Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua trong giai đoạn cách mạng hiện nay

 

72 năm qua, “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị, luôn là lời hiệu triệu cho phong trào thi đua yêu nước của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” chứa đựng những tư tưởng lớn về thi đua yêu nước có ý nghĩa chỉ dẫn công tác thi đua - khen thưởng khi chúng ta đang tổng kết phong trào thi đua giai đoạn 2016-2020 và tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X.




1. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bối cảnh giặc đói, giặc dốt hoành hành khắp nơi, giặc ngoại xâm lăm le, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ, trước tình thế cách mạng ngàn cân treo sợi tóc, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27-3-1948, BCH Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc, trong đó xác định “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”. Ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” động viên đồng bào, chiến sỹ phát huy truyền thống yêu nước thực hiện những nhiệm vụ cấp bách chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, góp của, góp công vào sự nghiệp kiến thiết và bảo vệ đất nước. Lời kêu gọi của Bác với những ngôn từ vừa giản dị, gần gũi, rõ ràngdễ hiểu, đã nêu bật ý nghĩa mục đích thi đua, mục tiêu thi đua, lợi ích thi đua. Bác còn phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người có sức lan tỏa sâu rộng, lôi cuốn mạnh mẽ, thôi thúc mọi ngành, mọi cấp, mọi người cùng thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn 70 năm qua có thể khẳng định mọi thành quả của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đều gắn liền với việc tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước.

Từ những ngày đầu lập nước, Bác Hồ và Đảng ta đã khẳng định: Nước ta phải thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, rồi tiến lên CNXH, trong điều kiện một nước nghèo. Bác Hồ nói: “Tiến lên CNXH không phải muốn là tự khắc có, mà phải làm thế nào cho nó tiến lên, tức là phải lao động, lao động thiết thực”. Nên phong trào thi đua do Bác phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Bác phân tích: “Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến không thể có phong trào thi đua yêu nước. Vì giai cấp lao động không dại gì mà ra sức thi đua làm giàu thêm cho bọn chủ rồi lại bị chúng áp bức, bóc lột thêm. Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và XHCN, dưới chế độ mà nhân dân lao động làm chủ nước nhà thì mới có phong trào thi đua”. Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”.

Nhằm nâng cao ý thức tự giác lao động, khuyến khích lòng nhiệt tình, khả năng của mọi người trong xây dựng và kiến thiết đất nước, Người yêu cầu: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua”. Đây chính là một cuộc vận động sâu rộng, toàn dân, toàn diện, tất cả cho lao động sản xuất. Để phát động phong trào thi đua lao động đều khắp và tác dụng thiết thực, Bác kêu gọi: “Mọi ngành, mọi người, mọi tổ chức phải ra sức thi đua, phải thực hiện khẩu hiệu: nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống tác phong quan liêu, chống lãng phí. Người còn nói: “Thi đua là đoàn kết. Trong phong trào thi đua chúng ta thấy có đủ các dân tộc: Kinh, Thổ, Mán, Mường, đủ các tín ngưỡng: lương có, giáo có, đủ các tầng lớp công, nông, binh, sỹ, đủ các người già, trẻ, gái, trai, tất cả đều nhằm vào mục đích chung: tăng gia sản xuất và diệt giặc lập công”. Hiểu được ý nghĩa như vậy, các tầng lớp nhân dân Việt Nam đã thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là nhằm mục đích ích nước lợi nhà nên đúng là “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những yêu nước nhất”.

Theo Bác, thi đua không phải là tranh đua. Không phải là giấu nghề, giấu nghề cho riêng mình, cho nhà mình. Trái lại trong thi đua phải giúp đỡ nhau, trao đổi kinh nghiệm cho nhau để cùng tiến bộ, điều đó cũng thể hiện rõ thi đua phải đoàn kết, đoàn kết để thi đua. Xuất phát từ ý nghĩa của phong trào thi đua mà Bác nhấn mạnh: “Thi đua phải lấy tinh thần yêu nước làm gốc”. Trên cơ sở đó mà xác định chỉ tiêu thi đua thiết thực, rõ ràng, định mức phù hợp, kế hoạch thực hiện đơn giản, có nhiều biện pháp phong phú để động viên được nhiều người tham gia phong trào. Bác gợi ý “không nên đặt nhiều việc quá, mức quá cao, rồi làm không được thì nản lòng. Không nên chép của nhau, kế hoạch của người nào, nhóm nào phải do người ấy, nhóm ấy tự động, tự giác, tự nguyện làm lấy. Không nên bao biện như cán bộ tự mình đặt kế hoạch rồi đem đọc qua trước hội nghị để mọi người giơ tay tán thành. Thế là cách làm quan liêu, hình thức, sẽ không có kết quả”. Bác còn hướng dẫn những điều cần làm là: “khi đặt kế hoạch nên bàn kỹ, khi đã nhận kế hoạch nên công bố đường hoàng, chép và gián lên tường để luôn luôn trông thấy, ghi nhớ và luôn cố gắng”.

Còn những cán bộ tổ chức theo dõi phong trào thi đua “thì phải luôn khuyến khích, giúp đỡ, kiểm tra sửa chữa hoặc bổ sung kịp thời. Tuỳ công việc mà định kỳ hạn tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng hoặc phê bình”. Phong trào thi đua sẽ xuất hiện những anh hùng, chiến sỹ thi đua, họ chính là những hạt nhân của phong trào bởi họ là “những người tiên phong trong sản xuất mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng cá nhân… họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng, Chính phủ giao cho, chứ họ không suy bì hơn thiệt cá nhân, không ganh tỵ về địa vị và hưởng thụ. Họ không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình. Họ giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ…”.

Mặt khác, Bác cũng căn dặn các anh hùng chiến sỹ thi đua: “Thành tích là thành tích của tập thể, tách rời tập thể thì dù tài giỏi mấy, một cá nhân cũng không làm gì được, cho nên càng có thành tích thì càng phải cố gắng, càng phải khiêm tốn, tuyệt đối chớ tự mãn, tự túc. Các anh hùng, chiến sỹ thi đua cần phải luôn dìu dắt giúp đỡ những người xung quanh mình cùng tiến bộ”.

2. Toàn bộ những hoạt động thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phong trào thi đua trong suốt lịch sử cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lãnh đạo là minh chứng sinh động cho Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước. Những tư tưởng và hành động của Bác tập trung khơi dậy phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần đó của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc của cách mạng, thực hiện tốt hơn trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày. Người chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày.

Ngày 17-9-1947, Chủ tịch Hồ Chí minh ký sắc lệnh 83/SL thành lập Viện Huân chương. Ngày 1-6-1948, Người ký sắc lệnh 195-SL thành lập Ban vận động thi đua ái quốc Trung ương để vận động, đôn đốc thi đua và phổ biến kinh nghiệm trong toàn quốc. Năm 1950 Bác cùng bộ đội hành quân đi Chiến dịch Biên giới. Tháng 8-1951 Bác chỉ đạo phong trào thi đua và Hội nghị Thi đua của thanh niên. Tháng 1-1952 Bác chỉ đạo Đại hội Thi đua toàn quốc lần đầu tiên. Tháng 3-1958 Bác đến với bà con nông dân xã Lại Sơn (Vĩnh Phúc). Tháng 11-1965 Bác ân cần tiếp đón Đoàn đại biểu Anh hùng chiến sỹ thi đua lực lượng vũ trang miền Nam. Khi đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc, Bác nhiều lần đến thăm bộ đội tại trận địa pháo Phòng không. Ngày 19-7-1965 Bác đến thăm Đại đội 1 Trung đoàn Pháo Phòng không 234, sau khi ân cần thăm hỏi các chiến sỹ, Bác nói: Hôm nay, Bác đến thăm các chú, thấy chú nào cũng mạnh khỏe, vui vẻ, Bác mừng. Bác khen bộ đội đánh giỏi, bắn rơi gần 400 máy bay Mỹ. Bác nhấn mạnh: “…Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh thắng. Từng ấy máy bay, từng ấy lính Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng…”. Theo thống kê trong 10 năm (1955-1965) giữ cương vị Chủ tịch nước, Bác đã có tới hơn 700 lần trực tiếp tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân (không kể các chuyến làm việc). Cho đến những ngày cuối đời, sáng ngày 1 Tết Kỷ Dậu (1969) Bác còn đến thăm Bộ đội Phòng không và thăm bà con nông dân xã Vật Lại, trồng cây đa và căn dặn bà con thi đua trồng cây. 

Quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, điều quan trọng nhất trong thi đua yêu nước là phải xác định được nội dung phong trào thi đua. Phong trào càng thiết thực, càng cụ thể thì hiệu quả càng cao. Đó là cơ sở để làm tốt công tác vận động nhân dân hưởng ứng tham gia, vừa có chiều sâu, vừa có chiều rộng, vừa có sức hút, vừa có khả năng lan tỏa, với phương pháp đúng, khẩu hiệu thiết thực, rõ ràng, có sức động viên mạnh mẽ, chống bệnh hình thức. Theo Bác, nếu không gắn được nhiệm vụ chung với công việc hằng ngày thì chỉ là “đánh trống bỏ dùi”, “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” hoặc “đầu voi đuôi chuột”.

Bác luôn gắn liền phong trào thi đua với công tác khen thưởng, khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Chính vì vậy, Người vừa khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, vừa quan tâm đến công tác khen thưởng, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương người tốt, việc tốt. Kể từ khi phát động phong trào thi đua yêu nước, Bác thường xuyên theo dõi động viên, khuyến khích, gửi tặng Huy hiệu của Người cho những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong học tập, lao động sản xuất và chiến đấu.    

Suốt 72 năm qua, phong trào thi đua đã lan rộng cả nước, mỗi địa phương, mỗi ngành nghề đều có những thành tựu từ phong trào thi đua, xuất hiện những anh hùng, chiến sỹ thi đua và những tập thể lao động xuất sắc. Như vậy, thi đua yêu nước theo Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung.

Bác Hồ cũng chỉ rõ: “Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng”, có sự chỉ đạo thống nhất, có sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức đảng với tổ chức chính quyền và đoàn thể quần chúng. Người chỉ ra những nơi phong trào thi đua yếu kém là do có khuyết điểm trong công tác tổ chức lãnh đạo phong trào. Người nhắc nhở: “Tổ chức và lãnh đạo còn kém, không phát triển được hết sáng kiến và năng lực của quần chúng”. Người luôn yêu cầu cán bộ phải thật sự mẫu mực, luôn gương mẫu trong phong trào thi đua, thực sự là tấm gương sáng để cấp dưới và quần chúng noi theo.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, được hình thành trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng và truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc, đường lối và thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ nội dung của “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” thể hiện nổi bật tư tưởng của Người về thi đua ái quốc như sau: 

Một là, quan điểm thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng. Theo Người, thi đua là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung.

Hai là, mục đích thi đua yêu nước nhằm khơi dậy, phát huy được tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người đều hăng hái, tích cực, sáng tạo, ngày càng làm được nhiều điều tốt hơn trong xã hội… Như vậy, đời sống của nhân dân sẽ ngày càng đầy đủ, no ấm, đất nước sẽ ngày càng giàu lên, quân đội sẽ ngày càng vững mạnh và sẽ hoàn thành được mục tiêu của cách mạng đề ra. 

Ba là, nội dung thi đua yêu nước phải toàn diện, phải xuất phát và phục vụ nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng, phải thiết thực, ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của đất nước, gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng ngành, từng cấp, hướng vào cải tạo và xây dựng con người mới, hướng vào giải quyết những vấn đề cơ bản, thiết thực của nhân dân; thi đua phải gắn với công việc hằng ngày của mỗi người.

Bốn là, cách tổ chức phong trào thi đua yêu nước: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân”; các phong trào thi đua yêu nước cần phải đa dạng, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự giác, sáng tạo và sức lực của các tầng lớp nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng. Trong quá trình thi đua, Người thường lưu ý, phải coi trọng sáng kiến, tổng kết kinh nghiệm. Từ những sáng kiến và kinh nghiệm trong từng ngành, lĩnh vực, ở một địa phương, cơ quan, đơn vị… sẽ được phổ biến, lan rộng ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều cơ quan, cho đến cả nước; phải coi những sáng kiến, kinh nghiệm là tài sản vô giá, cần được phát huy và phổ biến.

Năm là,
 phương châm thi đua yêu nước, Người chỉ rõ “thi đua chứ không phải ganh đua” nên cần phải đoàn kết, thân ái giúp đỡ lẫn nhau để đạt thành tích cao; “giúp đỡ những người và những nhóm còn kém theo kịp mức cao hiện nay”; thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng; khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua; khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục. Như vậy, thi đua để tăng cường đoàn kết, mà đoàn kết lại đẩy mạnh thi đua.

Sáu là, lực lượng thi đua, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng của phong trào thi đua yêu nước là toàn thể nhân dân: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa”. Từ đó, Người nhận định: “Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc Thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to”.

Ngày nay, cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế, Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Để vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp: tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về ý nghĩa và tác dụng của phong trào thi đua yêu nước; tăng cường giáo dục lòng yêu nước, ý thức tự lực, tự cường, tự hào dân tộc và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo nên sự đồng thuận thực hiện phong trào thi đua ngày càng phát triển. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thi đua khen thưởng.

“Sáng kiến và kinh nghiệm cũng như những con suối nhỏ chảy vào sông to, những con sông to chảy vào bể cả. Không biết quý trọng sáng kiến và phổ biến kinh nghiệm tức là lãng phí của dân tộc” – Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thanh niên

 Thanh niên là mùa xuân của xã hội, là bình minh của cuộc đời. Luật Thanh niên quy định: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi từ 15 đến 30 tuổi.


Quan niệm của Hồ Chí Minh về thanh niên

Hồ Chí Minh cho rằng, thanh niên là lớp người trẻ tuổi, có hoài bão, ước mơ, giàu nghị lực và rất khát khao với lý tưởng cao đẹp, có đức xả thân vì nghĩa lớn và lòng vị tha sâu sắc. Đó là lứa tuổi có tính nhạy cảm cao với những cái mới, đẹp và tiến bộ. Do vậy, nếu được giáo dục tốt, phù hợp với tâm lý và tính cách, giáo dục tiến hành trên cơ sở tạo ra những điều kiện vật chất, tinh thần cho sự phát triển của tâm lý, tính cách đó và biết định hướng, động viên đúng mức, thanh niên sẽ say sưa với lý tưởng sống cao đẹp, phát huy tài năng, tính sáng tạo, sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa.

Trong thư “Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc” (năm 1946), Hồ Chí Minh viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(1). Ở đây, Người đã chỉ ra thanh niên là thời kỳ đẹp nhất, sống động nhất, như mùa xuân trăm hoa đua nở, tràn đầy nhựa sống. Đó là hình ảnh nói lên sức trẻ có thể dời núi, lấp biển, cả dân tộc luôn kỳ vọng, tin yêu.

Trong nhiều bài nói, bài viết, mỗi khi đề cập tới thanh niên, Hồ Chí Minh cho rằng thanh niên là lớp người trẻ tuổi, có sức khỏe, năng động, sáng tạo, nhưng còn thiếu kinh nghiệm do chưa từng trải, cần phải được xã hội quan tâm, chăm sóc, vun trồng để họ trở thành người công dân hữu ích cho đất nước. Khi nói về thanh niên với tính chất là một lực lượng xã hội, Hồ Chí Minh đã xác định, thanh niên là công dân của nước Việt Nam. Đó là lực lượng đông đảo, luôn hăng hái xung phong đi đầu trong mọi nhiệm vụ khó khăn, gian khổ và có khả năng hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao. Ở một số bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh chỉ rõ, thanh niên là nguồn xung lực mạnh mẽ của đất nước, là lực lượng quan trọng của cách mạng.

Như vậy, khi nói về thanh niên, Hồ Chí Minh đều cho rằng thanh niên là một lực lượng năng động, sáng tạo, giàu nghị lực, có lý tưởng cao đẹp, có thể đảm trách và hoàn thành tốt các nhiệm vụ khó khăn, gian khổ khi cách mạng giao phó.

Bồi dưỡng thanh niên một cách toàn diện

Trước hết, cần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Đây là một trong những định hướng giáo dục XHCN cơ bản và quan trọng. Bồi dưỡng thanh niên có nhận thức đúng đắn về CNXH, nâng cao ý chí phấn đấu vì lý tưởng cao cả là độc lập dân tộc và tiến lên xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta. Lý tưởng cao đẹp mà chúng ta đang phấn đấu thực hiện đã được Hồ Chí Minh xác định khi gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, khi kết hợp chặt chẽ độc lập dân tộc với CNXH. Lý tưởng độc lập dân tộc, tự do và CNXH trở thành niềm tin, lẽ sống của nhiều thế hệ tiếp nối. Có giác ngộ lý tưởng cách mạng, thanh niên mới đảm đương được sứ mệnh đưa lá cờ bách chiến, bách thắng của Đảng và của dân tộc đến thắng lợi cuối cùng.

Giáo dục thanh niên thấm nhuần sâu sắc lý tưởng giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, công bằng và hạnh phúc. Lý tưởng hướng tới của Hồ Chí Minh mang tư tưởng nhân văn, lấy hạnh phúc của con người làm nguyên tắc cao nhất. Người khẳng định: Học “để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh”(2). Đây chính là lý tưởng phấn đấu của thanh niên trong điều kiện mới.

Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trong mối quan hệ đức - tài, Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa quyết định của việc xây dựng con người mới. Người yêu cầu thanh niên phải học tập, trau dồi đạo đức cách mạng. Bởi vì: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3). Người đã nêu những nội dung cụ thể về giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho thanh niên như sau:

Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và hiếu với Nhân dân;

Đạo đức cách mạng là ra sức thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và khiêm tốn, giản dị;

Đạo đức cách mạng là tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trí tuệ của tập thể, của Nhân dân và kiên quyết đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo để nâng cao trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật và nghề nghiệp cho thế hệ trẻ. Chính vì thế, Hồ Chí Minh thường căn dặn thanh niên phải “ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho Nhân dân”. Vì thế, thanh niên phải học nữa, học mãi, bởi vì “nếu không chịu khó học tập thì không tiến bộ. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”(4).

Để việc học tập văn hóa, kỹ thuật và nghề nghiệp đạt hiệu quả tốt, Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi thanh niên phải xác định mục đích, động cơ học tập đúng đắn. Người cho rằng, học tập là công việc suốt đời của mỗi thanh niên, tấm gương học tập và những điều dạy bảo của Người là bài học cho thanh niên nước ta noi theo, làm theo.

Tăng cường sức khỏe và thể chất cho thanh niên. “Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên” (nghĩa là: Người không bệnh tật có khác gì tiên), đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tầm quan trọng của sức khỏe như là tài sản quý báu của con người. Thanh niên là lực lượng quan trọng của xã hội, do đó họ phải có sức khỏe và trí tuệ tốt thì mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở thanh niên phải tích cực rèn luyện sức khỏe và thể chất. Người căn dặn đoàn viên thanh niên: “Phải rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh. Khỏe mạnh thì mới có đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước lợi dân”(5).

Phương châm, phương pháp bồi dưỡng thanh niên

Quán triệt nguyên tắc học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục gắn với lao động sản xuất

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục đích giáo dục của mọi thời đại không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo hoạt động, học để biết, học để làm. Người khuyên thanh niên: Phải gắng học, đồng thời học thì phải hành. Theo Người: “Người biết lý luận mà không thực hành thì cũng vô ích… Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp, vừa hay vấp váp”(6).    

Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Một nguyên tắc giáo dục quan trọng cho học sinh trong mọi thời đại là giáo dục cho lao động và bằng lao động. Lao động sản xuất vừa là môi trường, vừa là phương tiện giáo dục con người. Mọi phẩm chất nhân cách được hình thành trong lao động và trong hoạt động xã hội. Do vậy, tùy theo trình độ, lứa tuổi và ngành, nghề đào tạo mà các trường vận dụng tư tưởng này một cách sáng tạo để giáo dục cho hiệu quả.

Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội

Theo Hồ Chí Minh, giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Người cho rằng: “Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”(7). Từ đó, Người khuyên chúng ta phải kết hợp giữa giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội.

Xây dựng môi trường bình đẳng, dân chủ trong giáo dục để thanh niên phát huy tài năng

“Ai cũng được học hành” là một trong những tư tưởng quan trọng nhất trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. “Ai cũng được học hành” thể hiện mong ước ai cũng được học hành không phân biệt trai - gái, giàu - nghèo, già - trẻ… và suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phấn đấu vì mục tiêu duy nhất đó là vì con người.

Dân chủ trong giáo dục là nguyên tắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Bởi theo Người, muốn thực hiện dân chủ phải làm cho mọi người nhận thức về quyền hưởng dân chủ, nghĩa vụ đối với việc thực hiện quyền dân chủ và một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên để thực hiện quyền dân chủ là giáo dục con người về dân chủ ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường - biểu hiện bằng quyền và nghĩa vụ học tập.

Đa dạng hóa trong giáo dục và quản lý tốt công tác giáo dục trong thanh niên

Theo Hồ Chí Minh, giáo dục phải thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm tạo cơ hội học tập cho mỗi thanh niên, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển toàn diện. Quản lý tốt công tác giáo dục có tác dụng làm cho các bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục vận hành đúng mục đích, cân đối, hài hòa, đạt hiệu quả cao.

Tập hợp thanh niên trong các tổ chức chính trị - xã hội để bồi dưỡng và phát triển

Tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh và Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng là đoàn kết, tập hợp thật rộng rãi các tầng lớp thanh niên vào các loại hình tổ chức thích hợp. Nhiều năm qua, các tổ chức đoàn, tổ chức hội kết hợp với các tổ chức chính trị - xã hội tập hợp thanh niên hòa mình vào cuộc sống sản xuất và chiến đấu, nhận những công trình, phần việc thanh niên cộng sản. Đặc biệt, lực lượng thanh niên xung phong làm kinh tế do Đoàn tổ chức, qua nhiều năm tồn tại và phát triển đã bước đầu khẳng định đây là hướng đi đúng đắn. Các cấp bộ đoàn, hội đã kết hợp với nhà trường xây dựng và thu hút thanh niên tham gia các phong trào học tập, rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp; vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bồi dưỡng thế hệ trẻ bằng phương pháp nêu gương

Người cho rằng người thầy giáo phải làm kiểu mẫu cho học trò. Đồng thời, Người còn nhắc nhở thanh niên luôn luôn trân trọng, lắng nghe, tìm hiểu, suy ngẫm các gương tốt, ý hay của nhân dân.

Phát huy ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi thanh niên

Người thường xuyên nhắc nhở thanh niên phải tự tu dưỡng, tự rèn luyện mình thành những người vừa có đạo đức tốt, vừa có trình độ văn hóa, nghiệp vụ chuyên môn để có thể nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Người nói: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác, tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình”(8). Người quan niệm, về cách học phải lấy tự học làm cốt.

Tóm lại, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thanh niên là những quan điểm vừa mang tính cách mạng, tính khoa học và thấm đượm triết lý nhân văn sâu sắc. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược giáo dục, bồi dưỡng thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XXI nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào – thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn

 Cách đây tròn 50 năm (23-3-1971 - 23-3-2021), dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã tiến hành chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và giành thắng lợi vang dội. Đó là một sự kiện quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có ý nghĩa chiến lược to lớn, trực tiếp đánh bại cuộc thử nghiệm khả năng chiến đấu của quân đội Sài Gòn, phá tan mưu đồ ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đánh dấu bước trưởng thành của Quân đội ta và là một minh chứng sinh động cho tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân 2 nước Việt Nam - Lào.




Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì bàn kế hoạch tác chiến, chuẩn bị Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971. Ảnh tư liệu.

Thời gian của lịch sử càng lùi xa, cùng với những kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, khảo cứu của giới khoa học trong và ngoài nước thì Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 ngày càng được tiếp cận và nhìn nhận đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, nhất là tầm vóc, ý nghĩa to lớn đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ đó rút ra những giá trị lịch sử và hiện thực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Những điểm nhấn lịch sử sau 50 năm nhìn lại

Thứ nhất, đó là một thành công xuất sắc trong lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh cách mạng của Đảng

Thắng lợi trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào trước hết là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ đạo của BCH Trung ương Đảng, Bộ Chính trị thể hiện trong việc quyết định mở chiến dịch phản công kịp thời và chỉ thị cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng Tư lệnh nhất thiết phải tổ chức đánh thắng trận này. Đồng thời, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư lệnh 702) do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy; Đại tá Cao Văn Khánh làm Phó Tư lệnh; Đại tá Hoàng Phương làm Phó Chính ủy Mặt trận; Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng đại diện Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo chiến dịch.

Thứ hai, là sự thể hiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta.

Để kịp thời bộ đội, sát ngày mở màn chiến dịch, Bộ Chính trị gửi một bức thư trong đó nhấn mạnh: Nhất thiết đánh thắng trận này, dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận quyết định về chiến lược. Bức thư của Bộ Chính trị được quán triệt đến các đơn vị làm cho tinh thần của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân phấn chấn, tin tưởng vào thắng lợi của chiến dịch.

Trong mưa bom bão đạn, các đơn vị tham gia chiến dịch vẫn nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, khó khăn không nản, ác liệt không sờn, kiên cường trong đánh chặn, dũng mãnh trong tiến công và truy kích địch. Phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng giữ vai trò hết sức quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch.

Thứ ba, đánh bại một bước cơ bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.

Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” là cố gắng cao nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong nỗ lực thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đầu năm 1969, Ních-xơn lên làm Tổng thống Mỹ trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều thách thức cả trong và ngoài nước, trong đó có cuộc chiến tranh Việt Nam. Dù vậy, Ních-xơn vẫn ngoan cố theo đuổi âm mưu kéo dài chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam và Đông Dương, đề ra học thuyết mang tên mình – “Học thuyết Ních-xơn”, lấy Đông Dương làm nơi thí điểm cho chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Lào hóa chiến tranh”, “Khơ-me hóa chiến tranh”, trong đó trọng tâm là “Việt Nam hóa chiến tranh”. Để thực hiện “Lam Sơn 719”, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã huy động toàn bộ lực lượng tổng trù bị chiến lược với tổng số quân lúc cao nhất là 55.000 quân. Chúng hy vọng với lực lượng hùng hậu đó sẽ đánh chiếm được Sê Pôn, cắt đứt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, bóp nghẹt cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam.

Cố gắng của địch càng cao thì thất bại càng nặng nề, từ quân sự đến chính trị, kinh tế. Vì vậy, thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là vô cùng to lớn và toàn diện. Thất bại của cuộc hành quân “Lam Sơn 719” cũng làm thất vọng và tiêu tan hoàn toàn kỳ vọng trong việc xây dựng đội quân thiện chiến quân đội Sài Gòn trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.

Thứ tư, đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thực tiễn tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã khẳng định: về mặt quân sự, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đánh dấu bước phát triển cao về nghệ thuật chiến dịch nói chung, nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng. Trong chiến dịch này, Quân đội ta đã đưa nghệ thuật tác chiến phản công lên một trình độ khá hoàn thiện.

Chiến dịch đã diễn ra trong 3 đợt, nối tiếp nhau, đợt trước tạo tiền đề cho đợt sau. Quá trình chặn địch, phản công và tiến công, đánh địch rút chạy đồng thời chủ động kết thúc chiến dịch. Đó là quá trình chuyển hóa linh hoạt, phá vỡ thế trận của địch, phát triển thế trận của ta bảo đảm cho các đơn vị, binh chủng trên chiến trường hợp đồng chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau kịp thời trong các tình huống tác chiến.

Một biểu tượng của tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào

Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương, ngày 19-6-1970 Bộ Chính trị họp và ra Nghị quyết “Về tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới về chúng ta. Nghị quyết nêu rõ, trước tình hình mới 3 nước Đông Dương đã trở thành một chiến trường thống nhất, nhiệm vụ mới của chúng ta là động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả 2 miền nước ta, tăng cường đoàn kết chiến đấu nhân dân 3 nước Đông Dương trở thành một khối thống nhất có một chiến lược chung, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân 3 nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Ngay từ khi Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn chuẩn bị mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng nhân dân Lào đã chỉ đạo một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam và các đơn vị vũ trang Quân khu Nam Lào thành lập Mặt trận Y (Mặt trận Xa-ra-van) do đồng chí Hoàng Kiện, Phó Tư lệnh Đoàn 559 trực tiếp chỉ huy.

Trên cơ sở dự đoán âm mưu của địch, từ nửa cuối năm 1970 đến tháng 1 năm 1971, bộ đội Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào mở nhiều cuộc tiến công vào các vị trí phòng tuyến của địch trên đất Lào, từng bước đánh bại các cuộc tiến quân, bẻ gãy từng hướng tiến công của địch từ phía Tây đường 9 đến Huội-Mun, Tùm-Lan, Mường-Nọng, Mường-Phan-Lan, Đồng-Một-Huội-Xa-Lan…

Thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đánh dấu bước tiến quan trọng của liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân 2 nước Việt Nam - Lào.

Đánh giá về ý nghĩa thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào, Trung ương Đảng của 2 nước khẳng định : “Thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào đã đánh gục vai trò nòng cốt của quân ngụy Sài Gòn trong âm mưu “Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” của Mỹ, mở ra triển vọng mới cho cách mạng Lào và toàn bộ chiến trường Đông Dương. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn của Quân đội và Nhân dân Việt Nam, mà còn là sự khẳng định sức mạnh vĩ đại của tình đoàn kết Việt Nam - Lào trong suốt cuộc kháng chiến”.

Như vậy, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là một đòn bất ngờ đánh vào chiến lược của Ních-xơn, mở ra khả năng mới đánh bại chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Đây là một thắng lợi điển hình của chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đánh bại đội quân tinh nhuệ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, mở ra điều kiện thuận lợi để quân và dân ta tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đã để lại nhiều kinh nghiệm quý trong quá trình tổ chức và điều hành chiến tranh ở giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới trước tình hình mới, để chủ động, linh hoạt trong đối ngoại quốc phòng phục vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, toàn quân cần tiếp tục sâu sắc đường lối đối ngoại, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, nhất là Nghị quyết số 806-NQ/QUTW ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Quân ủy Trung ương “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Trong điều kiện, đối tác đan xen như hiện nay, công tác đối ngoại quốc phòng cần nhất quán chủ trương vừa hợp tác, vừa đấu tranh, kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; vận dụng linh hoạt, mềm dẻo về sách lược theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng, trong khu vực ASEAN, cần bằng quan hệ với các nước lớn, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước có tiềm năng, gia tăng mức độ đan xen lợi ích chiến lược với các nước.

50 năm đã lùi xa nhưng nhắc lại chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 là dịp để chúng ta tiếp tục khẳng định tầm vóc, giá trị và ý nghĩa to lớn của nó; nhận thức sâu sắc hơn về bản chất, tư duy và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong từng quyết sách, chiến lược ở giai đoạn này. Từ đó tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo những bài học hay, những kinh nghiệm quý để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.  

10 DẤU ẤN NỔI BẬT CỦA NGÀNH TỔ CHỨC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XII

 

Các đồng chí Lãnh đạo Ban Tổ chức tặng hoa chúc mừng tân Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.
Thực tiễn ở cơ quan Ban Tổ chức Trung ương trong nhiệm kỳ vừa qua đã chứng minh rõ vai trò đặc biệt quan trọng của người đứng đầu. Chính từ sự tâm huyết, trách nhiệm, đam mê, gương mẫu trong công việc chung và sự quyết liệt, nhất quán, nghiêm túc trong chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu đã tạo động lực lớn, có sức lan tỏa nhanh, mạnh mẽ và truyền cảm hứng, khơi dậy nhiệt huyết, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan. Từ đó, tạo không khí phấn khởi, tinh thần hăng say làm việc, không quản ngày đêm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan và trong toàn Ngành Tổ chức xây dựng Đảng để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị được giao.

Thật may mắn khi là người có gần 30 năm công tác ở Ban Tổ chức Trung ương, đã phục vụ 6 đại hội Đảng toàn quốc và được tham mưu, giúp việc trực tiếp hoặc gián tiếp 6 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban là các đồng chí: Lê Phước Thọ, Nguyễn Văn An, Trần Đình Hoan, Hồ Đức Việt, Tô Huy Rứa và Phạm Minh Chính. Trong những năm công tác ở Ban Tổ chức Trung ương và đảm nhiệm nhiều công việc cụ thể khác nhau đã giúp tôi trưởng thành nhiều mặt và để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, ấn tượng sâu sắc. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Phạm Minh Chính, cơ quan Ban Tổ chức Trung ương cũng như toàn Ngành Tổ chức xây dựng Đảng như được truyền cảm hứng và tiếp thêm sức mạnh để hoàn thành khối lượng công việc rất lớn trong nhiệm kỳ vừa qua. Đồng thời, để lại trong tôi nhiều dấu ấn nổi bật so với các nhiệm kỳ trước. Cụ thể là:

1. Chỉ trong nửa đầu nhiệm kỳ, Ban Tổ chức Trung ương đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong Ngành và các cơ quan khác có liên quan nghiên cứu, tham mưu BCH Trung ương ban hành 3 nghị quyết và 1 quy định về công tác xây dựng Đảng. Đó là: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016 “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018 “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25-10-2018 “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Thực tế cho thấy, chưa có nhiệm kỳ đại hội nào, chỉ trong ba năm đầu nhiệm kỳ, BCH Trung ương đã ban hành tới 4 nghị quyết và 1 quy định về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng như nhiệm kỳ Đại hội XII, trong đó Ban Tổ chức Trung ương trực tiếp xây dựng 3 nghị quyết, 1 quy định và các nghị quyết đó đã sớm đi vào cuộc sống, đem lại kết quả cụ thể, thiết thực.

2. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Tổ chức Trung ương đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, nhất là các đơn vị trong Ngành triển khai nghiên cứu, xây dựng và hoàn thành gần 99 đề tài, đề án để trình cấp có thẩm quyền ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, quyết định, kết luận, thông báo, kế hoạch, hướng dẫn,… về công tác tổ chức xây dựng Đảng, trong đó có nhiều quy định, quy chế lần đầu tiên được ban hành và đem lại hiệu quả rõ rệt, như: Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện; Quy chế làm việc mẫu của đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương; Quy định về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ; Quy định về phân cấp quản lý cán bộ và việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Việc ban hành các quy định, quy chế… để từng bước hoàn thiện thể chế về công tác tổ chức xây dựng Đảng đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay.

3. Trên cơ sở tổng kết sâu sắc việc thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 30-5-2014 của Bộ Chính trị khóa XI về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Ban Tổ chức Trung ương đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong Ngành và các cơ quan liên quan, tham mưu Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với nhiều nội dung mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới, góp phần quan trọng để đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 thành công tốt đẹp. Sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp là cơ sở quan trọng, bảo đảm cho sự thành công tốt đẹp của Đại hội XIII của Đảng.

4. Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, Ban Tổ chức Trung ương đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu với BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tiểu ban Nhân sự, Tiểu ban Điều lệ Đảng Đại hội XIII ban hành nhiều văn bản quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Cụ thể là: Phương hướng công tác nhân sự BCH Trung ương Đảng khóa XIII, với nhiều nội dung mới, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi và tạo được sự đồng tình, thống nhất cao; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII; phướng hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII được Đại hội đánh giá cao; Quy định về tiêu chuẩn của đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Quy chế bầu cử và Quy chế làm việc của Đại hội XIII. Các quy định, quy chế nêu trên đã góp phần quan trọng để Đại hội thành công trên cả ba phương diện: văn kiện, nhân sự, tổ chức và phục vụ Đại hội.

5. Ban Tổ chức Trung ương và các đơn vị trong Ngành đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan ở các cấp tham mưu Trung ương tổng kết, sơ kết nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng trên các lĩnh vực của công tác tổ chức xây dựng Đảng. Qua đó, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế một cách toàn diện, đồng bộ các mặt của công tác tổ chức xây dựng Đảng, như: kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế của cả hệ thống chính trị. Đổi mới công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là vấn đề chính trị hiện nay. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp. Xây dựng, phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước. Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, thường xuyên rà soát, đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng...

6. Ban Tổ chức Trung ương đã khởi xướng, chủ trì và phối hợp với các cơ quan báo chí ở Trung ương, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền về xây dựng Đảng thông qua tổ chức Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (mang tên Búa liềm vàng). Qua 5 năm thực hiện, Giải Búa liềm vàng đã trở thành giải báo chí có uy tín lớn; có tác dụng động viên, cổ vũ những điển hình tiên tiến, tấm gương tiêu biểu và đấu tranh lên án mạnh mẽ với những hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm với phương châm "lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực", "lấy cái đẹp dẹp cái xấu". Cuộc thi đã huy động được sự tham gia hưởng ứng nhiệt tình, tích cực của đội ngũ những người làm báo chuyên nghiệp và không chuyên, với hàng nghìn tác phẩm thuộc các loại hình báo chí; thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo độc giả trong cả nước.

7. Là một ban tham mưu cho Trung ương và cấp ủy các cấp về công tác tổ chức xây dựng Đảng, Ban Tổ chức Trung ương và các đơn vị trong Ngành đã gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, là đơn vị đầu tiên thực hiện thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo cấp vụ, cấp phòng, bảo đảm dân chủ, công khai, công tâm, khách quan, minh bạch. Toàn Ngành đã gương mẫu đi đầu trong việc tinh gọn bộ máy và tinh giản biên chế vượt yêu cầu nghị quyết Trung ương đề ra. Thực hiện thi tuyển công chức trẻ là sinh viên tốt nghiệp đại học loại xuất sắc và đã từng đoạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia, cấp tỉnh kết hợp với xem xét kỹ lưỡng hồ sơ và trực tiếp phỏng vấn, chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng lâu dài.

8. Cùng với việc tham mưu về công tác cán bộ diện Trung ương quản lý, Ban Tổ chức Trung ương đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ trong cơ quan bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, như: định kỳ xây dựng và thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch chức danh Lãnh đạo Ban và lãnh đạo các vụ, đơn vị. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cơ bản và kiến thức mới phù hợp với từng đối tượng cán bộ trong cơ quan: là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ; cán bộ, chuyên viên nghiên cứu; cán bộ mới được tuyển chọn, tiếp nhận về công tác trong nhiệm kỳ. Đồng thời, thực hiện mạnh mẽ việc luân chuyển cán bộ giữa các vụ, đơn vị trong Ban. Trong nhiệm kỳ vừa qua, nhiều cán bộ trong cơ quan đã được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm giữ chức vụ cao hơn, trong đó có 1 phó trưởng ban; 2 cục trưởng; 3 vụ trưởng; 1 đồng chí được bầu là Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; 1 đồng chí được bổ nhiệm Ủy viên Thường trực Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương; 1 đồng chí được giới thiệu để bầu làm đại biểu Quốc hội chuyên trách khóa XV. Hiện nay, lần đầu tiên Lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương có hai đồng chí phó trưởng ban là nữ.

9. Trong những năm gần đây, Ban Tổ chức Trung ương đã coi trọng và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban và các hoạt động khác của cơ quan. Thực hiện thường xuyên, nền nếp việc giao ban hằng tuần với các vụ, đơn vị; tổ chức giao ban trực tuyến định kỳ hằng tháng, quý với các ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo trực tuyến theo chuyên đề với các ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương… Qua đó, vừa có tác dụng cập nhật, tổng hợp thông tin và nắm chắc tình hình, vừa trao đổi kinh nghiệm và bổ sung những nội dung, kiến thức mới đồng thời kịp thời xử lý, giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế về công tác tổ chức xây dựng Đảng.

10. Thực tiễn ở cơ quan Ban Tổ chức Trung ương trong nhiệm kỳ vừa qua đã chứng minh rõ vai trò đặc biệt quan trọng của người đứng đầu. Chính từ sự tâm huyết, trách nhiệm, đam mê, gương mẫu trong công việc chung và sự quyết liệt, nhất quán, nghiêm túc trong chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu đã tạo động lực lớn, có sức lan tỏa nhanh, mạnh mẽ và truyền cảm hứng, khơi dậy nhiệt huyết, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan. Từ đó, tạo không khí phấn khởi, tinh thần hăng say làm việc, không quản ngày đêm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan và trong toàn Ngành Tổ chức xây dựng Đảng để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị được giao.  

Giảng dạy lý luận chính trị với đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học, có quan hệ trực tiếp nhất đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đến mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.




Nụ cười rạng rỡ của nữ công nhân Việt Nam.

Sứ mệnh lịch sử không thể đảo ngược

C.Mác đã khẳng định, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo các tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột vùng lên đấu tranh, từng bước xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ áp bức, bóc lột xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản hiện  đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp…

Dù có nhiều tên gọi khác nhau, theo C. Mác và Ph. Ăng-ghen giai cấp công nhân vẫn chỉ mang hai thuộc tính cơ bản: Là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao; Là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư. Thuộc tính thứ hai này nói lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa nên C.Mác và Ph.Ăng-ghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản. Trong Tuyên ngôn các ông cũng đã chỉ rõ: Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo và tổ chức quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Thời gian qua, trên nhiều diễn đàn, phương tiện thông tin các thế lực thù địch vin vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô; vin vào sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, của sản xuất hiện đại để phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản, qua đó phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ cố tình lập luận rằng, C.Mác đã gắn cho giai cấp công nhân cái sứ mệnh mà nó không có. Ngày nay, công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa không còn bị bóc lột nữa; giai cấp công nhân đã được trung lưu hóa, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, nên không còn sứ mệnh lịch sử. Chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, trở thành tư bản nhân dân; nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê… Thực chất những luận điểm đó là sự biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản, cho sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở phủ nhận vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, phủ nhận lịch sử khách quan của giai cấp công nhân cũng như bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản và tính tất yếu thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.

Vai trò của giảng dạy lý luận chính trị trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Trong công cuộc đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" nói chung, chống các luận điệu sai trái về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nói riêng, công tác giảng dạy lý luận chính trị, nhất là đội ngũ giảng viên lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng. Giảng viên lý luận chính trị là người trực tiếp và chủ yếu giảng dạy, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và phẩm chất chính trị cho người học, giúp cho người học hình thành niềm tin khoa học, từng bước tạo lập, rèn luyện, củng cố phẩm chất và năng lực chính trị, bồi đắp khả năng nhìn nhận, đánh giá khi tiếp cận các thông tin đa chiều. Quá trình giảng dạy đồng thời là quá trình phân tích, đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch có liên quan ở từng môn học, từng chuyên đề, qua đó, người học có đủ sức đề kháng với sự xâm nhập của các luận điệu sai trái, thù địch về bản chất công nhân của Đảng cũng như sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Giảng viên lý luận chính trị cũng là một trong những “binh chủng” trực tiếp tham gia nghiên cứu bổ sung và phát triển lý luận chính trị, làm sáng rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trên con đường xây dựng xã hội mới; là người có khả năng và thường xuyên tham gia tiếp cận, nhận diện sâu rộng, kịp thời các thông tin, luận điệu, từ đó chia sẻ, viết bài, bình luận phản biện và đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu sai trái, thù địch hiện nay, nhất là trên không gian mạng.

Nhiệm vụ đặt ra

Để đấu tranh có hiệu quả những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và khẳng định bản chất công nhân của Đảng; khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay, việc giảng dạy lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường cần quan tâm một số nhiệm vụ sau:

Một là, quán triệt và thực hiện tốt các yêu cầu của công tác giảng dạy lý luận chính trị như: sát thực tiễn, sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo và sát với đối tượng người học. Đặc biệt coi trọng định hướng tư tưởng, hướng dẫn hành động cho người học. Chuẩn bị chu đáo các điều kiện, phương tiện cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy.

Hai là, thường xuyên quan tâm xây dựng đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có chính sách quan tâm, động viên cả vật chất và tinh thần, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và phong cách làm việc năng động, sáng tạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ba làbản thân mỗi giảng viên lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cần thật sự gương mẫu về nhận thức, bản lĩnh chính trị, có lòng trung thành và tin tưởng tuyệt đối vào Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới; luôn tích cực, chủ động khắc phục khó khăn, đề cao trách nhiệm, tâm huyết với nghề nghiệp; tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là trình độ, năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Tích cực đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ và khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nói riêng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung.

TẬP TRUNG KIỂM SOÁT ĐẠI DỊCH COVID-19 PHỤC HỒI PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

 


Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội. Trong đó có nhiệm vụ: Tập trung kiểm soát đại dịch covid-19, tiêm chủng đại trà vắc-xin covid-19 cho cộng đồng. Phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội; đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị  trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập. Phát triển đồng bộ và tạo ra sự lien kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các lợi hính sản xuất kinh doanh. Có chính sách hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp trong nông nghiệp. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sang tạo, nhất là những thánh tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự, khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước./.

ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 


Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội. Trong đó nhiệm vụ thứ nhất đó là: Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin - Điều không thể xuyên tạc

 Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã không ngừng phủ nhận, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, mà một trong những thủ đoạn thâm độc của chúng là cố tình tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hành động này chẳng khác gì cắt đi một cái gốc quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài viết tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh chính là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin, đây là điều cần khẳng định, không ai có thể xuyên tạc được.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin - Điều không thể xuyên tạc

Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin.

1. Nhìn lại cho đúng

Các thế lực chống đối chế độ chính trị hiện nay của Việt Nam tập trung tấn công vào thế chân vạc làm chỗ đứng cho chế độ ta: (1) Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Chủ nghĩa xã hội; (3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Hễ một trong ba điểm đó yếu thì chế độ chính trị sẽ yếu. Và, nếu hai hoặc cả ba điểm đó yếu thì thế chân vạc sẽ bị triệt tiêu.

Đáng chú ý là, sự bôi nhọ, xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra một cách rất dai dẳng, quyết liệt, thâm hiểm, với nhiều kiểu, nhiều dạng, lúc thì tinh vi, lúc thì “vòng vo tam quốc”, ẩn dụ, ném đá giấu tay, lúc thì trực diện “vỗ mặt” với lời lẽ hằn học, chát chúa. Có ý kiến cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự sao chép chủ nghĩa Mác - Lênin mà thôi. Có ý kiến ngược lại, cho rằng, Hồ Chí Minh không thực sự theo chủ nghĩa Mác - Lênin biểu hiện là ở chỗ Hồ Chí Minh nêu cao chủ nghĩa dân tộc, với ý đi ngược lại/xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin (đòi “xem xét lại chủ nghĩa Mác”(1)); rằng, Hồ Chí Minh coi trọng V.I.Lênin mà không coi trọng C.Mác, với ý là trong tác phẩm Đường cách mệnh (năm 1927), Hồ Chí Minh nhấn mạnh Các Mác “là (nhà) kinh tế học cách mệnh”(2) mà không nhấn mạnh rằng, C.Mác chính là người đã xác lập lý luận chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học, là “ông tổ” của học thuyết khoa học và cách mạng mà các Đảng Cộng sản (ĐCS) trên thế giới lấy đó làm cơ sở lý luận phát triển cho mình. Có một số ý kiến cho rằng, Hồ Chí Minh không hẳn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng Hồ Chí Minh chỉ coi chủ nghĩa Mác - Lênin như là một phương tiện hoạt động mà thôi; dẫn chứng là tại Đại hội II của Đảng (2-1951), Hồ Chí Minh còn đề cao cả J.Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông; rồi ở nhiều bài nói, bài viết khác, Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lênin “như cái cẩm nang thần kỳ”; Hồ Chí Minh tự nhận mình là “học trò nhỏ” của một loạt nhân vật mà các vị này không đồng chí hướng chính trị, tín ngưỡng: C.Mác, V.I.Lênin, Khổng Tử, Giêsu, Thích Ca Mâu Ni, Tôn Dật Tiên...Như vậy được hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là một trong nhiều luồng tư tưởng, học thuyết mà Hồ Chí Minh sử dụng để đạt mục đích hoạt động chính trị của mình mà thôi.

Những ý kiến trên đây đều không đúng, thậm chí có thể do cái tâm không lành hoặc do cách thức nghiên cứu, những người có ý kiến loại này đã cắt khúc, tách rời các luận điểm của Hồ Chí Minh, không đặt vào một hệ thống. Hồ Chí Minh khẳng định một cách chắc chắn rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là “mặt trời soi sáng”, là “trí khôn” của con người, là “bàn chỉ nam” cho con tàu đi. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa đó. Rồi Hồ Chí Minh dẫn một đoạn như là “đề từ” cho cả tác phẩm này ngay ở bìa 1, ý của V.I.Lênin trong tác phẩm Làm gì?: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động...Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”(3), nghĩa là đảng phải có một lý luận chính trị dẫn đường. Và, Hồ Chí Minh thấy rằng, bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin; “phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(4). Theo cách của ngôn ngữ hiện nay, thì chủ nghĩa Mác - Lênin đúng là nền tảng tư tưởng (“trí khôn” của con người) và kim chỉ nam (“bàn chỉ nam”) cho hành động của tổ chức và người cộng sản chứ dứt khoát không phải là phương tiện.

Về thực chất, Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở để đạt mục đích tối cao là giải phóng con người một cách hoàn toàn và triệt để. Sự giải phóng này chỉ có thể thực hiện được dưới chế độ cộng sản chủ nghĩa - điều mà trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen khảm một ý bất hủ: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(5).

Tư tưởng Hồ Chí Minh là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện rõ nhất ở 1) Vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, làm cho lý luận Mác - Lênin thấm vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; 2) Lấy yếu tố không thay đổi (nguyên lý cơ bản) để ứng với muôn vàn sự thay đổi của tình hình (như lời Hồ Chí Minh nói với Huỳnh Thúc Kháng năm 1946: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”); 3) Quá trình bảo vệ và phát triển lý luận Mác - Lênin.

2. Dòng tiếp nối của tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự tiếp nối tư tưởng/lý luận/học thuyết Mác - Lênin ở nhiều điểm. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung vào 5 điểm chính sau:

(1) Về mục tiêu và con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.

Đó là mục tiêu chủ nghĩa cộng sản, con đường là làm cách mạng tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng. Sau này, trong văn kiện của Đảng, mục tiêu đó được diễn đạt bằng nhiều cụm từ như “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Trong tư duy của Hồ Chí Minh, mục tiêu này bao gồm nội dung giải phóng dân tộc, nội dung dân chủ (dân chủ ở đây chủ yếu là giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân) và nội dung cách mạng XHCN.

Một số người nhận định không đúng về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH do Hồ Chí Minh tìm và chọn những năm 1910 - 1920 của thế kỷ XX. Họ cho rằng, Hồ Chí Minh đã chọn sai, và hệ lụy, theo họ, là khiến cho đất nước Việt Nam lâm vào nhiều cuộc chiến tàn khốc không cần thiết; rằng, vì mục tiêu và con đường mà Hồ Chí Minh chọn không đúng, cho nên đất nước Việt Nam mới tiến chậm chạp trong khi tiềm lực, tiềm năng của đất nước rất lớn, nếu chọn đúng mục tiêu và con đường (mục tiêu và con đường tư bản chủ nghĩa), thì dân tộc Việt Nam sẽ sớm sánh vai với các cường quốc năm châu, chứ đâu phải như hiện thời, đất nước mới vừa thoát nghèo, GDP đầu người năm 2019 chỉ đạt gần 3 nghìn đôla Mỹ, vẫn chưa thoát ra khỏi cái bẫy của nước thu nhập trung bình, trong khi mức GDP bình quân đầu người thế giới đang đạt con số gần 9 nghìn đôla Mỹ.

Thực tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã kiểm nghiệm nhiều mục tiêu và con đường phát triển. Cần Vương ư? Vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp để rồi quay lại củng cố chế độ phong kiến thì chính là đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội Việt Nam, vì chế độ phong kiến Việt Nam đã bị khủng hoảng từ thế kỷ XVI, đến thế kỷ XIX lại càng khủng hoảng hơn. Dân chủ tư sản ư? Kể cả hình thức cộng hòa đại nghị và quân chủ lập hiến tuy là mới đối với Việt Nam nhưng đã là cũ và lỗi thời đối với thế giới. Các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học...đầy dũng khí nhưng đường lối, phương pháp cách mạng không hợp với đất nước. Do vậy, các phong trào đấu tranh yêu nước đó thất bại nhanh chóng, thất bại không phải chỉ vì Việt Nam có vũ khí thô sơ, kỹ thuật tác chiến thua kém so với lực lượng xâm lược Pháp, mà chủ yếu là do các phong trào yêu nước đó không hợp thời. Xu thế mới - con đường cách mạng vô sản theo lý luận C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nêu lên, Hồ Chí Minh là người đáp ứng được yêu cầu của xu thế phát triển này một cách xuất sắc. Nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh là nhận thức, hành động của người đại diện, người đi tiên phong của xu thế đó.

Sự phủ nhận mục tiêu và con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn chính là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, là sự về hùa cùng các thế lực thù địch nhằm đả kích, xuyên tạc lý luận Mác - Lênin, muốn “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh. Đành rằng, trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế đã từng xuất hiện một số kẻ độc tài, chuyên quyền; có một số hủ bại, thoái hóa, nhưng đó không phản ánh bản chất của lý luận về CNXH mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã nêu lên. Cũng tương tự như vậy, trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam, đã có một số tiêu cực, nhưng đó chỉ là những hiện tượng không phản ánh bản chất.

(2) Đối với cách mạng giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là người đã “đính chính”, nói cách khác là vận dụng, bổ sung, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chính quốc”. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đều có điểm chung khi khẳng định sự gắn kết chặt chẽ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Nhưng, vấn đề đặt ra là quan hệ giữa cách mạng vô sản ở “chính quốc” và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa là quan hệ ngang hàng nhau, hay đó là quan hệ chính - phụ, cái nọ phụ thuộc vào cái kia? Về vấn đề này, lý luận Mác - Lênin cho rằng, cách mạng vô sản ở “chính quốc” đóng vai trò quyết định, sẽ nổ ra và giành thắng lợi trước, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa thành công. C.Mác viết: “So với các nước khác, Anh là nước mà ở đó sự đối lập giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đã đạt tới trình độ phát triển cao hơn cả. Do vậy, thắng lợi của những người vô sản Anh đối với giai cấp tư sản Anh có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của tất cả những người bị áp bức đối với những kẻ áp bức họ. Đó là nguyên nhân vì sao mà phải giải phóng Ba Lan không phải ở Ba Lan, mà là ở Anh”(6). Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen xác định rằng, chế độ người bóc lột người chính là căn nguyên dẫn đến sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác, vì vậy, giải quyết vấn đề dân tộc ở các nước thuộc địa lại tùy thuộc vào việc giải quyết vấn đề giai cấp, trước hết là ở các nước “chính quốc”. Do đó, các ông chủ trương: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”(7).

So với C.Mác và Ph.Ăngghen thì V.I.Lênin có điều kiện thực tế để quan tâm nhiều đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa và phụ thuộc, trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc đã thiết lập ách thống trị ở nhiều nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh. Song, rất tiếc là V.I.Lênin cũng có quan điểm giống C.Mác và Ph.Ăngghen về sự phụ thuộc của cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Là người xuất thân từ một nước thuộc địa, vận dụng thành công phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin vào phân tích điều kiện cụ thể của Việt Nam và một số thuộc địa khác, Hồ Chí Minh một mặt luôn khẳng định phải nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, không trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm vào sự giúp đỡ của bên ngoài; mặt khác, Người nhận thấy rằng, thuộc địa chính là nơi tập trung những mâu thuẫn gay gắt nhất của thế giới lúc đó, là nơi kết tụ những “nọc độc” và “sức sống” của “con rắn độc tư bản chủ nghĩa”. Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa vẫn có tính độc lập trong mối quan hệ với cách mạng vô sản ở “chính quốc” và điều này là quan trọng hơn cả: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể nổ ra, giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở “chính quốc”, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân ở “chính quốc” trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, giành chính quyền (tức là “đánh rắn đằng đầu”).

(3) Đối với vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.

Trong lý luận của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen thường đề cập vấn đề xây dựng và phát triển tổ chức cộng sản ở môi trường xã hội công nghiệp, khi giai cấp công nhân đại cơ khí/đại công nghiệp đã hình thành và phát triển. Từ môi trường xã hội đại công nghiệp, ĐCS tổ chức cho giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Thực tế cho thấy, thời của C.Mác và Ph.Ăngghen, chưa có một tổ chức cộng sản nào cầm quyền trên thế giới, cho nên quan điểm của hai ông chưa được kiểm nghiệm một cách chắc chắn trong thực tế. Đến thời kỳ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin có khoảng 6 năm đứng đầu ĐCS cầm quyền, đã áp dụng nhiều chủ trương phát triển đất nước lên CNXH trong điều kiện rất đặc thù của nội chiến, của những năm sau Chiến tranh thế giới thứ I. V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, ngoài tính chất lý luận và bản chất giai cấp công nhân của Đảng bônsêvích, cần lưu ý phải đưa nhiều công nhân vào Đảng để cải thiện thành phần trong Đảng vì số lượng đảng viên xuất thân từ giai cấp công nhân ở nước Nga (sau này là cả ở Liên Xô) còn ít. Điều này có khác với thời kỳ khi C.Mác và Ph.Ăngghen sống. Nó có căn nguyên là, môi trường xã hội nước Nga, và sau này là Liên Xô, không phải là một nước công nghiệp, không như hoàn cảnh hình thành lý luận C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu khi đề cập đến vấn đề ĐCS.

Liệu có xây dựng được một tổ chức ĐCS theo chủ nghĩa Mác - Lênin ở môi trường kinh tế lạc hậu, chậm phát triển như ở Việt Nam không, khi mà đầu thế kỷ XX, có tới gần  95% dân số là nông dân, số lượng giai cấp công nhân rất ít so với tổng số dân cư (vào thời điểm Đảng bắt đầu cầm quyền, số lượng giai cấp công nhân khoảng hơn 200 nghìn người) và quá trình giai cấp công nhân tiến lên một giai cấp công nhân đại công nghiệp diễn ra rất chậm chạp? Hồ Chí Minh là người trả lời cả về mặt lý luận và thực tiễn là: hoàn toàn xây dựng được. Hồ Chí Minh nêu lên quy luật ra đời của ĐCS Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Nhưng, cần nhấn mạnh thêm: không những là quy luật ra đời mà còn là quy luật phát triển của Đảng nữa, vì nó có ý nghĩa lớn đối với một đảng cầm quyền như ĐCS Việt Nam. Chính việc đưa thêm yếu tố phong trào yêu nư­ớc vào kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân đã làm cơ sở cho tư­ tư­ởng chiến lư­ợc của Đảng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở xã hội của Đảng không chỉ là giai cấp công nhân mà còn là toàn thể nhân dân lao động. Hồ Chí Minh đã không ít lần bày tỏ quan điểm này khi cho rằng, bản chất giai cấp của Đảng là bản chất giai cấp công nhân. Nhưng Đảng không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà đồng thời còn là của nhân dân lao động và toàn dân tộc.

Thời kỳ của C.Mác và Ph.Ăngghen còn sống, chưa có cuộc cách mạng vô sản nào giành được thắng lợi. Công xã Pari năm 1871 là cuộc thể nghiệm đầu tiên của giai cấp vô sản Pháp vùng lên với khí thế xung thiên đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, phá bỏ nhà nước của giai cấp tư sản, lập nên nhà nước của giai cấp công nhân Pháp, nhưng lúc đó ĐCS Pháp chưa ra đời. Những tổng kết của C.Mác trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp, tuy biểu đạt năng lực tư duy rất nhanh nhạy của C.Mác (tổng kết ngay khi Công xã Pari đang diễn ra), nhưng đối với riêng vấn đề đảng của giai cấp công nhân lại chưa có gì để nói bởi thực tế chưa có. Quốc tế I, Quốc tế công nhân, thời của C.Mác và Ph.Ăngghen thì cũng chưa có một ĐCS riêng của một dân tộc nào. ĐCS cầm quyền, do đó, ngay trong dự đoán của hai ông cũng chưa có.

V.I.Lênin nêu lên một số vấn đề có tính nguyên tắc về đảng vô sản kiểu mới của giai cấp vô sản, rõ nhất là từ năm 1903 với việc hình thành ĐCS (b) Nga, khi có sự phân liệt trong Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga thành hai phái: bolshevik và melshevik. Đây là những nội dung chung cho tất cả các thời kỳ, chứ không riêng cho thời kỳ ĐCS cầm quyền. “Đảng ta là Đảng cầm quyền”(8) là cụm từ do Hồ Chí Minh nêu lên rõ nhất trong Di chúc. Tính từ tháng 9-1945 đến tháng 9-1969, Hồ Chí Minh giữ trọng trách lãnh tụ của ĐCS cầm quyền trong 24 năm. Sự cầm quyền của ĐCS Việt Nam được xác lập thông qua Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi và được khảo nghiệm, thử thách qua hoàn cảnh vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trải qua kháng chiến, chiến tranh cách mạng. Hồ Chí Minh đã vận dụng những nguyên lý chung của V.I.Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản vào xây dựng ĐCS Việt Nam cầm quyền. Người bổ sung, phát triển lý luận của V.I.Lênin trên nhiều vấn đề, đặc biệt có ba vấn đề chủ yếu nhất: 1) Vấn đề Đảng của ai; 2) Xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng; 3) Nhấn mạnh những vấn đề Đảng cầm quyền trong điều kiện lãnh đạo Nhà nước.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh ĐCS Việt Nam cầm quyền là Đảng của đạo đức và văn minh. Muốn thế, Đảng phải tỏ rõ về thực chất Đảng “là đạo đức, là văn minh”(9). Tư cách của một ĐCS cầm quyền - đó chính là điểm bổ sung, phát triển lớn của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Mác - Lênin. Quyền mà Đảng cầm là từ nhân dân trao cho. Sự cầm quyền của Đảng không phải cứ tự nhận mà được, mà do uy tín của Đảng qua các thời kỳ cách mạng và từ đó mà nhân dân tin tưởng trao cho Đảng quyền lãnh đạo đất nước. Điều này cũng đi liền với một tất yếu khác: muốn bảo đảm sự cầm quyền thì Đảng phải thường xuyên tự đổi mới và tự chỉnh đốn, làm cho Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh; Đảng phải luôn luôn nâng cao vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền và sức chiến đấu của mình đối với sự phát triển của đất nước. Như vậy, vai trò cầm quyền của Đảng là chính đáng. Nhưng, sự cầm quyền của Đảng sẽ không còn, nếu Đảng bị thoái hóa, biến chất. Do đó, sự cầm quyền của Đảng là tất yếu, là chính đáng cần đi liền với quá trình Đảng rèn luyện, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải trong sạch, vững mạnh, không bị sa vào các tiêu cực - những nguy cơ rất dễ nhận thấy trong điều kiện họ có chức, có quyền trong bộ máy của hệ thống chính trị. Và, điều đặc biệt ở tư duy cũng như hành động của Hồ Chí Minh, là một điểm bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, là ở chỗ Hồ Chí Minh lưu ý đậm nét tới lãnh đạo - phục vụ của Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh coi lãnh đạo cũng tức là “làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(10), “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(11).

(4) Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền.

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin hầu như chưa đề cập hoặc đề cập rất ít vấn đề nhà nước pháp quyền trong chế độ XHCN. Trong các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh không đề cập khái niệm “Nhà nước pháp quyền”, nhưng tinh thần vẫn toát lên nội dung đó. Đó là những vấn đề: Nhà nước hợp hiến, hợp pháp; Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi tổ chức chính trị - xã hội, kể cả Đảng cầm quyền, mọi cá nhân đều có trách nhiệm thực hiện pháp luật với tinh thần thượng tôn pháp luật; bảo đảm bản chất giai cấp nhưng đồng thời mang tính dân tộc sâu sắc; trong hoạt động mang tính nhân văn, nhân đạo, nhân nghĩa - tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người - mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng theo tư tưởng Hồ Chí Minh về Giải phóng dân tộc - Giải phóng xã hội - giai cấp - Giải phóng con người. Cũng như về Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh luôn chú trọng tới trách nhiệm phục vụ của Nhà nước, của tất cả cán bộ, công chức. Điều này hoàn toàn phù hợp với xã hội hiện đại, khi vấn đề bảo đảm và phát huy quyền con người, quyền công dân được coi trọng hơn. Hồ Chí Minh chính là người nhấn rất mạnh tới Nhà nước với vai trò chức năng quản lý, phục vụ nhân dân, trong khi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin lại coi trọng hơn tính cai trị, thống trị của một giai cấp - vốn bản chất gốc của nhà nước. Từ chính phủ của nhà nước cai trị đến chính phủ phục vụ dân là cả những bước tiến dài về nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền Việt Nam, không có chỗ đứng cho cái gọi là “Đảng trị”, nghĩa là Đảng tranh/soán quyền Nhà nước.

(5) Đối với xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh kế thừa phương pháp luận của chủ nghĩa Mác khi xem xét xã hội cộng sản là kết quả vận động tự nhiên trong sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội. Ở nước Nga và về sau là Liên Xô, sau khi V.I.Lênin mất, đã trải qua nhiều thời kỳ, dần dần trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế định hình mô hình Xôviết. Trong quá trình xây dựng CNXH, có nhiều ĐCS cầm quyền vận dụng thành công những quan điểm của V.I.Lênin về CNXH vào điều kiện của nước mình. Song, bên cạnh đó, nhiều đảng cũng đã vận dụng sai, rõ nhất là tư duy đốt cháy giai đoạn, duy ý chí, giáo điều, bao cấp, mệnh lệnh hành chính trong khi lý luận Mác - Lênin luôn nhấn mạnh tính phong phú, tính sáng tạo khi xây dựng CNXH ở mỗi nước.

ĐCS Việt Nam đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào xây dựng CNXH và đạt được những kết quả nhất định nhưng cũng bộc lộ những khiếm khuyết như nhiều ĐCS cầm quyền khác trong cùng hệ thống, phổ biến nhất là tư duy cải tạo nền kinh tế; xác lập hai thành phần kinh tế: nhà nước và tập thể; xác định một cách chủ quan các bước đi; nhận thức chưa đúng về các quy luật kinh tế - xã hội mà chúng có giá trị chung chứ không phải chỉ của xã hội tư bản (kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa, quy luật giá trị, v.v..).

Hồ Chí Minh luôn chú ý đến hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam qua các thời kỳ để vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này là những kinh nghiệm của Liên Xô cũng như của hệ thống các nước XHCN trong xây dựng đất nước với hoàn cảnh rất đặc biệt: đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, nửa nước đang tiến hành chiến tranh giải phóng, đất nước đi lên CNXH trong hoàn cảnh nước tiểu nông, kinh tế lạc hậu...Hồ Chí Minh đã vận dụng xây dựng một chế độ kinh tế bằng hai chân (công nghiệp và nông nghiệp, trong đó nông nghiệp và công nghiệp nhẹ là cơ sở); quản lý kinh tế phù hợp với bước đi dần dần, tiến hành xây dựng xã hội mới với con người XHCN.

Nhìn một cách tổng quát, Hồ Chí Minh chính là nhân vật lịch sử đặc biệt của cách mạng Việt Nam. Điều làm nên tính đặc biệt của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự tiếp nối của Người trong dòng chảy của chủ nghĩa Mác - Lênin, với tư cách là dòng chảy văn hóa phát triển nhân loại.