệch lạc, sai lầm về Đại thắng mùa Xuân 1975 và ý nghĩa của Đại lễ 30-4.

Cuốn phăng luận điệu xuyên tạc, sáng bừng hào khí đại lễ - Bài 2: Bằng chứng sống động từ hiện thực đời sống (tiếp theo và hết)

Trên không gian mạng những ngày gần đây xuất hiện nhiều bài viết, dòng trạng thái của các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động như: “Việt Tân”, Lê Trung Khoa... tuyên truyền xuyên tạc về ngoại giao Việt Nam trong khuôn khổ Đại lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chúng lộng ngôn, lớn tiếng quy chụp, chỉ trích, bỉ bai... mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, lèo lái dư luận, kích động hận thù dân tộc, phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng...

Nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, chúng ta dễ dàng lật tẩy chiêu trò truyền thông “bẩn” này. Lại là những kiểu “cắt khúc”, “hớt ngọn” thông tin, thấy hiện tượng mà không thấy bản chất, “thầy bói mù xem voi”... Đường lối đối ngoại của Đảng ta nhất quán mục tiêu độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Những thông tin lèo lái dư luận, đòi Việt Nam phải dựa vào nước này để chống nước khác là kiểu lập luận ngụy biện, hoàn toàn không có giá trị “phản biện”, “hiến kế”, mà thực chất là mưu đồ phá hoại. Việc tuyên truyền, kích động hận thù kiểu “dương Đông kích Tây” trong bối cảnh hiện nay chính là âm mưu xuyên tạc, phá hoại, hòng làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng của ngày đại lễ toàn dân tộc

Đường đến vinh quang, thống nhất đất nước

Hôm nay, 50 năm trước, chính là ngày giới tuyến nam bắc vĩnh viễn không còn, giang sơn đã liền một dải! Triệu con tim vỡ òa trong niềm vui thống nhất khi Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, lá cờ Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, tung bay ở quần đảo Trường Sa, các vùng biển đảo, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta đã thắng lợi, khát vọng cháy bỏng nam bắc sum họp một nhà đã trở thành hiện thực.

    Đó là thắng lợi của chính nghĩa, của lòng dân, của đường lối chính trị độc lập tự chủ vì lợi ích quốc gia dân tộc không chấp nhận cúi đầu làm nô lệ, không chấp nhận ngoại bang chia cắt, phân ly sông núi của ông cha. 

    Đó là sự thất bại của ách đô hộ hơn một trăm năm của chủ nghĩa thực dân cũ, hơn hai mươi năm xâm lược thống trị của chủ nghĩa thực dân mới trước dân tộc Việt Nam, lịch sử Việt Nam, văn hóa Việt Nam.

    Chặng đường quang vinh đem lá cờ Tổ quốc, lá cờ của Đảng tiên phong, của Bác Hồ kính yêu đến đích cuối cùng, là kết tinh của máu xương, nước mắt, mồ hôi, trí tuệ của lớp lớp đồng bào, cán bộ, chiến sĩ. Đó là mốc son mới của thời đại Hồ Chí Minh tiếp nối vẻ vang những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên rạng rỡ.

    Sức mạnh chính trị, tinh thần làm nên Đại thắng mùa Xuân -1975

     Nhận thức sâu sắc vai trò của nhân tố chính trị, tinh thần, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ toàn dân và toàn quân kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nêu cao lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nâng cao ý chí đấu tranh và niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của cách mạng, làm cho nhân tố chính trị, tinh thần thực sự trở thành nền tảng vững chắc, cùng các nhân tố khác tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế và quân sự bậc nhất thế giới. 

    Biểu hiện sinh động sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, là ý chí “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, là tinh thần “Tất cả vì miền nam ruột thịt”, là các khẩu hiệu: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, “Một tấc không đi, một ly không rời”; là quyết tâm “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, là phong trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”...

    Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng sức mạnh chính trị, tinh thần làm nền tảng, quân và dân ta đã làm nên những kỳ tích trong cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ. Đường Hồ Chí Minh trên bộ xuyên dãy Trường Sơn vô cùng hiểm trở và Đường Hồ Chí Minh trên biển với tinh thần cảm tử của cán bộ, chiến sĩ trên những “Đoàn tàu không số” đã trở thành những con đường huyền thoại cung cấp sức người, sức của từ hậu phương lớn miền bắc cho tiền tuyến lớn miền nam. 

    Từ thắng lợi của phong trào Đồng Khởi ở miền nam năm 1960, đến chiến thắng Ấp Bắc, Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972, chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, thắng lợi trên bàn đàm phán Hội nghị Paris... đều là những kỳ tích của quân và dân ta trong đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao. 

    Đặc biệt, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là minh chứng sinh động nhất của sức mạnh chính trị, tinh thần, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của khát vọng và ý chí thống nhất non sông. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976) đã “nhiệt liệt biểu dương lòng yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa anh hùng cách mạng tuyệt vời của đồng bào, chiến sĩ, cán bộ, đảng viên thuộc tất cả các dân tộc anh em từ nam đến bắc đã đoàn kết chiến đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc!”

    Bài học cho những kẻ ảo tưởng bên ngoài

    Lâu nay, nền độc lập, tự chủ và tự do vững chắc mà Việt Nam xây bằng máu xương bao thế hệ vốn là niềm mong ước, khát vọng của nhiều dân tộc trên thế giới đang luẩn quẩn ở vũng lầy xung đột và chiến tranh lại bị một số kẻ phê phán, “tạt a xít”. Chúng không chấp nhận sự thật: Việt Nam ổn định, phát triển cường thịnh.

    Bài học cho những kẻ ảo tưởng

    Bất chấp con đường hợp đạo lý, hợp lòng người, hợp xu thế thời đại và tương lai tươi sáng đang rộng mở của dân tộc, chúng định hướng, lôi kéo những kẻ bất mãn, phản động đòi phá bỏ những thành tựu ấy để xây dựng một thể chế chính trị mới với cái gọi là “tự do” và “dân chủ” tuyệt đối mà chúng hằng tôn thờ. Hình như bài học lịch sử chưa đủ mạnh để chúng tỉnh ngộ, bớt ảo tưởng.

    Trưa 30-4-1975, khi màu áo “sắc xanh núi rừng” tràn ngập dinh Độc Lập, khi cờ đỏ sao vàng và cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay, đặc biệt sau lời đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn Minh trên Đài phát thanh Sài Gòn, “thế giới tự do” giả hiệu sụp đổ hoàn toàn. Lúc này, vai trò “con tốt” của ngụy quyền Sài Gòn trên bàn cờ địa chính trị do quan thầy Mỹ dựng lên chính thức ra đi.

    Bài học từ sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn không chỉ là sự thất bại của một bộ máy sống nhờ, tồn tại bằng ngoại lực mà còn là minh chứng sống động cho chân lý: Chỉ có độc lập dân tộc, tự chủ về chính trị và tinh thần đoàn kết toàn dân mới tạo nên sức mạnh trường tồn. Trong bối cảnh thế giới hiện đại đang bị giằng xé bởi mâu thuẫn địa chính trị, cạnh tranh chiến lược và những cuộc xung đột, Việt Nam-một quốc gia nhỏ vẫn giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển là nhờ bài học lịch sử ấy.

    Thế nên, việc những kẻ ảo tưởng vào một "thiên đường tự do" viển vông do ngoại bang vẽ ra, tiếp tục cổ xúy, lôi kéo phá vỡ trật tự hiện tại cần nhìn lại số phận của những kẻ đi trước và hãy nhớ rằng: Những “tướng không quân, lính không trận” lưu vong và trái tim rách nát cùng vết thương quá khứ thì sao có thể mang gánh được ước vọng xa xôi. Hãy tỉnh táo mà nhận thức đầy đủ rằng, tự do và dân chủ không bao giờ đến từ những khẩu hiệu trống rỗng, càng không thể được ban phát từ ngoại bang. Nó phải là kết quả của một quá trình đấu tranh tự lực, từ nhân dân, vì nhân dân.

    Ngày nay, khi thế giới tiếp tục chứng kiến những cuộc xung đột, chiến tranh ở nhiều khu vực, sự phụ thuộc chính trị, kinh tế khiến nhiều quốc gia nhỏ bị cuốn vào vòng xoáy bất ổn, thì bài học về tự chủ của Việt Nam càng trở nên quý giá.

    Từ chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã chứng minh, lịch sử không dành chỗ cho những ảo tưởng chính trị lạc lõng. Nó chỉ ghi nhớ và tôn vinh những dân tộc dám tự mình viết nên vận mệnh của chính mình mà thôi. Hãy đừng quên bài học ấy!

    Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ cờ Đảng, cờ Tổ quốc tung bay

     Với tinh thần quyết tâm cao nhất, các cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân nhận định, đây không chỉ là một buổi lễ kỷ niệm, mà còn là dịp để Quân chủng Phòng không - Không quân thể hiện trình độ chính quy, tinh thần đoàn kết, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao và sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cờ Đảng, cờ Tổ quốc tung bay trên bầu trời trong lễ kỷ niệm đã góp phần tô đậm thêm ý nghĩa thiêng liêng của ngày thống nhất đất nước.

    Các phi đội máy bay cất cánh: Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ sao vàng
     
    Các phi đội máy bay cất cánh: Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ sao vàng