Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÊ BÁ KHÁNH TRÌNH - HUYỀN THOẠI THẦM LẶNG CỦA TOÁN HỌC VIỆT NAM 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG THÔNG TIN ĐƯỢC BIẾT VỀ CUỘC TẤN CÔNG TRẢ ĐŨA CỦA IRAN VÀO ISRAEL!
Giúp nhân dân biên giới sớm ổn định cuộc sống sau mưa lũ
Trong đợt mưa lớn diễn ra tại tỉnh Quảng Trị, địa bàn huyện Hướng Hóa bị ảnh hưởng rất nặng nề như ngập lụt ở một số địa bàn thị trấn Lao Bảo, xã Thuận, giao thông trên các tuyến đường bị gián đoạn do sạt lở đất. Trước tình hình thực tế, các đơn vị lực lượng vũ trang đã điều động cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ di dời 217 hộ dân/1.007 nhân khẩu, cùng nhiều tài sản đến nơi an toàn. Bộ đội, dân quân tổ chức chốt chặn tại các tuyến đường giao thông bị ngập úng, sạt lở đất không để người dân qua lại. Nhờ sự chủ động của các lực lượng, cùng biện pháp kịp thời, huyện Hướng Hóa không để thiệt hại về tính mạng nhân dân. Ngày 14-6, khi mưa ngớt, nước trên sông, suối rút xuống, Ban chỉ huy phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn huyện Hướng Hóa đã huy động tối đa lực lượng khẩn trương bám địa bàn khắc phục hậu quả.
![]() |
Hỗ trợ các gia đình dọn dẹp nhà cửa, sắp xếp lại đồ dùng sinh hoạt ổn định cuộc sống. |
![]() |
| Nỗ lực vệ sinh làm sạch các trục đường giao thông bị ngập úng sau khi lũ rút. |
Trên tinh thần nước rút đến đâu khắc phục đến đó, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị: Ban CHQS huyện; đồn Biên phòng trên tuyến biên giới và lực lượng dân quân tự vệ các xã khẩn trương giúp dân vệ sinh nhà cửa, công trình dân sinh, đường giao thông, tổng dọn môi trường.
Kiên định vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam
Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng, phát triển sáng tạo để đề ra đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cách mạng. Dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với hai nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập cho dân tộc và quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, đến cách mạng xã hội chủ nghĩa với hai nhiệm vụ cơ bản là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và sau đó, đến công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Vì vậy, trong các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta và với xu thế của thời đại. Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gần 40 năm qua đã khẳng định sức sống bền vững, giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó khẳng định đường lối đổi mới là đúng đắn, sáng tạo, hợp lòng dân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ đó mà đất nước ta, như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nhận định, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”
Bản chất, mục tiêu chính trị của Quân đội luôn gắn với bản chất giai cấp và nội dung của Nhà nước
Từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn lịch sử ra đời, phát triển của quân đội đã chỉ rõ, quân đội nào cũng đều do giai cấp thống trị xã hội đó tổ chức ra, là công cụ chuyên chính bảo vệ lợi ích, địa vị thống trị của giai cấp ấy. “Bản chất giai cấp và nội dung của nhà nước như thế nào thì quân đội - người bảo vệ lợi ích của nó như thế ấy”. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, ra đời trước khi nhân dân ta giành được chính quyền, thành lập nhà nước. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng trở thành nguyên tắc trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất, có mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời.
Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp, mục đích chính trị của nhà nước tổ chức ra và nuôi dưỡng nó, không có quân đội trung lập về chính trị, quân đội đứng ngoài giai cấp và nhà nước. Trong xã hội có giai cấp, không bao giờ có quân đội đứng ngoài chính trị, không mang bản chất chính trị của giai cấp, nhà nước nào. V. I. Lê-nin khẳng định: “Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được”. Thực tiễn lịch sử nhân loại chứng minh rằng, sự nghiệp cách mạng và con đường phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc lãnh đạo. Lực lượng chính trị ấy sẽ tổ chức, lãnh đạo quân đội, bảo đảm cho nó thực sự là công cụ bạo lực vũ trang của lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc đang lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc đó phát triển. Điều này cho thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của cái gọi là “quân đội phi giai cấp”. Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, mang lại quyền tự do, dân chủ, hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, Đảng lãnh đạo Quân đội là tất yếu và Quân đội mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội về chính trị, củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, chú trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Thực tiễn đó là không thể phủ nhận, hơn thế còn là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điểm xuyên tạc, kích động đòi tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Tầm quan trọng của việc phòng, chống chủ nghĩa cơ hội
V.I. Lê-nin khẳng định: “Khi nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không bao giờ được quên đặc điểm của tất cả chủ nghĩa cơ hội hiện đại trong mọi lĩnh vực là: nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể nào hiểu nổi được. Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát; bao giờ cũng tìm con đường trung dung, quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thoả thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia,...”. Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, khi nói về những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là “bọn hoạt đầu” và Người đã đề cập tác hại của nó trong Quốc tế Cộng sản II: “Vì bọn hoạt đầu trong Đệ nhị quốc tế đã phản mục đích hội mà hoá ra chó săn cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa, hoá ra phản cách mệnh”, chính vì để cho chủ nghĩa cơ hội nảy sinh, lũng đoạn và chi phối nên Quốc tế Cộng sản từ một tổ chức cách mạng mà bị chuyển hóa thành phản cách mạng, “Đệ nhị quốc tế trước vẫn là cách mệnh, nhưng vì kỷ luật không nghiêm, tổ chức không khéo, để tụi hoạt đầu xen vào nhiều quá; sau hoá ra phản cách mệnh”. Do đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cần phải chống chủ nghĩa cơ hội một cách quyết liệt, triệt để, bởi lẽ, “Không chống chủ nghĩa cơ hội thì không lãnh đạo được”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì việc chống chủ nghĩa cơ hội là yêu cầu tất yếu, phải tiến hành thường xuyên, liên tục vì chủ nghĩa cơ hội có thể nảy sinh và phát triển mọi lúc mọi nơi. Người khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam luôn luôn đấu tranh mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng. Trong khi kiên quyết tập trung mũi nhọn chống bọn đế quốc xâm lược và bọn tay sai của chúng, Đảng không hề lơ là việc đấu tranh chống những tư tưởng phản động, tư tưởng tư sản cải lương đầu hàng và thỏa hiệp với đế quốc; chống tư tưởng tiểu tư sản bấp bênh dao động, chống những biểu hiện chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tả khuynh; ra sức đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng, giữa chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa cá nhân có mối quan hệ gần gũi, đều theo đuổi lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ, bất chấp lợi ích tập thể, cộng đồng, xã hội. Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội là tận dụng, khai thác triệt để tình hình để theo đuổi lợi ích cục bộ, trước mắt, bất chấp lợi ích toàn thể, lợi ích lâu dài, lợi ích cộng đồng, xã hội; còn chủ nghĩa cá nhân luôn luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên, lên trước lợi ích tập thể, lợi ích chung. Chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân của nhiều căn bệnh trong đó có bệnh cơ hội chủ nghĩa, do đó, đồng thời với phòng, chống chủ nghĩa cơ hội, phải kiên trì, kiên quyết phòng, chống chủ nghĩa cá nhân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc
Trong các bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Đồng thời, bằng chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập trong phong trào thi đua yêu nước.
Thi đua yêu nước do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trong chế độ cũ, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, nai lưng làm việc cho chủ để mình và gia đình mình không bị chết đói, “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”. Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”.
Nội dung cốt lõi, cũng như bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc cách mạng, thực hiện tốt hơn công việc hằng ngày. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nêu trên xuất phát và biểu hiện trên vấn đề cơ bản là: Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và tầm quan trọng của thi đua yêu nước; Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc yêu nước mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày.
Người khởi xướng, dẫn dắt Phong trào thi đua “Ba nhất”
Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã vận dụng một cách sáng tạo vào chỉ đạo tổ chức công tác thi đua thành hành động cách mạng của hàng triệu quần chúng, bộ đội. Ngay sau khi được Đảng, Chính phủ điều động vào Quân đội và giao trọng trách Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tại Hội nghị cán bộ chính trị chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới năm 1950, đồng chí đã căn dặn cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chính trị các đơn vị tham gia chiến dịch phải làm thật tốt các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; đặc biệt, cần phải phát động một cuộc vận động lập công.
Trong những năm 1954-1958, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cùng với Tổng Quân ủy, Tổng cục Chính trị đề ra chủ trương và chỉ đạo toàn quân đẩy mạnh các phong trào thi đua nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại, góp phần củng cố, bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Quán triệt chủ trương này, Lữ đoàn 364 pháo binh mở phong trào học tập, rèn luyện trở thành “Pháo thủ toàn năng”. Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 305 bộ binh phát động phong trào “Vượt lên hàng đầu”. Quân khu Tả Ngạn phát động và lãnh đạo phong trào rèn luyện thể lực mang tên “Đại đội gió”, bắt đầu từ Đại đội 2, Trung đoàn 50... Trước những diễn biến này, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thường xuyên theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ các đơn vị, tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đưa phong trào thi đua vào chiều sâu, có chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tháng 11-1958, Tổng Quân ủy phát động Phong trào thi đua “Tiến nhanh hoàn thành vượt mức kế hoạch xây dựng Quân đội”.
Để phong trào thi đua đạt được hiệu quả, thiết thực, cần phải tìm ra các nhân tố mới, phát hiện các điển hình tiên tiến; đồng thời, chú trọng công tác tổng kết kinh nghiệm để phát huy. Thấu triệt quan điểm đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn dành thời gian đến với các đơn vị cơ sở để phát hiện và tạo dựng phong trào. Ngay khi đến Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đoàn Vinh Quang (Sư đoàn 304), đồng chí đi sâu tìm hiểu tình hình và phát hiện, đơn vị đã dựa vào chi bộ, chi đoàn để phát động quần chúng và đề ra khẩu hiệu “Tiến công vào khoa học-kỹ thuật, làm chủ vũ khí, trang bị mới”. Với sự lan tỏa mạnh mẽ của phong trào và ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, ở hội thi bắn đạn thật toàn quân (tháng 6-1960), Sư đoàn 304 đạt đơn vị bắn giỏi nhất, đoàn có nhiều phân đội tham gia nhất, thành tích đều nhất. Tại lễ trao Huân chương tặng Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã khái quát những thành tích của đơn vị là “Ba nhất”. Nội dung của “Ba nhất” (nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; nhất về mặt gương mẫu, kỷ luật; nhất về lao động và sản xuất) đã lôi cuốn các đơn vị trong toàn quân, mở rộng ra cả những đơn vị dân quân, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa bộ đội thường trực và lực lượng hậu bị, củng cố khối đoàn kết công-nông-binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
“Ba nhất” được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phát động thành phong trào thi đua trong toàn quân. Đó là một phong trào thi đua, một hình tượng thi đua điển hình vừa cụ thể vừa sinh động, lấy huấn luyện chiến đấu, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu làm trung tâm, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình làm mục tiêu thi đua cụ thể. Với ý nghĩa đó, “Ba nhất” được nêu lên như một khẩu hiệu hành động có sức hấp dẫn mạnh mẽ, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ toàn quân hăng say thi đua sáng tạo, lập công.
Chủ nghĩa cơ hội và những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội
Chủ nghĩa cơ hội là không theo một đường lối rõ rệt, không có chính kiến rõ ràng, ngả nghiêng nhằm mưu lợi trước mắt. Chủ nghĩa cơ hội ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lúc đầu, chủ nghĩa cơ hội chỉ có một vài xu hướng, bè phái cơ hội, như Pierre Joseph Proudhon, Mikhail Alexandrovich Bakunin, nhưng sau đã phát triển thành một lực lượng chính trị đáng kể trong các đảng chủ chốt của Quốc tế Cộng sản II, dẫn tới sự phân liệt sâu sắc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
V.I. Lê-nin cho rằng, những người theo chủ nghĩa cơ hội là những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc, không triệt để, dứt khoát, sẵn sàng thỏa hiệp chính trị để theo đuổi lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt; sẵn sàng chà đạp lên cái toàn cục, lợi ích cơ bản, lâu dài. Chính vì vậy, những người theo chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù của phong trào cách mạng, trong khi cách mạng là nhằm giải phóng triệt để giai cấp công nhân, xây dựng chủ nghĩa xã hội để đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do, dân chủ thực sự cho nhân dân, thì những người theo chủ nghĩa cơ hội chủ trương thỏa hiệp, cải lương nên không cùng chí hướng với giai cấp công nhân cách mạng, “bọn này dĩ nhiên là kẻ thù chính của chủ nghĩa Bôn-sê-vích trong nội bộ phong trào công nhân. Nó lại còn là kẻ thù chính trên phạm vi quốc tế nữa”.
Nhìn chung, biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội rất đa dạng, như: Không có chính kiến, không có quan điểm rạch ròi, hoang mang dao động, dễ thỏa hiệp, sẵn sàng thay đổi; lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội để thỏa mãn nhu cầu và lợi ích cá nhân, bất chấp các hậu quả đối với cộng đồng, xã hội; không tin và không biết dựa vào nhân dân để thực hiện nhiệm vụ nhằm đem lại lợi ích cho cho tập thể; thiếu năng lực khắc phục khó khăn trong công việc chung,...
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước sự khó khăn, những người phạm chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa cơ hội thiếu đầu óc sáng suốt và thiếu năng lực khắc phục khó khăn, vì họ không biết dựa vào quần chúng và dựa vào Đảng, hoặc là họ không tin vào quần chúng, và không tin vào Đảng”. Người còn cho rằng, thiếu nguyên tắc, thiếu kiên trì, thiếu triệt để trong công tác và chủ nghĩa cơ hội có mối liên quan đến nhau. Những người theo chủ nghĩa cơ hội thường thiếu nguyên tắc, không kiên trì, kiên nhẫn, triệt để trong công tác, và ngược lại, nếu không kiên trì, kiên nhẫn, triệt để thì cũng sẽ dẫn đến chủ nghĩa cơ hội.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng phải gan dạ, có kinh nghiệm, khôn khéo, kiên quyết mới lãnh đạo được kháng chiến. Đảng viên đều phải có gan hy sinh hết cho quyền lợi của quần chúng. Gan dạ mà không có kinh nghiệm thì dễ làm ẩu; cần có kinh nghiệm để làm cho đúng, đã gan dạ có kinh nghiệm rồi lại phải khôn khéo. Khôn khéo nghĩa là khi Đảng ra chính sách nào đó phải giải thích thế nào cho hợp với địa phương, đưa quần chúng ra tranh đấu... chứ không phải là khôn vặt. Đã khôn rồi lại phải kiên quyết, không kiên quyết thì dễ đi đến cơ hội”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cảnh báo, những người lãnh đạo, quản lý rơi vào chủ nghĩa cơ hội thường theo đuổi “vinh thân phì gia” và bị chi phối bởi quan niệm lạc hậu là “một người làm quan cả họ được nhờ”, biểu hiện trong chính trị là “đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”
Thứ Hai, 16 tháng 6, 2025
Cảnh giác trước mưu đồ lợi dụng chủ trương tinh gọn bộ máy để xuyên tạc, chống phá Quân đội
Thời gian qua, lợi dụng chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá Quân đội. Mưu đồ này không mới, song rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
Thực
hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhằm giảm tầng
nấc trung gian, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả hoạt động,
Quân đội ta đã và đang đẩy mạnh sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế phù hợp
yêu cầu chung và đặc thù chức năng, nhiệm vụ. Đây là chủ trương hoàn toàn đúng
đắn để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, như một “thói xấu
khó bỏ”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề này
để không ngừng tung ra nhiều thông tin xuyên tạc, kích động chống phá Quân đội
trên các kênh thông tin truyền thông lề trái, các trang mạng xã hội,... với
những luận điệu lố bịch như: “Quân đội không còn cần thiết”, “cải tổ mạnh mẽ
Quân đội để giảm gánh nặng ngân sách” hay “Quân đội nên tách khỏi sự lãnh đạo
của Đảng”, v.v.
Để lập
luận cho những luận điệu sai trái đó, các thế lực thù địch viện dẫn luận điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin “Quân đội là một phạm trù lịch sử” để rồi xuyên tạc
trắng trợn rằng: Quân đội ra đời, tồn tại gắn liền với chiến tranh; khi đất
nước hòa bình, sự tồn tại của quân đội là không cần thiết; vậy nên, trong tinh
gọn bộ máy thì nên xóa bỏ tổ chức quân đội đi. Chúng còn xảo biện rằng, hoạt
động quân sự là hoạt động chỉ có tiêu tốn của nền kinh tế chứ không mang lại
lợi ích gì khác; vậy nên càng rút gọn về tổ chức, tinh giảm quân số quân đội
càng tốt. Không dừng lại đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị
còn lặp lại “bài hùng biện” quen thuộc rằng: “Quân đội nên trung lập về chính
trị”, nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không
can dự vào chính trị”, v.v. Chúng cho rằng, quân đội là của nhà nước, nên chỉ
phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính
đảng nào.
Rõ
ràng, với những luận điệu đó, các thế lực thù địch mong muốn Quân đội ta “ngày
càng teo đi”, bị “phi chính trị hóa”, mục đích của chúng là hòng thủ tiêu sức
mạnh chính trị - tinh thần, làm mất phương hướng, mục tiêu và sức mạnh chiến
đấu của Quân đội, làm cho Quân đội ta không còn là lực lượng nòng cốt trong bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là con đường ngắn nhất để vô hiệu hóa vai trò
của Quân đội với tư cách là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; từ đó, tạo điều kiện thuận
lợi để chúng tìm cớ can thiệp, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mục
tiêu trước mắt của chúng là nhằm tác động xấu đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm
của một bộ phận quần chúng nhân dân và cán bộ, chiến sĩ Quân đội, gây tâm lý
hoang mang, hoài nghi, thiếu niềm tin vào chủ trương của Đảng, dẫn đến có những
nhận thức và hành động sai trái, ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng Quân
đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại.
Có thể
khẳng định rằng, những luận điệu của các thế lực thù địch là hoàn toàn sai
trái, dựa trên sự nhận thức “ngây ngô” về lý luận và những cứ liệu thực tiễn
hết sức “ngờ nghệch”. Về vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -
Lênin đã chỉ rõ: “Quân đội là một tập đoàn có tổ chức, gồm những người được vũ
trang, được nhà nước đài thọ để thực hiện chiến tranh tiến công hoặc phòng
ngự”1. Theo đó, quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước và chỉ mất
đi khi không còn nhà nước. Mặt khác, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế
với quân sự, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định giữa
chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, “Không có gì lại phụ thuộc
vào những điều kiện kinh tế tiên quyết hơn là chính ngay quân đội và hạm đội”2
và ngược lại, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Điều
đó nói lên rằng, quân đội có vai trò rất quan trọng để bảo vệ nhà nước sinh ra
nó; sức mạnh chiến đấu của quân đội luôn gắn liền với những điều kiện kinh tế,
xã hội của đất nước. Và việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế của quân đội
xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất
định. Hoàn toàn không có chuyện “Quân đội không còn cần thiết”, mà ngược lại,
vai trò của Quân đội càng quan trọng hơn trước đòi hỏi của thực tiễn phát triển
đất nước và trong bối cảnh thế giới phức tạp hiện nay.
Nghiên
cứu nguồn gốc, bản chất của quân đội, từ tổng kết thực tiễn lịch sử, các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, bất cứ quân đội nào cũng đều do
giai cấp thống trị xã hội tổ chức ra và lãnh đạo nó, không có quân đội chung
chung, phi giai cấp; quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp nhất định, là
công cụ bạo lực vũ trang để bảo vệ lợi ích, địa vị của giai cấp đã tổ chức ra
và nuôi dưỡng nó. Vì vậy, không thể có quân đội nào “trung lập về chính trị”,
không bảo vệ lợi ích của giai cấp nào trong xã hội có giai cấp. V.I. Lênin đã
chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào
chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư
sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân
đội vào chính trị phản động”3. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc
nhở “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta
xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”4. Điều đó cho thấy, xét đến cùng, bản
chất chính trị - xã hội của quân đội được quyết định bởi quân đội đó do giai
cấp nào tổ chức ra và phục vụ trước hết cho lợi ích của giai cấp nào trong xã
hội. Đặt trong mối quan hệ với nhà nước, quân đội là một bộ phận cấu thành và là
lực lượng đặc biệt quan trọng của nhà nước, luôn tham gia vào mọi hoạt động
chính trị của nhà nước. Trong lịch sử nhân loại, chưa có quân đội nào trung lập
về chính trị. Bài học của Hồng quân Liên Xô cuối những năm 80 của thế kỷ XX vẫn
còn nguyên giá trị cho những ai có ý định “phi chính trị hóa” Quân đội. Do đó,
mọi thủ đoạn đòi “Quân đội nên trung lập về chính trị”, “đứng giữa các lực
lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”,… đều vô
lý và ẩn chứa mưu đồ chính trị xấu xa, đi ngược lại lợi ích đất nước.
Với tư
cách là công cụ bạo lực sắc bén của nhà nước, lực lượng vũ trang nói chung,
Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong
giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế -
xã hội. Một mặt, Quân đội thực hiện tốt chức năng “Đội quân chiến đấu”, là lực
lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh
nhân dân vững mạnh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi
tình huống; mặt khác, thực hiện tốt chức năng “Đội quân công tác” trong tuyên
truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho nhân dân; giúp đỡ nhân dân
phát triển kinh tế, ổn định đời sống, từng bước nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp
đổi mới đất nước. Cùng với đó, Quân đội ta còn là “Đội quân lao động sản xuất”,
góp phần to lớn vào phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ. Theo đó, Quân ủy Trung
ương, Bộ Quốc phòng quán triệt sâu sắc quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng
của Đảng, ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo toàn
quân phát huy khả năng, thế mạnh, tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.
Các cơ quan, đơn vị tích cực tăng gia, sản xuất, xây dựng kinh tế, phối hợp
chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai các chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở những khu vực, địa
bàn, vùng chiến lược trọng yếu về quốc phòng, an ninh; góp phần tăng cường tiềm
lực quốc phòng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, nhất là ở
các địa bàn chiến lược vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, xây dựng “thế
trận lòng dân”, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh
nhân dân vững chắc. Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành
cho thấy, Quân đội ta luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn thấm
nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng xả thân, hy sinh xương
máu vì hạnh phúc của nhân dân cả trong đấu tranh giành độc lập dân tộc trước
đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay. Đó là thực tế không
thể phủ nhận.
Hiện
nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hơn lúc nào hết, đây là thời điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
phải nâng cao hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả quản lý xã hội, nhằm phát huy tối
đa mọi nguồn lực phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Trong
điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, ngân sách đầu tư cho Quân đội còn hạn
hẹp, để xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, việc sắp xếp,
điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, những ai
cho rằng phải “cải tổ mạnh mẽ quân đội để giảm gánh nặng ngân sách” là những
người phiến diện, chỉ nhận thức một mặt mà không hiểu hoặc cố tình không hiểu
mối quan hệ biện chứng của từng thành tố “tinh”, “gọn”, “mạnh” trong mục tiêu
xây dựng Quân đội của Đảng và Nhà nước ta. Bởi đây không đơn thuần là việc cắt
giảm quân số, sáp nhập một số cơ quan, đơn vị quân đội để giảm gánh nặng ngân
sách; mà đó là quá trình tổ chức “tinh”, “gọn”, giảm đầu mối trung gian để nâng
cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong điều kiện mới.
Lẽ tất
nhiên, phải luôn thấu triệt nguyên tắc căn bản: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực
tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; không chỉ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
trong mọi khâu, bước của quá trình sắp xếp, điều chỉnh tổ chức biên chế Quân
đội lần này, mà còn luôn quán triệt, thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng,
Nhà nước, Quân đội cần luôn nhận thức rõ, xác định đúng đối tác, đối tượng; vận
dụng, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc; đoàn
kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp để sẵn sàng chiến đấu
và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ
vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển hùng cường trong kỷ
nguyên mới.
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “NGHỊ QUYẾT SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP ĐƯỢC CHUẨN BỊ CÔNG PHU, NGHIÊM TÚC, PHẢN ANH SÂU SẮC Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN”!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT HUY TINH THẦN TRÁCH NHIỆM CAO NHẤT TRONG THỰC HIỆN DỰ ÁN MỞ RỘNG QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH!
Ảnh: Đoàn công tác của Bộ Quốc phòng khảo sát công tác triển khai dự án tại thực địa.
CUỘC CHIẾN TRÊN MẶT TRẬN BÁO CHÍ VÀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ “VŨ KHÍ TƯ TƯỞNG” CỦA ĐẢNG
ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
Thời gian tới, dự báo âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch mang tính chất tinh vi, xảo quyệt hơn, để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, cần quán triệt và thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ NHỮNG GIÁ TRỊ KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang ráo riết chống phá hòng làm cho Quân đội ta rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chệch phương hướng và mục tiêu lý tưởng chiến đấu, phai nhạt bản chất giai cấp. Thực chất đó là phá bỏ và chuyển hóa cái “gốc” chính trị của Quân đội ta. Họ triệt để lợi dụng phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội, thực hiện nhiều hình thức, thủ đoạn chống phá cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nội dung tập trung vào những vấn đề chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; những vấn đề lịch sử, truyền thống, đạo đức, lối sống, các mối quan hệ của Quân đội với Đảng, Tổ quốc, dân tộc, với Nhà nước, Nhân dân, quan hệ quốc tế, quan hệ nội bộ, v.v. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, chúng dùng thủ đoạn khác nhau với những biểu hiện cụ thể riêng.
LUẬN CỨ PHẢN BÁC ÂM MƯU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là nhằm xuyên tạc, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, nghiên cứu, hiểu rõ tư tưởng Hồ Chí Minh, không những giúp chúng ta nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, mà còn có cơ sở để tiếp tục khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự bùng nổ của Internet, mạng xã hội và những vấn đề nảy sinh từ kinh tế thị trường, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch ngày càng gia tăng cả về quy mô, cường độ và tính chất. Thủ đoạn hiện nay của chúng là triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là các trang mạng xã hội để phát tán các tài liệu, bài viết, lồng ghép các hình ảnh, tạo các video clip tuyên truyền các thông tin có nội dung xuyên tạc, nói xấu nội bộ, đả kích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ NGỌN ĐÈN SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm đúng đắn, toàn diện và sâu sắc góp phần định hướng, chỉ đạo và giải quyết triệt để những vấn đề cơ bản còn tồn tại đối với cách mạng Việt Nam. Cùng với thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời là sự vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa những giá trị cốt lõi truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Đây là tài sản tinh thần quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.
KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, QUYẾT TÂM XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM PHỒN VINH, HẠNH PHÚC
Ngày nay, dân tộc Việt Nam cùng với nhân dân trên thế giới đang sống và làm việc trong thời đại mới của cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Chúng ta thay đổi cơ bản kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật, tư duy, lối sống, phong cách làm việc của mỗi con người. Trước sự thay đổi đó tác động của cách mạng khoa học công nghệ, công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ngày càng đi vào chiều sâu thì chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức tạp mới, nhưng cũng đặt ra cho đất nước những cơ hội lớn và thách thức mới. Trong bối tình hình thế giới trong nước khu vực có diễn biết mới, yêu cầu của sự nghiệp cách mạng đòi hỏi, luân luân kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cần tập trung thực hiện một số nội dung giải pháp cơ bản sau:
TRUNG THÀNH, VẬN DỤNG SÁNG TẠO QUAN ĐIỂM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH KẾ THỪA TRỰC TIẾP, KHÔNG NGỪNG BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀO VIỆT NAM
Học thuyết của Mác - Lênin là hệ thống lý luận khoa học về triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học và kinh tế chính trị bao gồm những quy luật chung nhất cho sự phát triển của ba thành tố tự nhiên, xã hội và tư duy, làm cơ sở cho công cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là thường xuyên liên tục ở mọi thời đại chống lại mọi sự áp bức, bó lột, bất công trong xã hội loài người tạo điều kiện để mỗi con người dân lao động phát triển toàn diện; về xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa có nền kinh tế phát triển cao, khoa học kỹ thuật, hạ tầng hiện đại công bằng xã hội đời sống vất chất và tinh thần nhân dân được bảo đảm tốt... Lý luận học thuyết Mác - Lênin ra đời trên mảnh đất hiện thực đó chính là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, lực lượng xã hội đông đảo đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của lịch sử xã hội loài người phát triển nền sản xuất vật chất của nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sự tổng hợp các thành tố mà là sự tổng hòa từ nhiều nguồn tri thức như chi thức của tự nhiên, xã hội và của tư duy phản ánh sự liên hệ phổ biến khái quát hoá trừu tượng hoá cao trở thành học thuyết khoa học, tiếp thu chọn lọc, tinh túy từ các tư tưởng tiến bộ, đồng thời không ngừng được bổ sung phát triển tự hoàn thiện. Học thuyết mở lên luân phải khái quát thực tiễn để đưa ra lý luận khoa học mới phù hợp với và sự phát triển xã hội loài người, Được xây dựng trên những quy luật và kinh nghiệm từ thực tiễn, được khái quát hoá ở trình độ cao lên tầm lý luận khoa học. Phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin không nhằm mục đích vì con người và sự phát triển của xã hội, đưa ra những vấn đề là cơ sở khoa học để vận dụng vào đấu tranh để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn, tạo nền tảng vững chắc cho thế giới phát triển không ngừng, hướng đến giá trị văn hoá cao cả. Vấn đề giai cấp đó là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người toàn diện nhất. Chủ nghĩa Mác - Lênin lấy giai cấp công nhân làm nền tảng, lực lực cách mạng nhất để thực hiện mục tiêu lý tưởng của mình, đồng thời lấy học thuyết chủ nghĩa Mác - Lênin làm vũ khí lý luận không thể thiếu để chuyển hoá sức mạnh “tinh thần” thành sức mạnh “vật chất” bảo vệ vững chắc chế độ và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
NHỮNG LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ, PHI KHOA HỌC CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG, THÙ ĐỊCH VÀ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ
Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị chúng thường đưa ra nhiều luận điểm và các thuyết, quan điểm khác nhau nhằm tiến công thẳng vào Chủ nghĩa Mác - Lênin, Nhằm hạ bệ và phá hoại giá trị cốt lõi của học thuyết. Bên cạnh đó các thế lực thù địch, phản động, cơ hội về chính trị cố tình phản ánh sai sự thật, cắt ghép, sử dụng ngôn ngữ vừa kích động vừa mị dân, dẫn dắt có chủ ý để không chỉ dừng lại ở phá hoại mà còn đập tan hệ tư tưởng của Đảng ta. Trước hết là tạo ra mâu thuẫn giữa lý luận giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin với đời sống hiện tại và vấn đề thực tiễn đặt ra mà Đảng Khái quát và bổ sung vấn đề lý luận chưa kịp thời. Từ những kẽ hở đó chúng đưa luận điệu sai sự thật, bôi nhọ, phá vỡ niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì thế phải kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ, giữ vững bản chất khoa học, cách mạng lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong tình hình hiện nay có ý nghĩa cấp thiết.
PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN TRƯỚC HẾT CẦN NHÌN VÀO
THỰC TRẠNG ĐỂ TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ
Ngày
4/5/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển
kinh tế tư nhân. Một trong những nội dung của Nghị quyết nhấn mạnh mặt hạn chế là: Kinh tế
tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển, chưa bứt phá
về quy mô và năng lực cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu cầu, kỳ vọng là lực lượng
nòng cốt của kinh tế đất nước. Hầu hết doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và
vừa; tiềm lực tài chính và trình độ quản trị hạn chế; phần lớn có năng lực công
nghệ, đổi mới sáng tạo thấp; năng suất lao động, hiệu quả hoạt động và sức cạnh
tranh chưa cao; tư duy kinh doanh thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kết nối với
các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo đó, quá trình cởi bỏ những rào cản
cho quá trình phát triển, cần tuân thủ quy luật của Mác- Lênin đã chỉ ra là: Sự
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất với trình độ của lực lượng sản xuất
và giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng./.
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN LÀ SỰ HOÀN THIỆN LÝ LUẬN
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI
Ngày 4/5/2025, Tổng Bí thư Tô
Lâm ký ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Đây là
một văn kiện mới và quan trọng của Bộ Chính trị, đánh dấu bước ngoặt lớn trong
tư duy và chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam trong thời
kỳ. Đây là sự tiếp nối quá trình chỉ đạo, phát triển
nền kinh tế mà Đại hội XIII, Đảng ta đã khẳng định: “Kinh tế tư nhân được
khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm,
được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức
cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh
nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự
tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động”[1].
Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh hợp tác công - tư nhằm huy động nguồn lực xã hội
vào phát triển kết cấu hạ tầng và cung ứng dịch vụ công. “Phấn đấu đến năm
2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế
tư nhân vào GDP đạt 60 - 65%”[2];
tổng đầu tư xã hội bình quân đạt 33 - 35% GDP.
Như vậy có thể khẳng định, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là sự kế tục tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tường Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, tạo tiền đề thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, trong điều kiện mới./.









