Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI 1950: CHIẾN DỊCH CÓ QUY MÔ LỚN ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN ĐỘI TA

 70 năm trước, trên miền biên giới Đông Bắc đất nước, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Việt Nam mở chiến dịch tiến công quy mô lớn vào hệ thống phòng ngự quân đội Pháp (khu vực Đường số 4). Chiến dịch giành thắng lợi vang dội, mở ra bước ngoặt mới theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng.

Bối cảnh quốc tế năm 1950 có sự chuyển biến quan trọng. Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa ra đời (1/10/1949) tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng nước ta có thể quan hệ trực tiếp với các nước xã hội chủ nghĩa, tiếp nhận viện trợ quốc tế. Từ tháng 1 năm 1950, các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ kháng chiến (Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa).
Trong nước, cuộc kháng của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược có sự phát triển toàn diện. Tuy nhiên, cách mạng còn gặp nhiều khó khăn. Thực dân Pháp, được đế quốc Mỹ hậu thuẫn xây dựng “tuyến hành lang cơ bản” (Hải Phòng - Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La) hòng cắt liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc của ta với đồng bằng Liên khu III, Liên khu IV; đồng thời tăng cường hệ thống phòng ngự tại các tỉnh biên giới phía Bắc nhằm “khóa chặt biên giới Việt - Trung”, cô lập cách mạng Việt Nam với thế giới bên ngoài.
Trong tình thế đó, để tạo bước “đột phá” xoay chuyển cục diện chiến tranh, tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng, Chính phủ chủ trương mở chiến dịch quy mô lớn ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc nhằm mục đích: “Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; giải phóng một phần biên giới, mở đường thông thường với các nước xã hội chủ nghĩa; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc”. Tuy nhiên, việc lựa chọn hướng chính chiến dịch (Đông Bắc hay Tây Bắc) chưa thống nhất.
Tháng 7 năm 1950, Thường vụ Trung ương Đảng tiếp tục họp bàn, quyết định chọn hướng tiến công chính ở Đông Bắc (trọng điểm là Cao Bằng - Lạng Sơn), vì đây là địa bàn hiểm yếu; địa hình rừng núi phù hợp với sở trường tác chiến bộ đội ta; việc huy động nhân lực, vật lực có nhiều thuận lợi. Để bảo đảm giành thắng lợi, Trung ương Đảng huy động phần lớn các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược của Bộ, bao gồm Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung đoàn 174 và bốn đại đội sơn pháo, năm đại đội công binh; phối hợp cùng lực lượng vũ trang của Liên khu Việt Bắc và hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn.
Ngày 25/7/1950, Thường vụ Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch Biên giới (mật danh Lê Hồng Phong II). Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng quyết định sẽ trực tiếp đi mặt trận tham gia chỉ đạo, động viên cán bộ, chiến sĩ, đồng bào. Ngoài ra, chiến dịch còn được sự giúp đỡ tích cực về vũ khí, lương thực từ chính phủ Trung Quốc, đặc biệt là có Đoàn cố vấn Trung Quốc bên cạnh Sở chỉ huy.
Chiến dịch Biên giới 1950 là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta, mang ý nghĩa chiến lược rất to lớn. Sự thành - bại trong chiến dịch này có ảnh hưởng quyết định đến việc thay đổi cục diện chiến tranh, đến lòng tin của quân và dân đối với đường lối kháng chiến của Đảng, đến quá trình xây dựng, trưởng thành của quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. Với ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị: “Chiến dịch này hết sức quan trọng, chỉ được thắng không được thua!”. Thường vụ Trung ương Đảng cũng nhấn mạnh lại quyết tâm: “Phải thực hiện cho bằng được những nhiệm vụ chiến dịch đã nêu ra ở trên”.
Chấp hành chủ trương, chỉ đạo chiến lược đề ra, quân dân ta khẩn trương chuẩn bị mọi mặt. Riêng lực lượng hậu cần lên đến ba vạn người, cộng thêm 12 vạn dân công thuộc các dân tộc Việt Bắc ngày đêm hoạt động phục vụ tiền tuyến. Khối lượng vật chất vận chuyển từ xa đến mặt trận khoảng 4.000 tấn. Bên cạnh đó, Trung ương Đảng cũng giao nhiệm vụ cho các chiến trường đẩy mạnh hoạt động tại chỗ để phối hợp kiềm chế địch, không cho chúng dồn quân tăng viện cho mặt trận biên giới.
Lúc này, lực lượng quân Pháp trên tuyến phòng thủ biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn có 11 tiểu đoàn và 9 đại đội bộ binh (phần lớn là lính Âu - Phi tinh nhuệ) được trang bị vũ khí hiện đại, tổ chức thành những cụm cứ điểm mạnh dọc theo Đường số 4: Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình... cách nhau trung bình từ 25 - 30km. Trong trường hợp một cụm cứ điểm bị tiến công, địch có thể chi viện trực tiếp bằng đường không, hoặc tổ chức lực lượng ứng cứu đường bộ từ những cụm cứ điểm gần nhất.
Sau thời gian tích cực chuẩn bị, sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950, ta tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, mở màn chiến dịch. Đến sáng ngày 18 tháng 9, ta tiêu diệt toàn bộ quân phòng ngự, đẩy quân Pháp vào tình thế hoang mang: Thất Khê bị uy hiếp, Thị xã Cao Bằng bị cô lập; thế phòng thủ Đường số 4 bị lung lay.
Bị mất Đông Khê, Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định rút quân khỏi Cao Bằng theo Đường số 4 với kế hoạch “hành quân kép”: Tổ chức một cuộc hành quân đánh lên Thái Nguyên nhằm buộc ta đưa chủ lực về đối phó, giảm áp lực cho quân Pháp ở biên giới; đồng thời tổ chức một cuộc hành quân từ Thất Khê tiến lên chiếm lại Đông Khê, để đón cánh quân từ Cao Bằng rút về.
Nhận định đúng ý định của địch, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo các đơn vị kiên trì mai phục chờ đánh quân tiếp viện. Đúng như dự đoán, ngày 30 tháng 9 năm 1950, quân Pháp bắt đầu triển khai kế hoạch hành quân. Chớp thời cơ, từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 10 năm 1950, quân ta liên tục chặn đánh tiêu diệt từng cánh quân địch tại khu vực ngoại vi Đông Khê, làm phá sản hoàn toàn kế hoạch rút quân của chúng. Bộ chỉ huy quân Pháp hoảng loạn, ra lệnh rút quân khỏi hàng loạt cứ điểm trên Đường số 4: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập.
Ngày 14/10/1950, Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi, hoàn thành xuất sắc mục tiêu cơ bản đề ra. Trải qua 29 ngày đêm chiến đấu (16/9 - 14/10/1950), ta diệt và bắt hơn 8.000 quân tinh nhuệ địch, thu 3.000 tấn vũ khí, mở thông dải biên giới Đông Bắc kéo dài từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn), trực tiếp góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh: ta bước sang giai đoạn chiến lược phản công và tiến công, Pháp chuyển dần sang chiến lược phòng ngự. Đây thực sự “là kết tinh thành quả những nỗ lực phi thường của quân và dân ta trong những năm tháng chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ trong vòng vây bốn bề của địch, dưới sự lãnh đạo hết sức tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta”.

HỌC VÀ LÀM THEO PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN HỒ CHÍ MINH

 PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN “LẤY DÂN LÀM GỐC”

Kế thừa tư tưởng “trọng dân”, “thân dân” theo truyền thống của dân tộc, đồng thời Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, cho nên Người đặc biệt đánh giá cao vai trò, sức mạnh của nhân dân. Người nói: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”; “Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân”; “dân là gốc của nước”; “dân là quý nhất, là quan trọng nhất. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Dân là gốc của nước”, là lực lượng chủ yếu của cách mạng, vì dân có số lượng đông, vì “mọi lực lượng đều ở nơi dân”. Dân cũng là những người làm ra mọi của cải vật chất và giá trị văn hoá, nuôi sống bộ máy Nhà nước và toàn thể xã hội, làm cho xã hội tồn tại và phát triển: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”.
Phương pháp “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh là phải tôn trọng nhân dân, làm lợi cho dân để nhân dân hăng hái tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Vô luận việc gì đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”, cho nên phải xem xét mọi việc để có lợi cho dân. Người nhấn mạnh: “Kinh nghiệm trong nước và các nước đã cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
PHƯƠNG PHÁP “DÂN VẬN KHÉO” LÀ PHẢI BIẾT PHÁT HUY DÂN CHỦ
Phát huy dân chủ tức là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để dân thực sự được “làm chủ” và thực sự “là chủ”. Hồ Chí Minh chỉ rõ, phát huy dân chủ không chỉ là “ở chỗ chào hỏi kính thưa có lễ phép mà đủ” mà còn là “không được phung phí nhân lực, vật lực của dân. Khi huy động nên vừa phải, không nên nhiều quá lãng phí vô ích. Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ dân cũng là biết tôn trọng dân”. Trong quan hệ với nhân dân, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận phải sâu sát, tìm hiểu kỹ càng, “hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân... Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân”.
Theo Hồ Chí Minh, “không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm trò dân mới làm được thầy học dân”.
DÂN VẬN BẰNG PHƯƠNG PHÁP “NÊU GƯƠNG”
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, “nêu gương” là một trong những phương pháp vận động nhân dân hữu hiệu nhất. Để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng, được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, thì người đảng viên, người cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là những cán bộ trực tiếp làm công tác dân vận phải là những tấm gương sống.
Khi nhận xét về V.I.Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng, V.I.Lênin là người “đã nêu cho chúng ta một tấm gương sáng về sự giản dị vĩ đại và sự khiêm tốn cao độ” và “không phải thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người không gì ngăn cản nổi”.
Cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu phải trở thành tấm gương: “Nói đi đôi với làm”; “Nói ít, làm nhiều”, hướng về dân, gần dân, hiểu dân, trọng dân, tin dân, học dân, dựa vào dân để đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân.
Thực hiện phương pháp nêu gương trong công tác dân vận, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, không gì thuyết phục hơn là bằng hành động thực tiễn, bằng việc làm cụ thể, Hồ Chí Minh nói, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, vì “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, dùng phương pháp “nêu gương” để vận động nhân dân đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở bất kỳ vị trí công tác nào cũng phải nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình. Cán bộ, đảng viên càng giữ chức vụ cao, đảm trách vị trí quan trọng, nhất là người đứng đầu, càng phải hết sức nêu gương tự phê bình và phê bình; luôn tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, lối sống ở mọi lúc, mọi nơi.
Đó là những vấn đề căn cốt của phương pháp “dân vận khéo” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

BIỂN ĐẢO VIỆT NAM - MỘT SỐ ĐIỀU CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT

1️⃣. Việt Nam có bao nhiêu huyện đảo? Có bao nhiêu tỉnh (thành phố) có 2 huyện đảo?
➡️ Việt Nam có 12 huyện đảo:
3 tỉnh, thành phố có 2 huyện đảo gồm Quảng Ninh (Cô Tô, Vân Đồn), Hải Phòng (Bạch Long Vĩ, Cát Hải), Kiên Giang (Kiên Hải, Phú Quốc).
Thứ tự các tỉnh có một huyện đảo tính từ Bắc vào Nam là Quảng Trị (Cồn Cỏ), Đà Nẵng (Hoàng Sa), Quảng Ngãi (Lý Sơn), Khánh Hòa (Trường Sa), Bình Thuận (Phú Quý), Bà Rịa-Vũng Tàu (Côn Đảo)”.
2️⃣. Đường biên giới trên biển là đường nào?
➡️ Đường biên giới trên biển là mép ngoài của vùng lãnh hải (Vùng biển Việt Nam bao gồm: nội thủy nằm phía trong đường cơ sở; từ đường cơ sở ra 12 hải lý là lãnh hải; từ lãnh hải tiếp ra 12 hải lý là vùng tiếp giáp lãnh hải; từ đường cơ sở ra 200 hải lý là vùng đặc quyền kinh tế; tiếp theo là thềm lục địa).
3️⃣. Bãi Tư Chính thuộc tỉnh nào quản lý?
➡️ Bãi Tư Chính thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
4️⃣. Quần đảo Trường Sa hiện nay, Việt Nam quản lý bao nhiêu đảo?
➡️ Tại quần đảo Trường Sa hiện nay, Việt Nam quản lý tổng cộng: 21 thực thể địa lý, gồm 7 đảo san hô/cồn cùng 14 rạn san hô.
5️⃣. Có bao nhiêu tỉnh (thành phố) ở nước ta có biển?
➡️ Có 28 tỉnh, thành phố của nước ta có biển.
6️⃣. Bờ biển Việt Nam dài bao nhiêu?
➡️ Bờ biển Việt Nam dài khoảng 3.260km.
7️⃣. Quần đảo nào có nhiều đảo nhất?
➡️ Cát Bà - Được mệnh danh là hòn ngọc của miền Bắc, Cát Bà ngày càng là 1 điểm đến lý tưởng cho du khách vào mùa hè. Ai đã từng đến với các chương trình tour du lịch Cát Bà hẳn sẽ vẫn còn ấn tượng với vẻ đẹp trong veo của biển nơi đây. Nằm ngay gần với Hạ Long, du khách đi tàu mất chừng 30 phút từ Tuần Châu đến Cát Bà bạn sẽ được đặt chân đến quần đảo có nhiều đảo nhất Việt Nam ( 367 đảo lớn nhỏ ). Tại đây du khách sẽ được hòa mình vào 1 làn nước biển trong veo,lặn biển…, thăm quan khu rừng nguyên sơ, những điểm đến lịch sử, nhưng hang động huyền bí… đó chính là những điều tuyệt vời mà bạn sẽ có trong chương trình đi Cát Bà
8️⃣. Bãi biển dài nhất của Việt Nam?
➡️ Bãi biển Trà Cổ được biết đến không chỉ là 1 bãi biển trữ tình, Trà Cổ còn được mệnh danh là bãi biển dài nhất nước ta. Bãi biển dài 17km này còn là nơi đặt nét bút đầu tiên cho chữ S trên bản đồ Việt Nam. Nơi đây cũng giống như những bãi tắm tuyệt vời khác hấp dẫn du khách bởi sự trong xanh của biển đảo, những bãi cát trắng trải dài miên man. Đặc biệt ở đây còn có khu dừng ngập mặn khá thú vị cho bạn khám phá và bạn cũng đừng quên ghé chân qua những khu chợ hải sản bình dân nơi đây nhé.
9️⃣. Vịnh có nhiều đảo nhỏ nhất?
➡️ Vịnh Hạ Long - Nhắc đến những điều lý thú của biển đảo Việt Nam bạn không thể không nhắc đến vịnh Hạ Long. Vịnh sở hữu danh hiệu có nhiều đảo nhất Việt Nam. Đến với Tour Hạ Long, bạn sẽ được thăm những hòn đảo đủ kích thước, hình dáng nơi đây, thăm những hang động kỳ bí và những câu chuyện thần thoại huyền ảo. Một hoạt động mà chưa thu hút được nhiều khách Việt mà rất tuyệt vời chính là ngủ đêm trên Vịnh bằng du thuyền. Đến Hạ Long bạn đừng quên thử 1 lần trải nghiệm dịch vụ này nhé.
🔟. Hòn đảo lớn nhất Việt Nam hiện nay?
➡️ Đảo Phú Quốc, với vô vàn cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời cho bạn chiêm ngưỡng. Ẩn chứa trong mình không chỉ những bãi biển tuyệt đẹp, những cảnh hoàng hôn quyến rũ lòng người, những rặng san hô độc đáo đầy màu sắc, những đặc sản ngon… Đến Phú Quốc bạn còn có thể trải nghiệm không gian nghỉ dưỡng hoàn hảo tại khu du lịch Vinpear Land Phú Quốc.
1️⃣1️⃣. Đảo có mật độ dân số cao nhất của Việt Nam
➡️ Đảo Lý Sơn, là 1 huyện đảo nhỏ nhưng Lý Sơn lại mang danh hiệu đảo có dân số cao nhất. Có thể bạn biết Lý Sơn có những bãi tắm tuyệt vời và có thể đẹp hơn những bãi biển như Mỹ Khê, Bắc Mỹ An trong tour Đà Nẵng nhưng chưa hẳn bạn đã biết rằng hiện có mật độ dân số cao nhất trong 12 huyện đảo nước ta.
1️⃣2️⃣. Đầm phá lớn nhất?
➡️ Tam Giang – đầm phá lớn nhất Việt Nam và cũng là ở Đông Nam Á. Khi tới đây, bạn sẽ được lênh đênh trên dòng nước mênh mang để vừa ngắm bức tranh phong cảnh thay đổi theo thời điểm trong ngày. Nơi đây có những nét văn hóa cổ xưa độc đáo cùng những món ăn hải sản ngon tuyệt.
⤴️ Đó là những điều mà bạn nên biết về huyện đảo của Việt Nam, những điều sẽ khiến bạn thêm tự hào hơn về quê hương mình.
📌 Và cuối cùng, bạn - tôi - chúng ta luôn phải nhớ, hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam. 🇻🇳./.

LÝ DO NGƯỜI VIỆT NAM TỰ HÀO VỀ CHIẾC MŨ CỐI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

 Dưới đây là hình ảnh chiếc mũ cối của liệt sĩ Bùi Đức Hưng được một người lính Mỹ giữ lại trong suốt 46 năm. Chiếc mũ là kỷ vật mà John Wast tìm lại được sau một cuộc đấu súng căng thẳng với liệt sĩ Hưng tại chiến trường miền Nam.

Cuộc đấu căng thẳng suốt 3 ngày đêm và người Mỹ chỉ thật sự yên tâm sau khi không còn nghe thấy bất kỳ tiếng bắn trả nào trong nhiều giờ đồng hồ. Họ tìm lên quả đồi nơi những người lính Bắc Việt ẩn náu để xem "Đội quân nhỏ bé với chỉ vài chục người" đó như thế nào. Tất cả còn lại chỉ là sự hoang tàn, vết cày xới của đạn bom.
John Wast đã tìm thấy được chiếc mũ này, chiếc mũ khi ấy là dấu hiệu nhận biết những anh giải phóng quân. Nhưng khi nằm trên tay John Wast nó đã lỗ chỗ 11 vết đạn thù, có lẽ người lính ấy đã chiến đấu đến những hơi thở cuối cùng và trong giây phút đó, sức mạnh của anh xuất phát từ tình yêu nước và quyết tâm giữ lại từng tấc đất quê hương.
Điều khiến anh lính Mỹ kinh ngạc là khi lật chiếc mũ đó lên, anh thấy dòng chữ Việt Nam và hình ảnh một chú chim bồ câu. Anh chợt nhận ra những con người phía bên kia chiến tuyến cũng yêu hòa bình, cũng chiến đấu vì sự tự do dân tộc chứ không phải những gì anh được nước Mỹ tuyên truyền về 1 cuộc chiến tại Việt Nam đầy nhân văn, công lý.
Ông ghi nhận: "Đó là một người lính yêu nước, đáng được tôn vinh và trân trọng."
Ở Việt Nam có những thứ thiêng liêng như thế. Những người bạn nước ngoài không thể hiểu tại sao chúng ta lại thích đội mũ cối và có những chiếc kẻng bằng vỏ bom...Chúng ta yêu vì chúng ta hiểu, hiểu lịch sử dân tộc và những gì cha ông ta đã trải qua!

Canh giac truoc hoat dong loi dung hoi nhap kinh te quoc te

Nhận diện hoạt động lợi dụng hội nhập kinh tế quốc tế để chống phá Việt Nam

       Một trong những nội dung quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, kết hợp với kích động các hoạt động chống phá từ bên trong nước ta. Nhận thức rõ trong thời đại ngày nay, việc hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan, do đó Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp trong lãnh đạo, chỉ đạo để ngày càng phát triển, mở rộng các mối quan hệ quốc tế, trong đó có HNKTQT. Thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước về HNKTQT, những năm qua, tiến trình này của Việt Nam đã, đang đạt nhiều kết quả hết sức to lớn. Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 185 nước trên thế giới và cũng là nước ASEAN duy nhất có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các thành viên nhóm G7 và 13/20 nước G20. Việt Nam đã ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế. Nhờ HNKTQT, những năm qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ cùng với các lĩnh vực khác của xã hội. Năm 2016, GDP Việt Nam đạt 203 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2006; GDP năm 2017 đạt hơn 220 tỷ USD, tăng cao nhất kể từ 2011 trở lại đây và tăng 6,81% so với năm 2016. Năm 2015, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng 4 lần so với năm 2006, lên 11,8 tỷ USD. Năm 2017, FDI vào Việt Nam đạt gần 36 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, tăng 42,3% so với cùng kỳ năm 2016. Riêng 10 tháng năm 2018, cả nước có 2.458 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 27,9 tỷ USD, bằng 98,8% so với cùng kỳ năm 2017.
      Thế nhưng trong sự thành công của Việt Nam về HNKTQT, các thế lực thù địch cũng không ngừng lợi dụng lĩnh vực này để nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với Việt Nam. Những năm qua, các thế lực thù địch đã ráo riết triển khai một số hoạt động cơ bản như sau:       Một là, thúc đẩy việc tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài để từng bước chi phối nền kinh tế Việt Nam; thông qua đó nhằm làm cho Nhà nước từng bước mất dần khả năng kiểm soát, điều hành nền kinh tế đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Với phương châm: “Lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị”, các thế lực thù địch âm mưu từng bước xóa bỏ chế độ XHCN một cách từ từ, êm ả, không gây ra chấn động lớn trong xã hội mà khởi nguồn là từ những sai lầm trong HNKTQT ở Việt Nam.
      Hai là, họ lợi dụng HNKTQT và hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, nhất là thông qua hợp tác với các cơ quan của Đảng, Nhà nước Việt Nam để xâm nhập nội bộ, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, thu thập tin tức bí mật nhà nước để chống phá Việt Nam. Họ đặc biệt triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại, các phương tiện công nghệ cao để thu thập tin, đánh cắp bí mật nhà nước, lấy cắp các phát minh, sáng chế của Việt Nam, gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam.
      Ba là, triệt để thông qua các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp quốc tế hợp tác, làm ăn với Việt Nam để đưa ra các yêu cầu mang tính áp đặt phi lý. Họ còn tìm cách gây ra “khủng hoảng”, những tác động tiêu cực từ bên ngoài làm suy yếu nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng đến phúc lợi nhân dân và sức mạnh của Nhà nước.
       Bốn là, họ tìm cách tác động tới các chính khách cực đoan trong quốc hội một số nước phương Tây, đòi gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện cải cách chính trị, pháp luật theo kiểu phương Tây (như yêu cầu Nhà nước xóa bỏ một số điều về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự hiện hành…); đòi thay Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải thúc đẩy tự do báo chí, tự do ngôn luận theo tiêu chí phương Tây, đòi thả các đối tượng chống đối vi phạm pháp luật... nhằm tạo nên những tiền đề gây mất ổn định chính trị, xã hội ngay từ bên trong đất nước.
       Cũng cần phải nghiêm túc nhìn nhận rằng, việc HNKTQT của Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, đó là: Cơ cấu tăng trưởng kinh tế Việt Nam chưa thay đổi căn bản; chất lượng tăng trưởng vẫn còn thấp và chưa thực sự ổn định, bền vững. Quá trình HNKTQT chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh. Việt Nam chưa có kế hoạch tổng thể và lộ trình hợp lý về HNKTQT; chưa có chiến lược rõ ràng khi tham gia các FTA. Việc ứng phó với các biến động và xử lý những tác động xấu do nền kinh tế thế giới gây ra còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ; hệ thống luật pháp Việt Nam theo yêu cầu HNKTQT chưa hoàn thiện và đầy đủ. Ở một số địa phương, các vụ việc phức tạp xảy ra liên quan đến khiếu nại, tố cáo… chậm được giải quyết, tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định chính trị-xã hội. Sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày càng gay gắt. Còn tồn tại tệ nạn tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng, triển khai các dự án, đề án hợp tác kinh tế quốc tế… Đó là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng hòng thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.
Nhằm tận dụng những cơ hội, thuận lợi trong hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước và phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hành vi lợi dụng HNKTQT để chống phá Việt Nam, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm như sau:
      Một là, công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng HNKTQT để chống phá nước ta luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tính tất yếu khách quan của việc HNKTQT; âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề này để “diễn biến hòa bình” đối với nước ta của các thế lực thù địch; vị trí, vai trò công tác đấu tranh chống hoạt động lợi dụng HNKTQT để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này.
      Hai là, bảo đảm thực hiện hiệu quả quá trình HNKTQT trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia; giữ vững ổn định chính trị-xã hội, kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc. Xác định rõ hội nhập là quá trình vừa có nhiều cơ hội, vừa gặp nhiều thách thức, vừa hợp tác, vừa đấu tranh; do vậy, cần chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu. Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế, coi đây là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong HNKTQT.
      Ba là, thường xuyên nắm chắc tình hình hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nước ngoài hợp tác, làm ăn với Việt Nam để chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động lợi dụng hợp tác để xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam. Cần tập trung nắm tình hình hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nước ngoài, các chương trình, dự án đầu tư có yếu tố nước ngoài triển khai ở Việt Nam… nhằm kịp thời phát hiện những vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh chính trị, trật tự xã hội để phòng, chống hiệu quả. Chủ động phát hiện đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm những trường hợp làm lộ, lọt bí mật nhà nước, cung cấp bí mật nhà nước cho các tổ chức nước ngoài, hoặc bị kẻ địch mua chuộc, lôi kéo nhằm phá hoại kinh tế nước ta.
       Bốn là, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ làm việc ở các cơ quan, đơn vị thường xuyên tiếp xúc, trao đổi, hợp tác với các tập đoàn kinh tế nước ngoài, bảo đảm cho đội ngũ này luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu chủ động và tích cực HNKTQT; có khả năng nắm bắt và tận dụng cơ hội lớn, vượt khó khăn, thách thức đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia nước ta trong HNKTQT, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
      Năm là, khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến HNKTQT trên cơ sở tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường và các cam kết hội nhập quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Chú trọng nội luật hóa theo lộ trình phù hợp với những cam kết quốc tế, bảo đảm tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua các khó khăn, thách thức từ việc tham gia hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong HNKTQT, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, chủ quyền của đất nước ta.  
     Những năm tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng HNKTQT để phá hoại thành quả cách mạng và chống phá chế độ xã hội mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Với những thành tựu đã đạt được trong HNKTQT, chúng ta có quyền tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta sẽ HNKTQT thành công, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, phát triển.

Xuyen tac lich su

Xuyên tạc lịch sử chính là phá hoại tương lai

       Cứ đến dịp kỷ niệm 30/4, CMT8, QK 2/9 hằng năm, lại xuất hiện những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm. Gần đây, trên một trang xưng là của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn nhắc lại những từ ngữ như “tháng Tư là tháng "vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận-tháng tư đen”. Nhiều trang mạng viết coi cuộc kháng chiến thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào. Một số ít người tự cho mình là cấp tiến, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.
      Cù Huy Hà Vũ, kẻ sinh ra trong một gia đình cách mạng, từng bị tòa án tuyên án khi bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, gây chia rẽ, thù hằn dân tộc. Gần đây, khi sang Mỹ, Vũ phát ngôn cho rằng, hòa hợp dân tộc không dừng ở hòa hợp giữa hai bên “thắng cuộc” và "thua cuộc" mà còn là hòa hợp giữa những nhà dân chủ với chính quyền hiện nay. Chỉ khi nào “chế độ cộng sản sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp, hòa giải”. Nguyễn Lân Thắng, "kẻ đốt đền" trong một gia đình khoa học thì lại muốn nổi tiếng bằng những lời xảo ngôn: "Mình mong ngày 30-4 sẽ chuyển thành ngày tưởng niệm những mất mát của dân tộc, đừng nói chuyện ai thắng, ai thua". Lý Thái Hùng, kẻ tự xưng là "tổng bí thư" của tổ chức khủng bố Việt Tân gần đây đã hô hào biến ngày 30-4 từ "quốc hận" trở thành “tinh thần quốc kháng” để chống lại chế độ cộng sản.
Tháng 9-2018, tại Washington (Mỹ), cái gọi là “tập hợp vì dân chủ cho Việt Nam” đã tổ chức hội thảo có chủ đề “Nhìn lại chiến tranh Việt Nam” và đưa ra một số luận điểm bịa đặt, biện hộ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ kêu gọi: “43 năm qua, Việt Nam vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ. Thành ra sứ mệnh của người trẻ tại hải ngoại sẽ phải tiếp tục đồng hành, tiếp tục tranh đấu cho tự do và dân chủ”.
        Xung quanh bộ phim tài liệu 10 tập The Vietnam War (Chiến tranh Việt Nam) được Mỹ công chiếu, một số người trong nhóm "Văn đoàn độc lập" đã xét lại lịch sử: “Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không? Giá chúng ta tìm một con đường khác ít xương máu hơn cho nền độc lập của đất nước thì quý biết nhường nào?”. "Nếu không cần chống Mỹ, miền Nam có giàu như Hàn Quốc không?".
       Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 44 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".
        Nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia nghiên cứu về lịch sử Đông Dương Alain Rusco cho rằng, sự kiện 30-4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù… để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt”.
       Gần đây, trả lời báo chí về bộ phim tài liệu The Vietnam War, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước".
Trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đúc kết một trong những đặc điểm nổi bật về cuộc kháng chiến là: “Cả nước đánh Pháp, đánh Mỹ, không phân biệt tiền tuyến, hậu phương. Ý chí thống nhất Tổ quốc là thế và lực mạnh trong chiến tranh. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Chiến trường Việt Nam là một. Cả dân tộc kết thành một khối trong tình đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc, không thể cắt chia. Thù nhà nợ nước là chung của cả dân tộc…”. Những kẻ ngày nay xuyên tạc cho rằng bên này, bên kia mới là thắng cuộc, bên này mới là giải phóng bên kia… chẳng những không hiểu cội nguồn lịch sử mà còn xúc phạm xương máu cha ông.
        Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam; chỉ một bộ phận chống cộng, mang nặng hận thù và những kẻ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ngày nay mới tin vào những luận điệu như chiến tranh ý thức hệ, nội chiến hay quan điểm lập lờ “bên nào thắng thì nhân dân đều bại”(!).
Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”.
        Henry Kissinger, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ viết: "Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975…”.
        các tài liệu mới được giải mật của chính quyền Mỹ, ngày 27-9-1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ xác định mục tiêu lâu dài của Mỹ là “thủ tiêu ở mức tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ”. Ngày 30-12-1949, Tổng thống Mỹ S.Truman phê chuẩn một văn kiện của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, trong đó nêu rõ: “Mục tiêu lâu dài của Mỹ là thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương... Mỹ muốn thấy ở Việt Nam và Đông Dương có các nhà nước chống cộng, thân Mỹ”. Điều này cũng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại nhân kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: "Bác Hồ đã sớm nhìn thấy âm mưu đen tối của Mỹ. Từ 1950, Bác đã chỉ ra sự dính líu và can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Ðông Dương. Ðể tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ S.Truman...” nhưng không có phản hồi.
Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”…
        Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn.
      Không chỉ cán bộ, đảng viên mà mỗi người dân yêu nước Việt Nam cũng cần phải có tiếng nói đúng với lương tâm và lẽ phải. Quá khứ không chỉ là lịch sử mà còn là hành trang, là sức mạnh tinh thần, là dòng máu Lạc Hồng tạo nên nhân cách của mỗi người dân đất Việt. Nếu quên tổ tiên, quên công lao của thế hệ đi trước, quên những hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc thì không thể là người Việt Nam chân chính. Phẫn nộ với ý kiến cho rằng "không cần chiến tranh sau này đất nước vẫn giàu mạnh", nhà sử học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang đã viết: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954-1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.
       Trên thực tế, đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc cũng như chiến công của những người cộng sản. Tướng Nguyễn Hữu Có, phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phóng vấn Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, nói: “Chiến thắng 30-4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam... Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại". Cựu thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ nhận xét về việc gọi ngày 30-4 là "quốc hận" và đòi "phục quốc": "Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây... đâu mà phục quốc?".
       Ngay cả những người Mỹ đương đại cũng luôn nhìn lịch sử với sự tôn trọng để rút ra bài học cho tương lai. Trong bài thuyết trình "Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử" trình bày tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh năm 2018, Giáo sư D.G.Faust, Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard nói: “Lịch sử soi rọi những sự mù quáng và tàn bạo đã làm nên chiến tranh. Nó giúp chúng ta hình dung và đấu tranh cho hòa bình”.
       Chúng ta cũng có thể tham khảo được nhiều bài học từ nước Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, đã xuất hiện nhiều tiếng nói phủ nhận những thành tựu thời Xô viết, xét lại Cách mạng Tháng Mười, coi đó như một cuộc đảo chính man rợ, coi chế độ Xô viết như chủ nghĩa phát xít… Thế nhưng sau đó, chính quyền từ thời Tổng thống Nga Putin đã nhanh chóng bác bỏ những quan điểm sai trái trên, tiếp tục đề cao các giá trị truyền thống tốt đẹp thời Xô viết, coi đó là niềm tự hào chung để cố kết dân tộc Nga, tăng thêm sức mạnh. Phê phán những quan điểm sai trái, một bài báo từ hãng thông tấn Sputnik của Nga khẳng định: Không có chính quyền dân chủ nào được lập nên trên đầu mũi súng và không có nền dân chủ nào lại xúi giục những người anh em trong cùng một đất nước bắn giết lẫn nhau, dối trá và phỉ báng lịch sử của mình.
       Sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất mà còn là sự phá hoại tương lai của dân tộc. Chúng ta phải kiên quyết lên án, xóa bỏ những tư tưởng ấy để “mở nền thái bình muôn thuở", "dập tắt chiến tranh muôn đời”.   

cach mang mau sac

Từ “cách mạng cây”, “cách mạng cá” đến “cách mạng màu”

       Những năm gần đây, có rất nhiều phong trào kêu gọi người dân bằng những mỹ từ đẹp đẽ. Từ đó, nhiều người dân bị cuốn theo, tham gia tụ tập, ghi chữ ký, tâm thư, tuần hành những tưởng đòi quyền lợi cho mình. Nhiều sự việc phải qua một thời gian dài mới lộ ra, đó chỉ là những chiêu trò mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thông qua các tổ chức xã hội dân sự một cách rất tinh vi.
       Chuyến thăm, làm việc tại Na Uy của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gần đây mang lại nhiều kết quả tốt đẹp, trong đó có việc ký kết hợp tác kinh tế. Trong bối cảnh giá điện tăng khiến người dân lo lắng thì thông tin sắp tới Tập đoàn Scatec Solar của Na Uy sẽ đầu tư 500 triệu USD vào điện mặt trời tại Việt Nam; đồng thời xây dựng phòng thí nghiệm giúp Việt Nam nghiên cứu, chuyển giao và tiến đến xuất khẩu công nghệ năng lượng tái tạo được dư luận rất hoan nghênh.
      Vậy mà một số trang mạng vẫn cố tình bóp méo, xuyên tạc rằng, các dự án điện mặt trời sẽ tàn phá cảnh quan, môi trường ven biển như ở Bình Định, một dự án điện mặt trời lớn đã phải hủy bỏ vì lý do gây ô nhiễm môi trường. Song theo các chuyên gia, điện mặt trời hoàn toàn không gây ô nhiễm. Cơ quan chức năng ở Bình Định cho biết, từng có âm mưu thủ đoạn bịa đặt thông tin để kích động người dân phản đối, tạo điểm nóng ở địa phương.         Vài năm gần đây, trên không gian mạng liên tục xuất hiện nhiều trang web, trang mạng xã hội với danh nghĩa BVMT, bảo vệ động vật hoang dã, vì hệ sinh thái và phát triển bền vững… nhưng luôn gắn với việc phản đối một vài dự án kinh tế-xã hội (KT-XH) nào đó ở các địa phương. Cứ ở đâu có các dự án du lịch, du lịch sinh thái gắn với danh lam thắng cảnh thì ở đó lại xuất hiện một số trang mạng “chuyên đề” phản đối. Từ chuyện làm cáp treo ở chùa Hương, ở Fansipan đến chuyện bảo vệ Sơn Trà, Tam Đảo hay hang Sơn Đoòng… Họ đưa ra những lời "có cánh" kêu gọi người dân chung tay, tham gia ký các văn bản được gọi là "kiến nghị" gửi lên Chính phủ, thậm chí gửi ra các tổ chức quốc tế. Không ít người nhẹ dạ cả tin làm theo mà không biết rằng, đứng sau các hoạt động ấy núp dưới danh nghĩa "tổ chức xã hội dân sự", các "nhà dân chủ" trở thành những chuyên gia kích động chống phá đất nước.
       Như ở Đà Nẵng, Vĩnh Phúc gần đây xuất hiện cátrang facebook và blog kêu gọi người dân BVMT sinh thái, phản đối một số dự án KT-XH. Các trang này hoạt động như những tờ báo điện tử với nhiều bài viết của một số cây bút chuyên nghiệp, những hot facebooker nhưng nhiều hơn cả vẫn là các “nhà dân chủ”, những người tự xưng là nhân sĩ, trí thức có tiếng nói đối lập với chính quyền. Đặc biệt, các trang này xuất hiện công khai tư cách của nhóm Green Trees-một nhóm tự xưng là tổ chức xã hội dân sự có hơn 10.000 thành viên, do các đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước, như: Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Hữu Long giật dây. Những đối tượng này từng đứng sau kích động tụ tập, biểu tình phản đối dự án thay thế cây xanh ở Hà Nội, sau đó kích động biểu tình nhân sự cố môi trường biển miền Trung. Đối tượng Phạm Đoan Trang đã công khai gọi là “cách mạng cá”. Gần đây, từ khi đối tượng Nguyễn Anh Tuấn được đào tạo ở nước ngoài về nước định cư tại Đà Nẵng, chúng áp dụng nhiều chiêu trò kích động, lợi dụng vấn đề môi trường sinh thái để lôi kéo người dân giống như đã làm ở Hà Nội. Chúng không giấu giếm ý đồ sau “cách mạng cây”, “cách mạng cá” sẽ có thể là “cách mạng voọc” ở Đà Nẵng khi thổi phồng vấn đề môi trường sinh thái. Ở địa phương này, dưới sự kích động của chúng, từng xảy ra các phong trào ký đơn tập thể, tụ tập vì môi trường...
       Cách đây ít lâu, việc chính quyền TP Hồ Chí Minh giải phóng mặt bằng khu đất thuộc vườn rau Lộc Hưng (quận Tân Bình) để xây dựng trường học, công trình phúc lợi, đã xuất hiện tình trạng các cá nhân vi phạm cản trở, chống đối người thi hành công vụ, căng băng rôn, biểu ngữ gây mất trật tự. Ngay lập tức, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng sự việc hòng biến vụ giải phóng mặt bằng này thành điểm nóng về “tranh chấp đất đai”, khoét sâu mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, biến Lộc Hưng thành điểm nóng kiểu Đồng Tâm, Tiên Lãng. Các báo đài hải ngoại, như: RFA, VOA… tung nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc “chính quyền cướp đất của dân”, “công an đánh dân”, “dân oan ca thán, chính quyền bất chấp”… Các tài khoản facebook có tên Lê Công Định, Lê Nguyễn Hương Trà, Trịnh Sơn, Nguyễn Tín, Bạch Cúc… đăng tải nhiều bài viết quy chụp chính quyền địa phương “đàn áp giáo hội”, “đập phá nhà dân”... Chúng rêu rao, sắp có “ngòi nổ Tiên Lãng giữa Sài Gòn”, kêu gọi người dân xuống đường hướng dẫn dùng hung khí chống đối… Nhưng nhờ sự cảnh giác của người dân và sự vào cuộc kiên quyết của chính quyền, âm mưu đó đã bị thất bại.
Ở Hà Nội, gần đây, nhân sự việc các hộ dân thôn Bắc Lãm (phường Phú Lương, quận Hà Đông) tự ý thi công, san đường trên đất giao thông nội đồng nằm trong quy hoạch dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và gây sức ép với chính quyền một cách phi lý, nhiều đối tượng xấu đã kích động, lái vấn đề để khoét sâu mâu thuẫn, làm nóng tình hình. Chúng gây sức ép, kêu gọi và không cho các gia đình cho trẻ đến trường, ép buộc các em tham gia những hoạt động gây rối, mất an ninh trật tự tại địa phương, cản trở việc dạy và học của học sinh và giáo viên.

Loi dung van hoc de ha be than tuong HCM

Lợi dụng văn học để hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh - sự nguy hiểm cần bác bỏ

      Sự tác động này vừa trực tiếp vừa gián tiếp, vừa trước mắt vừa lâu dài, nhằm dẫn đến sự “thoát ly thần tượng”, làm phai nhạt tiến tới xóa bỏ sự ảnh hưởng của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh ở một bộ phận đảng viên và quần chúng.
Văn học, nghệ thuật là một thành tố cơ bản, quan trọng hàng đầu của văn hóa-tư tưởng, là lĩnh vực nhạy cảm, có sức lan tỏa mạnh. Do vậy, các thế lực thù địch thường dựa vào đó để xuyên tạc, bôi nhọ đời tư và phủ nhận tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Họ lấy chính Hồ Chí Minh làm hình tượng cơ bản, chủ yếu nhưng được nhìn bằng quan niệm tiêu cực, mặt trái, bịa đặt với dụng ý tạo ra một con người Hồ Chí Minh khác hẳn, đối lập với con người Hồ Chí Minh lớn lao, trong sáng đời thường.
       Họ bịa ra rằng, người viết tập thơ Nhật ký trong tù là một người tù đã chết, không phải là Hồ Chí Minh. Về vấn đề này, Lê Hữu Mục đã viết một tiểu luận phủ nhận Hồ Chí Minh là tác giả của Nhật ký trong tù. Động cơ viết tiểu luận này được chính Lê Hữu Mục thể hiện ở một bài phỏng vấn trong chương trình phát thanh của Hội Văn hóa Việt tại California (Hoa Kỳ): “Tôi cố gắng viết, chỉ nội trong một tháng là xong... Anh em ở hải ngoại bảo nhau phải tìm mọi cách để xóa bỏ cái huyền thoại Hồ Chí Minh”, không để cho “có chuyện Hồ Chí Minh sẽ được tôn vinh là nhà văn hóa kiệt xuất do UNESCO công nhận”. Thế là đã rõ, mục đích của ông ta và “các anh em” là không để cho UNESCO vinh danh Hồ Chí Minh.
      Lập luận của Lê Hữu Mục bắt đầu từ vấn đề tên tuổi tác giả. Ông ta cho rằng, người viết xưng là “lão phu”, theo “chiều sâu văn hóa” phương Đông, như vậy, người viết Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) là một ông già. Lập luận này chỉ đánh lừa được những người ít hiểu về Hán học và văn hóa phương Đông. Chúng tôi xin phép ghi lại lời phản biện của nhà Hán học hàng đầu Việt Nam-PGS Phan Ngọc: “Dù có tự hào về Hán học đến đâu, không ai dám nói Đỗ Phủ không biết làm thơ, không hiểu phong tục cổ truyền Trung Hoa, cũng không dám chê Đỗ Phủ dốt nát. Đỗ Phủ chính là vị thầy về thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh… Ông Đỗ này luôn luôn tự xưng mình là lão (già)”(*). Học giả Phan Ngọc chứng minh Đỗ Phủ xưng “lão” trong thơ năm 38 tuổi (trong bài Đầu giản Hàm, Hoa lưỡng huyện chư tử-Thư gửi các vị hai huyện Hàm Dương, Hoa Nguyên), năm 45 tuổi (Ai giang đầu-Nỗi đau xót đầu sông), năm 51 tuổi (Đào trúc trượng-Cây gậy trúc đào)... Đó là những căn cứ của sự thật, không thể bác bỏ!
Như thế, Bác Hồ xưng “lão phu” trong Nhật ký trong tù là điều hoàn toàn tự nhiên!
          Trong bài phản biện tiểu luận của Lê Hữu Mục, Phan Ngọc vạch ra “tám lỗi về hình thức”. Xin trích lại một khái quát cuối bài của PGS Phan Ngọc, một khái quát của chân lý nghệ thuật, của lẽ phải đời thường: “Theo tôi, muốn viết nổi tác phẩm này, giỏi làm thơ là chuyện nhỏ. Cái quan trọng là một ham muốn suốt đời đấu tranh cho nhân loại bị áp bức, một chí khí gang thép, nhưng chủ yếu là một tâm hồn trong sáng của Đức Phật, Xôcrat (Socrate), Giêsu (Jésus), Găngđi (Gandhi) mới làm được”.
         Ngoài “tám lỗi” cơ bản mà PGS Phan Ngọc đã phản biện một cách đích đáng, đến lượt chúng tôi xin chỉ ra một vài bắt bẻ một cách rất vô lối của Lê Hữu Mục.
        Để phá vỡ tính chỉnh thể thống nhất của hình tượng thơ, Lê Hữu Mục dùng thủ thuật xuyên tạc, thêm thắt và quy kết người dịch sai. Lê Hữu Mục cho rằng, người dịch Ngục trung nhật ký đã tìm mọi cách để lái câu thơ vào quỹ đạo mà họ định trước. Ví dụ, trong Thụy bất trước (Không ngủ được), người dịch đã tô thêm màu vàng vào ngôi sao năm cánh để giải thích rằng ngay trong giấc ngủ, Bác cũng chỉ nhìn thấy Tổ quốc được tượng trưng bằng ngôi sao vàng, trong khi nguyên văn chỉ nói: “Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh”, nghĩa là hồn mộng cứ luẩn quẩn loanh quanh ở chỗ ngôi sao năm cánh, trong giấc mơ, lòng chỉ hướng về ngũ tinh liên châu tức là hướng về đoàn tụ gia đình, nghĩ đến vợ con mà lâu ngày mình đã xa.
          Nghĩa chữ Hán trong câu thơ “Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh” là: Hồn mộng đã quẩn quanh nơi ngôi sao năm cánh. Chê người để lôi cuốn sự chú ý của độc giả vào “cái sai” của người (người dịch), trong khi đó, chính Lê Hữu Mục lại bịa đặt nghĩa bằng cách thêm ý “lòng chỉ hướng về ngũ tinh liên châu tức là hướng về đoàn tụ gia đình, nghĩ đến vợ con mà lâu ngày mình đã xa”. Bịa đặt để lái vấn đề sang nghĩa khác: Người tù đã có vợ con rồi! Tức không phải Hồ Chí Minh làm vì Hồ Chí Minh không có vợ con! Hai chữ “tức là” của Lê Hữu Mục hoàn toàn là sự suy diễn.
         Vấn đề “quốc tịch” của tác giả được đặt ra để “nghiên cứu”: Lê Hữu Mục bám vào hai chữ “Hán gian” ở trong các bài Thế lộ nan (Đường đời hiểm trở): “Khước bị hiềm nghi tố Hán gian” (Thế mà bị tình nghi là Hán gian) và Nhai thượng (Trên đường phố): “Nhai thượng nhân tranh khán Hán gian” (Ngoài phố tranh nhau xem Hán gian) rồi quả quyết: “Muốn làm Hán gian thì đầu tiên phải là người Hán đã chứ, làm sao một người Việt Nam có thể làm Hán gian?”.
Logic học gọi đây là thủ thuật “đánh tráo”. “Thế mà bị tình nghi là Hán gian”. Ai nghi? Tức bọn cai ngục nghi ngờ người tù là “Hán gian”. Người khác nghi như thế chứ không phải “người tù” nhận thế. Mà người khác nghi là quyền, là việc của người ta. Nhưng Lê Hữu Mục đã đánh tráo chủ thể “nghi” từ “bọn cai ngục” (bị ẩn đi) ép sang cho tác giả câu thơ (người tù), để hiểu: Vì là người Hán nên tác giả câu thơ (tức Già Lý) rất buồn bị nghi là Hán gian!
          Thế là ai cũng thấy ông ta sử dụng thủ thuật tách rời và đánh tráo khá tinh vi. Tại sao một số người lại tập trung xuyên tạc Nhật ký trong tù? Vì đó là bảo vật quốc gia, một bảo hiểm “bằng vàng” về con người Bác Hồ đại nhân, đại trí, đại dũng, đã được cả thế giới khẳng định giá trị nội dung bất hủ và hình thức nghệ thuật điêu luyện. Kiệt tác đã được dịch ra 25 thứ tiếng trên thế giới!
        Hạt nhân tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đoàn kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công. Đây không chỉ là tư tưởng thời nay mà còn là chân lý lịch sử tổng kết hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, sẽ mãi là nguồn sáng cho mai sau. Vì lẽ đó, nhiều “tác giả” tập trung công kích nhằm vào tư tưởng này.
          Dựa vào cách xưng hô đại từ “Bác”, Vũ Thư Hiên và Bùi Tín thể hiện “băn khoăn” cho rằng, Hồ Chí Minh xưng là “Bác” khi nói chuyện với dân chúng, trong đó có cả những cụ già cao tuổi.
           Để giải đáp sự “băn khoăn” của hai “tác giả” này cần phải đặt vấn đề vào hoàn cảnh lịch sử. Một là, cả nước ta gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ, tức coi Người như là một thành viên trong mỗi gia đình người Việt. Đó cũng là ý nguyện, là tâm nguyện của Người. Thế nên Hồ Chí Minh xưng "Bác" nhưng chủ yếu là xưng hô với các cháu thanh thiếu niên. Còn với các cụ tuổi cao, có lần Bác gọi “cụ” xưng “cháu”, còn thường là gọi “các cụ” xưng “tôi”, không như sự xuyên tạc của hai “tác giả” Vũ Thư Hiên và Bùi Tín.
          Bùi Tín cũng từng đặt vấn đề đúng hay sai về việc Hồ Chí Minh truyền bá mạnh mẽ Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ nghĩa Stalin và Chủ nghĩa Mao ở Việt Nam…
           Tuy chỉ là đưa ra những câu hỏi tưởng chừng khách quan nhưng cũng rõ cái ẩn ý thâm độc: Sự thật (Hồ Chí Minh truyền bá Chủ nghĩa Mác là chân lý lịch sử, là quy luật tất yếu) đã hiển nhiên nhưng lại tạo ra tình huống có vấn đề mới để lái sự tranh luận vào chỗ lẽ ra không đáng có mà thành có. Thứ nhất, các thế lực phản động, thù địch tập trung xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh là cách để hạ thấp vai trò lịch sử của Bác trong việc truyền bá chủ nghĩa yêu nước về Việt Nam, từ đó xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sai lầm. Thứ hai, xuyên tạc về tiểu sử, đời tư là một cách “bôi đen” thần tượng để tạo ra những cái nhìn lệch lạc dẫn tới dần xóa bỏ thần tượng trong nhận thức của một bộ phận nhân dân. Thứ ba, các thế lực phản động rất có ý thức Bác Hồ là sự kết tinh hài hòa những giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa của nền cách mạng mới nên chúng ra sức “xây dựng” một mô hình Hồ Chí Minh khác. Thứ tư, càng thấy nhiệm vụ xây dựng, đào tạo, giáo dục đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng là cực kỳ quan trọng. Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật và cũng rất đúng với bản chất nghệ thuật, việc giáo dục lý tưởng cho văn nghệ sĩ nên tập trung vào 3 vấn đề trọng tâm: Tình yêu văn hóa truyền thống; niềm quý trọng nhân dân; niềm tin vào Đảng, cách mạng và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Từ vấn đề thứ nhất cho thấy, cần đưa văn hóa truyền thống vào chương trình giảng dạy bắt buộc ở tất cả các trường văn hóa, nghệ thuật. Vì theo lẽ tự nhiên, có thấu hiểu mới thấu cảm, mới yêu và say mê. Với vấn đề thứ hai thì biện pháp tốt nhất là tăng cường đưa văn nghệ sĩ (đi thực tế) về với nhân dân, sống đời sống của nhân dân. Có gần gũi mới hiểu để yêu thương, quý trọng. Vấn đề thứ ba là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền. Mỗi cán bộ lãnh đạo phải là tấm gương soi trong sáng nhất. Mỗi nghị quyết, chỉ thị của Đảng được thực thi một cách triệt để, kiên quyết sẽ là sự thuyết phục cao nhất với văn nghệ sĩ vốn rất nhạy cảm với chính trị.
         Cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về Bác Hồ cần thực hiện một cách rộng rãi, quy mô, thường xuyên, liên tục. Vì Bác Hồ là một hiện tượng văn hóa mang tầm nhân loại, với tầm vóc tư tưởng và nghệ thuật lớn lao để sáng tạo đến không cùng!
Cây xanh văn nghệ sĩ hôm nay phải cắm 3 chùm rễ sâu vào 3 mảnh đất: Văn hoá dân tộc/nhân dân; văn hóa Đảng/cách mạng; văn hóa nhân loại/nhân văn và vươn cao cành lá lên bầu trời thời đại quang hợp ánh sáng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để kết trái nghệ thuật phục vụ nhân dân.

Cong cu den trong tay nhung lai buon luong tam

Công cụ đen trong tay những “lái buôn lương tâm”

         Lâu nay, các đối tượng thù địch thường dựa vào khái niệm “tù nhân lương tâm” để thổi phồng vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu dai dẳng là bôi nhọ, vu cáo và chống phá Nhà nước Việt Nam, làm suy giảm lòng tin của nhân dân Việt Nam vào hệ thống chính trị của nước ta. Ví dụ cụ thể có nhiều, mà gần đây nhất là bản thông cáo báo chí đầy ý đồ do Tổ chức “Bảo vệ người bảo vệ nhân quyền” (Defend the Defenders-DTD) tung ra vào đầu tháng 10 vừa qua.
         Thông cáo báo chí của DTD chắc hẳn sẽ khiến những kẻ thường xuyên lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất hả hê. Theo bản thông cáo này, tính đến ngày 30-6-2020, Việt Nam đang giam giữ ít nhất 276 “tù nhân lương tâm” trong các nhà tù hoặc các hình thức giam giữ khác, trong đó có 213 người đã bị kết án, chủ yếu là các tội phạm chính trị và 63 "nhà hoạt động" đang bị giam giữ trong thời gian điều tra hoặc chờ xét xử. Thông cáo cũng khẳng định chắc mẩm rằng, đó là những blogger, luật sư, nhà hoạt động về quyền đất đai, nhà bất đồng chính kiến, người hoạt động nhân quyền và tín đồ của các tôn giáo thiểu số không đăng ký bị bắt giữ và kết án “chỉ vì thực hiện một cách ôn hòa” các quyền được bảo vệ bởi các công ước nhân quyền quốc tế và Hiến pháp Việt Nam, như: Quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do của tôn giáo hoặc niềm tin... Và như để nhân lên niềm tin của người đọc về tính chân thực, công tâm của văn bản này, DTD “bồi” thêm: Danh sách 276 “tù nhân lương tâm” nói trên không bao gồm các cá nhân đã tham gia hoặc ủng hộ bạo lực.
           Càng nực cười hơn khi DTD cho rằng, sau khi bắt giữ hơn 40 "nhà hoạt động" và blogger, kết án khoảng 40 người bất đồng chính kiến vào năm 2019, Việt Nam tiếp tục trấn áp giới bất đồng chính kiến và người hoạt động xã hội để bảo đảm “sự ổn định xã hội” trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII; và rằng, trong khi các nước khác đang tập trung giải quyết những vấn đề do đại dịch Covid-19 gây ra, Việt Nam dường như lại sử dụng cơ hội này để tăng cường đàn áp đối với giới bất đồng chính kiến-những người không bị cộng đồng quốc tế chỉ trích.
           Người viết bài này hoàn toàn đồng tình với quan điểm được nêu ra trong bài viết “Ở Việt Nam không có cái gọi là "tù nhân lương tâm” (đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 25-5-2020), trong đó tác giả khẳng định rằng, ở Việt Nam không bao giờ có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, mà thực chất đó chỉ là những người vi phạm pháp luật, bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Một trong những dẫn chính điển hình là Cù Huy Hà Vũ, từ một trí thức biến thành đối tượng có tư tưởng và hành động chống đối Nhà nước Việt Nam, tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, đòi lật đổ chế độ, thực hiện đa nguyên, đa đảng, kêu gọi nước ngoài can thiệp...
          Chẳng riêng gì ở Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới, rất nhiều cá nhân đã bị bắt giữ, thậm chí bị đem ra xét xử và phạt tù vì những tội danh như làm tổn hại tới an ninh quốc gia, tung tin sai sự thật gây hoang mang trong dư luận, gây nguy hiểm cho người dân... Điểm chung của các vụ việc này là đều được xử lý dựa trên luật pháp hiện hành, trên tinh thần thượng tôn pháp luật mà bất cứ quốc gia nào cũng đã và đang nỗ lực hướng tới.
         Vậy nên, “tù nhân lương tâm” thực chất chỉ là một khái niệm hết sức mập mờ được tạo ra nhằm đánh lạc hướng, thậm chí đầu độc dư luận, khiến họ khó có thể phân biệt đâu là những người hoạt động vì nhân quyền đích thực, đâu là những đối tượng sử dụng con bài nhân quyền nhằm mục đích gây rối, phá hoại.
Trên thực tế, trong thông cáo báo chí nói trên, DTD cũng khẳng định rằng, trong số 213 người đã bị kết án ở Việt Nam thì chủ yếu là các tội phạm theo các Điều 79, 87 và 88 của Bộ luật Hình sự 1999 hoặc Điều 109, 117 và 331 tương ứng trong Bộ luật Hình sự 2015. Vậy thì, các nhà soạn thảo thông cáo vô tình sơ hở, hay họ đã trực tiếp thừa nhận rằng, những đối tượng kể trên không hề bị kết án một cách vô căn cứ, mà trái lại, hoàn toàn dựa trên luật pháp?
         Phải thừa nhận rằng, “tù nhân lương tâm” thực sự là một cái mác dễ khơi gợi lòng trắc ẩn trong công chúng. Có lẽ đó cũng là lý do ngày càng có nhiều đối tượng sau khi vi phạm và bị xử lý theo luật pháp Việt Nam, bỗng nhiên được dựng lên như những “tù nhân lương tâm”, tiếp tục trở thành công cụ để các thế lực thù địch vu cáo và bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
         Để biết thực, giả cái gọi là vấn đề “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam ra sao, trước hết phải đặt ra vài câu hỏi: Có hay không thứ gọi là “lương tâm” trong Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, đối tượng lợi dụng các quyền tự do dân chủ, kích động nhân dân chống chính quyền, chống chế độ, gây phương hại tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội? Có lương tâm hay không khi hết lần này đến lần khác đăng tải các bài viết trên mạng xã hội, đả kích, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bôi nhọ, xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam như đối tượng Nguyễn Quốc Đức Vượng (sinh năm 1991, ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng); hoặc chủ mưu, cầm đầu, khởi xướng việc tổ chức lập “nhà nước Mông” tại huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên), gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ chính trị của Nhà nước Việt Nam như đối tượng Sùng A Sính, Lầu A Lềnh...? Với những người am hiểu luật pháp, mưu cầu cuộc sống ổn định và có ý thức thượng tôn pháp luật, câu trả lời dĩ nhiên là “không”! Chắc chắn là “không”!
         Đáng nói hơn, khi âm mưu của những Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay Lê Công Định, Nguyễn Thị Công Nhân bị lật tẩy kèm theo những bản án thích đáng, người ta cũng dễ dàng nhận thấy một mưu đồ khác phía sau, đó là biến các đối tượng này “từ kẻ đáng tội thành kẻ đáng thương” bằng nhãn hiệu “tù nhân lương tâm”, dù tội danh của họ đã rõ rành rành. Mục đích cuối cùng là cổ súy, bảo vệ cho những hành vi xem thường luật pháp, gây rối xã hội, chống phá chế độ, xâm phạm an ninh quốc gia, từ đó tạo thêm vây cánh và nhân rộng “chân rết” phục vụ cho những hành động chống phá Việt Nam thông qua các vấn đề về tự do, tôn giáo và nhân quyền. Nói cách khác, “tù nhân lương tâm” thực chất chỉ là một món hàng để đem ra trao đổi và mua chuộc, một thứ công cụ đen để đánh lừa dư luận.
           Tiếc rằng, trong chúng ta vẫn còn không ít người nhận thức đơn giản, dễ dàng bị mê hoặc trước những luận điệu và thông tin sai sự thật mà những kẻ đáng bị coi là “lái buôn lương tâm” ấy dựng lên.
            Sứ mệnh đấu tranh với các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước dựa trên chiêu bài nhân quyền nhằm vào Việt Nam chắc chắn còn dài. Để tạo thêm niềm tin của nhân dân vào sứ mệnh ấy, rất cần những cái đầu tỉnh táo để nhận diện và vạch trần sự thật về thứ đang được các trang web, diễn đàn phản động phát ra rả mỗi ngày: “tù nhân lương tâm”.

Đảng viên ngoài chi bộ



Tại sao lại gọi “đảng viên ngoài chi bộ”? Có nghĩa là có một số người, chắc chắn trước đây họ là đảng viên. Nhưng nay không rõ lý do gì, mà họ lại không tham gia sinh hoạt đảng ở một tổ chức đảng nào cả, vào những ngày chi bộ sinh hoạt định kỳ, hoặc đảng viên tập trung học nghị quyết của Đảng, thì số đảng viên này hầu như vắng mặt. Do đó, quần chúng nhân dân nhìn vào và gọi họ là “đảng viên ngoài chi bộ”.

ĐỪNG CÓ MƠ!

 Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) vừa có thông cáo lớn tiếng yêu cầu Nhà nước ta trả tự do "ngay lập tức và vô điều kiện" với Phạm Thị Đoan Trang. Kẻ đang bị truy tố về tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN Việt Nam theo điều 88 Bộ luật hình sự.


Biết tin này làm tôi không nhịn được cười. Ơ hay, RSF là cái thá gì mà đòi can thiệp vào chuyện nội bộ của Việt Nam - một quốc gia có chủ quyền??? Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, con hư thì phải dạy. Phạm Thị Đoan Trang là công dân Việt Nam, vi phạm pháp luật Việt Nam thì Nhà nước phải truy tố, xét xử để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và các công dân khác sống trên lãnh thổ Việt Nam. Cớ sao một tổ chức bên ngoài lại chõ mũi can thiệp vào?


Trả tự do "ngay lập tức và vô điều kiện", các nhà RSF “hạ lệnh” cho những tổ chức như Việt Tân thì được chứ đừng hòng hạ lệnh với chính quyền nhân dân Việt Nam nhé. Đến bố Mẽo còn chẳng dám hạ lệnh nữa là!!!

Vạch trần âm mưu lật đổ chính quyền của các tổ chức phản động: Ảo vọng “nền Đệ tam Việt Nam Cộng hòa”

 Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế nhưng, các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc, tìm mọi thủ đoạn chống phá quyết liệt. Thời gian gần đây, từ nước ngoài các đối tượng chống phá đã thành lập các tổ chức phản động và liên tiếp có những hoạt động khủng bố, phá hoại ở trong nước, nhằm âm mưu lật đổ chính quyền, lật đổ Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng bạo lực vũ trang.