Ý Đảng và lòng Dân là hai yếu tố cội nguồn, sâu xa trực tiếp là nhân tố then chốt, quan trọng hàng đầu quyết định mọi thành công của cách mạng.
Trong giai đoạn hiện nay việc phát huy bài học kinh nghiệm về ý Đảng, lòng Dân đã và đang đặt ra những yêu cầu mới, phong phú và đa dạng hơn. Đó là việc tiếp tục làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên được nâng lên một tầng cao mới về tư tưởng, đạo đức, trình độ, năng lực để đủ sức lãnh đạo cách mạng, thật sự là những tấm gương sáng, vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân theo tinh thần các Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, XII và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
LÒNG TỰ TRỌNG CỦA MỘT HỌC SINH RẤT ĐÁNG TRÂN TRỌNG
“Em muốn vào đại học bằng chính năng lực của mình, không dựa vào điều gì khác. Em đã đỗ vào Y đa khoa của Trường ĐH Y Dược Thái Bình bằng năng lực nên em quyết định sẽ theo học ở đây bằng đam mê”.
Nhấn để phóng to ảnh
Suốt 10 năm qua Ngô Minh Hiếu luôn cõng bạn Nguyễn Tất Minh đến trường.
Không có nguyện vọng xin đặc cách
Thông tin Ngô Minh Hiếu, người đã suốt 10 năm qua cõng bạn Nguyễn Tất Minh đến trường không đủ điểm để đỗ Ngành Y đa khoa, ĐH Y Hà Nội khiến nhiều người nuối tiếc vì thiếu có 0,25 điểm.
Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2020 vừa qua, Nguyễn Tất Minh đỗ vào trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, còn Ngô Minh Hiếu đạt 28,15 điểm, không đủ điểm để đỗ Ngành Y đa khoa, ĐH Y Hà Nội.
Có một số ý kiến đề nghị Trường ĐH Y Hà Nội đặc cách cho Hiếu. Tuy nhiên, Hiếu cho biết, ngành Y đa khoa của Trường ĐH Y Hà Nội là nguyện vọng 1 của em, tuy nhiên, xin để được đặc cách vào đó không phải là nguyện vọng của em. Mơ ước của em đã đạt được khi đỗ ngành Y đa khoa của Trường ĐH Y Dược Thái Bình.
Hiếu bày tỏ sự cảm ơn và trân trọng lòng tốt của những người đang lo và thương cho em, tuy nhiên, ngay từ đầu, Hiếu không muốn xin một suất trúng tuyển đặc biệt hay xin đặc cách.
“Em thiếu 0,25 điểm quá là nhiều so với những bạn chỉ thiếu 0,05 điểm, thậm chí chắc có tới vài trăm bạn ở miền Bắc cũng thiếu 0,25 như em. Nếu em xin đặc cách thì chắc chắn cũng có nhiều bạn đạt những thành tích tốt, hoặc làm những việc tốt, cũng có thể xin được”, Hiếu chia sẻ và coi điều này sẽ gây khó cho nhà trường, cho chính em và những bạn thí sinh khác.
Ngô Minh Hiếu khẳng định: “Em muốn vào đại học bằng chính năng lực của mình, không dựa vào điều gì khác. Em đã đỗ vào Y đa khoa của Trường ĐH Y Dược Thái Bình bằng năng lực nên em quyết định sẽ theo học ở đây bằng đam mê”.
Trước đó, khi điều chỉnh nguyện vọng, Hiếu dự đoán, với phổ điểm cao như năm nay, điểm số 28,15 của em chỉ có khoảng 50% cơ hội đỗ ngành Y đa khoa Trường ĐH Y Hà Nội. Vì vậy, để chắc chắn hơn, Hiếu đã tham khảo ý kiến của thầy cô và quyết định đăng ký nguyện vọng 2 vào ngành Y đa khoa của Trường ĐH Y Dược Thái Bình.
“Y đa khoa của Y Thái Bình chất lượng rất tốt, nên em tin mình sẽ thực hiện được ước mơ khi học tập ở đây”, Hiếu nói.
Hiếu cũng bày tỏ niềm vui khi người bạn thân Nguyễn Tất Minh đã đạt nguyện vọng vào ngành Công nghệ thông tin của Trường ĐH Bách khoa Hà Nội.
“Em chỉ buồn khi tới đây sẽ học ở xa bạn, không được ở cạnh để giúp đỡ bạn Minh hằng ngày. Một người bạn đã gắn bó với em, không phải 10 năm đâu, mà từ khi chúng em còn rất nhỏ”, Hiếu tâm sự.
Tuy nhiên, qua chia sẻ của Hiếu, được biết, hai em đã luôn nói với nhau về việc sau này sẽ phải tự lập trong cuộc sống.
“Em mong đây sẽ là bước ngoặt để bạn lấy động lực, cố gắng có thể sống và học tập không cần em. Dù sao, chúng em vẫn sẽ luôn giúp đỡ nhau trong khả năng có thể”, Hiếu nhắn nhủ.
Điều mong mỏi nhất của Hiếu là khi học tập ở Trường ĐH Bách khoa Hà Nội và ở bất kỳ đâu, Minh đều sẽ có những người bạn tốt, sẵn sàng giúp đỡ và chia sẻ.
Luôn khẳng định mình là người may mắn, Hiếu nói, có nhiều bạn khó khăn, vất vả hơn em, nhưng vẫn cố gắng học tập, không bao giờ bỏ học.
Mặc dù khá bận, nhưng bố mẹ Hiếu luôn dành sự quan tâm, động viên Hiếu, rằng dù học ở đâu, quan trọng là phải cố gắng, nỗ lực hết sức vì ước mơ của mình.
“Em coi đây là hạnh phúc của mình nên càng tự nhủ phải cố gắng hơn để không phụ lòng tin của bố mẹ, của bạn bè, đặc biệt là bạn Minh và tất cả mọi người. Em mong những bạn thí sinh chưa trúng tuyển trong đợt 1 cũng có được sự quan tâm, chia sẻ như vậy”, Hiếu nói.
Mạng xã hội được các
thế lực thù địch triệt để sử dụng là phương tiện hữu hiệu truyền bá thông tin,
quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta... Trong đó, đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế
lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” quân đội, tước bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt
đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, đồng nghĩa với việc xóa bỏ
nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội. Do vậy, nâng cao nhận thức, trách
nhiệm của quân nhân về nhiệm vụ bảo vệ an toàn thông tin, an ninh mạng trong
quân đội hiện nay được xác định là một nội dung quan trọng trong điều kiện mới;
không kém phần gay go, quyết liệt trong Chiến lược an ninh mạng quốc gia của
Đảng và Nhà nước ta.
Luật An ninh mạng năm 2018 có nêu rõ: An ninh mạng là sự bảo đảm
hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trong đó, lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt
trong bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.
Đối với quân đội, Bộ Quốc phòng thống nhất quản lý việc cung cấp
và sử dụng dịch vụ internet theo các quy định pháp luật về lĩnh vực hoạt động
internet. Thực hiện trên các cơ sở đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh phổ cập internet và
phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước; góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại; sẵn sàng đối phó với các cuộc chiến tranh thông tin, bảo
đảm bí mật quốc phòng, an ninh quốc gia và an toàn cho các hệ thống thông tin
do quân đội quản lý trên internet.
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của việc bảo đảm an toàn
thông tin, an ninh mạng, quân đội đã sớm xác định nhiệm vụ phải huy động, phát
huy hiệu quả các nguồn lực để bảo vệ an ninh mạng trong quân đội; đấu tranh
hiệu quả với âm mưu, hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quân
đội và lợi ích hợp pháp của cơ quan, đơn vị, quân nhân. Đồng thời bảo vệ toàn
diện các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Phát triển mạng quân sự, có
nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng tự sản xuất các trang thiết bị, giải
pháp bảo vệ an ninh mạng của quân đội./.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những di sản tư tưởng bao trùm và xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đồng thời, đây cũng là tư tưởng có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước hiện nay.
Nông dân xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương báo cáo kết quả sản xuất với Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 31-5-1957)_Nguồn: hochiminh.vn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh tầm nhìn bao quát, sâu rộng về giá trị phổ quát này, mà còn là tư tưởng để thực hành trong thực tiễn nhằm xây dựng chế độ dân chủ trên một đất nước vừa được giải phóng khỏi sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc cách đây 75 năm. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ được phản ánh một cách chắt lọc, cô đọng, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hành, biểu hiện ở ba vấn đề cốt lõi sau:
Thứ nhất, khẳng định vai trò, địa vị của nhân dân trong chế độ chính trị dân chủ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Nó được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đồng thời, nó phản ánh mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và nhân dân trong chế độ chính trị - xã hội nhất định. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định xây dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới, đó là nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Người tuyên bố dứt khoát: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”(1).
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(2). Theo Người, ở nước ta, mọi quyền hành và lực lượng đều là của nhân dân, từ nhân dân mà ra. Người nhấn mạnh rằng: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3). Như vậy, nội dung cơ bản và cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là: Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị - xã hội, thể chế chính trị dân chủ phải bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, nhân dân là người có quyền quyết định vận mệnh của quốc gia - dân tộc; nhân dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng, củng cố và thực hành quyền lực của mình thông qua hệ thống chính trị và thể chế chính trị dân chủ, xây dựng và củng cố bộ máy quản lý nhà nước nhằm hướng tới phục vụ lợi ích của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân... Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(4).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ mối quan hệ giữa nhân dân và Nhà nước: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(5).
Thứ hai, xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(6). Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước cách mạng được thành lập, Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đây là điểm khác biệt về bản chất giữa nhà nước dân chủ nhân dân với các nhà nước của giai cấp bóc lột từng tồn tại trong lịch sử.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân là nhà nước mà ở đó tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Nhân dân là gốc, là chủ của quyền lực nhà nước, bao nhiêu quyền hạn của Nhà nước đều là của nhân dân. Do đó, đội ngũ cán bộ của chính quyền các cấp là đầy tớ trung thành của nhân dân, là công bộc của nhân dân, chứ không phải là cha mẹ dân, cai trị dân như nhà nước của chế độ bóc lột trước đây. Nhân dân là người có quyền quyết định các vấn đề hệ trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc. Ngay trong Điều 32 Hiến pháp năm 1946 đã nêu rõ: “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra cho nhân dân phúc quyết”. Thực chất ở đây là trưng cầu ý dân, một hình thức dân chủ trực tiếp được đề ra ở nước ta khá sớm. Nhân dân bầu ra Quốc hội và chính quyền các cấp, có quyền kiểm soát nhà nước, giám sát và có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước cho nên nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước.
Nhà nước do dân là nhà nước do nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, những đại biểu này thay mặt nhân dân tổ chức, điều hành các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương thông qua chế độ tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu. Đồng thời, Nhà nước do dân cũng là nhà nước mà nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước, ủng hộ, giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện các nghĩa vụ và quyền hạn đối với Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Mặt khác, nhân dân tham gia góp ý xây dựng Nhà nước, kiểm soát và giám sát quyền lực của Nhà nước. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”, nghĩa là Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn Chính phủ.
Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Nhà nước không có đặc quyền, đặc lợi, đứng trên nhân dân mà phải thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: Việc gì có lợi cho dân thì dù nhỏ cũng cố gắng làm. Việc gì có hại cho dân thì dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Nhà nước vì dân là Nhà nước luôn đề cao ý thức trách nhiệm chính trị trước nhân dân. Người cho rằng: Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi.
Thứ ba, giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trên tinh thần dân chủ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhân dân cần Nhà nước để lãnh đạo và tổ chức lực lượng xây dựng, phát triển đất nước. Mặt khác, Nhà nước phải dựa vào mọi nguồn lực của nhân dân để phục vụ nhân dân. Trong tư tưởng của Người, nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của Nhà nước là nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhà nước phát huy dân chủ đến cao độ mới động viên được tất cả các lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời, phải tập trung cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Bên cạnh việc đề cao dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ vai trò của chuyên chính: Chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là chuyên chính với ai? Dân chủ là của quý báu của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại... Có dân chủ thì cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn dân chủ. Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định tính hợp pháp của Chính phủ lâm thời. Sau đó, Người tiến hành xây dựng Hiến pháp dân chủ, tổ chức Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2-3-1946, Quốc hội họp phiên đầu tiên và bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Đây là Chính phủ hợp hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của đất nước. Cũng vào năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến việc xây dựng luật pháp, quản lý đất nước bằng luật pháp và làm cho luật pháp có hiệu lực trong thực tế. Theo Người, trong Nhà nước dân chủ nhân dân, dân chủ và pháp luật phải đi đôi với nhau, bảo đảm cho chính quyền hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là tập trung xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân. Để xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải được đào tạo chính quy, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ quản lý hành chính ở tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 197 thành lập Ban Pháp lý học tại Trường Đại học Việt Nam; năm 1950, ký Sắc lệnh số 76 ban hành “Quy chế công chức” để bảo đảm công bằng trong thi tuyển, bổ nhiệm vào ngạch bậc hành chính. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng nền móng cho pháp quyền Việt Nam.
Bên cạnh việc tập trung xây dựng thể chế quản lý đất nước thông qua pháp luật, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú ý đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao trình độ giác ngộ và chấp hành pháp luật của nhân dân, nhấn mạnh sự nêu gương của đội ngũ thực thi pháp luật. Trong thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc (tháng 1 -1946), Người căn dặn: Các bạn là những người thi hành pháp luật, lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao tấm gương “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư!”.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đến thăm, tặng quà một số gia đình chính sách, hộ nghèo và nói chuyện với cán bộ, nhân dân thôn Thượng Hải, xã Thạch Hải (tỉnh Hà Tĩnh)_Ảnh: Tư liệu
Thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong việc củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân ở Việt Nam
Trong gần 35 năm đổi mới, tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được vận dụng sáng tạo để củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Vấn đề thực hành dân chủ, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong thời kỳ đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được một số kết quả quan trọng.
Thứ nhất, thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, bảo đảm sự gắn bó mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân từng bước được tiến hành một cách đồng bộ, toàn diện.
Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”(7). Theo đó, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 đã chế định hóa đầy đủ về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời chế định thêm một số quyền mới như: Quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ; sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Khoản 2, Điều 17). Với tư cách là một bộ phận cấu thành nên bộ máy quyền lực nhà nước, Quốc hội, đại biểu Quốc hội trở thành cầu nối gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Do đó, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước” (Khoản 1, Điều 79)(8). Bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý của Nhà nước không chỉ được khẳng định trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật(9).
Chính phủ với tư cách là cơ quan “thực hiện quyền hành pháp”, cơ quan hành chính cao nhất và là cơ quan chấp hành của Quốc hội đã chú trọng đề cao tính dân chủ và tính pháp quyền trong điều hành, hướng đến xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Trong gần 35 năm đổi mới, Chính phủ tập trung đổi mới, cải cách thể chế, bộ máy, công chức và tài chính công theo hướng dân chủ, khoa học, hiện đại, chuyên nghiệp. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2020 đã được tiến hành nhằm xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, văn minh. Theo đó, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành(10); đồng thời, Chính phủ từng bước đổi mới phương thức hoạt động, chuyển từ cơ chế quản lý bằng mệnh lệnh, cơ chế xin - cho sang quản lý bằng pháp luật, đề cao trách nhiệm phục vụ nhân dân.
Thứ hai, sự tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị và quản lý nhà nước ngày càng gia tăng.
Trên cơ sở triển khai thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã tổ chức vận động nhân dân tham gia tích cực vào việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, không ngừng đổi mới phương thức, nội dung giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Các luật về tổ chức chính trị - xã hội, như Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... đã cụ thể hóa vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội được quy định trong Hiến pháp đối với công việc quản lý nhà nước, giám sát và phản biện xã hội, góp phần quan trọng vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thông qua Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, ngày 11-5-1998, của Chính phủ “Về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP, ngày 08-9-1998, của Chính phủ, về “Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”, Chính phủ đã bổ sung thêm cơ sở pháp lý để phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đi vào cuộc sống. Như vậy, thông qua các thể chế pháp luật và các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân ngày càng tích cực, chủ động tham gia vào công việc của Nhà nước, đóng góp trí tuệ, nhân tài, vật lực để xây dựng Nhà nước vững mạnh, bảo đảm sự gắn bó mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân.
Thứ ba, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sự phát triển đồng bộ cả về năng lực và phẩm chất, góp phần quan trọng vào xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ năng lực và phẩm chất tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước trong thời kỳ đổi mới đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997, về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 9 khóa X ban hành Kết luận “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020”. Gần đây nhất, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII ban hành Nghị quyết “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức gần đây đã bổ sung, làm rõ trách nhiệm của cán bộ, công chức và viên chức trong việc thực hành công vụ, đưa ra những quy định tăng cường kỷ luật đối với công chức, viên chức, xóa bỏ quan niệm “hạ cánh an toàn” của cán bộ, công chức về hưu mắc sai lầm, khuyết điểm trước đó, cán bộ, công chức tham nhũng bị buộc thôi việc; xóa bỏ chế độ “biên chế suốt đời” với viên chức; công khai kết quả đánh giá cán bộ, công chức tại nơi làm việc...
Những vấn đề đặt ra:
Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta có thể nhận thấy một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết như:
Một là, nhận thức về vai trò, địa vị của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn chưa đầy đủ và toàn diện. Quyền tiếp cận thông tin của nhân dân được luật hóa; tuy nhiên, trong nhiều lĩnh vực hoạt động cũng như ở một số cơ quan nhà nước, kể cả ở Trung ương và địa phương, vấn đề minh bạch hóa thông tin, nhất là trong công tác tổ chức cán bộ, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, công khai hóa các dự án để đấu thầu, minh bạch hóa tài sản và thu nhập cá nhân, quản lý tài nguyên, môi trường, quản lý tài chính công vẫn còn hạn chế. Trách nhiệm giải trình và xử lý sau giải trình thông qua các kỳ họp Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp cho thấy hiệu quả chưa cao, chưa đồng bộ. Vai trò kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và vai trò phản biện, giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Các phương thức thực hiện quyền làm chủ trực tiếp còn hạn chế. Vấn đề “bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân” còn bất cập. Hơn nữa, vấn đề quan tâm đến việc hưởng thụ các thành quả lao động sáng tạo của nhân dân còn bộc lộ nhiều thiếu sót, dẫn đến tình trạng phân hóa xã hội, lợi ích nhóm gia tăng, nguy cơ nghèo và tái nghèo tiềm ẩn cao.
Hai là, khoảng cách giữa việc ban hành luật pháp và thực hiện luật pháp chưa được rút ngắn. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa qua, độ chênh giữa việc ban hành và thực hiện pháp luật còn có khoảng cách khá rõ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do người dân chưa nhận thức rõ được vai trò của từng văn bản quy phạm pháp luật mà Nhà nước ban hành liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ.
Ba là, thực hành dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật còn nhiều bất cập. Trên thực tế, tình trạng “vừa thiếu dân chủ”, “vừa thiếu kỷ cương” chậm được khắc phục. Trong hoạt động của cơ quan nhà nước, còn không ít các biểu hiện mất dân chủ hoặc dân chủ cực đoan; việc thực hành dân chủ ở nhiều nơi, nhiều lúc còn mang tính hình thức, thực hiện pháp luật, kỷ cương không nghiêm. Quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan công quyền chưa được quy định rõ ràng, thực hiện chưa nghiêm. Còn thiếu các chế tài bảo đảm thực thi dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật.
Bộ đội giúp dân chống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long_Ảnh: Tư liệu
Tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong việc củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong thời gian tới
Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây là một tài sản có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn cần được học tập, vận dụng và triển khai nghiêm túc trong toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước và xã hội, tạo động lực tinh thần mạnh mẽ để xây dựng, phát triển bền vững đất nước.
Thứ hai, tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013. Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả trong thực tế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ ở cơ sở theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Quán triệt quan điểm của Đảng trong xử lý các vi phạm pháp luật theo nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Thực hiện nhất quán chủ trương thực hành dân chủ một cách đồng bộ và toàn diện; phát huy tinh thần tích cực, chủ động của nhân dân trong việc tham gia thực hành dân chủ, tham gia xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, liêm chính, hiệu lực, hiệu quả.
Thứ ba, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Tăng cường sự gắn kết của các hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp với kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của nhân dân. Tăng cường các hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát trong các hoạt động của Chính phủ. Tập trung xây dựng chính quyền điện tử, cắt bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, khắc phục tối đa các khoảng trống dẫn đến tham nhũng, hối lộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, hoạt động luật sư và hỗ trợ tư pháp.
Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức, năng lực, uy tín, tính chuyên nghiệp cao, sức khỏe tốt, tận tụy phục vụ nhân dân. Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, trách nhiệm, phát huy dân chủ gắn liền với siết chặt kỷ cương, kỷ luật, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, có khát vọng vì lợi ích chung của nhân dân, của đất nước. Cải thiện môi trường làm việc, chính sách tiền lương, nhà ở, công vụ. Kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.
Hôm thứ Ba 06/10/2020,
gã khổng lồ công nghệ Mỹ Facebook ra thông báo sẽ gỡ bỏ và cấm các tài khoản,
thông tin trên mạng xã hội của các nhóm công khai ủng hộ nhóm Qanon – nhóm hoạt
động theo học thuyết âm mưu phổ biến đã dẫn đến việc lan truyền thông tin sai lệch
trên khắp Hoa Kỳ và các quốc gia khác.
"Bắt đầu
từ hôm nay, chúng tôi sẽ xóa mọi trang Facebook, Nhóm và tài khoản Instagram đại
diện cho QAnon, ngay cả khi chúng không chứa nội dung bạo lực", Facebook
cho biết trong một bài đăng trên blog. Điều này đánh dấu sự khác biệt so với
chính sách trước đó của Facebook, vốn nói rằng các nhóm QAnon sẽ chỉ bị xóa nếu
họ kích động bạo lực.
Theo quy định
mới, Facebook sẽ xem xét một loạt các yếu tố để xác định liệu nhóm có nên bị cấm
hay không. Chúng bao gồm tên của nhóm, tiểu sử của nhóm, "phần giới thiệu",
nội dung được đăng trong nhóm hoặc bởi tài khoản Instagram.
Facebook
cũng sẽ vô hiệu hóa tài khoản cá nhân của quản trị viên các nhóm này.
QAnon là gì?
QAnon là
các nhóm hoạt động trên không gian mạng internet, do những người bí ẩn tạo ra,
chuyên phát tán về các thuyết âm mưu. QAnon phục vụ cho mục đích chính trị, nổi
lên hồi năm 2017, đến nay đã thu hút rất nhiều người tham gia, hoạt động mạnh mẽ
trên các nền tảng truyền thông lớn hơn như Facebook, Twitter…
Lý do khiến QAnon trở nên lan truyền rộng rãi nhờ có những thành
viên dùng lời lẽ, lối lập luận dễ gây lòng tin, đã làm nhiều người nếu như trước
đó còn lung lay trong suy nghĩ, thì sau đã quay ra tin tưởng tuyệt đối vào các
câu chuyện mà họ đưa ra. Các thuyết âm mưu mà nhóm QAnon phát tán có thể kể đến
như: họ cho rằng nước Mỹ đang bị cai trị bởi một “tổ chức tội phạm” bao gồm các
cựu tổng thống Bill Clinton và Barack Obama, tỷ phú George Soros và nhiều ngôi
sao Hollywood khác nhau. Nhiều thông điệp của QAnon mang tính chất bài Do Thái
và cực đoan cánh hữu. Trong số những người ủng hộ và tin theo nhóm QAnon, có khá
nhiều người thuộc cánh hữu ủng hộ Tổng thống Mỹ đương nhiệm Donald Trump. Bởi vậy,
họ đã tin vào những thuyết âm mưu vô căn cứ rằng trong nhiều thập kỷ qua, một
“tổ chức tội phạm” đã thâu tóm và lãnh đạo nước Mỹ. Theo họ, Tổng thống Trump
đang là mục tiêu chống phá của một âm mưu bí mật, song chính ông Trump là người
được giới quân đội Mỹ cử ra làm tổng thống để điều tra, bắt giam và trừng trị
“tổ chức tội phạm” trên. Xuất phát từ thuyết âm mưu này, các thành viên QAnon
đã biến các mạng truyền thông xã hội trở thành "chiến trường" đả phá
các đối thủ chính trị của Tổng thống Trump. Các hành động quá khích của các chủ
tài khoản là thành viên của QAnon hiện không còn dừng ở phạm vi không gian mạng,
mà đã trở thành một vấn nạn gây ảnh hưởng đến đời sống thực tế của nhiều người.
Một dẫn chứng khác về sự
nguy hiểm của việc lan truyền các thuyết âm mưu của nhóm QAnon là về nguồn gốc
virus corona gây bệnh COVID-19 thời gian vừa qua. Những loại thuyết âm mưu và
thông tin giả mạo liên quan đến dịch COVID-19 này đã gây ra những hệ lụy nghiêm
trọng và tồi tệ không kém gì mức độ hủy diệt của con virus gây chết người này.
Kể từ khi dịch bệnh này xuất hiện, QAnon tung tin lan tràn lan các thông tin
sai sự thật về nguồn gốc của virus corona và cách để bảo vệ bản thân khỏi loại
virus này. Những thuyết âm mưu liên quan đến virus corona được lan truyền trên
mạng có thể kể đến như: virus corona thuộc sở hữu của Bill Gates và được phát
tán vì những mục đích đáng ghê tởm; hay khuyên mọi người uống chất tẩy trắng để
diệt virus corona; hay thuốc trị sốt rét hydroxychloroquine là "thuốc chữa"
COVID-19 và khẩu trang hoàn toàn không cần thiết; hoặc cho rằng virus corona là
một vũ khí sinh học…
Facebook thẳng
tay thanh trừng
Đến ngày
19/8, Facebook cho biết mạng xã hội này đã xóa 790 nhóm QAnon,
hạn chế 1/950 nhóm, 440 trang và hơn 10.000 tài khoản liên quan tới các thuyết
cực hữu. Đây là hành động mạnh mẽ nhất của Facebook đối với các nhóm cực đoan
trên mạng.
Tuy nhiên,
có thể thấy, với nền tảng “dễ dãi”, Facebook vô hình chung đã “nuôi dưỡng”
QAnon phát triển một cách nhanh chóng, dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm vô cùng
trong thực tế xã hội. Việc Facebook gỡ bỏ và cấm tuyệt đối các nhóm QAnon có thể
nói là hơi muộn màng, nhưng ít ra Facebook cũng đã biết nhận ra tác hại của các
nguồn tin giả, tin thất thiệt trên mạng xã hội gây ra.
Hơn nữa, các nhóm tung tin,
lan truyền tin giả trên mạng xã hội không chỉ có QAnon, đặc biệt hiện nay có rất
nhiều nhóm phản động, cực đoan thường xuyên phát tán thông tin sai lệch nhằm
phá hoạt an ninh chính trị xã hội của các nước, Facebook cần phải có chiến lược
hoạt động mạnh tay hơn nữa, loại bỏ tất cả các nhóm, tài khoản, trang… hoạt động
núp bóng trên nền tảng Facebook kiểu này, để tạo ra một mạng xã hội sạch, góp
phần vào việc duy trì sự ổn định xã hội của toàn thế giới.
Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn, trong đó có biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu tác động đến tất cả các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế, đặc biệt là sinh kế của cộng đồng dân cư nông thôn. Việc xây dựng hệ giải pháp nhằm kiến tạo tầm nhìn dài hạn, bền vững, phù hợp để thích ứng với những biến đổi khí hậu là vô cùng quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
TS. HÀ HUY NGỌC - TS. TRẦN THỊ TUYẾT
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thị sát điểm sạt lở tại xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, tháng 9-2019_Ảnh: TTXVN
Chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn từ cuối năm 2015 đến tháng 2-2020, các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã hứng chịu các đợt hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. Đợt hạn hán, xâm nhập mặn niên vụ năm 2015 - 2016, tính đến tháng 6-2016, có 13/13 địa phương trong vùng đã ban hành quyết định công bố bị thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn trên địa bàn. Hạn hán, xâm nhập mặn đã làm cho khoảng 139.000 ha lúa của vùng bị thiệt hại; hơn 50% diện tích bị mất trắng, trong đó các tỉnh có diện tích lúa bị thiệt hại nhiều nhất là Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu... Hạn hán, xâm nhập mặn cũng làm cho khoảng 400.000 hộ với khoảng 1,5 triệu nhân khẩu bị thiếu nước sinh hoạt... Ước tính tổng thiệt hại của toàn vùng trong đợt hạn hán, xâm nhập mặn 2015 - 2016 khoảng 7.520 tỷ đồng.
Cũng theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường, hạn hán, xâm nhập mặn niên vụ 2019 - 2020 còn khốc liệt hơn vì đến sớm hơn thường lệ, bắt đầu xuất hiện từ cuối tháng 11-2019 (trong điều kiện bình thường là vào tháng 1-2020). Tính đến tháng 3-2020, có những địa phương đã bị xâm nhập mặn vào sâu tới 70km - 90km, như ở các tỉnh Bến Tre, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Hậu Giang... Hạn hán, xâm nhập mặn niên vụ 2019 - 2020 làm khoảng 100.000ha lúa, 130.000ha cây ăn trái trong vùng bị ảnh hưởng. Ngoài ra, có khoảng 100.000 hộ dân bị thiếu nước sinh hoạt, ước tính thiệt hại về kinh tế sẽ còn vượt qua đợt hạn hán, xâm nhập mặn 2015 - 2016 (ước tính khoảng gần 8.000 tỷ đồng)(1).
Mặt khác, báo cáo của Tổng cục Thủy lợi còn cho thấy, trong giai đoạn 2016 - 2020 khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn tiếp tục phải hứng chịu những đợt sạt lở bờ sông, bờ biển với tần suất và quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử phát triển của khu vực. Sạt lở đã uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của các công trình thủy lợi và kết cấu hạ tầng vùng ven biển, làm suy thoái nguồn vốn tự nhiên. Tổng thiệt hại do sạt lở bờ sông, bờ biển ở các địa phương tính đến hết tháng 2-2020 vào khoảng gần 3.000 tỷ đồng. Mức độ thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng trong giai đoạn 2010 - 2020, với tổng thiệt hại lên đến hơn 22.000 tỷ đồng.
Trước tình hình cấp bách đó, nhiều chính sách trực tiếp và gián tiếp được ban hành:
Một là, nhóm chính sách liên quan đến quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng và hạ tầng có lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tính đến tháng 12-2018, khoảng hơn 2.500 quy hoạch được lập cho vùng đồng bằng sông Cửu Long có lồng ghép trực tiếp và gián tiếp vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong đó, riêng cấp vùng có 22 quy hoạch. Quyết định số 1397/QĐ-TTg, ngày 25-9-2012, của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng đặc biệt nhấn mạnh quan điểm kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình, hạn chế lũ lụt và xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đã đưa ra các giải pháp, như kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang và Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô; tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn. Để triển khai Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 498/QĐ/TTg, ngày 17-4-2017, về Phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Hệ thống Thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1. Bên cạnh đó, Chính phủ phê duyệt Dự án Phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2013 - 2020, theo đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long có 12 đô thị được Chính phủ hỗ trợ xây dựng kịch bản đánh giá tác động, nâng cao năng lực ứng phó và xây dựng quy hoạch đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 68/QĐ-TTg, ngày 15-1-2018, về Phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, với mục tiêu phát triển không gian của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng tăng trưởng xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chuẩn bị mạ trong mô hình canh tác lúa thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu tại tỉnh Trà Vinh_Ảnh: TTXVN
Hai là, nhóm chính sách liên quan đến liên kết vùng, tiểu vùng sinh thái xã hội trong thích ứng với biến đổi khí hậu.
Quyết định số 639/QĐ-BNN-KH, ngày 2-4-2014, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, về Phê duyệt Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu đã nhấn mạnh quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở đổi mới tư duy, cách tiếp cận thị trường; khai thác, phát huy lợi thế của vùng và địa phương để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; tạo sự liên kết sản xuất, xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng lớn; ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học - công nghệ trong sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, trong bối cảnh ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu.
Để cụ thể hóa cơ chế pháp lý cho liên kết vùng ở đồng bằng sông Cửu Long, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 593/QĐ-TTg, ngày 6-4-2016, về việc Ban hành Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016 - 2020, trong đó chú trọng đến nội dung liên kết vùng trong ứng phó với biến đổi khí hậu, như đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu, phòng, chống lũ, kiểm soát xâm nhập mặn; quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong mùa khô; xây dựng, nâng cấp hệ thống đê biển, đê bao, cống, đập, vành đai rừng ngập mặn và các dự án bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu... Nhằm triển khai Quyết định trên, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 2220/QĐ-TTg, ngày 17-11-2016, về việc ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định 593/QĐ-TTg, đưa ra kế hoạch hành động liên kết vùng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm kế hoạch quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước nhằm mục tiêu kiểm soát lũ, kiểm soát mặn, tăng cường khả năng lưu chứa nước ngọt của vùng; kế hoạch trồng rừng ngập mặn, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, kế hoạch bảo vệ, chăm sóc rừng. Tiếp tục thúc đẩy thực hiện Quyết định 593/QĐ-TTg, tại các địa phương, Chính phủ đã thành lập Tổ chỉ đạo liên ngành về liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long. Kể từ khi Quyết định số 593/QĐ-TTg được ban hành, một số địa phương trong vùng đã tích cực xây dựng các đề án liên kết phát triển bền vững dựa trên các tiểu vùng sinh thái - xã hội, điển hình là tiểu vùng Đồng Tháp Mười, tiểu vùng duyên hải phía Đông, tiểu vùng tứ giác Long Xuyên, tiểu vùng bán đảo Cà Mau; đề xuất các tuyến lĩnh vực mà các địa phương có thể liên kết, như liên kết về quy hoạch, không gian phát triển; liên kết về sản xuất, xúc tiến thương mại nông nghiệp, thủy sản; liên kết về phát triển du lịch; liên kết về quản lý nguồn nước, bảo vệ môi trường, đáp ứng đa mục tiêu và thích ứng với biến đổi khí hậu; liên kết thiết lập hệ thống thông tin vùng; liên kết xây dựng thể chế chính sách cho tiểu vùng.
Nhờ chủ động đẩy sớm lịch xuống giống, vụ lúa đông xuân 2019 - 2020, vùng đồng bằng sông Cửu Long thắng lợi toàn diện dù hạn mặn khốc liệt hơn kỷ lục năm 2015 - 2016 (Trong ảnh: Thu hoạch vụ lúa đông xuân 2019 - 2020 ở huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang)_Ảnh: TTXVN
Ba là, nhóm chính sách mang tính tổng hợp, liên ngành nhằm phát triển bền vững.
Để phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ứng phó với các thách thức từ sự phát triển nội tại của vùng và khu vực thượng nguồn, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP, ngày 17-11-2017, về Phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết đề ra các chủ trương mang tính chiến lược, như mô hình phát triển phải lấy con người làm trung tâm; xác định biến đổi khí hậu và nước biển dâng là xu hướng tất yếu, phải sống chung và thích nghi, lấy tài nguyên nước là cốt lõi, cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển vùng; việc chuyển đổi mô hình phải dựa trên hệ sinh thái, tôn trọng các quy luật tự nhiên; tiếp cận tổng hợp, theo hướng tích hợp tổng thể kinh tế - xã hội toàn vùng, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng; mọi hoạt động đầu tư phải được điều phối thống nhất, bảo đảm tính liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm. Sự ra đời của Nghị quyết số 120/NQ-CP đã góp phần kiến tạo một tầm nhìn phát triển dài hạn, bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long, dựa trên nguyên tắc tôn trọng các giá trị sinh thái tự nhiên, con người của vùng. Đồng thời, để hiện thực hóa Nghị quyết, một số bộ cũng ban hành kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết này, điển hình là Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tiếp đến, để thực hiện Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP, tính đến tháng 2-2020 đã có 13/13 tỉnh, thành phố của vùng xây dựng các kế hoạch, đề xuất danh mục nhiệm vụ của các địa phương gửi cho Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, đưa vào Chương trình hành động tổng thể, ban hành Kế hoạch hành động của địa phương thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP. Trên cơ sở danh mục các nhiệm vụ do các bộ và địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đề xuất, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết120/NQ-CP, với 55 đề án, chương trình, dự án, nhiệm vụ ưu tiên, cấp bách cần thực hiện ở 13 địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Bốn là, hoạt động triển khai chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo báo cáo của Cục Biến đổi khí hậu, trong giai đoạn 2011 - 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu đã có 18 dự án do bộ/ngành chủ trì được thực hiện trên địa bàn vùng đồng bằng sông Cửu Long với kinh phí hơn 3.476 tỷ đồng; có 37 dự án do địa phương chủ trì với tổng kinh phí thực hiện hơn 2.560 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu đã có 7/16 dự án được thực hiện với kinh phí được cấp hơn 2.301 tỷ đồng; Chương trình Biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 - 2020 hỗ trợ 1.500 tỷ đồng cho các địa phương ứng phó với sạt lở bờ sông, bờ biển... Trong giai đoạn 2011 - 2020, vùng đã huy động được tổng số khoảng hơn 13.000 tỷ đồngcho các chương trình, dự án, nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ các tổ chức, như Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Phát triển quốc tế Đức, Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ, Cơ quan Phát triển quốc tế Ô-xtrây-li-a,... hỗ trợ các dự án liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu cho vùng đồng bằng sông Cửu Long khoảng hơn 764 triệu USD.
Những bất cập, hạn chế của chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Các chính sách nêu trên được triển khai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần tăng thu nhập, tạo sinh kế bền vững và thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập, hạn chế như sau:
Thứ nhất, các chính sách liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu hiện hành có nhiều mục tiêu chính sách chồng chéo, thiếu đồng bộ. Ví dụ, hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, Chương trình Giảm nhẹ và phòng chống thiên tai, Chiến lược tăng trưởng xanh, Chiến lược Bảo vệ môi trường, Chiến lược Phát triển bền vững,... có nhiều điểm chưa thống nhất, mục tiêu trùng nhau, làm địa phương gặp khó khăn trong thực hiện và báo cáo.
Thứ hai, tư duy ưu tiên chọn giải pháp công trình ở các bộ, ngành và địa phương của vùng vẫn nặng hơn các chọn lựa giải pháp phi công trình. Dù Nghị quyết số 120/NQ-CP đã xác định 3 trụ cột ưu tiên trong sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long là thủy sản; trái cây; lúa, gạo, thì nguồn lực tài chính vẫn tập trung nhiều cho hệ thống công trình thủy lợi phục vụ mục tiêu thoát lũ, ngăn mặn, duy trì canh tác lúa.
Thứ ba, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể khái niệm “chủ động thích ứng”, do đó, phải có công trình thì mới chủ động thích ứng được. Các chương trình, dự án về ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng trong thời gian qua hầu hết được thiết kế tập trung vào lĩnh vực giải pháp công trình hạ tầng thủy lợi. Chưa chú trọng dành nguồn lực cho giải pháp phi công trình, giải pháp công nghệ; năng lượng tái tạo; thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái, bảo vệ rừng ngập mặn; mô hình sinh kế bền vững cho cộng đồng...
Thứ tư, hiện nay, việc phân bổ ngân sách của các dự án biến đổi khí hậu cho các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn theo hình thức kế hoạch hóa, địa phương lập kế hoạch nhu cầu dự án và ngân sách gửi Chính phủ tổng hợp, cân đối nguồn và trình Quốc hội phê chuẩn kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương. Hình thức phân bổ như vậy khiến cho một số dự án biến đổi khí hậu cấp bách đang cần vốn đầu tư để thực hiện nhưng phải tuân thủ quy trình lập kế hoạch đầu tư công mất rất nhiều thời gian; làm cho dự án thiếu tính kịp thời, địa phương thiếu chủ động trong ứng phó với tình hình.
Thứ năm, biến đổi khí hậu có ảnh hưởng trên diện rộng, tác động mang tính liên tỉnh, liên vùng. Tuy nhiên, các chương trình, dự án thích ứng trong thời gian qua chủ yếu được xây dựng và thực hiện cục bộ, manh mún theo ranh giới hành chính, thiếu liên kết, chia sẻ về mặt thông tin giữa các địa phương trong quá trình lập dự án đầu tư công, cơ chế giải quyết các vấn đề liên ngành, liên vùng còn bất cập nên nguồn lực bị phân tán, dàn trải và hiệu quả không cao.
Thứ sáu, chưa thu hút được sự tham gia của khu vực tư nhân trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Hiện các văn bản pháp lý đã đề cập đến vai trò của khu vực tư nhân và thúc đẩy sự tham gia của giới doanh nghiệp trong nhiệm vụ thích ứng với biến đổi khí hậu, song lại thiếu cơ chế hỗ trợ để khuyến khích họ tham gia từ việc xây dựng chính sách đến triển khai thực hiện.
Một số kiến nghị nhằm kiến tạo chính sách chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long
Một là, kiến nghị Ban Kinh tế Trung ương nghiên cứu, tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, xây dựng ban hành nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với bối cảnh phát triển mới. Về dài hạn, cần nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới đã ban hành Luật Đồng bằng để xây dựng Luật về đồng bằng sông Cửu Long, nhằm tăng cường cơ sở pháp lý cho sự phát triển bền vững.
Hai là, Chính phủ đã đưa ra chiến lược xoay trục phát triển nông nghiệp của vùng từ “lúa gạo - trái cây - thủy sản” sang “thủy sản - trái cây - lúa gạo”. Do vậy, các chính sách phát triển cho vùng giai đoạn 2021 - 2030 cần được thiết kế để chủ trương xoay trục diễn ra thành công và góp phần chuyển các thách thức, nguy cơ thành cơ hội để phát triển bền vững. Trong giai đoạn 2021 - 2030 và xa hơn, Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo các chính sách cụ thể, phù hợp, tăng cường sử dụng các công cụ dựa vào nguyên tắc của thị trường, và mang tính linh hoạt, hướng nhiều hơn đến nhóm cộng đồng dân cư, doanh nghiệp để tăng cường năng lực chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Mô hình sản xuất tôm - lúa thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long_Nguồn: sggp.org.vn
Ba là, cần sớm xây dựng và ban hành quy hoạch tổng thể phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo phương pháp tích hợp, đa ngành. Trên cơ sở quy hoạch chung, sẽ rà soát, điều chỉnh, xây dựng mới các quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, các chương trình, dự án mang tính tổng thể, liên ngành, liên vùng.
Bốn là, hoàn thiện thể chế điều phối vùng trong thích ứng với biến đổi khí hậu. Cần sớm nghiên cứu thành lập hội đồng điều phối vùng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, liên kết chuỗi chặt chẽ trong sự phát triển bền vững của vùng. Mô hình quản lý này sẽ có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, kinh phí để nắm vai trò ra quyết định cho quá trình phát triển của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đề xuất thành lập hội đồng ủy ban để xét duyệt các dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống biến đổi khí hậu dựa trên tiêu chí tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Xây dựng các tiêu chí ưu tiên để lựa chọn các dự án thuộc Chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP; đồng thời, ban hành quy chế tài chính giải ngân vốn của dự án thuộc Chương trình biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, Chương trình thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ở đồng bằng sông Cửu Long để các địa phương chủ động và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn cho các dự án cấp bách thực hiện.
Năm là, xem xét thành lập quỹ phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long, có cơ chế quản lý hoạt động rõ ràng, để huy động nguồn vốn cấp bách, dành riêng cho phát triển bền vững gắn với biến đổi khí hậu, phù hợp với các nguyên tắc chung về quản lý tài chính.
Sáu là, tăng cường vai trò tham gia của khu vực tư nhân trong thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu xây dựng cơ chế thí điểm phương thức phí dịch vụ thủy lợi ở một số vùng chuyên canh lúa, thủy sản có quy mô lớn phục vụ xuất khẩu tại một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ở các vùng tập trung sản xuất có quy mô lớn, ủy ban nhân dân tỉnh cần lựa chọn danh mục các công trình hồ chứa thủy lợi quy mô lớn, hồ chứa đa mục tiêu, tuyến đê biển, đê sông xung yếu, để thí điểm mô hình đầu tư theo phương thức hợp tác công - tư./.