Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2025

Sự vô giá của hòa bình, thống nhất

Có một bức ảnh chụp tại vùng chiến sự ở Xy-ri đã khiến cả thế giới ứa nước mắt. Đó là bức ảnh em bé 4 tuổi có tên là Hu-đi-a (Hudea) giơ tay "đầu hàng". Em bé có đôi mắt sáng, to tròn, thơ ngây ấy đã vô cùng sợ hãi vì nhầm tưởng chiếc máy ảnh có ống kính dài của phóng viên là khẩu súng trường đang hướng về mình. Theo phản xạ sinh tồn của những em bé trong vùng chiến sự, Hu-đi-a đã lập tức giơ hai tay lên cao giống như động tác của một hàng binh. Đó có lẽ sẽ là một trong những bức ảnh xót xa nhất tố cáo tội ác của chiến tranh.

Mỗi ngày, chỉ cần mở ti vi hay lướt Internet, chúng ta chứng kiến bao thảm cảnh của con người ở những quốc gia có nội chiến. Tại những vùng chiến sự ở Xy-ri, Li-bi, I-rắc, Y-ê-men hay U-crai-na..., cuộc sống của người dân và đặc biệt là trẻ em không khác nào địa ngục, tương lai vô cùng mờ mịt. Nhiều em bé đã chết vì bom đạn, vì đói khát. Những sinh linh bé bỏng ấy có thể được lớn lên xinh đẹp, giỏi giang nếu như được ra đời trong một môi trường hòa bình, một đất nước phát triển. Chiến tranh đã cướp đi những cơ hội sống, những niềm vui sống bình dị nhất của con người.

Mỗi lần chứng kiến những cảnh tượng đau thương trên, tôi lại nghĩ, dân tộc ta, đất nước ta cũng đã có giai đoạn lịch sử bị chia cắt, bị phân ly, phải chịu nhiều đau thương, tang tóc trong khói lửa chiến tranh. Và từ đó, tôi lại càng thấy ý nghĩa to lớn của ngày 30 tháng 4 năm 1975 - ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc, tạo ra hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Đây là đỉnh cao chiến thắng của cả dân tộc sau 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đất nước từ chỗ bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17 sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã được thống nhất. Giang sơn, bờ cõi do tổ tiên khai phá, gây dựng đã được thế hệ người Việt Nam thế kỷ thứ XX bằng tài năng, trí tuệ, bằng quyết tâm sắt đá, bằng mồ hôi và bằng máu xương của mình giành lại và giữ vững để trao cho thế hệ sau. Như còn mãi vang vọng trong không gian lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người nói chuyện với các chiến sĩ của Đại đoàn Quân tiên phong: "Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Lời dạy ấy sẽ luôn luôn phải "khắc cốt ghi tâm" với mọi người con Việt Nam yêu nước.

Cảnh nước mất nhà tan, bao thế hệ người Việt Nam đã nếm trải và thấu hiểu. Thử hỏi, liệu Việt Nam có thể phát triển, nhân dân có thể bình yên, hạnh phúc khi đất nước bị chia cắt, khi mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đem hàng triệu tấn bom, đạn và hàng triệu lít chất độc hóa học đến để trút lên đất nước ta, giết hại nhân dân ta? Đất nước ta, nhân dân ta đã được gì từ thực dân, đế quốc ngoài nghèo khổ, bị áp bức, bị bóc lột, bị tù đày, chết chóc, đau thương? Hàng triệu người Việt Nam đã ngã xuống do dã tâm của thực dân, phát xít, đế quốc ngoại bang.

Vì thế, lối suy nghĩ của một số người cho rằng Việt Nam không cần độc lập, không cần thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, có thể dựa vào thực dân và đế quốc để phát triển là lối suy nghĩ thiển cận, ảo tưởng, vô trách nhiệm, là luận điệu cố tình bóp méo sự thật, xúc phạm đến xương máu của cha ông, có tội với nhân dân, có tội với tổ tiên và có tội với cả các thế hệ mai sau!

Có những ý kiến lại cho rằng, chúng ta không cần chiến tranh giải phóng mà thông qua đàm phán, thông qua bầu cử có thể thống nhất đất nưóc. Liệu đúng thế chăng? Liệu đất nước có cơ hội thống nhất bằng biện pháp hòa bình để bớt phải đổ xương máu mà chúng ta đã từ chối ư?

Không! Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ lãnh đạo Đảng, Chính phủ ta đã không bỏ qua dù chỉ là những cơ hội nhỏ nhất để giành độc lập, để thống nhất đất nước mà tránh phải đổ máu. Trong hai năm 1945-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 8 bức thư và điện gửi Tổng thống Hoa Kỳ Ha-ri Tru-man (Harry Truman). Nội dung của các bức thư, bức điện này thể hiện rõ mong muốn được độc lập, hòa bình của Việt Nam và thiện chí của Việt Nam muốn được "hợp tác đầy đủ" với Mỹ vì hòa bình, tiến bộ và phát triển. Nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng!

Hội nghị Phông-ten-nơ-blô diễn ra suốt hơn hai tháng ròng (từ ngày 6-7 đến 10-9-1946). Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam còn sang Pháp trước đó hàng tháng trời để tìm mọi cơ hội đàm phán với Chính phủ Pháp, thuyết phục chính giới Pháp nhằm giành độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam bằng hòa bình. Nhưng mọi nỗ lực và thiện chí của Chính phủ Việt Nam, của phái đoàn Việt Nam đều đã bị xem nhẹ vì nước Pháp vẫn mang tư tưởng thực dân, vẫn muốn chiếm đoạt nước ta. Giải pháp tổ chức một cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu ở Nam Bộ để thống nhất Việt Nam đã bị phía Pháp phớt lờ.

Sau Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, tại Việt Nam, quân đội Pháp liên tục tấn công lực lượng vũ trang của ta, gây ra những vụ thảm sát đồng bào ta với dã tâm muốn chiếm nước ta một lần nữa. Quân và dân ta vẫn hết sức kiềm chế, để tiếp tục tạo cơ hội cho đàm phán hòa bình. Nhưng đến ngày 19 tháng 12 năm 1946, quân Pháp đã gửi liên tiếp ba tối hậu thư đòi tước vũ khí của bộ đội và tự vệ Việt Nam để nắm quyền kiểm soát. Trước tình thế đó, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải quyết định kêu gọi Toàn quốc kháng chiến với câu mở đầu thể hiện rõ rằng, việc phải chiến đấu để giữ gìn nền độc lập tự do là giải pháp cuối cùng: "Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...".

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, theo nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết năm 1954, vĩ tuyến 17 được coi là ranh giới tạm thời chia đôi đất nước ta. Ranh giới ấy có thể đã được xóa bỏ, hai miền Nam - Bắc ruột thịt có thể đã được thống nhất chỉ sau 2 năm bằng một cuộc tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu (Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ ghi rõ, cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7-1956). Nhưng chính âm mưu của đế quốc Mỹ muốn thế chân thực dân Pháp ở miền Nam đã phá hỏng cơ hội thống nhất hai miền một cách hòa bình. Chính quyền Ngô Đình Diệm dưới sự hậu thuẫn của Mỹ đã vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, không những phớt lờ tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà còn lê máy chém, sát hại dã man hàng vạn đảng viên Đảng Cộng sản và những người bị nghi ngờ ủng hộ Đảng Cộng sản, tạo ra những cuộc bắt bớ, giết hại tín đồ Phật giáo, gây mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo. Cả miền Nam thời điểm đó chìm trong biển máu, đau thương... Đất nước và nhân dân Việt Nam lại bị đẩy vào thế buộc phải cầm súng chiến đấu vì độc lập, thống nhất, vì hòa bình và hạnh phúc của mình.

Cuối năm 1972, đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã sử dụng lá bài cuối cùng, đó là dùng máy bay chiến lược B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, do có sự cảnh giác cao độ và nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nên quân và dân miền Bắc đã bẻ gãy hoàn toàn cuộc tiến công đường không chiến lược của Mỹ, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không" vang dội.

Đến năm 1973, sau khi thua trên chiến trường, chịu sức ép của dư luận trong nước và quốc tế bởi đang thực hiện một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, rút quân khỏi nước ta. Nhưng Mỹ vẫn để lại một đội ngũ hùng hậu các sĩ quan và nhân viên, vẫn viện trợ quân sự để tiếp tục biến chính quyền Sài Gòn là con rối trong tay Mỹ. Trong Hiệp định Pa-ri có điều khoản về bầu cử, hiệp thương để thống nhất Việt Nam. Tuy nhiên, phía Mỹ - ngụy đã trắng trợn phá hoại hiệp định, xua quân nống lấn ra vùng cách mạng, đàn áp nhân dân ta. Tại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, chỉ hai giờ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, quân đội Sài Gòn đã tập trung càn quét các vùng tây Duy Xuyên, vùng B Đại Lộc và các vùng tranh chấp giữa hai bên.

Trước tình hình đó, tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21, phân tích tình hình và đề ra Nghị quyết về: "Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chông Mỹ và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới", trong đó khẳng định, cách mạng miền Nam chỉ có thể giành thắng lợi bằng con đường bạo lực cách mạng.

Qua các giai đoạn lịch sử nêu trên, có thể thấy, lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn khao khát độc lập, thống nhất và luôn trân trọng các giải pháp hòa bình để đạt được mục tiêu ấy. Thế nhưng, những giải pháp hòa bình luôn bị phá hỏng bởi dã tâm của các nước đế quốc và chính quyền tay sai. Chỉ đến khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân ta cuốn phăng mọi sức kháng cự của quân đội chính quyền Sài Gòn, khiến những lực lượng cuối cùng của Mỹ phải rút chạy về nước, Quân Giải phóng của hai miền Nam - Bắc tiến vào Dinh Độc Lập, bắt sống và buộc nội các Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào trưa 30 tháng 4 năm 1975 thì dân tộc Việt Nam mới được hòa bình, thống nhất, non sông Việt Nam mới thu về một mối.

Sưu tầm

Người Mỹ tự nhận sai lầm

Dấu ấn kỳ tích Đại thắng mùa Xuân 1975 của dân tộc ta đến nay đã trải qua 50 năm. Các thế hệ người Việt Nam ngày càng cảm nhận đầy đủ và sâu sắc giá trị của chiến công chói lọi mang tầm vóc thời đại này. Song đối với không ít người Mỹ và phương Tây, nhất là các chính khách, các nhà chiến lược quân sự, chính trị của đất nước đã đem quân xâm lược nước ta, thì "hội chứng Việt Nam" vẫn chưa có hồi kết, vẫn còn đang âm ỷ, nhức nhối với câu hỏi: "Vì sao nước Mỹ hùng mạnh nhất thế giới về quân sự và kinh tế lại thất bại ở Việt Nam?”. Thậm chí đến nay vẫn có những tiếng nói lạc lõng, hằn học phủ nhận Chiến thắng vĩ đại 30 tháng 4 năm 1975 của quân và dân Việt Nam, đòi đánh giá lại lịch sử nhằm phục vụ cho những mưu đồ đen tối.

Lý giải về những nguyên nhân dẫn đến thất bại nặng nề nhất trong lịch sử gần 200 năm của nước Mỹ (tính đến năm 1975), có những quan điểm và sự tiếp cận khác nhau. Đối với những kẻ hiếu chiến thì hằn học rằng: Nhà cầm quyền đương thời của nước Mỹ không biết đẩy mạnh leo thang chiến tranh để biến miền Bắc Việt Nam trở về "thời kỳ đồ đá!". Có những chiến lược gia Mỹ lại bao biện cho thất bại cay đắng rằng, do quân đội Mỹ bị đưa đến chiến trường châu Á xa xôi, đầy cạm bẫy, khổ hạnh... Nhưng cũng có không ít người quyết lần tìm sự thật về cuộc chiến tranh để trả lời cho câu hỏi: "Vì sao Mỹ thất bại cay đắng ở Việt Nam?". Điển hình là cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Na-ma-ra dưới thời các tổng thống Mỹ L. Giôn-xơn và R. Ních-Xơn. Trong cuốn hồi ký "Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam", do Nhà xuất bản Gian-đơm Hau-sơ (Random House) (Mỹ) cho ra mắt tháng 4 năm 1995, Mắc Na-ma-ra đã công khai thừa nhận: "Chúng tôi (tức Chính phủ Mỹ - TG) đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp". Đây là lời thú nhận thất bại chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ.

Cựu Bộ trưỏng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra cũng đã nêu ra 11 nguyên nhân gây ra thảm bại nặng nề cho nước Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam, trong đó có sai lầm "đánh giá thấp sức mạnh của một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó". Ông ta thẳng thắn chỉ ra những nguyên nhân và lý giải, xét cho cùng, thất bại cay đắng của nước Mỹ nảy sinh từ bản chất cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của Mỹ; từ Việc không nhận thức được sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam được nhân lên gấp nhiều lần dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chiến thắng của nhân dân Việt Nam chứng tỏ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ là "một sai lầm ngớ ngẩn ghê gớm, con đẻ của một hỗn tạp kỳ quặc giữa sự hoang đường và tính kiêu ngạo, mù quáng đối với lịch sử, sự tin tưởng ngây thơ về vai trò quyền lực đứng đầu trên quả đất. Hoa Kỳ đã sử dụng những giải pháp quân sự cho những vấn đề chủ yếu là chính trị và văn hóa. Đây là một cuộc chiến tranh sai lầm, tại một địa điểm sai lầm, ở một thời gian sai lầm, cho những lý lẽ sai lầm". Sự thất bại của Mỹ trong việc huy động một lực lượng lớn tiềm lực kinh tế và quân sự của đất nước trong cụộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng không khuất phục được một dân tộc anh hùng. Tướng Mắc-xoen Tay-lơ, cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng thừa nhận: "Sức mạnh không quân là một sự yểm trợ, nhưng nó không thể quyết định việc chặn đứng những con người kiên quyết chiến đấu trên mặt đất... Chúng tôi đã không đánh giá  đúng tinh thần cực kỳ kiên quyết và đức tính hy sinh vì sự nghiệp của người dân Việt Nam".

Đúng vậy, sai lầm lớn nhất của Mỹ là không thấy được một dân tộc Việt Nam luôn luôn khát vọng hòa bình, tự do và hạnh phúc; một dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm. Vì sự tồn vong của dân tộc, vì nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng đối với quốc tế mà toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, đã buộc phải cầm súng quyết chiến đấu và quyết chiến thắng kẻ thù hung hãn nhất của thời đại trong thế kỷ XX.

Sử gia Xít-tan-li Ca-nâu (Stanley Karnow), một trong số ít phóng viên Mỹ có mặt Việt Nam từ đầu đến khi quân và dân Việt Nam làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, đã viết: "Sai lầm xuất phát từ sự không hiểu biết gì về lịch sử Việt Nam, một lịch sử dài phải chống lại các thế lực xâm lược, đã tạo cho người Việt Nam một ý thức sâu sắc về dân tộc họ. Từ khát vọng độc lập dân tộc đã làm nên một đảng tiên phong bản lĩnh và trí tuệ, luôn biết đổi mới kịp thời vào những thời điểm quyết định với nỗ lực và kỳ vọng được đồng hành cùng đất nước".

Đại thắng mùa Xuân 1975 đã khép lại cánh cửa chủ nghĩa thực dân mới, làm tiêu tan bao mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch hòng thôn tính, đô hộ, nô dịch, ngăn cản sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Năm tháng chiến tranh rồi cũng sẽ qua đi, song các nhà chiến lược Mỹ đã can dự vào cuộc chiến tranh Đông Dương nói chung, chiến tranh xâm lược Việt Nam nói riêng không thể nào biện minh được sự thảm bại cay đắng của một đế quốc lớn trước một đội quân "nhà nghèo" (theo cách nói của họ-TG). Nếu như Hen-ri Kít-xinh-giơ, nguyên Cố vấn Nhà Trắng bàng hoàng không hiểu "cái gì đó đã nhen lên trong dân tộc đó những ngọn lửa anh hùng và nghị lực như vậy"; thì tướng Mắc-xoen Tay-lơ, cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn phải chua chát thừa nhận: "Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam, và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta không hề có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này, mà chỉ toàn là một lũ ngu xuẩn. Chính tôi cũng nằm trong số đó".

Lịch sử chiến tranh thế giới vẫn hiển hiện và lưu truyền mãi một bức tranh ảm đạm đối với nước Mỹ trong những ngày tháng 4 năm 1975. Một đất nước tự xưng hùng mạnh nhất thế giới đem quân đi xâm lược một quốc gia độc lập, có chủ quyền, lại kém mình gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế và quân sự, thì làm gì có anh hùng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, đầy man rợ đó. Thế nên, những người Mỹ phản đối chiến tranh xâm lược khi nghe tin Việt Nam đại thắng đã coi thắng lợi  của nhân dân Việt Nam là "thắng lợi vô song của lòng yêu nước và trí tuệ con người".

Trong tác phẩm "Giải phẫu một cuộc chiến tranh" xuất bản tại Niu Y-oóc (Mỹ) năm 1985, Giáo sư Sử học, Tiến sĩ Triết học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko) đã chỉ ra nguyên nhân tạo nên sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến chống xâm lược, được khơi dậy từ "Đường lối quần chúng và sự động viên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tỏ ra là một phương pháp rất có hiệu quả...". Ga-bri-en Côn-cô còn lý giải chiến thắng của quân dân Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử chống Mỹ xâm lược, ngoài tính chất ưu việt của chế độ xã hội chính trị được thể hiện qua việc tổ chức và tiến hành chiến tranh, huy động toàn dân, toàn lực để giành chiến thắng; còn một yếu tố cực kỳ quan trọng, đó là những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn phát huy dân chủ, thân thiết đối với binh sĩ của mình như người cha, người anh, người bạn; họ quan hệ với nhau như anh em trong một gia đình. Điều này trái hẳn với quân đội nhà nghề Mỹ trong tham chiến trên các chiến trường Việt Nam.

Khẳng định giá trị, ý nghĩa và tầm vóc lịch sử của Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta cũng đồng thời đấu tranh phê phán mọi luận điệu xuyên tạc lịch sử về chiến thắng vĩ đại này với những thiên kiến lệch lạc, những ác ý thâm độc của các thế lực thù địch và cả những ngộ nhận, mơ hồ trong sự nhìn nhận, đánh giá lịch sử thiếu khách quan, cụ thể. Nhiều nhà lãnh đạo, chính khách Mỹ đến nay vẫn cố tình che giấu sự thật, đưa ra nhiều lý lẽ biện minh cho mưu đồ đen tối của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhưng cũng chính những người Mỹ đã bóc trần sự thật này; trong đó có E-uyn Knon (Ezwin Knoll), một nhà báo chuyên theo dõi về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ông đã dày công sưu tập hơn 7.000 tài liệu của Lầu năm góc, trong đó phần lớn là tài liệu tuyệt mật liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trên cơ sở những nguồn tài liệu chân thực, E-uyn Knon đã xuất bản cuốn sách "Cuộc chiến bịp bợm của Mỹ", gây tiếng vang lớn trong dư luận xã hội Mỹ. Trong cuốn sách này, tác giả đã vạch rõ dã tâm xâm lược Việt Nam với những thủ đoạn chiến tranh hết sức tàn bạo, thể hiện bản chất hiếu chiến, phi nghĩa, vô nhân đạo của chủ nghĩa đế quốc; đồng thời, chỉ rõ Mỹ đã vấp phải ý chí quật cường, sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, với nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo chiến tranh nhân dân tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến thất bại nặng nề nhất của Mỹ trong lịch sử đưa quân tham chiến nước ngoài.

Sưu tầm

Nhận rõ chiêu trò lập lờ "một nửa sự thật"

Sự nguy hiểm của luận điểm "Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 thực chất là chiến thắng của ý thức hệ cộng sản..." là với một số bạn đọc, nếu không tinh ý khi tiếp cận, sẽ thấy có "một nửa sự thật" trong cách đánh giá này về Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975. Bởi lẽ, nguyên nhân đầu tiên để dân tộc ta làm nên Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 xuất phát từ đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng. Đảng ta đã giương cao ngọn cờ "độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội", nhận được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới, nên đã phát huy được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mang dấu ấn thời đại sâu sắc nhưng bản chất luôn là một cuộc chiến tranh giải phóng.

Cần phải thêm một lần khẳng định, mục tiêu "độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội" do Đảng ta xác định là một lựa chọn tất yếu của lịch sử dân tộc. Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Như Khôi (Viện Khoa học xã hội và Nhân văn Quân sự) nhấn mạnh rằng: "Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trong gông xiềng nô lệ, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam diễn ra với nhiều phương thức, tuy mang đậm tinh thần yêu nước và dũng khí trước quân thù nhưng đều dưới sự dẫn dắt của tư tưởng phong kiến và tư sản là các trào lưu tư tưởng đã lỗi thời trong sự phát triển của thế giới đương đại, không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam, nên đều thất bại. Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước". Chỉ đến khi người thanh niên Nguyễn Ái Quốc tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy chân lý của thời đại: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".

Từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm cuộc Cách mạng Tháng Tám mà sức mạnh "long trời, lở đất" của quần chúng đã giúp nhân dân ta giành lại chính quyền trong hòa bình, không có đổ máu. Và "chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng", nhưng thực dân Pháp vẫn rắp tâm cướp nước ta lần nữa. Ngay sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân trường kỳ kháng chiến, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu", Mỹ đã từng bước hất cẳng Pháp, phá bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ, dùng "đô la và vũ khí" lập nên chính quyền tay sai, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, hò hét "lấp sông Bến Hải", "Bắc tiến"... Mỹ đã thử nghiệm đủ loại phương thức chiến tranh, từ "chiến tranh một phía", "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ" rồi "Việt Nam hóa chiến tranh"; có lúc đưa hơn nửa triệu quân Mỹ vào Việt Nam, ném bom tàn phá hòng "đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá". Bản thân chính giới Mỹ, dù gián tiếp hay trực tiếp, đều đã phải thừa nhận chính họ đã gây ra cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc đối thoại với ông Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ngày 9 tháng 11 năm 1995 đã nhấn mạnh: Dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, nhưng là hòa bình trong độc lập và tự do. Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chúng tôi có những bạn bè và đồng minh: Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước tiến bộ khác kể cả nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ... đã ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi về vật chất và tinh thần, kể cả đóng góp ý kiến... nhưng cuối cùng quyết định vẫn là Việt Nam.

Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo (Hội đồng Lý luận Trung ương) cho rằng: cố tình quy trách nhiệm Đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra chiến tranh thực chất là một nhận thức phi lịch sử, muốn phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, hòng phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cách nhìn ấy muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, tính chất, bản chất sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Thất bại của Mỹ và chính phủ "Việt Nam Cộng hòa" là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài, hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức và bóc lột nhân dân ta ở miền Nam.

Năm mươi năm sau Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, nhân dân Việt Nam đã và đang được hưởng một nền độc lập, hòa bình thực sự. Chưa bao giờ, thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế cao như lúc này. Để có thành tựu hôm nay, dân tộc Việt Nam đã phải chiến đấu kiên cường 30 năm, chống lại các thế lực thực dân - đế quốc hung bạo nhất thế giới, nên mỗi công dân Việt Nam rất thấm thìa giá trị này. Ai đó cố tình "chọc gậy bánh xe lịch sử", cố tình xuyên tạc bản chất sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Sưu tầm

Mưu gian nhưng "bình mới, rượu cũ"

Mưu gian của người nêu luận điểm "Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 thực chất là chiến thắng của ý thức hệ cộng sản...", là để từ đó dẫn dắt người đọc đến lập luận cho rằng, chính vì Đảng Cộng sản Việt Nam du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam đã đưa dân tộc vào trọng điểm của cuộc chiến ý thức hệ, gây ra cảnh "nồi da xáo thịt".

Sự thật có như vậy không? Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, khẳng định: Lập luận trên thực chất là trò "chọc gậy bánh xe" theo kiểu "bình mới, rượu cũ"; việc "đổ tội" cho Đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra chiến tranh là chiêu bài mà các thế lực thù địch đã làm suốt 50 năm qua nhưng không thuyết phục được ai. Sự thật chỉ có một, đó là sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mỹ mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, công khai hất cẳng thực dân Pháp, nhảy vào xâm lược, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Giữa năm 1956, chính phủ tay sai Ngô Đình Diệm tuyên bố lập nước "Việt Nam Cộng hòa", từ chối hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, rước đế quốc Mỹ thống trị miền Nam Việt Nam, tiến hành chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng" với khẩu hiệu "thà giết nhầm còn hơn bỏ sót", khủng bố dã man những người kháng chiến cũ, những gia đình có người đi tập kết và những người tán thành hòa bình, thống nhất nước nhà.

Miền Nam là một bộ phận không tách rời của Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đó là "thịt của thịt Việt Nam, máu của máu Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi". Những hành động xâm phạm độc lập, thống nhất và chủ quyền dân tộc... là điều trái đạo lý và pháp lý quốc tế. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Là một dân tộc có lịch sử hào hùng hơn 4.000 năm, nhân dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc thấu suốt chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Có kẻ xâm lược thì người Việt Nam chống kẻ thù xâm lược chứ không có chuyện "miền Bắc xâm lược miền Nam", không có chuyện "nồi da xáo thịt" như một số kẻ phản động vẫn thường kêu gào.

Về bản chất của Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc cho rằng, kết quả của Hội thảo khoa học cấp Nhà nước "Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sức mạnh của ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình" diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 3 tháng 4 vừa qua là câu trả lời rõ ràng, chắc chắn, khoa học và thuyết phục nhất. Các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, các nhân chứng lịch sử, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau đã khẳng định bản chất của Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là "sức mạnh của ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình". Nói cách khác, đó là thắng lợi trọn vẹn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; như lúc sinh thời, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nhấn mạnh: "Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai".

Sưu tầm

Nổi tiếng kiểu... tai tiếng!

- Đến chơi nhà bạn đồng ngũ, thấy cháu Hoài là con gái của bạn đang khóc thút thít ở hiên, ông Hiền lại gần sốt sắng hỏi:

- Con gái “rượu” của bố Đãng có chuyện gì buồn à? Chắc lại giận bố hả? Thôi, thông cảm cho bố cháu! Ngày xưa, ông ấy được đơn vị bác đặt cho biệt danh là Đãng “lửa” đấy. Hơi chút là khùng lên, tính nóng như lửa. Mà đầu đuôi câu chuyện thế nào, kể bác nghe, bác hứa sẽ nói chuyện để bố cháu hiểu.

Được bạn của bố động viên, Hoài lau nước mắt, thuật lại nguồn cơn câu chuyện. Chuyện là, Hoài chơi thân với một bạn trai cùng lớp, cậu này đang là “hot Facebooker” (người nổi tiếng trên mạng xã hội “phây búc”). Lúc cả nhà đang ăn cơm, thấy Hoài vào mạng xem video clip của cậu bạn vừa đăng rồi cười thích thú, ông Đãng nổi giận, yêu cầu con gái không được làm bạn với cậu kia nữa vì trong video clip đó, cậu ta mặc bộ đồ “nhái” quân phục, không cài khuy, không mang dây lưng, đứng nhảy múa uốn éo.

- Chuyện như vậy à cháu?

- Dạ, vâng ạ! Bạn này vẫn thỉnh thoảng đến nhà cháu chơi, bố cháu không ý kiến gì. Vậy mà, chỉ vì mỗi bộ quân phục "nhái" cậu ấy mặc kiểu trẻ trung để cho vui, bố cháu lại nặng lời, gọi bạn ấy là “quân phản động”, rồi mắng cháu... không biết chọn bạn.

Hoài vừa nói đến đó, ông Đãng từ trong buồng chạy ra, giọng bực tức:

- Mày lại còn định bênh nó hử? Ăn mặc nhố nhăng, bôi nhọ hình ảnh người lính Cụ Hồ, như thế chẳng phải là “phản động” thì sao? Con nhìn bác Hiền, rồi bố đây, mặc dù đã rời quân ngũ hơn chục năm nhưng mỗi dịp hội họp, ngày lễ cần mặc bộ quân phục cũ, các bố đều chuẩn bị là ủi cho phẳng phiu, mang mặc nghiêm túc, trân trọng. Trong khi bạn con đang là sinh viên, có học thức, nhất là cậu ta không phải là bộ đội mà dám lấy quân phục để mang mặc lên người, đã thế còn nhảy nhót kiểu nhố nhăng...

- Bạn con cũng vì yêu hình ảnh bộ đội nên mới mặc trang phục “nhái” theo phong cách người lính trẻ để quay video clip để quảng bá hình ảnh bộ đội thôi ạ!

- Nhưng nhái kiểu nhố nhăng, lai căng đó là bôi nhọ hình ảnh người lính Cụ Hồ đấy, con ạ! Không biết chừng, nó còn có ý đồ xấu. Các anh chị bây giờ mà cứ “thả lỏng” ra là dễ lung lạc, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lắm.

Thấy tình hình có vẻ căng thẳng, ông Hiền vội chen ngang:

- Theo tôi, ông Đãng phải bình tĩnh, tìm hiểu xem cậu kia mặc như vậy với mục đích gì? Có thể cháu nó chỉ suy nghĩ đơn giản, muốn nổi tiếng trên mạng xã hội nên ăn mặc khác thường. Nhiều bạn trẻ giờ vô tư, hồn nhiên, thích sáng tạo, thể hiện sự mới lạ như vậy. Nếu chưa tìm hiểu kỹ mà vội quy cho cháu là “phản động” thì không nên. Còn cháu Hoài, bố cháu nhắc cũng có phần đúng đấy! Cháu nên góp ý với bạn, có những hình ảnh đã thành biểu tượng, ăn sâu vào tâm trí cộng đồng rồi thì không nên phá cách bừa bãi, gây phản cảm. Cháu cũng phân tích cho bạn ấy hiểu, việc làm đó của bạn sẽ gây ra những hệ lụy không tốt cho cộng đồng, thậm chí còn bị kẻ xấu lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, tuyền truyên chống phá Quân đội ta. Nếu cậu ấy thực sự là bạn tốt thì cháu cần khuyên nên chọn những cách làm phù hợp, đăng thông tin thực sự tốt đẹp để người xem “phây búc” thấy tin cậy, yêu mến, vì nổi tiếng như thế mới bền vững. Chứ muốn nổi tiếng theo kiểu bạn cháu đã làm thì không khéo lại thành... tai tiếng.

Nghe ông Hiền phân tích thấu tình, đạt lý, cả ông Đãng và cháu Hoài đều bày tỏ nhất trí. Không khí trong nhà bớt căng thẳng hẳn.

Sưu tầm

Cảnh giác trước mưu đồ lợi dụng chủ trương tinh gọn bộ máy để xuyên tạc, chống phá Quân đội

Thời gian qua, lợi dụng chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá Quân đội. Mưu đồ này không mới, song rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhằm giảm tầng nấc trung gian, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả hoạt động, Quân đội ta đã và đang đẩy mạnh sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế phù hợp yêu cầu chung và đặc thù chức năng, nhiệm vụ. Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, như một “thói xấu khó bỏ”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề này để không ngừng tung ra nhiều thông tin xuyên tạc, kích động chống phá Quân đội trên các kênh thông tin truyền thông lề trái, các trang mạng xã hội,... với những luận điệu lố bịch như: “Quân đội không còn cần thiết”, “cải tổ mạnh mẽ Quân đội để giảm gánh nặng ngân sách” hay “Quân đội nên tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng”, 

Để lập luận cho những luận điệu sai trái đó, các thế lực thù địch viện dẫn luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin “Quân đội là một phạm trù lịch sử” để rồi xuyên tạc trắng trợn rằng: Quân đội ra đời, tồn tại gắn liền với chiến tranh; khi đất nước hòa bình, sự tồn tại của quân đội là không cần thiết; vậy nên, trong tinh gọn bộ máy thì nên xóa bỏ tổ chức quân đội đi. Chúng còn xảo biện rằng, hoạt động quân sự là hoạt động chỉ có tiêu tốn của nền kinh tế chứ không mang lại lợi ích gì khác; vậy nên càng rút gọn về tổ chức, tinh giảm quân số quân đội càng tốt. Không dừng lại đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lặp lại “bài hùng biện” quen thuộc rằng: “Quân đội nên trung lập về chính trị”, nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”, v.v. Chúng cho rằng, quân đội là của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào.

Có thể khẳng định rằng, những luận điệu của các thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, dựa trên sự nhận thức “ngây ngô” về lý luận và những cứ liệu thực tiễn hết sức “ngờ nghệch”. Về vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: “Quân đội là một tập đoàn có tổ chức, gồm những người được vũ trang, được nhà nước đài thọ để thực hiện chiến tranh tiến công hoặc phòng ngự”1. Theo đó, quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước và chỉ mất đi khi không còn nhà nước. Mặt khác, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế với quân sự, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế tiên quyết hơn là chính ngay quân đội và hạm đội”2 và ngược lại, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Điều đó nói lên rằng, quân đội có vai trò rất quan trọng để bảo vệ nhà nước sinh ra nó; sức mạnh chiến đấu của quân đội luôn gắn liền với những điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước. Và việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế của quân đội xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Hoàn toàn không có chuyện “Quân đội không còn cần thiết”, mà ngược lại, vai trò của Quân đội càng quan trọng hơn trước đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước và trong bối cảnh thế giới phức tạp hiện nay.

Với tư cách là công cụ bạo lực sắc bén của nhà nước, lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Một mặt, Quân đội thực hiện tốt chức năng “Đội quân chiến đấu”, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống; mặt khác, thực hiện tốt chức năng “Đội quân công tác” trong tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho nhân dân; giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, ổn định đời sống, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước. Cùng với đó, Quân đội ta còn là “Đội quân lao động sản xuất”, góp phần to lớn vào phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ. Theo đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quán triệt sâu sắc quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng, ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân phát huy khả năng, thế mạnh, tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Các cơ quan, đơn vị tích cực tăng gia, sản xuất, xây dựng kinh tế, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở những khu vực, địa bàn, vùng chiến lược trọng yếu về quốc phòng, an ninh; góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, nhất là ở các địa bàn chiến lược vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc. Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành cho thấy, Quân đội ta luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng xả thân, hy sinh xương máu vì hạnh phúc của nhân dân cả trong đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay. Đó là thực tế không thể phủ nhận.

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Hơn lúc nào hết, đây là thời điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải nâng cao hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả quản lý xã hội, nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, ngân sách đầu tư cho Quân đội còn hạn hẹp, để xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, những ai cho rằng phải “cải tổ mạnh mẽ quân đội để giảm gánh nặng ngân sách” là những người phiến diện, chỉ nhận thức một mặt mà không hiểu hoặc cố tình không hiểu mối quan hệ biện chứng của từng thành tố “tinh”, “gọn”, “mạnh” trong mục tiêu xây dựng Quân đội của Đảng và Nhà nước ta. Bởi đây không đơn thuần là việc cắt giảm quân số, sáp nhập một số cơ quan, đơn vị quân đội để giảm gánh nặng ngân sách; mà đó là quá trình tổ chức “tinh”, “gọn”, giảm đầu mối trung gian để nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong điều kiện mới.

Lẽ tất nhiên, phải luôn thấu triệt nguyên tắc căn bản: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; không chỉ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong mọi khâu, bước của quá trình sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội lần này, mà còn luôn quán triệt, thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, Quân đội cần luôn nhận thức rõ, xác định đúng đối tác, đối tượng; vận dụng, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc; đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển hùng cường trong kỷ nguyên mới./.

Sưu tầm

Nhận diện kẻ cơ hội chính trị

Chủ nghĩa cơ hội trong hệ thống chính trị là mối nguy hại lớn, gây rối loạn nội bộ, mất đoàn kết, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm niềm tin của Nhân dân. Do đó, cần nhận diện kịp thời để bảo vệ tổ chức trong sạch, vững mạnh và giữ vững kỷ cương.

Chính trị, trong bất kỳ thể chế nào, đều đòi hỏi sự trung thành với lý tưởng, lòng tận tụy với đất nước và tinh thần phụng sự nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những người kiên trung, chính trực và bản lĩnh, cũng có những phần tử mang bản chất cơ hội chính trị – những kẻ chỉ nhắm đến quyền lực, danh lợi cá nhân, sẵn sàng thay đổi lập trường, đánh đổi nguyên tắc và thao túng dư luận để trục lợi.

Chúng ta có thể hiểu, cơ hội chính trị là một biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cực đoan, đặt lợi ích bản thân lên trên lợi ích chung. Kẻ cơ hội chính trị thường không có lý tưởng kiên định, dễ dàng thay đổi thái độ, lập trường theo chiều gió để mưu cầu địa vị, quyền lực hoặc lợi ích cá nhân. Họ sẵn sàng đánh đổi nguyên tắc, phản bội đồng chí, lợi dụng tổ chức, thậm chí bắt tay với các thế lực phản động, chỉ để thỏa mãn mưu đồ riêng. Nhất là, trong hệ thống chính trị, chủ nghĩa cơ hội không chỉ là sự biến chất về đạo đức mà còn là một nguy cơ tiềm ẩn gây rối loạn nội bộ, mất đoàn kết, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và làm tổn hại đến niềm tin của Nhân dân.

Nhận diện đúng và kịp thời kẻ cơ hội chính trị là điều đặc biệt quan trọng nhằm bảo vệ sự trong sạch của tổ chức, giữ vững kỷ cương và xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh, trong sạch, dân chủ và vì dân. Đồng thời, thông qua những dấu hiệu nhận diện để cảnh báo kịp thời những nguy cơ mà chủ nghĩa cơ hội gây ra đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc khi đất nước bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Kẻ cơ hội chính trị thường có những dấu hiệu nhận biết

Vấn đề cho thấy, kẻ cơ hội chính trị đang tồn tại dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, len lỏi vào nhiều vị trí trong hệ thống chính trị, đặc biệt là trong nội bộ Đảng và quân đội. Đây là những phần tử thoái hóa, biến chất – những “con sâu”, “con mọt” đang âm thầm phá hoại nền tảng tư tưởng, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Chúng làm suy yếu tổ chức đảng, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính thống nhất trong tư tưởng và hành động, từ đó đe dọa trực tiếp đến vai trò cầm quyền của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chính vì vậy, nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị cần được xác định là nhiệm vụ chiến lược, cấp thiết và lâu dài trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen.

 

Và hơn hết, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục - đào tạo đội ngũ cán bộ sĩ quan các cấp trong quân đội, cũng như trong duy trì hoạt động thường xuyên của các đơn vị trong toàn quân. Vì vậy, trong thời gian qua, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện Lục quân đã lãnh đạo, chỉ đạo đưa nội dung nhận diện, cảnh báo và đấu tranh với kẻ cơ hội chính trị vào chương trình giáo dục - đào tạo cho các đối tượng học viên trong Học viện. Đây chính là bước đi cần thiết nhằm nâng cao khả năng “tự đề kháng” trước các tác động xấu từ bên trong và bên ngoài cho đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy, nhà khoa học, nhà giáo ở thế hệ tiếp theo trong Quân đội ta. Đồng thời, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện đã chỉ đạo cơ quan chính trị, tổ chức Đảng, chỉ huy các cấp trong toàn Học viện cũng cần thường xuyên triển khai công tác kiểm tra, giám sát, giáo dục chính trị tư tưởng nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các biểu hiện cơ hội, góp phần giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức và củng cố nền tảng tư tưởng vững chắc cho cán bộ, giảng viên, học viên, công nhân viên, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ trong toàn Học viện.

Kẻ cơ hội chính trị là biểu hiện lệch lạc, nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân trong đời sống chính trị. Dấu hiệu nhận biết của kẻ cơ hội chính trị không quá khó nếu tổ chức, nhân dân và đội ngũ cán bộ, chiến sĩ thực sự tỉnh táo, luôn kiên định và có ý thức bảo vệ sự trong sạch của hệ thống. Chủ động nhận diện, đấu tranh và loại bỏ những phần tử cơ hội chính là bước đi “sống còn” để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ kỷ cương và hướng đến một nền chính trị công khai, minh bạch, phục vụ Nhân dân và Tổ quốc khi đất nước bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

Sưu tầm

Dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch

Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng dân tộc Việt Nam, một chân lý không bao giờ thay đổi, trường tồn mãi mãi theo dòng lịch sử cho đến ngày nay và mai sau, đó là quan điểm: “Dân vi bản” (Dân là gốc), chân lý ấy luôn nền tảng cốt lõi cho công cuộc dựng nước và giữ nước, như Vua Lý Thái Tổ khi ban hành Chiếu dời đô đã khẳng định: “Trên vâng mệnh trời, dưới hợp lòng dân”, hay như Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” khẳng định nhân nghĩa là làm cho dân yên ổn, thể hiện rõ tư tưởng dân là trung tâm của quốc gia; “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, khẳng định sức mạnh to lớn của Nhân dân.

Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta, một trong những bài học lớn mang tính sống còn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân”; người cũng khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Lòng dân chính là cội nguồn sức mạnh, là “thành trì vững chắc” để xây dựng ĐảngTrong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, việc phát huy thế trận lòng dân càng trở nên quan trọng. Do vậy, cần phải nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của “thế trận lòng dân”.

Khi nền tảng tư tưởng của Đảng được tuyên truyền, thấu triệt sâu sắc trong quần chúng Nhân dân, Nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào những luận cứ khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì những tư tưởng, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khó có thể xâm nhập, lôi kéo, kích động quần chúng Nhân dân. Bên cạnh đó, Nhân dân còn chính là “tai mắt” của Đảng, kịp thời phát hiện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch ngay từ cơ sở để thông tin cho Đảng, không thật sự là lực lượng nòng cốt nhưng là hàng rào tự nhiên ngăn chặn sự xuyên tạc, phá hoại về mặt tư tưởng của các lực lượng phản động.

Khi Nhân dân được hưởng thụ thành quả từ cách mạng như cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và quyền làm chủ xã hội, niềm tin vào sự lãnh đạo Đảng được củng cố vững chắc. Chính những lợi ích thiết thực đó là minh chứng sống động cho vai trò lãnh đạo của Đảng, từ đó tạo cơ sở để nhân dân tích cực bảo vệ Đảng, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp cách mạng của Đảng và của chính Nhân dân ta.

Đây là biện pháp hết sức quan trọng, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm tham nhũng, tiêu cực sẽ góp phần củng cố niềm tin trong Nhân dân về sự liêm chính và minh bạch của Đảng. Vì vậy, cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, kiên quyết, kiên trì thực hiện nghiêm quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý quyền lực, ban hành sửa đổi và hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm bịt các “kẽ hở” dễ phát sinh tham nhũng; tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ, nhất là các hoạt động đầu tư công, quản lý đất đai, tài chính, tuyển dụng cán bộ... Bên cạnh đó, cần phải phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hôi; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan phòng, chống tham nhũng...

Đây là biện pháp có vai trò quyết định đến phương hướng, mục đích hoạt động của Đảng; là yếu tố then chốt góp phần củng cố mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, cụ thể hóa Phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Vì vậy, Đảng phải xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội bằng, triển khai chính sách tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động bằng cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo nghề, thu hút đầu tư, xóa bỏ khoảng cách giàu, nghèo, tạo đồng thuận xã hội; đồng thời phải tăng cường phòng, chống tham nhũng chính sách của Nhân dân; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm khi đời sống Nhân dân được cải thiện, người dân sẽ thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng, bên cạnh thời cơ là vô vàn thách thức, thì việc củng cố và phát huy thành trì vững chắc “thế trận lòng dân” sẽ góp phần xây dựng Đảng và bảo vệ Đảng từ gốc rễ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Nhân dân không chỉ là chỗ dựa vững chắc mà còn là chủ thể tích cực trọng việc phát hiện, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc, bảo vệ chân lý của cách mạng. Lòng dân chính là gốc của nước, là nơi sản sinh ra sức mạnh vô tận giúp Đảng trường tồn và phát triển. Hơn lúc nào hết, từng cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần tư tưởng “dân là gốc”, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, phải luôn sâu sát Nhân dân, lắng nghe dân, dựa vào Nhân dân để hoàn thiện mình và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Chỉ khi gắn bó máu thịt với Nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảng mới không ngừng tự chỉnh đốn, tự đổi mới, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh; vững bước trên con đường lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi./.

Sưu tầm

Phản bác luận điệu “việc xử lý cán bộ tạo ra những bất ổn chính trị”

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực không ngừng nghỉ trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết, kiên trì xử lý những cán bộ vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Điều đó cho thấy sự nghiêm minh, không có vùng cấm, đồng thời thể hiện rõ tính nhân văn, “thấu lý đạt tình” xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt... Tuy nhiên, trên mạng xã hội lại có những ý kiến “phản biện” rằng, việc xử lý cả những cán bộ cấp cao như vừa qua là một biểu hiện của “những bất ổn chính trị”. 

Liên quan đến những sai phạm xảy ra tại một số ngành, lĩnh vực, một số cán bộ, trong đó có lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo cấp cao cũng đã bị thôi các chức vụ. Theo cơ quan kiểm tra của Đảng, những cán bộ này phải chịu trách nhiệm người đứng đầu theo các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước hoặc đã có vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên...

Từ những kết quả đạt được vừa qua, có thể khẳng định, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Đảng và Nhà nước ta tiến hành bài bản, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thận trọng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai; bảo đảm thực hiện nghiêm những kết luận của Ban Chỉ đạo như kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 10/5/2023(3).

Việc xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật cũng cho thấy tính hiệu quả của việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ; là biện pháp nhằm sàng lọc, củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Qua đó nhằm giữ vững kỷ cương của Đảng và thực hiện nghiêm minh pháp luật của Nhà nước.

Thay vì ủng hộ những động thái tích cực, mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta, một số đối tượng, trong đó có cả những cá nhân là công dân Việt Nam đã cố tình bôi nhọ, suy diễn, bóp méo và gán ghép “hiện tượng” thành “bản chất” từ một số vụ việc đơn lẻ nhằm quy chụp, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Những “nhà ngụy lý luận” trên không gian mạng còn lớn tiếng về cái gọi là “những sai lầm” trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, công tác chuẩn bị nhân sự tại Đại hội Đảng. Một số “nhà dân chủ mạng” thì lu loa về cái gọi là “khủng hoảng nhân sự cấp cao” khi một số lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước xin thôi chức và được Trung ương chấp nhận. Không ít những nội dung trên các mạng xã hội xuyên biên giới còn “lên tiếng yêu cầu” lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước “phải chịu trách nhiệm” cho các vi phạm khuyết điểm của cán bộ, đảng viên...(!).

Cần khẳng định lại, việc xử lý những cán bộ có khuyết điểm ở nước ta trong thời gian qua là sự thể hiện ý chí, quyết tâm lớn cũng như như năng lực, bản lĩnh của Đảng và Nhà nước trong phát hiện, xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên, kể cả nhân sự cấp cao trong hệ thống chính trị. Thay vì xuê xoa, bao che, Đảng, Nhà nước đã có những hành động quyết liệt, nghiêm khắc trong xử lý; nghiêm túc trong phê bình và tự phê bình; công khai, minh bạch trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý những cán bộ trót “nhúng tràm”. Đây cũng là một cách để khẳng định tính chính danh của Đảng cầm quyền, để giữ vững niềm tin cho các đảng viên và quần chúng nhân dân. Việc làm này không chỉ góp phần quan trọng làm trong sạch đội ngũ mà còn tạo thêm xung lực mới cổ vũ, động viên khích lệ toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tiếp tục đóng góp tích cực cho sự nghiệp cách mạng trong bối cảnh mới.

Thời gian qua, nếu như chúng ta không kịp thời trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, mạnh mẽ trong đấu tranh xử lý tội phạm thì những con “bạch tuộc” như AIC, Phúc Sơn, Xuyên Việt Oil, Thuận An… sẽ tiếp tục âm thầm gặm nhấm nền kinh tế, những hậu quả và hệ lụy về nhiều mặt sẽ còn nặng nề và to lớn hơn rất nhiều. Hoạt động phi pháp của những doanh nghiệp này cùng với sự tiếp tay của một số cán bộ, đảng viên có chức quyền không chỉ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh tế mà còn làm tác động tiêu cực đến tính liêm chính của hệ thống chính trị, tạo nên sự bất bình đẳng rất lớn giữa các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế.

Rõ ràng là không hề có sự “khủng hoảng niềm tin” hay “khủng hoảng nhân sự lãnh đạo” ở Việt Nam như những giọng điệu suy diễn, xuyên tạc của các thành phần chống phá, bất mãn hoặc thiếu hiểu biết rêu rao trên không gian mạng. Việc một số cán bộ lãnh đạo vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ Đảng bị xử lý là hoàn toàn bình thường thậm chí rất đáng hoan nghênh. Điều đó cho thấy hệ thống quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ, nghiêm minh. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam đang đi đúng hướng, vừa nhân văn, vừa nghiêm khắc, vừa chặt chẽ, vừa bao dung. Việc “mạnh tay” xử lý cán bộ kể cả cán bộ cấp chiến lược, thay đổi cán bộ tuyệt nhiên không ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị của đất nước./

Sưu tầm

Xuyên tạc, bóp méo: “Tâm đen” của những kẻ lật sử

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan hơn 1 triệu quân ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt việc các cường quốc thế giới can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam trong suốt 100 năm. Thế nhưng, ở bên kia chiến tuyến và ngoài biên giới của Tổ quốc, vẫn có kẻ cố chấp, cực đoan, có thái độ hằn thù dân tộc đến cuồng loạn và hành vi chống phá Việt Nam tàn ác. Một trong những việc làm sai trái, rất đáng lên án của họ là dùng mạng xã hội, viết tin, bài, dàn dựng các video clip, các cuộc phỏng vấn, trả lời phỏng vấn để nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN; bôi đen bức tranh xã hội Việt Nam sau 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cùng với trận Bạch Đằng (1288), Chi Lăng (1427), Đống Đa (1789) đến Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) chống quân Pháp, đã cắm cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung, không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Nhưng ngược lại, hiện nay, vẫn còn những “kẻ chạy đi” không biết phục thiện lại ra sức chống đối bằng việc đăng tải các bài viết, video, hình ảnh nhằm xuyên tạc, bôi nhọ chiến thắng của nhân dân ta, đất nước ta, hòng kích động tư tưởng chống phá, dấy lên thù hằn dân tộc, bới móc lại những vết thương của lịch sử với những luận điệu vu khống, bịa đặt trắng trợn. Hàng trăm bài viết kèm các hình ảnh phản cảm dưới tiêu đề “ngày quốc hận”, “tháng tư đen” được chia sẻ, lan truyền trên mạng xã hội để hướng lái dư luận, đánh tráo bản chất chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Nhiều bài viết với nội dung sai trái, tiêu cực được đăng tải trên Internet như: “Tháng tư vẫn là một kỷ niệm đau buồn cho những người ly hương vì mất nước”; “tháng tư quốc hận, xin nghiêng mình tưởng niệm những nạn nhân đã ra đi không đến bến bờ và xin ngưỡng mộ những người đã bỏ hết những gì có được, ra đi để lập lại cuộc đời trên đất nước tự do”. Bằng những luận điệu xuyên tạc trắng trợn về Chiến thắng 30/4, phi lý nhất là họ cào bằng giữa vai trò của kẻ đi xâm lược, đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với chính nghĩa là những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất cho Tổ quốc. Họ khuấy đảo mối thù hận bằng cách gây tâm lý hoài nghi, mập mờ về tính chính nghĩa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Sự can thiệp trắng trợn, vô nhân đạo, hành động tàn sát, giết người hàng loạt của đế quốc Mỹ và đồng minh tại Việt Nam lại được coi là một “Sự lựa chọn chính trị khác”, hoặc miền Nam Việt Nam có một “Lý tưởng khác” hoặc “Miền Bắc xâm lược miền Nam hay cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975 chỉ là nội chiến”; ngày 30/4 là Ngày quốc hận. Từ đó, phủ định ý nghĩa Chiến thắng 30/4/1975, đòi từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động hận thù, ly khai; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân; làm giảm ý chí quyết tâm, đóng góp xây dựng đất nước của nhân dân, trong đó có đồng bào sống xa Tổ quốc; cố tình đả kích, phủ nhận chính sách và nỗ lực hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Những luận điệu này không mới, nó đã được tua đi tua lại nhiều lần, nhân dân ta hầu hết đều đã rõ chân tướng sự sai trái, xuyên tạc của những kẻ bại vong, dùng “đại bác để bắn vào quá khứ”. Vì mục đích của họ là “che giấu sự cay đắng vì bại trận” và phủ nhận giá trị, ý nghĩa sự hy sinh xương máu của nhân dân ta.

Nhìn vào những mốc son trong quá khứ, chúng ta đều biết rằng, sau Hiệp định Giơnevơ (1954) được ký kết, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) của tỉnh Quảng Trị trở thành giới tuyến quân sự tạm thời phân chia nước ta thành 2 miền Nam-Bắc. Theo Hiệp định, sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng, với âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, Mỹ đã đưa quân xâm lược miền Nam và tìm mọi cách để đánh chiếm miền Bắc, buộc nhân dân ta phải sống, chiến đấu anh dũng. Đến ngày 30/4/1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta mới trọn niềm vui thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, nhân dân ta đã phải trải qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, hàng vạn thanh niên đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho đất nước, giữ trọn lời thề “Sinh Bắc, tử Nam”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Bởi vì, Nam-Bắc là một nhà, cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta là cuộc kháng chiến chính nghĩa, được cả thế giới và ngay cả người dân Mỹ tiến bộ ủng hộ. Đấy là chân lý thời đại, là cái “dĩ bất biến” của một dân tộc yêu nước, yêu hòa bình chứ không phải là ý niệm và hành động của kẻ hiếu chiến, kích hoạt chiến tranh.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 được coi là ngày hội thống nhất non sông không chỉ của người dân sinh sống tại Việt Nam, mà còn là ngày hội của hàng triệu đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Ngày hội thống nhất non sông mang ý nghĩa cao cả và có tầm vóc to lớn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc. Quá khứ được ghi ơn một cách trân trọng, sâu sắc, bởi vì điều quan trọng hơn là lời nhắc nhở về tinh thần yêu quý hòa bình, hòa giải, hòa hợp và đoàn kết dân tộc. Đánh giá tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng mùa Xuân năm 1975, Đại hội lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Cho nên, mọi sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị đều không thể làm phai nhạt giá trị, ý nghĩa lịch sử, chủ nghĩa anh hùng cách mạng./.

Sưu tầm

Nhận diện, đấu tranh với sự biến tướng của căn bệnh quan liêu

Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, ngoài mệnh lệnh hành chính, nếu người chỉ huy và cấp dưới đặt mình vào vị trí của nhau để cùng chia sẻ, thấu hiểu trách nhiệm ở mỗi cấp thì sẽ tạo được sự đoàn kết nhất trí cao, trên dưới một lòng và hiệu quả công việc sẽ cao hơn. Tuy nhiên, do mắc vào căn bệnh “quan liêu” nên vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) xa rời thực tế, xa quần chúng; nặng về áp dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính; chỉ biết hô hào khẩu hiệu chỉ thị, xem báo cáo, làm việc qua loa; lời nói không đi đôi với việc làm; chủ quan, tự mãn. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan chủ”. Đây chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của CB, ĐV cần phải đấu tranh loại bỏ.

Chân dung của người CB, ĐV mắc bệnh quan liêu theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phác họa là “nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần”. Vì mắc bệnh quan liêu, tất nhiên những CB, ĐV này sẽ không sâu sát thực tế, quen ngồi nghe báo cáo không kiểm tra, nên sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng trong hai khâu quan trọng nhất là:  Hoạch định chính sách, ra quyết định và công tác cán bộ. Và chân dung người CB, ĐV mắc bệnh quan liêu như Bác đã chỉ ra vẫn còn xuất hiện đâu đó trong những hội nghị, sự kiện quan trọng thời gian qua. Cụ thể, hiện nay là thời điểm các chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở trong toàn Đảng tiến hành đại hội. Đại hội là một sự kiện chính trị quan trọng, không chỉ đánh dấu một kỳ sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng, mà còn là dịp để mỗi đảng viên cùng nhau nhìn lại quá trình hoạt động, phát triển và đóng góp của chi bộ trong nhiệm kỳ qua. Trước thềm một sự kiện chính trị quan trọng như vậy, bao giờ cũng có đại biểu cấp trên về dự. CB, ĐV và nhân dân rất phấn khởi khi biết tin, sẽ có thủ trưởng cấp trên về dự và phát biểu chỉ đạo. Do tâm lý chung của mọi người đều rất kỳ vọng vào lãnh đạo cấp trên, bởi vì cấp trên bao giờ cũng công tâm, khách quan, nhìn thẳng, nhìn thật, nhìn sâu vào thực tiễn cơ sở bằng lăng kính của người lãnh đạo, bằng tư duy sâu sắc và tầm nhìn phổ quát để định hướng những nội dung có tâm, có tầm, khác về chất so với nhận thức của cấp dưới và quần chúng, từ đó giúp cấp dưới định hướng phương hướng thời gian tới để thực hiện tốt hơn. Thế nhưng, tại đại hội long trọng ấy, mọi sự háo hức của CB, ĐV và nhân dân bỗng trở thành nỗi thất vọng. Sau phần nghe báo cáo trung tâm và các ý kiến thảo luận, đại hội rất mong được lĩnh hội chỉ đạo của đại biểu cấp trên để sớm tháo gỡ một số vướng mắc trong công tác, tổ chức thực hiện và định hướng phương hướng thời gian tới. Thế nhưng, sự chờ đợi ấy bỗng trở thành công cốc vì bài phát biểu chỉ đạo của cấp trên quá dài, khoảng 4 đến 5 nghìn chữ và cứ thế đọc một lèo, chủ yếu nhắc lại nội dung trong báo cáo. Những ý thoát ly được văn bản lại quá chung chung, chưa sát, đúng với đặc điểm tình hình thực tế. Thoạt đầu, mọi người còn chú ý lắng nghe; nhưng về sau, bài phát biểu cứ thế kéo dài, với giọng đọc chậm rãi, đều đều nên sinh ra nhàm chán. Việc CB, ĐV cấp trên phát biểu chỉ đạo “mênh mông” nêu trên cũng là thực trạng tồn tại từ nhiều năm nay ở đội ngũ cán bộ nhiều cấp. 

Thông qua biểu hiện trên cho thấy, những CB, ĐV mắc căn bệnh “quan liêu” thì trong nhận thức họ đã tự đánh mất chính vai trò lãnh đạo của mình. Còn trong hoạt động thực tiễn, những CB, ĐV này không nêu cao được trách nhiệm để đưa nghị quyết vào cuộc sống; họ sẽ hành động theo thói quen, được chăng hay chớ. Rõ ràng, một bộ phận CB, ĐV như vậy, cho dù là ở cấp cơ sở cũng sẽ là lực cản làm giảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu rất cao với đội ngũ cán bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Theo Người: “Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà viết kế hoạch, ra mệnh lệnh”. Để tránh tình trạng lý luận không phản ánh đời sống thực tiễn, thiếu tính khoa học và cách mạng, Bác đặc biệt nhắc nhở CB, ĐV tránh tình trạng rất dễ mắc phải là lý luận suông, lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống, không có căn cứ, giáo điều, kinh viện. Người chỉ rõ: “Lý luận mà không có liên hệ thực tiễn là lý luận suông”. Đặc biệt, Người phê phán cách chỉ đạo thiếu cơ sở, chỉ đạo cho có, chỉ đạo nhiều nhưng hiệu quả không cao. Những chỉ dạy quý báu đó đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự và giá trị sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn. Bởi vì, cán bộ lãnh đạo là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương nên công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương. Mặt khác, việc xây dựng đường lối lãnh đạo đúng đắn, hoạch định chiến lược phát triển, nội dung chỉ đạo đúng, trúng không chỉ khẳng định năng lực lãnh đạo của người đứng đầu mà còn thể hiện sự hiểu biết về ngành, lĩnh vực và địa phương mình đang phụ trách. Từ chuyện chỉ đạo chung chung, phương phưởng, ai cũng nghĩ vô hại, nhưng đặt ra yêu cầu cần chỉnh sửa ngay lề lối làm việc, tác phong công tác của CB, ĐV nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp, để CB, ĐV có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đột phá vì lợi ích chung; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết là rất quan trọng, cần thiết, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 

Vì vậy, để tránh mắc vào căn bệnh “quan liêu” và những biến tướng nguy hiểm của nó, thì trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác, mỗi CB, ĐV nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt phải tăng cường hoạt động thực tiễn, sẵn sàng dấn thân, hy sinh lợi ích cá nhân. Dám đi đầu, đổi mới, loại bỏ cái cũ, cái lạc hậu; khơi thông điểm nghẽn, giải quyết vướng mắc, ách tắc trong thực tiễn, mang lại hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Đó cũng là cơ sở để bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ, khi cấp trên hoàn thành nhiệm vụ là đồng nghĩa với sự thấu hiểu nhiệm vụ cấp dưới của mình, nhìn thấy rõ vấn đề cơ sở đang cần, cấp dưới chưa biết, hoặc khơi gợi, giúp cấp dưới cách thức, hướng đi nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn. Có vậy thì cấp dưới mới nghe, mới cần, mới tin và trân quý sự chỉ đạo. Muốn làm được như thế, cán bộ lãnh đạo nhất thiết phải là những người sâu sát, gần gũi với cơ sở; kiểm tra phải thực chất để nắm rõ, hiểu sâu từng thế mạnh, từng điểm yếu, điểm nghẽn mà cơ sở đang vướng mắc để có những vạch định sát, đúng, chỉ đạo sát sao, kịp thời. Bên cạnh đó, cán bộ chủ trì, chủ chốt phải không ngừng học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo, thực sự là những “chuyên gia” hàng đầu trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách. Có như vậy, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ mới đi vào thực chất, hiệu quả và căn bệnh “quan liêu” sẽ tiêu tán không còn./.

Sưu tầm

CHA ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: CHUYÊN ÁN PY27 - SƠN LA TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC!

     Toán biệt Kích Castor (Rái Cá) nhảy dù xuống khu vực đỉnh Pu Nhi, nay ở bản Hý xã Phiêng Ban, huyện Bắc Yên. Đây là toán biệt kích đầu tiên bị bắt ở miền Bắc Việt Nam và là chuyên án đấu trí ly kỳ của an ninh Việt Nam với CIA Mỹ.

22 giờ 5 phút ngày 27-5-1961, trạm cảnh giới ở khu vực châu Phù Yên (Nghĩa Lộ) phát hiện tiếng máy bay lạ đã lập tức báo động. Lực lượng quân đội, công an, dân quân cùng đông đảo nhân dân địa phương khẩn trương tổ chức truy lùng gián điệp biệt kích theo kế hoạch. Ðiểm cao 828 thuộc bản Hỳ (Phiêng Ban, Phù Yên) được xác định là nơi gián điệp biệt kích nhảy dù đã bị bao vây chặt. Sáng sớm ngày 28-5, tên Lò Văn Piếng, trung sĩ nhất truyền tin bị bắt khi đang chuẩn bị máy vô tuyến điện định liên lạc về trung tâm chỉ huy địch.

Ngay sau đó, các tên Quách Thức, Lò Văn Phéng và Hà Văn Chấp (toán trưởng toán gián điệp biệt kích) lần lượt bị bắt. Sau ba ngày truy lùng khẩn trương, ta đã bắt toàn bộ toán gián điệp biệt kích gồm bốn tên, thu toàn bộ phương tiện hoạt động khi chúng chưa kịp liên lạc về trung tâm. Qua khai thác toán Castor (mật danh của toán gián điệp biệt kích này), ta đã nắm được các mật khẩu an ninh và quy ước liên lạc với trung tâm chỉ huy địch. Toán trưởng Hà Văn Chấp và nhân viên truyền tin Lò Văn Piếng tỏ ra ăn năn và tình nguyện lập công chuộc tội. Khống chế được toán trưởng và nhân viên truyền tin là điều kiện tiên quyết để ta mở hướng đấu tranh mới.

Sau khi nghe lãnh đạo Cục Bảo vệ Chính trị trực tiếp báo cáo về vụ Castor, Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn chỉ đạo: "Lập chuyên án đấu tranh nhằm đi sâu tìm hiểu âm mưu địch từ cơ quan đầu não của chúng; nắm cho được số biệt kích chúng đang huấn luyện; dụ chúng đưa hết số biệt kích đã huấn luyện ra bắc để bắt".

Lúc 12 giờ 30 phút ngày 9-6-1961, ta cho liên lạc phiên đầu tiên với trung tâm chỉ huy địch. Nhận được thông tin từ nhóm Castor, Bộ chỉ huy địch ở Sài Gòn mừng rơn vì cho là Castor an toàn, hẹn đêm 1-7-1961 sẽ tiếp tế hàng và tăng thêm người.

Quân địch hý hửng dùng máy bay C47 thực hiện chuyến tiếp tế đầu tiên cho Castor. Nhưng đã xảy ra tình huống ngoài dự kiến khi chiếc C47 bị bắn rơi tại Ninh Bình. Trung tâm chỉ huy địch nghi ngờ Castor bị ta khống chế cho nên đã tiến hành hàng loạt các biện pháp kiểm tra an ninh trong suốt tám tháng liên tục. Ban chuyên án đã khôn khéo thỏa mãn các yêu cầu của địch, buộc chúng tin rằng Castor vẫn an toàn. Kể từ đây, mọi hoạt động của trung tâm chỉ huy địch tại Sài Gòn đều nằm trong vòng kiểm soát và điều khiển của Cơ quan An ninh ta. Trung tâm chỉ huy địch thông báo cho Castor sẽ tăng cường thêm người và tiếp tế hàng theo yêu cầu.

Từ toán Castor, ta đã sử dụng "trò chơi nghiệp vụ" câu nhử địch để mở rộng tiếp ba chuyên án khác; bắt và tiêu diệt 55 tên gián điệp biệt kích, thu 140 kiện hàng (trong đó có nhiều phương tiện hoạt động gián điệp biệt kích hiện đại), góp phần phá hủy hai máy bay địch. Toàn bộ phương tiện hoạt động gián điệp biệt kích thu được ta đã chuyển ngay vào miền nam để lực lượng an ninh tập kích vào các cơ quan ngụy quân, ngụy quyền địch.

Khai thác số gián điệp biệt kích bị bắt, ta không chỉ nắm được căn bản âm mưu của địch mà còn nắm được cụ thể tên tuổi, quê quán số biệt kích đang được huấn luyện, sắp được tung ra miền bắc. Có nhiều toán ta biết trước cả thời gian và địa bàn chúng sẽ xâm nhập để tổ chức đón bắt. Sau gần sáu năm đấu tranh, chuyên án gián điệp biệt kích có bí số PY27 kết thúc. Theo kế hoạch của ta, ngày 4-7-1967, Castor thực hiện phiên liên lạc cuối cùng và nửa chừng bỏ máy.

Chuyên án kết thúc. Ðến lúc đó kẻ địch vẫn không hay biết chúng đã mắc bẫy "trò chơi nghiệp vụ" của lực lượng An ninh ta. Vì thế, các chuyên án đấu tranh chống gián điệp biệt kích khác vẫn được Cơ quan An ninh tiếp tục đến năm 1973 bảo đảm bí mật tuyệt đối./.
Ảnh: Lực lượng Công an bắt tên Lò Văn Piếng, nhân viên truyền tin của toán gián điệp Castor trong Chuyên án PY27 - Sơn La tháng 5-1961.
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2025

KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH - SỰ THẬT VÀ NHỮNG LUẬN ĐIỆU CẦN BÁC BỎ

BÀI CUỐI: BỐN TRỤ CỘT KIẾN TẠO KỶ NGUYÊN MỚI!
     Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức mới của thế kỷ 21, Việt Nam đã đứng trước những cơ hội, thách thức đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện, sáng tạo, đổi mới của Đảng. Để đạt được mục tiêu này, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách chiến lược và đột phá khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ cơ sở khách quan, nội lực chủ quan đến tầm nhìn chiến lược – Việt Nam không còn “chờ cơ hội”, mà đã tạo ra cơ hội cho chính mình. “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” không chỉ là viễn cảnh, mà đang dần hiển hiện – bằng những bước đi bài bản, vững chắc, kiên cường.

Có thể thấy, với những thời cơ mà bối cảnh thời đại mang lại cùng những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được qua gần 40 năm đổi mới đất nước thì hiện tại chính là thời điểm hội tụ tổng hòa các lợi thế, sức mạnh, cơ hội để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới.

Mặc dù chỉ rõ những điều kiện hiện thực cùng cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc song với tinh thần khách quan nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt. Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 18/5/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã thẳng thắn thừa nhận, đất nước đang đối mặt với những thách thức lớn. Tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chậm lại; năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế; chất lượng tăng trưởng chưa thực sự bền vững; nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình cao vẫn hiện hữu. Môi trường kinh doanh tuy đã cải thiện nhưng vẫn còn nhiều rào cản; hạ tầng thiếu đồng bộ; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa hoàn thiện.

“Chúng ta có quyền tự hào, nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận: phía trước còn nhiều thách thức gay gắt, đòi hỏi chúng ta không được chủ quan, không được ngủ quên bên vòng nguyệt quế, không được chậm trễ, càng phải không ngừng đổi mới, cải cách, phát huy mọi nguồn lực và động lực trong xã hội, trong nhân dân, triển khai một cách sâu sắc, toàn diện, quyết liệt, quyết tâm đạt được mục tiêu lớn đã đề ra. Những đổi mới, cải cách mà chúng ta đang triển khai không chỉ là yêu cầu khách quan của phát triển mà còn là mệnh lệnh từ tương lai dân tộc” Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.

Để vượt qua các thách thức, để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới cần quyết tâm thực hiện cho được các định hướng chiến lược như: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm Đảng là người cầm lái vĩ đại, đưa dân tộc ta tiến lên bứt phá, tăng tốc trong kỷ nguyên mới; tăng cường tính Đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nhằm tập trung tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất trong ba điểm nghẽn là thể chế; tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm đồng bộ, kết nối, thông suốt, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện chuyển đổi số hướng đến xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại – “phương thức sản xuất số”.

Đồng thời tạo động lực mới cho phát triển, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi do Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đem lại, đưa đất nước đi tắt đón đầu phát triển vượt bậc; đẩy mạnh phòng chống lãng phí tương đương với phòng chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; thực hiện đồng bộ các giải pháp định hướng chiến lược phát triển kinh tế, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình, trong đó cần đặc biệt chú trọng thực hiện các đột phá mạnh mẽ, quyết liệt về thể chế phát triển; tháo gỡ điểm nghẽn, rào cản, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, huy động, khơi thông mọi nguồn lực bên trong, bên ngoài, nguồn lực trong dân, phát triển khoa học và công nghệ đồng bộ, thông suốt… Tất cả vì mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Thể hiện rõ cho quyết tâm tháo gỡ những điểm nghẽn trên, chỉ trong vòng nửa năm (từ tháng 12/2024 đến tháng 5/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã thay mặt Bộ Chính trị ban hành liên tiếp bốn nghị quyết có tính chất đột phá – được ví như “Bộ tứ trụ cột” của tiến trình phát triển đất nước trong thời đại mới. Đó là: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

Nhìn về tương lai, chúng ta xác định rõ: muốn phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam không thể đi theo lối mòn cũ. Chúng ta phải dám nghĩ lớn, hành động lớn, thực hiện những cải cách lớn với quyết tâm chính trị cao nhất và nỗ lực bền bỉ nhất.

Bốn nghị quyết lớn của Bộ Chính trị đã cùng tạo nên một chỉnh thể thống nhất về tư duy và hành động chiến lược cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Mặc dù mỗi nghị quyết tập trung vào một lĩnh vực trọng yếu, nhưng dược liên kết chặt chẽ, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình quán triệt và tổ chức thực hiện. Cả bốn nghị quyết đều thống nhất mục tiêu: xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Nghị quyết số 66-NQ/TW yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật minh bạch, hiện đại, bảo đảm quyền con người và quyền công dân. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột tăng trưởng mới. Nghị quyết số 59-NQ/TW mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế chủ động, tích cực. Nghị quyết số 68-NQ/TW thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực trung tâm cho nền kinh tế.

Bốn nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị ban hành trong thời gian gần đây sẽ là những trụ cột thể chế nền tảng, tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta tiến lên trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. 

Cũng tại Hội nghị quán triệt các nghị quyết trên, Tổng Bí thư Tô Lâm đã kêu gọi: “Tôi kêu gọi toàn hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hãy chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế, để cùng nhau đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường của dân tộc Việt Nam”.

Lịch sử đã chọn chúng ta cho một sứ mệnh lớn. Tương lai sẽ chỉ đến nếu chúng ta dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước dân tộc với tư duy chủ động, hành động quyết liệt và tài năng lãnh đạo xứng tầm kỷ nguyên mới.

Tóm lại, kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – không phải là một khẩu hiệu mơ hồ, càng không phải là thứ niềm tin mù quáng. Đó là kết tinh của một quá trình phát triển liên tục, bền bỉ, có căn cứ khoa học và thực tiễn sinh động, từ khát vọng độc lập dân tộc, xây dựng đất nước, đến công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập sâu rộng hôm nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm qua đã minh chứng cho sự đúng đắn, sáng suốt của con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Những thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gieo rắc tâm lý hoài nghi, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, với luận điệu mị dân, phản động. Họ cố tình lờ đi sự thật rằng chính dưới sự lãnh đạo kiên định, đổi mới và quyết đoán của Đảng, Việt Nam đã vượt qua biết bao thử thách khốc liệt, vươn lên từ nghèo nàn, lạc hậu để trở thành một quốc gia đang phát triển năng động, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

Càng trong thời điểm bản lề của lịch sử, chúng ta càng cần vững tin và cảnh giác. Phản bác những luận điệu sai trái không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan lý luận, truyền thông, mà là nghĩa vụ của mỗi công dân yêu nước. Bởi vì bảo vệ niềm tin chính trị không phải là bảo thủ, mà là bảo vệ nền tảng tư tưởng đúng đắn – nơi hội tụ trí tuệ, bản lĩnh, và khát vọng Việt Nam.

Kỷ nguyên mới đang mở ra trước mắt, nhưng không dành cho những ai hoài nghi, do dự. Đó là kỷ nguyên của những con người biết dấn thân, hành động và phụng sự. Chúng ta không chọn con đường dễ đi, mà chọn con đường đúng đắn. Và chính con đường ấy, với Đảng là người dẫn đường, với Nhân dân là chủ thể kiến tạo, sẽ đưa đất nước đến đích vinh quang: Một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng năm châu như Bác Hồ hằng mong mỏi./.
Yêu nước ST.