Thứ Ba, 24 tháng 6, 2025

Nhận thức đúng về giá trị dân chủ trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam

 

Thời gian qua, không chỉ các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc về chế độ dân chủ ở nước ta khi cho rằng “không có dân chủ trong chế độ đảng cộng sản duy nhất cầm quyền”, một số người trong nước cũng ngộ nhận, mơ hồ về luận điệu sai trái này. Vì vậy, việc làm sáng tỏ bản chất dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng cầm quyền là việc làm cần thiết nhằm phòng ngừa biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong nội bộ.

Tư tưởng dân chủ là giá trị chung của nhân loại

Khi xã hội loài người hình thành, con người với tư cách là thực thể xã hội, con người biết làm chủ xã hội với những cấp độ: Làm chủ bản thân, làm chủ gia đình, làm chủ cộng đồng và làm chủ xã hội. Dân chủ gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử, qua các chế độ xã hội và thời gian khác nhau. Dân chủ dùng để chỉ quyền làm chủ của nhân dân và xuất hiện khi có nhà nước và luôn gắn liền với một nhà nước nhất định, được hiến pháp, luật pháp của nhà nước đó quy định. Như vậy, trong xã hội có giai cấp, dân chủ mang bản chất giai cấp sâu sắc và trong khuôn khổ của pháp luật xã hội đó, không có dân chủ phi giai cấp, mọi luận điệu phủ nhận vấn đề này đều chỉ là sự lừa gạt, dối trá trước quần chúng. Giai cấp nào nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì mới có đầy đủ điều kiện thực hiện được quyền làm chủ xã hội thực sự.

Dân chủ không phải là khái niệm bất biến mà là một phạm trù chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu nhà nước trong những điều kiện cụ thể nhất định. Trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội, mỗi thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc, dân chủ luôn có những nét đặc trưng.

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, xét về bản chất chính là dân chủ của giai cấp chủ nô. Chế độ phong kiến, các tư tưởng và mô hình dân chủ bị hạn chế, cấm đoán bởi chế độ tập quyền chuyên chế khi quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một đấng quân vương. Sự ra đời của nhà nước tư sản, nền dân chủ tư sản được xác lập do cuộc cách mạng tư sản dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp tư sản với các giai cấp khác lật đổ chế độ phong kiến. Những tuyên bố về tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những nội dung đầu tiên của dân chủ tư sản. Nhà nước tư sản đã đánh dấu một nấc thang phát triển về dân chủ so với dân chủ của chế độ chuyên chế phong kiến. Tuy nhiên, với bản chất của xã hội tư sản, nền dân chủ đại diện chỉ nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ sự thống trị, bảo vệ quyền sở hữu, lợi ích của giai cấp tư sản và một bộ phận tinh hoa của xã hội.

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, với tính cách là một nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản, dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa khác hẳn về chất so với các nền dân chủ trước đó. Mục tiêu xuyên suốt và cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, tạo ra ngày càng nhiều hơn các điều kiện thuận lợi để thực hiện xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, công lý cho mọi người, bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng giữa các dân tộc. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở việc bảo vệ quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, có nội dung toàn diện, được thể hiện trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và rộng rãi của những người lao động vào công việc quản lý xã hội, quản lý nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.  Bản chất dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng

Lịch sử đã chứng minh, trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với sự gia tăng số lượng đảng chính trị. Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển hay không. Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Dân chủ hay không dân chủ còn phụ thuộc vào việc đảng cầm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của một nhóm người hay của đại đa số nhân dân, gắn với quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Hơn nữa, đa nguyên chính trị, đa đảng không phải là một giá trị phổ quát của nhân loại và là điều kiện tiên quyết cho một nền dân chủ.

Trên phương diện lý luận khoa học và thực tiễn cho thấy, trong chế độ đảng cộng sản duy nhất cầm quyền ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, vấn đề dân chủ không phụ thuộc vào đa nguyên chính trị, mà quan trọng nhất là xuất phát từ sứ mệnh, mục tiêu, lý tưởng của chính đảng cầm quyền có thật sự thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và phát huy quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân hay không.

Nhân dân Việt Nam được quyền làm chủ và thụ hưởng mọi thành quả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, hàng chục cuộc khởi nghĩa, phong trào chống thực dân Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, nhưng cuối cùng đều thất bại. Nhiều đảng phái thuộc mọi khuynh hướng chính trị đã ra đời nhưng đều không hoàn thành được sứ mệnh giành độc lập cho dân tộc, thậm chí nhiều đảng phái ngày càng thoái hóa biến chất, đi ngược lại lợi ích dân tộc, làm tay sai cho ngoại bang, đế quốc.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh và khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam-lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội Việt Nam-là hoàn toàn do nhân dân, dân tộc ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở nước ta đã đem lại độc lập, tự do cho dân tộc; quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội. Thông qua cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã góp phần bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, để nhân dân xứng đáng là người làm chủ và người làm chủ thật sự của xã hội.

Những thành tựu kinh tế-xã hội trong 4 thập niên đổi mới của nước ta càng cho thấy rõ điều đó. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) không ngừng mở rộng, năm 2024 đạt 476 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và đứng thứ 33 thế giới; thu nhập bình quân đầu người đạt mức 4.700USD. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2025, Việt Nam xếp thứ 46 trong số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng; xét ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 2 sau Singapore. Việt Nam nằm trong số các nước có xếp hạng chỉ số hạnh phúc liên tục tăng nhanh trong 3 năm trở lại đây. Từ năm học 2025-2026, Đảng, Nhà nước ta ban hành chính sách miễn học phí cho học sinh mầm non và học sinh phổ thông trên cả nước, hỗ trợ học phí cho học sinh mầm non và học sinh phổ thông ở các trường dân lập và tư thục. Thực hiện chủ trương của Đảng, giai đoạn 2026-2030 sẽ từng bước thực hiện lộ trình miễn viện phí cho toàn dân; phấn đấu 100% người dân được khám sức khỏe định kỳ ít nhất mỗi năm một lần.

Được biết, sau hơn 3 tuần triển khai lấy ý kiến nhân dân về nội dung dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 2013, đến ngày 28-5-2025, đã có gần 51,2 triệu ý kiến (trong đó có gần 2,6 triệu ý kiến của tổ chức và hơn 48,6 triệu ý kiến của cá nhân). Tổng số đó có hơn 49,9 triệu ý kiến tán thành (chiếm 98%) đối với dự thảo Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp 2013. Điều đó cho thấy, các tầng lớp nhân dân ngày càng tham gia tích cực vào đời sống chính trị của đất nước, đồng thời thể hiện quyền dân chủ của người dân đã được phát huy trong thực tiễn.  

Những minh chứng đó thêm một lần khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng là cơ sở minh chứng những thành quả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã, đang thuộc về đại đa số nhân dân trong một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Suy thoái về tư tưởng chính trị - mối nguy hàng đầu của Đảng cầm quyền

 

Một trong những nguy cơ đe dọa đến tính chính danh và sự tồn vong của Đảng cầm quyền là sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Nói đến suy thoái là đề cập đến tình trạng sa sút, thụt lùi dần dần, theo xu thế tiêu cực ngày càng nghiêm trọng hơn. Suy thoái tư tưởng chính trị là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng, con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Nếu không ngăn chặn và vực dậy kịp thời, hiệu quả, đây sẽ là mối nguy hại hàng đầu đối với Đảng và chế độ ta.

Nguy hại của biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

Thực tế cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị tiềm tàng trong một bộ phận cán bộ các cấp, nguy hại là trong đó có cả những cán bộ cấp chiến lược, cán bộ giữ những cương vị quan trọng của hệ thống chính trị. Sự sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khởi nguyên từ chính những đảng viên cộng sản bị suy thoái tư tưởng chính trị, nguy hiểm hơn, sự suy thoái đó lại ở những người giữ trọng trách trong đảng và bộ máy nhà nước.

Suy thoái tư tưởng chính trị là vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sự tồn vong của chế độ, vì vậy được đề cập rất nhiều trong nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng ta. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ ra 9 biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị.

Thời gian qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Đảng ta đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, đã phát hiện, xử lý kỷ luật đảng, xử lý theo pháp luật Nhà nước rất nhiều cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ trọng trách cao của Đảng, Nhà nước. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tiến hành nhiều cuộc họp, thông cáo báo chí sau mỗi cuộc họp đều nêu rõ việc xử lý kỷ luật các cán bộ sai phạm. Tính đến ngày 15-4-2025, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 107 tổ chức đảng, 3.209 đảng viên; kỷ luật 70 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 28 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.Nguyên nhân căn bản của sự suy thoái tư tưởng chính trị là sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của một bộ phận cán bộ. Bản thân cán bộ giữ trọng trách dù được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, có trình độ lý luận, nhưng đã bị tha hóa quyền lực, lạm dụng quyền lực để tư lợi cá nhân, hình thành nhóm lợi ích dẫn tới nhiều tiêu cực trong ban hành và thực thi các chính sách. Ngoài ra, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, nhiều cán bộ do hám lợi đã không cưỡng lại được sự cám dỗ của lợi ích vật chất, ma lực của đồng tiền dẫn tới buông bỏ mục tiêu lý tưởng chính trị, đánh mất bản thân, chạy theo lợi ích tầm thường.

Sự suy thoái tư tưởng chính trị cũng sẽ dẫn tới sự thực dụng, cơ hội về chính trị, tham vọng quyền lực, tranh quyền đoạt lợi, phe nhóm lợi ích, hình thành một nhóm cán bộ “cậy quyền, cậy thế”. Bộ phận cán bộ này chỉ hướng tư tưởng, trách nhiệm của mình vào những gì mang lại lợi ích cho bản thân và nhóm lợi ích trước mắt, nhất thời, cục bộ, dù biết việc làm, chính sách ban hành đó có thể trái quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước. Từ đó tạo nên tình trạng cát cứ, phe nhóm để lũng đoạn chính trị, thao túng kinh tế, áp đặt quyền lực, gây bè kéo cánh, thậm chí vu cáo, bôi nhọ đồng chí, gây rối nội bộ.

Suy thoái về tư tưởng chính trị ở một bộ phận cán bộ đã làm tổn thương tình cảm, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên; đe dọa sinh mệnh, uy tín của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ là yêu cầu cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Tăng cường các giải pháp phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị

Để phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tiến hành tổng thể các giải pháp, trước hết cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng. Theo đó, cần gia tăng nội dung các môn học lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác đào tạo theo cấp học, bậc học của hệ thống giáo dục và trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp; tập trung vào những nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng; những biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... Trên cơ sở đó định hướng tư tưởng chính trị đúng đắn, giúp cho đội ngũ cán bộ luôn thấm nhuần lập trường giai cấp, nêu cao trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Phẩm chất chính trị tư tưởng được hình thành do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định là vai trò, ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, tự trau dồi của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố”. Được giáo dục, bồi dưỡng là nền tảng ban đầu, việc tu dưỡng, tự rèn luyện để trở thành hệ thống phẩm chất nhân cách ổn định là do chính cán bộ, đảng viên quyết định. Vì vậy, dù ở đâu, cương vị công tác nào, dù thuận lợi hay khó khăn, gian khổ, người cán bộ luôn phải ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, luôn chú trọng giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi.

Trong tình hình hiện nay, phải đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện hệ thống cơ chế quản lý, kiểm soát quyền lực đối với đội ngũ cán bộ. Cốt lõi của xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ. Điều đó có nghĩa là đi đôi với xây dựng, bồi dưỡng, cần làm tốt công tác quản lý, kiểm soát cán bộ. Theo đó, không chỉ khi có nghị quyết, chỉ thị của Trung ương mới tiến hành chỉnh đốn Đảng mà cần làm thường xuyên trong các cấp ủy, tổ chức đảng với mục đích là để cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh tư tưởng, thái độ, trách nhiệm chính trị của mình. Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cán bộ cấp trên, cán bộ đứng đầu, cán bộ chủ trì phải nêu cao trách nhiệm làm gương. Bên cạnh đó, cần siết chặt cơ chế quản lý, cơ chế kiểm soát, ràng buộc quyền lực đối với đội ngũ cán bộ, tránh việc lạm quyền, tham nhũng quyền lực, tha hóa quyền lực dẫn tới suy thoái tư tưởng chính trị.

Cùng với đó, cần chú trọng làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và công tác bảo vệ chính trị nội bộ là giải pháp căn bản nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa cán bộ vi phạm tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, lối sống, phát hiện những biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, những tiêu cực, lợi ích nhóm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách kiểm tra, giám sát, cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ. Khi cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cần kết luận rõ, không bao che, không giấu giếm khuyết điểm; đồng thời kiên quyết xử lý đúng người, đúng việc, đúng tính chất, mức độ sai phạm. Những sai phạm liên quan đến nhiều cán bộ trong nhóm lợi ích, cần làm rõ vai trò của từng cán bộ để quy rõ trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu theo kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị, địa phương. Với tinh thần xử lý nghiêm minh để làm gương, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, cán bộ giữ chức vụ càng cao khi vi phạm càng phải xử lý nghiêm khắc. Thông qua đó để răn đe, giáo dục cán bộ phải luôn tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh.

Ngày 9-5-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Trong đó yêu cầu cán bộ, đảng viên phải suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đồng thời luôn đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.

Đây chính là kim chỉ nam dẫn đường chỉ lối đúng đắn để cán bộ, đảng viên luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, đồng thời là “tấm khiên” phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị.

Giữ nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong tinh gọn bộ máy

 


Để thực hiện thành công cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị cần triển khai đồng bộ, hiệu quả nhiều việc, trong đó, một vấn đề đặc biệt quan trọng là công tác cán bộ.

Hiện tượng “chạy chức” và “chia phần”

Có dịp tiếp xúc, trò chuyện với một số cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc diện phải sáp nhập, sắp xếp, tổ chức lại, chúng tôi cảm nhận được suy nghĩ, cách hành xử khác nhau của mỗi người. Phần nhiều cán bộ, công chức bày tỏ sự tin tưởng vào chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, coi việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị là tất yếu khách quan, từ đó luôn nỗ lực, quyết tâm làm việc và nghiêm chỉnh chấp hành sự phân công, sắp xếp của tổ chức. Một số nhận thấy trình độ, năng lực không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới hoặc phải làm việc xa gia đình, điều kiện hoàn cảnh khó khăn, hoặc tìm được cơ hội việc làm phù hợp bên ngoài... nên chủ động xin nghỉ hưu sớm và hài lòng với những chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần cảnh giác với những biểu hiện “chạy chức, chạy quyền” để có được vị trí cao hơn, “ngon” hơn. Những người này coi việc sắp xếp lại bộ máy là cơ hội “nghìn năm có một”, vì từ nhiều phòng sáp nhập thành một phòng, từ nhiều cơ quan tổ chức lại thành một cơ quan, từ nhiều tỉnh hợp nhất thành một tỉnh... do đó, địa bàn sẽ rộng hơn, quy mô quản lý lớn hơn, thẩm quyền cao hơn... đồng nghĩa là sẽ có nhiều “bổng lộc” hơn nếu trở thành cán bộ có chức, có quyền ở những cơ quan, đơn vị, địa phương này. Bởi vậy, họ sẵn sàng “chạy” nhiều nơi, qua nhiều “cửa” với hy vọng sẽ “thu hoạch” được nhiều hơn thế.Vậy họ “chạy” bằng cách nào? Câu trả lời là vẫn bằng những thủ đoạn không mới: Tận dụng các mối quan hệ sẵn có hoặc nhờ bạn bè, người thân giới thiệu, “dẫn lối” nhằm tiếp cận và dùng tiền hoặc các lợi ích vật chất, phi vật chất khác để nhờ vả, “đặt vấn đề” với những cá nhân giữ trọng trách, lãnh đạo cấp trên, từ đó tác động, gây ảnh hưởng, can thiệp vào quy trình công tác cán bộ theo hướng có lợi. “Cái mới” của việc “chạy chức, chạy quyền” trong bối cảnh sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là những người này rất nhanh nhạy phát hiện ra các vị trí công tác “béo bở”, tiềm năng, những cán bộ có khả năng sẽ đảm nhận cương vị lãnh đạo trong cơ quan, đơn vị, địa phương sau khi tổ chức lại để tạo quan hệ, đồng thời rất “quyết đoán” trong “đầu tư” nhằm không bỏ lỡ cơ hội.

Cùng với “chạy chức, chạy quyền”, cần đề phòng một biểu hiện tiêu cực khác trong công tác cán bộ khi sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là tư tưởng “chia phần”. Đó là việc một số vị trí được “chia” cho các cán bộ từ cao xuống, bất chấp tình hình thực tiễn, phẩm chất, năng lực, sở trường, quy trình công tác cán bộ. Điều này khiến cán bộ, công chức ở cơ sở dù có trình độ, năng lực, kinh nghiệm cũng không còn cơ hội phấn đấu. Đó còn là tình trạng khi sáp nhập, nếu địa phương của anh, cơ quan của anh có người đảm nhận vị trí lãnh đạo sở, ngành này, phòng kia thì địa phương của tôi, cơ quan của tôi cũng phải được “chia phần” để giữ vị trí tương ứng...

Niềm tin suy giảm theo hiệu ứng domino

Những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ nói trên nếu không được phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn sẽ dẫn tới những hệ lụy nghiêm trọng. Trước hết, niềm tin của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước rất có thể sẽ bị suy giảm theo hiệu ứng domino (lan truyền từ việc này sang việc khác). Thực vậy, sắp xếp, tổ chức lại bộ máy là cuộc cách mạng, được cả hệ thống chính trị thực hiện với quyết tâm rất cao. Cách mạng có nghĩa là phải xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu, mang lại cái mới, cái tiến bộ-đây là mục tiêu và cũng là kỳ vọng của toàn xã hội. Thế nhưng, khi đã được thực hiện với tư cách một cuộc cách mạng, nếu vẫn để xảy ra các biểu hiện tiêu cực, trong đó có tiêu cực trong công tác cán bộ thì sẽ khó tránh khỏi những băn khoăn, nghi ngại của dư luận: Vậy trong thực hiện các chủ trương, chính sách khác thì sao? Niềm tin bị suy giảm khiến lòng dân thiếu đồng thuận, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, là mầm mống xuất hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của đất nước.

Cùng với đó, nạn “chạy chức”, “chia phần” còn ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu, kết quả của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo hướng hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Đó là vì điều này sẽ dẫn tới tình trạng cán bộ, công chức “ngồi nhầm ghế”. Hậu quả là một số cán bộ thiếu tâm, thiếu tầm, thiếu tài, không đủ tiêu chuẩn, điều kiện nhưng lại chiếm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền. Ngược lại, nhiều cán bộ có năng lực, trình độ, phẩm chất tốt lại bị đẩy ra ngoài, tạo ra sự "chảy máu chất xám", lãng phí nguồn lực, làm giảm động lực phấn đấu, sáng tạo của cán bộ...

"Vì việc mà bố trí người"

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phương cách “dụng nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sử dụng cán bộ “đúng chỗ, đúng việc”, “tùy tài mà dùng người”... Có thể nhận thấy cốt lõi của phương cách này chính là nguyên tắc “vì việc mà bố trí người”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng, xác định công tác cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là “then chốt của then chốt”, từ đó có nhiều chỉ thị, nghị quyết, quy định... để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tiêu cực. Công tác cán bộ trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy cũng không nằm ngoài dòng chảy đó.

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu rõ nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong quá trình sáp nhập, hợp nhất, tinh gọn bộ máy và chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng khi nhấn mạnh “phải lấy tiêu chuẩn cao nhất là vì yêu cầu công việc, sau đó mới đến các tiêu chí khác”. Mới đây, ngày 25-5-2025, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Kết luận số 157-KL/TW về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Kết luận nêu rõ phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối tránh khuynh hướng, tư tưởng cục bộ địa phương, "lợi ích nhóm", tiêu cực...; nghiêm cấm việc tác động, can thiệp trong quá trình sắp xếp nhân sự...

Đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như nạn “chạy chức, chạy quyền”, “chia phần” trong công tác cán bộ, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong tinh gọn bộ máy là vấn đề quan trọng, cấp thiết. Để làm được điều này, trước hết, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị, địa phương cùng cấp ủy đảng phải là “chốt chặn” đầu tiên. Bởi thực tế cho thấy, nếu người đứng đầu thực sự gương mẫu, công tâm, không tham nhũng, tiêu cực, không dao động, nể nang trước sức ép, sự “gửi gắm” từ cấp trên; sức chiến đấu của các tổ chức đảng thực sự được phát huy thì tiêu cực sẽ khó có thể tồn tại. Bên cạnh đó, cần rà soát, hoàn thiện các quy định, quy trình công tác cán bộ theo hướng chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch, gắn với những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, phù hợp, rõ ràng, tránh tình trạng lấy tập thể làm bình phong cho những quyết định mang tính cá nhân. Mặt khác, cũng rất cần có cơ chế gắn trách nhiệm của các tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu với việc thực hiện công tác cán bộ, đồng thời tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các biểu hiện vi phạm.

Cuối cùng, cần phải khẳng định rằng, phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm của từng cán bộ, công chức là nền tảng vững chắc để công tác cán bộ không bị tha hóa bởi những biểu hiện tiêu cực nói chung, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” nói riêng. Mơ ước, khát vọng phát triển sự nghiệp của mỗi người là hoàn toàn chính đáng, song phải bằng tài năng, phẩm chất chứ không phải thông qua “chạy chức, chạy quyền”. Đây mới là con đường bền vững, đúng đắn mà mỗi cán bộ, công chức cần lựa chọn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.


Đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá trong nghiên cứu khoa học

 Nhiệm kỳ 2020-2025, Viện Khoa học và Công nghệ (KHCN) quân sự, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã hoàn thành tốt và xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Viện lần thứ V đã đề ra. Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhiệm kỳ tới, Viện tiếp tục tập trung thực hiện tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh; đổi mới mạnh mẽ về tư duy, cách làm; nỗ lực tạo đột phá trong nghiên cứu khoa học.

Là đơn vị nghiên cứu khoa học đa ngành của Quân đội, nhiệm kỳ qua, toàn Đảng bộ Viện KHCN quân sự đã chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu-Cơ quan Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng, có nhiều đổi mới, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện thắng lợi toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ. Nổi bật là Viện đã thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất và tổ chức nghiên cứu có hiệu quả các vấn đề khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng khoa học cao, gắn với nhu cầu thực tiễn, phục vụ kịp thời nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, góp phần từng bước hiện đại hóa Quân đội. Cùng với đó, công tác đào tạo tiến sĩ cũng được Viện triển khai có chất lượng, hiệu quả, thiết thực tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội và đất nước.

Nhiệm kỳ 2025-2030, bối cảnh tình hình mới đặt ra yêu cầu nhiệm vụ rất cao đối với Viện KHCN quân sự. Viện xác định tiếp tục chủ động khắc phục khó khăn, tận dụng lợi thế, phát huy sức mạnh tổng hợp, quyết tâm xây dựng Viện thành trung tâm nghiên cứu mạnh, chuyên sâu trong Bộ Quốc phòng, đủ khả năng dẫn dắt, phát triển các công nghệ chiến lược. Tổ chức nghiên cứu khoa học-công nghệ bảo đảm chất lượng, hiệu quả, làm chủ các công nghệ cốt lõi, công nghệ chiến lược phục vụ nghiên cứu thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) mang tính chiến lược. Bên cạnh đó, Viện chú trọng công tác tham mưu, tư vấn, thẩm định cho Bộ Quốc phòng về nghiên cứu, phát triển khoa học-công nghệ tiên tiến, chuyên sâu, đa ngành; cải tiến, hiện đại hóa VKTBKT hiện có; khai thác làm chủ và bảo đảm kỹ thuật cho các loại VKTBKT mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; làm tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực khoa học-công nghệ chất lượng cao phục vụ xây dựng, hiện đại hóa Quân đội.

Để hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tới, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, Viện thống nhất cao về tư tưởng, nhận thức, quyết liệt thực hiện tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh, nhanh chóng đưa Viện vào hoạt động hiệu quả theo mô hình tổ chức biên chế mới. Đây là vấn đề có tính chất nền tảng, cần sự đồng thuận, quyết tâm cao, quá trình thực hiện phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác chính sách, kịp thời giải quyết những vướng mắc, bất cập phát sinh.

Viện tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy nghiên cứu khoa học theo hướng sát thực tiễn, nhu cầu của Quân đội, có định hướng chiến lược, rõ người, rõ việc, rõ kết quả. Đổi mới tác phong làm việc, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp bảo đảm dân chủ, khoa học, kỷ cương, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; nhân rộng việc đánh giá chất lượng cán bộ thông qua “lượng hóa” hiệu quả công việc. Đổi mới cơ chế quản lý nhằm tháo gỡ khó khăn, bất cập, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học.

Đồng thời, Viện thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học-công nghệ, hợp tác khoa học-công nghệ trong và ngoài nước, trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ, năng lực, phẩm chất, hình thành nhiều nhóm nghiên cứu mạnh, chuyên gia đầu ngành, tăng cường đầu tư, nâng cấp, khai thác hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, đề xuất mở mới các dự án đầu tư tiềm lực để phục vụ tốt công tác nghiên cứu khoa học. Nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; tạo chuyển biến vững chắc, thực chất trong triển khai các mặt công tác, nhất là xây dựng đơn vị chính quy, giữ nghiêm kỷ luật, góp phần xây dựng Viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, Đảng bộ Viện trong sạch vững mạnh tiêu biểu.

Song song với việc thực hiện các chủ trương, giải pháp chủ yếu nói trên, Viện KHCN quân sự sẽ tập trung mọi nguồn lực tạo sự đột phá, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ khoa học-công nghệ trọng tâm, các sản phẩm mục tiêu, các chương trình trọng điểm, đề tài cấp quốc gia, cấp Bộ Quốc phòng; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, tạo ra các sản phẩm khoa học-công nghệ thiết thực, gắn với nhu cầu thực tiễn của đơn vị, nhất là các đơn vị tiến thẳng lên hiện đại.

Nâng bước đồng bào nơi biên giới

 Có dịp đến 13 xã vùng sâu, vùng xa thuộc Khu Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) Khe Sanh (Quảng Trị), ai cũng cảm nhận được cuộc sống của người dân nơi đây đang đổi thay từng ngày. Trước đây, những bản làng đồng bào dân tộc thiểu số còn đối mặt với nhiều khó khăn trong nếp nghĩ, cách làm, nhưng nhờ cú hích từ Đoàn KT-QP 337 (Quân khu 4), nhiều gia đình đã tìm thấy đường ra khỏi vòng luẩn quẩn của cái nghèo, cái đói.

Anh Hồ Ma, người dân tộc Vân Kiều ở thôn Chênh Vênh (xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa) là một minh chứng xác thực. Gia đình anh đông con, quanh năm chỉ biết trông vào nương rẫy cằn cỗi, thiếu phương hướng làm ăn nên cuộc sống cứ mãi quẩn quanh trong thiếu thốn.

Và rồi một ngày, cánh cửa mới đã mở ra với gia đình anh Hồ Ma khi bộ đội Trung đoàn 52 (Đoàn KT-QP 337) mang đến cho anh cả “cách nghĩ, cách làm”. Từ 3 con dê giống đầu tiên được Đội sản xuất số 9 (Trung đoàn 52) hỗ trợ năm 2018, đến nay, đàn dê của gia đình anh đã tăng lên hàng chục con. Tiền bán dê giúp anh mua thêm con giống mới, mở rộng chăn nuôi gia cầm, trồng rau xanh, từng bước thoát nghèo. Đến năm 2022, anh còn mạnh dạn tham gia dự án trồng dong riềng do Công ty Xây dựng (Đoàn KT-QP 337) triển khai. Anh Hồ Ma bộc bạch: “Cả đời tôi chưa từng nghĩ mình sẽ được như ngày hôm nay, có của ăn, của để, có tiền sửa nhà, cho con cái đi học cái chữ, tôi mừng lắm”. Gia đình anh Hồ Ma chỉ là một trong hơn 2.000 hộ dân trên địa bàn 34 thôn, bản thuộc Khu KT-QP Khe Sanh được hưởng lợi từ những mô hình phát triển kinh tế do Đoàn KT-QP 337 thực hiện. Ông Hồ Văn La Hai, Trưởng thôn Chênh Vênh phấn khởi cho biết: “Nhờ bộ đội hướng dẫn trồng trọt, chăn nuôi, đời sống bà con đã khá lên rất nhiều. Giờ đây trong thôn không còn gia đình nào phải chạy ăn từng bữa nữa”.

Để có những chuyển biến tích cực này, Đại tá Uông Đình Tân, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 337 lý giải: “Biết được những khó khăn của người dân trong vùng dự án, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn đã ban hành nghị quyết chuyên đề, cụ thể hóa từng mục tiêu, chỉ tiêu để giúp đồng bào phát triển kinh tế. Đặc biệt, Phong trào “Dân vận khéo” đã được lồng ghép chặt chẽ vào mọi hoạt động “bám dân, bám bản” hằng ngày của cán bộ, nhân viên. Theo đó, các tổ, đội công tác của Đoàn thường xuyên “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc” với bà con. Lãnh đạo, chỉ huy Đoàn cũng thường xuyên tham gia các buổi họp chi bộ, sinh hoạt thôn, bản, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, những vướng mắc của bà con để cùng bàn bạc, thống nhất biện pháp giúp đỡ người dân”.

Chính từ sự “bám dân” và thấu hiểu ấy, những mô hình phát triển kinh tế đã thực sự đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thiết thực. Đoàn KT-QP 337 đã mở nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, được đông đảo bà con hưởng ứng. Từ việc khai hoang, đào ao thả cá, làm chuồng trại, trồng cỏ đến việc cấp phát cây, con giống, phân bón và dụng cụ sản xuất, kỹ thuật nuôi, trồng... tất cả đều được bộ đội hướng dẫn tận tình, làm mẫu cụ thể. “Điều quan trọng là chúng tôi không chỉ trao “cần câu” mà còn hướng dẫn “cách câu”, nhờ đó, tư duy và cách làm của bà con đã thay đổi, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm từ 3,5% đến 4%”, Đại tá Uông Đình Tân cho biết.

Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ phát triển kinh tế, Đoàn KT-QP 337 còn triển khai nhiều mô hình dân vận mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Các mô hình như: “Đỡ đầu, kết nghĩa với cấp ủy, chính quyền địa phương” hay “Đội sản xuất đồng hành xây dựng tổ chức đảng” đã góp phần củng cố cơ sở chính trị tại địa phương. Đặc biệt, Chương trình “Nhận nuôi, hỗ trợ nuôi dưỡng các cháu mồ côi, học sinh nghèo vượt khó” hay “Đồng hành nâng bước em tới trường” đã thắp sáng tương lai cho 55 học sinh có hoàn cảnh khó khăn được tiếp tục đến trường.

Trong 5 năm qua, để nâng cấp hạ tầng cơ sở, thúc đẩy kinh tế phát triển, Đoàn KT-QP 337 đã đầu tư xây dựng 19 công trình dân sinh như công trình giao thông, nước sinh hoạt và thủy lợi... với tổng kinh phí hơn 42 tỷ đồng, phục vụ trực tiếp hơn 1.500 hộ dân. Cán bộ, chiến sĩ và đoàn viên, thanh niên còn đóng góp hơn 13.800 ngày công lao động để tu sửa đường sá, kênh mương, góp sức vào công cuộc xây dựng nông thôn mới. Hơn 7.500 lượt người dân đã được khám và cấp thuốc miễn phí, mang lại sự an tâm về sức khỏe cho bà con...

Những kết quả đạt được trong Phong trào thi đua “Dân vận khéo” không chỉ thể hiện nỗ lực, tâm huyết của cán bộ, nhân viên, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn KT-QP 337 mà còn khẳng định vai trò của bộ đội trong việc đồng hành với địa phương phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh nơi biên giới.

Thứ Hai, 23 tháng 6, 2025

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc “Việt Nam tham gia chạy đua vũ trang, đi ngược lại chính sách hòa bình”

 Xuyên tạc đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta là thủ đoạn vô cùng nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Hiện nay, lợi dụng chủ trương củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền rằng “Việt Nam đang tập trung nguồn lực lớn cho quốc phòng, an ninh, nhất là chi ngân sách nhà nước để phát triển công nghiệp quốc phòng, mua sắm vũ khí, trang bị hiện đại, tạo ra cuộc chạy đua vũ trang, đe dọa đến hòa bình, ổn định ở khu vực, đi ngược lại chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ đã tuyên bố”.

Đây là luận điệu thù địch, xuyên tạc có chủ đích, vô căn cứ. Bởi lẽ:

Thứ nhất, chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ.

Tự vệ chính đáng là quyền tự nhiên của mọi quốc gia, dân tộc, được thừa nhận trong Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc và tồn tại trong tập quán quốc tế. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, tự vệ chính đáng của một quốc gia bao gồm những hoạt động cần thiết để phòng ngừa, chống trả những mối đe dọa, hành vi, hoạt động xâm phạm đến lợi ích chính đáng của quốc gia mình.

Là một dân tộc có truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và tôn trọng luật pháp quốc tế, vì vậy, đặc trưng bản chất chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Điều này đã được công khai, minh bạch hóa trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 khẳng định: “Củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới...; thực hiện chính sách hòa bình, tự vệ; sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành vi xâm lược”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nhấn mạnh: “Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Việt Nam phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang”. Như vậy, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ, chống chiến tranh, phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang dưới mọi hình thức của Việt Nam đã luôn được khẳng định công khai, minh bạch, rõ ràng.

Những năm qua, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức, mối đe dọa không nhỏ về quốc phòng, an ninh từ các thế lực thù địch, phản động. Trong bối cảnh đó, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới xác định quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền văn hóa và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; dập tắt nguy cơ xung đột, chiến tranh; giữ vững, củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình thế giới.

Để thực hiện mục tiêu đó, tất yếu đòi hỏi Việt Nam phải có sự quan tâm, đầu tư đúng mức để củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm đủ sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Ngoài mục đích đó, quốc phòng Việt Nam không có mục đích khác, không can thiệp vào công việc nội bộ, đe dọa hoặc xâm lược bất kỳ một quốc gia nào khác, bằng bất kỳ một hình thức, tính chất nào. Như vậy, có thể thấy rõ với chính sách quốc phòng như vậy, Việt Nam không trở thành mối đe dọa đối với bất cứ quốc gia nào trong khu vực và trên thế giới.

Thứ hai, Việt Nam đã và đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới.

Những năm qua, Việt Nam tích cực, chủ động nỗ lực ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cụ thể là Việt Nam cùng các nước láng giềng đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả luật pháp và thông lệ quốc tế để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đặt ra. Trong đó, Việt Nam đã ký với Lào Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia; ký với Campuchia Hiệp định về vùng nước lịch sử trên biển và Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết các vấn đề về biên giới; ký với Malaysia Thỏa thuận về hợp tác thăm dò, khai thác chung vùng chồng lấn; ký với Thái Lan Hiệp định về phân định ranh giới biển; ký với Trung Quốc Hiệp ước về biên giới trên đất liền và Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ; ký với Indonesia Hiệp định về phân định ranh giới thềm lục địa...

Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp giữa Việt Nam với các quốc gia khác, trong đó có vấn đề chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam luôn kiên định, kiên trì lập trường giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình, đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; trước hết là thực thi hiệu quả và đầy đủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố 6 điểm ngày 20-7-2012 của ASEAN về Biển Đông; đồng thời, Việt Nam đang tích cực hợp tác, đàm phán, tiến tới cùng các nước hữu quan xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Thứ ba, Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, phản đối xung đột quân sự, chiến tranh, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong suốt chiều dài mấy nghìn năm lịch sử để có được độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định như ngày nay. Vì thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhận thức rất rõ sự cần thiết và thấu hiểu được giá trị to lớn của hòa bình, ổn định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Dân tộc Việt Nam luôn mong muốn được chung sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các dân tộc khác và cần có môi trường hòa bình, ổn định để tiếp tục xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhân dân Việt Nam không muốn có xung đột, chiến tranh vì điều đó dẫn đến những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn cho không chỉ một phía. Việt Nam đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực; song Việt Nam cũng quyết không sợ chiến tranh xâm lược từ nước khác, sẵn sàng tiến hành các hoạt động quốc phòng, quân sự cần thiết để tự vệ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay, Việt Nam nhận thức rõ trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của quốc gia, dân tộc, cần phải đấu tranh; trong mỗi đối tượng có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác, thuyết phục, nỗ lực thúc đẩy hợp tác, giảm bất đồng, xung đột để đạt lợi ích cao nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thực hiện phương châm "bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy"; chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Thứ tư, Việt Nam tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh một cách hợp lý, chính đáng, không cổ xúy chạy đua vũ trang.

Quốc phòng, an ninh luôn là những lĩnh vực trọng yếu, quyết định đến thành bại, thịnh suy của mỗi quốc gia, dân tộc, không phân biệt thể chế chính trị và trình độ phát triển.

Là một quốc gia đang phát triển, có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế, lại luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam xác định phát triển đất nước nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.

Trong những năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, phát triển công nghiệp quốc phòng, hiện đại hóa LLVT; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vì vậy, Việt Nam có sự quan tâm đúng mức, hợp lý trong đầu tư ngân sách và các nguồn lực khác cho củng cố quốc phòng, an ninh.

Từ những lý giải trên, cần khẳng định Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh phải đối phó với nhiều thách thức, mối đe dọa về quốc phòng, an ninh từ cả bên ngoài và bên trong, để bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, Việt Nam đã và đang đầu tư một nguồn lực nhất định, phù hợp với nhu cầu và khả năng của đất nước để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Điều này là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt xoay quanh việc chi ngân sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam đều là những trò hề, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và không hề lừa gạt được những người Việt Nam yêu nước chân chính.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT là nội dung quan trọng, cốt lõi trong di sản tư tưởng quân sự mà Người để lại cho Đảng và cách mạng Việt Nam; góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và tiếp tục là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên mới.

Thứ nhất, xây dựng LLVT làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là một tất yếu khách quan

Thấm nhuần quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng LLVT cách mạng, kế thừa những bài học kinh nghiệm của ông cha ta về xây dựng tổ chức quân sự trong lịch sử giữ nước của dân tộc, đồng thời đi sâu phân tích bản chất của chủ nghĩa thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra rằng: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”. Vì vậy, đối với các dân tộc thuộc địa muốn chiến thắng kẻ thù hung bạo thì không có sự lựa chọn nào khác là phải “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”.

Trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Người khẳng định: “Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự”. Do đó, tổ chức và xây dựng LLVT là một tất yếu khách quan trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền cách mạng cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, xây dựng lực lượng chính trị, các tổ chức và đoàn thể cách mạng làm cơ sở để xây dựng LLVT nhân dân

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bạo lực cách mạng ở Việt Nam phải là bạo lực của quần chúng có tổ chức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bạo lực đó bao gồm lực lượng chính trị của quần chúng và LLVT nhân dân, với hai hình thức đấu tranh là đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Trong đó, lực lượng chính trị là cơ bản, nền tảng của cách mạng và là cơ sở để xây dựng, phát triển LLVT nhân dân. Lực lượng chính trị theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm mọi người dân trong các giai cấp, các tầng lớp nhân dân đã được giác ngộ, được tập hợp thông qua các tổ chức, các đoàn thể cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng là mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: “Muốn có đội quân vũ trang, phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng đông. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị, tự nguyện vác súng thì mới thắng được”.

Để xây dựng LLVT trong điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải sớm hình thành các đoàn thể cứu quốc, thông qua hoạt động của các tổ chức, đoàn thể đó mà lựa chọn những người ưu tú nhất để thành lập các đội tự vệ, đội du kích; thông qua hoạt động của các đội tự vệ, đội du kích mà “chọn lọc số cán bộ và đội viên kiên quyết nhất, hăng hái nhất... để lập ra đội chủ lực”. Người kêu gọi: “Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội”. Từ những hội đó mà thức tỉnh, rèn luyện quần chúng trên đường đấu tranh, dần dần tổ chức LLVT cách mạng.

Được tổ chức và xây dựng trên cơ sở phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, LLVT tuy mới ra đời còn non trẻ, biên chế tổ chức còn nhỏ bé, vũ khí, trang bị còn thô sơ, huấn luyện quân sự còn đơn giản, nhưng do thường xuyên bám chắc và phát triển mở rộng trên cơ sở lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng rộng khắp, được các tổ chức, đoàn thể cách mạng đùm bọc, nuôi dưỡng, cho nên đã trưởng thành nhanh chóng, trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, LLVT cách mạng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện, lấy vững mạnh về chính trị làm cơ sở

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng LLVT cách mạng trong điều kiện Việt Nam từ một nước thuộc địa và phong kiến, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, đòi hỏi phải coi trọng xây dựng vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Đó vừa là yêu cầu cơ bản vừa là vấn đề nguyên tắc trong xây dựng tổ chức vũ trang cách mạng, đồng thời đây là sự sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin về chiến tranh nhân dân và xây dựng tổ chức quân sự của giai cấp vô sản nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của LLVT cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải coi trọng xây dựng sức mạnh toàn diện của LLVT nhân dân. Bởi theo Người: “Tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khỏe mạnh thì nhất định thắng”, còn nếu “chính trị khá, nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được”. Sức mạnh của LLVT nhân dân Việt Nam là sức mạnh toàn diện về bản chất cách mạng và khả năng sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi. Nhưng đối với LLVT cách mạng ở một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, quá trình xây dựng lực lượng đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn thì sự vững mạnh toàn diện theo Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có thể có được trên cơ sở vững mạnh về chính trị. Người luôn xác định chính trị là “cái gốc”, là nền tảng quan trọng để xây dựng và phát triển LLVT cách mạng, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Quá trình xây dựng LLVT về chính trị thực chất là quá trình tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bảo đảm cho LLVT mang bản chất giai cấp công nhân, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của nhân dân và dân tộc...

Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vào xây dựng LLVT nhân dân trong tình hình hiện nay mang ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây chính là quy luật tất yếu khách quan, là nguyên tắc khoa học về xây dựng LLVT nhân dân cách mạng, góp phần để Quân đội hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Tiếp tục quán triệt tư duy đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay


Năm 1986, Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư duy đổi mới sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế, chính trị, chính sách đối nội, đối ngoại,… với những giá trị vượt thời gian. Qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới với nhiều thành tựu đạt được, nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã ngày càng sáng tỏ hơn. Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta bước đầu được hình thành trên những nét cơ bản.

Kế thừa tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục xác định độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Đảng ta luôn đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc.

Tại Đại hội XI, Đảng ta đã xác định 8 đặc trưng cơ bản về xã hội mà chúng ta đang xây dựng, dựa trên sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn mới, Đảng ta xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Qua gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta được kỳ vọng sẽ có những thay đổi mang tính “đột phá” bởi sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc cải cách, đổi mới, sáng tạo. Đây là con đường đúng đắn để đất nước ta phát triển bền vững.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi nhóm các nước nghèo để bước vào nhóm các nước phát triển trung bình. Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”Những thành tựu của công cuộc đổi mới là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Giữ vững bản chất cách mạng, thực hiện sứ mệnh định hướng tư tưởng của báo chí


Báo chí cách mạng Việt Nam, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là “vũ khí sắc bén” của Đảng, giữ vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ và các phương tiện truyền thông xã hội trở thành diễn đàn đa chiều, báo chí cách mạng càng cần khẳng định vai trò định hướng, kiên định lập trường chính trị.

Việc vận dụng công nghệ số nhằm tăng cường sức mạnh và phạm vi tuyên truyền không được làm thay đổi bản chất và sứ mệnh của báo chí cách mạng. Thay vào đó, công nghệ phải là công cụ giúp báo chí tập trung truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời đấu tranh mạnh mẽ, khoa học và kiên quyết với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bức thư “Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ”, trong đó có các nhà báo, ngày 25-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.

Như vậy, để giữ vững bản chất cách mạng, báo chí phải là lực lượng tiên phong tham gia chống lại “bọn phản động và bọn cơ hội” trên mặt trận tư tưởng, góp phần quan trọng bảo vệ sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước.