Thứ Tư, 28 tháng 5, 2025

Tổng kết 10 năm hợp tác giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế

   Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế tổ chức hội nghị tổng kết việc thực hiện Quy chế phối hợp công tác giai đoạn 2015-2025. Hội nghị tổ chức trực tuyến tại điểm cầu Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 3 điểm cầu Trường Sa Lớn, Song Tử Tây, Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa.

Tới dự, có: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng. Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Quốc phòng; Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Quốc phòng; Trung tướng Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Quốc phòng.

Hội nghị nhằm đánh giá kết quả 10 năm tổ chức triển khai, thực hiện Quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế (Quy chế 162); tập trung làm rõ những ưu điểm, khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện. Thống nhất chủ trương, phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tiếp theo và đề xuất những nội dung sửa đổi bổ sung Quy chế 162 cho phù hợp với điều kiện thực tế và các quy định hiện hành.

Mười năm qua, hai bộ đã phối hợp chặt chẽ, toàn diện, tham mưu với Đảng và Nhà nước nhiều chính sách, chủ trương chiến lược về quân sự, quốc phòng, y tế; phối hợp xử lý, khắc phục sự cố, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, bảo đảm y tế trong tình trạng khẩn cấp; phối hợp đẩy lùi đại dịch Covid-19. Hai bên kịp thời điều hành các đơn vị quân đội và y tế địa phương xử lý các sự cố, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, bảo đảm y tế trong tình trạng khẩn cấp trên địa bàn, không để bị động, bất ngờ; phát triển y tế biển, đảo gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Các nội dung phối hợp khác: tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, quản lý dữ liệu thông tin y tế quốc gia; phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhiệm vụ quốc phòng, an ninh gắn với y tế, y tế gắn với quốc phòng, an ninh, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Khi “hạt giống đỏ” suy thoái

 Những ngày gần đây, dư luận tại TP Hồ Chí Minh xôn xao trước việc một cán bộ từng được coi là “hạt giống đỏ” bị vướng vòng lao lý. Người được nhắc đến là ông Huỳnh Nguyễn Lộc, sinh năm 1981, cựu Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng, được đào tạo căn bản về ngành y, từng là một cán bộ đoàn được đánh giá có năng lực...

Huỳnh Nguyễn Lộc thăng tiến rất nhanh. Năm 2014, khi mới 33 tuổi, Lộc đã được bổ nhiệm Phó viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh và chỉ một năm sau đã được đề bạt giữ chức Viện trưởng, trở thành một trong những cán bộ trẻ nhất đứng đầu một cơ quan khoa học danh giá. Có năng lực chuyên môn và giỏi về “kỹ năng mềm”, mỗi lần xuất hiện trước công chúng và truyền thông, Huỳnh Nguyễn Lộc luôn chứng tỏ bản thân là “hình mẫu” của cán bộ trẻ dồi dào năng lượng sáng tạo và tâm huyết. Sự nghiệp đang lên như diều gặp gió thì cuối năm 2024, Huỳnh Nguyễn Lộc bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về tội nhận hối lộ.

Mới đây, kết luận của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khiến nhiều người ngạc nhiên, bất ngờ, bày tỏ thái độ xót xa, tiếc nuối. Huỳnh Nguyễn Lộc đã nhận hối lộ một cách liên tục, có hệ thống với hàng chục lần, tổng số tiền lên đến hơn 47 tỷ đồng từ Công ty Cổ phần Dược Sơn Lâm để cho doanh nghiệp này trúng thầu, cung cấp dược liệu và thuốc chữa bệnh cho Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh. Cùng với Huỳnh Nguyễn Lộc còn có hàng chục bị can khác tại một số cơ quan, đơn vị ngành y bị cơ quan điều tra đề nghị truy tố với tội danh tương tự

Mầm mống tội ác bắt đầu từ lòng tham

 Vấn nạn thuốc giả, thực phẩm bẩn, hàng giả, hàng nhái... tiếp tục là chủ đề “nóng” trong các phiên thảo luận của các đại biểu Quốc hội trong những phiên họp gần đây. Hành vi buôn lậu, sản xuất, tiêu thụ, đưa-nhận hối lộ, bao che, tiếp tay cho thuốc giả, thực phẩm bẩn đầu độc đời sống xã hội chính là tội ác. Thậm chí, có đại biểu đã ví loại tội phạm này tương đương với hành vi giết người hàng loạt, cần phải nghiêm trị trước pháp luật.

Lý giải về nguyên nhân biến một số cán bộ từ “hạt giống đỏ” trở thành tội phạm, giới chuyên gia tội phạm học cho rằng, tất cả đều bắt nguồn từ lòng tham. Khi nhân cách và ý chí của cán bộ, đảng viên bị đồng tiền chi phối, lòng tham dẫn dắt thì bản lĩnh sẽ gục ngã trước bản năng, đối tượng sẽ dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích cá nhân. Dưới góc nhìn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phòng, chống suy thoái, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ rõ: Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân...

Nhìn cận cảnh một số vụ việc, vụ án nổi cộm về tham nhũng, tiêu cực gần đây, chúng ta thấy, hành vi suy thoái diễn biến theo quy luật từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao. Ban đầu, hành vi nhận hối lộ chỉ ở dạng “cảm ơn”, “quà biếu”, “phần trăm”, “lại quả”... ở phạm vi cá nhân. Dần dần, vòng xoáy của đồng tiền và chủ nghĩa cá nhân đã làm mờ mắt đối tượng. Họ lôi kéo cả vợ con, gia đình, người thân, đồng chí, đồng nghiệp... vào cuộc. Và cuối cùng, không ít cán bộ, cơ quan quản lý lại biến thành tay sai cho các đối tượng, đường dây tội phạm, gây hậu quả nặng nề, hệ lụy khôn lường đối với đời sống xã hội.

Khi cán bộ, nhất là người đứng đầu trượt dài vào con đường suy thoái, rất cần sự đấu tranh, thức tỉnh từ tập thể. Đó là vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng thông qua công tác kiểm tra, giám sát, đấu tranh phê bình, tự phê bình. Nếu ở đâu tinh thần phê bình, ý chí chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng được phát huy, chắc chắn ở đó sẽ ngăn ngừa có hiệu quả hành vi tiêu cực, sự suy thoái của cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy, ở những tổ chức đảng, đơn vị để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, thứ vũ khí quan trọng này không phát huy tác dụng hoặc đã bị cá nhân vô hiệu hóa; vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII khẳng định: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu

Phong trào thi đua xây dựng“Đơn vị Quân y 5 tốt”

 Có mặt tại phòng khám của Tiểu đoàn Quân y 24, chúng tôi ấn tượng trước không gian xanh mát, cơ ngơi khang trang, sạch sẽ, hệ thống thiết bị y tế hiện đại. Đầu tháng 3 vừa qua, phòng khám đã kịp thời cấp cứu một ca bệnh viêm màng não mô cầu. Bệnh nhân là chiến sĩ của Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, bị sốt cao, đau đầu, cứng gáy, buồn nôn... chẩn đoán bệnh lý nghiêm trọng nên phòng khám kịp thời chuyển bệnh nhân lên tuyến trên và vài ngày sau được xuất viện. 

Trò chuyện với chúng tôi, Trung tá, bác sĩ Trần Ngọc Hưng, Phụ trách phòng khám, cho biết: Để đáp ứng tốt yêu cầu khám và điều trị bệnh, đội ngũ nhân viên y tế của đơn vị luôn tích cực trau dồi, nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và khai thác, làm chủ các trang thiết bị hiện đại của phòng khám; góp phần phát triển các kỹ thuật tiên tiến, chuyên sâu trong khám, chữa bệnh. Đơn vị còn thực hiện chặt chẽ, hiệu quả việc theo dõi sức khỏe thường xuyên đối với cán bộ, chiến sĩ, qua đó phát hiện kịp thời các ca bệnh nặng để đưa ra biện pháp điều trị, hoặc chuyển tuyến chính xác đối với những trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn... 

Điểm sáng quân y sư đoàn
 
Điểm sáng quân y sư đoàn
Y, bác sĩ Tiểu đoàn Quân y 24 (Sư đoàn 325, Quân đoàn 12) khám bệnh cho nhân dân trên địa bàn đóng quân. 

Những năm qua, Tiểu đoàn Quân y 24 thường xuyên triển khai thực hiện tốt các nội dung, chỉ tiêu Phong trào thi đua xây dựng “Đơn vị Quân y 5 tốt” gắn với các cuộc vận động, phong trào thi đua của các cấp, các ngành; tích cực tuyên truyền, hướng dẫn bộ đội sử dụng các bài thuốc dân gian để điều trị một số bệnh thông thường, các phương pháp điều trị không dùng thuốc, như: Xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu... Qua đó, góp phần thực tốt việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe bộ đội ngay tại đơn vị. Các y, bác sĩ của Tiểu đoàn còn tích cực đến vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới để khám bệnh, cấp thuốc, tặng quà gia đình chính sách..., được cấp ủy, chính quyền và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Trung tá, bác sĩ chuyên khoa I Vũ Xuân Đình, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quân y 24 cho biết, hằng năm, Đảng ủy, chỉ huy Tiểu đoàn lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ nhân viên y tế xác định tốt nhiệm vụ khám, thu dung, cấp cứu, điều trị bệnh cho các đối tượng. Đơn vị đã triển khai lập sổ, phiếu theo dõi sức khỏe định kỳ cho 100% cán bộ, chiến sĩ trong toàn Sư đoàn 325; tỷ lệ quân số khỏe toàn Sư đoàn luôn đạt 95% trở lên. Tiểu đoàn thường xuyên duy trì nghiêm chế độ trực cấp cứu, mỗi năm kịp thời xử lý hàng trăm trường hợp sốt cao, viêm ruột thừa cấp, bị côn trùng cắn, tai nạn chấn thương...

“Chúng tôi sẽ không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn và tiếp tục thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ “Lương y phải như từ mẫu”, có phong cách phục vụ “tận tâm, chu đáo, an toàn, hiệu quả”, xứng đáng với niềm tin yêu của bộ đội và nhân dân, góp phần tô thắm hình ảnh người thầy thuốc mặc áo lính”, Trung tá Vũ Xuân Đình khẳng định

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2025

Bài học cho những kẻ ảo tưởng

Sau 50 năm Bắc-Nam sum họp một nhà, Tổ quốc thống nhất và nền hòa bình cùng sự ổn định chính trị đã đưa Việt Nam đến vị thế mới rất vững chắc trong thế giới hiện đại đầy biến động.

Kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bên cạnh bản hùng ca chiến thắng ngân vang, bài học về tinh thần độc lập, tự chủ lại hiện về, nóng hổi và đầy ắp tính thời sự trong thế giới phẳng hôm nay. 

Lâu nay, nền độc lập, tự chủ và tự do vững chắc mà Việt Nam xây bằng máu xương bao thế hệ vốn là niềm mong ước, khát vọng của nhiều dân tộc trên thế giới đang luẩn quẩn ở vũng lầy xung đột và chiến tranh lại bị một số kẻ phê phán, “tạt a xít”. Chúng không chấp nhận sự thật: Việt Nam ổn định, phát triển cường thịnh.Bất chấp con đường hợp đạo lý, hợp lòng người, hợp xu thế thời đại và tương lai tươi sáng đang rộng mở của dân tộc, chúng định hướng, lôi kéo những kẻ bất mãn, phản động đòi phá bỏ những thành tựu ấy để xây dựng một thể chế chính trị mới với cái gọi là “tự do” và “dân chủ” tuyệt đối mà chúng hằng tôn thờ. Hình như bài học lịch sử chưa đủ mạnh để chúng tỉnh ngộ, bớt ảo tưởng.

Đầu năm 1975, sau khi Phước Long thất thủ, cho dù “mũi dao bén ngọt” của Quân giải phóng đã chọc vào cạnh sườn nhưng Nguyễn Văn Thiệu vẫn luôn lạc quan với lời hứa chắc như đinh đóng cột từ năm 1973 của Tổng thống Nixon: “Nếu Bắc Việt vi phạm, Mỹ sẽ đáp trả”. Viễn cảnh mà Thiệu mơ tưởng là quan thầy Mỹ sẽ đưa quân và chi viện hỏa lực đường không, đường biển hoặc chí ít là viện trợ ngân sách hơn 2,1 tỷ USD để Thiệu có thể giữ vững cái gọi là nền cộng hòa vốn cho Thiệu và gia đình cùng đội ngũ tướng lĩnh những “hoa thơm trái ngọt” béo bở.

Theo những tài liệu đã được Nhà trắng giải mã những năm gần đây, sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, Thiệu đã đưa ra một quyết định mà không tham vấn bất cứ nhân vật hoặc cơ quan nào của quan thầy Mỹ: Bỏ Cao nguyên Trung phần về giữ các tỉnh ven biển miền Trung từ Huế trở vào Nam. Bởi Thiệu luôn tin và nuôi ảo tưởng, dù viện trợ quân sự bị cắt giảm nghiêm trọng xuống còn hơn 700 triệu USD thì Thiệu vẫn đủ lực để giữ những phần đất "ngon" nhất. Thiệu tin, với đội quân trung thành, hùng mạnh trong tay vẫn có thể giữ được những vùng quan trọng để “chờ cơ hội”.

Nhưng trời không chiều lòng Thiệu, đội hình rút lui trên Đường 7B của ngụy đã bị Quân giải phóng truy kích. Từ đây, thời cơ có lợi cho quân ta xuất hiện rõ như ban ngày, còn lực lượng mang những cái tên mỹ miều như biệt động quân, thủy quân lục chiến, biệt động dù... vốn rất thiện chiến của Thiệu và từng được quan thầy Mỹ huấn luyện công phu, được trang bị đến tận răng đã trở thành những chú hề, thành thỏ đế trước sức mạnh vũ bão của Quân giải phóng. Hiệu ứng đô-mi-nô đã đẩy quân ngụy vào cảnh “cá nằm trên thớt”, khiến niềm tự hào với "thế giới tự do" lâu nay Mỹ từng huênh hoang bị sụp đổ nhanh chóng không hồi cứu vãn. Những bộ quân phục, những khẩu súng rồi xe tăng, trực thăng vũ trang... vốn là biểu trưng cho sự giàu có và sức mạnh của tự do bị bỏ lại phi trường, bến cảng và trên xa lộ đã chứng minh điều đó.

Nửa đầu tháng 4-1975, khi Quân giải phóng vượt qua phòng tuyến Phan Rang, áp sát phòng tuyến tử thủ thép Xuân Lộc, cho dù những “mũi dao thép” đã lởn vởn ngay sát nách đô thành Sài Gòn thì Thiệu vẫn ngoan cố kêu gào binh sĩ tử thủ và đọc diễn văn phủ dụ dân chúng tin vào chính phủ và đội quân mà Thiệu cố công xây dựng.

Cạnh đó, với niềm tin mãnh liệt vào đồng minh nước lớn thân cận và thói sĩ diện hão, Thiệu ra sức điện đàn với quan chức Nhà trắng để tìm sự hỗ trợ. Nhưng dù khản cổ kêu gào thì Thiệu vẫn chỉ nhận được ở quan thầy những cái lắc đầu và kế hoạch di tản trong bí mật. Thiệu ngoan cố bám dinh Độc Lập, bám chặt chiếc ghế tổng thống cho dù bị tướng nguyền, dân oán và đồng minh rời bỏ. Từ các vùng chiến sự, sĩ quan của Thiệu gọi về với những lời chua chát: “Tổng thống ra lệnh nhưng không ra mặt. Lính chết, bỏ chạy, còn ông thì... chờ viện trợ”.

Sau khi Quân giải phóng làm chủ nhiều đô thị, vùng giải phóng mở rộng, diện tích của ngụy ngày càng thu hẹp, sau năm lần bảy lượt bị quan thầy Mỹ khuyên nhủ, dụ ép, đe dọa và đánh tiếng cảnh báo sẽ có cuộc đảo chính như năm 1963 nếu không nhường ghế, cuối cùng, Thiệu chấp nhận buông bỏ quyền lực bằng một bài diễn văn hôm 21-4-1975 với lời chua chát, uất hận rằng: “Hoa Kỳ đã phản bội chúng ta...”. Và trong đêm tối ở phi trường Tân Sơn Nhất, Thiệu ra đi không kèn, không trống với nỗi lo mất mạng thường trực. Thiệu được Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cho di tản bằng lý do sang Đài Loan viếng Tưởng Giới Thạch.

Cùng thời điểm đó, từ các thông tin tình báo và những bộ óc phân tích chiến lược toàn diện sắc bén, khi chắc chắn “Hoa Kỳ không có khả năng trở lại”, với tinh thần chủ động, Đảng ta đã nắm bắt thời cơ, hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên chiến trường, quân ta càng đánh càng mạnh và đã giành những thắng lợi liên tiếp. Chiến dịch Hồ Chí Minh mở ra quá nhanh chóng khiến quan thầy Mỹ phải cay đắng chấp nhận thực hiện chiến dịch “gió lốc”, di tản khỏi miền Nam Việt Nam.

Trưa 30-4-1975, khi màu áo “sắc xanh núi rừng” tràn ngập dinh Độc Lập, khi cờ đỏ sao vàng và cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay, đặc biệt sau lời đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn Minh trên Đài phát thanh Sài Gòn, “thế giới tự do” giả hiệu sụp đổ hoàn toàn. Lúc này, vai trò “con tốt” của ngụy quyền Sài Gòn trên bàn cờ địa chính trị do quan thầy Mỹ dựng lên chính thức ra đi.

Bài học từ sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn không chỉ là sự thất bại của một bộ máy sống nhờ, tồn tại bằng ngoại lực mà còn là minh chứng sống động cho chân lý: Chỉ có độc lập dân tộc, tự chủ về chính trị và tinh thần đoàn kết toàn dân mới tạo nên sức mạnh trường tồn. Trong bối cảnh thế giới hiện đại đang bị giằng xé bởi mâu thuẫn địa chính trị, cạnh tranh chiến lược và những cuộc xung đột, Việt Nam-một quốc gia nhỏ vẫn giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển là nhờ bài học lịch sử ấy.

Thế nên, việc những kẻ ảo tưởng vào một "thiên đường tự do" viển vông do ngoại bang vẽ ra, tiếp tục cổ xúy, lôi kéo phá vỡ trật tự hiện tại cần nhìn lại số phận của những kẻ đi trước và hãy nhớ rằng: Những “tướng không quân, lính không trận” lưu vong và trái tim rách nát cùng vết thương quá khứ thì sao có thể mang gánh được ước vọng xa xôi. Hãy tỉnh táo mà nhận thức đầy đủ rằng, tự do và dân chủ không bao giờ đến từ những khẩu hiệu trống rỗng, càng không thể được ban phát từ ngoại bang. Nó phải là kết quả của một quá trình đấu tranh tự lực, từ nhân dân, vì nhân dân.

Ngày nay, khi thế giới tiếp tục chứng kiến những cuộc xung đột, chiến tranh ở nhiều khu vực, sự phụ thuộc chính trị, kinh tế khiến nhiều quốc gia nhỏ bị cuốn vào vòng xoáy bất ổn, thì bài học về tự chủ của Việt Nam càng trở nên quý giá.

Giữa lúc thế giới vẫn còn những mô hình “dân chủ xuất khẩu” đầy rối ren, sự vững vàng của Việt Nam chính là minh chứng cho một con đường độc lập-vì dân, từ dân và do dân-không thể bị thay thế bởi bất kỳ ảo tưởng nào đến từ bên ngoài.

Từ chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã chứng minh, lịch sử không dành chỗ cho những ảo tưởng chính trị lạc lõng. Nó chỉ ghi nhớ và tôn vinh những dân tộc dám tự mình viết nên vận mệnh của chính mình mà thôi. Hãy đừng quên bài học ấy!

Không thể xuyên tạc vai trò quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít

Trong bối cảnh Liên bang Nga cùng với một số quốc gia đang chuẩn bị kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, một số thế lực cơ hội chính trị lại đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc vai trò có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến vô cùng khốc liệt và anh dũng để đánh bại chủ nghĩa phát xít, thậm chí, họ đưa ra cáo buộc vô căn cứ rằng “Liên Xô hợp tác với Đức quốc xã để gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai”. Các luận điệu xuyên tạc đó đi ngược lại với sự thật lịch sử...

Đáng chú ý, có một số trang truyền thông, mạng xã hội đưa ra những nhận định không phản ánh đúng lịch sử, cho rằng từ năm 1922, nước Nga Xô viết đóng vai trò giúp Đức quốc xã phát triển tiềm lực quân sự.

Họ lập luận rằng, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Đức bị cấm phát triển vũ khí hạng nặng. Vì thế, Berlin đã khéo léo lách luật này thông qua sự hợp tác bất hợp pháp với nước Nga Xô viết trên cơ sở Hiệp ước Rapallo được ký vào ngày 16-4-1922 để nhanh chóng củng cố tiềm lực quân sự nhằm chuẩn bị phát động Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu.Thông tin trên những trang truyền thông và mạng xã hội này đã xuyên tạc nội dung của Hiệp ước Rapallo giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga và Cộng hòa Weimar-tên gọi của nước Đức vào thời điểm đó. Hiệp ước này bao gồm 6 điều khoản với nội dung chỉ nhằm giải quyết hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất như xử lý vấn đề tù binh của hai nước sau chiến tranh, việc nước Đức phải bồi thường chiến tranh theo Hiệp ước hòa bình Versailles, thiết lập quan hệ ngoại giao trong bối cảnh nước Nga Xô viết bị Mỹ và phương Tây cô lập sau cuộc Cách mạng Tháng Mười (ngày 7-11-1917), thiết lập quan hệ thương mại, tạo điều kiện sống bình thường cho công dân hai nước trên lãnh thổ của mỗi bên.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất  (1914-1918), Nga và Đức đứng trên hai chiến tuyến khác nhau. Trong cuộc chiến này, nước Đức bại trận và phải ký kết Hiệp ước hòa bình Versailles vào năm 1919. Theo đó, nước Đức phải bồi thường chiến tranh cho các quốc gia thắng cuộc như Mỹ, Anh, Pháp... Vì thế, chính quyền Đức coi Hiệp ước hòa bình Versailles là “nỗi quốc nhục” và phải “rửa hận”. Để “rửa hận”, Đức quốc xã sau khi lên cầm quyền từ năm 1933 đã ráo riết chuẩn bị mọi điều kiện để phát động cuộc đại chiến mới ở châu Âu.

Sau Cách mạng Tháng Mười, giới lãnh đạo nước Nga Xô viết cũng nhận thấy rất rõ Hiệp ước hòa bình Versailles chỉ là “khoảng lặng” giữa hai cuộc đại chiến. Do đó, sau khi được thành lập vào năm 1922, Liên Xô quyết định thực hiện chương trình công nghiệp hóa để chuẩn bị đối phó với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tất yếu sẽ bùng nổ ở châu Âu. Chương trình công nghiệp hóa của Liên Xô hoàn tất vào năm 1937, tạo điều kiện để Liên Xô tiến hành thành công cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1941-1945). Vì vậy, tuyệt nhiên không thể có chuyện nước Nga Xô viết tạo điều kiện cho nước Đức nhanh chóng xây dựng lại tiềm lực quân sự để chuẩn bị phát động Chiến tranh thế giới thứ hai.

Ngay trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, lãnh đạo một số nước châu Âu còn căn cứ vào Hiệp ước không tấn công lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức Quốc xã ký ngày 23-8-1939 để lập luận rằng chính hiệp ước này đã châm ngòi cho Chiến tranh thế giới thứ hai!? Thậm chí, dựa vào hiệp ước này, có tổ chức còn coi Liên Xô và Đức quốc xã đều “có tội như nhau” là gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai!?...

Lập luận này đã xuyên tạc bản chất và nội dung của Hiệp ước không tấn công lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức quốc xã. Hiệp ước này xác định Liên Xô và Đức cam kết kiềm chế không tấn công lẫn nhau, giữ thái độ trung lập trong trường hợp một trong hai bên trở thành mục tiêu của những hành động quân sự của bất kỳ bên thứ ba nào, đồng thời cam kết không tham gia các lực lượng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại phía bên kia. Giới lãnh đạo Liên Xô biết rõ rằng, ký hiệp ước không tấn công lẫn nhau với Đức quốc xã không thể ngăn chặn được Chiến tranh thế giới thứ hai mà chỉ để làm chậm lại thời điểm Đức quốc xã tập trung lực lượng của toàn châu Âu để tấn công Liên Xô nhằm chuẩn bị đối phó.

Nhận định của giới lãnh đạo Liên Xô căn cứ vào một sự thật lịch sử khác. Đó là rất lâu trước khi Liên Xô ký với Đức hiệp ước không tấn công lẫn nhau, nhiều nước châu Âu cũng từng ký hiệp ước tương tự với Đức quốc xã...

Đúng như dự báo của giới lãnh đạo Liên Xô, sau khi phát động Chiến tranh thế giới thứ hai vào ngày 1-9-1939, Đức quốc xã đã ký hiệp ước liên minh với nhiều nước châu Âu để chuẩn bị chiến dịch tấn công Liên Xô. Sau khi đã tập hợp được lực lượng của gần toàn bộ châu Âu, ngày 18-12-1940, Hitler phê chuẩn Kế hoạch Barbarossa để bất ngờ tấn công Liên Xô vào ngày 22-6-1941.

Chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai còn đi ngược lại sự thật lịch sử là Đức đã tập hợp lực lượng từ nhiều nước đầu hàng để tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Liên Xô. Vì vậy, Liên Xô đóng vai trò chủ yếu trong Chiến tranh thế giới thứ hai là đánh bại lực lượng liên quân của Đức quốc xã.

Trong cuộc đại chiến này, Liên Xô đã đánh bại 507 sư đoàn Đức quốc xã và 100 sư đoàn đồng minh của chúng; tiêu diệt của Đức quốc xã hơn 70.000 máy bay (chiếm khoảng 70% tổng số máy bay bị phá hủy), khoảng 50.000 xe tăng và vũ khí tấn công (75%), 167.000 khẩu pháo (74%), hơn 2.500 tàu chiến và tàu bảo đảm.

Sau khi đánh bại phát xít Đức ở châu Âu, Liên Xô tiến hành chiến dịch đánh bại đạo quân Quan Đông mạnh nhất của Nhật Bản, đóng vai trò quyết định, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Liên Xô đã phải nỗ lực phi thường để giành được chiến thắng vĩ đại này nhưng cũng phải chịu thiệt hại vô cùng to lớn. Nhiều thành phố và làng mạc bị tàn phá, hơn 27 triệu công dân Xô viết đã thiệt mạng... 

Sau 80 năm, dù bị nhiều luận điệu xuyên tạc, với âm mưu hòng làm thay đổi bản chất cuộc chiến nhưng chiến thắng vĩ đại của nhân dân Xô viết vẫn được loài người tiến bộ ghi nhận, tôn vinh. Theo ghi nhận, nguyên thủ hoặc đại diện của hơn 20 quốc gia đã nhận lời mời tham dự lễ kỷ niệm và cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ ở Moscow vào Ngày Chiến thắng 9-5 năm nay. Ngoài ra, một số quốc gia còn cử lực lượng tham dự cuộc duyệt binh mừng chiến thắng này. Ở châu Âu, bất chấp nhiều áp lực, ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ và một số cá nhân vẫn tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Chiến thắng 9-5...

Chiến thắng của Liên Xô trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại không chỉ góp phần quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít và quân phiệt mà còn tạo điều kiện cho nhiều nước giành được quyền độc lập, trong đó có Việt Nam. Hơn lúc nào hết, loài người tiến bộ cần tiếp tục ngăn chặn các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc vai trò có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít. Đây là hành động thiết thực bảo vệ các giá trị chân chính của lịch sử, của lương tri, đồng thời nhằm ngăn chặn sự phục hồi chủ nghĩa phát xít.

Cơ sở vững chắc cho đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới

 

Gần đây, thuật ngữ “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” trở nên phổ biến trong đời sống chính trị, xã hội của nước ta; thể hiện tầm nhìn và tư duy mới của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ hơn.

Đây vừa là mục tiêu, vừa là lời hiệu triệu khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước, để Việt Nam hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược: 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước.

Luận điệu xuyên tạc lạc lõng, vô căn cứ

Thế nhưng, các thế lực thù địch, phần tử xấu trong và ngoài nước luôn tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc, đả kích vấn đề này. Chúng lợi dụng mạng xã hội phát tán các thông tin sai trái, xuyên tạc mục đích, giá trị, ý nghĩa, phủ nhận bản chất khoa học của khái niệm, nội hàm các vấn đề liên quan đến “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Âm mưu thâm độc của chúng là gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái dư luận, tạo nhận thức lệch lạc, mất niềm tin vào con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, từ đó không phát huy được ý chí, sức mạnh nội sinh, lòng tự hào dân tộc để đưa đất nước vươn mình phát triển. Điều này rất nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực hoàn thành các mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; khẩn trương tiến hành đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Những thành tựu đất nước ta đạt được trong thời gian qua đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái này. Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, đất nước ta đã tạo được thế và lực mới, hội tụ đủ các điều kiện để bước vào kỷ nguyên phát triển mới vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những kinh nghiệm đã tích lũy; sự chung sức đồng lòng của “ý Đảng, lòng dân” và sức mạnh của lực lượng vũ trang; là quyết tâm giải phóng sức sản xuất; phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, nhất là nguồn lực con người và thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đưa đất nước phát triển. Thực tế sau gần 40 năm đổi mới, nước ta từ khủng hoảng, lạm phát 774,7% trước Đại hội VI (1986) đã vươn lên nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và nằm trong tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.

Bằng tầm nhìn chiến lược về tư duy tìm đường đưa đất nước phát triển, Đảng ta đã khái quát nên khái niệm và các nội hàm về kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Luận điểm này hoàn toàn không phải là sự áp đặt ý chí chủ quan, duy ý chí, cũng không phải là “sự viển vông, ảo tưởng”, “xa rời thực tế” như các thế lực thù địch bịa đặt, xuyên tạc.

Nâng cao nhận thức không mắc mưu kẻ xấu

Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần đề cao cảnh giác, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường phát triển của đất nước, tuyệt đối không để mắc mưu các thế lực thù địch, phần tử xấu. Chúng ta cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, nội dung và bản chất của kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc theo quan điểm của Đảng. Quan điểm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của Đảng là khách quan, dựa trên cơ sở khoa học, được tổng kết, đúc rút từ kinh nghiệm, bản lĩnh của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, đặc biệt là những thành tựu đất nước đạt được trong gần 40 năm Đổi mới. 

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng ta đã phân tích thấu đáo xu hướng vận động, phát triển của thế giới, khu vực; đặc biệt là thế và lực của đất nước. Từ đó, Đảng chỉ rõ thời cơ, những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực. Đó là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân tự tin, chung sức, đồng lòng bước vào kỷ nguyên phát triển mới xây dựng đất nước giàu đẹp, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Vượt qua giới hạn phát triển đất nước theo chiều rộng để chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu; không khắc phục được những “điểm nghẽn, nút thắt” bằng những biện pháp quyết liệt hơn, hiệu quả cao hơn, nhất là tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực thì chúng ta không thể tạo ra sự thông thoáng về không gian phát triển, phát huy tối đa sức mạnh của các nguồn lực... đang là hướng đi đúng đắn đã được Đảng chỉ ra nhằm đưa đất nước phát triển.  "Ý Đảng, lòng dân" luôn hòa quyện, thống nhất, mà biểu hiện rõ nhất trong giai đoạn hiện này là quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị; thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới. Chúng ta tin tưởng rằng, với những thành tựu to lớn đã đạt được, truyền thống đoàn kết, thống nhất, toàn dân chung sức đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta sẽ không ngừng phát triển, đạt được các mục tiêu đề ra.

Luận điệu bóp méo quan điểm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Tuy nhiên, các quan điểm sai trái và thế lực thù địch đã lợi dụng tình hình để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo rằng việc khuyến khích kinh tế tư nhân là từ bỏ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm gây hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trước những luận điệu sai trái này, Đảng và Nhà nước luôn kiên định với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế tự chủ, bền vững, trong đó kinh tế tư nhân được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước.

Các quan điểm sai trái, phản động về kinh tế tư nhân

Các thế lực thù địch và phản động gần đây đã lợi dụng sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng cố tình tuyên truyền rằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân là dấu hiệu từ bỏ nền tảng xã hội chủ nghĩa, hoặc chuyển hướng sang kinh tế tư bản, chúng xuyên tạc rằng, sự điều chỉnh từ kinh tế nhà nước sang kinh tế tư nhân là một sự lật đổ chính sách.

Một số quan điểm sai trái, phản động khác còn cho rằng chỉ có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mới phù hợp với quy luật phát triển, đồng thời xuyên tạc Việt Nam đang “chuyển đổi sang nền kinh tế tư bản dưới vỏ bọc xã hội chủ nghĩa”. Ngoài ra, các thế lực này còn cho rằng sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân làm suy yếu vai trò của kinh tế nhà nước và tập thể, dẫn đến bất bình đẳng xã hội và mất kiểm soát tài nguyên quốc gia, sử dụng các diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội và các buổi thảo luận giả danh chuyên gia để tuyên truyền rằng “một nền kinh tế thị trường không thể tồn tại trong chế độ độc đảng”. Những luận điệu này không chỉ bóp méo thực tiễn, phủ nhận thành quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gây hoài nghi trong dư luận mà còn nhằm phá hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, kêu gọi thay đổi thể chế chính trị.

Cơ sở l‎ý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân thực chất là khu vực kinh tế thuộc sở hữu của cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoạt động vì lợi ích riêng nhưng đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng chế độ sở hữu tư nhân là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội và sự tha hóa con người. C.Mác chỉ ra rằng, sở hữu tư nhân dẫn đến “sự cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế và cuối cùng là tập trung tư bản, làm gia tăng bất công xã hội”. Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng khẳng định, trong một số giai đoạn lịch sử, kinh tế tư nhân có thể thúc đẩy sản xuất và phát triển lực lượng lao động, tạo tiền đề cho sự phát triển và tiến bộ xã hội.Kế thừa quan điểm này, V.I.Lênin nhận định, kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nhấn mạnh: Chính sách ngăn cấm hoàn toàn trao đổi tư nhân là một sự dại dột và tự sát. Chính sách kinh tế mới-NEP (1921) đã cho phép các doanh nghiệp nhỏ và thương mại tự do hoạt động để phục hồi nền kinh tế Nga sau chiến tranh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm khai thác tiềm năng của kinh tế tư nhân để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời định hướng khu vực này theo con đường xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin khẳng định: Chúng ta sẽ học cách vận hành nền kinh tế từ các nhà tư bản, kể cả các nhà tư bản nước ngoài.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng, trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, khu vực này chiếm hơn 60% GDP, hơn 70% đổi mới công nghệ và tạo ra hơn 80% việc làm ở đô thị, với hơn 90% số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân, các doanh nghiệp này đã góp phần đáng kể vào việc ổn định tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sáng tạo và hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt, từ sau cải cách mở cửa năm 1978, kinh tế tư nhân đã phát triển vượt bậc, trở thành động lực chính trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Trung Quốc. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ đã giúp Trung Quốc đạt được những thành tựu lớn, như việc tăng số doanh nghiệp tư nhân trong danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới từ 1 doanh nghiệp năm 2010 lên 28 doanh nghiệp năm 2018. Những con số này cho thấy vai trò không thể thiếu của kinh tế tư nhân trong việc thực hiện mục tiêu "Giấc mộng Trung Hoa" và xây dựng một nền kinh tế hiện đại, phát triển chất lượng cao.

Đối với Hàn Quốc và Nhật Bản, kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa. Tại Hàn Quốc, từ thập niên 1960, chính phủ đã thực hiện các chính sách chiến lược nhằm khuyến khích phát triển các tập đoàn lớn như Samsung, Hyundai và LG thông qua vốn vay ưu đãi, bảo vệ ngành công nghiệp nội địa và tập trung vào các ngành chủ chốt như sản xuất hóa chất và thép. Nhờ đó, khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm hơn 80% GDP, tạo ra chuỗi cung ứng rộng lớn và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, Nhật Bản cũng coi khu vực tư nhân là trụ cột quan trọng trong chiến lược tái định hình nền kinh tế. Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ như giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài trợ nghiên cứu và phát triển, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp khu vực tư nhân chiếm hơn 65% GDP quốc gia.

Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân bắt đầu được thừa nhận chính thức từ Đại hội VI (1986), khi Đảng khẳng định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch...” và nhận ra sự cần thiết phải “sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Từ đó, khu vực này từng bước được nhìn nhận là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta nhấn mạnh: Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Đồng thời, Đảng đặt mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60-65%. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự nhất quán trong đường lối của Đảng nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành “một động lực quan trọng” thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao đời sống nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, dân số già hóa nhanh chóng và áp lực từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ đóng góp lớn vào GDP và tạo việc làm mà còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng công nghệ cao; yêu cầu xóa bỏ mọi rào cản, định kiến đối với kinh tế tư nhân; xây dựng các chính sách hỗ trợ toàn diện như cải thiện môi trường pháp lý, phát triển hạ tầng hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Quan điểm này không chỉ phù hợp với lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn nhất quán với đường lối đổi mới của Đảng, khẳng định rằng việc phát triển kinh tế tư nhân là sự vận dụng sáng tạo để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, không hề đi ngược lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn.

Để phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay, cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm như hoàn thiện thể chế và xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo thông qua chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao, cũng như giải phóng tối đa các nguồn lực phát triển. Những giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn lực công bằng mà còn tạo điều kiện để khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế tư nhân không phải là sự từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa như các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà chính là sự vận dụng sáng tạo để đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và đạt mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045. Những quan điểm sai trái này cần được kiên quyết đấu tranh, phản bác mạnh mẽ để bảo vệ niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đừng vì bức xúc...

 

- Thế này là nguy rồi! Nguy thật rồi!

Tiếng kêu thất thanh từ nhà chị Thoa cùng xóm vang lên giữa trưa hè. Tôi giật mình, vội vã chạy sang. Chị Thoa ngồi bệt giữa nền nhà, nước mắt lưng tròng, tay ôm chặt một hộp sữa bột. Anh Toán chồng chị thì luống cuống chưa hiểu chuyện gì.

- Sữa này... sữa anh Toán mua cho chị. Nó... nó là giả! Báo chí nói đây là hàng giả, độc hại! Trời ơi, chị uống cả tháng nay rồi. Ai biết được họ bỏ cái gì vào trong? Anh Toán thương chị hay đi trực đêm nên mua sữa tẩm bổ. Ai ngờ... ai ngờ...

Chị Thoa nấc lên từng tiếng. Tôi cầm hộp sữa lên ngó nghiêng, lấy điện thoại ra thử tìm hiểu. Quả thật, nhãn hiệu sữa chị Thoa dùng bị liệt vào danh sách những sản phẩm giả mạo.

- Vụ việc đã được phát giác. Các cơ quan chức năng đang phối hợp để làm rõ nguồn gốc, quy mô và mức độ vi phạm của tổ chức, cá nhân liên quan.Nghe tôi đọc to một đoạn, chị Thoa bỗng đập tay xuống bàn, giọng đầy uất ức:

- Sao không bắt hết bọn chúng đi? Làm sữa giả, hại người, đáng ra phải tống tù cả lũ ngay lập tức! Hay là bọn chúng có quan hệ với chính quyền? Hay là các cơ quan lại đùn đẩy trách nhiệm, cuối cùng chẳng ai bị sao cả. Mấy hôm nay chị đọc đầy rẫy thông tin như vậy trên mạng xã hội, nhưng bán tín bán nghi. Giờ thành nạn nhân thì thấy có khi là thế...

- Mình cứ bình tĩnh. Giận quá mất khôn! - Anh Toán xoa dịu vợ.

- Em đồng ý với anh Toán. Không phải chuyện gì chị cũng tin mấy bài đăng trên mạng đâu. Quả thật vụ sữa giả bị phơi bày ra ánh sáng đã làm “dậy sóng” dư luận. Đó là hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Nhưng thay vì chung tay đấu tranh, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại coi sự việc này là “miếng mồi” béo bở để tạo tâm lý hoang mang trong dư luận và xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền. Với cái nhìn phiến diện, cảm tính, chúng rêu rao rằng việc phá án sữa giả là “ngẫu nhiên”; việc phân cấp quản lý giữa các bộ, ngành và địa phương còn mơ hồ, dẫn đến tình trạng các cấp đùn đẩy trách nhiệm cho nhau; chính quyền cố tình làm ngơ để dân hứng chịu; hay trong đội ngũ làm hàng giả có “người nhà” của cán bộ cấp cao nên cơ quan chức năng đang “chùn chân”, muốn “làm nguội” vụ này rồi chìm vào quên lãng...

- Thì em cứ thử đặt vào địa vị của chị xem có tránh được việc phải phán xét như thế không? - Chị Thoa trách ngược.

- Em hiểu, không chỉ chị mà nhiều người khác, nhất là khi đang bức xúc thì rất dễ bị “dắt mũi”. Song vụ việc vẫn đang được điều tra và xử lý theo đúng trình tự luật pháp, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt rồi. Những tổ chức, cá nhân sai phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh. Đảng ta rất quyết tâm và không có “vùng cấm” trong việc xử lý sai phạm. Rất nhiều vụ án lớn, trọng điểm thời gian qua là ví dụ rõ ràng đó chị!

Chị Thoa như thể tỉnh ra, gật đầu lia lịa:

- Chắc chị nghĩ quẩn. Mà đúng là mấy hôm nay chị lướt mạng thấy toàn tin tiêu cực như thế, xem nhiều cũng thấy hoang mang...

Trước khi ra về, tôi thấy chị Thoa đã bình tâm hơn hẳn. Trong cơn bức xúc, lo lắng, đôi khi chỉ cần một lời giải thích tỉnh táo là có thể giúp người khác không bị kích động, suy nghĩ sai lầm, suy diễn tiêu cực.