Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 4: GIẢI PHÁP LÀM thất bại mưu đồ “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI 
(Tiếp theo và hết)

     Âm mưu “dân sự hóa” Quân đội được các thế lực thù địch đẩy mạnh với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, mềm hóa và khó nhận diện. Trước tình hình đó, việc triển khai đồng bộ các giải pháp chính trị, pháp lý, tư tưởng, truyền thông và nghiên cứu chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm bảo vệ bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Củng cố nền tảng chính trị - pháp lý

Pháp luật là công cụ thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng, đồng thời là nền tảng quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế lãnh đạo đối với Quân đội. Bất kỳ sự điều chỉnh nào trong lĩnh vực pháp lý, nếu không được kiểm soát chặt chẽ, đều có thể dẫn tới nguy cơ làm biến dạng tổ chức, suy giảm năng lực chỉ huy và suy yếu cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội. Thực tiễn lịch sử, nhất là bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô cho thấy, “phi chính trị hóa” Quân đội khởi đầu từ những thay đổi tưởng như mang tính kỹ thuật nhưng được lồng ghép có chủ ý trong hệ thống pháp luật và chính sách.

Quá trình xây dựng pháp luật gồm nhiều khâu, nhiều chủ thể tham gia. Mỗi khâu đều có thể trở thành “cửa mở” để các thế lực thù địch cài cắm nội dung sai trái dưới danh nghĩa "dân chủ", "nhân quyền" hoặc “chuẩn mực quốc tế”. Vì vậy, toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật liên quan đến Quân đội và quân sự, quốc phòng phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng. Vai trò của cấp ủy các cấp, nhất là trong Quân đội, cần được phát huy ngay từ khâu đề xuất chủ trương, định hướng chính sách; thực hiện nghiêm cơ chế thẩm tra chính trị đối với các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm thống nhất với Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng là yêu cầu khách quan của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, song không đồng nghĩa với “dân sự hóa” hay tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, quản lý nhà nước hiệu quả nhằm bảo đảm Quân đội hoạt động đúng chức năng, phát huy sức mạnh tổng hợp trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đồng thời tôn trọng tính đặc thù của hoạt động quân sự; tránh đánh đồng quản lý quân sự với quản lý hành chính dân sự thuần túy. Việc tham chiếu, tiếp thu tiêu chuẩn và kinh nghiệm quốc tế chỉ có ý nghĩa khi đặt trên nền tảng lợi ích quốc gia-dân tộc và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Do đó, cần tỉnh táo, thận trọng trước các hoạt động “tư vấn lập pháp”, “hỗ trợ kỹ thuật” từ một số tổ chức nước ngoài, vốn có thể tìm cách lồng ghép các khái niệm, tiêu chuẩn mang màu sắc “xã hội dân sự” hoặc mô hình “kiểm soát dân sự” theo kiểu phương Tây vào các dự thảo luật.

Quốc hội, với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cần thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa yêu cầu quản lý nhà nước và nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội; kiên quyết loại bỏ những biểu hiện có nguy cơ dẫn đến “phi chính trị hóa” Quân đội trong quá trình xây dựng luật.  

Minh bạch hóa, chuẩn hóa quy trình xây dựng pháp luật là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ bị thao túng, tác động không minh bạch. Việc đẩy mạnh số hóa quy trình lập pháp, công khai tài liệu dự thảo trong phạm vi phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng tăng cường giám sát, kịp thời phát hiện sai sót, đề xuất sửa đổi các quy định bất cập. Giám sát xã hội giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm tính minh bạch, khách quan của quá trình xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động góp ý, phản biện cần được thực hiện đúng phạm vi, nguyên tắc, không để ảnh hưởng đến bí mật quân sự, an ninh quốc gia.

Nhân tố con người giữ vai trò quyết định, đặc biệt trong xây dựng pháp luật-lĩnh vực đòi hỏi bản lĩnh chính trị, trí tuệ và độ chính xác cao. Vì vậy, cần xây dựng đội ngũ cán bộ pháp chế vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, tinh thông về chuyên môn. Trọng tâm là tuyển chọn cán bộ giàu kinh nghiệm thực tiễn; tăng cường đào tạo kỹ năng lập pháp, kiến thức quốc phòng, an ninh, năng lực đấu tranh phản bác quan điểm sai trái; đồng thời đẩy mạnh luân chuyển giữa cơ quan tham mưu và cơ sở để gắn lý luận với thực tiễn.

Xây dựng “lá chắn tư tưởng”, chính quy, kỷ luật vững mạnh từ bên trong  

Âm mưu “dân sự hóa” Quân đội chủ yếu tác động vào nhận thức, quan điểm và lập trường chính trị của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Do đó, đấu tranh tư tưởng là mặt trận quyết định, gắn chặt với phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần được đổi mới mạnh mẽ theo hướng thiết thực, sinh động, gắn với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và đời sống bộ đội; cập nhật kịp thời các biểu hiện mới của chiến tranh thông tin và âm mưu chống phá giúp mỗi quân nhân nâng cao khả năng tự nhận diện, tự bảo vệ mình trước thông tin xấu độc. Để mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, rõ ràng, không mơ hồ, ảo tưởng trước các khuynh hướng tư tưởng lệch lạc về xã hội dân sự và xu hướng, âm mưu “dân sự hóa” Quân đội. Giáo dục chính trị phải đi đôi với quản lý tư tưởng, kỷ luật, giữ vững trận địa chính trị tinh thần trong từng cơ quan, đơn vị.  

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, không gian mạng trở thành mặt trận trọng yếu. Tất cả các cơ quan báo chí, nhất là báo chí Quân đội, cần giữ vai trò nòng cốt trong việc làm rõ bản chất chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam; khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi; đồng thời kiên quyết phản bác các luận điệu phi lý về “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị”. Cần nghiên cứu, làm rõ các biểu hiện của “xã hội dân sự” gắn với xu hướng “dân sự hóa” Quân đội, qua đó nhận diện đúng mục tiêu, bản chất và thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang theo đuổi. Trên cơ sở đó, kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, vạch trần những ý đồ ẩn sau cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội vì dân, chịu sự quản lý của nhân dân, “dân chủ”, “nhân quyền” hay chia sẻ quyền lãnh đạo, quản lý Quân đội. Nắm chắc hoạt động của các tổ chức phản động, tổ chức chính trị đội lốt xã hội dân sự xuyên tạc, chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội và kích động tư tưởng “dân sự hóa” Quân đội; triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh cả về lý luận và thực tiễn để ngăn chặn, đẩy lùi những nhận thức sai lệch về xã hội dân sự. Đấu tranh, xử lý nghiêm các hội, nhóm mạo danh xã hội dân sự hoạt động trái phép, xâm hại an ninh quốc gia và làm tổn hại uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Nếu pháp luật và sự lãnh đạo của Đảng là “phòng tuyến chính trị-pháp lý”, thì chính quy, kỷ luật chính là nội lực, là tuyến phòng thủ từ bên trong, giúp cán bộ, chiến sĩ luôn vững vàng, không bị hướng lái bởi các luận điệu sai trái. Các cơ quan, đơn vị cần nâng cao chất lượng xây dựng chính quy; tăng cường quản lý tư tưởng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị, phải nêu gương về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và tác phong công tác; xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, kỷ cương, dân chủ. Quản lý chặt chẽ nhưng phải gần gũi, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của bộ đội để định hướng đúng đắn, không để các thế lực thù địch móc nối chống phá từ bên trong.

Khi cán bộ chính trị làm tốt vai trò “người dẫn đường về tư tưởng”; từng cán bộ, chiến sĩ nêu cao ý thức tự giác chấp hành kỷ luật, Quân đội sẽ trở thành khối thống nhất vững chắc, trận địa chính trị tinh thần được giữ vững, không thế lực nào có thể tác động từ bên ngoài hay chia rẽ từ bên trong.  

Thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, xây dựng kinh tế với phương châm: Phục vụ quốc phòng là mục tiêu hàng đầu, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và quốc phòng, củng cố tiềm lực đất nước, hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội. Doanh nghiệp Quân đội phải giữ vững kỷ luật, môi trường rèn luyện, bản chất quân sự; không để lợi ích kinh tế chi phối mục tiêu chính trị, quân sự; không để tư duy thị trường thuần túy làm phai nhạt môi trường quân sự đặc thù; kiên quyết xử lý các sai phạm, không để các thế lực thù địch lợi dụng sai phạm cá biệt để quy chụp, xuyên tạc bản chất Quân đội, từ đó kêu gọi “dân sự hóa” các hoạt động quân sự. Đồng thời, đẩy mạnh minh bạch hóa, công khai tài chính trong khuôn khổ quy định bảo mật để nhân dân hiểu và giám sát, không để kẻ xấu lợi dụng sự thiếu thông tin để tung tin đồn thất thiệt.

Phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng “thế trận tư tưởng toàn dân” 

Đấu tranh làm thất bại âm mưu “dân sự hóa” Quân đội trong tình hình mới cần được triển khai một cách bài bản, hệ thống, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Trong đó, cơ quan tuyên giáo các cấp, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị trong Quân đội giữ vai trò nòng cốt trong tham mưu, tổ chức và dẫn dắt đấu tranh. Hệ thống tuyên giáo làm nhiệm vụ định hướng, điều phối, chủ động xây dựng nội dung, phương thức tuyên truyền phù hợp, triển khai giáo dục thống nhất, kịp thời phát hiện và phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Đội ngũ cán bộ chính trị là lực lượng xung kích, trực tiếp quản lý, nắm bắt, định hướng tư tưởng bộ đội; kịp thời phát hiện, xử lý các biểu hiện lệch chuẩn.

Quá trình đấu tranh cần được tổ chức chặt chẽ, thống nhất giữa các lực lượng tạo sức mạnh tổng hợp, hình thành “thế trận tư tưởng toàn dân”. Phát huy vai trò của truyền thông đại chúng, báo chí Quân đội làm nòng cốt. Với lợi thế am hiểu sâu sắc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bám sát thực tiễn hoạt động quân sự và đời sống bộ đội, báo chí Quân đội không chỉ kịp thời phản bác các thông tin sai trái mà còn chủ động định hướng dư luận, lan tỏa hình ảnh, truyền thống, sứ mệnh và đóng góp của Quân đội. Các lực lượng cần phối hợp nhịp nhàng, nâng cao năng lực dự báo, phản ứng thông tin, tổ chức thành một mặt trận thống nhất, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh phản bác và truyền thông tích cực. Tăng cường giáo dục quốc phòng, an ninh cho toàn dân, nhất là thế hệ trẻ; giúp họ hiểu đúng chính nghĩa dân tộc, bản chất, chức năng, tính chất nhiệm vụ của Quân đội, cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, từ đó không bị tác động bởi các luận điệu xuyên tạc núp bóng “cải cách”, “văn minh” hay “chuẩn mực quốc tế”.

Để đáp ứng yêu cầu đó, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền; kết hợp giữa thông tin truyền thống và truyền thông hiện đại; khai thác hiệu quả các nền tảng mạng; tăng cường sản phẩm trực quan, dễ tiếp cận; chú trọng đào tạo kỹ năng truyền thông số, nâng cao năng lực phân tích, phản biện cho lực lượng chuyên trách. Khi công tác tuyên giáo, truyền thông đi trước một bước, chủ động dự báo và định hướng, trận địa tư tưởng sẽ được giữ vững, không để khoảng trống thông tin cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Trong bối cảnh chiến tranh thông tin ngày càng phức tạp, các luận điệu cổ xúy “dân sự hóa” Quân đội thường được ngụy trang tinh vi dưới vỏ bọc học thuật, cải cách hay chuẩn mực quốc tế. Điều đó đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường trong nghiên cứu, dự báo và phản biện khoa học, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Với chức năng nghiên cứu, các cơ quan này có khả năng nhận diện sớm xu hướng mới, sự điều chỉnh chiến lược và thủ đoạn tác động của các thế lực thù địch đối với Quân đội. Kết quả nghiên cứu phải được chuyển hóa thành các luận cứ khoa học và báo cáo tham mưu có giá trị thực tiễn, phục vụ hiệu quả cho việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ từ sớm, từ xa. Trong môi trường thông tin đa chiều, nhiều quan điểm sai trái, thù địch được che đậy dưới hình thức nghiên cứu hay phân tích chính sách, đòi hỏi phải kịp thời bóc tách, chỉ rõ tính phi lý, phản khoa học và nguy hại của chúng. Mặt khác, đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm bảo vệ Quân đội trước nguy cơ thẩm thấu từ bên ngoài, từ hoàn thiện pháp luật, củng cố cơ chế lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đến tăng cường kỷ luật, xây dựng chính quy và năng lực quản lý nhà nước về quốc phòng. Phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu chiến lược chính là tăng cường sự gắn kết giữa nghiên cứu-tham mưu-hành động trong đấu tranh chống âm mưu “dân sự hóa” Quân đội./.
Ảnh minh họa: Hơn 300 chiến sĩ của Trung đoàn 98 và các đơn vị của Sư đoàn 316, Quân khu 2 phối hợp cùng cảnh sát cơ động, biên phòng tỉnh Lào Cai và 5 chó nghiệp vụ tham gia tìm kiếm người mất tích sau lũ quét tại thôn Làng Nủ, xã Phúc Khánh (tháng 9-2024).
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 3: NHỮNG BIẾN TƯỚNG TINH VI CỦA ÂM MƯU “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI

     Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, nếu như trước đây, các thế lực thù địch, phản động thường tấn công trực diện, thô thiển vào vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, thì nay chúng đã chuyển sang một phương thức mới tinh vi hơn, mềm mỏng hơn nhưng thâm độc gấp bội. Đó là cổ xúy cho trào lưu “dân sự hóa” quân đội. Được tiếp sức bởi “cơn bão” công nghệ số, âm mưu này càng tạo ra những “cái bẫy” nhận thức nguy hiểm.

“Ma trận” công nghệ trong kỷ nguyên số

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt, không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” là yêu cầu tất yếu khách quan. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định mục tiêu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” sớm hơn một nhiệm kỳ so với Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định. Vậy nhưng, bất chấp thực tiễn lịch sử và những thành tựu to lớn đó, các thế lực thù địch lại cố tình “đi ngược chiều”, ra sức đẩy mạnh truyền bá cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội. Thực chất, đây là một biến tướng nham hiểm, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa”, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Sự nguy hiểm của âm mưu này nằm ở chỗ nó được cộng hưởng bởi sức mạnh của công nghệ trong kỷ nguyên số.

Mặt trận tấn công đầu tiên chính là công tác tư tưởng trên không gian mạng. Các thế lực thù địch sử dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) để thu thập dữ liệu hành vi của người dùng mạng xã hội, đặc biệt nhắm vào nhóm sĩ quan trẻ, học viên quân sự, thanh thiếu niên và trí thức. Thông qua các thuật toán của Facebook, YouTube, TikTok..., chúng tạo ra các “buồng vang thông tin” (Echo Chamber). Khi một người dùng tiếp cận các nội dung về quân sự, trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ tự động điều hướng và hiển thị dày đặc các bài viết, video ca ngợi mô hình quân đội phương Tây. Chúng lặp đi lặp lại thông điệp: Quân đội phương Tây hùng mạnh vì họ “đứng ngoài chính trị”, “trung lập” và có bộ trưởng quốc phòng là dân sự. Sự lặp lại có chủ đích này tạo ra một ảo giác nhận thức, khiến người xem lầm tưởng rằng “dân sự hóa” là xu thế văn minh của nhân loại, từ đó nảy sinh tâm lý so sánh, hoài nghi về cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch, phản động còn tận dụng công nghệ deepfake để tấn công vào niềm tin của bộ đội và nhân dân. Chúng cắt ghép, dàn dựng các video giả mạo về đời sống bộ đội với những hình ảnh tiêu cực, bịa đặt các vụ việc “bê bối”, “tham nhũng” hoặc “bạo lực” trong doanh trại. Mục đích của thủ đoạn này nhằm “giải thiêng”, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín của Quân đội. Từ sự mất niềm tin đó, chúng dẫn dắt dư luận đến yêu sách: Cần phải “dân sự hóa” công tác quản lý, phải để các tổ chức dân sự giám sát Quân đội thì mới minh bạch, công khai...

Lật tẩy những “vỏ bọc” ngôn từ

Một trong những luận điểm cốt lõi mà các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền là: Quân đội chuyên nghiệp phải “trung lập về chính trị”, chỉ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật chứ không phục vụ đảng phái nào. Đây là một sự lừa mị trắng trợn về mặt lý luận và thực tiễn. Thêm nữa, chúng cố tình đồng nhất hai khái niệm hoàn toàn khác nhau: “Hiện đại hóa về vũ khí, trang bị” và “Thay đổi về bản chất chính trị”. Chúng lập luận rằng, trong chiến tranh công nghệ cao, yếu tố quyết định là vũ khí tối tân và trình độ kỹ thuật, do đó, cần giảm bớt hoặc xóa bỏ hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị để bộ máy “tinh gọn”, “chuyên nghiệp”. Qua đó, nhằm tước bỏ “linh hồn” của Quân đội ta. Chúng muốn biến QĐND Việt Nam thành một đội quân “robot”, chỉ biết kỹ thuật mà vô cảm về chính trị, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thực chất, cái gọi là “quân đội trung lập”, “quân đội phi chính trị” ở phương Tây lại không bao giờ đứng ngoài chính trị. Ở các nước tư bản phát triển, quân đội tuyệt đối phục tùng quyền lực của giai cấp tư sản cầm quyền. Quân đội của các nước này không chỉ được dùng vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc mà còn tham chiến tại các quốc gia khác nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở nơi đó các chính quyền thân phương Tây, có lợi cho phương Tây. Đơn cử, trong nhiều thập niên trở lại đây, giới tướng lĩnh quân đội các nước phương Tây công khai can dự vào đời sống chính trị của nhiều nước có độc lập chủ quyền như Nam Tư, Afghanistan, Iraq, Libya...

Chiêu trò xuyên tạc các doanh nghiệp Quân đội

Âm mưu “dân sự hóa” của chúng không chỉ dừng lại ở lý luận chung chung mà còn tấn công trực diện vào chức năng cơ bản của QĐND Việt Nam. Với mục đích phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất” hòng phá vỡ thế trận quốc phòng, chúng đưa ra lý lẽ: “Quân đội chuyên nghiệp thì chỉ biết cầm súng, không được làm kinh tế”. Chúng lợi dụng một số sai phạm cá biệt của cá nhân trong hoạt động kinh tế (đã bị xử lý nghiêm) để quy chụp thành bản chất, đòi xóa bỏ các doanh nghiệp Quân đội. Chúng cố ý lờ đi sự thật rằng các đơn vị kinh tế-quốc phòng của ta đang đóng quân ở những nơi "đầu sóng ngọn gió”, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Sự hiện diện của Quân đội ở đó không chỉ để làm kinh tế, mà là để bảo vệ dân, giữ đất, bảo vệ biển, đảo, củng cố “thế trận lòng dân”, làm thất bại âm mưu bạo loạn lật đổ. Đòi “dân sự hóa” hoạt động này thực chất là muốn ta bỏ trống các địa bàn chiến lược. Đối với chức năng “đội quân công tác”, chúng xuyên tạc rằng đây là việc của chính quyền, Quân đội làm việc này là “sai chức năng”, “lãng phí nguồn lực huấn luyện”. Thậm chí, khi bộ đội dầm mình trong mưa lũ cứu dân, chúng còn dùng từ ngữ xúc phạm là “diễn”, “làm màu”. Mục đích của chúng là muốn tách rời mối quan hệ máu thịt “cá-nước” giữa Quân đội và nhân dân, biến Quân đội thành một lực lượng biệt lập, quan liêu, xa rời thực tiễn xã hội.

Thẩm thấu tư tưởng “quân đội trung lập”

Tiếp đến, QĐND Việt Nam chủ động mở rộng hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là trụ cột then chốt trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình, giúp Quân đội ta học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch cũng lợi dụng chính quá trình này để “thẩm thấu” tư tưởng “quân đội trung lập”. Chúng tung ra luận điệu rằng việc Quân đội cử sĩ quan học tập, công tác tại nước ngoài, trong đó có các quốc gia áp dụng mô hình “kiểm soát dân sự đối với quân đội”, thì sự “cọ xát” này dần làm phai nhạt nhận thức, gieo mầm tư tưởng “phi chính trị” và “tư bản hóa”; việc QĐND Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, diễn đàn quân sự, quốc phòng khu vực và quốc tế là “không phù hợp”, “vì lợi ích riêng” hoặc do “sức ép” từ bên ngoài, chứ không phải vì trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Thực tế, Việt Nam đến nay đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, trong đó có 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả nước lớn. Đồng thời, QĐND Việt Nam cũng tham gia và đóng góp hiệu quả vào các cơ chế của Liên hợp quốc về phát triển, gìn giữ hòa bình (đã cử hơn 1.100 lượt cán bộ, nhân viên tới các phái bộ gìn giữ hòa bình và trụ sở Liên hợp quốc) và ứng phó với an ninh phi truyền thống; cử lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Myanmar...

Âm mưu “chuyển hóa” hệ thống tư pháp quân đội

Mũi tấn công nguy hiểm khác là nhắm vào hệ thống kỷ luật và các mối quan hệ đặc thù trong nội bộ Quân đội, hòng làm tan rã sức mạnh đoàn kết. Thực tế cho thấy, một quân đội muốn mạnh phải có kỷ luật thép. Các thế lực thù địch, phản động hiểu rõ điều này và chúng đang tập trung tấn công vào “thanh bảo kiếm” duy trì kỷ luật của QĐND Việt Nam, đó là hệ thống tư pháp Quân đội (tòa án quân sự, viện kiểm sát quân sự, cơ quan điều tra hình sự). Chúng lợi dụng việc Đảng, Quân đội ta quyết liệt chống tham nhũng, xử lý hàng loạt vụ án lớn, trong đó có nhiều bị cáo là cán bộ mang quân hàm cao cấp, rồi la lối rằng hệ thống tư pháp quân sự là “vùng cấm”, “bao che nội bộ”. Từ đó, chúng đưa ra yêu sách đòi “dân sự hóa” hệ thống tư pháp, tức là xóa bỏ các cơ quan tư pháp đặc thù này, với mục đích là phá vỡ công cụ chuyên biệt để duy trì kỷ luật, xử lý các tội phạm đặc thù trong môi trường quân sự. Vậy nhưng, việc tồn tại hệ thống tư pháp quân sự là thông lệ quốc tế, không phải “vùng cấm”. Ngay cả các nước phương Tây mà chúng ca ngợi, như Mỹ, Anh, Canada... đều duy trì hệ thống tòa án quân sự riêng biệt. Các cải cách gần đây của họ, như Mỹ sửa đổi Bộ luật Thống nhất về Tư pháp Quân sự (UCMJ) vào năm 2022, là để tăng tính độc lập cho công tố viên và quy định rõ hơn các hành vi phạm tội, chứ không hề xóa bỏ hệ thống này. Chính việc các tòa án quân sự của ta công khai, công bằng, nghiêm minh xét xử không có “vùng cấm” là bằng chứng đanh thép nhất chống lại luận điệu “bao che” của các thế lực thù địch.

Luận điệu “quân đội cũng chỉ là một nghề mưu sinh”

Bên cạnh các đòn tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng, các thế lực thù địch, phản động còn triệt để lợi dụng mặt trái của cơ chế thị trường để thúc đẩy âm mưu “dân sự hóa” quân đội. Chúng gieo rắc tâm lý “làm công ăn lương”, đánh tráo bản chất thiêng liêng của Bộ đội Cụ Hồ thành một mối quan hệ lao động thuần túy, với luận điệu: Quân nhân cũng chỉ là một “nghề” mưu sinh trong xã hội giống như bác sĩ, kỹ sư hay công nhân; từ đó cho rằng, đã là một nghề nghiệp thì phải tuân theo quy luật cung-cầu và được đối xử theo luật lao động dân sự. Từ tiền đề sai lệch đó, chúng cổ xúy cho những tư tưởng cực kỳ nguy hiểm: Đòi hỏi quân nhân phải có “quyền đình công” để đòi quyền lợi, có quyền “từ chối mệnh lệnh” nếu mệnh lệnh đó gây bất lợi cho cá nhân hoặc không tương xứng với thù lao; và yêu cầu mọi hoạt động quân sự phải được “hợp đồng hóa” minh bạch về lợi ích. Mục đích của chúng là tước bỏ tính chất “lực lượng vũ trang nhân dân”, xóa nhòa ranh giới giữa cống hiến, hy sinh và giao dịch thương mại, biến Quân đội thành một tập đoàn cung cấp dịch vụ an ninh đơn thuần. Bản chất của hoạt động quân sự là sự hy sinh, gian khổ, là đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên tính mạng cá nhân. Khi tâm lý “làm công ăn lương” xâm nhập vào cán bộ, chiến sĩ, nguy cơ lớn nhất là sự phai nhạt lý tưởng “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Nguy hiểm hơn cả, tâm lý này đe dọa phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong QĐND Việt Nam là quan hệ đồng chí, đồng đội, anh em, gắn kết bằng tình thương yêu giai cấp và mục tiêu, lý tưởng chung. Tuy nhiên, luận điệu “dân sự hóa” muốn biến mối quan hệ thiêng liêng này thành quan hệ giữa “người sử dụng lao động” (cấp ủy, chỉ huy) và “người lao động” (bộ đội). Khi đó, mệnh lệnh của người chỉ huy không còn là “quân lệnh như sơn”, từ đó không chỉ làm xói mòn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cao đẹp mà còn trực tiếp đe dọa đến sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Những vấn đề trên đều dẫn đến một mục tiêu cuối cùng, nguy hiểm nhất của âm mưu “dân sự hóa” quân đội, đó là làm cho quân đội “tê liệt” khi xảy ra các biến động chính trị, các cuộc bạo loạn lật đổ. Khi quân đội, vốn là công cụ bạo lực mạnh nhất và là “thanh gươm và lá chắn” của một giai cấp, một chế độ đã sinh ra nó, không hành động, thì về bản chất, quân đội bị "tê liệt" về chức năng. Đây chính là điều các thế lực thù địch mong chờ nhất. Chúng biết rằng không thể thắng nếu đối đầu trực diện với một quân đội thống nhất, trung thành. Kế hoạch của chúng chỉ có thể thành công khi quân đội mất phương hướng, nghĩa là “thanh gươm” bảo vệ chế độ đã bị bẻ gãy. Chúng muốn QĐND Việt Nam đi vào vết xe đổ của các bài học lịch sử, trở thành một "quân đội trung lập” hoặc đứng nhìn chế độ sụp đổ./.
Ảnh minh họa.
(còn nữa)
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 2: VẤN ĐỀ “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ!

     Luận điệu “dân sự hóa” quân đội liên tục được các thế lực thù địch và một số học giả thiếu thiện chí cổ xúy như một mô hình “tiến bộ” của phương Tây. Tuy nhiên, cả lý luận lẫn thực tiễn đều cho thấy quân đội không bao giờ tồn tại tách rời chính trị hay đứng ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền. Các thủ đoạn núp bóng cải cách, minh bạch hay tinh gọn đều nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, vô hiệu hóa sức mạnh quân đội và tạo “lỗ hổng” về quốc phòng.

Thực chất của cái gọi là “dân sự hóa” quân đội ở phương Tây

Theo Đại tá, TS Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị, dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, giới lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của 3 nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” đã được luật hóa thì việc của quân đội tất yếu do phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng hay phe phái quân sự nào. Đơn cử như tại Mỹ, giới làm luật thường viện dẫn Hiến pháp quy định Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân, hải quân và lực lượng dự bị ở một số bang; Bộ trưởng Quốc phòng là quan chức dân sự và các quy định hạn chế quân nhân tham gia chính trị, để cổ xúy cho mô hình “dân quản quân”, “quân đội phi giai cấp, đứng ngoài chính trị”.

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy điều nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” đó, thậm chí vấp phải sự phản đối của chính học giả phương Tây-những người không thuộc trường phái Mác-xít. Trong công trình khoa học “50 từ then chốt của xã hội học”, nhà xã hội học Jean Golfin cho rằng: “Tầm quan trọng của chức năng quân sự bắt nguồn từ sự gần gũi của nó với quyền lực chính trị: Nó là sức mạnh phục vụ cho chính trị, chống lại sự đe dọa ở bên ngoài”.

Nhấn mạnh yếu tố chính trị là khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp và gắn liền với nhà nước; không thể có một quân đội trong nhà nước tư sản mà lại không phục vụ lợi ích của chính nhà nước đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và bản chất giai cấp của quân đội, giới cầm quyền truyền bá hệ tư tưởng của mình qua giáo dục mang tính định hướng và áp dụng nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ chế kiểm soát trong toàn lực lượng. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền, trước đây gọi là Cơ quan Thông tin và Giáo dục quân đội (AFIS) và hiện nay chuyển thành nhiều cơ quan như Cơ quan Hoạt động Truyền thông Quốc phòng (DMA), Cơ quan Quan hệ công chúng (PA) và Cơ quan Tác chiến tâm lý (MISO) thuộc Bộ Chiến tranh với cùng mục đích là tiến hành công tác tư tưởng, giáo dục tinh thần binh sĩ... Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan tương tự. 

Vì lẽ đó, “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội chỉ là hình thức chứ không làm thay đổi bản chất quân đội phục vụ giai cấp thống trị. Trong nhà nước tư sản, quyền lực vẫn thuộc về giai cấp tư sản, nên quân đội-dù được tuyên bố “trung lập”-vẫn phục vụ cho lợi ích của họ. Việc thay nhau cầm quyền giữa các đảng ở Mỹ chỉ thay đổi đường lối quản trị chứ không làm thay đổi chế độ chính trị đã được Hiến pháp quy định. Các chính đảng ở Mỹ vẫn can dự mạnh mẽ vào cả lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lĩnh vực quân sự. Minh chứng là trong lịch sử Mỹ, ngoại trừ Tổng thống đầu tiên George Washington không thuộc đảng phái nào, các tổng thống còn lại đều đại diện cho các đảng phái chính trị và thực thi đường lối của đảng mình khi đắc cử. Việc Mỹ và một số nước quy định Bộ trưởng Quốc phòng phải là người dân sự chỉ là sử dụng quan chức dân sự thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quân sự. Đây không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội và càng không phải tách quân đội khỏi chính trị. Hơn nữa, quy định này cũng không được áp dụng tuyệt đối, vì vẫn có những cựu quân nhân chưa đủ thời gian xuất ngũ theo luật nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng (năm 1950, 2017).

Thực tế đời sống chính trị ở một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy, chính phủ và các đảng phái đều tìm cách tranh thủ sự ủng hộ và hậu thuẫn về mặt chính trị từ quân đội. Trong nhiều cuộc đảo chính, lực lượng nào kiểm soát hoặc được quân đội ủng hộ thường chiếm ưu thế quyết định trong việc nắm quyền.

Trung Quốc ứng phó với các thủ đoạn thúc đẩy “dân sự hóa” quân đội

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, GS, TS Thành Hán Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khu vực và Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc), cho biết mặc dù chỉ tác động ở mức độ nhỏ, trào lưu tư tưởng sai lệch đó vẫn từng tồn tại nhất định trong xã hội Trung Quốc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phải cảnh giác. Một số trí thức thường dẫn chứng mô hình của các nước phương Tây để ca ngợi “lợi ích” của cái gọi là “quốc gia hóa quân đội”. Họ lợi dụng các hội thảo, mạng xã hội, diễn đàn và bài viết để tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, gây nhiễu loạn nhận thức dư luận. Một số trí thức từng du học nước ngoài càng tích cực cổ xúy cho luận điệu này.     

Theo Đại tá, ThS Vũ Văn Khanh, nguyên Trưởng ban Quốc tế, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, các thủ đoạn chống phá đối với quân đội Trung Quốc tập trung vào một số lĩnh vực then chốt, như: Xuyên tạc tổ chức, biên chế quân đội, với luận điệu cho rằng mô hình hiện nay “cồng kềnh, lạc hậu” và có thể được thay thế bằng các lực lượng dân sự. Dưới vỏ bọc “cải cách quân đội” hay “tinh gọn biên chế”, chúng tài trợ các nghiên cứu, hội thảo quốc tế để hợp thức hóa quan điểm “giảm vai trò quân đội thường trực”, từng bước tác động vào nhận thức và tạo nền tảng lý luận cho âm mưu dân sự hóa. Đồng thời, chúng lợi dụng những hạn chế, sự cố trong huấn luyện và quản lý để chỉ trích mô hình tổ chức quân đội, kêu gọi “tách quân đội khỏi hệ thống chính trị”. Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề ngân sách, thổi phồng “chi phí quân sự” nhằm gây sức ép cắt giảm nguồn lực, tư nhân hóa các chức năng then chốt và làm gia tăng sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài.

Đặc biệt, chúng tiến công vào hệ thống tư pháp quân đội Trung Quốc bằng cách khai thác sai phạm nội bộ, rò rỉ tài liệu, vận động các cơ chế quốc tế chất vấn tính hợp pháp của hoạt động tố tụng, từ đó làm suy giảm uy tín và quyền tự chủ tư pháp quân đội. Cùng với đó, chúng thúc đẩy cơ chế giám sát dân sự, đề xuất chuyển một số thẩm quyền xử lý sang hệ thống tư pháp dân sự hoặc quốc tế, nhằm từng bước làm xói mòn tính đặc thù và vai trò của quân đội trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (đây là âm mưu thâm độc đang được kẻ thù thúc đẩy ở Việt Nam và nhiều nước khác).

Mục tiêu của những hoạt động chống phá này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội; làm suy yếu bản chất chính trị, tư tưởng và tính giai cấp của lực lượng vũ trang; từng bước biến quân đội thành lực lượng “phi chính trị”, “trung lập”, chỉ phục vụ lợi ích quốc gia theo quan điểm phương Tây; qua đó làm suy giảm sức mạnh chính trị, khả năng chiến đấu và ổn định chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc.

Trung Quốc coi các luận điểm như “quân đội quốc gia hóa”, “quân đội dân sự hóa” là mối đe dọa trực tiếp tới sự ổn định chính trị và sức mạnh quân đội. Dù thúc đẩy kết hợp quân sự-dân sự, nước này khẳng định đây không phải là việc thay thế quân đội bằng lực lượng quần chúng mà là phát huy sức mạnh toàn xã hội trên nền tảng một quân đội chính quy, chuyên nghiệp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Trung Quốc triển khai các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, truyền thông và công nghệ nhằm bảo đảm quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng và không bị tác động bởi xu hướng “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa”.

Bản chất chính trị của quân đội và những luận điệu cần bác bỏ từ thực tiễn Việt Nam

Nhà lý luận quân sự nổi tiếng của nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) thế kỷ 19 Clausewitz từng nêu luận điểm được thừa nhận như một chân lý trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn vô sản: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác”. Thừa nhận bản chất chính trị của chiến tranh, tất yếu phải thấy rằng không có quân đội nào “đứng ngoài chính trị” hay “không liên quan đến chính trị”. Mọi cuộc chiến tranh đều nhằm đạt mục tiêu chính trị nhất định; quân đội của các bên tham chiến đều do lực lượng cầm quyền tổ chức, giáo dục và sử dụng để thực hiện mục tiêu đó.

Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị là yêu cầu khách quan, tồn tại ở mọi loại hình quân đội. Điểm khác nhau nằm ở cách đặt vị trí của xây dựng chính trị trong tổng thể xây dựng quân đội-đặc biệt là so với hiện đại hóa vũ khí, trang bị-và mức độ công khai bản chất cũng như nội dung giáo dục chính trị.

Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn lịch sử đều khẳng định: Quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng do giai cấp nắm quyền lãnh đạo tổ chức nên, là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích và vị thế của giai cấp đó. Tính chất của nhà nước như thế nào thì quân đội-lực lượng bảo vệ nhà nước-mang bản chất tương ứng đến đó.    

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, ra đời trước khi chính quyền cách mạng được thiết lập. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là nguyên tắc căn bản đã được hiến định mà còn là nhân tố quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Vì vậy, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời.   

Từ lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định giai cấp vô sản muốn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới phải có quân đội đủ mạnh, thường xuyên được nâng cao sức chiến đấu để trở thành thành trì vững chắc trước mọi âm mưu xâm lược. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực phức tạp hiện nay, tăng cường tiềm lực quốc phòng và hiện đại hóa Quân đội để tự vệ chính đáng và giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết. Đây không phải là điều “không cần thiết”, “lãng phí” hay “gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân” như luận điệu chống phá. Trái lại, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước; điều kiện, khả năng và đồng thuận xã hội trong mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Mặt khác, đặt trong mối quan hệ giữa “xây dựng” và “bảo vệ”, môi trường hòa bình, ổn định chính là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, xã hội, xem nhẹ đầu tư cho quốc phòng đồng nghĩa với việc hạ thấp nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhất thiết phải được đầu tư tương xứng để bảo đảm sức mạnh, khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, chủ trương đầu tư hiện đại hóa Quân đội được Đảng, Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp. Quân đội phát huy nội lực, sử dụng ngân sách hiệu quả cho nhiệm vụ này.

Đánh đồng hoạt động quân sự với hoạt động chuyên môn của cơ quan dân sự thuần túy, từ đó đòi “công khai hoạt động quân sự như dân sự”, là sự đánh tráo về bản chất giữa hai loại hình tổ chức hoàn toàn khác nhau. Quân đội là lực lượng vũ trang của Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh vũ lực-lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và sự tồn vong quốc gia. Các hoạt động của Quân đội, từ huấn luyện, bố trí lực lượng đến xây dựng kế hoạch tác chiến... đều mang tính bí mật, không thể và không bao giờ được công khai như hoạt động dân sự. Thông lệ quốc tế và nhiều bộ luật đều xác lập rõ nguyên tắc bảo mật trong lĩnh vực quốc phòng, bởi chỉ cần để lộ một phần nhỏ thông tin cũng có thể tạo ra nguy cơ chiến lược. Việc đòi hỏi Quân đội vận hành “công khai” như cơ quan dân sự thực chất không phải để tăng minh bạch mà nhằm vô hiệu hóa cơ chế phòng thủ, làm suy giảm sức mạnh răn đe, phá vỡ tính kỷ luật, bí mật quân sự.   

Một kiểu đánh đồng khác là quy chụp việc Quân đội tham gia lao động sản xuất là “làm kinh tế thuần túy”. Cần thấy rằng, “vừa chiến đấu, vừa sản xuất”, trong đó chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm; lao động, sản xuất là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần phát triển kinh tế, giảm gánh nặng cho nhân dân và tăng cường tiềm lực quốc phòng, là chức năng, truyền thống của Quân đội ta. Chỉ nói “Quân đội làm kinh tế” không thôi, rồi đánh đồng với các tổ chức kinh tế dân sự khác là không phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động này. Quân đội tham gia lao động sản xuất trước hết phục vụ quốc phòng, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiệu quả của các đoàn kinh tế-quốc phòng trong tạo sinh kế, xóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư; các doanh nghiệp Quân đội sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng phục vụ quốc phòng và dân sinh... là minh chứng rõ nét cho điều này./.
Ảnh minh họa: Khối nữ chiến sĩ Thông tin tham gia nhiệm vụ A80.
(còn nữa)
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 1: BẢN CHẤT, ÂM MƯU VÀ NHỮNG NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆT NAM!

     LTS: Thời gian qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều phương diện, trong đó Quân đội luôn là mục tiêu trọng điểm. Một trong những mũi tiến công nguy hiểm nhất là luận điệu đòi “dân sự hóa” quân đội với những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm. Đáng lo ngại là nhận thức về vấn đề này trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Vì vậy, việc kịp thời nhận diện, phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm này là nhiệm vụ cấp thiết trong nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng hiện nay.

Bản chất “dân sự hóa” quân đội

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương: “Dân sự hóa” quân đội là thuật ngữ dùng để chỉ xu hướng chuyển hóa quân đội từ lực lượng vũ trang mang chức năng chính trị - quân sự đặc thù sang mô hình tương tự tổ chức dân sự, thông qua việc làm giảm vai trò, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; coi quân đội như một thiết chế trung lập trong đời sống xã hội; chỉ tuân theo pháp luật, không tuân theo sự lãnh đạo của Đảng.

Thực chất, nội dung cốt lõi của “dân sự hóa” quân đội bao gồm các quá trình: Thay đổi chức năng quân sự sang chức năng và mục tiêu dân sự hoặc phi quân sự, phi vũ trang, chịu sự kiểm soát, quản lý của tổ chức dân sự. Giảm hoặc loại bỏ tính chính trị và sự lãnh đạo của chủ thể cầm quyền là Đảng Cộng sản, người chỉ huy cao nhất trong quân đội là dân sự, không phải là tướng lĩnh. Phi trung tâm hóa cơ chế chỉ huy, kỷ luật và quản lý quân đội, chẳng hạn biến bộ tổng tham mưu như một tổ chức xã hội, phủ nhận vai trò của cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp. Đồng nhất quân đội với tổ chức dân sự về vị trí, vai trò và tính chất hoạt động; đòi công khai các hoạt động quân sự như dân sự. Biến đổi mục tiêu sử dụng lực lượng từ bảo vệ quốc gia sang phục vụ lợi ích phi quốc phòng.

Trên thế giới, quan điểm “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội, “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” thường xuất hiện ở các nước có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Để tránh quân đội can dự vào các tranh chấp chính trị, các nhà nước tư sản quy định quân đội phải “đứng trên đảng phái”, "đứng ngoài đảng phái", chịu sự chỉ huy trực tiếp của nguyên thủ quốc gia mà không chịu sự lãnh đạo hay chi phối của bất kỳ đảng phái nào. Ở mỗi nước, cách thức thực hiện và nội hàm cụ thể của vấn đề “dân sự hóa” quân đội có sự khác biệt, nhưng điểm chung là khẳng định quân đội phải là lực lượng vũ trang của quốc gia, phục vụ lợi ích đất nước.

Dựa trên “học thuyết phân quyền”, giới lập pháp ở nhiều nước đã ban hành hàng loạt đạo luật với kỳ vọng tách bạch quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Trên cơ sở đó, họ tin rằng chế định “dân sự quản lý quân sự” được luật hóa sẽ bảo đảm mọi vấn đề của quân đội đều do lực lượng dân sự quyết định, không liên quan tới bất kỳ đảng phái hay thiết chế quân sự nào.

Ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện lợi ích của giai cấp và của nhân dân lao động. Vì vậy, quân đội được lãnh đạo trực tiếp bởi đảng của giai cấp công nhân. Chính điều này khiến các nước tư bản lo ngại và tìm cách làm suy yếu vai trò lãnh đạo ấy bằng cách cổ xúy luận điệu “dân sự hóa” quân đội nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Đối với Việt Nam, đây là một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Thực chất của luận điệu này nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về chính trị, chúng phủ nhận vai trò của các tổ chức đảng, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về pháp lý-tổ chức, chúng xuyên tạc rằng Quân đội là công cụ của toàn xã hội, “sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không mang bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, chỉ chịu sự quản lý của các thiết chế dân sự và phải được “dân sự hóa” triệt để.

Mục tiêu của các thế lực thù địch là gây nhiễu loạn nhận thức, lung lạc ý chí, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; làm sai lệch mục tiêu xây dựng và chiến đấu, tạo ra sự hoài nghi về chức năng, bản chất và vai trò của Quân đội ta; nhạt hóa niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Xa hơn là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, khiến Quân đội phai nhạt bản chất cách mạng và suy giảm sức mạnh chiến đấu bảo vệ Đảng, Tổ quốc và nhân dân để dễ bề can thiệp, thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Âm mưu, thủ đoạn “dân sự hóa” quân đội

“Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân”, cho nên các thế lực thù địch lợi dụng vào đó để ngụy biện rằng Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải phụng sự nhân dân, do nhân dân chỉ huy, quản lý; Quân đội không phụ thuộc vào một đảng phái nào mà là của chung nhân dân, dân tộc. Chúng còn đưa ra những yêu sách phi lý như đòi công khai toàn bộ vấn đề quân sự, quốc phòng, ngân sách quốc phòng; đòi nhân dân được giám sát và quyết định các vấn đề quân sự; xuyên tạc chủ trương hiện đại hóa Quân đội, bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế-quốc phòng của Quân đội. Chúng tìm cách gieo rắc lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, coi thường kỷ luật, thờ ơ chính trị nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ để dễ bề thúc đẩy “tự chuyển hóa” từ bên trong...

Để hiện thực hóa âm mưu đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh những thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm.

Trước hết, chúng tấn công trực diện vào đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, bóp méo cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội.

Dưới chiêu bài “quân đội quốc gia”, “quân đội phục tùng hiến pháp”, các thế lực thù địch đòi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Từ đó, chúng đòi “trao quyền kiểm soát Quân đội” thuần túy cho Quốc hội, Chính phủ như mô hình quân đội các nước tư sản. Chúng còn dẫn chứng những hiện tượng “bề ngoài” để biện hộ cho quan điểm “dân sự hóa quân đội” và “khuyên răn” Việt Nam làm theo, như: Bộ trưởng quốc phòng nhiều nước không phải quân nhân; áp dụng thuyết “tam quyền phân lập”, một số nước đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái... Để tạo sự mơ hồ, dễ bề chuyển hóa khái niệm này, chúng ra sức tô hồng mô hình quân đội các nước tư sản mà bỏ qua một thực tế rõ ràng ở những nước này, các chính đảng nắm quyền vẫn thông qua người của đảng mình nắm giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống chính quyền, chi phối lập pháp, hành pháp, tư pháp và chính sách quân sự, quốc phòng.  

Thứ hai, cố tình bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng của Quân đội.

Bằng những lập luận phiến diện, đánh tráo khái niệm, các thế lực thù địch quy chụp nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng thành “làm kinh tế thuần túy”, rồi từ đó vu cáo Quân đội “lợi ích nhóm”, “đặc quyền đặc lợi” (?!) Từ đó, chúng phủ nhận những đóng góp quan trọng của Quân đội trong lĩnh vực kinh tế, rêu rao rằng Quân đội đã “đánh mất bản chất cách mạng”, bị “tha hóa bởi kinh tế thị trường” nhằm gieo rắc tâm lý nghi ngờ, phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Quân đội.   

Thứ ba, trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, các thế lực thù địch tìm cách cổ xúy lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, thiếu trách nhiệm, xem nhẹ kỷ luật, xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đây là thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó tác động trực tiếp đến nền tảng tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Một khi những biểu hiện này len lỏi vào đời sống quân nhân sẽ là mảnh đất màu mỡ cho mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hình thành; đồng thời tạo điều kiện để các tư tưởng thù địch thâm nhập và từng bước phá vỡ sự trong sạch, vững mạnh của Quân đội.

Thứ tư, đối với chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc rằng đây là khoản đầu tư “lãng phí”, rằng thời bình và để “chống chạy đua vũ trang”, Việt Nam mở rộng đối ngoại, hợp tác quốc tế không còn nguy cơ xung đột, chiến tranh nên không cần hiện đại hóa Quân đội. Dưới chiêu bài “dân chủ”, chúng đòi đưa các vấn đề quân sự, quốc phòng ra bàn luận công khai để nhân dân giám sát và quyết định. Nhằm gieo rắc hoài nghi và chia rẽ trong xã hội, chúng xuyên tạc rằng ngân sách quốc phòng “quá cao” so với nhiều lĩnh vực dân sinh; phủ nhận tính đặc thù của hoạt động quân sự, đánh đồng Quân đội với một cơ quan hành chính thông thường, biến việc quân sự thành việc của dân sự. Từ đó, chúng kêu gọi cắt giảm ngân sách quốc phòng để “tiết kiệm nguồn lực đầu tư cho phát triển” hoặc huy động đơn thuần các nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với đề xuất “dân sự hóa hoạt động quân sự”.

Về phương thức, không gian mạng là “mũi tiến công mềm” được các thế lực thù địch khai thác triệt để. Chúng tung tin giả, cắt ghép hình ảnh xuyên tạc về Quân đội; tạo lập tài khoản ảo, tán phát “thư ngỏ”, “kiến nghị”, “tâm thư” với giọng điệu giả danh trí thức để gây nhiễu loạn nhận thức, thao túng dư luận. Mỗi sự cố nhỏ đều bị thổi phồng nhằm gây chia rẽ nội bộ, kích động bất mãn, hạ thấp hình ảnh Quân đội trong mắt nhân dân. Chúng xuyên tạc việc cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn là “diễn”, rằng “tại sao phải mặc quân phục khi giúp đỡ nhân dân, giúp hay chỉ làm màu, khoe mẽ”... 

Về lực lượng, các thế lực thù địch móc nối với các phần tử cơ hội, tổ chức phản động trong và ngoài nước, được các kênh truyền thông chống phá như BBC, VOA, RFA... "hà hơi, tiếp sức", lôi kéo những người có nhận thức lệch lạc và một bộ phận cư dân mạng dễ bị kích động để lan truyền tin giả, thông tin độc hại. 

Nguy cơ “tự diễn biến” từ vấn đề “dân sự hóa” quân đội

Những âm mưu, thủ đoạn trên nếu không bị đấu tranh và loại bỏ, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Nó thẩm thấu, làm suy yếu từ bên trong đối với vai trò của tổ chức đảng; dẫn đến khoảng trống ý thức hệ, tạo điều kiện cho chủ nghĩa thực dụng, cá nhân chủ nghĩa thâm nhập; bào mòn bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội; hạ thấp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, giảm sút uy tín và niềm tin của Quân đội trong lòng nhân dân.

Một số người chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế trước mắt mà xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đánh đồng Quân đội với cơ quan dân sự về giờ giấc, chế độ đãi ngộ, rồi thổi phồng trên mạng xã hội, tạo thành những luồng dư luận nhiễu loạn, tác động tiêu cực tới tâm lý xã hội.

Từ sự hời hợt trong nhận thức đến thái độ phủ nhận vai trò, chức năng đội quân chiến đấu chỉ cách nhau một bước nhỏ. Và chính sự lệch lạc này trở thành mảnh đất cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Giảm niềm tin vào Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; coi Quân đội như “nghề công chức vũ trang”, không phải lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu của Đảng. Bài học về sự tan rã của Liên Xô đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Khi đó, 5 triệu quân nhân Liên Xô đã hoàn toàn thất thủ trước âm mưu “phi chính trị hóa” của kẻ thù, khoanh tay đứng nhìn nhà nước Xô viết-chính thể sinh ra mình sụp đổ. Hay gần đây, sự sụp đổ của chính phủ nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông trước sức ép của các cuộc bạo loạn chính trị mang tên “Mùa xuân Arab” cũng có nguyên nhân từ việc mất kiểm soát đối với quân đội.

Một biểu hiện đáng lo ngại của “tự diễn biến” hiện nay là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Không ít người đánh giá hời hợt, thậm chí giản đơn những biến động nhanh chóng, phức tạp của môi trường an ninh thế giới và khu vực, nơi các nguy cơ xung đột, tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh chiến lược luôn tiềm ẩn cả nguy hại trực tiếp lẫn lâu dài. Nhận thức lệch lạc ấy dẫn tới thái độ xem nhẹ vai trò của Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh ấy, những “kiến nghị” đòi cắt giảm quân số, giảm ngân sách quốc phòng để dành nguồn lực cho phát triển kinh tế không chỉ đi ngược xu thế chung của thế giới mà còn mâu thuẫn với yêu cầu củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước.

Trong bối cảnh nhiệm vụ quân sự ngày càng nặng nề và tác động phức tạp của đời sống xã hội hiện đại, quân nhân nếu không kiên định lập trường, kém tu dưỡng rèn luyện, sẽ bị cuốn vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó từng bước dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các doanh nghiệp, bên cạnh thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng kinh tế, không nên xem nhẹ vấn đề kỷ luật, duy trì môi trường rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất của quân nhân. Bởi nếu tư duy kinh tế lấn át tư duy quân sự, kỷ luật dễ bị buông lỏng, hoạt động của doanh nghiệp dễ rơi vào xu hướng “dân sự hóa”. Điều này tạo nguy cơ khiến cán bộ, nhân viên dễ bị tác động bởi cám dỗ vật chất, sa sút trách nhiệm, thiếu rèn luyện, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng và hành động./.
Ảnh: Khối xe - pháo quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Quốc khánh 2-9. Ảnh minh họa.
(còn nữa)
Môi trường ST.

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI HỘI XIV DẤU MỐC LỊCH SỬ CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH!

     Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa, Đảng ta sẽ tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi nhanh chóng, sâu sắc, khó lường; trong nước đang triển khai mạnh mẽ các quyết sách chiến lược rất quan trọng, các văn kiện trình Đại hội XIV không chỉ tổng kết chặng đường phát triển 5 năm qua, xác định mục tiêu, nhiệm vụ trong 5 năm tới mà còn định hình tư duy chiến lược, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.

Lần đầu tiên Đảng ta xác định "lý luận về đường lối đổi mới" là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng

Các dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV với kết cấu, nội dung có nhiều đổi mới đã thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, trên cơ sở đó đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đất nước, các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Qua quá trình đưa ra lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên, Nhân dân và các đại biểu Quốc hội, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp xây dựng, hoàn thiện các dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Thông qua việc đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, đã giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu đúng tinh thần các dự thảo Văn kiện, đóng góp hiệu quả vào quá trình thảo luận, hoàn thiện các văn kiện, đồng thời lan tỏa tinh thần đổi mới, khát vọng phát triển và quyết tâm xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Theo Báo cáo “Một số vấn đề mới, quan trọng trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng”, điểm mới của các dự thảo Văn kiện trình Đại hội thể hiện ngay ở từ chủ đề và kết cấu dự thảo Văn kiện. Đơn cử, so với các kỳ Đại hội gần đây, điểm mới nổi bật của Báo cáo chính trị lần này là sự tích hợp nội dung 3 văn kiện, gồm: Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng. Việc tích hợp này thể hiện tinh thần tiếp tục đổi mới về cách xây dựng văn kiện, xuất phát từ thực tiễn mới của đất nước, sự phát triển nhận thức lý luận và tổ chức thực hiện của Đảng, bảo đảm sự nhất quán về nội dung; ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Với vị trí trung tâm trong các dự thảo Văn kiện trình Đại hội, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV lần này đánh dấu một bước nhảy vọt về tư duy phát triển khi chắt lọc, cập nhật các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, các quyết sách chiến lược đột phá trong các nghị quyết của Bộ Chính trị được ban hành từ cuối năm 2024 đến nay, những nghị quyết mang tính chất "đòn bẩy" để vận hành thực hiện ngay trước và sau Đại hội. Đồng thời, đánh giá rõ kết quả thực hiện, bài học về tổ chức thực hiện, khắc phục được điểm yếu cố hữu của nhiều nhiệm kỳ là "tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu". Việc tổng kết nhiệm kỳ Đại hội lần này đã chỉ rõ và khái quát toàn diện những kết quả quan trọng, nổi bật đạt được, đặc biệt là các đột phá chiến lược ở cuối nhiệm kỳ.

Nổi bật nhất là việc sắp xếp tổ chức bộ máy và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp - một quyết định lịch sử, cách mạng, giúp tinh gọn đầu mối, rõ trách nhiệm, mở rộng không gian phát triển, tăng cường hiệu lực quản trị, điều hành từ tỉnh đến cơ sở. Quá trình thực hiện cho thấy rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị gắn với đôn đốc, kiểm tra, giám sát thường xuyên có ý nghĩa quyết định, đặc biệt là cần phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả và có cơ chế giám sát thường xuyên. Nhờ đó, tâm lý "thành tích hình thức" bị đẩy lùi, thay vào đó là tinh thần hướng mạnh về kết quả thực chất, vừa "chạy" vừa "xếp hàng" đúng tiến độ và có hiệu quả.

Về nội dung, dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV đã bổ sung "Lý luận về đường lối đổi mới" là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Cụ thể, quan điểm chỉ đạo thứ nhất trong Dự thảo Báo cáo chính trị viết: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới". Với quan điểm này, lần đầu tiên Đảng ta xác định "lý luận về đường lối đổi mới" là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Việc bổ sung "lý luận về đường lối đổi mới" vào nền tảng tư tưởng của Đảng là một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và bản lĩnh tự đổi mới của Đảng. Đồng thời cho thấy Đảng không giáo điều, không rập khuôn, mà luôn biết kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn, làm giàu thêm kho tàng lý luận - tư tưởng của cách mạng Việt Nam.

Lý luận về đường lối đổi mới là sự vận dụng và phát triển sáng tạo, cụ thể hóa các nguyên tắc, nguyên lý phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn 40 năm Đổi mới ở Việt Nam, thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự đột phá lý luận cơ bản của Đảng ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Việc bổ sung "lý luận về đường lối đổi mới" vào nền tảng tư tưởng của Đảng còn là minh chứng cho thấy sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đặc biệt là khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, sáng suốt của Đảng kiên định con đường XHCN, đồng thời mở ra khả năng phát triển năng động, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Đây chính là ngọn đuốc soi đường tiếp tục dẫn dắt đất nước thực hiện thành công khát vọng, tầm nhìn và các định hướng chiến lược, lập nên những kỳ tích phát triển mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Kinh tế tư nhân - động lực quan trọng nhất của nền kinh tế

Trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV khẳng định: Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thực sự giữ vững vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm các cân đối lớn, định hướng chiến lược, dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng. Đây là một điểm mới rất quan trọng trong dự thảo Văn kiện lần này.

Dự thảo Báo cáo chính trị cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy đầy đủ chức năng và vai trò của từng khu vực kinh tế, nhằm tạo nên bức tranh phát triển toàn diện, bền vững cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Sự phân công, phối hợp và bổ trợ giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học và linh hoạt để khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh riêng của mỗi thành phần kinh tế.

Nhìn lại lịch sử các kỳ Đại hội Đảng có thể thấy, chủ trương, đường lối về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có chuyển biến lớn. Nếu như Đại hội VI "coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ", thì đến Đại hội XII, Đảng ta đánh giá kinh tế tư nhân là một trong các động lực quan trọng của nền kinh tế.

Và tại Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3/6/2017, khẳng định kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Mới đây nhất, ngày 4/5/2025, trong Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Đảng ta khẳng định: "… kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia…".

Việc đặt kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là tiếp cận có tầm chiến lược trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt. Sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp tư nhân đã chứng minh khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo mạnh mẽ và linh hoạt trước biến động thị trường, trở thành nơi thu hút chủ yếu lao động xã hội, nguồn cung cấp đa dạng hàng hóa, dịch vụ và giải pháp công nghệ.

Tuy còn một số hạn chế, tồn tại, kinh tế tư nhân có khả năng huy động nguồn lực đa dạng từ trong nước và quốc tế, nhất là khi Nhà nước hoàn thiện cơ chế tín dụng, chính sách thuế, đất đai, tạo điều kiện bình đẳng cho mọi doanh nghiệp. Kinh tế tư nhân có khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đóng góp lớn vào tăng trưởng và tạo việc làm, thúc đẩy sáng tạo và nâng cao phúc lợi xã hội. Điều này phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin khi coi kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại và kinh tế tư nhân trong chủ nghĩa xã hội là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế.

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Đây là chủ trương mới, quan trọng trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng, nhằm tận dụng tối đa những động lực phát triển không có trần giới hạn. Việc xác định ưu tiên này xuất phát từ tầm nhìn chiến lược đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư, khi công nghệ số và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Đảng ta khẳng định: Chỉ có đột phá mạnh mẽ trong những lĩnh vực này mới giúp Việt Nam bứt phá khỏi giới hạn tăng trưởng truyền thống.

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam là quốc gia đi sau nhưng đang nắm bắt cơ hội để gia nhập hàng ngũ các nền kinh tế số phát triển. Ngay trong nhiệm kỳ Khóa XIII này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia".

Thể chế hóa Nghị quyết này, Quốc hội Khóa XV đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/2/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cùng với đó, Quốc hội cũng ban hành nhiều đạo luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện, đưa chủ trương, quyết sách mới của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Trong đó có các luật, như: Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Luật Công nghiệp Công nghệ số; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử...

Chính phủ, các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở đã và đang triển khai quyết liệt Đề án Chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành quốc gia số vào năm 2030. Tập trung đổi mới cơ chế đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực công nghệ tiên tiến, như: Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và công nghệ sinh học. Đẩy mạnh hình thành các trung tâm sáng tạo, nâng cao khả năng kết nối giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo, đồng thời hoàn thiện khung pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Cơ chế khuyến khích hợp tác công - tư, liên kết quốc tế và đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư giúp tạo lập môi trường năng động cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Bảo đảm an toàn, an ninh mạng được xem là yếu tố nền tảng để chuyển đổi số thành công và bảo vệ lợi ích quốc gia trên không gian số.

Kết quả của đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thể hiện qua việc tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Việt Nam có thể gia tăng chỉ số GDP thêm 1 - 1,5 điểm phần trăm mỗi năm nhờ áp dụng hiệu quả khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế được củng cố thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và khả năng tự chủ trong chuỗi cung ứng. Những sản phẩm, dịch vụ mới định hình từ công nghệ cao và giải pháp số không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tạo sức hút trên thị trường toàn cầu. Việc tham gia sâu vào chuỗi sản xuất quốc tế giúp doanh nghiệp Việt Nam học hỏi công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn quản trị và mở rộng mạng lưới đối tác. Từ đó, vị thế của Việt Nam được nâng cao, trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và giá trị toàn cầu.

Dự thảo Báo cáo Chính trị lần này cũng có rất nhiều điểm mới quan trọng khác, như bổ sung "bảo vệ môi trường" cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ "trung tâm"; bổ sung "đối ngoại, hội nhập quốc tế" cùng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên". Đồng thời, khẳng định quan điểm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển...

Như nhấn mạnh của Tổng Bí thư Tô Lâm, đó là Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nêu "18 điểm mới, những định hướng được coi là đột phá, thể hiện tinh thần dám đổi mới, dám chuyển đổi mô hình phát triển, dám tổ chức lại bộ máy và phương thức vận hành".

Đặc biệt, trong dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV, Đảng ta đã xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính để đạt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên...

Đại hội XIV là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của Đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống nghìn năm văn hiến của Dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và Nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội.

Khẳng định điều này trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 15 Khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị, Trung ương và toàn thể đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục phát huy tinh thần, trách nhiệm đảng viên, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15; tập trung làm tốt công việc thường xuyên, khẩn trương thực hiện những nhiệm vụ còn lại của công tác tổ chức để Đại hội XIV của Đảng thành công tốt đẹp đúng như chương trình, kế hoạch đề ra./.


Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MỤC TIÊU ĐÚNG NHƯNG BƯỚC ĐI VỘI VÀNG!

     Ngày 26/12/2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT về bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc, theo đó bộ SGK "Kết nối tri thức với cuộc sống" của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã được lựa chọn là bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027. Việc ban hành quyết định triển khai một bộ SGK thống nhất toàn quốc nhằm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 281/NQ-CP của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW. Thông cáo báo chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết: “Trên cơ sở nghiên cứu các bộ SGK hiện hành và đối chiếu với các tiêu chí lựa chọn, Bộ GD-ĐT xác định bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống đáp ứng đầy đủ và nổi trội hơn cả”.

Đây là quyết định đúng đắn của Đảng, Nhà nước được nhân dân đặc biệt là các phụ huynh học sinh đồng tình ủng hộ để hướng đến mục tiêu phát triển một nền giáo dục bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, bước đi thực hiện mục tiêu này của Bộ Giáo dục và Đào tạo có phần vội vàng, thiếu cẩn trọng.

1. Một bộ sách giáo khoa - Một bài toán khó nhưng không phải không có lời giải 

Tổ chức biên soạn, ban hành một bộ SGK mới để đưa ngay vào năm học 2026-2027 là điều bất khả thi. Để biên soạn lại một bộ sách giáo khoa cho cả 3 cấp học, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải huy động một đội ngũ tác giả 400-500 người trong thời gian 7-8 năm và ngân sách Nhà nước phải bỏ ra khoảng vài trăm tỷ đồng. Vì vậy, chúng ta hiểu vì sao Bộ Giáo dục và Đào tạo không chọn phương án này!

Vậy, có 2 phương án còn lại là: 

- Chọn ra 01 bộ SGK trong 03 bộ SGK hiện hành để đưa ngay vào năm học 2026-2027. Phương án này cần có thời gian, phải đảm bảo khách quan, công tâm, “bình đẳng” trong việc đánh giá từng bộ SGK để lựa chọn ra một bộ sách “tối ưu” hơn; đồng thời loại bỏ ngay những “hạt sạn” còn tồn tại trong bộ SGK này. Đây là phương án Bộ GD-ĐT lựa chọn.

- Lắp ghép 01 bộ SGK chung từ 03 bộ hiện hành theo cấp học. Từ các bộ sách đã có của mỗi môn chọn sách cho mỗi cấp ở các bộ khác nhau ghép lại thành 1 bộ. Phương án này không đơn giản vì mỗi bộ SGK dù đều dựa vào chương trình nhưng tư tưởng sư phạm khác nhau, cách tổ chức bài học cũng khác nhau chưa nói đến vấn đề bản quyền. Vì vậy, phương án này khó được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn.

2. Mục tiêu đúng nhưng bước vội vàng

Chỉ sau 01 ngày kể từ ngày 24/12/2025, Chính phủ có văn bản số 1672/VPCP - KGVX chỉ đạo Bộ trưởng Bộ GD-ĐT thực hiện phương án đảm bảo một bộ SGK triển khai trong năm học 2026- 2027 thì chiều 26/12/2026, Bộ GD- ĐT gấp rút tổ chức cuộc họp “Toạ đàm, trao đổi về phương án triển khai thực hiện một bộ SGK thống nhất toàn quốc theo NQ 71/TƯ”. Chưa biết kết quả toạ đàm, trao đổi, thống nhất ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục thế nào mà ngay cùng ngày tổ chức toạ đàm, Bộ GD- ĐT đã ban hành Quyết định 3588/QĐ- BGDĐT, quyết định bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc.

Dư luận xã hội đặc biệt là phụ huynh học sinh đồng tình ủng hộ chủ trương của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện một bộ sách giáo khoa trong phạm vi cả nước nhưng đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo thận trọng trong bước đi; tôn trọng ý kiến của đội ngũ chuyên gia, quản lý giáo dục; lắng nghe một cách cầu thị, trách nhiệm ý kiến dư luận xã hội để hoàn thiện, loại bỏ những “hạt sạn” ra khỏi bộ sách giáo khoa trước khi ban hành quyết định./.


Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: LỜI DẶN CUỐI CÙNG TRƯỚC KHI RỜI KREMLI “HÃY GIỮ GÌN NƯỚC NGA!”!

     Ngày 31/12/1999, tổng thống Nga Boris Yelsin từ chức 6 tháng trước nhiệm kỳ.

Tạp chí Дилетант của Nga số 109/ 2025 đã đăng bài phỏng vấn Valentin Yumashev, cố vấn và là con rể của Yeltsin-nhân chứng của toàn bộ sự kiện này. Qua đó chúng ta biết thêm các chi tiết về cuộc chuyển giao quyền lực của Yeltsin cho Thủ tướng Nga Putin. 

Qua cuộc phỏng vấn, chúng ta biết việc rời đi của Boris Yeltsin vào ngày 31/12/1999 là kết quả của một quyết định cá nhân, được đưa ra trong bối cảnh chính trị cuối năm 1999. 

Bước ngoặt quan trọng là cuộc bầu cử Duma Quốc gia ngày 12/12/1999, khi các lực lượng ủng hộ Vladimir Putin giành kết quả vượt trội, trong khi liên minh của Primakov và Luzhkov thất bại nặng. Sau kết quả này, Yeltsin đi đến kết luận rằng tiến trình chuyển giao quyền lực đã chín muồi.

Vài ngày sau bầu cử, Yeltsin mời Chánh văn phòng Tổng thống Alexander Voloshin và cố vấn Valentin Yumashev tới gặp và thông báo quyết định sẽ từ chức vào cuối tháng 12. 

Theo lời kể của Yumashev, không có bất kỳ đề xuất nào từ gia đình hay từ các quan chức Điện Kremlin, quyết định đó hoàn toàn xuất phát từ chính Yeltsin. Ông yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối, chỉ một số rất ít người được biết trước. Ngay cả vợ ông đến tận sáng 31/12 mới biết tin.

Trong những ngày cuối tháng 12, các thủ tục pháp lý và kỹ thuật được chuẩn bị gấp rút. Yumashev soạn thảo bài phát biểu gửi nhân dân, Yeltsin trực tiếp chỉnh sửa văn bản và loại bỏ chi tiết liên quan đến sức khỏe. Sáng sớm ngày 31/12/1999, lúc 7 giờ, Yeltsin ghi hình bài phát biểu từ chức.

Đúng 12h trưa ngày 31/12/1999 theo giờ Moskva, Yeltsin chính thức tuyên bố từ chức trước thời hạn và ký sắc lệnh giao quyền Tổng thống cho Thủ tướng Vladimir Putin, phù hợp với Hiến pháp Nga. 

Cùng ngày, các thủ tục chuyển giao quyền lực được hoàn tất, bao gồm việc ký các sắc lệnh cần thiết và bàn giao vali hạt nhân cũng như các quyền hạn cho người đứng đầu nhà nước tạm quyền.

Trước khi rời Điện Kremlin, Yeltsin nói với Putin câu nói cuối cùng của mình: “Hãy giữ gìn nước Nga!”( Берегите Россию!- Hãy giữ gìn(bảo vệ) nước Nga”.

Sau đó, ông không còn xuất hiện tại Điện Kremlin với tư cách tổng thống nữa, khép lại một giai đoạn lịch sử của nước Nga.

Đây là diễn văn từ chức của Yeltsin vào trưa ngày 31/12/1999. 

“Những người Nga thân mến, 

Chỉ còn rất ít thời gian nữa là đến một mốc mang tính kỳ diệu trong lịch sử của chúng ta. Năm 2000 đang đến. Một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới.

Tất cả chúng ta đều từng hình dung mốc thời gian này cho chính mình. Chúng ta ước tính -ban đầu khi còn nhỏ, rồi khi đã trưởng thành -rằng vào năm 2000 chúng ta sẽ bao nhiêu tuổi, mẹ chúng ta bao nhiêu tuổi, con cái chúng ta bao nhiêu tuổi. Đã từng có lúc tưởng như cái Tết (nguyên bản: năm mới) đặc biệt ấy còn rất xa.

Và ngày đó đã đến.

Các bạn thân mến! Những người thân yêu của tôi!
Hôm nay, tôi gửi tới các bạn lời chúc mừng năm mới lần cuối cùng. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Hôm nay, tôi lần cuối cùng ngỏ lời với các bạn với tư cách là Tổng thống Nga.

Tôi đã đưa ra quyết định. Tôi đã suy nghĩ rất lâu và rất đau đớn về điều đó. Hôm nay, vào ngày cuối cùng của thế kỷ đang khép lại, tôi từ chức.

Tôi đã nhiều lần nghe thấy rằng: Yeltsin sẽ bằng mọi cách bám giữ quyền lực, sẽ không giao nó cho ai. Đó là sự dối trá.

Vấn đề nằm ở chỗ khác. Tôi luôn nói rằng tôi sẽ không lùi một bước nào khỏi Hiến pháp. Rằng các cuộc bầu cử Duma phải diễn ra đúng thời hạn hiến định. Và điều đó đã xảy ra. Tôi cũng mong muốn rằng các cuộc bầu cử tổng thống sẽ diễn ra đúng thời hạn — vào tháng Sáu năm 2000. Điều này vô cùng quan trọng đối với nước Nga. Chúng ta đang tạo ra một tiền lệ vô cùng quan trọng: sự chuyển giao quyền lực một cách văn minh và tự nguyện — quyền lực từ một Tổng thống Nga sang một Tổng thống Nga khác, được bầu mới.

Và dù vậy, tôi đã đưa ra một quyết định khác. Tôi sẽ ra đi. Ra đi sớm hơn thời hạn quy định.

Tôi hiểu rằng tôi cần phải làm điều này. Nước Nga phải bước vào thiên niên kỷ mới với những chính trị gia mới, những gương mặt mới, những con người mới - thông minh, mạnh mẽ, tràn đầy năng lượng. Còn chúng tôi, những người đã nắm quyền suốt nhiều năm, chúng tôi phải rời đi.

Nhìn vào việc người dân đã bỏ phiếu với niềm hy vọng và niềm tin như thế nào trong cuộc bầu cử Duma cho một thế hệ chính trị gia mới, tôi hiểu rằng: công việc chính của đời tôi, tôi đã làm xong. Nước Nga sẽ không bao giờ quay trở lại quá khứ. Từ nay, nước Nga sẽ chỉ tiến về phía trước. Và tôi không được phép cản trở dòng chảy tự nhiên của lịch sử này.

Còn bám giữ quyền lực thêm nửa năm, khi đất nước đã có một con người mạnh mẽ, xứng đáng trở thành Tổng thống, và người mà hôm nay hầu như mỗi người Nga đều gắn gửi hy vọng của mình vào tương lai ư?! Tại sao tôi phải cản trở người đó ? Vì sao còn phải chờ thêm nửa năm? Không, đó không phải là tôi! Không phải là tính cách của tôi!

Hôm nay, vào ngày vô cùng quan trọng đối với tôi này, tôi muốn nói nhiều hơn một chút những lời mang tính cá nhân so với thường lệ.

Tôi muốn xin các bạn tha thứ. Vì nhiều ước mơ của chúng ta đã không trở thành hiện thực. Và những điều chúng ta tưởng là đơn giản thì hóa ra lại vô cùng gian nan. Tôi xin lỗi vì đã không đáp ứng được một số kỳ vọng của những người tin rằng chúng ta có thể chỉ bằng một cú nhảy, một cú vọt duy nhất, vượt qua từ quá khứ xám xịt, trì trệ, toàn trị sang một tương lai tươi sáng, giàu có và văn minh. Bản thân tôi cũng đã tin vào điều đó. Khi ấy tưởng rằng chỉ cần một cú nhảy vọt là có thể vượt qua tất cả.

Nhưng một cú nhảy vọt đã không thành công. Ở một số điểm, tôi đã quá ngây thơ. Ở những điểm khác, các vấn đề lại quá phức tạp. Chúng ta đã phải tiến lên qua những sai lầm, qua những thất bại. Nhiều người trong thời kỳ khó khăn này đã phải trải qua những cú sốc.

Nhưng tôi muốn các bạn biết điều này. Tôi chưa bao giờ nói điều đó, và hôm nay điều này đối với tôi là rất quan trọng. 

Nỗi đau của mỗi người trong các bạn đều vọng lại thành nỗi đau trong tôi, trong trái tim tôi. Những đêm không ngủ, những dằn vặt đau đớn - phải làm gì để mọi người, dù chỉ một chút thôi, dù chỉ đôi chút, sống dễ dàng hơn và tốt đẹp hơn. Tôi không có nhiệm vụ nào quan trọng hơn thế.

Tôi sẽ ra đi. Tôi đã làm tất cả những gì có thể. Và không phải vì sức khỏe, mà vì tổng hòa của tất cả các vấn đề. Thay thế tôi là một thế hệ mới - thế hệ của những người có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn.

Phù hợp với Hiến pháp, khi từ chức, tôi đã ký Sắc lệnh giao nhiệm vụ Tổng thống Nga cho Chủ tịch Chính phủ (tức Thủ tướng-ND) Vladimir Vladimirovich Putin. Trong vòng ba tháng, theo Hiến pháp, ông sẽ là nguyên thủ quốc gia. Và sau ba tháng, cũng theo Hiến pháp Nga, sẽ diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống.

Tôi luôn tin tưởng vào sự khôn ngoan phi thường của người Nga. Vì vậy tôi không nghi ngờ về lựa chọn mà các bạn sẽ đưa ra vào cuối tháng Ba năm 2000.

Khi chia tay, tôi muốn nói với mỗi người trong các bạn: hãy hạnh phúc. Các bạn xứng đáng với hạnh phúc. Các bạn xứng đáng với hạnh phúc và sự bình yên.

Chúc mừng Năm mới!
Chúc mừng thế kỷ mới, những người thân yêu của tôi!”./.
Môi trường ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: ĐẶC CÔNG VIỆT NAM VÀ NHỮNG PHI VỤ ĐÁNH B-52 NGAY TẠI SÀO HUYỆT!

     Quá trình tiềm nhập vào mục tiêu, các chiến sĩ đặc công đã 3 lần gặp địch. Hai lần khéo léo ngụy trang qua khỏi tầm mắt của chúng, đến lần thứ ba trong một tình thế đặc biệt buộc tổ chiến đấu phải nổ súng tiêu diệt nhóm tuần tra gồm 2 lính Mỹ và một chó béc giê. Khi vào cách nơi máy bay B-52 đỗ khoảng 300m, bất ngờ gặp 3 xe ôtô và 2 lính Mỹ, hai anh phải vòng tránh theo hướng khác.

Khi khoảng cách còn 50m, một tổ tuần tra khác của địch phát hiện nổ súng bắn chặn, trong tích tắc, đồng chí Phương tung lựu đạn về phía địch. Lợi dụng thời cơ địch dạt ra tránh, 2 người lính đặc công lao nhanh đến mục tiêu, dùng thủ pháo đánh vào từng chiếc máy bay. Số thủ pháo vừa hết, đồng chí Phương ra lệnh rút lui. Đồng chí Đài rút về hướng cửa mở, đồng chí Phương chạy tắt qua khu bom, vượt rào ra ngoài. Khi Bùi Văn Phương vừa thoát ra ngoài khu vực sân bay thì tiếng súng bỗng rộ lên từ phía cửa mở, người lính đặc công Vũ Công Đài đã anh dũng hy sinh. Sau đó là những tiếng nổ lớn và những đám cháy bùng lên phía trong khu vực sân bay, 8 chiếc máy bay B- 52 của Mỹ đã bị phá hủy.

Ngay ngày hôm sau, các hãng thông tấn phương Tây đã đưa tin, bình luận. Mỹ thật sự hoảng hốt, và không hiểu Utapao đã bị đánh bằng cách nào. Chúng không ngờ đặc công Việt Nam đã vào được tận sào huyệt và chỉ với 2 người mà phối hợp ăn ý phá hủy được 8 máy bay B-52.

Đoàn đặc công biệt động A54 đánh sân bay Udon.
Tháng 7/1972, Đoàn A54 cử 23 cán bộ, chiến sĩ biên chế thành một tổ soi đường và một tổ bảo đảm hậu cần, vượt Trường Sơn hành quân đến khu rừng nguyên sinh Đôn Ka Thom nằm ở ngã ba biên giới 3 nước Thái Lan – Lào – Campuchia, lập một trạm chỉ huy nghiên cứu tình hình, mở hành lang vào khu vực sân bay Udon.
Cuối tháng 7, tổ soi đường bí mật vượt sông, luồn rừng nhằm hướng sân bay để đi. Đi được 15 ngày, hết lương thực, các anh đành phải quay về căn cứ. Ngay sau đó một sáng kiến được đưa ra, đó là dùng kỹ thuật ém lương thực theo kiểu “sâu đo” dọc tuyến đường hành lang vào đến sân bay Udon. Ba chiến sĩ của đội, mỗi người mang hơn 30kg lương thực, đến vị trí A để lại 10kg, chôn kỹ và đánh dấu rồi quay về. Cứ thế từng chuyến lương thực được chuyển đến vị trí B, C, D… trên suốt chặng đường dài.

Đầu tháng 8/1972, tổ soi đường đã liên lạc được với một cơ sở lực lượng cách mạng của ta trên đất Thái Lan. Hàng ngày, các anh thường đóng giả người dân Thái Lan nhằm thực hiện nhiệm vụ trinh sát khu vực sân bay.
Tuy hành lang vừa mới được hình thành, nhưng với ý chí quyết tâm phá hủy máy bay B-52 tại sân bay Udon nên Đoàn A54 thực hiện kế hoạch: vừa trinh sát mục tiêu, vừa đưa đội hình chiến đấu đi theo, trinh sát tới đâu, hoàn chỉnh phương án chiến đấu đến đó, nếu thời cơ cho phép sẽ tiến hành đánh ngay. Cuối tháng 8/1972, một đội hình chiến đấu gồm 10 người được thành lập do đồng chí Đào Đức Hạnh – Đoàn trưởng Đoàn A54 chỉ huy, vượt biên giới, luồn rừng tới cơ sở cách mạng của ta ở Thái Lan (Căn cứ 07). Trong tháng 9/1972, đội thực hiện nhiệm vụ trinh sát tạo hành lang từ Căn cứ 07 đến sân bay Udon, nhằm xác định vị trí tập kết, xác định đường, hướng đột nhập vào sân bay.

Đêm ngày 1/10, đội hình chiến đấu bắt đầu cơ động vào sát khu vực sân bay Udon. Lúc này trời mưa to, gió lớn, phải đến gần sáng ngày mùng 2, đội mới tới được gần sân bay. Trời sắp sáng, sợ lộ bí mật, mọi người phải phân tán ẩn nấp chờ đến khi trời tối để vào trinh sát mục tiêu. Phương án đánh B52 lần này là dùng mìn nổ chậm, nếu bị lộ thì chuyển sang đánh nổ ngay. 8 đồng chí trong đội hình chiến đấu chia làm 3 tổ, trong đó 2 người có nhiệm vụ mở cửa và bảo vệ cửa mở; 4 người đánh phá máy bay, 2 người đánh phá kho xăng.

Tối ngày 2/10/1972, hai tổ chiến đấu tiềm nhập vào sân bay, tổ mở cửa triển khai bảo vệ đầu cầu. Theo hiệp đồng chiến đấu, sau khi cài đặt lượng nổ, mìn hẹn giờ vào mục tiêu, cả 2 tổ phải rút ngay để kịp rời sân bay trước khi trời sáng. Nhưng đã quá giờ hiệp đồng, trời sắp sáng mà tổ mở cửa vẫn không thấy 2 tổ chiến đấu quay trở lại. Tại vị trí tập kết, chỉ huy trận đánh nóng lòng nghe tiếng nổ vọng ra từ khu vực sân bay nhưng không gian bốn bề vẫn tĩnh lặng. Cho tới 10 giờ sáng ngày mùng 3/10/1972, khi nghe những tiếng nổ liên hồi từ phía sân bay, tổ đánh kho xăng và tổ mở cửa mới gặp được nhau, 4 người còn lại của tổ đánh B-52 vẫn chưa thể thoát ra được...
Ảnh 1: Máy bay B-52 của Mỹ tại căn cứ Utapao, Thái Lan ở  những năm 1970.

Ảnh 2: Máy bay B-52 của Mỹ ở sân bay Utapao bị đặc công Việt Nam phá hủy.
Yêu nước ST.