Thứ Năm, 6 tháng 11, 2025

THÓI DỐI TRÁ NHƯ MỘT THỨ VI TRÙNG DỊCH HẠCH CẦN PHẢI LOẠI BỎ RA KHỎI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.

     Sự dối trá trước đây chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, chủ yếu thuộc về đạo đức cá nhân, mà bây giờ đã lan rộng ra toàn xã hội, xuất hiện ở cả những lĩnh vực vốn được coi là nghiêm cẩn, thiêng liêng như thanh tra, tòa án, kiểm sát, hải quan, cảnh sát, nhà trường, tôn giáo...

Thói gian dối cũng không còn là hành vi của những cá nhân riêng lẻ, nhất thời mà có tổ chức, có dự mưu, không chỉ ở hạng thất phu, công chức cấp thấp mà ở cả những cấp cao giữ vai trò rường cột của một ngành, một địa phương, khiến tâm lý xã hội hoang mang, gây ra sự mất hướng của không ít người, làm băng hoại đạo đức xã hội, gây nguy hại đến thể chế chính trị quốc gia.                                                                               
1. Trong kho tàng truyện dân gian của bất cứ dân tộc nào cũng tồn tại những câu chuyện rất hay, rất đời về tật nói dối của tầng lớp chúng sinh. Xét về cấp độ, thói giả dối thể hiện các mức độ khác nhau về một hành vi, một thái độ không trung thực, một tập tính đã trở thành thuộc tính của con người và xã hội.

Như vậy có thể nói, con người ở thời nào cũng mắc phải những tật xấu này và ở thời nào người ta cũng phải rất vất vả để loại trừ nó ra khỏi đời sống, làm cho môi trường sống lành mạnh hơn. Dù không muốn, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, cuộc đấu tranh diệt trừ sự giả dối, thói gian dối như một căn bệnh xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài, song hành cùng với sự tồn tại của con người.

Tuy vậy, có những hoàn cảnh người ta buộc lòng phải nói tránh đi một sự thật không nên nói và lời nói dối lúc ấy không mang nghĩa xấu. Có một câu chuyện làm không ít người rơi nước mắt bởi “lời nói dối cao thượng”. Chuyện kể về một người lính ở chiến trường trở về sau chiến tranh và cưới người con gái anh yêu. Họ hạnh phúc tuy sống trong thiếu thốn. Chị sinh một bé gái, nhưng do chất độc dioxin anh nhiễm từ ngày ở chiến trường nên cháu bé bị thiểu năng. Do đời sống khó khăn và có những suy nghĩ không đúng, chị bỏ anh cùng đứa con tật nguyền để đi theo người khác. Anh phải nói dối con là mẹ đi công tác xa và lâu. Đứa bé lớn dần và tuy ý thức không bằng người song nó lờ mờ hiểu mẹ đã bỏ hai bố con.

Một hôm, anh liên lạc với chị nói là anh sắp đi công tác mấy tháng, nhờ chị trông con gái một thời gian vì con gái đã đến tuổi trưởng thành, rất cần mẹ chăm sóc. Không còn cách nào khác, chị phải nhận trông con. Sống với mẹ nhưng đứa con luôn nhớ cha, chỉ mong muốn được về nhà. Rồi một lần tỉnh dậy trong đêm, chị nghe thấy tiếng dương cầm ở phòng khách. Chị xuống, thấy con vừa đàn vừa khóc và đến lúc đó chị mới biết sự thật: Trước khi gửi con cho chị, anh đã bị ung thư giai đoạn cuối. Anh không muốn để con chứng kiến lúc mình ra đi và muốn chị sẽ chăm lo cho đứa bé khi anh không còn. Lời nói dối cùng sự ra đi mãi mãi của anh-thực ra là sự hy sinh tất cả vì con và tình cha con của họ đã thức tỉnh người đàn bà.

Về hình thức, đây là một hành vi sai sự thật, nhưng nó không xấu và không gây hại. Trái lại, nó tránh đẩy người khác vào hoàn cảnh khó xử và cũng không làm tổn thương người khác.

Còn trong nhiều trường hợp khác, sự gian dối bao giờ cũng mang nghĩa xấu, nó làm xói mòn lòng tin và đạo đức xã hội.

2. Về bản chất, sự giả dối, thói gian dối khi đã trở thành một căn bệnh xã hội là một điều xấu xa, không gì có thể biện minh. Hành vi không thật thà của một cá nhân nào đó, tùy theo mức độ ảnh hưởng của nó đến xã hội, bị lên án theo các mức độ khác nhau nhưng chủ yếu là từ góc nhìn đạo đức.

Ở bất kỳ thể chế nào, đạo đức bao giờ cũng là hệ thống những nguyên tắc ứng xử được pháp luật bảo hộ, nhưng về cơ bản, nó được tạo ra như những chuẩn mực xã hội để điều tiết các quan hệ và răn đe, đề phòng, phê phán cái xấu, sự dối trá chủ yếu từ góc nhìn đạo đức. Nó lệch chuẩn, gây hại cho xã hội, nhưng chưa bị khép vào các tội hình sự. Sự phê phán, lên án, dù ở mức gay gắt nhất, cũng chỉ như sự sửa sai những hiện tượng lệch chuẩn, đi ra ngoài quỹ đạo ứng xử của số đông.

Quan sát căn bệnh dối trá đang lộng hành trong xã hội ta hiện nay, có thể thấy rằng trong khoảng vài thập niên gần đây, nhất là từ khi Nhà nước thực hiện "mở cửa", xã hội dần dần chuyển động theo “cơ chế thị trường” ở cả các lĩnh vực ngoài kinh tế. Nói chính xác hơn, cơ chế thị trường đã tác động đến tận tế bào xã hội, làm thay đổi cả những yếu tố thuộc lĩnh vực tinh thần. Sự đan xen giữa các yếu tố tốt-xấu, đúng-sai, chân thật-giả dối... tạo nên những lẫn lộn cả trong nhận thức và đánh giá. Từ đó, nền tảng tinh thần xã hội có những chuyển động mạnh, những rạn nứt mới trong quan hệ giữa người với người ngày một lộ rõ, nhiều chuẩn mực xã hội truyền thống bị lung lay trước áp lực của lối sống thực dụng và mang tính cá nhân chủ nghĩa nhiều hơn.

Sự dối trá trước đây chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, chủ yếu thuộc về đạo đức cá nhân, mà bây giờ lại lan rộng ra toàn xã hội, xuất hiện ở cả những lĩnh vực vốn được coi là nghiêm cẩn, thiêng liêng như thanh tra, tòa án, kiểm sát, hải quan, cảnh sát, nhà trường, tôn giáo... Thói gian dối cũng không còn là hành vi của những cá nhân riêng lẻ, nhất thời mà có tổ chức, có dự mưu, không chỉ ở hạng thất phu, công chức cấp thấp mà ở cả những cấp cao giữ vai trò rường cột của một ngành, một địa phương, khiến tâm lý xã hội hoang mang, dẫn đến sự mất hướng của không ít người, làm băng hoại đạo đức xã hội, gây nguy hại đến thể chế chính trị quốc gia.

Điều nguy hại hơn là hiện tượng dối trá vốn là một hành vi vô đạo đức, đáng bị lên án, bất thường đã dần trở nên “bình thường” trong mắt nhiều người. Sự giả dối nguy hiểm hơn vì nó lan đến cả nhà trường, đến những người trẻ (chạy điểm, mua điểm, chạy đua thành tích, bằng cấp giả)... làm mục ruỗng xã hội. Người giả dối có địa vị xã hội cao sẽ ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, có vai trò rất lớn trong tổ chức thực hiện những nhiệm vụ mà Nhà nước, nhân dân giao cho như bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư, chủ tịch tỉnh. Sự dối trá về bản chất gắn liền với lợi ích nên nó như là tiền đề đẻ ra tham nhũng, dối trá để tham nhũng, dối trá trong suốt quá trình để có địa vị cao hơn, quyền lực nhiều hơn, để có điều kiện tham nhũng lớn hơn.

Có thể nói chưa bao giờ tình trạng dối trá và tham nhũng lại gắn với nhau ở tất cả các mức độ, tinh vi và xảo trá đến thế, gây hại cho xã hội đến thế. Nhiều vấn đề được phanh phui, xử lý trong cuộc chiến chống tham nhũng thời gian qua đã đem lại những tin tưởng nhất định của xã hội vào cơ quan công quyền, nhưng quá nhiều vụ tham nhũng "khủng" đang gây mất lòng tin của xã hội, bởi không phải sự tham nhũng diễn ra trong một ngày mà có cả quá trình, có những nhóm lợi ích đã có dự mưu, tổ chức, thực hiện rất nhiều hành vi dối trá từ thấp lên cao. Hàng loạt lãnh đạo nhiều địa phương, bộ, ngành trong nhiều nhiệm kỳ gần đây như Phú Yên, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng, Bộ Công Thương, Bộ Y tế... là những minh chứng cho quá trình tha hóa của họ, gây mất uy tín của tổ chức, làm hại đến thanh danh các tổ chức chính quyền, cơ quan mà họ đại diện.

Ngay cả khi đại dịch Covid-19 gây ra bao nhiêu đau khổ, chết chóc cho xã hội mà một số người có chức quyền vẫn gian dối trong báo cáo, tham nhũng tiền của, làm ngơ trước những mất mát, đau khổ của đồng loại. Có người đã tổng kết, những đại án Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, Thuận An, Phúc Sơn, kit test của Nguyễn Quốc Việt, FLC của Trịnh Văn Quyết, AIC của Nguyễn Thị Thanh Nhàn... đều bắt đầu từ sự dối trá của cá nhân nhằm trục lợi, rồi dối trá có sự cấu kết giữa các nhóm lợi ích với một số quan chức lũng đoạn xã hội ở tầm vĩ mô, ở đề xuất chủ trương và hoạch định chính sách.

Có những vị hôm trước còn đăng đàn diễn thuyết, dạy dỗ người khác sống trong sạch, noi gương sáng người này, người khác, thậm chí viết sách để rao giảng những điều hay ho, nhưng không lâu sau thì bị xử lý kỷ luật vì dối trá, tham nhũng. Họ dối trá trước khi bị phát hiện, sống hai mặt, dối trá ngay cả khi đang khoác mặt nạ trong sạch, cao đạo. Nhiều người đã không tin họ bởi nhìn cách họ sống trong đời với những điều họ rao giảng cách nhau một trời một vực, biết họ giả dối nhưng không thể làm gì nên đành quay lưng.

Căn bệnh dối trá như thứ bệnh nan y ăn ruỗng cơ thể xã hội, đến mức có đồng chí lãnh đạo cấp cao đã nói “sờ vào đâu cũng thấy có vấn đề”, “nếu xử lý hết thì không còn người làm việc”. Điều đó nói lên một thực tế: Căn bệnh này đã gây ra những nguy cơ cho xã hội đến mức, sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi đó là nạn “nội xâm” và thừa nhận chống nó rất gian khổ, bởi những thói xấu và tội lỗi ấy có mầm mống và gây tác hại lớn vì nó nằm ngay trong lòng thể chế, có cái sinh ra từ chính thể chế, được những tổ chức, băng nhóm câu kết với nhau cố tình lừa dối xã hội, báo cáo sai lệch sự thật, bao che cho nhau trong nhiều năm.

Khi họ chưa bị trừng phạt, họ lại cùng cơ quan, có chức quyền, là đồng chí, đồng nghiệp của chúng ta nên việc đấu tranh với họ rất khó khăn. Nhiều vụ tham nhũng đã diễn ra hàng chục năm, nhiều cán bộ đứng đầu các tổ chức, cơ quan vi phạm pháp luật hàng chục năm liền, "một tay che trời", khuynh đảo xã hội vì họ phạm tội có tổ chức, có phe nhóm. Tội lỗi của đám người này không chỉ gây ra những thất thoát lớn cho Nhà nước, nhân dân mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Thói dối trá như một thứ vi trùng dịch hạch cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội.

3. Nhận thức được nguyên nhân và thực trạng nguy hại của sự dối trá, căn bệnh giả dối, cả xã hội đã chung tay trong cuộc chiến chống lại nó. Nhận ra thực chất của điều này cũng cần một quá trình, một sự đấu tranh gian khổ, bởi đám người giả dối thường sống ký sinh vào cơ chế, lợi dụng cơ chế, khoác những tấm áo khoác mỹ miều nhân danh tổ chức này nọ. Vạch mặt chỉ tên họ là cần thiết, lôi họ ra trừng trị là việc làm bắt buộc để xã hội chúng ta lành mạnh hơn, để bản chất tốt đẹp của Nhà nước do dân, vì dân, phụng sự dân trở về đúng nghĩa của nó.

Chúng ta đã nói đến sự giám sát của các tổ chức, cơ quan quyền lực, pháp luật và của nhân dân, nhưng cơ chế ấy thời gian qua đã để “lọt lưới” nhiều tội phạm. Họ lừa dối tổ chức và nhân dân bằng những chứng chỉ, bằng cấp, thành tích tự khai, những hứa hẹn trung thành, phụng sự Tổ quốc, nhưng miệng họ nói khác với những việc họ làm. Chỉ khi chiếc mặt nạ họ đeo bị rơi xuống thì bản chất thật của họ mới bị phơi bày trước xã hội. Những mất mát quá lớn cả về tiền của lẫn lòng tin, nhưng không thể không làm. Như xưa trong truyện dân gian cần “kính chiếu yêu" để các quan tham hiện rõ bộ mặt thật, thì ngày nay xã hội cũng cần nhiều "kính chiếu yêu" của tổ chức chính quyền, hệ thống luật pháp và sự giám sát của nhân dân để những quan tham không còn điều kiện gian dối, không dám dối trá.

Rõ ràng đã đến lúc cần đổi mới công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, đánh giá, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật thật chặt chẽ, nghiêm minh để loại dần ra khỏi cơ chế những kẻ cơ hội, tìm mọi cách dối trá nhằm lọt vào cơ quan công quyền mưu cầu lợi ích riêng. Làm trong sạch bộ máy, sử dụng đúng người, đúng việc, thực hiện chính sách vừa giao việc, vừa giám sát và kiên quyết loại ra khỏi đội ngũ những kẻ bất tài, thiếu phẩm chất đạo đức là góp phần ngăn chặn, loại trừ dần sự dối trá. Cơ chế lựa chọn cán bộ phải trở thành bộ máy thanh lọc kẻ gian dối và tìm được, lựa chọn được người chân tài thực đức để kích thích năng lực sáng tạo của mọi người. Lúc ấy, dối trá sẽ không còn đất sống và không thể gây tác hại, hệ lụy cho đất nước, xã hội và thể chế chính trị./.
Khuyết danh ST.

TRỊ “BỆNH DỐI TRÁ” ĐỂ NGĂN HIỂM HỌA KHÔN LƯỜNG!

     Trước hết cần khẳng định: Không quá lời khi coi dối trá là hiểm họa đối với đất nước, bởi khi “bệnh” này phổ biến trong đội ngũ công quyền, khi cấp dưới “vô tư” nói dối cấp trên mà không thấy ngượng, thậm chí còn được coi là chuyện thường-thì không chỉ sự thật bị bóp méo, cấp trên không nắm được thực trạng, bản chất vấn đề để có quyết sách đúng, mà niềm tin của nhân dân, của quần chúng vào chế độ cũng bị xói mòn nghiêm trọng. Giả dối vừa là biểu hiện của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vừa là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

1. Vô tư... dối trá là thực tế khá phổ biến, diễn ra từ lâu trong nhiều cơ quan, đơn vị công mà có lẽ ai cũng biết. Nghiêm túc và mô phạm, phải mẫu mực làm gương cho học sinh như ngành giáo dục mà nhiều thầy, cô giáo vẫn “vô tư” dối cấp trên (thậm chí trước học sinh và các phụ huynh) khi cố tình nâng điểm và “lờ đi” những vi phạm, khuyết điểm của trường, của lớp vì sợ mất thành tích. Thế hệ trẻ đã hình thành "văn hóa" dối trá từ chính học đường!

Ở các cơ quan, đơn vị, địa phương, khi báo cáo, tổng kết hoặc cấp trên đến kiểm tra thì đa số đều quán triệt tinh thần “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”. Ai phát biểu thẳng thắn, báo cáo đúng sự thật thì bị coi là bất thường, bị chê trách là dại dột, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”(!) Cán bộ nào khéo che giấu khuyết điểm của tập thể, nói hoặc viết báo cáo “tô hồng” thành tích của đơn vị, thì lại được khen (?)

Rồi sự dối trá trong các lĩnh vực, công việc cũng ngang nhiên diễn ra, khiến nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng chỉ biết lắc đầu ngao ngán, như: Công trình phúc lợi chưa hoàn thành đã vội tổ chức cắt băng khánh thành; cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số còn quá nhiều hạn chế, vướng mắc, nhưng báo cáo đã đạt kết quả cao; công tác xóa đói, giảm nghèo, phổ cập giáo dục, giải ngân vốn đầu tư công, tăng trưởng kinh tế... và cả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở-không ít nơi chỉ tốt đẹp... ở trên giấy và phát biểu của cán bộ!

Ngày 3-11 vừa qua, khi Quốc hội thảo luận tại tổ về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, đại biểu Quản Minh Cường (đoàn Cao Bằng) phản ánh thực tế "số liệu đầu vào đang có vấn đề" và nêu nhiều dẫn chứng, trong đó có ví dụ: Báo cáo khai thác khách du lịch tại thác Bản Giốc là 3 triệu lượt khách/năm, nhưng báo cáo thu vé chỉ vài chục nghìn khách/năm. Không biết tin vào báo cáo nào?

Còn bao chuyện dối trá mà trong khuôn khổ bài báo này không thể kể hết. Từ nói dối, báo cáo “tô hồng” không đúng thực tế, đến làm dối để tư lợi, tham nhũng, tiêu cực là rất gần. Không có gì qua được “tai, mắt nhân dân”, vì thế, quần chúng không "tâm phục, khẩu phục", dần mất niềm tin vào sự trung thực của cán bộ và cấp ủy, chính quyền. Đây là điều nguy hiểm nhất vì cổ nhân đã đúc rút “mất niềm tin là mất tất cả”! Chưa kể, hệ lụy của thói dối trá còn là các quyết sách sẽ không sát thực, kém hiệu quả do bị cung cấp thông tin sai; làm băng hoại đạo đức công vụ, khiến đội ngũ trì trệ, không dám đổi mới, sáng tạo vì “nói thật thì sợ mất lòng”...

2. “Bệnh dối trá” hiểm họa khôn lường! Vì thế, muốn trị bệnh này, trước hết cần phải nhận thức rõ sự nguy hại của nó, nhìn thẳng vào nguyên nhân gây ra và quyết tâm “tuyên chiến” bằng những biện pháp quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả.

Phải chăng, nạn dối trá được bắt nguồn từ “bệnh thành tích”: Khi thi đua-khen thưởng vẫn nặng về hình thức, không đánh giá thực chất, không phân minh "công to bù lỗi nhỏ"; khi những bản báo cáo “đẹp” được xem là điều kiện tiên quyết để được xem xét, được khen; khi những hạn chế, khuyết điểm dù được tập thể, cá nhân thẳng thắn tự nhận và quyết tâm khắc phục, sửa chữa nhưng vẫn bị loại khỏi danh sách khen thưởng, thậm chí còn lấy đó làm ví dụ để “bêu dương”, vùi dập... thì ai dại gì nói thật?  

Phải chăng, vì không ít vị cán bộ cấp trên thích tâng bốc, khen nịnh hơn những lời nói thật, thậm chí còn thâm thù, trù dập người nói thẳng thật, nên dối trá càng được đà “lên ngôi”, rồi trở thành “kinh nghiệm”, “nghệ thuật sống” và nhiều người cố gắng học tập?

Phải chăng, nhiều cán bộ cấp trên biết thừa cấp dưới “làm láo nháo, báo cáo hay” nhưng chẳng nhíu mày, không chất vấn, tra hỏi; bởi đã cùng một giuộc, sợ ảnh hưởng đến thành tích chung và uy tín của chính mình, thậm chí bị “miếng thịt bịt miệng”?

Phải chăng, vì không ít cán bộ cấp trên thích thể hiện, thích "hoành tráng" nên đưa ra các mục tiêu, chỉ đạo, yêu cầu vượt quá khả năng, cấp dưới không thể thực hiện được và cũng không dám phản biện, nên đành nói dối để đối phó?

Còn nhiều nguyên nhân nữa dẫn đến “bệnh dối trá”, nhưng không thể không nhắc đến trách nhiệm của các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát. Sự “thông cảm”, thỏa hiệp, bỏ qua... ở khâu lẽ ra phải có trách nhiệm thường xuyên và cuối cùng với yêu cầu công minh, chính xác, nghiêm túc này, khiến “virus” dối trá càng được đà... phát triển.

Để chữa trị dứt điểm “bệnh dối trá”, phải khôi phục vị trí xứng đáng cho sự trung thực; quyết liệt triển khai những giải pháp “điều trị” tận gốc những nguyên nhân gây ra “bệnh” nguy hiểm này.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Bác Hồ đã chỉ rõ: “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm, thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”. Đảng ta cũng yêu cầu: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật” và gần đây còn có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo và dám hành động vì lợi ích chung. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã nhiều lần chỉ đạo phải nói thẳng, đánh giá đúng thực tế vì có như thế mới sửa được những tồn tại, hạn chế... Thế nên không thể để “bệnh dối trá” tiếp tục tồn tại gây nguy hại cho đất nước, làm mất niềm tin của nhân dân vào chế độ ta và là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá./.
Khuyết danh ST.

PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”: “BÀI TOÁN” CỦA LÒNG NGƯỜI.

     Nhấp chút cà phê rồi lại cắm mặt vào điện thoại, Hùng bỗng cười khẩy một tiếng, rồi lắc đầu, giọng đầy châm biếm: “Vẽ vời! Đất “kim cương” mà đem xây tượng đài"...

Chị Ba chủ quán đang lau ly, tay khựng lại, tò mò hỏi: “Cậu nói gì thế? Tượng đài gì và đất kim cương gì?”.

- Thì chính quyền dự kiến xây tượng đài tưởng niệm nạn nhân Covid-19 ở khu đất số 1 Lý Thái Tổ của thành phố mình đó. Nói thiệt với chị Ba và chú Tám, tiền ấy, đất ấy đem xây thêm bệnh viện hay trường học thì có phải thiết thực hơn không? Thật là lãng phí!

Thấy giọng Hùng bức xúc, chú Tám đặt tờ báo xuống, nhìn sang Hùng: “Cháu nói lãng phí là đang so cái gì với cái gì? Cháu đọc kỹ chưa? Cháu đang dùng tiền đo một thứ không thể dùng tiền đo đếm được đấy nhé!”.
 
- Chú ơi, chú thử tính khu đất đó mà đem đấu giá... Làm được bao nhiêu thứ? Mạng nói cấm có sai. Mấy ông chỉ “vẽ” ra để tiêu tiền ngân sách, để “làm đẹp” báo cáo thôi. Dân còn khổ!-Hùng vẫn cương quyết.

Chị Ba mặt đỏ lên, gằn giọng: "Chủ trương đó hay quá mà cậu lại nói nghe nhẹ hều. Cậu có biết mẹ tôi mất trong cái đợt đó không? Biết bao người tử vong mà gia đình không được nhìn mặt lần cuối, không có nổi cái đám tang cho đàng hoàng. Giờ thành phố muốn làm đài tưởng niệm để tưởng nhớ đồng bào, cán bộ, chiến sĩ hy sinh, tử vong vì Covid-19, để những người như tôi có nơi mà đến thắp nén nhang cho tử tế... thế mà kêu là lãng phí à? Nói vậy là ác miệng quá! Mà không chỉ làm đài tưởng niệm, khu đất ấy sẽ trở thành công viên cho nhân dân kết hợp khai thác không gian ngầm. Thành phố chật chội đang rất cần nơi sinh hoạt công cộng như vậy".

Chú Tám xua tay: "Không chỉ là ác miệng đâu nhé. Đây là thủ đoạn của bọn phản động đấy. Mấy cái trang mà Hùng coi, mục đích của chúng là gì? Chúng cố tình đánh đồng “sự tri ân” với “sự lãng phí”. Chúng muốn ta, nhất là giới trẻ, nhìn vào mọi việc bằng con mắt tiêu cực".

Hùng gãi đầu: “Nhưng cháu... cháu thấy họ phân tích có cái lý riêng”.

Chú Tám đập mạnh tay xuống bàn: “Lý cái gì? Lý của kẻ vô ơn à? Muốn ta phủ nhận sự hy sinh của y bác sĩ, của bộ đội, của những người ngã xuống trong đại dịch thì có. Xây một cái tượng đài không phải là “vẽ”. Đó là để nhắc nhở thế hệ sau về một giai đoạn lịch sử đau thương nhưng cũng đầy tình người, để tri ân những người đã mất. Nó là văn hóa, là lịch sử, là nghĩa tình. Không thể đặt lên bàn cân mà kêu “lỗ, lãi” với lịch sử và tình người được”.

Chị Ba quay đi, vội lấy vạt áo chấm nước mắt, rồi khẽ nói: “Phải đó chú Tám. Cháu chỉ mong có một chỗ... để biết rằng mẹ cháu và biết bao người đã mất vì đại dịch không bị lãng quên”.

Đến đây, Hùng tắt màn hình điện thoại, im lặng một hồi rồi lên tiếng: “Cháu đã hiểu rồi ạ. Hóa ra “bài toán” này không phải là bài toán kinh tế... mà là bài toán của lòng người”.

Chú Tám gật gù vỗ vai Hùng: “Vậy là tốt. Lần sau lướt mạng, phải dùng cái đầu lạnh và trái tim nóng mà chắt lọc thông tin, cháu nhé!”./.
Ảnh: Xây dựng đài tưởng niệm nạn nhân Covid-19 tại Khu đất số 1 Lý Thái Tổ theo kế hoạch chỉnh trang của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh.
Khuyết danh ST.

"NGÀI" GIA LONG - NGUYỄN ÁNH ĐÃ BÁN NƯỚC BAO NHIÊU LẦN? XIN THƯA, CHỈ CÓ... 4 LẦN!!!

LẦN 1: Nguyễn Ánh thảo hợp đồng với triều đình Pháp để bán Hội An đổi lấy 4 tàu chiến và vài trăm lính Pháp da đen, nhưng hợp đồng này chưa xong thì vua Pháp (Louis 16) bị quân cách mạng Pháp chém đầu... tuy nhiên bản hợp đồng này sau đó đã tạo cái cớ hoàn hảo cho Napoleon đệ III thuyết phục quốc hội Pháp chấp thuận việc xâm lược Đại Nam. 

LẦN 2: khi quân Thanh qua để “bảo vệ nhà Lê”, Nguyễn Ánh lập tức điều thuyền chở gạo ra tiếp tế cho quân Thanh, ủng hộ nhà Thanh đem quân vào Việt Nam. Cũng may sau đó quân Thanh đã bị Quang Trung đánh cho tan tác..

LẦN 3: Nguyễn Ánh rước quân Xiêm la (Thái lan) qua để đánh Tây Sơn. Trong lúc đóng quân, bọn Xiêm đã bắt, cướp, hiếp, giết dân Nam Bộ.. nhưng Ánh làm ngơ vì mục đích hạ bệ Tây Sơn, khiến lòng dân Nam Bộ từ ủng hộ sang ác cảm với Nguyễn Ánh. Và vẫn lại là Quang Trung chiến thần đập cho Xiêm la nhừ tử ... đến nổi từ đó nhắc đến Việt Nam là quân Xiêm kinh hồn tán đởm.

LẦN 4: Nguyễn Ánh đem vùng Trấn Ninh (rộng khoảng 45.000 km²) cắt cho vương quốc Vạn Tượng (Lào) chỉ nhằm để lôi kéo sự ủng hộ của họ ..vùng này hiện là... một nửa nước Lào ngày nay (ảnh-bản đồ)

 ✅ Với việc cắt thành công vùng đất Trấn Ninh cho Lào, Nguyễn Ánh là ông vua trao lãnh thổ đất nước cho ngoại quốc nhiều thứ 2 trong lịch sử Việt Nam (kém hơn Chắt nội là Tự Đức đã cắt cả Nam Kỳ Lục tỉnh cho thực dân Pháp). Nhưng Nam Kỳ Lục Tỉnh thì chúng ta đã lấy lại được còn Trấn Ninh thì... thôi rồi!!😞

✅Trong lịch sử nước Việt nghìn năm: thắng bại đều có đủ, nhưng chưa có ông vua nào giữ vững ngai vàng bằng cách mượn quân nước ngoài, thậm chí bán cả đất cha ông để lấy lòng giặc! vua như thế có đáng được nhân dân trọng vọng chăng ? 
    💖Cái gì ra cái đó, công tội phải rõ ràng: không thể phủ nhận công lao mở cõi của các Chúa Nguyễn dưới thời Lê Trung Hưng (Đàng Trong - Đàng Ngoài) nhưng cần nói cho rõ công đó là của các Chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên..):Nguyễn Hữu Cảnh mở cõi Đất Phương Nam vào năm 1698, theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược vùng đất này-Trấn Biên (Biên Hòa) Phiên Trấn (Gia định) chứ đừng mập mờ là của triều đình nhà Nguyễn ( Gia Long 1762 mới sinh ra). 
     💖Còn công thống nhất đất nước ư? Nguyễn Ánh không thể làm gì được nếu hoàng đế Quang Trung không đánh bại mọi thế lực cát cứ (Trịnh, Nguyễn v.v..) và can thiệp (Xiêm, Thanh), mặc nhiên đã dọn cỗ, dọn đường cho Ánh bước lên ngôi cửu đỉnh...

     💖Xin đăng lại lần nữa để những ai .. cố ngụy biện rằng: "Nguyễn Ánh cắt đất chưa thành công, hay xướng lên chung chung: Gia long thống nhất đất nước , Gia long mở cõi” phải suy nghī lại..."./.
Theo ĐẠI VIỆT SỬ QUÁN
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHIÊN HỌP 51 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI - TƯ DUY ĐỔI MỚI MẠNH MẼ TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT!

     Theo chương trình Phiên họp thứ 51, tối 5/11, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về: dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế đặc thù về một số chủ trương, chính sách trong Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; dự án Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi).

Giải phóng nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Theo Tờ trình của Chính phủ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, qua hơn một năm triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy, các chính sách mới của Luật đã bước đầu mang lại hiệu quả, góp phần giải phóng nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, xuất phát từ những yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, cần thiết phải ban hành Nghị quyết của Quốc hội để tiếp tục thể chế các quan điểm, định hướng của Đảng, đồng thời tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai.

Dự thảo Nghị quyết được bố cục thành 3 chương, 13 điều, với ba nhóm nội dung cơ bản: Các nội dung thể chế quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận của Bộ Chính trị; các nội dung giải quyết “điểm nghẽn” đã được chỉ ra tại Thông báo số 08-TB/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật; các nội dung để tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.

Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2024 với với các lý do như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ.

Hồ sơ dự thảo Nghị quyết đã được Chính phủ chuẩn bị nghiêm túc, đúng quy định, đủ điều kiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn. Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục rà soát các nội dung quy định tại dự thảo Nghị quyết, bảo đảm phù hợp quy định của Hiến pháp; không mâu thuẫn, chồng chéo với các pháp luật hiện hành; bảo đảm tính khả thi, công bằng, minh bạch, không gây khiếu kiện, khiếu nại, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân…

Tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế đặc thù về một số chủ trương, chính sách trong Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo gồm 11 điều, quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; áp dụng đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, các tổ chức và cá nhân có liên quan.

Cho ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý dự thảo Nghị quyết còn dàn trải, đồng thời đề nghị, dự thảo Nghị quyết cần tập trung vào một số cơ chế, chính sách thật sự đặc thù, vượt trội. Cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát dự thảo Nghị quyết để tránh trùng lặp với các cơ chế, chính sách được thể hiện tại dự thảo Luật, Chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan được trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, bảo đảm tính khả thi của chính sách.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, các cơ quan chức năng cần đánh giá kỹ lưỡng, nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách đặc thù thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đào tạo, chính sách ưu tiên dành trụ sở cơ quan dôi dư sắp xếp cho giáo dục. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu quy định cụ thể hơn về vấn đề nâng cao năng lực số; bố trí đủ nguồn lực, đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ phục vụ ch.uyển đ.ổi s.ố, phổ cập ứng dụng công nghệ trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục và đào tạo.

Kết luận nội dung thảo luận này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và tư duy đổi mới, sự chủ động, tích cực, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan chủ trì thẩm tra trong quá trình chuẩn bị hồ sơ và tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết. Hồ sơ dự thảo Nghị quyết đã đủ điều kiện để trình Quốc hội cho ý kiến thảo luận thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản tán thành với các nội dung dự thảo Nghị quyết đã được tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của cơ quan thẩm tra, đồng thời đề nghị Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp, khẩn trương rà soát, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị quyết để trình Quốc hội, bảo đảm không trùng lặp, ngắn gọn, trọng tâm, với tinh thần đặc thù vượt trội để tạo đột phá cho phát triển giáo dục và đào tạo.

Hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực dự trữ quốc gia

Theo Tờ trình về dự án Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng trình bày, mục đích ban hành Luật nhằm thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước; hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực dự trữ quốc gia, qua đó tạo hành lang pháp lý đầy đủ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, tháo gỡ vướng mắc tại các quy định pháp luật hiện hành trong hoạt động dự trữ quốc gia, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phục vụ an sinh xã hội.

Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong việc xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật, thúc đẩy đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và ch.uyển đ.ổi s.ố; khơi thông, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực hợp pháp cho dự trữ quốc gia; kế thừa và phát huy những quy định hiện hành đã được thực tiễn chứng minh đem lại các tác động tích cực đến kinh tế - xã hội của đất nước; những nội dung cần sửa đổi, bổ sung phải có quy định rõ ràng, minh bạch.

Báo cáo thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi khẳng định, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính và Thường trực các Ủy ban của Quốc hội tán thành với sự cần thiết ban hành Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi); cho rằng hồ sơ dự án Luật bảo đảm đầy đủ theo quy định, đủ điều kiện để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét.

Đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính thống nhất với đề xuất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét việc đưa dự án Luật vào Chương trình xây dựng pháp luật năm 2025 và trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10 theo trình tự, thủ tục rút gọn; đề nghị Chính phủ rà soát kỹ phạm vi sửa đổi, chỉ tập trung vào những nội dung thật sự cấp bách và cần thiết phải sửa đổi ngay, nhằm bảo đảm chất lượng của dự án Luật khi trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Phát biểu kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải nêu rõ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá cao quá trình chuẩn bị hồ sơ dự án Luật và quá trình thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính. Để bảo đảm chất lượng dự án Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp thu tối đa ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và của cơ quan thẩm tra. Trong đó, lưu ý tiếp tục rà soát bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng; nhấn mạnh dự trữ quốc gia không chỉ phục vụ mục tiêu cứu trợ trong tình huống khẩn cấp mà cần thực sự trở thành dự trữ chiến lược, làm công cụ phục vụ điều tiết thị trường để bảo đảm nền kinh tế vận hành ổn định, hiệu quả theo quy luật thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, là một trong những trụ cột quan trọng của an ninh quốc gia, an ninh kinh tế và phát triển bền vững.../.


Theo QĐND
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN KHU 5 TRIỂN KHAI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BÃO SỐ 13 TẠI GIA LAI.

     Sáng 6-11, tại Gia Lai, Trung tướng Lê Ngọc Hải, Tư lệnh Quân khu 5 đã trực tiếp kiểm tra công tác phòng, chống bão số 13 tại cảng cá Quy Nhơn và Trường Mầm non Hoa Phong Lan.

Tại Cảng cá Quy Nhơn, Trung tướng Lê Ngọc Hải biểu dương tinh thần chủ động của cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang trong triển khai các phương án ứng phó với bão, đồng thời yêu cầu các lực lượng tiếp tục thực hiện nghiêm phương châm “4 tại chỗ”, nắm chắc tình hình, không để bị động, bất ngờ khi bão đổ bộ.

Đồng chí Tư lệnh Quân khu 5 yêu cầu Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai cần tăng cường kiểm tra, tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ ngư dân đưa tàu thuyền, phương tiện, lồng bè nuôi trồng thủy hải sản về nơi neo đậu an toàn; tuyệt đối không để người dân ở lại trên tàu hoặc quay trở lại khi đã được sơ tán.

Đến kiểm tra Trường Mầm non Hoa Phong Lan khu vực tránh trú bão tập trung trên địa bàn phường Quy Nhơn, đồng chí Tư lệnh Quân khu 5 yêu cầu các đơn vị cần chuẩn bị chu đáo các vật dụng sinh hoạt, vệ sinh sạch sẽ, rộng rãi để bà con yên tâm trú bão. Đặc biệt, chuẩn bị các nhu yếu phẩm cần thiết, các suất ăn phù hợp, đầy đủ dinh dưỡng, bố trí chu đáo cho người dân trong suốt quá trình tránh trú./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẾ MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ 14 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII.

     Sáng 6/11, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và tiến hành phiên bế mạc. Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì hội nghị. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn điều hành phiên bế mạc.

Sau hai ngày làm việc, Hội nghị đã quyết định nhiều nội dung quan trọng: Thống nhất số lượng nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV và nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, một số nội dung liên quan đến nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước, thống nhất nội dung các vấn đề chuẩn bị tổ chức Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị và Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xem xét bổ sung, hoàn thiện các phương án nhân sự theo đúng phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và quy trình công tác nhân sự đã đề ra để báo cáo tại Hội nghị Trung ương lần thứ 15 sắp tới.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị chỉ đạo Tiểu ban Văn kiện và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức chính trị và nhân dân; khẩn trương, nghiêm túc tổng hợp tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp, hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem xét, hoàn chỉnh.

Tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất cao các nội dung dự kiến chương trình Đại hội, quy chế làm việc, quy chế bầu cử tại Đại hội, báo cáo về tình hình công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng; giao Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến, tiếp tục hoàn thiện các dự thảo.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, cho ý kiến về các báo cáo: kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; tình hình thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII; tổng kết thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; báo cáo những công việc Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 13 đến Hội nghị Trung ương lần thứ 14.

Hội nghị Trung ương lần thứ 14 nhất trí cao với kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đã thực sự là một tập thể đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, bản lĩnh, trí tuệ, kiên định quan điểm, đường lối của Đảng, kịp thời đưa ra các quyết sách đúng đắn và phù hợp, giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Hội nghị cũng thống nhất đánh giá điểm sáng nhất, đột phá nhất trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” là tổ chức thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, tổ chức lại địa giới hành chính cấp tỉnh và cấp xã, tạo không gian, tiềm năng và cơ hội phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Phát biểu tại phiên bế mạc, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với sự thống nhất cao, chất lượng tốt. Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng đã làm việc tận tâm, nhiệt huyết, thẳng thắn, trung thực với tinh thần trách nhiệm cao.

Tổng Bí thư yêu cầu, trong thời gian tới, cả hệ thống chính trị tiếp tục chăm lo, kiến tạo cho mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phân định thẩm quyền liên thông giữa 3 cấp cho từng lĩnh vực, xóa chồng lấn, không bỏ trống nhiệm vụ. Phân cấp phải đi kèm kiểm soát; chuyển mạnh sang hậu kiểm; tổ chức kiểm toán nội bộ ở tỉnh, xã. Tài chính công được phân bổ theo kết quả, theo đặc điểm riêng của địa phương.

Các địa phương sớm xác định vị trí việc làm, khoán sản phẩm; đào tạo bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ, quản trị dữ liệu. Tổ chức một cửa liên thông số; xóa cơ chế “xin-cho”, tăng trách nhiệm của người đứng đầu. Xây dựng dữ liệu dùng chung, kết nối dân cư-đất đai-an sinh-doanh nghiệp; cập nhật thời gian thực từ cơ sở tới Trung ương.

Tổng Bí thư nêu rõ, nguyên tắc xuyên suốt là “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” và “rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm”, “Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng”, “Vì nhân dân phục vụ”, “Kết quả, sản phẩm công việc là thước đo cao nhất trình độ và phẩm chất cán bộ”.

Cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, nhất là các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ hỗ trợ, tạo điều kiện để mô hình chính quyền 3 cấp, đặc biệt quan tâm tới 2 cấp chính quyền địa phương, bảo đảm hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả, vươn tới những mục tiêu mà Đảng đã đặt ra, trong đó có 3 mục tiêu trọng yếu là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Nhấn mạnh thời gian từ nay đến Đại hội XIV của Đảng không còn nhiều, trong khi có rất nhiều công việc phải làm, nhiều chỉ tiêu công tác phải hoàn thành trong những tháng cuối năm, Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước đất nước và nhân dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt những công việc của đơn vị, địa phương mình, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết của cấp ủy các cấp; khẩn trương tổ chức thực hiện các kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 14 khóa XIII để góp phần cho thành công của Đại hội XIV của Đảng.

Tổng Bí thư lưu ý, cơn bão số 13 có khả năng sẽ đổ bộ vào khu vực miền trung-Tây Nguyên trong ngày hôm nay, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng trở về địa phương khẩn trương tập trung chỉ đạo công tác phòng chống bão, lũ theo tinh thần “Bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân là trên hết, trước hết, tất cả vì nhân dân”; triển khai phương án 4 tại chỗ để cùng nhân dân ứng phó, khắc phục hậu quả của cơn bão; các Bộ: Quốc phòng, Công an, Tài chính... chủ động hỗ trợ nhân dân ở các địa phương vùng bị ảnh hưởng thiên tai./.


Yêu nước ST.

TOÀN VĂN PHÁT BIỂU BẾ MẠC CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 14!

     Sáng 6/11, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Thưa các đồng chí Đại biểu tham dự Hội nghị,

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với sự thống nhất cao, chất lượng tốt. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư tôi xin cảm ơn các đồng chí Ủy viên Trung ương đã làm việc tận tâm, nhiệt huyết, thẳng thắn, trung thực với tinh thần cách mạng tấn công, với trách nhiệm cao của Ủy viên Trung ương Đảng.

Sau hai ngày làm việc, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định nhiều nội dung quan trọng, trong đó: thống nhất số lượng nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV; thống nhất nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, một số nội dung liên quan đến nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước; thống nhất nội dung các vấn đề chuẩn bị tổ chức Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Trước khi bế mạc Hội nghị, tôi xin khái quát những kết quả chủ yếu và những nội dung công việc cần làm từ nay tới Hội nghị Trung ương 15 và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Thứ nhất: Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận dân chủ, kỹ lưỡng với sự nhất trí cao nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị và Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV tiếp tục xem xét bổ sung, hoàn thiện các phương án nhân sự theo đúng phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và quy trình công tác nhân sự đã đề ra để báo cáo Ban Chấp hành Trung ương xem xét quyết định tại Hội nghị Trung ương 15 sắp tới.

Trung ương thống nhất cao với các nội dung dự kiến Chương trình Đại hội, quy chế làm việc, quy chế bầu cử tại Đại hội và báo cáo về tình hình công tác chuẩn bị Đại hội XIV. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn thiện các dự thảo để trình Đại hội XIV xem xét quyết định.

Thứ hai: Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, cho ý kiến về báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; báo cáo tình hình thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII; Báo cáo tổng kết thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; Báo cáo những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 13 đến Hội nghị Trung ương 14. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn chỉnh các báo cáo tổng kết và bàn giao cho Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của khóa tới.

Thứ ba: Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị chỉ đạo Tiểu ban văn kiện và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức chính trị và nhân dân để hoàn thiện thêm một bước Dự thảo các văn kiện. Khẩn trương, nghiêm túc tổng hợp tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp để hoàn thiện các Dự thảo văn kiện trình Hội nghị Trung ương 15 xem xét hoàn chỉnh để trình Đại hội XIV của Đảng.

Thứ tư: Hội nghị Trung ương lần thứ 14 nhất trí cao với kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII, đồng thời thống nhất đánh giá: trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, tình hình trong nước và quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp, nhiều vấn đề vượt ngoài dự báo; thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều nơi... Nhưng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đã thực sự là một tập thể đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, bản lĩnh, trí tuệ, kiên định quan điểm, đường lối của Đảng, kịp thời đưa ra các quyết sách đúng đắn và phù hợp, giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đã đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ sự nghiệp đổi mới, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tổ chức thực hiện hoàn thành cơ bản Nghị quyết Đại hội XIII với nhiều thành tựu rất quan trọng, toàn diện, đột phá, đạt nhiều dấu ấn nổi bật, tạo tiền đề phát triển cho những nhiệm kỳ tiếp theo.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành triển khai quyết liệt các Nghị quyết Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết 18 về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, hoàn thành trước 5 năm, đã tạo ra "cú hích", "bước ngoặt" về triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng trong tình hình mới. Tiếp tục tháo gỡ khó khăn vướng mắc về thể chế, hoàn thiện chính sách, hành lang pháp lý và giải quyết có hiệu quả những khó khăn, vướng mắc, hạn chế, yếu kém kéo dài nhiều năm. Giữ ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp; thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng; môi trường đầu tư, kinh doanh, cán cân thương mại được cải thiện; mô hình tăng trưởng chuyển dịch theo hướng tích cực. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả 3 đột phá chiến lược; đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc; tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đóng góp tích cực, có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định phát triển của khu vực và thế giới. Uy tín, vị thế của Đảng, của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng, đánh giá cao.

Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết chiến lược là các Nghị quyết 57-59-66-68-70-71-72. Đây là tiền đề, cơ sở chính trị, pháp lý đặc biệt quan trọng để chúng ta thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong nhiều năm tiếp theo và thực hiện thành công hai mục tiêu 100 năm.

Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ Đại hội XIII còn có một số hạn chế: Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số nghị quyết của Đảng còn chậm; Lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường còn một số hạn chế, bất cập. Việc triển khai một số công trình trọng điểm, giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu; đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn; có lúc, có nơi việc xây dựng tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và thực thi công vụ chưa hoàn thiện; kỷ luật, kỷ cương có lúc, có nơi chưa nghiêm.

Những thiếu sót, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do yếu tố chủ quan. Phương pháp, biện pháp lãnh đạo của một số cấp ủy, Ủy viên Trung ương trên một số lĩnh vực còn hạn chế; chưa tập trung, thiếu quyết liệt, kịp thời; chưa phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của người đứng đầu.

Thứ năm: Điểm sáng nhất, đột phá nhất trong triển khai thực hiện Nghị quyết 18 là tổ chức thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tổ chức lại địa giới hành chính cấp Tỉnh và cấp Xã, tạo không gian, tiềm năng và cơ hội phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Mô hình chính quyền 3 cấp đã vận hành được 4 tháng, kết quả ban đầu là khả quan, tăng tính kiến tạo, tăng hiệu lực, hiệu quả phục vụ nhân dân và phát triển kinh tế xã hội; quần chúng nhân dân ủng hộ và tin tưởng, người dân và doanh nghiệp bước đầu thấy được cơ hội, quyền lợi và nghĩa vụ công dân đến với mình thực chất hơn; nhịp sống xã hội rộn ràng, tươi vui hơn. Để phát huy những yếu tố tích cực đó, tôi đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, đặc biệt là các đồng chí Ủy viên Trung ương cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ hỗ trợ, tạo điều kiện để mô hình chính quyền 3 cấp, đặc biệt quan tâm tới 2 cấp chính quyền địa phương, hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả, vươn tới những mục tiêu mà Đảng đã đặt ra, trong đó 3 mục tiêu trọng yếu là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Trong thời gian tới, yêu cầu các đồng chí, ngoài những nội dung tôi nêu trong phát biểu Khai mạc Hội nghị, các đồng chí cần tập trung xử lý những trọng tâm sau: (1) Cả hệ thống chính trị tiếp tục chăm lo, kiến tạo cho mô hình chính quyền địa phương hai cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả, (2) Phân định thẩm quyền liên thông giữa 3 cấp cho từng lĩnh vực, xóa chồng lấn, không bỏ trống nhiệm vụ. (3) Phân cấp đi kèm kiểm soát; chuyển mạnh sang hậu kiểm; tổ chức kiểm toán nội bộ ở Tỉnh/Xã. (4) Tài chính công được phân bổ theo kết quả, theo đặc điểm riêng của địa phương. (5) Sớm xác định vị trí việc làm, khoán sản phẩm; đào tạo bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ, quản trị dữ liệu. (6) Tổ chức một cửa liên thông số; xóa cơ chế "xin-cho", tăng trách nhiệm người đứng đầu. (7) Xây dựng dữ liệu dùng chung, kết nối dân cư-đất đai-an sinh-doanh nghiệp; cập nhật thời gian thực từ cơ sở tới Trung ương.

Nguyên tắc xuyên suốt là "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" và "rõ người-rõ việc- rõ thời hạn- rõ nguồn lực- rõ trách nhiệm", "Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng", "Vì Nhân dân phục vụ", "Kết quả, sản phẩm công việc là thước đo cao nhất trình độ và phẩm chất cán bộ".

Thứ sáu: Bây giờ đã gần hết năm 2025, thời gian từ nay đến Đại hội XIV không còn nhiều, trong khi chúng ta có rất nhiều công việc phải làm, nhiều chỉ tiêu công tác phải hoàn thành trong tháng cuối năm, trong khi bão, lũ, thiên tai xảy ra ở hầu khắp các địa phương. Do vậy, tôi đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương hãy nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước đất nước và nhân dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt những công việc của đơn vị, địa phương mình, đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu được nêu ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết của cấp ủy các cấp; khẩn trương tổ chức thực hiện các kết luận của Hội nghị Trung ương 14 để góp phần cho thành công của Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Thưa các đồng chí,

Tình hình thiên tai, bão lũ, ngập úng, sạt lở thời gian qua diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân, đến mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội. Cơn bão số 13 có khả năng sẽ đổ bộ vào khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong ngày hôm nay, do vậy Hội nghị Trung ương 14 kết thúc sớm hơn dự kiến để các đồng chí trở về địa phương tập trung chỉ đạo công tác phòng chống bão lũ theo tinh thần "Bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân là trên hết, trước hết, tất cả vì nhân dân"; triển khai phương án "4 tại chỗ" để cùng nhân dân ứng phó, khắc phục hậu quả của cơn bão; các Bộ Quốc phòng, Công an, Tài chính... chủ động hỗ trợ các địa phương vùng bị ảnh hưởng thiên tai.

Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 14.

Một lần nữa chúc toàn thể các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025

THƯỢNG SĨ VŨ VĂN BÌNH HY SINH TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH QUỐC PHÒNG!

     Chiều 5/11, theo phân công của Chỉ huy Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Công binh 513, Quân khu 3) thực hiện nhiệm vụ tại Đặc khu Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh), Thượng sĩ Vũ Văn Bình hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ xây dựng công trình quốc phòng.

Cụ thể, thực hiện nhiệm vụ tại Đặc khu Cô Tô gồm 4 đồng chí: Trung úy Nguyễn Tiến Dũng, Trung đội trưởng phụ trách; Thượng sĩ Nguyễn Mạnh Cường, Trung sĩ Trần Quang Hoạt; Hạ sĩ Vũ Văn Bình.

Vào lúc 17 giờ 45 phút, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Hạ sĩ Vũ Văn Bình phát hiện có hiện tượng đá sạt trên nóc công trình vị trí chỉ huy của Trung úy Nguyễn Tiến Dũng đang đứng. Ngay lập tức, đồng chí Bình chạy đến đẩy đồng chí Dũng ra để tránh vị trí sạt lở thì bị một khối lượng đất đá lớn đè vào người.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Trần Đại Thắng cùng cơ quan chức năng thăm, động viên các cán bộ, chiến sĩ bị thương trong vụ triệt phá đường dây ma túy lớn đêm 17/4.

Ngay khi phát hiện sự việc, Thiếu tá Nguyễn Đức Thành, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1 và Đại úy Lương Thanh Hải, Quyền Đại đội trưởng Đại đội 2 nhanh chóng đưa đồng chí Bình ra ngoài để sơ cứu và chuyển đến Trung tâm Y tế đặc khu Cô Tô cấp cứu. Tuy nhiên, theo kết luận của Trung tâm Y tế, do vết thương quá nặng, lúc 18 giờ 25 phút, Hạ sĩ Vũ Văn Bình đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Hạ sĩ Vũ Văn Bình, sinh ngày 25/9/2005, quê quán xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cũ (nay là phường Kim Thanh, tỉnh Ninh Bình) nhập ngũ tháng 2/2024, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ mất sớm, em gái còn nhỏ.

Trước khi hy sinh, đồng chí Bình là chiến sĩ công binh công trình ở Tiểu đội 3, Trung đội 5, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 513 (Quân khu 3). Sự hy sinh của Hạ sĩ Vũ Văn Bình là tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm quên mình trong thực hiện nhiệm vụ góp phần tô thắm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Trước sự hy sinh dũng cảm của đồng chí Vũ Văn Bình, Thủ trưởng Tư lệnh Quân khu 3 đã ký quyết định thăng quân hàm vượt cấp từ Hạ sĩ lên Thượng sĩ cho đồng chí Vũ Văn Bình. Đồng thời, đơn vị đã đề nghị Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba và Trung ương Đoàn tặng Bằng khen./.
Theo ND
Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN VÀ HÓA GIẢI NHỮNG "ĐIỂM NGHẼN" TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng đã đánh giá: “Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được triển khai quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả”, nhưng để công tác này đạt hiệu quả cao như kỳ vọng, cần dũng cảm nhìn thẳng vào những “điểm nghẽn” đang tồn tại để hóa giải, nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đâu là những “điểm nghẽn”?

Từ thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chúng tôi chỉ ra một số điểm nghẽn cơ bản sau:

“Điểm nghẽn” đầu tiên: Nhận thức, trách nhiệm chưa ngang tầm

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả người làm công tác lãnh đạo, quản lý, nhà báo, nhà khoa học vẫn chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có người cho rằng đây là công việc riêng của cơ quan tuyên giáo hay Ban chỉ đạo 35, dẫn đến tình trạng “khoán trắng”, thiếu sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâm.

Bên cạnh đó, có nơi còn tách rời giữa nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiệm vụ phản bác quan điểm sai trái, thù địch, khiến công tác triển khai thiếu tính hệ thống, hiệu quả không cao, kiến nhận thức chưa đầy đủ và hành động thiếu quyết liệt.

“Điểm nghẽn” thứ hai: Cuộc chiến “không cân sức” trên không gian mạng

Các thế lực thù địch sở hữu tiềm lực công nghệ vượt trội, có mạng lưới truyền thông chuyên nghiệp, được tài trợ mạnh mẽ từ các chính phủ, từ lực lượng trá hình núp trong các tổ chức thao túng không gian mạng, thông qua nền tảng mạng xã hội, phát tán thông tin sai trái với tốc độ cực nhanh, đa chiều. Trong khi đó, lực lượng ta, đặc biệt ở cấp cơ sở, chủ yếu là kiêm nhiệm, thiếu điều kiện tiếp cận thông tin, thiếu kỹ năng, phương tiện hiện đại để nhận diện và đấu tranh hiệu quả ngay từ ban đầu.

Không ít trường hợp, thông tin vì trải qua quy trình biên tập nhiều tầng, khiến phản ứng của lực lượng đấu tranh bị động, “chạy theo sự kiện”, có lúc chưa thật sự tạo được “thế chủ động”.

“Điểm nghẽn” thứ ba: Nguồn lực và cơ chế bảo đảm còn bất cập

Nhiệm vụ nặng nề, nhưng điều kiện vật chất, chính sách hỗ trợ cho lực lượng đấu tranh vẫn còn rất hạn chế. Nhiều cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn “tay không bắt giặc”, tự trang bị thiết bị, mạng Internet, dữ liệu di động để làm việc. Cơ chế, chính sách động viên, khích lệ, khen thưởng chưa tương xứng với tính chất đặc thù, nguy hiểm của công tác này.

“Điểm nghẽn” thứ tư: Thiếu cơ chế bảo vệ người đấu tranh

Đây là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Một thực tế đáng quan tâm là những người trực diện phản bác thường bị đe dọa, bôi nhọ, thậm chí bị cô lập trong môi trường công tác. Khi bị vu khống hoặc kiện cáo, họ chưa nhận được sự bảo vệ kịp thời từ tổ chức, rất dễ rơi vào trạng thái tâm lý bất an, khi được “minh oan” lại rơi vào hoàn cảnh “được vạ thì má đã sưng”. Điều đó làm suy giảm tinh thần đấu tranh, chỉ dám “múa gậy trong bị”, bảo vệ và đấu tranh cầm chừng.

Phá “điểm nghẽn” như thế nào?

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục chủ trương: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Vì vậy, một trong những vấn đề đặt ra cấp bách là phải phá vỡ các điểm nghẽn nêu trên, để công tác này thực sự đạt hiệu quả cao nhất, với những giải pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chủ thể, lực lượng đấu tranh

Cấp ủy, tổ chức đảng, Ban chỉ đạo 35 các cấp phải quán triệt sâu sắc cần nâng cao nhận thức về ý nghĩa sống còn của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và thấy rõ những điểm nghẽn để kịp thời hóa giải.

Tạo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của các chủ thể, lực lượng trong nhận diện và đấu tranh; trong đó, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu phải chủ động phối hợp với cơ quan báo chí, đơn vị chức năng, tổ chức chính trị - xã hội, để hình thành “thế trận tư tưởng thống nhất”.

Cần kết hợp giữa lực lượng chuyên trách và bán chuyên trách; giữa nhà lý luận với người làm truyền thông; giữa “chiến sĩ tư tưởng” và “chiến sĩ công nghệ”. Khi toàn hệ thống chính trị cùng chung tiếng nói, sức lan tỏa của công tác đấu tranh sẽ mạnh hơn gấp bội.

Mỗi cá nhân, cơ quan, đơn vị cần có kế hoạch đấu tranh cụ thể, xác định trọng tâm, trọng điểm, phân công trách nhiệm rõ ràng; khơi dậy tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào, ý chí xung kích trong mỗi cán bộ, đảng viên - những người đang ngày đêm giữ vững “trận địa tư tưởng” của Đảng.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm và bảo vệ người đấu tranh

Phải có cơ chế đãi ngộ, khen thưởng, hỗ trợ vật chất và tinh thần xứng đáng với nhiệm vụ đặc biệt này. “Cuộc chiến” này không chỉ đòi hỏi tri thức, mà còn là sự dũng cảm, bền bỉ và chấp nhận rủi ro. Vì vậy, cần có quy định pháp lý rõ ràng bảo vệ người trực tiếp đấu tranh; tuyệt đối không để các lực lượng tiên phong này “đơn thương, độc mã” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Cùng với đó, Đảng và Nhà nước cần nghiên cứu, bổ sung chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tham gia lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng, nhất là các chuyên gia công nghệ, chuyên viên an ninh mạng, nhà báo, nhà khoa học trẻ, chuyên gia lý luận hàng đầu. Các cơ quan báo chí, nền tảng truyền thông số cần tăng cường sản xuất nội dung tích cực, sáng tạo, hấp dẫn, có tính lan tỏa cao. Khi thông tin chính thống chiếm lĩnh không gian mạng, thì luận điệu sai trái tự khắc bị đẩy lùi.

Không công nghệ nào thay thế được trí tuệ con người. Lực lượng làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng cần được đào tạo toàn diện về lý luận chính trị, truyền thông, công nghệ và tâm lý xã hội. Đặc biệt, cần quan tâm thế hệ trẻ - những người am hiểu công nghệ, năng động, sáng tạo - để họ trở thành lực lượng xung kích trên không gian mạng. Đồng thời, xây dựng cơ chế tôn vinh, bảo vệ, khích lệ người tham gia đấu tranh, giúp họ yên tâm, tự tin, giữ vững khí tiết và bản lĩnh.

Ba là, đầu tư nguồn lực, phương tiện hiện đại

Trong thời đại số, nếu không có công cụ mạnh, không thể đấu tranh hiệu quả. Cần đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trung tâm dữ liệu, công cụ, phần mềm phân tích nhận diện thông tin xấu độc, công cụ quản lý nội dung số; khắc phục tình trạng “tay không bắt giặc” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đồng thời, đẩy mạnh truyền thông tích cực, lan tỏa giá trị nhân văn, tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác này.

Bên cạnh đó, cần tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phản bác, khai thác thông tin, viết bài lý luận, phản biện xã hội; kết hợp huấn luyện tác chiến trên không gian mạng cho các lực lượng 35 toàn quốc.

Phá “điểm nghẽn”, cởi “nút thắt” chính là hành động tự đổi mới của Đảng trên mặt trận tư tưởng. Khi cơ chế, chính sách thông thoáng; khi người đấu tranh được bảo vệ và khích lệ; khi mỗi cán bộ, đảng viên đều ý thức được vai trò của mình - thì công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch chắc chắn sẽ đạt được hiệu quả cao hơn, bền vững hơn.

Ứng dụng công nghệ hiện đại, chủ động tấn công địch trên không gian mạng. Đấu tranh tư tưởng trong kỷ nguyên số không thể “đánh tay không”. Cần chủ động ứng dụng công nghệ (AI, Big Data) để giám sát, phân tích, dự báo, nhận diện sớm các chiến dịch truyền thông chống phá. Bên cạnh đó, hình thành các trung tâm dữ liệu chiến lược, nhóm phản ứng nhanh, đội ngũ chuyên gia công nghệ, phối hợp với nhà lý luận, báo chí, an ninh mạng để xử lý, phản bác kịp thời.

Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, nếu chủ động nắm bắt, dự báo đúng xu hướng, phản ứng nhanh bằng lý lẽ sắc bén, chúng ta có thể chuyển từ “phòng thủ” sang “tấn công”, chiếm lĩnh trận địa tư tưởng.

Bốn là, củng cố “thế trận tư tưởng” trong kỷ nguyên số

Không gian mạng hôm nay không chỉ là môi trường giao tiếp, mà đã trở thành “mặt trận tư tưởng” sôi động và phức tạp nhất. Ở đó, từng dòng trạng thái, từng video, từng bình luận đều có thể là “viên đạn bọc đường” tác động vào nhận thức từng người và toàn xã hội. Cuộc chiến này không tiếng súng, nhưng nóng bỏng từng giờ. Nó đòi hỏi sự tỉnh táo, kiên định và bản lĩnh của mỗi người - nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Vì vậy, cần xây dựng "thế trận nhân dân" trên không gian mạng. Không thể chỉ trông chờ vào lực lượng chuyên trách, mà mỗi đảng viên, mỗi công dân yêu nước đều có thể là “chiến sĩ”, biến sức mạnh của toàn dân thành lá chắn vững chắc trước mọi thông tin xấu độc, tạo “bức tường thành” vững chắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thực chất là một nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng; một nội dung quan trọng của bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể; trong đó, nhất thiết nhận diện và hóa giải những “điểm nghẽn” nêu trên như là một giải pháp có tính đột phá./.
Khuyết danh ST.

“MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG - THỦ ĐOẠN THÂM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

BÀI 2: GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM HÀNG ĐẦU!
(Tiếp theo và hết)

     V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Điều quan trọng đối với chúng ta là thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai tham gia vào việc quản lý nhà nước. Đó là một nhiệm vụ rất mực khó khăn. Nhưng một thiểu số người, tức là đảng, không thể thực hiện chủ nghĩa xã hội (CNXH) được. Chỉ có hàng chục triệu người, khi đã học được cách tự mình thiết lập CNXH, thì mới có thể thực hiện được CNXH”.

Trong bối cảnh, yêu cầu và điều kiện mới của đất nước, để ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trong đó có thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị-tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với vận mệnh và sự phát triển của đất nước, dân tộc.

Đây là giải pháp rất quan trọng, giữ vai trò quyết định. Công tác giáo dục chính trị-tư tưởng là con đường, phương thức chủ yếu để xác lập, truyền bá và phát triển hệ tư tưởng của Đảng; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; tạo nên sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; đồng thời là vũ khí sắc bén tấn công lại sự phá hoại của các thế lực thù địch, phản động. V.I.Lênin từng nói: “Phải làm cho các cơ quan quyền lực trong thực tế là cơ quan quản lý phục vụ những người lao động biến thành cơ quan quản lý do những người lao động”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: Công việc thành hay bại một phần lớn là do tư tưởng.

Hiện nay, trước những yêu cầu mới của cách mạng và thách thức ngày càng lớn của cuộc đấu tranh tư tưởng-lý luận, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị-tư tưởng cho các tầng lớp nhân dân phải tiếp tục tăng cường. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác này là đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; xây dựng sự đồng thuận, thống nhất cao về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Quá trình nâng cao nhận thức phải gắn liền với bồi đắp tình cảm, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), tạo nên sự kết nối vững chắc “ý Đảng với lòng dân”; phải giúp cho nhân dân thấy rõ vị trí, vai trò trung tâm của mình trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời ý thức được trách nhiệm của mình trong việc tham gia bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ.

Trong giai đoạn mới, công tác giáo dục chính trị-tư tưởng phải không ngừng đổi mới cả về nội dung, hình thức, biện pháp; làm cho nội dung giáo dục trở nên gần gũi với thực tiễn đời sống; hình thức, biện pháp linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và nhận thức của từng đối tượng; gắn tuyên truyền, giáo dục với thuyết phục, động viên, khuyến khích các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tạo nên đời sống chính trị sôi động, hăng hái trong toàn dân.

Hai là, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân.

Trong nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là phương tiện để bảo vệ và hiện thực hóa các quyền, lợi ích chính đáng của người dân. Do đó, pháp luật, cơ chế, chính sách phải được thiết kế theo hướng “vì dân”, phản ánh đúng yêu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân; đồng thời tạo điều kiện để người dân có thể tham gia thực chất vào các quá trình ra quyết định, từ việc xây dựng chủ trương, chính sách đến thực thi và giám sát việc thực hiện.

Phải thể chế hóa đầy đủ và đồng bộ các nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” vào hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, cần gắn việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách với quá trình tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị. Trong bài viết “Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư) chỉ rõ: “Để có dân chủ thực chất thì bên cạnh việc phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện theo các tiêu chí của nhà nước pháp quyền XHCN thì sự vận hành hiệu quả của hệ thống chính trị cũng phải đáp ứng, phù hợp với nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, pháp luật”.

Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt ở cấp cơ sở để phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân.

Cấp cơ sở là nơi trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, là tuyến đầu trong tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây cũng là nơi quyền dân chủ của người dân được thể hiện rõ nét nhất, song cũng dễ bị xâm phạm nhất nếu bộ máy yếu kém, vận hành kém hiệu quả. Trong bối cảnh sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, việc đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở càng phải đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và trách nhiệm nêu gương của cấp ủy, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng sát thực tiễn, gần dân và đáp ứng yêu cầu của nhân dân.

Bộ máy hành chính chỉ thật sự “vì dân” khi không chỉ “gần dân” về địa lý, mà còn “gần dân” trong tư duy, phong cách, phương thức vận hành, biết lắng nghe, thấu hiểu và giải quyết kịp thời, thỏa đáng những nguyện vọng chính đáng của người dân. Việc xây dựng và nâng cao năng lực hoạt động của chính quyền cơ sở phải được coi là khâu đột phá trong quá trình tinh gọn tổ chức, bao gồm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, cải tiến quy trình làm việc, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, tăng cường công khai, minh bạch và thiết lập cơ chế để người dân tham gia giám sát một cách thực chất. Chỉ khi cấp xã thực sự đủ năng lực, trách nhiệm và gần dân, thì phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mới trở thành hiện thực. Đây cũng là giải pháp căn cơ để củng cố niềm tin, nâng cao ý thức chính trị của nhân dân, góp phần vô hiệu hóa thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng mà các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện.

Bốn là, nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức phục vụ nhân dân, tạo niềm tin và sự hài lòng của người dân đối với nhà nước và chính quyền các cấp.

Thực tiễn cho thấy, sự thờ ơ, vô cảm chính trị của một bộ phận người dân không chỉ bắt nguồn từ tác động của các thế lực thù địch mà còn từ những trải nghiệm tiêu cực trong quá trình tiếp xúc, làm việc với những cán bộ thoái hóa biến chất, nhũng nhiễu, quan liêu, xa dân. Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, năng lực, đạo đức và trách nhiệm công vụ là giải pháp then chốt nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị, vô hiệu hóa các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng, xuyên tạc của kẻ thù. 

Để đáp ứng yêu cầu đó, trước hết cần chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, không dừng ở bằng cấp, chứng chỉ mà thể hiện ở năng lực thực thi công vụ, khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn phức tạp, nhất là ở cấp cơ sở. Người cán bộ không thể chỉ “đúng quy trình”, mà phải “hiểu việc”, “thuộc dân”, “sát dân”, “vì dân”. Cùng với đó, cần kiên quyết chấn chỉnh đạo đức công vụ, đấu tranh với biểu hiện vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, “hành là chính”, làm xói mòn niềm tin của nhân dân. Một bộ máy mà ở đó người dân phải xin xỏ để được phục vụ, phải “biết điều” mới được việc thì không thể là bộ máy dân chủ, càng không thể là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

Vì vậy, phải xác lập nguyên tắc lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của bộ máy và của từng cán bộ, công chức. Muốn vậy, cần chuyển tư duy quản lý từ “mệnh lệnh hành chính” sang “phục vụ và đối thoại”, từ áp đặt từ trên xuống sang lắng nghe từ dưới lên; đồng thời thiết lập cơ chế để nhân dân trực tiếp tham gia giám sát, đánh giá cán bộ thông qua các kênh khảo sát độc lập, phản biện xã hội, tiếp xúc cử tri và đối thoại định kỳ tại cơ sở. Chỉ khi cán bộ thực sự chịu sự giám sát của nhân dân thì trách nhiệm mới không còn hình thức, đạo đức công vụ mới không chỉ là khẩu hiệu, và niềm tin chính trị của nhân dân mới được củng cố vững chắc.

Năm là, tăng cường quản lý các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, kịp thời loại bỏ những nội dung xấu độc, tiêu cực, “trong lành hóa” môi trường mạng.

Hiện nay, không gian mạng đang trở thành môi trường lý tưởng cho các thế lực phản động, cơ hội chính trị, các phần tử cực đoan lợi dụng để tung tin giả, kích động chống phá, gieo rắc tâm lý tiêu cực, hoài nghi, thậm chí thù ghét chế độ. Nếu không quản lý tốt, không kịp thời “lọc độc-kháng độc”, thì không gian mạng sẽ trở thành “vùng nhiễm độc mềm”, đầu độc tư tưởng, gây rối loạn nhận thức, xói mòn lòng tin của nhân dân. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên là tăng cường năng lực quản lý, giám sát và điều tiết không gian mạng, cả về mặt thể chế pháp luật lẫn công nghệ kỹ thuật. Phải có những quy định chặt chẽ, đồng bộ về trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội, các tổ chức cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, bảo đảm chủ quyền số quốc gia. Đồng thời, cần phát triển công cụ giám sát, cảnh báo sớm, xử lý nhanh, gỡ bỏ kịp thời các thông tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, kích động thù hận, vi phạm thuần phong mỹ tục, xâm hại đến an ninh tư tưởng và văn hóa.

Cần xây dựng chiến lược chủ động sử dụng mạng xã hội như một công cụ để khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm công dân, nhất là với thế hệ trẻ. Không chỉ là tuyên truyền một chiều, mà phải đổi mới nội dung, phương thức, phong cách truyền thông từ khô cứng sang sinh động, từ hàn lâm sang gần gũi, từ áp đặt sang đối thoại, từ phòng thủ sang chủ động “chiếm lĩnh trận địa thông tin”. Các cơ quan báo chí, truyền thông chính thống tăng cường hiện diện trên mạng xã hội, xây dựng đội ngũ “người phát ngôn số”, KOLs chính luận, lan tỏa thông điệp tích cực bằng nhiều hình thức sáng tạo, hấp dẫn, gắn với những giá trị văn hóa truyền thống, những nét đẹp của con người Việt Nam.

Có thể nói, “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng là thủ đoạn thâm hiểm và đầy tinh vi mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện nhằm làm suy yếu nền tảng tư tưởng, bào mòn lòng tin và triệt tiêu sức đề kháng của người dân. Đấu tranh với thủ đoạn này không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và từng công dân yêu nước. Cảnh giác, chủ động nhận diện và phản bác, đồng thời không ngừng nâng cao dân trí, bồi đắp lòng tin, củng cố bản lĩnh chính trị chính là “lá chắn” vững chắc để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững con đường đi lên CNXH./.
Khuyết danh ST.

“MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG - THỦ ĐOẠN THÂM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

BÀI 1: TÍNH CHẤT TINH VI, NGUY HIỂM CỦA THỦ ĐOẠN “MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG!

     Nhận thức, tình cảm, niềm tin và trách nhiệm chính trị của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) là yếu tố có ý nghĩa sống còn, quyết định trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của đất nước. Nhận rõ điều đó, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tấn công vào tư tưởng của nhân dân bằng những thủ đoạn tinh vi, nhằm làm sai lệch nhận thức, phai nhạt niềm tin, lệch lạc thái độ chính trị, từng bước phá vỡ trận địa tư tưởng của Đảng từ bên trong. Trong đó, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị là đặc biệt nguy hiểm, cần được nhận diện và đấu tranh kiên quyết.

Thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng là sự tấn công một cách có chủ đích của các thế lực thù địch thông qua các cách thức, biện pháp kín đáo, ngấm ngầm, gián tiếp nhằm làm suy giảm nhận thức, phai nhạt tình cảm, biến đổi niềm tin chính trị của nhân dân, làm cho người dân từng bước rơi vào trạng thái thờ ơ, vô cảm chính trị, suy giảm và mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Nói cách khác, đây là thủ đoạn làm tan rã niềm tin của nhân dân bằng con đường phi cưỡng bức, dùng yếu tố phi chính trị để từng bước chi phối tư tưởng chính trị; không tạo ra sự đối đầu trực tiếp, không kích động bạo lực hay biểu hiện rõ ràng ngay lập tức, mà lặng lẽ len lỏi vào tư duy, làm thay đổi thái độ và hành vi của người dân đối với các vấn đề chính trị-xã hội của đất nước. Chính vì vậy, thủ đoạn này rất khó nắm bắt, khó nhận biết.

Ở nước ta hiện nay, thủ đoạn làm “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng đang được các thế lực thù địch thực hiện thông qua những hình thức chủ yếu sau:

Cổ xúy lối sống tránh xa chính trị, không cần chính trị: Đây là biểu hiện cơ bản, phổ biến và rất nguy hiểm, bởi nó tấn công trực tiếp vào nhận thức và quan niệm của quần chúng về vai trò của chính trị trong đời sống. Bằng phương thức chung của thủ đoạn “mềm hóa”, các thế lực thù địch không trực tiếp kêu gọi nhân dân “tránh xa chính trị”, mà chúng thường thông qua các luồng truyền dẫn thông tin khác nhau để tạo ra sự đối lập giữa chính trị với đời sống, khiến cho người dân dần có cảm giác chính trị là những công việc “to lớn”, “đại sự”, là công việc của Nhà nước, của một nhóm nhỏ nhà lãnh đạo, còn nhân dân chỉ cần lo đời sống cá nhân. Chúng tán phát những “triết lý” kiểu như “cuộc sống là hữu hạn, vô thường, sẽ thật là hoài phí nếu không biết hưởng thụ”, từ đó khiến cho người dân, nhất là giới trẻ không còn hứng thú với chính trị, coi đó là việc nặng nề, nhàm chán. Lâu dần, sự xa rời chính trị sẽ tạo thành lối sống thờ ơ, vô cảm chính trị trong các tầng lớp nhân dân.

Gieo rắc tư tưởng sợ chính trị, ngại chính trị: Nếu như phương thức thứ nhất nhằm làm cho quần chúng không quan tâm đến chính trị thì phương thức này tập trung vào việc tạo ra tâm lý e dè, sợ hãi khi nhắc đến các vấn đề chính trị-xã hội. Lợi dụng và xuyên tạc những vụ án xét xử các tổ chức, cá nhân phản động, chống phá chính quyền nhân dân (mà chúng gọi là “tù nhân lương tâm”), các thế lực thù địch ra sức truyền bá những quan điểm cho rằng ở Việt Nam “không có dân chủ”, “mọi thứ đều bị kiểm soát”, gieo rắc tâm lý cho rằng “chính trị là nguy hiểm, không nên dính dáng”, “nói về chính trị có thể bị trừng phạt”.

Cùng với đó, chúng tìm cách suy diễn, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền phát ngôn của nhân dân như Luật Tiếp cận thông tin; Luật Báo chí; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước; Luật An ninh mạng..., khiến một bộ phận người dân hiểu sai, nảy sinh tâm lý e ngại, hoang mang, sợ bị liên lụy khi bày tỏ chính kiến. Lâu dần, tâm lý “tự kiểm duyệt” hình thành, khiến cho nhiều người chọn im lặng trước cái sai, cái xấu. Khi sợ hãi và thờ ơ lan rộng, xã hội sẽ thiếu những tiếng nói bảo vệ lẽ phải, tạo khoảng trống để tư tưởng sai trái dễ dàng thâm nhập, lan tỏa.

Gieo rắc tâm lý bất lực chính trị: Đây là thủ đoạn mang tính chất phá hoại niềm tin từ bên trong, làm cho quần chúng dần chấp nhận thái độ buông xuôi trước các vấn đề chính trị-xã hội. Các thế lực thù địch tuyên truyền rằng “chính trị là chuyện riêng của quan chức, tiếng nói của dân đen không có ý nghĩa gì”, rằng “mọi thứ đã an bài”, “bầu cử chỉ là hình thức”, “dân chủ chỉ là thủ đoạn”... từ đó làm suy yếu động lực tham gia chính trị của người dân.

Chúng lợi dụng những bất cập, khó khăn trong quá trình phát triển đất nước để khuếch đại sự thất vọng, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bế tắc, khiến quần chúng mất niềm tin vào khả năng cải thiện và phát triển của chế độ. Khi tâm lý bất lực chính trị lan rộng, xã hội sẽ trở nên thụ động, nhân dân không còn muốn đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, không còn tin vào khả năng kiến tạo và phát triển của đất nước. Đây chính là bước đệm nguy hiểm dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy yếu nội lực của chế độ từ bên trong.

Gieo rắc tâm lý tìm kiếm sự mới mẻ chính trị: Thực tiễn cho thấy, không ai hoàn toàn vô cảm với chính trị theo nghĩa tuyệt đối thờ ơ hay không quan tâm đến các vấn đề chính trị-xã hội. Sự thờ ơ, vô cảm chính trị thực chất là một dạng thái độ, một dạng phản ứng chính trị được lựa chọn có chủ đích của những người đang gặp khủng hoảng về niềm tin chính trị.

Đây là lúc người ta dễ tìm đến những luồng tư tưởng chính trị trái chiều nhất. Chính vì vậy, sau khi gieo vào quần chúng tâm lý bất lực, mất động lực, mất niềm tin với chế độ chính trị hiện tại của đất nước, bước tiếp theo các thế lực thù địch thực hiện là kích thích sự tò mò đối với những “giải pháp thay thế” được chúng khéo léo gợi ý, đề xuất.

Thông qua các phương tiện, nhất là mạng xã hội, chúng vẽ nên một bức tranh hào nhoáng về các thể chế chính trị phương Tây, khẳng định rằng chỉ có đa nguyên, đa đảng mới mang lại dân chủ, tự do thực sự. Chúng cố tình so sánh phiến diện, tô hồng những mô hình chính trị ngoại lai trong khi bóp méo, xuyên tạc con đường phát triển của Việt Nam, làm cho một bộ phận quần chúng, đặc biệt là giới trẻ, nảy sinh tâm lý hoài nghi, muốn “đổi mới” bằng cách thử nghiệm những mô hình xa lạ. Đây là một thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó không chỉ làm xói mòn niềm tin vào con đường XHCN mà còn tạo ra những nguy cơ bất ổn về tư tưởng, mở đường cho các hoạt động chống phá mang tính chất lật đổ.

Nhìn tổng thể, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị không phải là những hành động rời rạc, mà là một chiến lược được các thế lực thù địch triển khai có tổ chức, đồng bộ và tinh vi nhằm từng bước làm suy yếu ý thức chính trị của quần chúng nhân dân. Khi ý thức chính trị bị “mềm hóa”, hệ lụy trở nên đặc biệt nguy hiểm: Nhân dân dần đánh mất ý thức về quyền, nghĩa vụ công dân, thờ ơ với việc tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, đồng thời làm suy giảm tinh thần trách nhiệm xã hội, làm xói mòn đạo đức, gia tăng chia rẽ và bất đồng. Đáng lo ngại hơn, khoảng trống niềm tin chính trị sẽ trở thành môi trường thuận lợi để các quan điểm sai trái, thù địch thâm nhập, chuyển hóa dần từ thờ ơ sang chống đối, đe dọa trực tiếp sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia.

Nhìn vào thực tiễn lịch sử, có thể nhận thấy, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng vốn dĩ đã được các thế lực thù địch, phản động sử dụng như một phương thức hữu hiệu để chống phá các nước XHCN. Nghiên cứu sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, người ta đã tìm ra những bằng chứng xác thực về một chiến lược chống phá “dài hơi” mà Mỹ và các lực lượng phản động đã tiến hành nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng XHCN trong xã hội Xô viết lúc bấy giờ.

Trong suốt cuộc “Chiến tranh lạnh”, đặc biệt là vào những năm 80, 90 của thế kỷ 20, âm mưu của Mỹ và các thế lực thù địch nhằm tạo ra sự thờ ơ, vô cảm chính trị trong nhân dân Liên Xô là một phần của chiến lược rộng lớn làm suy yếu và cuối cùng là lật đổ hệ thống Xô viết. Một trong những công cụ quan trọng trong chiến lược này là “Dự án Harvard”, được thực hiện trong giai đoạn cải tổ, với mục tiêu làm suy yếu hệ tư tưởng Mác-Lênin và thay thế nó bằng một hệ tư tưởng khác. Đây không chỉ là sự can thiệp vào nhận thức mà còn là cuộc chiến tranh tâm lý nhằm làm cho cả lãnh đạo Liên Xô lẫn quần chúng không nhận thức được sự nguy hiểm từ bên ngoài và không đủ khả năng đối phó.

Phương Tây còn dày công xây dựng cả một ngành khoa học gọi là ngành Kremli học, chuyên nghiên cứu những đặc điểm cá nhân và khả năng tiềm ẩn của những nhân vật chủ chốt trong giới lãnh đạo ở Liên Xô, từ đó thao túng họ theo hướng có lợi cho lợi ích của phương Tây. Vào những năm cải tổ, Mỹ đã phát triển tới 285 trung tâm “Xô viết học” chuyên thu thập thông tin, hoạch định kế hoạch làm suy yếu, tiến tới lật đổ Liên Xô. Những nỗ lực này không chỉ tập trung vào giới lãnh đạo mà còn tác động đến quần chúng, khiến họ trở nên thờ ơ, mất đi sự quan tâm và trách nhiệm đối với các vấn đề chính trị và xã hội.

Đặc biệt, không thể không nhắc đến Chỉ lệnh NSDD-75, được Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan ban hành tháng 1-1983, trong đó xác định rõ những cách thức tấn công vào mặt trận tư tưởng Xô viết nhằm tạo ra một trào lưu vô cảm chính trị trong xã hội, khiến người dân, đặc biệt là giới trẻ, xa rời các vấn đề chính trị, mất niềm tin vào chế độ. Bằng những thủ đoạn chống phá hết sức bài bản, tinh vi và thâm độc ấy, phương Tây, đứng đầu là Mỹ đã thành công trong việc gây mất ổn định nhận thức, mất thái độ trách nhiệm công dân vốn có của người dân Liên Xô đối với những đổi thay của đất nước, biến quần chúng chỉ còn là đám đông thuần túy, khiến cho Đảng và chính quyền Xô viết không còn điểm tựa, dẫn tới sụp đổ nhanh chóng.

Thực tiễn lịch sử ấy là lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai có thái độ chủ quan trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; cho những ai còn hoài nghi về việc có hay không một âm mưu khiến cho nhân dân ta bị sao nhãng, thờ ơ, vô cảm chính trị; cho những ai còn nghĩ rằng “thế lực thù địch” chỉ đơn thuần là một “bóng ma” mà những người làm chính trị đang tự huyễn hoặc. Bất cứ khi nào chúng ta mất cảnh giác trước kẻ thù, quên đi việc nhận diện những âm mưu phá hoại đang ẩn giấu thì khi đó, kẻ thù đã tiến thêm được một bước trên con đường phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Lời dạy của V.I.Lênin vẫn chưa bao giờ cũ: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác,... thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”./.
(còn nữa)
Khuyết danh ST.