Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2025

Mô hình Bắc Âu: câu chuyện thần thoại đang đi đến hồi kết?


Bắc Âu bao gồm năm quốc gia là Đan Mạch trên bán đảo Jutland, Na Uy và Thụy Điển trên bán đảo Scandinavia, Phần Lan và Iceland, cũng như các lãnh thổ thuộc Đan Mạch là Quần đảo Faroe và Greenland, quần đảo Åland của Phần Lan và quần đảo Svalbard của Na Uy. Sau Thế chiến II, Bắc Âu từng bước trở thành “sự tồn tại thần thoại” – kinh tế phát triển, phúc lợi ưu việt, chính trị ổn định, xã hội yên bình, nghiễm nhiên trở thành “tấm gương ưu tú” trong phát triển trên toàn thế giới. “Mô hình Bắc Âu” từng trở thành mô hình phát triển hấp dẫn trên toàn cầu.

Vị trí kinh tế vượt trội và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú

Trên thực tế, sự phát triển và thịnh vượng của Bắc Âu phần lớn là do điều kiện tự nhiên của chính nó.

Thứ nhất, vị trí kinh tế của các nước Bắc Âu rất thuận lợi. Do nằm trên các bán đảo và đảo ở phía tây bắc châu Âu, Bắc Âu không chỉ có thể tận hưởng những tác động lan tỏa và bức xạ của năm nền kinh tế Tây Âu mà còn tránh được ở một mức độ nhất định việc tiếp tục xảy ra xung đột giữa các cường quốc. Thứ hai, năm quốc gia Bắc Âu đều là những quốc gia nhỏ với lãnh thổ rộng lớn và dân cư thưa thớt. Thụy Điển, quốc gia đông dân nhất, chỉ có 10,3 triệu người, mật độ dân số 24,6 người/km2. Đan Mạch, nơi có mật độ dân số cao nhất, 136,5 người/km2 nhưng dân số chỉ 5,84 triệu người. Phần Lan có dân số 5,539 triệu người, Na Uy có dân số 5,534 triệu người và Iceland, quốc gia ít dân số nhất, chỉ có 370.000 người, với mật độ dân số 3,4 người/km2. Thứ ba, năm quốc gia Bắc Âu có khí hậu ôn hòa. Mặc dù đều thuộc vĩ độ cao nhưng do ảnh hưởng của dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương nên Bắc Âu có những khu vực ấm áp và ẩm ướt, thích hợp cho con người sinh sống. Thứ tư, năm nước Bắc Âu có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, giàu tài nguyên thủy sản, lâm nghiệp và khoáng sản. Na Uy và Đan Mạch cũng là những nước phát triển dầu mỏ chính ở Biển Bắc. Na Uy là nước xuất khẩu dầu thô lớn thứ ba thế giới và là nước sản xuất khí đốt tự nhiên lớn nhất châu Âu. Rõ ràng, nói về sự thành công của “mô hình Bắc Âu” không thể không nói tới những điều kiện này thuộc về yếu tố tạo ra “thần thoại”. Hơn nữa, Bắc Âu thực tế đã trải qua những thay đổi sâu sắc kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Cuộc khủng hoảng Ukraine đã đẩy nhanh sự thay đổi này, và “thần thoại Bắc Âu” sắp bước vào hồi kết.

Từ bỏ chính sách trung lập không liên minh

Tiền đề quan trọng để hình thành “Thần thoại Bắc Âu” là sau Thế chiến II, châu Âu tiếp tục duy trì hòa bình và ổn định. Năm quốc gia Bắc Âu nằm ở góc Tây Bắc châu Âu. Từ thời cận đại tới nay họ luôn cố gắng tránh xa các cuộc  tranh chấp giữa các cường quốc. Chính sách quốc gia như vậy tuy không thể giúp họ hoàn toàn đứng ngoài hai cuộc chiến tranh thế giới, nhưng thiệt hại họ phải chịu ít hơn nhiều so với các nước châu Âu khác. Sau khi chiến tranh thế giới II kết thúc, Đan Mạch, Na Uy và Iceland trở thành thành viên sáng lập NATO. Trong khi Thụy Điển và Phần Lan, những quốc gia gần gũi với Liên Xô, theo đuổi chính sách không liên kết quân sự và duy trì vị trí trung lập để không trở thành tiền đồn của cuộc đối đầu Mỹ-Liên Xô. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang vào năm 2022, Phần Lan và Thụy Điển đã nộp đơn xin gia nhập NATO. Mặc dù gặp phải một số trở ngại do sự phản đối của Thổ Nhĩ Kỳ, Hungary, nhưng Phần Lan đã chính thức gia nhập NATO vào ngày 4/4/2023, tiến trình gia nhập của Thụy Điển cũng đang tăng tốc hoàn thành với sự phê chuẩn của Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 01 và Hungary vào tháng 02 năm nay. Phần Lan và Thụy Điển lựa chọn gia nhập NATO trong cuộc khủng hoảng Ukraine không phải vì sợ Nga mà vì họ không còn sợ Nga nữa. Đồng thời lợi dụng cuộc khủng hoảng Ukraine để thay đổi chính sách trung lập còn sót lại trong lịch sử, hoàn toàn hội nhập vào phe phương Tây do Mỹ lãnh đạo.

Trong lịch sử, Thụy Điển và Phần Lan giữ vững trung lập đều là lựa chọn bất đắc dĩ thậm chí cảm thấy hổ thẹn. Thụy Điển từng là một cường quốc vùng biển Baltic, bị suy yếu do thất bại hoàn toàn trong cuộc “Chiến tranh phương Bắc” từ năm 1700-1721 với Nga Sa hoàng và chuyển sang theo đuổi chính sách trung lập không liên kết. Trong hai cuộc chiến tranh thế giới, Thụy Điển luôn đi trên dây giữa thân Đức và thân Anh, Pháp, không chỉ bảo vệ đất nước khỏi sự tàn phá của chiến tranh mà còn kiếm được rất nhiều tiền từ chiến tranh. Có thể nói rằng Thụy Điển được hưởng lợi ích rất nhiều trong chính sách trung lập của mình. Ngược lại, đằng sau sự trung lập của Phần Lan là một đoạn lịch sử muốn quên đi. Từ tháng 11/1939 đến tháng 3/1940, Phần Lan đã tham gia vào “Chiến tranh mùa đông” thảm khốc với Liên Xô. Liên Xô đã chiếm được vùng Karelia, bao gồm Vyborg, thành phố lớn thứ hai của Phần Lan. Vào tháng 6/1941, Phần Lan đã phối hợp với Đức Quốc xã để chiếm lại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, nhưng luôn không công nhận quan hệ đồng minh với Đức. Chính sách “trung lập” này để lại không gian cứu vãn tương đối lớn cho Phần Lan. Tháng 2/1944, Phần Lan quyết định “nổi dậy”, đảo ngược chính sách khi nhìn thấy chiến thắng của Liên Xô. Nhờ vậy, họ không cùng Đức trở thành nước bại trận. Trong chiến tranh và sau chiến tranh, chính quyền Phần Lan đã xác lập con đường trung lập cho ngoại giao nước này. Hiển nhiên, Thụy Điển và Phần Lan đều có ân oán lịch sử với Nga, sau chiến tranh họ không gia nhập NATO ngay lập tức chỉ là không muốn trở thành trận địa tiền tuyến trong cuộc đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô mà thôi.

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Thụy Điển và Phần Lan gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 1995, hợp tác với NATO ngày càng tăng. Trên thực tế, họ đã từ bỏ chính sách không liên kết từ lâu. Tuy nhiên, trong bối cảnh NATO liên tục mở rộng về phía đông, hai nước vẫn chọn ở bên ngoài NATO. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, Thụy Điển và Phần Lan đã tích cực tham gia vào các hoạt động của NATO để hỗ trợ quân sự cho Ukraine. Trong đó, Phần Lan có đường biên giới 1.200 km với Nga tích cực triển khai viện trợ Ukraine. Đến tháng 2/2024, viện trợ quân sự của Phần Lan cho Ukraine đã đạt 22 đợt, đã quyên tặng trang bị quân sự trị giá hàng tỷ USD, trong đó có máy bay chiến đấu F-16. Ngày 13/12/2023, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy đã đến Oslo, Na Uy, để tham dự hội nghị thượng đỉnh Ukraine-Bắc Âu lần thứ hai, trong đó 5 quốc gia Bắc Âu cam kết viện trợ và thiết bị quân sự hàng tỷ USD cho Ukraine. Động thái này được đưa ra trong bối cảnh Hạ viện Mỹ giữ viện trợ quân sự cho Ukraine. Các nước Bắc Âu dám làm thể hiện thái độ diều hâu như vậy đối với Nga, không phải vì họ tin rằng NATO sẽ đảm bảo an ninh cho họ mà vì họ tin rằng Nga không có khả năng hoặc thậm chí không sẵn sàng gây chiến với họ. Quả thực, phản ứng của Nga đối với việc Phần Lan gia nhập NATO chỉ nhấn mạnh hành động này sẽ gây “ảnh hưởng tiêu cực” đối với quan hệ Nga-Phần Lan. Biện pháp ứng phó chủ yếu chẳng qua là thành lập “Quân khu Leningrad” mà thôi.

Không có bằng chứng nào cho thấy việc Thụy Điển và Phần Lan từ bỏ vị thế trung lập là kết quả áp lực từ bên ngoài. Đối với họ, giữ thái độ trung lập trong các hành động tập thể của phương Tây là một chính sách đối ngoại độc lập. Điều này có thể gây ra rủi ro cao hơn so với việc chủ động gây sức ép với Nga, một món nợ mà Phần Lan và Thụy Điển cần tính toán. Trên phương diện “Thần thoại Bắc Âu”, sự viện trợ mạnh mẽ của các nước Bắc Âu cho Ukraine đã thay đổi hình tượng giữ gìn hòa bình sau chiến tranh thế giới thứ II của họ, và không thể đánh giá thấp sự xói mòn quyền lực mềm này.

Cuộc khủng hoảng nhà nước phúc lợi sâu sắc

Các nước Bắc Âu là quốc gia phúc lợi điển hình nhất của phương Tây. Điểm chung của họ là nhà nước cung cấp cho người dân sự chăm sóc phúc lợi toàn diện “từ khi sinh ra đến khi chết đi” thông qua thuế cao. Nó bao gồm chế độ thai sản, chăm sóc trẻ em, giáo dục, việc làm, chế độ tai nạn lao động, chế độ thất nghiệp, chăm sóc người già, nhà ở, chăm sóc y tế, tang lễ, v.v. Đặc điểm của “Mô hình Bắc Âu” về nhà nước phúc lợi được đặc trưng bởi phạm vi bao phủ toàn diện, mức độ cao, tỷ lệ lớn các dịch vụ xã hội và gánh nặng cá nhân tương đối nhỏ. Do đó, Bắc Âu từng được coi là khu vực có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới. Chỉ số Gini đo lường khoảng cách giàu nghèo đều nằm trong khoảng từ 0,2 đến 0,26, nằm ở mức thấp nhất thế giới. Tuy nhiên, ngay cả đối với những nền kinh tế phát triển như các nước Bắc Âu, vốn là những nước nhỏ, dân số ít, nguồn nội lực dồi dào, việc duy trì mô hình thuế cao-phúc lợi cao này không phải là điều dễ dàng. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các nước Bắc Âu cũng lần lượt tiến hành “cải cách chủ nghĩa tự do mới”, học theo các biện pháp như Anh và Mỹ thúc đẩy tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát tăng trưởng phúc lợi công cộng, thị trường hóa phúc lợi xã hội. Sau nhiều thập kỷ cải cách, cấu trúc cơ bản của nhà nước phúc lợi Bắc Âu không thay đổi, nhưng mô hình xã hội vẫn mang một số màu sắc của “mô hình Anh – Mỹ”.

Nhìn bề ngoài, áp lực cải cách ở các nước Bắc Âu chủ yếu đến từ khó khăn tài chính. Là khu vực có tỷ lệ chi tiêu công cao nhất châu Âu, sau nhiều thập kỷ cắt giảm, chi tiêu công hiện tại của 5 quốc gia Bắc Âu chiếm khoảng 50% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cao hơn mức trung bình của EU (46,3%). Trong số đó, Na Uy cao nhất đạt 63%. Với hơn 80% chi tiêu của Chính phủ dành cho phúc lợi xã hội, nhiều người cho rằng thuế cao do phúc lợi cao hạn chế động lực làm việc của người lao động Bắc Âu và khả năng cạnh tranh quốc tế. Điều này chắc chắn không sai, nhưng trên thực tế, cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu của các nước Bắc Âu mới là nguyên nhân sâu xa thách thức tính bền vững tài chính của nhà nước phúc lợi. Ở bên ngoài mọi người hay nói vui rằng: “Kinh tế thế giới bị cảm mạo, kinh tế Bắc Âu bị sốt”. Năm 2009, GDP của Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Iceland lần lượt giảm 5,2%, 4,9%, 8,3%, 1,7% và 6,8%. Iceland trở thành quốc gia đầu tiên rơi vào khủng hoảng nợ công. Trong trường hợp này, tiêu chuẩn chi tiêu phúc lợi cứng nhắc khó tránh khỏi làm trầm trọng thêm khó khăn về tài chính. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang toàn diện, “Mô hình Bắc Âu” phải đối mặt với một làn sóng thách thức nghiêm trọng khác. Năm nước Bắc Âu đều gặp khó khăn do tăng trưởng thấp, lạm phát cao. Theo thống kê của EU, GDP của Thụy Điển tăng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái vào năm 2022, Phần Lan tăng 1,6% và Đan Mạch tăng 2,7%. Tất cả đều thấp hơn mức trung bình của EU là 3,4%. Na Uy và Iceland, những nước không gia nhập EU, đang ở trong tình trạng tốt hơn một chút, nhưng cũng có những vấn đề về cơ cấu. Bởi vậy có thể thấy được rằng mô hình nước nhỏ dân số ít mà “Thần thoại Bắc Âu” dựa vào chắc chắn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Những biến động bên ngoài chắc chắn sẽ đòi hỏi phải tăng cường tính linh hoạt trong chế độ phúc lợi cao.

Các nước phúc lợi xã hội ở Bắc Âu cũng đang phải đối mặt với những thách thức về đa dạng chủng tộc. Về cơ bản, phúc lợi cao của các quốc gia Bắc Âu là một hệ thống do Chính phủ vận hành, trong đó người dân chăm sóc lẫn nhau dựa trên sự cùng nhận thức về chủng tộc và tín ngưỡng. Sau những năm 1980, số lượng người nhập cư ở các nước Bắc Âu không ngừng tăng lên. Theo thống kê, đến năm 2020, số người nhập cư của Thụy Điện đã chiếm 19,8% tổng dân số, Iceland là 15,2%, Na Uy là 14%, Đan Mạch là 11%, Phần Lan là 6,4%. Tình trạng không hòa hợp giữa người nhập cư nước ngoài và người dân bản xứ Bắc Âu tồn tại phổ biến, gây xói mòn không nhỏ cho nền tảng phúc lợi xã hội của quốc gia. Bộ trưởng Di cư Maria Malmer Stenergard của Thụy Điển cho rằng, số lượng người nhập cư tăng lên những năm gần đây, kết hợp với sự hòa hợp xã hội kém đã dẫn đến sự phân biệt xã hội của Thụy Điển càng trở nên nổi bật. Hiện nay, tư tưởng cực đoan chống nhập cư đang ngày càng gia tăng ở các nước Bắc Âu. Rất nhiều người cho rằng nhập cư đã đe dọa đến văn hóa truyền thống, quan niệm giá trị và trật tự xã hội của đất nước mình. Mà điều này đối với chế độ nhà nước phúc lợi Bắc Âu lấy xã hội hài hòa công bằng làm mục tiêu mà nói không khác gì đổ thêm dầu vào lửa.

Sự đồng thuận chính trị chuyển hướng cực hữu

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Bắc Âu nhìn chung đã thiết lập một cơ cấu chính trị đồng thuận do các đảng dân chủ xã hội trung tả cầm quyền. Tôn trọng bình đẳng, đoàn kết xã hội, xây dựng giá trị nhà nước phúc lợi. Từ lâu đã thực hiện các chính sách của chủ nghĩa Keynes về việc làm cao, thuế cao, chi tiêu cao. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, hệ tư tưởng chủ nghĩa dân chủ xã hội đã bị lép vế hoàn toàn bởi chủ nghĩa tân tự do Anh-Mỹ và ảnh hưởng của các đảng trung hữu ở Bắc Âu tăng lên rõ rệt. Trong những năm gần đây, các lực lượng cực hữu ở Bắc Âu đã nổi lên và hầu hết các quốc gia đều có sự tham gia của cực hữu trong liên minh cầm quyền. Về mặt tư tưởng, các nước Bắc Âu trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh đều đã trải qua quá trình chuyển đổi từ “chủ nghĩa dân chủ xã hội” sang “chủ nghĩa dân chủ tự do”, rồi đến “chủ nghĩa dân chủ dân tộc”.

Cả năm quốc gia Bắc Âu đều có hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Điều này khiến một Đảng khó có thể chiếm đa số ghế trong Quốc hội. Các đảng cầm quyền thường phải thành lập chính phủ liên minh với các đảng khác để lên nắm quyền. Chế độ hợp tác đa đảng này muốn duy trì ổn định chính trị thì phải hình thành nhận thức chung về chính trị. Ưu điểm của nó là giúp đảm bảo cho các nhóm lợi ích và tầng lớp xã hội khác nhau đều có cơ hội tham gia chính trị, hình thành bầu không khí chính trị tương đối ổn định và ôn hòa. Nhưng khuyết điểm là dễ dàng tạo cơ hội cho các chính đảng cấp tiến tham gia chính trị. Chủ trương chính trị cực hữu càng có thể chuyển hóa thành quyết sách của chính phủ.Tháng 10/2022, Kristersson thuộc đảng ôn hòa cực hữu Thụy Điển lên nắm quyền. Ông là người được bầu làm Thủ tướng Thụy Điển với số phiếu thấp nhất kể từ năm 1978 (176 ủng hộ và 173 phiếu chống). Để duy trì vị trí quyền lực, Kristesson đã chọn thành lập Chính phủ liên minh với Đảng Dân chủ Thụy Điển cực hữu. Mặc dù phe cực hữu không giành được một vị trí trong Chính phủ, nhưng Chính phủ liên minh đã phải thỏa hiệp với đảng về vấn đề nhập cư, giảm mạnh hạn ngạch người tị nạn hàng năm từ 6.400 xuống còn 900, đồng thời cũng lên kế hoạch trục xuất những người nhập cư có hành vi sai trái.

Khi sự đồng thuận chính trị chuyển sang cực hữu, ngay cả khi đảng trung tả nắm quyền, quan điểm chính trị của phe trung hữu và thậm chí cả phe cực hữu vẫn có thể gây ảnh hưởng không hề nhỏ. Kể từ tháng 6 năm 2019, Frederiksen thuộc Đảng Dân chủ Xã hội trung tả đã giữ chức Thủ tướng Đan Mạch. Trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2022, Đảng Dân chủ Xã hội của bà giành được 90 ghế, trong khi liên minh cực hữu giành được 73 ghế. Cuối cùng, Đảng Dân chủ Xã hội, Đảng Tự do và Đảng Ôn hòa đã thành lập một chính phủ liên minh mới. Trong cuộc bầu cử này, Đảng Nhân dân Đan Mạch cực hữu chỉ nhận được 2,6% số phiếu bầu, nhưng tư tưởng chống nhập cư của đảng này vẫn có ảnh hưởng lớn đến chính phủ Đan Mạch.

Sự đồng thuận chính trị của các nước Bắc Âu đã làm xói mòn thần thoại chính trị Bắc Âu về tính nhân đạo, bình đẳng, hài hòa được xây dựng sau chiến tranh thế giới II. Thứ nhất, chỉ trích toàn cầu hóa không còn là điều cấm kỵ chính trị. Thủ tướng Đan Mạch Frederiksen nhấn mạnh trong chiến dịch tranh cử năm 2019 rằng “Đối vớ tôi mà nói, ngày càng thấy rõ ràng rằng cái giá phải trả cho toàn cầu hóa không được kiểm soát, nhập cư ồ ạt và sự dịch chuyển lao động tự do đều là giai cấp cơ sở phải chi trả”. Vì vậy Đan Mạch phải thực hiện chính sách tiếp nhận nhập cư nghiêm ngặt. Thứ hai, sự trỗi dậy của các lực lượng cực đoan. Ngày 03/09/2023 khi một người biểu tình chống Hồi giáo đốt kinh Koran công khai ở Malmo, thành phố lớn thứ ba của Thụy Điển đã gây ra căng thẳng giữa Thụy Điển và các quốc gia Trung Đông, bao gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ. Theo hãng tin Pháp AFP, gần một nửa dân số Malmo là người nhập cư hoặc đến từ các gia đình nhập cư, nơi “gần như ngày nào cũng xảy ra các vụ nổ súng và đánh bom”, khiến nhiều người dân địa phương lo lắng. Thứ ba, cải cách nhà nước phúc lợi ngày càng triệt để. Trong năm quốc gia Bắc Âu, Thụy Điển là nước có mức độ cải cách phúc lợi lớn nhất. Đã xuất hiện những thách thức như mức độ dịch vụ y tế công giảm, thiếu nhân viên y tế, phân bổ nguồn lực y tế không đồng đều. Để tiết kiệm chi phí tài chính, Chính phủ Thụy Điển cũng đã áp dụng biện pháp bãi bỏ một số đồn cảnh sát, cắt giảm lực lượng cảnh sát, làm tăng thêm rủi ro cho an ninh xã hội.

“Thần thoại Bắc Âu” được hình thành sau chiến tranh thế giới thứ hai đang phải đối mặt với thách thức toàn diện về kinh tế, xã hội, chính trị. Điều này đương nhiên không có nghĩa là các nước Bắc Âu sẽ đi đến suy thoái kinh tế, bất ổn xã hội và khủng hoảng chính trị. Nhưng có thể khiến người ta càng chú ý hơn đến điều kiện khách quan mà “tấm gương ưu tú” này dựa vào để tồn tại trong cộng đồng quốc tế. Mỗi nước cần phải lựa chọn con đường đi tới hiện đại hóa theo tình hình thực tế của chính nước của mình. Kinh nghiệm của các nước khác có thể tham khảo, nhưng không bao giờ trở thành quy tắc vàng. Có lẽ rằng, hiện nay, việc từ bỏ câu chuyện “Thần thoại Bắc Âu” sẽ có lợi hơn là việc học hỏi kinh nghiệm từ mô hình này./.

Phong trào “Chiếm phố Uôn”- Không chỉ là "Nỗi thất vọng"

"Chiếm phố Uôn" là phong trào phản kháng xã hội do một nhóm các nhà hoạt động ở Mỹ khởi xướng với mục tiêu ban đầu là chống lại sự tham lam của các công ty, ngân hàng,  bất công xã hội và những  bất bình đẳng khác giữa người giàu và người nghèo. Cuộc biểu tình đầu tiên nổ ra ngày 17-9-2011 tại trung tâm tài chính TP. Niu Oóc với số ít người, sau đó nhanh chóng lan ra khắp nước Mỹ, thế giới tư bản và bắt đầu có tầm vóc toàn cầu. Tổng thống Mỹ B.Ô-ba-ma và các đồng sự của ông trong đảng Dân chủ cầm quyền coi đó là sự phản ánh “nỗi thất vọng” trong tâm can của nhiều người dân Mỹ.


Chế độ  “của 1%, do 1% và vì 1%”


Những người khởi xướng Phong trào tuyên bố “Chiếm phố Uôn” là hành động biểu thị sự bất mãn của người lao động Mỹ trước thói tham lam và tham nhũng của giới tài phiệt, làm giàu trên sự khốn khó của người dân. Giới phân tích phương Tây cho rằng, các cuộc biểu tình nảy sinh là do những vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội sau đại khủng hoảng ở Mỹ không được giải quyết thỏa đáng đã gây ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa, trước hết là chính sách thiên vị giới nhà giàu của Chính phủ Mỹ. Theo giáo sư Pôn-Krúc-man, nhà bình luận của tờ Thời báo Niu Oóc, lời buộc tội “Phố Uôn là một thế lực phá hoại cả về chính trị và kinh tế” hay “Tất cả các chủ ngân hàng đều là phát-xít” của những người cầm đầu Phong trào đưa ra là hoàn toàn xác đáng. Giáo sư P.Krúc-man phân tích: Chính phủ B.Ô-ba-ma đã quá ưu ái đám nhà giàu và giới tài phiệt khi nổ ra đại khủng hoảng năm 2008 bằng một loạt chính sách cứu trợ hàng ngàn tỷ đô-la, chủ trương giữ mức thuế thấp đối với người giàu, nới lỏng những quy định quản lý được đặt ra sau cuộc khủng hoảng và thả lỏng chính sách tài chính chỉ để nhận được sự ủng hộ về chính trị. Cựu Giám đốc điều hành Hãng dịch vụ tài chính J.P Morgan Chase, W.Cohan cho rằng, nước Mỹ không những không học được gì từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 mà còn để cho giới tài phiệt tự do cản trở các chính sách cải cách, trong đó có việc thông qua đạo luật Dodd- Frank (đạo luật kiểm soát phố Uôn và những khoản tiền lớn).


Tuy nhiên, vấn đề ở đây không chỉ là lỗi trực tiếp của “Phố Uôn” mà do tình trạng bất bình đẳng xã hội, căn bệnh kinh niên của xã hội Mỹ cũng như của cả hệ thống TBCN. Theo giáo sư Giô-sép Stiếc-lít, đại học Cô-lôm-bi-a, người đoạt giải Nô-ben kinh tế 2001, hiện nay 1% (gọi tắt là nhóm 1%) người giầu nhất nước Mỹ chiếm 40% tài sản quốc gia, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất chỉ chiếm 7%. Về thu nhập, nhóm 1% chiếm 24% tổng số thu nhập của toàn dân. Theo số liệu của Viện nghiên cứu Chính sách (Institute of Policy Studies), trong thị trường đầu tư chứng khoán, nhóm 1% chiếm 50% số cổ phiếu, công phiếu và các quỹ đầu tư khác, trong khi 50% người nghèo nhất chỉ chiếm 0,5% tổng số cổ phiếu chứng khoán.Về nợ cá nhân, nghiên cứu của giáo sư xã hội học W. Đôm-hóp, đại học Ca-li-fooc-ni-a, Santa Cruz cho thấy, nhóm 1% chỉ chiếm 5% tổng số nợ của nước Mỹ, trong khi nhóm 99% phải gánh tới 73% số nợ đó. Kể từ năm 1980 cho đến nay, trung bình mỗi năm có khoảng 5% trong tổng thu nhập quốc gia được chuyển từ các hộ gia đình bậc trung sang các hộ giàu. Trong năm 2010 đã có 5.934 hộ gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu được nhận thêm 650 tỉ USD, trung bình hơn 1 triệu USD mỗi hộ(1). Ngân hàng thế giới cho biết, tại Mỹ khoảng cách giàu nghèo đã nới rộng thêm 20% kể từ năm 1980, cao hơn so với hầu hết các nước trong khối G7.


Sự bất bình đẳng đó đã khiến cho 99% người Mỹ đánh mất dần niềm tin vào cách điều hành của chính quyền. Trên trang web của mình (occupywallstreet.org) những người cầm đầu Phong trào tuyên bố: "Chúng tôi là 99% người dân Mỹ và chúng tôi không thể chịu đựng thêm sự tham lam và tham nhũng của 1% những kẻ còn lại". Phần lớn người Mỹ đều xác định họ thuộc tầng lớp trung lưu và hạ lưu (nhóm 99%) và khinh bỉ những thứ thuộc về tầng lớp 1%. Nhiều người trẻ tuổi than phiền rằng nhóm 1% đang giết chết “Giấc mơ Mỹ”(2) của họ. Tạp chí Kinh tế (Anh) cho rằng nước Mỹ đang ở giữa một “thập kỷ lạc lối”, có khả năng tạo ra một thế hệ trẻ thất nghiệp, vỡ mộng, chán chường, mất phương hướng.


Phong trào “Chiếm phố Uôn” đã nhanh chóng bùng nổ khắp thế giới tư bản, kết hợp với các phong trào phản kháng khác, đặc biệt là phong trào “Những người phẫn nộ” ở Tây Ban Nha và I-ta-li-a. Các nhà tổ chức Phong trào cho biết các cuộc xuống đường sẽ được tổ chức ở nhiều quốc gia, bắt đầu từ ngày 15-10-2011. Chỉ trong ngày này, các cuộc biểu tình đã nổ ra tại hàng trăm thành phố ở nhiều quốc gia. Theo báo chí phương Tây, ước tính có gần một triệu người xuống đường trên khắp thế giới trong ngày hành động toàn cầu đầu tiên này.


Nguyên nhân là ở các nước tư bản khác, khoảng cách giàu nghèo và những bất bình đẳng trong xã hội cũng tương tự như ở Mỹ. Nước Anh được coi là một trong những nước bất bình đẳng nhất trong số các nước tư bản phát triển, nơi mà 10% những người giàu nhất giàu gấp 100 lần so với 10% những người nghèo nhất.


Người biểu tình cho rằng các chính sách phi lý của giai cấp tư sản và chính quyền của nó không đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số quần chúng lao động mà chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản đặc quyền, đặc lợi. Họ nhận ra một sự thật rằng chế độ tư bản quá độ hiện nay không đem lại cho họ một tương lai tốt đẹp, vì chế độ đó là  chế độ “của 1%, do 1% và vì 1%” chứ không phải của họ, do họ và vì họ - nhóm 99%.


Mâu thuẫn không thể giải quyết


Những phân tích, nhận định, đánh giá ở trên dường như mới chỉ dừng lại ở việc đi tìm các nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng mà chưa (hoặc trốn chỉ ra  bản chất của vấn đề - mâu thuẫn cơ bản của CNTB).


Theo học thuyết Mác-Lê nin, CNTB với nền kinh tế đặc trưng  dựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư. Trong xã hội tư sản, giai cấp tư sản chiếm thiểu số nhưng là những người sở hữu tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư; giai cấp vô sản chiếm số đông nhưng là những người không có tư liệu sản xuất buộc phải bán sức lao động của mình và bị bóc lột. Mâu thuẫn cơ bản của CNTB là mâu thuẫn giữa hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa với sự xã hội hoá cao của sức sản xuất. Trong xã hội tư sản hiện nay, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản được hiểu là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với đông đảo quần chúng lao động - mâu thuẫn giữa nhóm 1% với nhóm 99%.


Qua nhiều lần điều chỉnh, CNTB hiện đại đã có nhiều thay đổi, song mâu thuẫn cơ bản của CNTB vẫn tồn tại và phát triển. Các nhà nước tư sản đã có những điều chỉnh quan trọng, trọng tâm là điều tiết kinh tế, là sự can thiệp của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế - xã hội để tạo điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự thích nghi của những quan hệ sản xuất. Nhà nước tư sản tiến hành xã hội hóa một phần sở hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội, quan tâm nhiều hơn đến phúc lợi xã hội. Những biến đổi kinh tế - kỹ thuật đã dẫn đến những biến đổi về chính trị - xã hội như những biến đổi về kết cấu giai cấp, vai trò nhà nước tư sản và cơ cấu quyền lực chính trị, quy mô và tính chất của đấu tranh giai cấp và các xu hướng chính trị...


Trong đó đáng chú ý là các điều chỉnh về thể chế và xã hội:

Thứ nhất, điều chỉnh thể chế để phù hợp với đòi hỏi của mô hình tư bản độc quyền nhà nước. Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, sự chiếm hữu tư nhân đã giảm sút một phần do nhà nước tư sản chiếm hữu và phân phối từ 30% - 60% thu nhập quốc dân. Có thể nói, ở xã hội tư bản hình thức chiếm hữu không đơn thuần là chiếm hữu tư nhân nữa mà đã phần nào mang tính xã hội.

Thứ hai, điều chỉnh chính sách xã hội để  xoa dịu các cuộc đấu tranh của quần chúng lao động, nhất là giai cấp công nhân, lực lượng xã hội đông đảo, có tổ chức chặt chẽ, cũng như xoa dịu các xung đột xã hội khác. Nhà nước tư bản đã điều chỉnh nhiều chính sách xã hội, mở rộng các quyền kinh tế-xã hội, chính trị và dân sự của các tầng lớp trong xã hội, nhất là tầng lớp trung lưu và nghèo khổ. Do nhu cầu mở rộng sản xuất, Nhà nước tư bản không thể không mở rộng thị trường tiêu thụ, trong đó tiêu dùng cá nhân là một kênh quan trọng (kênh này chính là nhóm 99%; xã hội tiêu thụ là vấn đề sống còn của nền kinh tế tư bản). Những chính sách này dẫn tới sự thay đổi đáng kể trong đời sống quần chúng lao động làm thuê. Sự cải thiện đó đã làm cho một bộ phận người lao động “mất” đi cái cảm giác “bị bóc lột”.

Sự điều chỉnh của CNTB phản ánh xu hướng thích nghi của nó trước sự thay đổi của thời đại, nhất là sự thoái trào của CNXH, xu thế toàn cầu hóa và những cuộc đại khủng hoảng có tính qui luật của CNTB. Xét cho cùng, trong mọi trường hợp, việc giải quyết những mâu thuẫn của CNTB hiện đại đều được thực hiện bằng cách bóc lột người lao động trong nước (bằng các chính sách thiên vị nhóm 1%) hoặc từ túi của các nước đang phát triển thông qua quá trình tư bản hóa toàn cầu đang được núp dưới cái tên “toàn cầu hóa kinh tế”.

CNTB hiện đại đã khoác trên mình một bộ áo  mới. Nhưng bộ cánh mới không che đậy được những khuyết tật cố hữu của nó. Giai cấp tư sản vẫn hiện nguyên hình là giai cấp bóc lột, quần chúng lao động vẫn là những người bị bóc lột. Xã hội tư sản vẫn là xã hội  bất công phi lý, mâu thuẫn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột. Cho dù phong trào “Chiếm phố Uôn” và các phong trào chống CNTB khác đi đến đâu, nó có chuyển hướng từ tính chất xã hội sang tính chất chính trị hay không thì vẫn cho thấy, những mâu thuẫn cơ bản của CNTB vẫn tồn tại và không thể giải quyết. Những điều chỉnh trong thời gian qua và sắp tới của CNTB hiện đại cũng chỉ là những giải pháp tình thế mà thôi.

Theo qui luật phát triển của xã hội loài người, hình thái kinh tế-xã hội bất công, phi lý ấy phải được thay thế bằng một hình thái tiến bộ hơn.    

Phong trào cánh tả Mỹ La-tinh hiện nay và triển vọng trong thời gian tới

 Gần đây, một số bạn đọc có thư và điện thoại về Tòa soạn bày tỏ mong muốn tìm hiểu rõ thêm về phong trào cánh tả ở Mỹ La-tinh hiện nay. Nhằm đáp ứng phần nào yêu cầu của bạn đọc, Tạp chí Quốc phòng toàn dân đăng bài viết dưới đây của tác giả Thái Văn Long, cán bộ Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

Cánh tả Mỹ La-tinh hiện nay bao gồm lực lượng của các Đảng Xã hội Dân chủ trong khu vực. Tuy nhiên, do sự thống nhất về mục tiêu và tính lan tỏa cách mạng vốn nổi trội ở khu vực, nên cánh tả Mỹ La-tinh còn bao gồm sự hợp tác, tham gia của các Đảng Cộng sản, công nhân và các lực lượng cách mạng tiến bộ khác trong liên minh cầm quyền, vì vậy gọi là: Phong trào cánh tả Mỹ La-tinh.

Lực lượng cánh tả liên tiếp giành thắng lợi trên chính trường Mỹ La- tinh gần đây do nhiều nguyên nhân; song trước hết, do tác động bởi xu hướng dân chủ hoá đời sống chính trị khu vực. Xu hướng này bắt đầu xuất hiện từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX - thời kỳ mà các nhà bình luận quốc tế hay dùng là: "Thời kỳ sau Việt Nam". Tiến trình dân chủ hoá có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cục diện chính trị toàn khu vực, trong đó tiêu biểu nhất là sự kiện ở Chi-lê và Pa-ra-goay. Ở Chi-lê, sau 13 năm bị kìm kẹp bởi chế độ độc tài phát xít, 16 đảng đối lập ở Chi-lê đã đoàn kết trong một liên minh chung và giành thắng lợi trước nhà độc tài Pi-nô-chê trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1988 và Tổng tuyển cử năm 1989. Ở Pa-ra-goay, chế độ độc tài khét tiếng Xi-trô Et-xnô cũng bị sụp đổ sau cuộc tổng tuyển cử tự do tháng 1-1989. Trước tình hình đó, các Tổng thống Mỹ, từ R.Rigân (nhiệm kỳ 1983-1989) đến G.Bush (cha) (nhiệm kỳ 1989-1993) buộc phải bỏ rơi những đồng minh thân cận nhất của mình, công nhận thắng lợi của các lực lượng dân sự, tiến bộ ở các nước này và điều chỉnh chính sách đối với khu vực. Sau khi thoát khỏi chế độ độc tài, khôi phục thể chế dân chủ, các cải cách chính trị đã tạo dựng một môi trường hoà bình và thuận lợi để Mỹ La-tinh tập trung phát triển kinh tế. Gần đây, sự bất lực của các chính quyền cánh hữu trong việc đề ra đường lối phát triển đất nước cùng với nạn tham nhũng đã gây bất bình trong nhân dân, tạo điều kiện cho các lực lượng cánh tả có đường lối dân tộc tiến bộ nắm thời cơ, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng lao động để tranh cử và giành thắng lợi ở một loạt nước.

Cùng với sự biến đổi đó là sự phá sản của chủ nghĩa tự do mới. Trong các thập niên 50 và 60 của thế kỷ trước, Mỹ La-tinh là khu vực đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhờ thực hiện đường lối công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu. Nhưng chính điều đó đã gây ra sự khan hiếm ngoại tệ mạnh và sự cắt đứt với thị trường quốc tế. Bởi vậy, từ cuối những năm 70, khi sức cạnh tranh của khu vực này trên thị trường xuất khẩu thế giới bắt đầu sụt giảm, nền kinh tế Mỹ La-tinh nhanh chóng rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng. Những năm 80, nợ nước ngoài của Mỹ La-tinh lên tới 240 tỷ USD, lạm phát phi mã ở mức 4 con số; lưu thông tiền tệ bị phá vỡ... Nhằm thoát khỏi tình trạng này, Mỹ La-tinh bắt đầu thực hiện cải cách kinh tế theo mô hình chủ nghĩa tự do mới. Thực chất mô hình này là hiện thân chiến lược của tư bản Mỹ nhằm duy trì và củng cố vai trò thống trị đối với khu vực "sân sau" của mình. Thực tế, đầu những năm 90, việc tiến hành những cải cách theo mô hình chủ nghĩa tự do mới (như: loại bỏ việc kiểm soát giá cả, đô la hoá tiền tệ, tự do hoá thương mại, tư nhân hoá, giảm vai trò quản lý của nhà nước...) đã đem lại một vài cải biến tích cực trong đời sống kinh tế khu vực. Mức tăng trưởng kinh tế và tình hình tài chính được cải thiện (GDP tăng bình quân trong mấy năm đó đạt 3,5%); lạm phát giảm từ mức 3 con số xuống 1 con số; xuất khẩu mở rộng; thu hút đầu tư bên ngoài với số lượng lớn... Tuy nhiên, những khởi sắc kinh tế đó lại dựa trên cơ sở các yếu tố không vững chắc. Từ giữa những năm 90, hệ lụy của những cải cách theo mô hình chủ nghĩa tự do mới bắt đầu lộ rõ; nền kinh tế bị chao đảo, GDP tăng giảm thất thường (với dao động từ 5,2% năm 1994 xuống 0,3% năm 1999); phân hoá giàu nghèo lan rộng. Vì thế, Mỹ La-tinh được coi là khu vực bất bình đẳng nhất trên thế giới (người nghèo chỉ nhận được 1,6% GDP, người nghèo tăng từ 200 triệu năm 1999 lên 225 triệu năm 2003, chiếm 44% tổng số dân toàn khu vực); tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 7,5% (năm 1990) lên hơn 10% (năm 2001)1. Đứng trước tình hình đó, Tổng thống Vê-nê-du-ê-la H.Cha-vét đã lên án chính sách thị trường tự do của Mỹ áp dụng ở Mỹ La-tinh là một "liều thuốc chết người”2; đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động tỏ rõ sự bất bình, thất vọng về "chủ nghĩa tự do mới” và hướng sự ủng hộ vào các chính sách tiến bộ của lực lượng cánh tả.

 Trong số các nguyên nhân tạo nên sự phát triển của phong trào cánh tả Mỹ La tinh, còn phải kể đến sự thay đổi sách lược đấu tranh và thực hiện cải cách kinh tế. Những năm gần đây, các lực lượng cánh tả đã chuyển từ hoạt động vũ trang sang vận động quần chúng nhân dân, liên kết với các phong trào cánh tả và tiến bộ ở trong nước và khu vực; thực hiện đấu tranh nghị trường, đưa ra cương lĩnh vận động đáp ứng nguyện vọng của người dân và phù hợp với tình hình thực tế ở Mỹ La-tinh. Đặc biệt, các đảng cánh tả đã liên kết với nhau thành lực lượng rộng rãi, phối hợp đấu tranh trên mặt trận chung; như việc các nhà lãnh đạo 3 nước: Bô-li-vi-a, Cu-ba và Vê-nê-du-ê-la đã ký Hiệp định thương mại ba bên (ALBA) nhằm trao đổi thương mại và hỗ trợ nhau cùng phát triển và là đối trọng của Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ (FTAA)... Các nước Mỹ La-tinh có nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hoá, địa lý; vì thế, việc các đảng cánh tả giành thắng lợi càng tạo điều kiện để họ gắn bó, sát cánh, giúp đỡ nhau cùng đấu tranh cho mục tiêu xoá bỏ nghèo đói, bất công, cải cách kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển.

Trước thực tế đó, từ năm 1998 đến nay, thông qua bầu cử dân chủ, các chính phủ cánh tả tiến bộ đã lên cầm quyền ở nhiều nước Mỹ La- tinh, trong đó có một số chính phủ tái đắc cử, như: Vê-nê-du-ê-la, Chi-lê, Bra-xin, Ác-hen-ti-na, Pa-na-ma, U-ru-guay, Bô-li-vi-a, Ni-ca-ra-goa, E-cu-a-đo... Tại Pa-ra-guay, ngày 21-4-2008, ông Phéc-năng-đô Lu-gô - lãnh tụ phong trào cánh tả - đã đắc cử Tổng thống. Gần đây nhất, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Pha-ra-bun-đô Mác-ti (En Xan-va-đo) đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử ngày 15 tháng 3 năm 2009, đưa nhà báo Ma-uy-xi-ô Phu-nét (Thành viên của Mặt trận) lên làm Tổng thống. Sau những năm cầm quyền, lãnh đạo cánh tả đã tiến hành một số cải cách phù hợp, tiến bộ, bước đầu mang lại kết quả đáng khích lệ, đưa kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, trì trệ và đang trên đà phục hồi, tăng trưởng khá (Vê-nê-du-ê-la: 9,6%; Ác-hen-ti-na: 8,3%; Chi-lê: 5%...). Nhờ tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống nghèo đói của các chính phủ cánh tả, tỷ lệ người nghèo giảm từ 44% (năm 2002) xuống còn 38% (năm 2006)3. Từ năm 2002 đến  năm 2005 Bra-xin đã hoàn trả số nợ 15,5 tỷ USD cho IMF trước thời hạn 2 năm4. Chương trình xã hội "không có người đói" của Chính phủ Bra-xin được coi là chương trình trợ cấp xã hội lớn nhất trên thế giới. Những năm qua, đa số chính phủ cánh tả ở Mỹ La-tinh đã tuyên bố tiến hành cải cách kinh tế - xã hội, chuyển từ mô hình kinh tế thị trường tự do sang mô hình kinh tế thị trường kết hợp giải quyết các vấn đề xã hội; đẩy mạnh chiến dịch chống tham nhũng; cải cách ruộng đất; xoá đói giảm nghèo, xoá nạn mù chữ; tạo công ăn việc làm; cung cấp tín dụng, vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; xây dựng nhà ở cho người nghèo; cải thiện dịch vụ y tế, văn hoá cộng đồng; điều chỉnh một số luật theo hướng coi trọng lợi ích quốc gia và có lợi cho người lao động. Về đối ngoại, các nhà lãnh đạo cánh tả đều thực thi chính sách mềm dẻo, linh hoạt, thúc đẩy hợp tác đa phương. Họ chủ trương thiết lập quan hệ với tất cả các nước trên thế giới và thực hiện công bằng với Mỹ, trên nguyên tắc tôn trọng hoà bình và quyền tự quyết của các dân tộc. Các nước trong khu vực đã nối lại và tăng cường hợp tác với Cu-ba, phản đối chính sách bao vây cấm vận của Mỹ đối với hòn đảo tự do này; ủng hộ quá trình dân chủ hoá trong quan hệ quốc tế và cải tổ Liên hợp quốc; ủng hộ cuộc đấu tranh chống khủng bố; phấn đấu vì một trật tự thế giới mới. Để đạt mục tiêu đề ra, các đảng cánh tả đã có chính sách đoàn kết liên minh rộng rãi, tập hợp lực lượng, trao đổi kinh nghiệm, phối hợp hành động chống lại chủ nghĩa tự do mới, chống lại sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc, phấn đấu xây dựng một xã hội lấy con người làm trung tâm; tiêu biểu như: Diễn đàn Sao Pao-lô; các cuộc hội thảo quốc tế "Các đảng và một xã hội mới" do Đảng Lao động Mê-hi-cô chủ trì hằng năm; hội nghị "Toàn cầu hoá và những vấn đề của phát triển" do Cu-ba đăng cai; Diễn đàn Xã hội thế giới tại Pô-tô A-lê-gre do các tổ chức phi chính phủ của Bra-xin khởi xướng…

Trong các nước Mỹ La tinh do cánh tả cầm quyền hiện nay, Vê-nê-du-ê-la là nước có tiến trình cải cách sâu rộng và triệt để. Tổng thống H.Cha-vét nhiều lần công khai tuyên bố mục tiêu của cuộc cách mạng Bô-li-va5 ở Vê-nê-du-ê-la là đưa đất nước đi lên "chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI". Trong bài phát biểu (ngày 3-12-2006) ngay sau khi tái đắc cử, Tổng thống H.Cha-vét đã khẳng định "Vê-nê-du-ê-la sẽ tiếp tục con đường đi lên CNXH thế kỷ XXI". Thực hiện mục tiêu trên, Tổng thống H.Cha-vét cùng các chính đảng cánh tả ở Vê-nê-du-ê-la đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, thảo luận và bước đầu xác định những nội dung cơ bản của "Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI". Theo đó, về chính trị, lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng cách mạng và tiến bộ của Xi-mông Bô-li-va, tư tưởng nhân đạo Thiên chúa giáo làm nền tảng tư tưởng; nhấn mạnh tư tưởng "dân chủ cách mạng" (còn gọi là dân chủ tham gia) và "chính quyền nhân dân"; xúc tiến thành lập Đảng XHCN thống nhất Vê-nê-du-ê-la (PSUV). Về kinh tế, chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước và kinh tế Hợp tác xã giữ vai trò chủ đạo; thực hiện quốc hữu hoá nền kinh tế quốc dân.Về xã hội, thực hiện phân phối công bằng của cải xã hội; giải quyết vấn đề bất bình đẳng và phân hoá giàu nghèo. Về đối ngoại, thúc đẩy khối đoàn kết Mỹ La-tinh và quan hệ hữu nghị với tất cả các nước; lấy hợp tác thay thế cạnh tranh; đấu tranh cho một thế giới đa cực và dân chủ. Về phương thức thực hiện, kế thừa những mặt tốt đẹp của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, nhưng không rập khuôn, sao chép mà thường xuyên đổi mới và sáng tạo; phát triển mạnh kinh tế, tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; coi trọng các giá trị đạo đức, tinh thần; đoàn kết toàn dân tộc; chú trọng kinh nghiệm quốc tế của các nước XHCN.

Việc thành lập Đảng XHCN thống nhất Vê-nê-du-ê-la làm nòng cốt lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH thế kỷ XXI, được Tổng thống H.Cha-vét tiến hành một cách khẩn trương; tháng 12 năm 2007 Đảng đó chính thức đi vào hoạt động. Trong năm 2008, Đảng XHCN thống nhất Vê-nê-du-ê-la do Tổng thống H.Cha-vét làm chủ tịch đã giành thắng lợi trong lần trưng cầu dân ý về  việc sửa đổi Hiến pháp, cho phép tăng nhiệm kỳ của Tổng thống lên 6 năm. Điều này đã mở đường cho H.Cha-vét tiếp tục tranh cử Tổng thống lần sau.

Có thể nói, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, sự phát triển của phong trào cánh tả Mỹ La-tinh là một “hiện tượng”, được dư luận thế giới hết sức quan tâm. Giới phân tích dự báo: thời gian tới, nhiều khả năng lực lượng cánh tả vẫn giữ được vai trũ cầm quyền tại nhiều nước trong khu vực, do duy trì thể chế dân chủ tư sản và nền kinh tế thị trường, nhưng vẫn đáp ứng một phần nhu cầu của đa số cử tri. Các nước do lực lượng cánh tả lãnh đạo tiếp tục thực hiện chính sách phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, thu hẹp bất bình đẳng xã hội; đề cao ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc, tinh thần đoàn kết Mỹ La-tinh, chống đế quốc. Xu thế liên kết, hội nhập chính trị - kinh tế - thương mại giữa các nước trong khu vực tiếp tục được thúc đẩy. Các tổ chức hội nhập cấp tiểu vùng, như Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (MERCOSUR), Cộng đồng các quốc gia vùng lãnh thổ An-dét (CAN), khối thị trường chung Ca-ri-bê (CARKOM), Khối kinh tế Trung Mỹ (Kế hoạch Pu-ê-la)… có thể sáp nhập với nhau thành những tổ chức hội nhập lớn hơn theo mô hình chung EU để tăng cường sức mạnh nội khối và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, ngoài các nhân tố tác động từ bên ngoài, sự cạnh tranh vai trò ảnh hưởng trong khu vực sẽ diễn ra theo chiều hướng tăng lên, nhất là giữa các lực lượng cánh tả ôn hòa và lực lượng cánh tả cấp tiến (Vê-nê-du-ê-la và Bra-xin). Có thể dự đoán xu hướng trong thập kỷ tới: Thứ nhất, các lực lượng đế quốc, tư sản phương Tõy (đặc biệt là Mỹ) sẽ tỏ rõ thái độ của mình và sẽ tìm mọi biện pháp để giành lại vị thế trước đây ở khu vực; Nga và Trung Quốc sẽ đẩy mạnh quan hệ với các nước Mỹ La-tinh trên mọi lĩnh vực để gây ảnh hưởng và tăng thế cạnh tranh trực tiếp với Mỹ ở Tây bán cầu. Thứ hai, các đảng phái đối lập ở nhiều nước vẫn còn thế lực và lại có sự hậu thuẫn của Mỹ, sẽ ra sức chống phá những cải cách mang tính cách mạng mà các chính phủ cánh tả đang nỗ lực thực hiện ở Mỹ La-tinh. Thứ ba, bản thân các lực lượng cánh tả trong khu vực phải tìm cách giải quyết nhiều vấn đề hóc búa cả về lý luận cũng như tổ chức thực tiễn. Thứ tư, cho dù những ảnh hưởng tích cực của phong trào này đối với sự phát triển của khu vực là không nhỏ, nhưng việc phổ biến nó lại là điều không đơn giản. Có thể nói, triển vọng tới đây của trào lưu cánh tả ở Mỹ La-tinh và mục tiêu xây dựng CNXH thế kỷ XXI tùy thuộc rất nhiều vào tài năng chèo lái, uy tín của các nhà lãnh đạo; vào khả năng tiếp tục đẩy mạnh các cải cách về chính trị, kinh tế - xã hội mang tính cách mạng; vào việc xây dựng các chính đảng tiên phong vào việc củng cố khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và củng cố khối liên kết, hợp tác hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước Mỹ La-tinh cũng như ủng hộ của các lực lượng cách mạng, cánh tả tiến bộ trên thế giới.

Những chuyển biến tích cực của phong trào cánh tả Mỹ La-tinh trong thời gian qua đã làm thay đổi cán cân so sánh lực lượng giữa các đảng phái tại vùng đất vốn được coi là "sân sau" của Mỹ và làm suy yếu nghiêm trọng ảnh hưởng của Oa-sinh-tơn ở đây. Mặc dù còn rất nhiều khó khăn ở phía trước, nhưng những thắng lợi mà phong trào đạt được đã tạo niềm tin cho nhân loại tiến bộ trên thế giới vào tương lai "một thế giới tốt đẹp hơn" là hoàn toàn có thể trở thành hiện thực.

Cống hiến vĩ đại của Ph.Ăngghen đối với chủ nghĩa Mác và lịch sử phong trào công nhân quốc tế

 Ph.Ăngghen (1820-1895) là người bạn đồng hành, người đồng chí tin cậy của C.Mác. Mặc dù chỉ tự nhận mình là “cây vĩ cầm thứ hai” đứng bên cạnh C.Mác nhưng cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã có công lao to lớn trong việc xây dựng, phát triển chủ nghĩa Mác ngày càng hoàn bị và thực sự trở thành vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp công nhân trong việc đấu tranh giải phóng giai cấp mình và giải phóng toàn nhân loại. Dù toàn bộ những tư tưởng vĩ đại của hai ông chỉ mang tên là chủ nghĩa Mác đúng như tên gọi mà Ph.Ăngghen dành cho người bạn của mình trước khi qua đời nhưng không vì thế mà chúng ta không ghi nhận và trân trọng những cống hiến vĩ đại của Ph.Ăngghen đối với chủ nghĩa Mác và lịch sử phong trào công nhân quốc tế.

1. Hành trình tư tưởng của Ph.Ăngghen

Ph.Ăngghen sinh ngày 28.11.1820 tại Bácmen, tỉnh Rêni của Vương quốc Phổ (hiện nay là một phần của nước Đức). Ông là con trai trưởng của một nhà sản xuất sợi dệt giàu có người Đức. Cha ông là một chủ tư bản lớn, rất sùng đạo, tháo vát về kinh doanh, giao du rộng nhưng về chính kiến thì rất bảo thủ. Mẹ ông là một trí thức kinh tế, nhạy cảm, đôn hậu, hoạt bát, thích hài hước và yêu văn học, nghệ thuật. Ông ngoại của Ph.Ăngghen là một giáo sư đại học về ngôn ngữ học, thường kể cho cháu ngoại mình nghe chuyện về các anh hùng trong các thần thoại Hy Lạp cổ đại và truyền thuyết dân gian Đức.

Khi còn nhỏ, Ph.Ăngghen học trung học tại Bácmen. Năm 1837, khi mới 17 tuổi, Ph.Ăngghen đã phải dừng việc học để tập trung vào kinh doanh theo ý nguyện của cha. Ông làm việc ở văn phòng của cha gần một năm, sau đó đến Bơremơ làm trong một hãng buôn lớn. Thời kỳ này, ông đã có điều kiện liên lạc với nhóm nhà văn cấp tiến “Nước Đức trẻ” và cộng tác với tờ báo “Điện tín Đức”. Đây được coi là bước đệm đầu tiên đưa Ph.Ăngghen tiếp xúc với những vấn đề chính trị.

Mùa xuân năm 1841, Ph.Ăngghen rời Bơremơ. Sau đó ông đi thăm Thụy Sỹ và miền Bắc nước Ý. Không bao lâu sau, Ph.Ăngghen đến Béclin và tham gia vào một trung đoàn pháo binh. Trong những năm tháng tuổi trẻ, Ph.Ăngghen rất yêu thích văn chương và triết học. Ông đã nhiều lần đăng ký dự thính các lớp giảng dạy triết học ở các trường đại học và vì thế ông có điều kiện tiếp xúc với nhóm Hêghen trẻ.

Cũng như nhiều người trẻ ở Đức lúc bấy giờ, Ph.Ăngghen rất đề cao tư tưởng của Hêghen nhưng ông không hoàn toàn đi theo những tư tưởng của nhà triết học nổi tiếng này. Ngay từ những năm 40 của thế kỷ XIX, Ph.Ăngghen đã luôn trăn trở về những điều được viết trong Kinh thánh và vào sự tồn tại của Chúa trời, Thượng đế.

Điều đó đã thôi thúc Ph.Ăngghen viết một loạt bài với nhan đề “Những lá thư gửi từ Vúppơtan” đăng trên tờ báo Điện tín Đức. Ph.Ăngghen viết: “Chỉ riêng vùng Enbơphenđơ, trong số 2.500 trẻ em đến tuổi đi học, có 1.200 em không có khả năng đến trường và phải lớn lên trong công xưởng - chỉ cốt để cho chủ xưởng khỏi phải trả cho công nhân người lớn mà các em thay thế, một số tiền công gấp đôi tiền trả cho trẻ em. Nhưng bọn chủ xưởng giàu thường có một lương tâm co giãn và linh hồn của một người thuộc phái kiền thành cũng chưa phải đã sa xuống địa ngục vì có thêm hay bớt đi một trẻ em bị héo hon, hơn nữa, nếu như cái linh hồn ấy mỗi ngày chủ nhật đều đi lễ nhà thờ hai lần”(1).

Năm 1842, sau khi hết hạn lính, Ph.Ăngghen sang Manchester (Anh). Đây là quãng thời gian rất quan trọng trên hành trình tư tưởng của ông, vì ở đây, Ph.Ăngghen có điều kiện tiếp xúc với đông đảo các tầng lớp, giai cấp công nhân Anh. Do đó, ông đã có dịp hiểu biết thêm về tình cảnh của họ. Cũng trong thời gian này, Ph.Ăngghen có dịp tiếp xúc với những chiến sĩ của phái Hiến chương Anh và bắt đầu hợp tác trong việc xuất bản những tài liệu về chủ nghĩa xã hội.

Năm 1844, Ph.Ăngghen cho đăng trên tờ “Niên giám Pháp - Đức” tác phẩm “Phê phán chính trị kinh tế học”. Đây được coi là tác phẩm mở đầu cho tư duy phê phán của Ph.Ăngghen khi xem xét những tư tưởng về chính trị, kinh tế của các nhà tư tưởng cùng thời. Điều này được C.Mác - người chủ của tờ “Niên giám Pháp - Đức” lúc này đánh giá rất cao và coi là “một cuốn đại cương tài tình về khoa học chính trị của giai cấp vô sản”.

Tháng 8.1844, Ph.Ăngghen rời Manchester sang Đức. Khi đi ngang qua Paris, ông đã gặp C.Mác. Từ đây bắt đầu tình cảm cao đẹp và vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, đồng thời cũng tạo ra những chuyển biến rất quan trọng trên hành trình tư tưởng của Ph.Ăngghen. Do nhanh chóng bắt gặp những điểm tương đồng về mặt lập trường, tư tưởng nên Ph.Ăngghen cùng với C.Mác đã viết chung tác phẩm “Gia đình thần thánh” năm 1845 để chống lại phái Hêghen trẻ.

Trong tác phẩm, hai ông đã bước đầu xây dựng được một số quan điểm về chủ nghĩa xã hội trên lập trường duy vật cách mạng. Sau đó, khi trở về Đức, Ph.Ăngghen đã viết tác phẩm riêng có nhan đề “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh”. Đây là kết quả của thời gian ngắn Ph.Ăngghen sống ở Anh và có điều kiện tiếp xúc với giai cấp công nhân nơi đây nhưng nó đã cho thấy Ph.Ăngghen bắt đầu nhận ra rằng giai cấp vô sản không chỉ là những người bị bóc lột đầy đau khổ mà họ còn có khả năng tự giải phóng giai cấp mình.

Mùa xuân năm 1845, Ph.Ăngghen đến Bruyxen gặp C.Mác. Hai ông đã bàn bạc, thống nhất và viết chung tác phẩm lớn là “Hệ tư tưởng Đức” vào năm 1846 để phê phán tư tưởng của phái Hêghen trẻ và tư tưởng của Phoiơbắc - một nhà triết học nổi tiếng ở Đức lúc bấy giờ. Đây là tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành lớn về mặt tư tưởng của Ph.Ăngghen với bước chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa; đồng thời cho thấy sự rũ bỏ của Ph.Ăngghen cũng như người bạn của mình là C.Mác khỏi cái bóng của các nhà triết học lớn của Đức đang có tầm ảnh hưởng rất rộng lúc bấy giờ là Hêghen và Phoiơbắc để xây dựng cho mình một hệ thống lý luận độc lập.

Tháng 2.1848, cách mạng Pháp nổ ra, cả C.Mác và Ph.Ăngghen bị trục xuất khỏi Bruyxen, sau đó là Paris. Tháng 1-1849, hai ông đến Côlônhơ lập tờ báo Rênani để đấu tranh tư tưởng. Vì lẽ đó, chính quyền tư sản đã truy lùng, trục xuất các ông ở khắp mọi nơi. Các ông bị vu cáo là xúc phạm nhà cầm quyền và bị đưa ra tòa cùng những người cộng sản ở Côlônhơ. Tại phiên tòa, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đã kịch liệt lên án tính chất phản động, phản dân chủ của thể chế và pháp quyền tư sản. Được sự ủng hộ lớn của những người cộng sản tham gia phiên tòa, hai ông đã trắng án.

Sau đó, Ph.Ăngghen còn tham gia vào phong trào khởi nghĩa vũ trang của nhân dân. Do phong trào bị đàn áp nên ông sang Thụy Sỹ rồi sang Anh. Đây là thời kỳ hoạt động thực tiễn đầy sôi nổi của Ph.Ăngghen; đồng thời  cung cấp cho ông những tư liệu sinh động để viết các tác phẩm về đấu tranh giai cấp và cách mạng như tác phẩm “Chiến tranh nông dân ở Đức” (1848-1849), và các tác phẩm viết chung với C.Mác như “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức” (1851-1852).

Cuối năm 1850, khi biết C.Mác đang sửa soạn để viết công trình nghiên cứu đồ sộ là “Tư bản”, Ph.Ăngghen đã chuyển đến Manchextơ để làm công cho một hãng buôn lớn ở đây - một công việc mà ông không hề thích thú, thậm chí là khinh ghét nhưng giờ đây ông đã tình nguyện làm với mong muốn có tiền để giúp đỡ C.Mác và cả gia đình bạn sinh sống; giúp C.Mác chuyên tâm nghiên cứu và viết “Tư bản”.

Trong thời kỳ này, Ph.Ăngghen cũng nghiên cứu và viết sách về khoa học quân sự. Khác với C.Mác, Ph.Ăngghen do không được học đại học một cách chính quy nên chủ yếu ông tự học, tự nghiên cứu. Ngoài việc đồng hành với C.Mác, Ph.Ăngghen còn tự tìm cho mình một hướng nghiên cứu riêng là khoa học tự nhiên và ngoại ngữ. Đó là tiền đề để Ph.Ăngghen tự ghi tên mình vào một tác phẩm nổi tiếng “Biện chứng của tự nhiên”. Tác phẩm đánh dấu bước chuyển biến rất lớn về mặt tư tưởng của Ph.Ăngghen vì bằng những dẫn chứng, lập luận thuyết phục về giới tự nhiên, ông đã chỉ ra những nguyên lý, quy luật, phạm trù cơ bản của cả tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Đây là tác phẩm lớn được Ph.Ăngghen viết trong suốt 10 năm (1873-1883).

Năm 1876, Ph.Ăngghen viết tác phẩm “Tác dụng của lao động trong việc chuyển biến từ vượn thành người”. Đây được đánh giá là tác phẩm triết học về xã hội xuất sắc của Ph.Ăngghen, chứng minh khả năng của Ph.Ăngghen trong nghiên cứu cả giới tự nhiên và xã hội loài người.

Vào thời gian 1877-1878, khi đang viết “Biện chứng của tự nhiên”, ở Đức nổi lên một nhà triết học là O.Đuyrinh lên tiếng muốn phủ nhận, bác bỏ những tư tưởng của C.Mác. Ph.Ăngghen đã gác bỏ lại tác phẩm đang viết dở để tập trung củng cố, bảo vệ học thuyết Mác; nhân đó trình bày một cách có hệ thống các nguyên lý của chủ nghĩa Mác trên cả ba phương diện là triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học; đồng thời vạch trần sự xuyên tạc, giả dối có tính chất chủ quan của Đuyrinh trong tác phẩm nổi tiếng “Chống Đuyrinh”.

Sau khi C.Mác qua đời vào năm 1883, một mặt Ph.Ăngghen phải dồn sức để hoàn thành các tập tiếp theo của bộ “Tư bản” mà C.Mác còn dang dở; mặt khác, cùng với sức lao động phi thường và trí tuệ xuất sắc, Ph.Ăngghen còn viết một tác phẩm nổi tiếng từ sự khảo cứu lịch sử với nhan đề “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước”, đồng thời quay trở lại hoàn thành  tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” vào cuối năm 1883. Sau đó, Ph.Ăngghen viết tác phẩm nổi tiếng “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” (1888).

Trong những năm cuối đời, Ph.Ăngghen dành nhiều thời gian trao đổi thư từ với nhiều nhà triết học để bổ sung và làm rõ thêm những quan điểm duy vật về lịch sử nhằm phân biệt cách nhìn duy vật biện chứng về lịch sử với cách nhìn tầm thường, thô lỗ về lịch sử. Điểm rất đáng lưu ý trên hành trình tư tưởng của Ph.Ăngghen là trong khoảng hơn 20 năm (1872-1893), ông cùng C.Mác đã bảy lần viết “Lời tựa” cho những lần tái bản tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Sau khi C.Mác qua đời năm 1883, những lời tựa sau đó chỉ còn một mình Ph.Ăngghen đứng tên. Những lời tựa đó chính là sự bổ sung, phát triển tư tưởng của Tuyên ngôn trên quan điểm thực tiễn, lịch sử - cụ thể và phát triển; làm cho “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trở thành tác phẩm kiểu mẫu của việc bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác bằng thực tiễn sinh động mà chính Ph.Ăngghen là người đi đầu.

Ngày 5.8.1895, Ph.Ăngghen qua đời tại Luân Đôn, thọ 75 tuổi. Bình đựng tro cốt của Ph.Ăngghen được thả trên bờ biển miền Nam nước Anh - nơi ông vẫn thích đến đó nghỉ ngơi đúng như tâm nguyện cuối cùng của ông. Cuộc đời của Ph.Ăngghen không chỉ gắn liền với tình bạn cao đẹp với C.Mác - một tình bạn đã đi vào huyền thoại mà còn cho thấy hành trình tư tưởng đi từ “vương quốc của tất yếu” đến “vương quốc của tự do”. Vì vậy, V.I.Lênin - người học trò xuất sắc của C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Từ ngày mà vận mệnh đã gắn liền C.Mác với Ph.Ăngghen thì sự nghiệp suốt đời của hai người bạn ấy trở thành sự nghiệp chung của họ”(2). V.I.Lênin cũng khẳng định thêm: “Không thể nào hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú ý đến toàn bộ những tác phẩm của Ăngghen”(3).

2. Những đóng góp vĩ đại của Ph.Ăngghen đối với sự hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân quốc tế

Trong suốt 40 năm gắn liền với C.Mác, Ph.Ăngghen đã dành trọn cuộc đời mình cho việc xây dựng nên một học thuyết khoa học hoàn bị và có vai trò to lớn trong việc cỗ vũ, khích lệ và trở thành vũ khí lý luận cho giai cấp vô sản đấu tranh giải phóng giai cấp mình và giải phóng xã hội loài người. Những đóng góp vĩ đại của Ph.Ăngghen đối với sự hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác cũng như phong trào công nhân quốc tế được thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:

Thứ nhất, Ph.Ăngghen đã có đóng góp to lớn trong việc xây dựng học thuyết Mác trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học và kinh tế chính trị học.

Trên lĩnh vực triết học, cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen tuy xuất thân từ phái Hêghen trẻ nhưng ông đã có công lao to lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng. Mặc dù trong khi khẳng định quan điểm duy vật về lịch sử là một trong hai phát kiến vĩ đại của C.Mác, Ph.Ăngghen cũng có công lao to lớn cung cấp những luận chứng thuyết phục để chứng minh tính chất duy vật triệt để của học thuyết Mác trong lĩnh vực lịch sử, xã hội; làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và là “công cụ nhận thức vĩ đại” của con người. Đặc biệt, bằng việc chỉ ra những quy luật của giới tự nhiên, Ph.Ăngghen không chỉ khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới mà còn làm sáng tỏ thêm mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên. Với điều này, Ph.Ăngghen đã cùng với C.Mác xây dựng được một hệ thống lý luận triết học hoàn chỉnh với những quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

Trên lĩnh vực chủ nghĩa xã hội khoa học, với những trải nghiệm trong thời gian dài ở Anh, Pháp, Đức cùng thời gian cộng tác với C.Mác; Ph.Ăngghen đã tạo lập và hoàn thiện những quan điểm về chủ nghĩa xã hội khoa học mà linh hồn của lý luận đó là làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân - giai cấp có khả năng tổ chức và lãnh đạo xã hội thông qua Đảng Cộng sản, tiến hành cải biến xã hội từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội trên phạm vi từng nước và trên thế giới.

Có thể nói, nhờ có lý luận này, giai cấp công nhân đã từng bước bước lên vũ đài chính trị và xác lập được vai trò to lớn của mình. Cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã có công lao trong việc cung cấp những luận cứ thuyết phục để biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành chủ nghĩa xã hội khoa học. Vì vậy, “những chiến lược, sách lược cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và sự hình thành các chính đảng vô sản mà ông đưa ra trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời hoạt động lý luận và thực tiễn cách mạng của ông là một cống hiến lớn vào kho tàng chủ nghĩa xã hội khoa học”(4).

Trên lĩnh vực kinh tế chính trị học, Ph.Ăngghen đã chứng tỏ là một nhà kinh tế học xuất sắc khi đã chỉ ra được những quy luật vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, bóc trần bản chất bóc lột giá trị thặng dư của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đặc biệt, khi giúp C.Mác hoàn thành nốt những tập bản thảo còn dang dở của bộ “Tư bản”, Ph.Ăngghen cũng đã góp phần quan trọng trong việc luận giải những tư tưởng lớn của C.Mác về đặc trưng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Như vậy, có thể nói, “chủ nghĩa Mác trên tất cả các phương diện cấu thành của nó, từ nội dung đến phương pháp, từ những mầm mống đầu tiên đến khi có một diện mạo trưởng thành, từ những luận chiến đanh thép để tự bảo vệ trước những đòn tấn công, xuyên tạc của kẻ thù cho đến những tổng kết thực tiễn đặc sắc và những dự báo khoa học về xã hội tương lai đều in đậm dấu ấn những đóng góp kiệt xuất của Ph.Ăngghen”(5).

Thứ hai, cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã đưa chủ nghĩa Mác trở thành một học thuyết vừa mang tính khoa học, vừa mang tính cách mạng.

Ngay từ đầu, mục đích của cả C.Mác và Ph.Ăngghen khi xây dựng học thuyết của mình không phải mang tính lý luận thuần túy mà phải trở thành vũ khí tinh thần cho giai cấp công nhân. Vì vậy, trên hành trình của mình, Ph.Ăngghen đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu về đời sống, tình cảnh của những người lao động, đặc biệt là giai cấp công nhân. Chính hoạt động của giai cấp công nhân ở Anh, Pháp, Đức... đã giúp cho Ph.Ăngghen từng bước hoàn thiện lý luận của mình trở thành một ngọn đuốc soi đường cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động cần lao. Phong trào công nhân đã tìm thấy ở triết học Mác vũ khí tinh thần của mình, còn triết học Mác tìm thấy ở phong trào công nhân vũ khí vật chất của mình: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình”(6). Nhờ đó, học thuyết Mác không chỉ mang tính khoa học mà còn mang tính cách mạng.

Không chỉ hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng để mang đến cho giai cấp công nhân vũ khí lý luận đấu tranh sắc bén, Ph.Ăngghen còn dành nhiều tâm sức để hoạt động thực tiễn và có đóng góp không nhỏ vào hoạt động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã đấu tranh không khoan nhượng chống lại những khuynh hướng cải lương và biệt phái (của Pruđông, Latxan, Bacunin...) để thống nhất hàng ngũ quốc tế.

Ph.Ăngghen là người đỡ đầu của Đảng Dân chủ - xã hội Đức và có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động của Đảng. Những nhà xã hội chủ nghĩa Pháp, Áo, Hungari, Anh, Ba Lan, Tây Ban Nha, Italy, Nga, Hà Lan và nhiều nước khác đều nhận được sự giúp đỡ vô giá về tinh thần của Ph.Ăngghen. Vì vậy, đúng như V.I.Lênin nhận xét: “Sau bạn ông là Các Mác (mất năm 1883), Ph.Ăngghen là nhà bác học và là người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh”(7). Những đóng góp to lớn của Ph.Ăngghen đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã khiến Ph.Ăngghen xứng danh là “người thầy vĩ đại” của giai cấp công nhân toàn thế giới.

Thứ ba, Ph.Ăngghen đã không ngừng bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã nhiều lần bị chính quyền tư sản các nước trục xuất, kiện ra tòa vì tội “nói xấu”, “phỉ báng” chính quyền. Không chỉ có vậy, tư tưởng của các ông luôn bị chủ nghĩa cơ hội, xét lại xuyên tạc, bội nhọ, phản bác. Vì vậy, bên cạnh những tác phẩm có tính chất tuyên ngôn hay lý luận thuần túy, Ph.Ăngghen còn viết một số tác phẩm bút chiến để vạch trần luận điệu xuyên tạc, lừa bịp của những kẻ cơ hội, tư sản. Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất cần phải kể đến là “Chống Đuyrinh”. Với tác phẩm này, Ph.Ăngghen đã có dịp trình bày một cách có hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác. Đó là cách mà Ph.Ăngghen vừa bảo vệ, vừa phát triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới. Điều đáng trân trọng là trong bất cứ điều kiện, tình huống nào, Ph.Ăngghen cũng luôn tuyệt đối trung thành với hệ tư tưởng mà mình và C.Mác đã xây dựng lên.

Ph.Ăngghen không bảo vệ chủ nghĩa Mác một cách cực đoan, cứng nhắc. Ph.Ăngghen từng nhấn mạnh: “Học thuyết của chúng tôi không phải là một giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động”(8). Ông không coi học thuyết Mác là một hệ thống đóng, một cái gì đó đã xong xuôi mà cần bổ sung, phát triển bằng thực tiễn sinh động. Điển hình là việc cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã bảy lần viết lại lời tựa cho tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Qua mỗi lần tái bản đã cho thấy Ph.Ăngghen luôn có ý thức bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác gắn với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi thời kỳ lịch sử.

Tinh thần bảo vệ học thuyết Mác của Ph.Ăngghen đã được các học trò của ông kế thừa, khiến chủ nghĩa Mác ngày càng phát triển. V.I.Lênin - người đã không ngừng bảo vệ, phát triển học thuyết Mác nhiều lần nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(9).

Chúng ta đang sống trong điều kiện rất khác so với thời của C.Mác và Ph.Ăngghen. Khoa học - công nghệ với những bước tiến nhảy vọt góp phần tạo ra lực lượng sản xuất mà xưa nay nhân loại chưa từng được chứng kiến. Tri thức xã hội phổ biến đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như C.Mác dự báo; năng suất lao động nhờ vậy tăng lên nhanh chóng. Nền kinh tế tri thức đã ra đời và đang vận hành hiệu quả ở nhiều nước phát triển. Quá trình quốc tế hóa mà vào thế kỷ XIX C.Mác nói đến đã thực sự trở thành quá trình toàn cầu hóa trong thời đại chúng ta. Ở các mức độ khác nhau, tất cả các nước đều bị cuốn hút hội nhập vào toàn cầu hóa, bởi vì nó đã “xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi”(10). Không ít kẻ vội cho rằng thực tiễn đã có nhiều thay đổi nên nhiều quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về lịch sử xã hội loài người đã không còn phù hợp nữa, cần phải được thay thế bằng một hệ thống lý luận khác. Điều này đặt ra yêu cầu quan trọng đối với chúng ta là một mặt tiếp tục khẳng định những chân giá trị của chủ nghĩa Mác, mặt khác, theo gương Ph.Ăngghen cần phải bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác bằng thực tiễn phong phú của thời đại ngày nay.