Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2025

TỈNH TÁO TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SỰ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG!

     Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ gìn và phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là tiền đề ánh sáng để Đảng thực hiện sứ mệnh soi đường dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, đó cũng là cơ sở bác bỏ hoàn toàn mọi ý đồ, mưu toan xuyên tạc, phủ nhận tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch!

1. Những năm qua, lợi dụng tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động cố tình bịa đặt, tung tin xuyên tạc sai sự thật về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng: “Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay chỉ còn là hình thức, là vỏ bọc bên ngoài”.

Nguy hiểm hơn, trước thềm đại hội đảng các cấp hay vào mỗi thời điểm có quyết định nhân sự quan trọng của Đảng, Nhà nước, họ lại tung tin thất thiệt, quy chụp nhận định không khách quan về đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng hòng gây tâm lý bất ổn, hoang mang trong xã hội. Họ rêu rao rằng, thực chất của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy chính trị ở Việt Nam là quá trình “đấu đá nội bộ”, “giành giật quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế giữa các phe phái”; còn việc miễn nhiệm, thôi chức của một số cán bộ lãnh đạo cấp cao chỉ là “bình phong” của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm che giấu những rạn nứt trong nội bộ Đảng.

Những luận điệu đó là bịa đặt với ý đồ chính trị hắc ám nhằm gây phân rã tư tưởng trong nội bộ Đảng cũng như gây sự hoài nghi, mâu thuẫn giữa Đảng với nhân dân, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

2. Quá trình ra đời, xây dựng, phát triển, trưởng thành của Đảng ta cũng như thực tiễn lãnh đạo cách mạng 95 năm qua đã chỉ ra, đoàn kết thống nhất là gốc rễ cội nguồn sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kế thừa các giá trị tốt đẹp của truyền thống đoàn kết dân tộc, quán triệt và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân vào xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng xây dựng và bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người khẳng định: Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Đoàn kết, thống nhất là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động quan trọng hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bất cứ một tổ chức nào, đoàn kết thống nhất đều là nền tảng, cội nguồn sức mạnh của tổ chức đó. Học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng đã chỉ rõ đoàn kết, thống nhất là một nguyên lý, nguyên tắc xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

Từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, lớn lên và trưởng thành trong dân tộc. Tập hợp trong hàng ngũ của Đảng là những người xuất thân từ nhiều thành phần, giai cấp và tầng lớp xã hội, trong đó chủ yếu là công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, nhưng tất cả đều có chung một lý tưởng, mục tiêu và lợi ích. Lý tưởng đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mục tiêu đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, ngoài ra Đảng ta không có lợi ích nào khác. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, dù tình hình phong trào cộng sản thế giới có sự biến động, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhưng Đảng ta vẫn kiên trì, kiên định giữ vững nguyên tắc đoàn kết thống nhất, coi đây là vấn đề sống còn của cách mạng, của chế độ; là cơ sở, nền tảng, là hạt nhân để đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và là điều kiện để đoàn kết toàn dân, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đảng ta luôn thấu suốt đoàn kết thống nhất là một nguyên tắc cơ bản có vị trí quan trọng hàng đầu trong tổ chức và hoạt động của Đảng; đồng thời, coi sự chia rẽ trong nội bộ Đảng là tội ác, là kẻ thù lớn nhất đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của Đảng.

3. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976) đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng ta nhiều lần khẳng định, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không phải “ngày một, ngày hai” mà đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, nhân dân cũng như bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền “tự soi, tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Đây cũng là cơ sở để giúp các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị xây dựng ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế cho thấy, dù phải xử lý kỷ luật một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, pháp luật, nhưng truyền thống và tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng ta vẫn luôn bảo đảm, giữ vững. Sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ” như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”.

Trên cơ sở ban hành Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”, Đảng đã có những điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy định về miễn nhiệm và từ chức. Quy định này góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng về vấn đề miễn nhiệm, từ chức thành các quy định cụ thể; đồng thời là cơ sở để thực hiện văn hóa ứng xử trong miễn nhiệm, từ chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phù hợp với mong muốn, kỳ vọng chính đáng của nhân dân.

Việc cho thôi chức đối với một số cán bộ lãnh đạo cấp cao thời gian qua là bước tiến rất lớn, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” trong công tác cán bộ được triển khai sâu rộng, đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương đến địa phương; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình “xây” kết hợp với “chống”, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, khi cán bộ có hạn chế, khuyết điểm và thấy năng lực công tác của mình không còn phù hợp với vị trí công tác đảm nhiệm thì cán bộ mạnh dạn, tự nguyện từ chức cũng là việc bình thường, hợp lý, hợp pháp, hợp lòng người. Chính vì vậy, những luận điệu xuyên tạc về vấn đề này hòng phủ nhận nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng càng chứng tỏ ý đồ hắc ám của những kẻ chống phá.

Trong bất luận hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn kiên trì, kiên định với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó đặc biệt là nguyên tắc đoàn kết thống nhất. Hiện nay, để thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng ta và tổ chức đảng các cấp luôn thấu suốt phương châm nhất quán là: “Tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Đó chính là một trong những cơ sở, động lực để góp phần thực hiện hiệu quả công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, qua đó tạo ra luồng sinh khí mới trong đời sống tinh thần xã hội để huy động, nhân lên sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Trải qua 95 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ gìn và phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là tiền đề ánh sáng để Đảng thực hiện sứ mệnh soi đường, dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, đó cũng là cơ sở bác bỏ hoàn toàn mọi ý đồ, mưu toan xuyên tạc, phủ nhận tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch./.
Yêu nước ST.

ĐỪNG VÌ BỨC XÚC...

- Thế này là nguy rồi! Nguy thật rồi!
Tiếng kêu thất thanh từ nhà chị Thoa cùng xóm vang lên giữa trưa hè. Tôi giật mình, vội vã chạy sang. Chị Thoa ngồi bệt giữa nền nhà, nước mắt lưng tròng, tay ôm chặt một hộp sữa bột. Anh Toán chồng chị thì luống cuống chưa hiểu chuyện gì.

- Sữa này... sữa anh Toán mua cho chị. Nó... nó là giả! Báo chí nói đây là hàng giả, độc hại! Trời ơi, chị uống cả tháng nay rồi. Ai biết được họ bỏ cái gì vào trong? Anh Toán thương chị hay đi trực đêm nên mua sữa tẩm bổ. Ai ngờ... ai ngờ...

Chị Thoa nấc lên từng tiếng. Tôi cầm hộp sữa lên ngó nghiêng, lấy điện thoại ra thử tìm hiểu. Quả thật, nhãn hiệu sữa chị Thoa dùng bị liệt vào danh sách những sản phẩm giả mạo.

- Vụ việc đã được phát giác. Các cơ quan chức năng đang phối hợp để làm rõ nguồn gốc, quy mô và mức độ vi phạm của tổ chức, cá nhân liên quan.

Nghe tôi đọc to một đoạn, chị Thoa bỗng đập tay xuống bàn, giọng đầy uất ức:

- Sao không bắt hết bọn chúng đi? Làm sữa giả, hại người, đáng ra phải tống tù cả lũ ngay lập tức! Hay là bọn chúng có quan hệ với chính quyền? Hay là các cơ quan lại đùn đẩy trách nhiệm, cuối cùng chẳng ai bị sao cả. Mấy hôm nay chị đọc đầy rẫy thông tin như vậy trên mạng xã hội, nhưng bán tín bán nghi. Giờ thành nạn nhân thì thấy có khi là thế...

- Mình cứ bình tĩnh. Giận quá mất khôn! - Anh Toán xoa dịu vợ.

- Em đồng ý với anh Toán. Không phải chuyện gì chị cũng tin mấy bài đăng trên mạng đâu. Quả thật vụ sữa giả bị phơi bày ra ánh sáng đã làm “dậy sóng” dư luận. Đó là hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Nhưng thay vì chung tay đấu tranh, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại coi sự việc này là “miếng mồi” béo bở để tạo tâm lý hoang mang trong dư luận và xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền. Với cái nhìn phiến diện, cảm tính, chúng rêu rao rằng việc phá án sữa giả là “ngẫu nhiên”; việc phân cấp quản lý giữa các bộ, ngành và địa phương còn mơ hồ, dẫn đến tình trạng các cấp đùn đẩy trách nhiệm cho nhau; chính quyền cố tình làm ngơ để dân hứng chịu; hay trong đội ngũ làm hàng giả có “người nhà” của cán bộ cấp cao nên cơ quan chức năng đang “chùn chân”, muốn “làm nguội” vụ này rồi chìm vào quên lãng...

- Thì em cứ thử đặt vào địa vị của chị xem có tránh được việc phải phán xét như thế không? - Chị Thoa trách ngược.

- Em hiểu, không chỉ chị mà nhiều người khác, nhất là khi đang bức xúc thì rất dễ bị “dắt mũi”. Song vụ việc vẫn đang được điều tra và xử lý theo đúng trình tự luật pháp, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt rồi. Những tổ chức, cá nhân sai phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh. Đảng ta rất quyết tâm và không có “vùng cấm” trong việc xử lý sai phạm. Rất nhiều vụ án lớn, trọng điểm thời gian qua là ví dụ rõ ràng đó chị!

Chị Thoa như thể tỉnh ra, gật đầu lia lịa:
- Chắc chị nghĩ quẩn. Mà đúng là mấy hôm nay chị lướt mạng thấy toàn tin tiêu cực như thế, xem nhiều cũng thấy hoang mang...

Trước khi ra về, tôi thấy chị Thoa đã bình tâm hơn hẳn. Trong cơn bức xúc, lo lắng, đôi khi chỉ cần một lời giải thích tỉnh táo là có thể giúp người khác không bị kích động, suy nghĩ sai lầm, suy diễn tiêu cực./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SAU CUỘC HỌP VỚI BỘ CÔNG THƯƠNG, LÃNH ĐẠO CỦA FPT, GAS, GVR, VIMC, TKV, PETROVIETNAM CÙNG HƠN 100 DOANH NGHIỆP BAY SANG MỸ!

     Trong đoàn công tác do Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn dẫn đầu, nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn như Petrovietnam, VIMC, TKV, VRG, GAS và FPT bày tỏ sự quan tâm, mong muốn đẩy mạnh hợp tác kinh tế và đầu tư với Mỹ.

Theo phóng viên TTXVN tại Mỹ, đoàn công tác do Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn dẫn đầu gồm hơn 130 thành viên, đại diện cho hơn 100 doanh nghiệp trong nhiều ngành, lĩnh vực, đã tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Đầu tư vào Mỹ lần thứ 11 năm 2025 (2025 SelectUSA Investment Summit) từ ngày 11–14/5, diễn ra tại National Harbor, tiểu bang Maryland.

Trong số các doanh nghiệp Việt Nam tham dự hội nghị có nhiều tên tuổi lớn, uy tín, đang quan tâm và mong muốn đẩy mạnh hợp tác kinh tế, đầu tư với Mỹ như: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG), Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS), Tập đoàn FPT...

Thứ trưởng Cao Anh Tuấn và đoàn công tác đã tham dự 2 phiên họp toàn thể. Tại phiên đầu tiên với chủ đề “Đổi mới và công nghiệp: Lợi thế của Mỹ trong thu hút đầu tư”, các doanh nghiệp đã được trao đổi trực tiếp với đại diện các cơ quan phát triển kinh tế bang/vùng của Mỹ về môi trường kinh doanh, lực lượng lao động, công nghệ, đổi mới sáng tạo và cơ hội hợp tác cấp địa phương.

Phiên toàn thể thứ hai tập trung vào chủ đề đầu tư vào sức cạnh tranh công nghệ của Mỹ, với sự tham gia của các thống đốc bang và nhiều cuộc thảo luận về trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ mới nổi, vai trò của công nghệ trong thu hút đầu tư nước ngoài và củng cố an ninh quốc gia. Các đại biểu đều đánh giá Mỹ là thị trường đầu tư tiềm năng hàng đầu.

Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN sáng ngày 12/5 (giờ địa phương), Thứ trưởng Cao Anh Tuấn khẳng định chuyến công tác thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tác đầu tư, thương mại song phương với Mỹ – đối tác chiến lược toàn diện và là nền kinh tế lớn nhất thế giới.

“Thông qua hội nghị này, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội hợp tác đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, chuyển đổi số, công nghiệp năng lượng, phát triển hạ tầng cảng biển, hàng không và công nghiệp chế biến – những ngành Mỹ có thế mạnh”, Thứ trưởng nói.

Ông Cao Anh Tuấn nhấn mạnh: “Việc tham dự Hội nghị không chỉ giúp doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư, mà còn thúc đẩy hợp tác thực chất hơn, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và đưa quan hệ song phương đi vào chiều sâu”.

Trước đó, ngày 7/5, Bộ trưởng Công Thương Nguyễn Hồng Diên, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ, đã làm việc với nhiều doanh nghiệp lớn như PVN, Petrolimex, EVN, TKV, Vietnam Airlines, Vietjet, Thaco Industry, Viettel, VNPT... về việc thúc đẩy các thỏa thuận thương mại với Mỹ.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đánh giá, Việt Nam hiện có nhu cầu mua sắm hàng hóa, trang thiết bị, dịch vụ từ Mỹ với số lượng lớn, giá trị cao và ổn định. Đây đều là những sản phẩm Mỹ có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu, theo Bộ trưởng.

Thực tế, những năm qua, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Việt Nam đã nhập khẩu rất nhiều sản phẩm từ Mỹ như máy bay, máy móc, trang thiết bị, turbine cho nhà máy điện khí, hệ thống truyền tải điện, chip GPU, nguyên liệu và nhiên liệu, trị giá lên tới nhiều tỷ USD.

Giữa tháng 3, trong khuôn khổ chuyến công tác của Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên - đặc phái viên của Thủ tướng tại Washington, nhiều thỏa thuận hợp tác trong kinh tế - thương mại giữa doanh nghiệp 2 nước đã được ký kết. Đây là những hợp tác quan trọng với tổng giá trị 4,15 tỷ USD, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phương, theo Bộ Công Thương.

Trước đó, hai bên cũng đã ký các hợp đồng khác trị giá 50,15 tỷ USD, tập trung vào mua sắm máy bay, dịch vụ hàng không, khai thác dầu khí, nhập khẩu các sản phẩm lọc hóa dầu. Các bên cũng đang đàm phán, dự kiến sẽ ký kết trong thời gian tới các hợp đồng và thỏa thuận trị giá khoảng 36 tỷ USD. Như vậy, tổng giá trị các thỏa thuận kinh tế - thương mại ký kết giữa các doanh nghiệp 2 nước, dự kiến triển khai từ năm 2025, vào khoảng 90,3 tỷ USD.

Tại cuộc họp, đại diện các tập đoàn cho biết, từ nay tới tháng 6, họ sẽ tăng cường gặp gỡ, làm việc với các đối tác Mỹ để hiện thực hóa các thỏa thuận và biên bản ghi nhớ đã ký kết./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CAO TỐC BẮC - NAM “VIN HAY TRUNG QUỐC KHÔNG QUAN TRỌNG, QUAN TRỌNG LÀ VIỆT NAM ĐƯỢC GÌ”!

     Chưa có một công trình hạ tầng nào trong lịch sử Việt Nam mang nhiều kỳ vọng và tranh cãi như đường sắt cao tốc Bắc - Nam. Quy hoạch từ đầu những năm 2000, từng bị Quốc hội bác bỏ năm 2010 vì chi phí quá lớn. Giấc mơ ấy từng bị gác lại vì… quá mơ mộng. Nhưng năm 2024, giấc mơ ấy đã được Quốc hội chính thức thông qua như một tuyên ngôn về “hạ tầng chiến lược”, mở đường cho đất nước bước vào một kỷ nguyên tăng trưởng mới!

ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC: CUỘC CÁCH MẠNG VỀ HẠ TẦNG VÀ THỂ CHẾ
Dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam là lát cắt để nhìn vào toàn bộ bức tranh về tư duy chiến lược của Việt Nam: ta muốn đi nhanh đến đâu, sẵn sàng thay đổi thể chế đến mức nào, và chấp nhận mạo hiểm bao nhiêu để đổi lấy cơ hội bứt phá?

Đây là siêu dự án được đặt trong tầm nhìn 2050, tổng vốn đầu tư hơn 67 tỷ USD - phần lớn được định hướng là vốn nhà nước. Nhưng lần đầu tiên xuất hiện một đề xuất táo bạo từ khối tư nhân: VinSpeed - pháp nhân chưa đầy một tháng tuổi - tuyên bố sẵn sàng tự đầu tư và vận hành tuyến đường sắt tốc độ cao, đưa dự án vào vận hành ngay trong thập kỷ này.

Cùng lúc đó, các tập đoàn Trung Quốc như CRCC hay CCECC cũng tích cực đề xuất hợp tác theo phương án EPC truyền thống: họ lo vốn, lo công nghệ, Việt Nam giao mặt bằng và chi trả dần theo tiến độ.

Hai luồng tư duy, hai hướng đi, hai tầm nhìn khác nhau. Nhưng cái cần bàn không phải là "Vin hay Trung Quốc", mà là: quyền tự chủ quốc gia nằm ở đâu trong mỗi phương án?

TRUNG QUỐC: MẠNH VỀ VỐN, NHƯNG KÈM THEO CÁI GIÁ THỂ CHẾ
Không ai phủ nhận Trung Quốc là một trong ba quốc gia có công nghệ đường sắt cao tốc hàng đầu thế giới - sau Nhật Bản và Đức. Với mạng lưới hơn 40.000 km đường sắt cao tốc, Trung Quốc có thừa kinh nghiệm thiết kế, thi công, vận hành và... đàm phán.

Các tập đoàn Trung Quốc đang chủ động đề xuất phương án “gói thầu trọn gói”: từ tài chính, thiết kế kỹ thuật, thi công, cho đến cung cấp đầu máy – toa xe. Nghe thì thuận lợi, nhưng rủi ro nằm ở chỗ chúng ta không kiểm soát được công nghệ, không làm chủ chuỗi cung ứng, không có được hệ sinh thái công nghiệp đi kèm. Và đó là điều mà Việt Nam không thể tiếp tục lặp lại.

Kinh nghiệm từ đường sắt Cát Linh - Hà Đông hay các dự án EPC khác trong lĩnh vực điện, xi măng, hóa chất... cho thấy: công nghệ Trung Quốc thường đi kèm với độ trễ, độ lệch và độ mù. Nghĩa là chậm tiến độ, đội vốn và phụ thuộc vào đối tác nước ngoài trong vận hành, bảo trì.

Nhưng dứt khoát không thể quy chụp – bởi hiện nay các doanh nghiệp Trung Quốc cũng đang thay đổi. Trong đề xuất với Việt Nam, họ sẵn sàng chấp nhận chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và chia sẻ một phần sản xuất trong nước. Tuy nhiên, chuyển giao đến đâu, có ràng buộc pháp lý không, có đo lường được hiệu quả không - đó vẫn là dấu hỏi lớn.

Và quan trọng hơn, đằng sau mỗi gói thầu vốn rẻ là những điều kiện ràng buộc về tiêu chuẩn, công nghệ, nhà thầu phụ, và thậm chí là chính sách thương mại. Một khi chấp nhận đầu tư vốn vay nước ngoài, ta không chỉ vay tiền - mà vay cả rủi ro thể chế.

✅ VIN: DẤN THÂN VÌ MỤC TIÊU DÀI HƠI, NHƯNG CŨNG ĐẦY RỦI RO

VinSpeed - dù mới thành lập - đã đề xuất phương án táo bạo: vận hành toàn tuyến vào năm 2030 - sớm hơn mốc 2050 trong đề án quốc gia đến 20 năm, hoàn vốn toàn dự án trong 69 năm, cam kết vay lại vốn từ Nhà nước và chủ động chịu rủi ro thương mại. Đề xuất vay 80% vốn không tính lãi trong 35 năm là chưa từng có tiền lệ - nhưng lại đi kèm một logic tài chính tương đối rõ ràng: Nhà nước không bỏ vốn đầu tư, không chịu trách nhiệm vận hành, không bị áp lực bảo trì - nhưng vẫn sở hữu hạ tầng.

Chưa nói về kinh nghiệm, rủi ro của Vin không nằm ở câu chuyện “tay không bắt giặc” - mà nằm ở chỗ: liệu có thể bảo đảm minh bạch trong thẩm định dự án, kiểm soát chất lượng xây dựng, và quản lý các lợi ích về đất đai xung quanh các nhà ga? Bởi khi một doanh nghiệp làm chủ đầu tư, đồng thời cũng là nhà phát triển bất động sản xung quanh các trục ga, câu hỏi đặt ra là: quyền lực quy hoạch có bị chi phối bởi lợi ích nhóm?

Nhưng mặt khác, đề xuất của VinSpeed cũng là thước đo để Nhà nước đánh giá chính mình. Nếu Nhà nước không dám giao quyền, không dám thử nghiệm thể chế đầu tư mới - thì sao đòi hỏi doanh nghiệp tư nhân dấn thân? Quan trọng hơn, nếu Vin làm được - thì đó là lúc Việt Nam có thể sản xuất đầu máy, ray tàu, hệ thống tín hiệu ngay trong nước. Đó mới là cốt lõi: tạo ra nền công nghiệp đường sắt nội sinh - điều mà các phương án EPC ngoại quốc chưa từng làm được.

✅ QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM: KHÔNG CHỌN AI, CHỌN CÁI CÓ LỢI NHẤT

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã khẳng định: Việt Nam hoan nghênh tất cả các nhà đầu tư, bất kể là Trung Quốc, Nhật Bản, Đức hay doanh nghiệp tư nhân trong nước. Điều kiện duy nhất là: phải đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế, chất lượng công trình, giá thành hợp lý và đặc biệt là chuyển giao công nghệ.

Đường sắt cao tốc không phải là bài toán của riêng một chính quyền hay một nhiệm kỳ, mà là sự lựa chọn chiến lược cho 30 - 50 năm tới. Vì thế, phải chọn phương án nào đảm bảo được ba tiêu chí:
- Làm chủ công nghệ và vận hành độc lập;
- Tối ưu hóa chi phí đầu tư - vận hành;
- Tạo được hệ sinh thái công nghiệp trong nước.

Không phải “Vin có làm nổi không” hay “Trung Quốc có đáng tin không” – mà là: ai đem lại khả năng làm chủ công nghệ, ai tạo ra chuỗi giá trị cho Việt Nam nhiều hơn? Đó mới là câu hỏi cốt lõi.

Nghị quyết 57-NQ/TW yêu cầu phải đột phá về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là động lực then chốt. Đường sắt cao tốc Bắc - Nam là phép thử của hai nghị quyết đó. 

Chọn Vin hay chọn Trung Quốc không quan trọng. Quan trọng là phương án nào giúp Việt Nam thoát khỏi lệ thuộc công nghệ, hình thành năng lực tự chủ và tạo ra ngành công nghiệp đường sắt thật sự - chứ không phải một công trình mang tính biểu tượng. Chúng ta không cần một "kỳ quan kỹ thuật" để ngắm. Chúng ta cần một "nền công nghiệp quốc gia" để sống cùng./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỸ ÁP THUẾ MỚI VỚI 150 QUỐC GIA "VIỆT NAM KHÔNG BẤT NGỜ"!

     Tổng thống Donald Trump lại tiếp tục đi lệch khi tuyên bố chấm dứt đàm phán song phương, thay vào đó sẽ đơn phương áp thuế nhập khẩu mới cho khoảng 150 quốc gia. Tại diễn đàn doanh nghiệp ở Ả-rập Xê-út, ông Trump khẳng định "không thể gặp từng quốc gia" và sẽ thông báo mức thuế mới trong "hai đến ba tuần tới".

Đây là bước ngoặt lớn so với tuyên bố ban đầu của chính quyền Trump về việc đàm phán riêng lẻ với từng đối tác. Theo đó, Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent và Bộ trưởng Thương mại Howard Lutnick sẽ gửi thông báo về mức thuế cụ thể mà từng nước phải áp dụng khi giao thương với Mỹ, thay vì đối thoại để đi đến thỏa thuận chung.

Giữa bối cảnh này, Việt Nam đang thể hiện chiến lược đối ngoại kinh tế song song trên hai hướng rõ rệt. 

Một mặt, chính phủ vẫn tích cực thúc đẩy quan hệ với Mỹ qua chuỗi hoạt động liên tiếp. Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp đại diện Đại sứ quán Hoa Kỳ và Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham), khẳng định Việt Nam luôn coi trọng môi trường đầu tư minh bạch, công bằng và cam kết hỗ trợ doanh nghiệp Mỹ mở rộng hoạt động. 

Cùng thời điểm, tại Mỹ, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn dẫn đầu đoàn hơn 130 đại biểu – đại diện cho hơn 100 doanh nghiệp Việt Nam như PVN, TKV, VIMC, FPT, VRG… tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Đầu tư vào Mỹ 2025 (SelectUSA) tại Maryland.

Hai sự kiện đối ứng này diễn ra đúng lúc Việt – Mỹ đang bước vào vòng đàm phán đầu tiên về thuế quan (từ 7/5), nhằm hiện thực hóa tuyên bố đối tác chiến lược toàn diện. 

Mặt khác, Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và đối tác đầu tư. 

Chuyến công du 4 nước Á-Âu của Tổng Bí thư Tô Lâm mở ra cơ hội hợp tác mới tại Trung Á, nơi có những quốc gia đang định vị lại vị thế của mình. Song song đó việc nâng cấp quan hệ với Thái Lan lên đối tác chiến lược toàn diện tăng cường liên kết trong ASEAN, cùng nhiều thỏa thuận thương mại với các đối tác đa dạng từ Trung Đông đến châu Á.

Theo các chuyên gia kinh tế, chiến lược "nhiều giỏ trứng" này cho thấy sự chuẩn bị kỹ lưỡng của Việt Nam trước mọi kịch bản, kể cả trường hợp xấu nhất về thuế quan từ phía Mỹ. 

Với lợi thế từ mạng lưới hiệp định thương mại tự do đã ký kết và các cơ chế hợp tác đa phương đang tham gia, Việt Nam có đủ "bệ đỡ" để không bị động và bất ngờ trước các biến động chính sách thương mại toàn cầu, đặc biệt là từ chính quyền TT Trump./.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TIẾP THỦ TƯỚNG THÁI LAN!

     Chiều 16-5, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã tiếp Thủ tướng Thái Lan Paetongtarn Shinawatra nhân dịp thăm chính thức Việt Nam và đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ tư nội các chung Việt Nam-Thái Lan.

Tổng Bí thư Tô Lâm hoan nghênh và đánh giá cao ý nghĩa quan trọng của chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh quan hệ hợp tác giữa hai nước đang rất tốt đẹp, chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; bày tỏ tin tưởng chuyến thăm sẽ mở ra một giai đoạn hợp tác mới giữa hai nước, ngày càng phát triển sâu rộng và hiệu quả hơn. Tổng Bí thư Tô Lâm cảm ơn Thái Lan đã luôn đồng hành, hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam từ khi bắt đầu hội nhập khu vực, quốc tế, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan làm ăn, sinh sống và học tập tại Thái Lan.

Thủ tướng Paetongtarn Shinawatra bày tỏ vui mừng lần đầu tiên sang thăm Việt Nam trên cương vị Thủ tướng Thái Lan; khẳng định luôn trân trọng mối quan hệ hữu nghị gần gũi và hợp tác tốt đẹp giữa hai nước cũng như giữa lãnh đạo hai nước. Thủ tướng Paetongtarn Shinawatra thông báo với Tổng Bí thư Tô Lâm về kết quả Kỳ họp lần thứ tư nội các chung Việt Nam-Thái Lan và các cuộc gặp với lãnh đạo cấp cao Việt Nam, đặc biệt là việc hai bên đã ra Tuyên bố chung nâng cấp quan hệ Việt Nam-Thái Lan lên Đối tác Chiến lược toàn diện; cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan của Thái Lan phối hợp chặt chẽ với phía Việt Nam để triển khai các định hướng hợp tác lớn, quan trọng mà hai bên đã thống nhất.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt với Thái Lan-nước láng giềng gần gũi, có quan hệ lâu đời, đồng thời là đối tác thương mại và đầu tư quan trọng hàng đầu của Việt Nam; nhấn mạnh việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện là sự kiện lịch sử, mở ra chương mới trong quan hệ hai nước, đáp ứng các yêu cầu phát triển của hai nước trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Thủ tướng Thái Lan
Quang cảnh cuộc tiếp. Ảnh: PHẠM HƯNG 
Tại cuộc tiếp, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh một số trọng tâm cho hợp tác Việt Nam-Thái Lan thời gian tới. Theo đó, đề nghị hai bên tiếp tục củng cố tin cậy chính trị thông qua thúc đẩy hợp tác trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước và giao lưu nhân dân, thường xuyên trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao và các cấp; duy trì hiệu quả cơ chế họp nội các chung và các cơ chế hợp tác song phương hiện có giữa hai nước cũng như nghiên cứu nâng các cơ chế hợp tác lên cấp cao hơn và thiết lập các cơ chế hợp tác mới; tăng cường kết nối hai nền kinh tế, coi đây là trụ cột quan trọng của hợp tác song phương; đẩy mạnh triển khai chiến lược “Ba kết nối”, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế xanh, kinh tế số và đổi mới sáng tạo cũng như khuyến khích các nhà đầu tư làm ăn kinh doanh tại mỗi nước; củng cố hợp tác quốc phòng, an ninh, phòng, chống tội phạm, thúc đẩy đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác, cam kết không cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào sử dụng lãnh thổ của nhau để chống lại nước khác, vì ổn định, phát triển của mỗi nước, góp phần duy trì hòa bình, ổn định chung của cả khu vực và thế giới. Trên cơ sở hai nước chia sẻ nhiều quan điểm, lợi ích tương đồng trong số nhiều vấn đề khu vực, quốc tế, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị hai nước tiếp tục tăng cường phối hợp chặt chẽ tại các cơ chế đa phương khu vực và trong các khuôn khổ hợp tác Mê Công, nhằm góp phần xây dựng ASEAN đoàn kết, thống nhất, đóng vai trò trung tâm trong khu vực.

Thủ tướng Paetongtarn Shinawatra trân trọng cảm ơn và bày tỏ nhất trí cao với các đề xuất của Tổng Bí thư Tô Lâm về định hướng lớn cho quan hệ hai nước thời gian tới; khẳng định Thái Lan tích cực phối hợp với Việt Nam nhằm cụ thể hóa khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, phòng, chống tội phạm, phối hợp lập trường trong các vấn đề khu vực, quốc tế... 
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Thái Lan Paetongtarn Shinawatra.
Môi trường ST.

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRAO CÔNG HÀM PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC ÁP ĐẶT LỆNH CẤM ĐÁNH BẮT CÁ TRÊN BIỂN ĐÔNG!

 Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển của Việt Nam.

Chiều 15/5, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến việc Trung Quốc mới đây đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, Người phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ:

Lập trường của Việt Nam về lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc ở Biển Đông là nhất quán và đã được khẳng định nhiều lần. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển của Việt Nam được xác lập phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), tôn trọng quyền của các ngư dân Việt Nam hoạt động hợp pháp trong các vùng biển của Việt Nam và các vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế và đặc biệt là UNCLOS 1982; không có các hành động làm phức tạp tình hình, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, trật tự trên biển dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Bộ Ngoại giao đã giao thiệp với Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và cũng đã trao công hàm phản đối lệnh cấm đánh bắt cá nói trên.

Cũng tại họp báo, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến việc Trung Quốc và Campuchia triển khai cuộc tập trận chung thường niên mang tên Rồng Vàng 2025, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: "Chúng tôi cho rằng hợp tác giữa các quốc gia cần đóng góp tích cực cho hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng của khu vực cũng như trên thế giới, phù hợp với thông lệ quốc tế và trên cơ sở luật pháp quốc tế và các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc"./.
Khuyết danh ST.

Nhận thức đúng về diễu binh, diễu hành

 

Những giá trị vô hình và hữu hình mà diễu binh, diễu hành mang lại rất lớn. Nó khơi dậy niềm tự hào, tạo động lực to lớn cho toàn dân tộc tiếp tục phấn đấu, vươn lên; là biểu tượng, tăng cường tinh thần đại đoàn kết, yêu nước...

Chiều cuối tuần, Đĩnh và Tính ngồi quán trà đá chờ mọi người ra sân bóng đá. Chợt Đĩnh reo lên:

- Ôi, xem tập diễu binh, diễu hành đẹp quá cậu ạ! Ước gì mình được vào TP Hồ Chí Minh để xem trực tiếp.      

Đĩnh giơ điện thoại cho Tính xem, nhưng Tính bảo:

- Ừ, đẹp thì đẹp thật, nhưng tớ không thích mấy vì thấy cũng tốn kém và không cần thiết.

- Cậu nói gì vậy? Đây là dịp trọng đại của dân tộc, nhân dân rất tự hào, chờ đón... 

- Nhưng không phải tất cả đều thích thú như cậu. Trên mạng cũng có một số ý kiến bảo rằng: Diễu binh, diễu hành tốn hàng tỷ đồng, chi bằng giúp dân nghèo...

- Trời, cậu mà cũng nghĩ như thế à? Đúng là cậu chẳng hiểu gì, suy nghĩ nông cạn...

- Cậu bảo ai nông cạn? Tớ còn học và làm việc giỏi hơn cậu nhé!

Tính đỏ mặt tía tai, vừa nói vừa đập tay xuống mặt bàn làm đổ cả cốc nước. Đúng lúc này, ông chủ quán liền lên tiếng:

- Hai cháu bình tĩnh nào! Ông là cựu chiến binh trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghe hai cháu nói chuyện, ông xin có ý kiến nhé!

Sau khi cả Đĩnh và Tính đều trả lời "vâng ạ", ông chủ quán nhẹ nhàng nói:

- Như các cháu đã biết, không riêng dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mà nhiều sự kiện trọng đại khác như kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ hay kỷ niệm 60, 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, nước ta cũng tổ chức diễu binh, diễu hành. Song, vào những dịp này, các đối tượng thù địch, bất mãn đều rêu rao xuyên tạc, chống phá với luận điệu: Diễu binh, diễu hành là một kiểu phô trương, hình thức, tốn kém không cần thiết; sao không dành tiền đó để chăm lo cho nhân dân? v.v.. Nhưng đâu phải chỉ nước ta mới tổ chức diễu binh, diễu hành mà nhiều nước trên thế giới còn tổ chức duyệt binh với quy mô lớn hơn trong những ngày trọng đại của đất nước họ.

Ví dụ như nước Nga thường xuyên duyệt binh, diễu binh kỷ niệm Ngày Chiến thắng 9-5; Trung Quốc tổ chức duyệt binh kỷ niệm những năm tròn thành lập nước; Pháp, Mỹ cũng phô diễn sức mạnh quân sự mừng quốc khánh... Mặt khác, bên cạnh hoạt động diễu binh, diễu hành, Đảng, Nhà nước ta và các bộ, ngành, cơ quan, địa phương tổ chức rất nhiều hoạt động tri ân, thiết thực chăm lo người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách, người nghèo. Các cháu xem ti vi, nghe đài, đọc báo sẽ thấy, hầu như ngày nào cũng có các hoạt động tri ân, chăm lo người có công, đối tượng chính sách... Nhà nước đã dành rất nhiều nguồn lực để thực hiện công tác này, phải không nào?

Thấy hai bạn trẻ gật đầu, nhất là gương mặt Tính đã có vẻ biết lỗi, ông chủ quán nước tiếp lời:   

- Chuyện diễu binh, diễu hành tốn kém thì cũng không phải như các đối tượng phản động xuyên tạc, thổi phồng. Ngân sách cho lễ kỷ niệm nói chung và diễu binh, diễu hành nói riêng đã được Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp với khả năng. Nhiều hoạt động thực ra là tận dụng nguồn lực sẵn có, như lực lượng Quân đội, Công an. Xe cộ, máy bay, trang thiết bị cũng nằm trong kế hoạch khai thác, huấn luyện nên chi phí tăng thêm không lớn. Đây cũng chính là dịp để huấn luyện, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ và thử nghiệm phương tiện, thiết bị. Đặc biệt, những giá trị vô hình và hữu hình mà diễu binh, diễu hành mang lại rất lớn. Nó khơi dậy niềm tự hào, tạo động lực to lớn cho toàn dân tộc tiếp tục phấn đấu, vươn lên; là biểu tượng, tăng cường tinh thần đại đoàn kết, yêu nước; rồi nâng tầm vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế; góp phần thúc đẩy du lịch, hợp tác kinh tế... Còn rất nhiều lợi ích khác nữa mà ông chưa kể hết, phải không hai cháu?

Nghe người cựu chiến binh phân tích, Tính hiểu ra và vỗ vai Đĩnh, bảo: "Tớ xin lỗi cậu".

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN!

     Coi trọng kinh tế tư nhân là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta và dần dần được hoàn thiện qua các kỳ đại hội. Quan điểm “Phát triển kinh tế tư nhân-đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” được ra đời trên cơ sở kế thừa, phát triển sáng tạo tư duy, nhận thức của Đảng, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân như là một trong những giải pháp đột phá, tạo cú huých cho kỷ nguyên vươn mình, phát triển thịnh vượng của dân tộc.

Ngay sau khi đăng tải, bài viết “Phát triển kinh tế tư nhân-đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” của Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhanh chóng nhận được sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng và lan tỏa mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp cùng đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là một quan điểm sáng suốt của Đảng ta-nhất là trong giai đoạn cần những giải pháp đột phá tạo cú huých cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tuy nhiên, với dã tâm chống phá Việt Nam, các đối tượng chống phá thù địch, thiếu thiện chí đã lập tức đưa ra những luận điệu phủ nhận, bóp méo, xuyên tạc vấn đề này.

Trên nhiều diễn đàn mạng, các thế lực thù địch ra sức rêu rao Đảng ta đưa ra quan điểm này là “bất nhất”, mâu thuẫn với quan điểm của các thời kỳ trước; công kích Việt Nam có dấu hiệu “đổi mầu” trong chính sách phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa (TBCN); Việt Nam sắp “tư nhân hóa nền kinh tế quốc dân”…

Có thể thấy, đây vẫn chỉ là chiêu bài “bình mới, rượu cũ” của các đối tượng chống phá. Mỗi khi đất nước có sự kiện quan trọng, có những chính sách mới, hay tư tưởng đột phá thì chúng lại dùng luận điệu xuyên tạc, bóp méo để phủ nhận giá trị của những tư tưởng, quan điểm hay chính sách đó, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực. Mục đích chúng hướng tới là nhằm phủ nhận vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta và tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Điều nực cười là khi kinh tế tư nhân ở Việt Nam chưa có nhiều khởi sắc, các thế lực thù địch đổ lỗi do sự “trói buộc”, “rào cản” về thể chế, chính sách… Nhưng khi Đảng ta đưa ra quan điểm coi “kinh tế tư nhân làm động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế” thì chúng cho rằng đó là nhận thức quá chậm chạp và Việt Nam phải mất tới “50 năm mới nhận ra điều đó”.

Còn hiện nay, khi đất nước ta tập trung ưu tiên mũi nhọn vào phát triển kinh tế tư nhân với tư cách là “đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” thì chúng lại rêu rao là Việt Nam “bất nhất”, có dấu hiệu “đổi mầu”, “chệch hướng” theo hướng TBCN!

Cần khẳng định rằng quan điểm coi “Phát triển kinh tế tư nhân-đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” ra đời dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn vững vàng. Trên phương diện lý luận, quan điểm này được dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vị trí, vai trò của kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, của kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Từ thực tiễn xây dựng CNXH ở Liên Xô, V.I.Lênin đã chỉ rõ, để xây dựng CNXH tất yếu phải kế thừa những thành quả của nhân loại trong đó có kinh tế thị trường; tất yếu phải thực hiện sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; phải có nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu cùng tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ. Cho nên, ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân với tư cách là một khu vực kinh tế có nhiều thế mạnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một chủ trương đúng đắn, hợp quy luật, vận dụng sâu sắc quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ.

Phát triển kinh tế tư nhân không phải là “tư nhân hóa nền kinh tế quốc dân”, mà là “khơi thông mọi nguồn lực”, phát huy tối đa nguồn lực lớn nhất của đất nước, bởi nguồn lực của kinh tế tư nhân không phải chỉ ở các doanh nghiệp, mà còn nằm ở chính trong nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng, một nền kinh tế cường thịnh không thể chỉ dựa vào khu vực kinh tế nhà nước hay kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, mà phải dựa vào nội lực là khu vực tư nhân vững mạnh, và nền kinh tế quốc gia chỉ thật sự cường thịnh khi toàn dân tham gia lao động tạo ra của cải vật chất, một xã hội mà người người, nhà nhà, ai cũng hăng say lao động.

Quan điểm này thấm đượm tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp nội lực với ngoại lực, khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của từng thành phần kinh tế, dựa vào sức mạnh của nhân dân để làm cuộc cách mạng đột phá đưa đất nước phát triển thịnh vượng.

Mặt khác, quan điểm “Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” cũng chính là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư duy, nhận thức về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường của Đảng ta trong suốt chặng đường đổi mới. Đây không phải là luận điệu “bất nhất” như các thế lực thù địch, phản động đã xuyên tạc, cũng không hề mâu thuẫn với nhận thức của Đảng trong các giai đoạn trước, mà hoàn toàn thống nhất với đường lối phát triển đất nước theo con đường XHCN do dân tộc ta đã lựa chọn.

Phải thẳng thắn thừa nhận, đã có thời kỳ chúng ta chưa đánh giá đúng vai trò của kinh tế tư nhân. Nhưng trải qua các giai đoạn cách mạng với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta đã có sự phát triển và hoàn thiện nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường trong đó có kinh tế tư nhân. Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có chủ trương nhất quán là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế tư nhân là bộ phận quan trọng của nền kinh tế.

Ngay từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong các thành phần kinh tế. Đến Đại hội VII (1991), Đảng ta có quan điểm rõ ràng hơn, coi kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng phát triển và đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước. Đại hội VIII (1996) của Đảng tiếp tục khẳng định việc kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước, cần đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài.

Đại hội IX (2001) của Đảng có bước phát triển nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư bản tư nhân, khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài. Đại hội X (2006) Đảng ta khẳng định kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã thông qua quy định về đảng viên làm kinh tế tư nhân, thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng nhằm huy động, phát huy tiềm năng trong nhân dân, trong đó có đội ngũ đảng viên để phát triển kinh tế-xã hội.

Tiếp đến Đại hội XI, XII, XIII, nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân được phát triển lên một bước, từ chỗ coi kinh tế tư nhân là “một trong những động lực của nền kinh tế” đến chỗ coi kinh tế tư nhân “một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế” và tiến tới coi kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng nhất” trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân được hiện thực hóa thông qua hàng loạt các nghị quyết (tiêu biểu là Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN); hay trong Hiến pháp 2013, trong các bộ luật như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ… Những căn cứ pháp lý này đã làm cho nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực hơn; đồng thời tạo ra khung khổ pháp lý cho kinh tế tư nhân được tự do cạnh tranh, được pháp luật bảo hộ và bình đẳng với kinh tế nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; nhiều rào cản, thủ tục pháp lý cũng dần được tháo gỡ.

Thực tiễn cho thấy, những kết quả mà kinh tế tư nhân đạt được đã chứng minh vai trò, vị trí “đòn bẩy” quan trọng của nền kinh tế. Chính trên cơ sở sự thay đổi, phát triển nhận thức đúng đắn, kịp thời về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân với những cơ chế, chính sách kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tạo những điều kiện, tiền đề để kinh tế tư nhân phát triển, không ngừng lớn mạnh và trở thành một trong những nhân tố quan trọng cho sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế.

Trong hai thập kỷ trở lại đây, khu vực kinh tế tư nhân trỗi dậy mạnh mẽ, với gần một triệu doanh nghiệp, năm triệu hộ kinh doanh cá thể, đóng góp 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội.

Khu vực kinh tế tư nhân trở thành một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ làm chủ thị trường trong nước mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế. Với tiềm năng và thực lực đó, kinh tế tư nhân được đánh giá là khu vực kinh tế năng động nhất của nền kinh tế đất nước hiện nay. Tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân cũng là tạo động lực để thúc đẩy sự phát triển bứt phá của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình./.
Môi trường ST.

Vững vàng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận

 

Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự Bộ Quốc phòng (nay là Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự, Học viện Chính trị) là tổ chức nghiên cứu khoa học đa ngành của Quân đội, được thành lập ngày 29-4-1999. Trải qua 26 năm xây dựng, phát triển, Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự luôn vững vàng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Với chức năng “Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng những kiến thức xã hội nhân văn vào lĩnh vực quân sự, góp phần phục vụ sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và Học viện Chính trị”, ngay trong những năm đầu thành lập, hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận đã được Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự (KHXH-NVQS) đẩy mạnh.

Khi chưa có điều kiện thực hiện các đề tài, biên soạn sách chuyên sâu, Viện đã động viên cán bộ nghiên cứu tích cực viết bài đăng trên các báo và tạp chí, nhằm đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.

Năm 2005, Viện đã triển khai nghiên cứu biên soạn bộ sách phòng, chống “diễn biến hòa bình” gồm 5 cuốn, gồm: “Diễn biến hòa bình” và đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”; “Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam”; “Bình đẳng và đoàn kết dân tộc để ổn định và phát triển”; “Nhân quyền và quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nhân quyền” ; “Dân chủ ở Việt Nam - dân chủ của dân, do dân, vì dân”. Bộ sách đã gây được tiếng vang lớn trong đời sống chính trị của Quân đội và xã hội, được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đánh giá cao. Bộ sách này đã được tái bản với số lượng lớn, phát hành rộng rãi trong Quân đội và xã hội.

Từ năm 2016 đến nay, Viện đã triển khai thực hiện nhiều chương trình lớn về đấu tranh tư tưởng, lý luận, đồng thời chủ trì, tham gia nghiên cứu thành công nhiều đề tài các cấp, góp phần phát triển lý luận đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong Quân đội nhân dân Việt Nam, được các Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao. Viện cũng là một trong những đơn vị đi đầu trong tham mưu, tổ chức thực hiện đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng; sử dụng ứng dụng mạng xã hội (Youtube, Facebook...) đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch; định hướng, giúp đỡ nhân rộng ra nhiều cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

 

Hiện nay, bên cạnh những thời cơ lớn, Viện KHXH-NVQS phải đối diện với những thách thức không nhỏ trong hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống tạo ra những diễn biến phức tạp trong đời sống tư tưởng của xã hội và Quân đội. Sự giao thoa văn hóa, kinh tế và chính trị làm nảy sinh những quan điểm khác biệt, thậm chí đối lập với hệ tư tưởng truyền thống. Thông tin xuyên biên giới lan tỏa nhanh chóng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về khả năng nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái, thù địch một cách sắc bén và kịp thời.  

Sự chủ động nắm bắt tình hình, phân tích sâu sắc các vấn đề thời đại và trang bị vũ khí lý luận sắc bén là yếu tố then chốt để giành thắng lợi trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ nghiên cứu của Viện phải có khả năng nghiên cứu, phân tích sâu sắc, dự báo các xu hướng tư tưởng có thể nảy sinh và đề xuất các biện pháp phòng ngừa, ứng phó kịp thời.

 

Sự phát triển của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với nhiều thành tựu vượt bậc, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, đã tạo ra một không gian mạng rộng lớn, trở thành một mặt trận tư tưởng, lý luận mới, chứa đựng nhiều thách thức.

Các thế lực thù địch tận dụng triệt để không gian này để lan truyền thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, gây suy giảm niềm tin của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng nhiều chiêu trò tinh vi, xảo quyệt, đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận lịch sử và thành tựu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới. Internet, mạng xã hội trở thành công cụ chủ yếu để lan truyền thông tin sai lệch, gây nhiễu loạn dư luận, tạo dựng các “điểm nóng” chính trị - xã hội. Bên cạnh đó, chúng lợi dụng các vấn đề nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Trong bối cảnh đầy thách thức đó, để hoàn thành xuất sắc vai trò, sứ mệnh được giao, Viện KHXH-NVQS quyết tâm triển khai thực hiện tốt nhiều giải pháp mang tính chiến lược, đẩy mạnh công tác nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, tập trung vào các vấn đề lý luận mới. Đặc biệt là đi sâu nghiên cứu các xu hướng tư tưởng mới, dự báo những tác động đến cán bộ, chiến sĩ, từ đó đề xuất các giải pháp ứng phó hiệu quả. 

Trong kỷ nguyên mới đầy biến động và thách thức, công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.

Với vai trò là một trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu của Quân đội, bằng việc triển khai hiệu quả các giải pháp đồng bộ, Viện KHXH-NVQS tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, chủ động, sáng tạo trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận, góp phần vào sự phát triển bền vững của Quân đội và đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.

Bài học cho những kẻ ảo tưởng

 

Sau 50 năm Bắc-Nam sum họp một nhà, Tổ quốc thống nhất và nền hòa bình cùng sự ổn định chính trị đã đưa Việt Nam đến vị thế mới rất vững chắc trong thế giới hiện đại đầy biến động.

Kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bên cạnh bản hùng ca chiến thắng ngân vang, bài học về tinh thần độc lập, tự chủ lại hiện về, nóng hổi và đầy ắp tính thời sự trong thế giới phẳng hôm nay. 

Lâu nay, nền độc lập, tự chủ và tự do vững chắc mà Việt Nam xây bằng máu xương bao thế hệ vốn là niềm mong ước, khát vọng của nhiều dân tộc trên thế giới đang luẩn quẩn ở vũng lầy xung đột và chiến tranh lại bị một số kẻ phê phán, “tạt a xít”. Chúng không chấp nhận sự thật: Việt Nam ổn định, phát triển cường thịnh.

 

Bất chấp con đường hợp đạo lý, hợp lòng người, hợp xu thế thời đại và tương lai tươi sáng đang rộng mở của dân tộc, chúng định hướng, lôi kéo những kẻ bất mãn, phản động đòi phá bỏ những thành tựu ấy để xây dựng một thể chế chính trị mới với cái gọi là “tự do” và “dân chủ” tuyệt đối mà chúng hằng tôn thờ. Hình như bài học lịch sử chưa đủ mạnh để chúng tỉnh ngộ, bớt ảo tưởng.

***

Đầu năm 1975, sau khi Phước Long thất thủ, cho dù “mũi dao bén ngọt” của Quân giải phóng đã chọc vào cạnh sườn nhưng Nguyễn Văn Thiệu vẫn luôn lạc quan với lời hứa chắc như đinh đóng cột từ năm 1973 của Tổng thống Nixon: “Nếu Bắc Việt vi phạm, Mỹ sẽ đáp trả”. Viễn cảnh mà Thiệu mơ tưởng là quan thầy Mỹ sẽ đưa quân và chi viện hỏa lực đường không, đường biển hoặc chí ít là viện trợ ngân sách hơn 2,1 tỷ USD để Thiệu có thể giữ vững cái gọi là nền cộng hòa vốn cho Thiệu và gia đình cùng đội ngũ tướng lĩnh những “hoa thơm trái ngọt” béo bở.

Theo những tài liệu đã được Nhà trắng giải mã những năm gần đây, sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, Thiệu đã đưa ra một quyết định mà không tham vấn bất cứ nhân vật hoặc cơ quan nào của quan thầy Mỹ: Bỏ Cao nguyên Trung phần về giữ các tỉnh ven biển miền Trung từ Huế trở vào Nam. Bởi Thiệu luôn tin và nuôi ảo tưởng, dù viện trợ quân sự bị cắt giảm nghiêm trọng xuống còn hơn 700 triệu USD thì Thiệu vẫn đủ lực để giữ những phần đất "ngon" nhất. Thiệu tin, với đội quân trung thành, hùng mạnh trong tay vẫn có thể giữ được những vùng quan trọng để “chờ cơ hội”.

Nhưng trời không chiều lòng Thiệu, đội hình rút lui trên Đường 7B của ngụy đã bị Quân giải phóng truy kích. Từ đây, thời cơ có lợi cho quân ta xuất hiện rõ như ban ngày, còn lực lượng mang những cái tên mỹ miều như biệt động quân, thủy quân lục chiến, biệt động dù... vốn rất thiện chiến của Thiệu và từng được quan thầy Mỹ huấn luyện công phu, được trang bị đến tận răng đã trở thành những chú hề, thành thỏ đế trước sức mạnh vũ bão của Quân giải phóng. Hiệu ứng đô-mi-nô đã đẩy quân ngụy vào cảnh “cá nằm trên thớt”, khiến niềm tự hào với "thế giới tự do" lâu nay Mỹ từng huênh hoang bị sụp đổ nhanh chóng không hồi cứu vãn. Những bộ quân phục, những khẩu súng rồi xe tăng, trực thăng vũ trang... vốn là biểu trưng cho sự giàu có và sức mạnh của tự do bị bỏ lại phi trường, bến cảng và trên xa lộ đã chứng minh điều đó.

Nửa đầu tháng 4-1975, khi Quân giải phóng vượt qua phòng tuyến Phan Rang, áp sát phòng tuyến tử thủ thép Xuân Lộc, cho dù những “mũi dao thép” đã lởn vởn ngay sát nách đô thành Sài Gòn thì Thiệu vẫn ngoan cố kêu gào binh sĩ tử thủ và đọc diễn văn phủ dụ dân chúng tin vào chính phủ và đội quân mà Thiệu cố công xây dựng.

Cạnh đó, với niềm tin mãnh liệt vào đồng minh nước lớn thân cận và thói sĩ diện hão, Thiệu ra sức điện đàn với quan chức Nhà trắng để tìm sự hỗ trợ. Nhưng dù khản cổ kêu gào thì Thiệu vẫn chỉ nhận được ở quan thầy những cái lắc đầu và kế hoạch di tản trong bí mật. Thiệu ngoan cố bám dinh Độc Lập, bám chặt chiếc ghế tổng thống cho dù bị tướng nguyền, dân oán và đồng minh rời bỏ. Từ các vùng chiến sự, sĩ quan của Thiệu gọi về với những lời chua chát: “Tổng thống ra lệnh nhưng không ra mặt. Lính chết, bỏ chạy, còn ông thì... chờ viện trợ”.

Sau khi Quân giải phóng làm chủ nhiều đô thị, vùng giải phóng mở rộng, diện tích của ngụy ngày càng thu hẹp, sau năm lần bảy lượt bị quan thầy Mỹ khuyên nhủ, dụ ép, đe dọa và đánh tiếng cảnh báo sẽ có cuộc đảo chính như năm 1963 nếu không nhường ghế, cuối cùng, Thiệu chấp nhận buông bỏ quyền lực bằng một bài diễn văn hôm 21-4-1975 với lời chua chát, uất hận rằng: “Hoa Kỳ đã phản bội chúng ta...”. Và trong đêm tối ở phi trường Tân Sơn Nhất, Thiệu ra đi không kèn, không trống với nỗi lo mất mạng thường trực. Thiệu được Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cho di tản bằng lý do sang Đài Loan viếng Tưởng Giới Thạch.

Cùng thời điểm đó, từ các thông tin tình báo và những bộ óc phân tích chiến lược toàn diện sắc bén, khi chắc chắn “Hoa Kỳ không có khả năng trở lại”, với tinh thần chủ động, Đảng ta đã nắm bắt thời cơ, hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên chiến trường, quân ta càng đánh càng mạnh và đã giành những thắng lợi liên tiếp. Chiến dịch Hồ Chí Minh mở ra quá nhanh chóng khiến quan thầy Mỹ phải cay đắng chấp nhận thực hiện chiến dịch “gió lốc”, di tản khỏi miền Nam Việt Nam.

Trưa 30-4-1975, khi màu áo “sắc xanh núi rừng” tràn ngập dinh Độc Lập, khi cờ đỏ sao vàng và cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay, đặc biệt sau lời đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn Minh trên Đài phát thanh Sài Gòn, “thế giới tự do” giả hiệu sụp đổ hoàn toàn. Lúc này, vai trò “con tốt” của ngụy quyền Sài Gòn trên bàn cờ địa chính trị do quan thầy Mỹ dựng lên chính thức ra đi.

Bài học từ sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn không chỉ là sự thất bại của một bộ máy sống nhờ, tồn tại bằng ngoại lực mà còn là minh chứng sống động cho chân lý: Chỉ có độc lập dân tộc, tự chủ về chính trị và tinh thần đoàn kết toàn dân mới tạo nên sức mạnh trường tồn. Trong bối cảnh thế giới hiện đại đang bị giằng xé bởi mâu thuẫn địa chính trị, cạnh tranh chiến lược và những cuộc xung đột, Việt Nam-một quốc gia nhỏ vẫn giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển là nhờ bài học lịch sử ấy.

Thế nên, việc những kẻ ảo tưởng vào một "thiên đường tự do" viển vông do ngoại bang vẽ ra, tiếp tục cổ xúy, lôi kéo phá vỡ trật tự hiện tại cần nhìn lại số phận của những kẻ đi trước và hãy nhớ rằng: Những “tướng không quân, lính không trận” lưu vong và trái tim rách nát cùng vết thương quá khứ thì sao có thể mang gánh được ước vọng xa xôi. Hãy tỉnh táo mà nhận thức đầy đủ rằng, tự do và dân chủ không bao giờ đến từ những khẩu hiệu trống rỗng, càng không thể được ban phát từ ngoại bang. Nó phải là kết quả của một quá trình đấu tranh tự lực, từ nhân dân, vì nhân dân.

Ngày nay, khi thế giới tiếp tục chứng kiến những cuộc xung đột, chiến tranh ở nhiều khu vực, sự phụ thuộc chính trị, kinh tế khiến nhiều quốc gia nhỏ bị cuốn vào vòng xoáy bất ổn, thì bài học về tự chủ của Việt Nam càng trở nên quý giá.

Giữa lúc thế giới vẫn còn những mô hình “dân chủ xuất khẩu” đầy rối ren, sự vững vàng của Việt Nam chính là minh chứng cho một con đường độc lập-vì dân, từ dân và do dân-không thể bị thay thế bởi bất kỳ ảo tưởng nào đến từ bên ngoài.

Từ chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã chứng minh, lịch sử không dành chỗ cho những ảo tưởng chính trị lạc lõng. Nó chỉ ghi nhớ và tôn vinh những dân tộc dám tự mình viết nên vận mệnh của chính mình mà thôi. Hãy đừng quên bài học ấy!

Không thể xuyên tạc vai trò quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít

 

Trong bối cảnh Liên bang Nga cùng với một số quốc gia đang chuẩn bị kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, một số thế lực cơ hội chính trị lại đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc vai trò có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến vô cùng khốc liệt và anh dũng để đánh bại chủ nghĩa phát xít, thậm chí, họ đưa ra cáo buộc vô căn cứ rằng “Liên Xô hợp tác với Đức quốc xã để gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai”. Các luận điệu xuyên tạc đó đi ngược lại với sự thật lịch sử...

Đáng chú ý, có một số trang truyền thông, mạng xã hội đưa ra những nhận định không phản ánh đúng lịch sử, cho rằng từ năm 1922, nước Nga Xô viết đóng vai trò giúp Đức quốc xã phát triển tiềm lực quân sự.

Họ lập luận rằng, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Đức bị cấm phát triển vũ khí hạng nặng. Vì thế, Berlin đã khéo léo lách luật này thông qua sự hợp tác bất hợp pháp với nước Nga Xô viết trên cơ sở Hiệp ước Rapallo được ký vào ngày 16-4-1922 để nhanh chóng củng cố tiềm lực quân sự nhằm chuẩn bị phát động Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu.

 

Thông tin trên những trang truyền thông và mạng xã hội này đã xuyên tạc nội dung của Hiệp ước Rapallo giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga và Cộng hòa Weimar-tên gọi của nước Đức vào thời điểm đó. Hiệp ước này bao gồm 6 điều khoản với nội dung chỉ nhằm giải quyết hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất như xử lý vấn đề tù binh của hai nước sau chiến tranh, việc nước Đức phải bồi thường chiến tranh theo Hiệp ước hòa bình Versailles, thiết lập quan hệ ngoại giao trong bối cảnh nước Nga Xô viết bị Mỹ và phương Tây cô lập sau cuộc Cách mạng Tháng Mười (ngày 7-11-1917), thiết lập quan hệ thương mại, tạo điều kiện sống bình thường cho công dân hai nước trên lãnh thổ của mỗi bên.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất  (1914-1918), Nga và Đức đứng trên hai chiến tuyến khác nhau. Trong cuộc chiến này, nước Đức bại trận và phải ký kết Hiệp ước hòa bình Versailles vào năm 1919. Theo đó, nước Đức phải bồi thường chiến tranh cho các quốc gia thắng cuộc như Mỹ, Anh, Pháp... Vì thế, chính quyền Đức coi Hiệp ước hòa bình Versailles là “nỗi quốc nhục” và phải “rửa hận”. Để “rửa hận”, Đức quốc xã sau khi lên cầm quyền từ năm 1933 đã ráo riết chuẩn bị mọi điều kiện để phát động cuộc đại chiến mới ở châu Âu.

Sau Cách mạng Tháng Mười, giới lãnh đạo nước Nga Xô viết cũng nhận thấy rất rõ Hiệp ước hòa bình Versailles chỉ là “khoảng lặng” giữa hai cuộc đại chiến. Do đó, sau khi được thành lập vào năm 1922, Liên Xô quyết định thực hiện chương trình công nghiệp hóa để chuẩn bị đối phó với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tất yếu sẽ bùng nổ ở châu Âu. Chương trình công nghiệp hóa của Liên Xô hoàn tất vào năm 1937, tạo điều kiện để Liên Xô tiến hành thành công cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1941-1945). Vì vậy, tuyệt nhiên không thể có chuyện nước Nga Xô viết tạo điều kiện cho nước Đức nhanh chóng xây dựng lại tiềm lực quân sự để chuẩn bị phát động Chiến tranh thế giới thứ hai.

Ngay trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, lãnh đạo một số nước châu Âu còn căn cứ vào Hiệp ước không tấn công lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức Quốc xã ký ngày 23-8-1939 để lập luận rằng chính hiệp ước này đã châm ngòi cho Chiến tranh thế giới thứ hai!? Thậm chí, dựa vào hiệp ước này, có tổ chức còn coi Liên Xô và Đức quốc xã đều “có tội như nhau” là gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai!?...

Lập luận này đã xuyên tạc bản chất và nội dung của Hiệp ước không tấn công lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức quốc xã. Hiệp ước này xác định Liên Xô và Đức cam kết kiềm chế không tấn công lẫn nhau, giữ thái độ trung lập trong trường hợp một trong hai bên trở thành mục tiêu của những hành động quân sự của bất kỳ bên thứ ba nào, đồng thời cam kết không tham gia các lực lượng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại phía bên kia. Giới lãnh đạo Liên Xô biết rõ rằng, ký hiệp ước không tấn công lẫn nhau với Đức quốc xã không thể ngăn chặn được Chiến tranh thế giới thứ hai mà chỉ để làm chậm lại thời điểm Đức quốc xã tập trung lực lượng của toàn châu Âu để tấn công Liên Xô nhằm chuẩn bị đối phó.

Nhận định của giới lãnh đạo Liên Xô căn cứ vào một sự thật lịch sử khác. Đó là rất lâu trước khi Liên Xô ký với Đức hiệp ước không tấn công lẫn nhau, nhiều nước châu Âu cũng từng ký hiệp ước tương tự với Đức quốc xã...

Đúng như dự báo của giới lãnh đạo Liên Xô, sau khi phát động Chiến tranh thế giới thứ hai vào ngày 1-9-1939, Đức quốc xã đã ký hiệp ước liên minh với nhiều nước châu Âu để chuẩn bị chiến dịch tấn công Liên Xô. Sau khi đã tập hợp được lực lượng của gần toàn bộ châu Âu, ngày 18-12-1940, Hitler phê chuẩn Kế hoạch Barbarossa để bất ngờ tấn công Liên Xô vào ngày 22-6-1941.

Chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai còn đi ngược lại sự thật lịch sử là Đức đã tập hợp lực lượng từ nhiều nước đầu hàng để tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Liên Xô. Vì vậy, Liên Xô đóng vai trò chủ yếu trong Chiến tranh thế giới thứ hai là đánh bại lực lượng liên quân của Đức quốc xã.

Trong cuộc đại chiến này, Liên Xô đã đánh bại 507 sư đoàn Đức quốc xã và 100 sư đoàn đồng minh của chúng; tiêu diệt của Đức quốc xã hơn 70.000 máy bay (chiếm khoảng 70% tổng số máy bay bị phá hủy), khoảng 50.000 xe tăng và vũ khí tấn công (75%), 167.000 khẩu pháo (74%), hơn 2.500 tàu chiến và tàu bảo đảm.

Sau khi đánh bại phát xít Đức ở châu Âu, Liên Xô tiến hành chiến dịch đánh bại đạo quân Quan Đông mạnh nhất của Nhật Bản, đóng vai trò quyết định, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Liên Xô đã phải nỗ lực phi thường để giành được chiến thắng vĩ đại này nhưng cũng phải chịu thiệt hại vô cùng to lớn. Nhiều thành phố và làng mạc bị tàn phá, hơn 27 triệu công dân Xô viết đã thiệt mạng... 

Sau 80 năm, dù bị nhiều luận điệu xuyên tạc, với âm mưu hòng làm thay đổi bản chất cuộc chiến nhưng chiến thắng vĩ đại của nhân dân Xô viết vẫn được loài người tiến bộ ghi nhận, tôn vinh. Theo ghi nhận, nguyên thủ hoặc đại diện của hơn 20 quốc gia đã nhận lời mời tham dự lễ kỷ niệm và cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ ở Moscow vào Ngày Chiến thắng 9-5 năm nay. Ngoài ra, một số quốc gia còn cử lực lượng tham dự cuộc duyệt binh mừng chiến thắng này. Ở châu Âu, bất chấp nhiều áp lực, ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ và một số cá nhân vẫn tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Chiến thắng 9-5...

Chiến thắng của Liên Xô trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại không chỉ góp phần quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít và quân phiệt mà còn tạo điều kiện cho nhiều nước giành được quyền độc lập, trong đó có Việt Nam. Hơn lúc nào hết, loài người tiến bộ cần tiếp tục ngăn chặn các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc vai trò có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít. Đây là hành động thiết thực bảo vệ các giá trị chân chính của lịch sử, của lương tri, đồng thời nhằm ngăn chặn sự phục hồi chủ nghĩa phát xít.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LỰC CẢN VÔ HÌNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN!

     Cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đang diễn ra với tốc độ mạnh mẽ, mở ra thời cơ và cũng đặt ra thách thức. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đáp ứng yêu cầu cấp bách. Triển khai nghị quyết vào thực tiễn rất cần sự vào cuộc khẩn trương, quyết liệt của toàn xã hội, không cho phép thái độ lừng chừng, thăm dò, đối phó bởi sẽ tạo ra lực cản vô hình đối với sự phát triển.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực và cá nhân trong xã hội. Trong cuộc cách mạng ấy, bất kỳ ai đều có thể tham gia, đóng vai trò nhất định vào công cuộc phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thực tế đã chứng minh nhiều cá nhân từ mọi thành phần đã có những phát minh, sáng kiến hiệu quả. Tuy nhiên, trong cuộc cách mạng về phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, vai trò của đội ngũ trí thức là hết sức quan trọng, có tính chất quyết định.

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức khẳng định: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức.

Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng chỉ rõ: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội.

Một trong những phẩm chất quý báu của đội ngũ trí thức, đó là nhạy cảm với cái mới, tiếp thu và truyền bá những tư tưởng cách mạng, tiến bộ. Phẩm chất này đặc biệt quan trọng khi Đảng ta chú trọng phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Trong những tình huống quan trọng, cần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, vai trò của đội ngũ trí thức càng cần được đề cao, chú trọng hơn. Các trí thức, với trình độ, sự hiểu biết, lòng tự trọng, sự dấn thân của mình càng cần thể hiện tính tiên phong, sự quyết đoán, trách nhiệm rõ ràng, xứng đáng với vai trò mà xã hội kỳ vọng.

Trong lịch sử hàng nghìn năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đội ngũ trí thức luôn có những đóng góp quan trọng, quyết định vào những thời điểm, giai đoạn khác nhau.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao, nhấn mạnh vai trò của đội ngũ trí thức. Người cho rằng: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”; “Cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức”. Tư tưởng của Bác được Đảng ta kế thừa, phát huy, vận dụng sáng tạo trong tình hình thực tiễn trong suốt hơn 95 năm qua kể từ khi thành lập (ngày 3/2/1930) cho đến nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao, nhấn mạnh vai trò của đội ngũ trí thức. Người cho rằng: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”; “Cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức”. Tư tưởng của Bác được Đảng ta kế thừa, phát huy, vận dụng sáng tạo trong tình hình thực tiễn trong suốt hơn 95 năm qua kể từ khi thành lập (ngày 3/2/1930) cho đến nay.

Trong bối cảnh diễn ra cuộc cách mạng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, “vốn liếng quý báu của dân tộc” càng phải được phát huy kịp thời, hiệu quả. Tinh thần dấn thân vốn là phẩm chất cao quý của trí thức, bởi họ là những người tự trọng, không xu nịnh; “thấy chuyện bất bình chẳng tha”, tiên phong trong việc lên án cái xấu, cái ác; là người dám bảo vệ quan điểm, chân lý của mình.

Đáng chú ý trong Nghị quyết số 57-NQ/TW phần nhiệm vụ, giải pháp nêu rõ: “Nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định rõ trách nhiệm, chủ động triển khai thực hiện. Người đứng đầu phải trực tiếp phụ trách, chỉ đạo; cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện”.
Trong cuộc gặp mặt 200 trí thức, nhà khoa học có nhiều thành tích, đóng góp, đang hoạt động trong các ngành, lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng, giáo dục và đào tạo trên toàn quốc diễn ra ngày 30/12/2024 tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm ghi nhận, biểu dương và chúc mừng những thành tựu, kết quả mà đội ngũ trí thức, nhà khoa học nước ta đã đạt được trong giai đoạn đổi mới đất nước.

Đồng thời Tổng Bí thư đề nghị, đội ngũ trí thức, nhà khoa học nỗ lực thực hiện trách nhiệm, sứ mệnh trong giai đoạn cách mạng mới, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược. Trong đó cần nghiên cứu, tập trung sớm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024, của Bộ Chính trị, về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” như một nguồn cảm hứng, một động năng mới, một miền đất mới, bầu trời mới cho sáng tạo của giới trí thức, nhà khoa học.

Tổng Bí thư mong muốn, các trí thức, nhà khoa học phải là lực lượng nòng cốt để đưa Việt Nam đứng vào nhóm ba nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo; nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; tối thiểu có năm doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các cường quốc công nghệ vào năm 2030.

Đến năm 2045, Việt Nam là một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; có hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các “đế chế công nghệ số”.

Vai trò của trí thức trong việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW rất rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xuất hiện những biểu hiện chưa chuẩn mực, thậm chí lệch lạc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết từ chính đội ngũ trí thức, cán bộ, đảng viên. Càng đáng báo động hơn khi một số cá nhân nhân danh trí thức bày tỏ quan điểm một cách lệch lạc, phiến diện, thiếu tính xây dựng.

Vai trò của trí thức trong việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW rất rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xuất hiện những biểu hiện chưa chuẩn mực, thậm chí lệch lạc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết từ chính đội ngũ trí thức, cán bộ, đảng viên. Càng đáng báo động hơn khi một số cá nhân nhân danh trí thức bày tỏ quan điểm một cách lệch lạc, phiến diện, thiếu tính xây dựng.

Trong những nội dung liên quan đến việc ban hành, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xuất hiện một số người nhân danh trí thức nhưng lại thể hiện thái độ lừng chừng trong suy nghĩ, hành động, thiếu sự ủng hộ cần thiết, chính đáng, không đúng với phẩm chất của người trí thức là dấn thân, làm cho xã hội thức tỉnh, đồng thuận, ủng hộ tích cực, trách nhiệm. Thậm chí, có trường hợp còn cố tình suy diễn sai lệch, kích động, tiếp tay cho những ý kiến trái chiều, cản trở việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhất là trên không gian mạng.

Điều đáng nguy hiểm là với “cái mác” trình độ học vấn, họ dễ khiến người dân cả tin vào những gì họ nói, họ viết, họ bình luận. Nhân danh trí thức, họ cài cắm mục đích cá nhân trong việc bày tỏ quan điểm, thậm chí đi ngược lại chủ trương, đường lối, chống đối, cản trở, ngáng đường, kìm hãm sự phát triển. Sự quan tâm đến nghị quyết quan trọng của Đảng ta theo kiểu ấy là giả tạo, mạo danh, mưu lợi cá nhân.

Những trường hợp nhân danh trí thức như vậy cần nhận diện kịp thời, lên án và kiên quyết ngăn chặn, tránh gây cản trở quá trình thực hiện nghị quyết và xu thế phát triển của toàn xã hội.

Đáng chú ý là còn có sự thiếu quyết liệt trong quá trình quán triệt, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. Biểu hiện dễ thấy là việc kéo dài thời gian để thăm dò, là tâm thế ngại đổi mới, ngại đương đầu với những vấn đề mới, với những khó khăn, thử thách trong công việc. Cụ thể hơn, việc ngại học tập nâng cao trình độ liên quan đến chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, áp dụng những tiến bộ khoa học-công nghệ trong công việc, chưa nói đến việc nghiên cứu và ứng dụng.

Tất cả những biểu hiện, việc làm ấy gây khó khăn, cản trở quá trình thực hiện nghị quyết, như những “điểm nghẽn” kìm hãm sự phát triển của đất nước. Do đó quyết không thể có sự trông chờ, trì hoãn, thoái thác trong những bước đi tăng tốc vượt trội của đất nước, bởi chậm trễ là chúng ta sẽ đánh mất cơ hội bứt phá!

Tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW rất rõ: Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Vì vậy, đội ngũ trí thức nói riêng, mỗi người dân nói chung cần hành động quyết liệt, dấn thân, sáng tạo, đóng góp để thay đổi xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng chính là việc làm thay đổi cách nghĩ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận người dân rằng, nghị quyết thì rất hay, rất đúng, rất trúng nhưng quá trình thực hiện lại rất dở, gặp nhiều khó khăn./.
Yêu nước ST.

Làm cán bộ, đừng “mắc nợ” người lao động

 

Nhân Ngày Quốc tế Lao động (1-5) và Tháng công nhân, cần suy ngẫm về hiện tượng cán bộ “mắc nợ” cấp dưới, người lao động. Bởi thực tế có khá nhiều cán bộ mắc khuyết điểm này, dẫn đến nhiều hệ lụy.

Cán bộ... khác quá!

Đó là nhận xét “rỉ tai” của người lao động, nhân viên dành cho những người thay đổi nhiều theo hướng tiêu cực từ khi họ trở thành cán bộ, làm sếp. Thực tế có không ít người khi là nhân viên thì rất tốt, sống hòa đồng và tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ đồng nghiệp; nhưng khi được làm sếp thì họ dần khác. Ban đầu là ít gặp gỡ, gần gũi, trò chuyện với cấp dưới, rồi ngày càng xa cách, lạnh nhạt, thờ ơ. Có cán bộ khi gặp đồng nghiệp cũ còn quay mặt đi, như không quen biết; trong tình huống buộc phải giao tiếp thì bắt tay hờ hững, trả lời qua loa, thậm chí lên giọng trịnh thượng, ra oai. Trong khi đó, đối với cấp trên thì họ lại khúm núm, xun xoe, nịnh bợ.

“Cán bộ... khác quá” còn ở chỗ, thời là nhân viên, họ thường chia sẻ với những khó khăn, vất vả của đồng nghiệp trong cuộc sống và công việc, chê trách cấp trên không kịp thời quan tâm giải quyết những vướng mắc, bất cập, không có những chế độ, chính sách thỏa đáng chăm lo cho người lao động; không ít người còn “hùng hồn” tuyên bố: "Tôi mà là sếp thì sẽ khác...". Thế nhưng, đến lúc họ làm sếp lại quên hết; cấp dưới kiến nghị thì... bỏ đấy. Có sếp mới còn không quan tâm giải quyết những ý kiến, nguyện vọng chính đáng của người lao động bằng sếp cũ mà chỉ lo thu vén cá nhân, cốt được lợi mình. Chính sự “khác quá” này làm cho cấp dưới, người lao động cảm thấy chán nản, mất niềm tin và động lực phấn đấu.

 Trách nhiệm phải làm, đâu phải “ban ơn”?

Một hiện tượng rất cần cảnh báo, chấn chỉnh là một số cán bộ không nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình; đáng lẽ phải quan tâm chăm lo, giải quyết những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cấp dưới và người lao động, thì họ lại “mặc định”: Cấp dưới phải nhờ vả, xin xỏ, còn sếp có quyền “ban ơn”, nếu không thích, không ưa thì không cho. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng “chạy chọt”, khiến nhiều nhân viên, người lao động dù không muốn vẫn phải tìm cách tiếp cận, nịnh nọt, cung phụng sếp để lấy lòng, để được sếp quan tâm “giúp đỡ”.

Việc sếp tự cho mình có quyền “ban ơn” gây hệ lụy rất lớn, không chỉ tạo ra tình trạng “chạy”-một dạng tham nhũng, tiêu cực phổ biến mà còn khiến nội bộ mất đoàn kết, nhiều nhân viên, người lao động nảy sinh tư tưởng tiêu cực, thậm chí dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây còn là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, bởi nó tạo ra sự cạnh tranh tiêu cực: Những người tài đức mà không biết “chạy” thì không được cấp trên trọng dụng; người phải “chạy”, khi được làm sếp sẽ tìm cách “thu hồi vốn”, chỉ “ban ơn” cho những cấp dưới cung phụng mình, và cái vòng “chạy chọt” cứ thế tái diễn... 

Có cán bộ từ khi lên sếp bỗng tỏ thái độ “lạnh như tiền” với cấp dưới và người lao động. Đồng nghiệp cũ thường xì xào về họ: Sếp lạnh như tiền thì cấp dưới mới sợ, phải cung phụng để được quan tâm giúp đỡ. Nếu cứ thân mật, gần gũi nhân viên, vô tư, khách quan làm đúng trách nhiệm thì... tiền ở đâu ra (!)

Xa dân dẫn đến nhiều sai lầm

Là cán bộ, đảng viên, hẳn ai cũng biết câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là bài học quý báu, lời căn dặn sâu sắc của Bác Hồ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc phải “lấy dân làm gốc”, dù công việc dễ dàng mà không có sự đồng lòng, ủng hộ và tham gia của nhân dân thì cũng không thể làm được. Ngược lại, được nhân dân đồng tình, góp sức thì việc khó đến mấy cũng thành công. Theo Người, “nhân dân có trăm tai nghìn mắt”, vì nhân dân có ở khắp mọi nơi, có thể phát hiện nhanh những điều đúng-sai, hay-dở nên không ai có thể che giấu hành vi sai trái trước nhân dân. Vì thế, người lãnh đạo phải biết tôn trọng, lắng nghe, tin tưởng và phát huy vai trò của nhân dân. Muốn chống quan liêu, tham ô, lãng phí thì phải thực hành dân chủ, phải cho dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, giám sát; thực hành dân chủ cũng chính là động lực để phát triển xã hội cũng như mỗi tổ chức.

Thế nhưng vẫn có không ít cán bộ xa dân, không thực sự lắng nghe cấp dưới, người lao động, dẫn đến không nắm chắc thực tế để ban hành các quyết sách phù hợp, hiệu quả, khả thi; thậm chí có trường hợp ban hành những quy định “trên trời”, bị dư luận phản đối bởi không thể đi vào cuộc sống, dẫn đến sai lầm, thất bại.

Thời gian qua, chúng ta đã có nhiều bài học về việc này, như: Một số trạm thu phí BOT giao thông (để hoàn vốn cho các dự án xây dựng, nâng cấp hạ tầng) đặt sai vị trí, không tiếp thu ý kiến nhân dân dẫn đến người dân phản ứng gay gắt, phải dừng thu phí hoặc di dời trạm, thậm chí có dự án BOT bị điều tra, xử lý vi phạm. Chủ trương hạn chế xe máy vào nội thành Hà Nội (giai đoạn 2017-2021) để giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường cũng không tham khảo kỹ ý kiến người dân, thiếu phương án giao thông công cộng thay thế hợp lý nên không khả thi.

Ở phạm vi nhỏ, có không ít cán bộ độc đoán, gia trưởng, coi thường ý kiến của cấp dưới và người lao động dẫn đến “tự quyết” nhiều việc sai lầm, không hiệu quả. Trong đó, đáng phê phán nhất là việc đánh giá, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ theo cảm tính, không tham khảo và không tôn trọng ý kiến cấp dưới. Thực tế có khá nhiều người “nói như rồng leo, làm như mèo mửa”, đối với cấp trên thì xun xoe, nịnh bợ, họ giả vờ tốt rất giỏi nên sếp siêu lòng, cất nhắc; song họ không thể hoàn thành tốt vai trò cán bộ, tư cách đạo đức cũng không xứng đáng, làm nhiều người bức xúc, phát sinh tư tưởng bất mãn, tiêu cực. Trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, nếu người có thẩm quyền coi trọng xem xét hiệu quả công việc và chân thành hỏi ý kiến của cấp dưới, người lao động, phân tích thông tin kỹ lưỡng thì sẽ biết thực chất, không mắc sai lầm.

Để cấp dưới, người lao động thực sự tâm phục, khẩu phục, từng cán bộ cần thường xuyên và nghiêm túc tự soi, tự sửa và cách tốt nhất để sửa mình chính là gần gũi, chân thành lắng nghe ý kiến của cấp dưới, người lao động. Vẫn biết, làm cán bộ có nhiều công việc và mối quan hệ phải giải quyết, ít có thời gian gặp gỡ, tiếp xúc với cấp dưới, người dân. Tuy nhiên, nếu cán bộ thật sự có tâm và tầm, thật sự vì việc chung thì cũng sẽ có cách phù hợp để cấp dưới nể phục, tin tưởng, không trở thành cán bộ “mắc nợ” người lao động, bị quần chúng chê trách.