Thứ Năm, 5 tháng 6, 2025

GIÁ TRỊ VÀ SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

 

 

Sự phát triển tiến lên hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển xã hội loài người. Để chủ nghĩa xã hội được xây dựng vững chắc thì nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng cách mạng cần phải được củng cố, bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là chân lý thời đại soi đường cho quá trình giải phóng dân tộc giành độc lập ở các nước thuộc địa và quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở các nước chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu đạt được trong xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước ta đã khẳng định chân lý thời đại của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để nền tảng tư tưởng của Đảng mãi là ngọn đường dẫn lối thì xây dựng và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng là hai nhiệm vụ chiến lược trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã luận giải và khẳng định: “Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam”. Trong thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, có ý kiến lo ngại là “đổi mới” hay “đổi màu”, công cuộc đổi mới có giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa hay không, phát triển có hợp quy luật không? Vì thế, công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là một vấn đề lớn, thu hút nhiều sự chú ý ở cả trong nước và nước ngoài trong những năm qua.

 Kể từ Đại hội VI (1986) của Đảng đến nay, đã có những cuộc hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của chủ nghĩa xã hội; trong đó, không ít ý kiến có biểu hiện dao động, hoài nghi về tương lai của chế độ xã hội chủ nghĩa. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội hiện thực rơi vào khủng hoảng trầm trọng, sụp đổ ở Liên Xô và một số nước Đông Âu; nhưng với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Sự sụp đổ ở Liên Xô và một số nước Đông Âu đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX chỉ là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội; trong đó thể hiện  tư tưởng chủ quan duy ý chí, vi phạm (hoặc xa rời) các nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở lực lượng lãnh đạo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các quốc gia đó. Sức sống và giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị và ngày càng được khẳng định thông qua những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam đã và đang đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành tựu của đất nước ta góp phần khẳng định tính chân lý, tính thời đại của một học thuyết cách mạng, khoa học và triệt để.

Có thể khẳng định giá trị, sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay là tất yếu khách quan của lịch sử. Bởi xuất phát từ quá trình hình thành của chủ nghĩa Mác một nền tảng tư tưởng vững chắc đã được vận dụng và trở nên hoàn bị trong thực tiễn cách mạng. Ngay từ Cách Mạng tháng Mười Nga cho đến Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở các nước thuộc địa và cho đến thế kỷ XXI đó là những thành tựu trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thi trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới cuộc sống tự do ấm no, hạnh phúc của con người. Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội cũng đồng thời cho thấy những hạn chế, khuyết tật vốn có của chủ nghĩa tư bản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của lịch sử loài người là tiến trình hợp với quy luật sự phát triển xã hội.

 Ngày nay, như trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Mặc dù thế giới có nhiều đổi thay, bản thân các nước tư bản cũng có sự điều chỉnh để thích nghi với hoàn cảnh mới, nhưng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không hề thay đổi. Những hạn chế, khuyết tật vốn có của chủ nghĩa tư bản, như ô nhiễm môi trường, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn xã hội, khủng hoảng kinh tế, bất bình đẳng xã hội... vẫn diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp ở các nước tư bản. Với những mâu thuẫn mang tính bản chất đó, theo sự vận động của quy luật xã hội, xu hướng diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản vẫn là vấn đề thời sự của không chỉ thời Mác sống mà ngay cả tới tận ngày nay. Nhất là khi đại dịch COVID-19 diễn ra lại càng làm bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị - xã hội của các nước này không vì sức khỏe, hạnh phúc của đại đa số nhân dân lao động. Các phong trào đấu tranh phản kháng xã hội đã bùng nổ mạnh mẽ, với những nội dung và hình thức mới ở nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua, càng làm bộc lộ rõ sự thật về những mâu thuẫn mang tính bản chất không thể hóa giải của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi là lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, C. Mác đã chỉ ra quy luật phát triển của xã hội loài người thực chất là sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, thông qua cách mạng xã hội. Sự thay thế đó là một quá trình lâu dài và được quyết định bởi những mâu thuẫn nội tại của các hình thái kinh tế - xã hội ấy. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội được xem như là một cơ thể sống, một cơ cấu xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn biến động bởi sự tác động tổng hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong sự tác động đó, con người luôn giữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất, quyết định sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Vì thế, Các-Mác khẳng định: “Trong tất cả những công cụ sản xuất, thì lực lượng sản xuất hùng mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng”.

Trong khi khẳng định tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, C. Mác cũng chứng minh tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội mà hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa nhất thiết phải chuyển sang, đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự vận động, phát triển, thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao là quy luật tất yếu của lịch sử xã hội loài người, chứ không phải của riêng một dân tộc hay quốc gia nào.

Đối chiếu với lịch sử phát triển xã hội loài người cũng như thực tiễn phát triển xã hội của nhân loại ngày nay, có thể thấy, sự tổng kết nói trên của Các-Mác là hoàn toàn đúng đắn, vượt xa thời đại mà ông sống về tư duy cũng như tầm nhìn. Quan điểm duy vật lịch sử cùng với lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của Các-Mác là nền tảng trong việc hình thành nhận thức về xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại và xã hội xã hội chủ nghĩa với đầy đủ những đặc điểm về bản chất, mâu thuẫn, xu hướng vận động, phát triển cũng như con đường đưa chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trở thành hiện thực.

Lý luận kinh tế chính trị của Các-Mác với học thuyết giá trị thặng dư lại chỉ ra mục đích và bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư và lợi nhuận tối đa, là nguồn gốc dẫn tới sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội. Nhiều học giả tư sản cố gắng phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư của Các-Mác bằng cách lý giải rằng, chính máy móc tạo ra giá trị, còn sức lao động của công nhân thì được trả công sòng phẳng, vì thế, nhà tư bản không hề bóc lột công nhân, mà họ làm giàu chính đáng nhờ “bóc lột” máy móc. Tuy nhiên, Các-Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra những mâu thuẫn cũng như khuyết tật cố hữu của chủ nghĩa tư bản, đồng thời cung cấp căn cứ lý luận xác đáng để đi đến khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.

Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, giá trị thặng dư được tạo ra ngày càng nhiều hơn cho nhà tư bản. Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, người lao động mặc dù được đề cao và đời sống của họ cũng được cải thiện nhiều mặt; song, xét về địa vị, họ vẫn là những người lao động làm thuê, phục vụ mục đích làm gia tăng giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện đại không hề thay đổi. Những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên sâu sắc. Trước thực tiễn đó, bản thân chủ nghĩa tư bản, dù ở phương Đông hay phương Tây, đều phải điều chỉnh để thích nghi và tồn tại.

Theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội có mục đích trực tiếp là giải phóng giai cấp vô sản, song bản chất và mục đích sâu xa của chủ nghĩa xã hội hay của chủ nghĩa cộng sản là giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người được tự do và phát triển toàn diện. Quan điểm này của chủ nghĩa Mác vừa bao hàm giá trị khoa học, biện chứng, vừa thấm đẫm tính nhân văn, nhân đạo cao cả. Chủ nghĩa Mác, bằng lý luận hoàn bị của mình, khẳng định việc thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân, người lao động là tất yếu khách quan, thay thế cho chế độ tư bản chủ nghĩa vốn đã bộc lộ quá nhiều khiếm khuyết và mâu thuẫn; đồng thời, luận giải một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở các nước lạc hậu... Phương pháp tiếp cận khoa học, biện chứng cùng quan điểm có tính cách mạng và nhân văn về bản chất, mục tiêu, động lực phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa là những giá trị không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác.

Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xuất phát từ thực tiễn nước Nga và bối cảnh chủ nghĩa tư bản thế giới chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển lý luận của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, hình thành nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự bổ sung, phát triển đó của V.I. Lê-nin diễn ra toàn diện, cả trên lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, nhằm ứng dụng vào thực tiễn cách mạng nước Nga. V.I. Lê-nin là người sáng lập ra học thuyết về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và đưa ra luận điểm: Cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí ở một nước lạc hậu. Luận điểm này đã được chứng minh bởi thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là sự bổ sung, phát triển sáng tạo của V.I. Lê-nin đối với học thuyết của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, bởi trước đó, hai ông nhận định, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể giành thắng lợi trước tiên ở các nước công nghiệp phát triển phương Tây.

V.I. Lê-nin còn nhận thấy vai trò to lớn và mối quan hệ mật thiết của cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới, của độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đưa đến sự ra đời của nước Nga Xô-viết, đồng thời mở ra thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

Có thể nói, tư tưởng của V.I. Lê-nin về cách mạng vô sản, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông, có chủ nghĩa tư bản phát triển ở mức độ trung bình; về đặc điểm, tính chất, biện pháp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; về vai trò của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa..., đều là những sáng tạo vô giá, giúp bổ sung, làm giàu thêm cho lý luận của chủ nghĩa Mác. Nhờ đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở thành ngọn hải đăng soi sáng con đường cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người cho hàng triệu người dân lao động ở các nước thuộc địa trên thế giới, cũng là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới hiện nay.

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước. Ngay sau khi được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin, Người xác định, con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là phải tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng dân tộc, giai cấp và con người. Vì thế, xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người tiên phong trong việc thức tỉnh dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Đồng thời, Người cũng khẳng định: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng ở chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc; nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể chủ động đứng lên, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, chuyển hóa và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng nước ta; qua đó, tạo nên hệ thống tư tưởng của mình và tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930). Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo, dẫn dắt của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đã khẳng định và chứng minh giá trị, sức sống vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thành tựu của sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước của Việt Nam sáng tỏ như ban ngày, không thế lực đen tối nào có thể che phủ được. Đến nay, quy mô nền kinh tế Việt Nam vượt mốc 300 tỉ USD, trong tốp 40 nền kinh tế lớn của thế giới và đứng thứ 4 trong ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt trên 3.500 USD; nằm trong tốp 10 quốc gia tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới và là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Nhận xét về Việt Nam, tờ báo cánh tả People’s World của Mỹ, ngày cho rằng: “Sở dĩ Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam thu hút sự chú ý của quốc tế vì Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ trên trường quốc tế, trở thành quốc gia hùng mạnh cả về kinh tế và ngoại giao”. Tờ The Straits Times nhật báo tiếng Anh, được xuất bản tại Singapore, ngày khẳng định: “Vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế đã gia tăng trong những năm gần đây. Trên cương vị Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam đã dẫn dắt tổ chức khu vực này vào thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng Covid-19 và giúp kinh tế toàn khu vực (RCEP) vượt qua vạch đích để ký được hiệp định. Việt Nam cũng là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021”. Đài truyền hình KBS của Hàn Quốc bình luận: “Việt Nam sau một thời gian lao khổ, hôm nay đứng dậy sáng lòa cùng nhân loại. Việt Nam ngẩng cao đầu, tự hào hòa đồng và đi lên cùng nhân loại”.

Cùng với đó, thực tiễn đổi mới, cải cách, mở cửa, thích ứng với điều kiện mới ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, những chuyển biến tích cực tại các nước tư bản chủ nghĩa và nỗ lực phát triển không ngừng của các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, cũng là những minh chứng cho giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thời đại ngày nay.

Những chân lý thời đại trong học chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trực tiếp đe dọa dến sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị đang ra sức tìm mọi cách chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta, với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Nhất là trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đưa xã hội loài người phát triển lên tầm cao mới, các thế lực thù địch lợi dụng vào đó chống phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Đấu tranh làm thất bại các âm mưu thủ đoạn chống phá các thế lực thù địch, bảo vệ vũng chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta cần tăng cường những giải pháp đúng đắn, phù hợp.

Một là, đẩy mạnh việc giáo dục, tuyên truyền sâu rộng, kết hợp với nghiên cứu phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới

Việc giáo dục, tuyên truyền tập trung bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những minh chứng cụ thể từ thực tiễn phong trào cách mạng thế giới, trực tiếp là của các nước xã hội chủ nghĩa, tiêu biểu như Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba... Việc giáo dục phải được tiến hành một cách cơ bản, hệ thống, có chiều sâu với những nội dung, hình thức đa dạng, phù hợp với từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, trong đó cần đặc biệt chú trọng đến những đối tượng là thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Công tác tuyên truyền phải sâu rộng đến mọi tầng lớp xã hội, làm cho mọi người hiểu được những vấn đề cơ bản của học thuyết, có khả năng đề kháng trước những luận điệu xuyên tạc, âm mưu đầu độc tư tưởng nhân dân của các thế lực thù địch. Mặt khác phải đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tiễn luôn vận động, phát triển và biến đổi không ngừng nên lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng cần được bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn đương đại. Có phát triển và thông qua phát triển, thì chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mới phát huy sức sống và sức mạnh với thời đại. Như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”.

Hai là, kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái; bảo vệ tính khoa học, trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Ở mỗi thời điểm, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là không hoàn toàn giống nhau. Do vậy, để đấu tranh có hiệu quả, trước hết chúng ta cần nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mà các lực lượng phản động, cơ hội chính trị sử dụng để chống phá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, cần chủ động tổ chức nghiên cứu, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ những luận điểm chung đến những luận điểm cụ thể, trên từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trên cơ sở đó, tăng cường hơn sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; bảo đảm các hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng trong quan điểm chính trị, sâu sắc về tính khoa học, hiệu quả trong phương pháp đấu tranh. Cần huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan truyền thông, báo chí... tiến công chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức, để kịp thời định hướng đấu tranh. Quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, điều kiện vật chất cho các hoạt động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

Ba là, xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; trong đó đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, yêu cầu thiết yếu đặt ra là phải không ngừng củng cố, xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, thực sự là hạt nhân chính trị ở cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ năng lực, uy tín và trình độ để giáo dục, thuyết phục và định hướng cho quần chúng trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch. Muốn vậy, cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả sinh hoạt tự phê bình và phê bình  “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khoá XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm đấu tranh với các quan điểm sai trái. Phấn đấu mỗi tổ chức đảng, mỗi chi bộ là một pháo đài vững chắc trên trận địa đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bốn là, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, tập trung phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân làm chỗ dựa vững chắc cho tư tưởng

Thực tế cho thấy, không một lý thuyết nào có thể đứng vững nếu lý thuyết đó không giúp cải tạo thực tiễn theo chiều hướng tốt đẹp hơn, đúng như C.Mác đã từng nói: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”. Trên cơ sở thấm nhuần, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (từ năm 1986), thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử “đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, trong chặng đường tiếp theo, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cần tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa; bảo đảm nền kinh tế phát triển năng động, đạt mức tăng trưởng cao; giữ vững môi trường chính trị, văn hóa, xã hội; làm cho mọi tầng lớp nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước, nâng cao hơn nữa vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Thành quả đó sẽ là minh chứng thực tế thuyết phục, là yếu tố quan trọng góp phần đấu tranh, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đập tan những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

Hiện thực lịch sử đã chứng minh, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, là chân lý, mang giá trị vượt thời đại, có sức sống trường tồn, mãnh liệt. Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đứng trước nhiều thời cơ thuận lợi, song cũng không ít thách thức, khó khăn. Nhưng chúng ta luôn có niềm tin vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sang suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, với nền tảng tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước ta nhất định sẽ đạt được thành tựu to lớn, hoàn thành thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

BÁC HỒ NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Bác Hồ chính là người anh hùng vĩ đại trong trái tim của người Việt Nam. Bác đã chiếu sáng con đường thành công của cách mạng Việt Nam. Làm thế nào một người con bé nhỏ từ xứ Nghệ có thể thực hiện được điều lớn lao đó? Trước Bác, cũng có nhiều người đi qua khắp nơi trên thế giới, nhưng họ đi thám hiểm, đi buôn, đi truyền giáo. Người đi qua khắp thế giới để cứu dân tộc của mình chỉ có một. Đó chính là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Mỗi nơi mà Bác đi qua, Bác để lại một biểu tượng đẹp về lòng yêu nước. Bác lên tàu tìm đường cứu nước khi còn trẻ, và khi trở về, mái tóc Bác đã chuyển màu bạc. Bác không tiếc nuốt trọn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bác đã mang lại cuộc sống an lành mơ ước cho người dân Việt Nam. Mọi việc Bác đã làm, từ nhỏ đến lớn, đều bắt nguồn từ lòng yêu nước chân thành và mãnh liệt. Chính tình yêu nước đó đã tạo nên Bác Hồ, người anh hùng dân tộc của chúng ta ngày nay.

Dưới sự lãnh đạo thông minh của Bác, quân và dân ta đã dũng cảm đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược với một niềm tin tuyệt đối vào ngày chiến thắng. Tuy nhiên, Bác không chỉ cứng rắn trong hoạt động quân sự mà còn rất tinh tế trong lĩnh vực văn học. Thơ của Bác không phong phú nhưng rất sâu sắc và ý nghĩa. Từng câu từng chữ đều thể hiện sự kiên định, niềm hy vọng, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dù lúc ấy Bác đang trong tù hay sống giữa vô vàn gian khổ. Một danh nhân đã từng nói: “Khi nói về văn học Việt Nam, trước tiên cần hiểu về Bác, hiểu về con người văn hóa Hồ Chí Minh”. Quả thật như vậy, Bác đã kết hợp tinh hoa văn hóa nhân loại với cội nguồn văn hóa Việt Nam, tạo ra một nét văn hóa rất riêng biệt ở Bác. Mọi điều trên đã thuyết phục UNESCO trao tặng Bác danh hiệu “Danh nhân văn hóa thế giới”.

Không chỉ có tài năng, Bác còn là một tấm gương đạo đức rực rỡ. Biết bao người chiến sĩ cộng sản từng sống và làm việc với Bác thường không khỏi xúc động khi nhớ lại những ký ức đó. Bác luôn để lại ấn tượng đẹp trong lòng mỗi người gặp Bác bởi vẻ giản dị, mộc mạc và cực kỳ trong sạch. Trong mỗi lời nói của Bác đều ẩn chứa những nguyên tắc đạo đức mà không khô khan mà lại nhẹ nhàng, sâu sắc và dễ dàng lọt vào lòng người. Lối sống của Bác cũng rất bình dân, mộc mạc như mục đích sống của Bác là hết lòng vì nước, vì dân. Bác không có lâu đài như các vua chúa khác mà sống trong ngôi nhà sàn đơn giản để có thể hòa mình với thiên nhiên. Tủ quần áo của Bác cũng rất đơn giản, chỉ là hai bộ quần áo mà Bác thường mặc cùng vài kỷ vật sau những chuyến đi nước ngoài. Là một người lãnh đạo vĩ đại nhưng Bác lại giản dị và mộc mạc như thế. Mỗi câu chuyện về Bác đều là một bài học đạo đức nhẹ nhàng và sâu sắc.

Càng hiểu biết và tìm hiểu về Bác Hồ, chúng tôi càng tự hào về đất nước Việt Nam của mình, một đất nước nhỏ bé nhưng đã sinh ra những danh nhân vĩ đại. Hồ Chí Minh là một người chiến sĩ cộng sản kiên trung, là một người con anh hùng của dân tộc Việt Nam, cũng là một vị lãnh đạo vĩ đại của dân tộc. Bác là tia sáng của lý tưởng và niềm tin trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Dù đã đi xa, nhưng sao vẫn cảm thấy Bác đang dõi theo từng bước tiến của dân tộc. Ai dám hiến dâng cuộc đời cho nhân dân, cho loài người, thì người đó trở nên bất tử. Và Bác Hồ của chúng ta sẽ sống mãi cùng với non sông đất nước.

 

 

Tác hại khôn lường của những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD

 

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN ĐỘI TA

 


Nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ thống lý luận, là cơ sở khoa học và thực tiễn về xây dựng Đảng, về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, về định hướng phát triển của Đảng, về mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng là bộ phận quan trọng, là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Nếu nền tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung nền tảng đó vừa mang tính cách mạng vừa có tính khoa học sâu sắc. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta xác định “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin” làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Điều lệ Đảng năm 1935 khẳng định: “Đảng Cộng sản Đông Dương, đội tiền phong duy nhất của vô sản giai cấp, tranh đấu để thu phục đa số quần chúng vô sản, lãnh đạo nông dân lao động và tất thảy quần chúng lao động khác, chỉ huy họ làm cách mạng phản đế và điền địa (mưu cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập, dân cày được ruộng đất, các dân tộc thiểu số được giải phóng), lập chính quyền Xô viết công nông binh, đặng dự bị điều kiện tranh đấu thực hiện vô sản chuyên chính, kiến thiết xã hội chủ nghĩa là thời kỳ đầu của cộng sản chủ nghĩa theo chương trình của Quốc tế Cộng sản”. Điều lệ của Đảng năm 1951 chỉ rõ: “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Ănghen - Lênin - Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ III (1960) của Đảng xóa bỏ cụm từ "Ănghen, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông", Nghị quyết đại hội xác định: “Đảng lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời, khẳng định: tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng; thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh năm 1991, không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong bối cảnh hiện nay, trước những nguy cơ và thách thức lớn đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã nhấn mạnh: Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Để xây dựng và phát triển đất nước không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, trên thực tế con đường này đã khẳng định được sự thành công rõ nét, thể hiện qua các thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thành tựu của công cuộc đổi mới.

Nền tảng tư tưởng đã được Đảng xác định sẽ tiếp tục soi sáng đường đi tới cho cách mạng Việt Nam. Nhận thức sâu sắc sự nguy hại và hậu quả nghiêm trọng của việc xa rời nền tảng tư tưởng, trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt lên hàng đầu quan điểm : “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng có những thời điểm quyết liệt, có tính chất sống còn, có những lúc êm ả nhưng không kém phần cam go, phức tạp, nhưng Đảng ta vẫn đứng vững.  Trong tình hình hiện nay, Đảng và nhân dân ta đang tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thế và lực của chúng ta đã lớn mạnh hơn, nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn đang diễn ra với những khó khăn và thách thức mới, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị

 Gần đây, lợi dụng việc Đảng ta đẩy mạnh cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức tung ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá nguy hiểm. Do đó, cần nhận diện rõ bản chất của những luận điệu đó để tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Hiện nay, trên một số trang mạng xã hội phản động, các thế lực thù địch đưa ra nhiều thông tin, luận điệu xuyên tạc về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị mà Việt Nam đang tiến hành rất ráo riết. Những luận điệu đó tập trung vào 3 nhóm vấn đề sau:

Một là, có một số luận điệu cho rằng chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy ở Việt Nam là “ý muốn chủ quan”, “ý muốn cá nhân” của một số lãnh đạo cấp cao của Việt Nam. Có một số kẻ còn cáo buộc rằng “sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng phe cánh”, giải quyết “đấu đá nội bộ” hay đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Do đó, chủ trương này được tiến hành rất nhanh chóng.

Hai là, một số luận điệu khác cho rằng việc tinh gọn tổ chức bộ máy của Việt Nam chỉ là trò “đánh trống khua chiêng”, tuy được tiến hành rầm rộ nhưng “không thực chất” bởi “cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp”. Do đó, họ cáo buộc rằng “Việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là hình thức, mị dân”; “việc tinh giản biên chế sẽ khiến nhiều người mất việc, là thiếu tính nhân văn, gây ra mất ổn định xã hội”...

Ba là, từ thực tế sau khi tinh gọn, sáp nhập, một số đơn vị có số lượng cấp phó tăng lên nhiều hơn so với quy định, có quan điểm cho rằng “Càng tinh gọn lại càng phình ra”... Vì thế, có phần tử cơ hội chính trị còn võ đoán rằng chủ trương tinh gọn này trước sau cũng “chết yểu”, rồi “đâu lại vào đấy” và bộ máy chính trị của Việt Nam luôn có sẵn những “khuyết tật không thể giải quyết”!

Đáng lo ngại hơn cả, không chỉ có những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động bên ngoài mà ngay chính một bộ phận cán bộ, đảng viên do mơ hồ về nhận thức, dao động về lập trường tư tưởng đã tỏ ra hoang mang, tin theo những luận điệu sai trái hoặc có thái độ hoài nghi, mất niềm tin vào chủ trương lớn của Đảng. Đây là những biểu hiện không thể xem thường vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, sâu xa hơn là ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Do đó, mỗi cán bộ đảng viên và nhân dân cần tỉnh táo, cảnh giác để không mắc vào bẫy của chúng. Từ đó, xây dựng niềm tin, đồng thuận cao với chủ trương lớn cảu Đảng và dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.

Nhận diện, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, phá hoại công tác cán bộ của Đảng trên không gian mạng

 

Công tác cán bộ của Đảng là một trong những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động, chống đối thường xuyên nhắm đến hòng xuyên tạc, tô vẽ, bịa đặt… nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, nhất là trên không gian mạng và trong những thời điểm đất nước ta diễn ra các sự kiện kinh tế-chính trị-xã hội quan trọng, tần suất thông tin chống đối, xuyên tạc lại càng gia tăng mạnh mẽ…

Thời gian gần đây, lợi dụng việc Đảng ta triển khai công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV, việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, cho một số cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác, nghỉ hưu hoặc xử lý kỷ luật, khởi tố đối với một số cán bộ có vi phạm đến mức phải xem xét, kỷ luật thì các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội… lại tiếp tục ra sức chống phá, họ tung tin thất thiệt, xuyên tạc tình hình, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phê phán, kích động công tác cán bộ của Đảng, với mưu đồ làm suy giảm niềm tin, kích động tinh thần chống đối của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước…

Thủ đoạn của họ là tự suy diễn, suy đoán, dựng nên những câu chuyện mập mờ, thiếu rõ ràng, dựng nên chuyện về nhân vật này, nhân vật kia rồi đàm tiếu, suy luận…khẳng định rằng Đảng ta thế này, Đảng ta thế kia với âm mưu thâm hiểm là gây tâm lý nghi ngờ, kích động tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tiến tới hạ thấp uy tín của Đảng đối với nhân dân; phá hoại mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân…

Bên cạnh việc xuyên tạc, bôi nhọ, kích động… Đảng, Nhà nước, họ đẩy mạnh việc cổ xúy, vuốt ve cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; cho rằng công tác nhân sự, công tác cán bộ của Đảng là “không bài bản”, “áp đặt”, “vô nguyên tắc, thiếu minh bạch, mất dân chủ”; “ham sử dụng “cánh hẩu”, “hậu duệ”, ham sử dụng đối tượng “cơ hội” chạy chức, chạy quyền”; “đặt lợi ích nhóm lên trên lợi ích quốc gia - dân tộc”; “không coi trọng sử dụng đúng hiền tài, “nguyên khí” của quốc gia”, từ đó họ kết luận rằng cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo cũng “không xứng đáng là “công bộc”, là “đầy tớ trung thành của nhân dân”…

Những luận điệu xuyên tạc, vu khống trắng trợn đó không thể phủ nhận rằng trong thực tế rằng công tác cán bộ nói chung, công tác nhân sự phục vụ Đại hội đảng các cấp luôn là vấn đề được Đảng ta hết sức quan tâm, coi trọng, luôn được tiến hành hết sức bài bản, thận trọng, theo đúng các nguyên tắc của Đảng, bảo đảm công tâm, minh bạch, chọn đúng người, bố trí đúng việc… mà những thành tựu trong công tác phát triển kinh tế-xã hội nói chung, trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong suốt thời gian qua đã luôn chứng minh Đảng ta chỉ có một lợi ích đó là lợi ích của nhân dân, lợi ích của dân tộc, để nước ta có được tiềm lực, cơ đồ như ngày hôm nay, những vi phạm của một số cá nhân chỉ là những vi phạm mang tính cá thể, không thể mang tính đại diện và thực tế các vi phạm đã, đang và sẽ bị phát hiện, xử lý kịp thời theo nguyên tắc “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ”…

Do đó, trước những luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, rất cần được mỗi người, mỗi nhà chủ động nhận diện, tích cực lên án, đấu tranh, bác bỏ, đồng thời tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, góp phần xây dựng Đảng ta, đất nước ta, nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, giàu mạnh, văn minh và phát triển./.

 

PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI, NGOẠI GIAO “CÂY TRE VIỆT NAM” TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY


        Đường lối đối ngoại là một bộ phận trong đường lối chính t rị của Đảng, nhằm xác lập vị thế, vai trò của nước ta trong quan hệ quốc tế. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, đường lối đối ngoại được bổ sung và phát triển phù hợp, nhưng nhìn chung đặc điểm cơ bản nhất của đường lối đối ngoại luôn mang đậm giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam, là sự kế thừa, phát huy giá trị truyền thống và tiếp thu tinh hoa nhân loại. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, để giữ vững định hướng phát triển đất nước, góp phần vào sự nghiệp hòa bình và tiến bộ trên thế giới, đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại cho phù hợp với thực tiễn.

Bài 1: Giá trị đặc sắc trong đường lối đối ngoại, ngoại giao “Cây tre Việt Nam”

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, công tác đối ngoại, ngoại giao không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn trực tiếp tham gia vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, đưa đất nước sánh vai cùng bạn bè quốc tế.

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao, ngay từ ngày đầu giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ”. Người luôn nhất quán quan điểm đối ngoại dựa trên 3 trụ cột chính: độc lập, tự chủ, tự cường trong quan hệ với các nước; hoà bình và hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.

Kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước qua các thời kỳ, Đảng ta đã đề ra đường lối, chủ trương, quan điểm đối ngoại, ngoại giao đúng đắn, góp phần hiện thực hóa quan điểm của Người. Hiện nay, Việt Nam đã là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, được bạn bè quốc tế tin tưởng, chưa bao giờ đất nước ta có được “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại, ngoại giao có vị trí đặc biệt quan trọng. Nhận thức rõ điều đó, tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ngày 14/12/2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”. Đây vừa là sự kế thừa, phát triển quan điểm, tư tưởng ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới, đồng thời là định hướng cơ bản cho công tác đối ngoại, ngoại giao của Đảng, góp phần tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cũng như đóng góp vào hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới.

Hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, hình tượng cây tre đã đi suốt chiều dài lịch sử như một biểu tượng sáng ngời cho cốt cách con người và bản sắc văn hóa Việt Nam. Với những đặc tính: thân mảnh mai, nhưng dẻo dai, bền bỉ; sức sống mãnh liệt cho dù mưa dông hay bão lửa; tre không đơn độc mà lớp trước, lớp sau tạo nên thành lũy; rễ tre luôn bám chặt vào lòng đất, cành lá vươn cao. Chính vì vậy, từ lâu tre đã trở thành biểu tượng cho văn hóa và con người Việt Nam. Đó là nền văn hóa của một dân tộc kiên cường, bất khuất, luôn có tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, tương thân, tương ái, trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình; cần cù, sáng tạo trong xây dựng cuộc sống, bất khuất, kiên trung trong đấu tranh bảo vệ độc lập.

Có thể thấy, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam cũng tương đồng với hình tượng cây tre Việt Nam, đó là mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. Trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam là một nước nhỏ, luôn chịu sự nhòm ngó, xâm lăng của các thế lực ngoại bang, nhưng nhờ có đường lối đối ngoại, ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt, ông cha ta không những giữ vững độc lập mà còn có điều kiện mở mang bờ cõi, đưa đất nước ngày càng phát triển.

Ngoại giao là sự giao thoa của chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội và văn hóa, là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, lịch sử và tương lai, quốc gia với quốc tế. Ngoại giao là phương tiện để thế giới hiểu biết về mỗi quốc gia và để mỗi quốc gia hiểu về thế giới, từ đó điều chỉnh chính sách hướng đến sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự phát triển chung của quốc tế. Mỗi quốc gia khác nhau, thì đường lối ngoại giao cũng khác. Song bất kỳ nền ngoại giao nào cũng lấy cái gốc là văn hóa, mang trong mình nội hàm văn hóa dân tộc. Có lẽ điều đó, hình tượng cây tre đã làm nên bản sắc ngoại giao hết sức đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Đó là nền ngoại giao với sức mạnh đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nền ngoại giao luôn có sự kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và linh hoạt uyển chuyển, biết mình, biết người, nhưng khi cần thiết thì luôn kiên quyết, kiên trì để giành thắng lợi.

Lịch sử phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam, từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, Lê… ngoại giao luôn thể hiện sâu sắc bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam, đó là truyền thống tự lực tự cường, tìm mọi biện pháp giữ hòa hiếu bang giao để phát triển đất nước, để giành hạnh phúc cho muôn đời cháu con. Nhưng khi đất nước lâm nguy thì kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập; khi kẻ thù bị quy phục thì sẵn sàng mở lượng hiếu sinh... Truyền thống đó luôn được bồi đắp, hội tụ rồi lan tỏa vào trong lòng dân tộc, thể hiện sâu sắc truyền thống của một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Dưới thời đại Hồ Chí Minh, bản sắc ngoại giao đó được soi đường bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, được nâng lên tầm cao mới với tư tưởng cốt lõi: “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “ngũ tri”, biết nhu, biết cương, giúp bạn là tự giúp mình, vì hòa bình, hợp tác và sự tiến bộ của nhân loại./.


 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.

Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này.

TỪ LỊCH SỬ NGÀN NĂM DỰNG NƯỚC ĐẾN TRIẾT LÝ “NGOẠI GIAO CÂY TRE”

 

Từ bao đời nay, cây tre luôn gắn bó với cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang trong mình cốt cách riêng của nền văn hóa, con người Việt Nam: kiên cường mà mềm dẻo, bản lĩnh mà linh hoạt, dung dị mà sáng tạo... Từ hình tượng và sự gần gũi của cây tre đã hình thành triết lý “Ngoại giao cây tre Việt Nam”. Đó là nền ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, thủy chung, chính nghĩa, vì hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại.

Từ đời sống bình dị đến triết lý ngoại giao

Trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, cây tre là biểu trưng của bản lĩnh quật cường, ý chí bất khuất của con người Việt Nam. Từ thuở hồng hoang, những ý niệm về quốc gia - dân tộc của Việt Nam được hình thành từ sự cố kết cộng đồng trải qua hàng nghìn năm trường kỳ phòng, chống thiên tai và địch họa. Cây tre tạo nên những lũy, thành, giúp cha ông ta bảo vệ làng quê trước thử thách của thiên nhiên và bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm. Thấm đượm bản sắc và văn hóa Việt Nam, hình tượng cây tre và ngoại giao Việt Nam rất gần gũi nhau. Ngoại giao là sự giao thoa của chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội và văn hóa, là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, lịch sử và tương lai, đất nước với thế giới. Ngoại giao lấy cái gốc là văn hóa dân tộc và mang trong mình nội hàm văn hóa dân tộc. Điều đó đã được minh chứng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc đã minh chứng ngoại giao là một trong số những thế mạnh vượt trội của Việt Nam, góp phần quan trọng giúp chúng ta giữ vững độc lập, chủ quyền, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Kế thừa truyền thống văn hóa của dân tộc, thực hiện phương châm sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Việt Nam đã và đang thực sự “là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đó là khởi điểm của quá trình hình thành, phát triển của nền ngoại giao Việt Nam từ khi Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, lập nước, hình thành nên trường phái ngoại giao của Việt Nam. Tới nay, “gốc tre” của ngoại giao Việt Nam nói riêng và đất nước nói chung đã bén rễ, vươn cành vững chắc hơn với những thành quả thật đáng tự hào, bất chấp giông tố của thời cuộc. Luôn luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột, đưa đất nước tới hòa bình, phát triển. Với sự đóng góp của ngành Ngoại giao, chúng ta đã cho nhân dân thế giới thấy một Việt Nam với khát vọng hòa bình, kiên cường, bất khuất đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, phá thế bao vây cấm vận, đưa đất nước phát triển.

Trước năm 1986, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước ngoài hệ thống XHCN; gia nhập Liên hợp quốc và một số tổ chức kinh tế, xã hội khác. Tuy nhiên, giai đoạn này an ninh, chính trị thế giới xảy ra nhiều biến động, các nước XHCN rơi vào khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội. Trong nước, thiên tai liên tục xảy ra, hai đầu biên giới xảy ra chiến tranh, lại bị các nước thù địch bao vây, cấm vận. Trước tình hình này, tại Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới. Trong đó, Đảng đã đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong hoàn cảnh mới. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 07 quốc gia, đó là: Trung Quốc (2008), Liên bang Nga (năm 2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Mỹ (2023), Nhật Bản (2023) và Australia (2024). 12 nước Đối tác chiến lược và 12 nước Đối tác toàn diện. Việt Nam là tâm điểm của nhiều mạng lưới liên kết kinh tế năng động với hơn 230 đối tác thương mại, 60 hiệp định thương mại tự do sâu rộng với nhiều phương diện hợp tác. Qua đó sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Vậy nên, khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc là trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ về một Việt Nam với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Triết lý ngoại giao cây tre nâng tầm vị thế đất nước

Bám sát đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị về đối ngoại của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao đã diễn ra sôi động, rộng khắp các châu lục và tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng trong thời gian qua, “ngoại giao cây tre Việt Nam” kiên định về nguyên tắc và mục tiêu song đã uyển chuyển, chủ động và linh hoạt về phương pháp thực hiện. Mục tiêu của chúng ta là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc, thực hiện đúng như lời dạy của Bác Hồ, đó là “muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Nguyên tắc của chúng ta là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, mọi quốc gia, dù lớn hay nhỏ đều bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng của nhau, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Chúng ta cũng phản đối mọi hình vi bắt nạt, chính trị cường quyền, bao vây, cấm vận đơn phương; phản đối việc sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Vị thế, uy tín và tiếng nói của Việt Nam tiếp tục được khẳng định tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng như ASEAN, Liên hợp quốc, Tiểu vùng Mê Công, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Hội nghị của các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) lần thứ 28 (Hội nghị COP-28), Diễn đàn cấp cao Vành đai và Con đường… Bên cạnh đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 77, thực hiện tốt chức trách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, Ủy ban Luật pháp quốc tế; đồng thời, được cộng đồng quốc tế tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí quan trọng tại các tổ chức quốc tế; tổ chức thành công các hội nghị quốc tế lớn, như Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9, Hội nghị IPU về an ninh nguồn nước... Chúng ta không chỉ gia nhập WTO mà đã ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư; đàm phán, ký kết và thực thi 19 FTA song phương và đa phương, với hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới; trong đó, 16 FTA đã có hiệu lực với hơn 60 đối tác, phủ rộng khắp các châu lục, với tổng GDP chiếm gần 90% GDP toàn cầu; đưa Việt Nam trở thành một trong những nước dẫn đầu khu vực về tham gia các khuôn khổ hợp tác kinh tế song phương và đa phương. Cũng chính nhờ thực thi hiệu quả các FTA thời gian qua đã giúp mở rộng, đa dạng thị trường, chuỗi cung ứng và sản phẩm xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, nhập khẩu tăng trưởng mạnh và cán cân thương mại được cải thiện rõ rệt theo hướng chuyển từ thâm hụt sang thặng dư. Năm 2023 là năm thứ 8 liên tiếp Việt Nam xuất siêu với mức thặng dư cao so với thời trước khi gia nhập WTO.

Trong quá trình thực hiện, “ngoại giao cây tre Việt Nam” linh hoạt, chủ động và uyển chuyển. Chúng ta kiên trì và kiên quyết bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông nhưng chúng ta không cực đoan để xảy ra xung đột. Mục tiêu cao nhất là của chúng ta là bảo vệ và giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhưng tránh đối đầu và xung đột vũ trang nếu đó không phải là giải pháp cuối cùng buộc phải làm, đảm bảo môi trường hòa bình và ổn định để phát triển. Trong quan hệ quốc tế luôn có sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước, đó là điều không thể tránh khỏi và cũng là quy luật sinh tồn. Có thể nói không quá rằng vị trí địa chiến lược của Việt Nam đã tự nó tạo cho Việt Nam luôn là một phần trong câu chuyện về quan hệ quốc tế, hẹp thì ở phạm vi khu vực Đông Nam Á, rộng hơn thì là châu Á-Thái Bình Dương hay Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh sự cạnh tranh và xung đột và lợi ích của các nước lớn trên thế giới sự linh hoạt trong “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua đã thực hiện diễn biến phức tạp bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và tiếng nói của tập thể để tạo thành sức mạnh chung. Hơn nữa, chúng ta còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nhờ đó giúp chúng ta bảo vệ được lợi ích quốc gia.

Trên tinh thần bình đẳng, hài hòa lợi ích, chia sẻ khó khăn và tương trợ lẫn nhau, Việt Nam đã đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp thúc đẩy hợp tác, đóng góp có trách nhiệm vào các vấn đề chung của thế giới, như phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, gìn giữ hòa bình ở châu Phi, cử lực lượng hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ... Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh đất nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay. Tựu chung lại, “ngoại giao cây tre Việt Nam đã làm tốt được nhiệm vụ bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc là vì chúng ta đã thực hiện nhất quán “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” trên tinh thần chủ động và tích cực.

Nhìn vào lịch sử dân tộc, trong suốt thời kỳ chiến tranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong thời kỳ hoà bình, hoạt động đối ngoại luôn là một mặt trận có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần tạo nên những thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; tạo lối, mở đường, từng bước phá thế bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ với nhiều đối tác, mở ra cục diện mới cho công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện. Để hoàn thành các mục tiêu lớn mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, đòi hỏi chúng ta phải kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược trong thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm chủ quyền quốc gia; làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và thịnh vượng.