Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2021

ĐỪNG BAO GIỜ SUY NGHĨ DỰA VÀO NƯỚC NGOÀI ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẤT NƯỚC HÃY NHÌN LẠI NẠN ĐÓI NĂM 1945 NẾU LÀ KẺ NÔ LỆ, PHỤ THUỘC SẼ KHÔNG TỰ QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC GÌ!

 NHÌN VỀ NẠN CHẾT ĐÓI NĂM ẤT  DẬU 1945 ĐỂ THẤY ĐƯỢC GIÁ TRỊ CỦA ĐỘC LẬP, TỰ DO - ĐỂ SUY NGHĨ VÀ HÀNH ĐỘNG🇻🇳🇻🇳


76 năm về trước, Việt Nam xảy ra trận đói kinh hoàng trong lịch sử, ước tính có hơn 2 triệu người Việt Nam đã chết vì đói.

Theo giáo sư Văn Tạo trong cuốn nạn đói 1945 ở Việt Nam - những chứng tích lịch sử thống kê: "nhiều làng xã chết 50 - 80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai. Làng Sơn Thọ, xã Thuỵ Anh (Thái Thuỵ, Thái Bình) có hơn 1000 người thì chết đói mất 956 người. Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. 

Lịch sử Đảng bộ Hà Sơn Bình  cũ ghi rõ: "Trong nạn đói 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi làng xóm tiêu điều, xơ xác, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. 

Làng La Cả (Hoài Đức)  số người chết đói hon 2000/4800 dân, có 147 gia đình chết đói không còn một ai".

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nạn đói này ở Việt Nam là do những chính sách tàn khốc của thực dân Pháp, pháp xít xít Nhật, sự yếu kém, "bù nhìn" của chính phủ Trần Trọng Kim. Chúng bắt dân ta "nhổ lúa trồng đay", "vơ vét thóc gạo, ngũ cốc trong dân phục vụ cho chiến tranh, vận chuyển về chính quốc....", không cho vận chuyển lương thực từ miền Nam ra miền Bắc để cứu đói.

Rất nhiều người dân Việt Nam đã chết đói trước cửa những kho thóc, kho lương thực của thực dân Pháp, phát xít Nhật mà không nhận được một sự giúp đỡ nào. Vì những kho thóc kho lương thực ấy là để giành cho chiến tranh, cho "mẫu quốc".

Ngày nay, rất nhiều bạn trẻ cho rằng "việc gì Việt Nam phải giải phóng, việc gì phải có độc lập, cứ bám lấy các nước tư bản sẽ phát triển, sẽ giàu có..." 

Nhưng các bạn ạ, khi chúng ta chỉ là những kẻ nô lệ, phụ thuộc chúng ta sẽ mãi mãi không bao giờ tự quyết đinh được số phận của bản thân mình, của dân tộc mình. Như những người dân Việt Nam sống trong giai đoạn 1945 chỉ có thể đứng nhìn và chết đói trước những kho thóc vậy. Do đó đừng bao giờ mơ hồ đặt niềm tin hoàn toàn vào lòng nhân từ của bọn tài phiệt đế quốc và cũng đừng bao giờ chủ quan nghĩ rằng những điều như thế này sẽ không bao giờ có khả năng lặp lại.


Huy PhươngST.

PHẢI CHĂNG ĐÂY LÀ SỰ ẨN MÌNH ĐÁNG SỢ CỦA VIRUS SARS-CoV-2.

 Ngày 28/5, Bộ Y tế công bố 1 trường hợp mắc Covid -19 tại Thái Bình (BN6319). Bệnh nhân nam, SN 1968, trú tại huyện Tiền Hải. Đây là trường hợp F1, con của bệnh nhân số 3537. Bệnh nhân từng chăm sóc bố điều trị tại Khoa Lão khoa, Bệnh viện Đa khoa tỉnh và được cách ly tại Bệnh viện Phổi Thái Bình từ ngày 8/5 đến nay nên không có nguy cơ lây lan ra cộng đồng.

Đáng chú ý, trước khi được xác định dương tính, bệnh nhân này được lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm 8 lần và đều cho kết quả âm tính với SARS-CoV-2. Đến ngày 27/5, bệnh nhân được Bệnh viện Phổi Thái Bình tiếp tục lấy mẫu và thực hiện xét nghiệm bằng kỹ thuật Gene Xpert. Kết quả mẫu bệnh phẩm dương tính với SARS-CoV-2.

Ngay sau đó, mẫu bệnh phẩm được chuyển sang Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh để làm xét nghiệm khẳng định. Tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2. Sau khi có kết quả, bệnh nhân được chuyển sang Bệnh viện Đa khoa tỉnh để cách ly, điều trị.

Như vậy sau 19 ngày tiếp xúc với nguồn lây và trải qua 9 lần xét nghiệm, virus SARS-CoV-2 mới chịu lộ diện, rõ ràng đây là sự ẩn mình đáng sợ. Vì vậy mỗi chúng ta cần đề cao cảnh giác, hãy bình tĩnh, không hoang mang, lo lắng, tiếp tục thực hiện nghiêm túc thông điệp 5K của Bộ Y Tế, góp phần tích cực để cuộc chiến phòng chống dịch Covid -19 đạt hiệu quả thiết thực.

Hải Đăng

CHỦ ĐỘNG NẮM BẮT TÌNH HÌNH, PHÁT HUY DÂN CHỦ VÀ NÊU GƯƠNG ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cần phải tích cực thực hiện nội dung nắm bắt tình hình và phát huy dân chủ, nêu gương.

Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề, như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu độc, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch trên các trang mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức tán phát các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải những bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần nâng cao tính chủ động, kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, phân loại cán bộ, đảng viên, nắm vững tâm tư, nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp uốn nắn những sai trái, lệch lạc. Giữ nghiêm kỷ luật Đảng, nhất là kỷ luật phát ngôn, có các biện pháp để phát hiện đảng viên tham gia các hội, nhóm trái quy định của Đảng, Nhà nước, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do ngôn luận gây ảnh hưởng xấu đến nội bộ Đảng và ngoài xã hội.

Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Chỉ có thể thống nhất ý chí, thống nhất hành động trên cơ sở phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Đảng ta nhiều lần nhấn mạnh vấn đề này; và chỉ trên cơ sở đó cán bộ, đảng viên mới phát huy hết phẩm chất, năng lực, trình độ, xác định lập trường chính trị vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng trước mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Từ đó, chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin xuyên tạc, thù địch. Đối với cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu cần mẫu mực về đạo đức, lối sống; phát huy vai trò “nêu gương”, đây là vấn đề rất quan trọng để làm gương cho cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng noi theo.

TÍCH CỰC CHỦ ĐỘNG TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC BẢO VỆ NỘI BỘ VÀ CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ VỮNG CHẮC TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI

 

Để thực hiện tốt chúng ta cần triển khai chủ động, tích cực các nội dung sau:

Trước hết, cấp ủy các cấp phải thực hiện tốt công tác chăm lo bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con người trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ lọt thông tin. Đồng thời, chủ động đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan, đơn vị, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Cần tập trung đấu tranh trực diện với các thủ đoạn nguy hiểm của địch, kiên quyết bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, kích động, gây phân tâm về nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ; khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu của cách mạng, của Đảng và dân tộc ta.

Đồng thời phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí và các đơn vị văn hóa nghệ thuật quân đội, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với hệ thống truyền thông, văn hóa nghệ thuật của cả nước để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù. Chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận có đủ phẩm chất và năng lực, nhanh nhạy, sắc bén trong đấu tranh và tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận.

Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, chống quan điểm “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” là một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội cách mạng. Đó là quá trình xây dựng và đấu tranh liên tục, xuyên suốt các bước trưởng thành, lớn mạnh của quân đội cách mạng, đòi hỏi phải thực hiện tổng hợp các biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách… trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam những năm qua đã khẳng định rõ nguyên tắc căn bản đó và hiện nay vẫn đang tiếp tục được coi trọng, làm nền tảng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG DỊCH TẠI BẮC GIANG

 

Những ngày vừa qua, Bắc Giang trở thành tâm điểm khi bùng phát dịch Covid-19. Cùng với hỗ trợ của T.Ư, một số tỉnh, TP, tỉnh đã huy động mọi nguồn lực với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh. Tuy nhiên, lợi dụng vào tình hình dịch bệnh, nhiều đối tượng đã thông tin sai lệch, xuyên tạc gây tâm lý hoang mang, bức xúc trong nhân dân.

Đi ngược lại với tinh thần, thực tế trên, lợi dụng tình hình dịch bệnh, một số đối tượng đã phát tán trên không gian mạng nhiều thông tin sai sự thật, xuyên tạc tình hình và công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh.

Nỗ lực khoanh vùng, dập dịch

Trong những ngày vừa qua, Bắc Giang yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền tập trung cao điểm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các biện pháp PCD Covid-19 với tinh thần quyết liệt, thần tốc, “Chống dịch như chống giặc”, phải “đi trước chặn đầu” không chạy theo sau dịch bệnh.

Để thực hiện quyết liệt, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của dịch bệnh đến thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển KT-XH, đặc biệt là tổ chức thành công cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, tỉnh huy động sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn dân để nhanh chóng kiểm soát tình hình, đẩy lùi dịch bệnh.

Chủ động nắm chắc tình hình, cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai kịp thời, quyết liệt, đồng bộ các biện pháp PCD, không để bị động, bất ngờ. Với tinh thần chỉ đạo, hành động quyết liệt như những ngày qua và giai đoạn tiếp theo, sẽ không có chuyện dịch bệnh ngoài tầm kiểm soát, không có chuyện lơ là, thờ ơ trong PCD.

Về ý kiến cho rằng tỉnh Bắc Giang dập dịch chậm, trả lời báo chí, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương cho biết: Nếu dịch ngoài khu dân cư, chúng ta có thể phản ứng nhanh hơn, nhiều sự lựa chọn hơn. Nhưng dịch bùng phát tại Bắc Giang lần này trong KCN, đặc thù nhiều nhà máy lớn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hàng trăm nghìn công nhân làm việc đến từ nhiều tỉnh thành trong cả nước. Bắc Giang đã phải tính toán thời điểm để tạm dừng hoạt động các KCN, áp dụng biện pháp mạnh là cách ly xã hội với một huyện hơn 200 nghìn dân. Dập dịch bằng biện pháp mạnh nhưng không thể vội vàng áp đặt mà phải chọn thời điểm thích hợp.

Tỉnh chọn dừng hoạt động các KCN khi đã xét nghiệm gần 140 nghìn công nhân, sàng lọc ca nhiễm đưa đi điều trị, người tiếp xúc gần đưa đi cách ly. Những người kết quả âm tính đưa về nơi ở, tạm thời cách ly ở nhà, có sự kiểm soát của chính quyền, không để công nhân trở về địa phương. 57 tỉnh, TP có công nhân làm việc trên địa bàn tỉnh, nếu Bắc Giang đóng cửa sớm KCN, công nhân vội vã trở về quê khi chưa được xét nghiệm, chưa được sàng lọc thì nguy cơ bùng phát dịch cho các tỉnh, TP còn lớn hơn. Làm như vậy, đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro cho tỉnh nhưng an toàn cho cả nước.

Tình người trong gian khó

Trong lúc khó khăn, tỉnh Bắc Giang đã nhận được rất nhiều tình cảm đặc biệt của nhiều tỉnh, TP, đơn vị và người dân trong cả nước. Biết bao người dân cảm động khi chứng kiến nghĩa cử cao đẹp của các tỉnh, TP: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hà Nội, Đà Nẵng... và các bộ: Y tế, Công an, Quốc phòng… dành cho Bắc Giang.

Phát huy tinh thần đùm bọc, sẻ chia trong lúc khó khăn, cả hệ thống chính trị và người dân trong và ngoài tỉnh đã có nhiều hành động thiết thực. Ủy ban MTTQ và các đoàn thể đã phối hợp cùng các hội, nhóm phát động phong trào vận động để hỗ trợ PCD. Công nhân khu nhà trọ được người dân địa phương san sẻ từng nắm gạo, mớ rau để cùng nhau vượt đoạn khó khăn.

Ngoài địa bàn Bắc Giang, những “tâm thư”, lời kêu gọi ủng hộ chống dịch trên trang cá nhân, của các tổ chức, hội, nhóm đã ủng hộ tiền, nhu yếu phẩm cho các chốt kiểm dịch, khu cách ly, công nhân khu giãn cách, phong tỏa... có sức lan tỏa mạnh mẽ.

Bắc Giang đã có Tổ hỗ trợ đời sống công nhân ngoài tỉnh đang ở trọ trên địa bàn, qua đó đã thành lập các "Siêu thị 0 đồng hỗ trợ công nhân", hàng chục nghìn công nhân được hỗ trợ đời sống. Từ đó, bệnh nhân, người thuộc diện cách ly, giãn cách nhận được sự chia sẻ, quan tâm, chăm sóc chu đáo.

Những tấm lòng nhân ái ấy không chỉ góp phần đẩy lùi dịch bệnh mà còn lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Như vậy thì làm gì có chuyện bệnh nhân, người trong khu cách ly bị “bỏ rơi, bỏ đói” như một số đối tượng thông tin sai trái.

Các thông tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh ở Bắc Giang thời gian qua đã được cơ quan công an phát hiện, xử lý theo quy định. Người dân cần cảnh giác, không chia sẻ và lên án mạnh mẽ, đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, đồng thời thông tin cho cơ quan chức năng để kịp thời xử lý, ngăn chặn./.

“CÒN CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC, CÒN THỰC DÂN, THÌ CÒN NGUY CƠ CHIẾN TRANH”

Câu nói đó trích trong bài trả lời các nhà báo của Hồ Chủ tịch, đăng trên báo Cứu Quốc, số 1827, ra ngày 28 tháng 5 năm 1951. Người chỉ rõ: Trong thời đại ngày nay còn chủ nghĩa đế quốc, thực dân thì còn nguy cơ xảy ra chiến tranh, chiến tranh bắt nguồn từ chính bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chiến tranh là bạn đường của chủ nghĩa đế quốc. Chiến tranh không phải bắt nguồn từ bản năng sinh vật của con người, không phải là định mệnh và cũng không phải là hiện tượng xã hội tồn tại vĩnh viễn, mà chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, có đối kháng giai cấp và có áp bức bóc lột. Câu nói này là lời cảnh giác cho đồng bào, cán bộ và chiến sĩ trước những chiêu trò, thủ đoạn lừa bịp mà đế quốc Mỹ thực hiện trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam; để toàn dân, toàn quân nâng cao cảnh giác cách mạng, đoàn kết, nhất trí anh dũng, kiên cường đấu tranh xóa bỏ sự áp bức, bóc lột của đế quốc, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và giàu mạnh, văn minh.


Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa tư bản nói chung, chủ nghĩa đế quốc nói riêng luôn tìm cách thích nghi trước sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế, chính trị quốc tế, nhưng bản chất của chúng vẫn không thay đổi. Đường lối chính trị của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn luôn chứa đựng nguy cơ chiến tranh. Câu nói của Người vẫn là tiếng chuông cảnh báo, để thức tỉnh những ai vẫn đang mơ hồ trước những chiêu trò lừa mị của các thế lực thù địch. Trong quá trình đất nước mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng ta phải đề cao cảnh giác, nhận rõ đối tượng, đối tác, chủ động đấu tranh phòng, chống và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quyết tâm giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Là công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần lời dạy của Người về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, nguy cơ của chiến tranh, không ngừng vươn lên, nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng chiến đấu, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của kẻ thù, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân./.

 

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là

 cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam

 trong thời đại hiện nay

       Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn là một trong những chủ đề nóng bỏng nhất mà các thế lực thù địch luôn công kích với những luận điệu ngang trái, giả dối và hằn học. Họ cho rằng, chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, thế giới đương đại là thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hầu hết các nước trên thế giới đi theo con đường tư bản chủ nghĩa nên Việt Nam không thể giữ mãi định hướng xã hội chủ nghĩa. Những luận điệu đó không phải không có những tác động nhất định đối với một số người nhẹ dạ, cả tin. Chính vì thế, rất cần phải lý giải một cách cặn kẽ hơn việc Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

        Trong nhiều văn kiện của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định một trong những bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng nước ta là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”(1). Văn kiện Đại hội XI của Đảng lại một lần nữa nhấn mạnh: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(2). Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”(3). Nhất quán với các đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng trong các quan điểm chỉ đạo định hướng phát triển đất nước trong thời gian tới đã xác định: “Kiên định vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. 

        Nhìn ra bên ngoài và nhìn lại lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX và hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chúng ta càng thấy rằng sự lựa chọn của Đảng ta, của nhân dân ta là hoàn toàn chính xác. Chính vì thế, chúng ta có đầy đủ luận cứ để khẳng định độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao đẹp, bất di bất dịch của nước ta.

 

          1. Như chúng ta biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy trên khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta.

          Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc càng trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam - xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong "tình hình đen tối như không có đường ra". Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó?

          Nhưng rồi lịch sử có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến, và đã bành trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang trở thành "trung tâm vũ trụ" chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người.

Nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, Mác đã khái quát nó qua sự phát triển của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau. Theo quan điểm của Mác, sự thay đổi hình thái kinh tế -xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác nhất định phải có điều kiện hình thái kinh tế xã hội cũ đã mất khả năng tự phát triển và trở thành lực cản xã hội. Chủ nghĩa tư bản tất yếu bị thay đổi bằng chủ nghĩa xã hội, và điều đó sẽ xảy ra ở những nước mà chủ nghĩa tư bản phát triển đến đỉnh cao. Chính Lê nin và Đảng bôn sê vích Nga đã vận dụng sáng tạo các luận điểm của Mác vào hoàn cảnh lịch sử của nước Nga bằng việc, trước tiên giai cấp công nhân giành lấy chính quyền, rồi sau đó dựa vào chính quyền của mình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

          Vậy là, chính vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tưởng như đang cực thịnh ấy, thì Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Nếu trước Cách mạng Tháng Mười Nga, chế độ tư bản chủ nghĩa phát triển đến mức người ta rêu rao như một "định mệnh", như một "trật tự vĩnh hằng", thì sau Tháng Mười năm 1917, không ai không thấy cái "xiềng xích" giam hãm thế giới đã bị chặt đứt, điều định mệnh ấy thành ảo tưởng, các trật tự ấy bị lật nhào, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loại cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.

          Rõ ràng, Cách Mạng Tháng Mười Nga "rung chuyển thế giới" đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; vì vậy con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng cũng thay đổi. Lý tưởng Tháng Mười đã không chỉ là ngọn đèn pha dẫn đường tỏa sáng, mà còn có những đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười Nga là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười Nga là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của chủ nghĩa tư bản. Sự đột phá Tháng Mười làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ, mất mát lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh của sự hình thành và phát triển chủ nghĩa xã hội, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Cách mạng Tháng Mười Nga là niềm vinh quang của những người vô sản cùng với hàng trăm triệu người lao động thành thị và nông thôn nước Nga. Họ đã lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và phong kiến, giành quyền làm chủ cuộc sống của mình. Đó là thắng lợi của một xu thế mới: độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội và gắn kết với chủ nghĩa xã hội.

          Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam - nơi mà chính "sự tàn bạo của chủ nghĩa tử bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi". Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội. Ở người, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, bản lĩnh và tố chất đặc biệt Việt Nam đã "bắt gặp" chủ nghĩa Mác - Lênin, nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - một cuộc gặp gỡ đẹp như cùng hẹn trước - đã chung đúc nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Với kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hoá thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Vừa ra đời, Đảng tuyên bố: "Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Lời tuyên bố ấy cũng đồng nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa; và nhìn rộng hơn, cũng bác bỏ bất cứ một con đường nào khác. Một cách tự nhiên là, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi dọc theo thế kỷ XX, sang thế kỷ XXI, và tiếp tục cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh phúc của con người.

          Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yêu khách quan; xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.

          Có thể khẳng định như vậy bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và chính trị của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng giai cấp.

 

          2. Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong công việc giải quyết vấn đề độc lập theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là: Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hoá, đối ngoại. Độc lập dân tộc thực sự đòi hỏi phải xoá bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần. Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ quốc gia - dân tộc phải do quốc gia - dân tộc đó giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài.

          Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội sẽ xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra. Nhờ đó, nó xoá bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức và tư tưởng.

          Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát triển phồn vinh về kinh tế và sự phát triển phong phú, đa dạng về văn hoá, tinh thần, sự thực hiện đầy đủ nhất quyền lực của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng của sự độc lập tự chủ càng thêm vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc càng đầy đủ mạnh mẽ.

          Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng những khả năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức bóc lột và nô dịch. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác. Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm đó chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính là cái lôgíc phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới.

          Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

 

          3. Qua hơn 75 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt 35 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biển cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tính độc lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; có quan hệ quốc tế ngày càng rộng mở, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Tất nhiên trong suốt hành trình cách mạng sáng tạo nhưng cũng gặp phải nhiều trở ngại, gian nan, chúng ta không phải không có những hạn chế yếu kém khi thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của việc xây dựng nền độc lập dân tộc và hướng tới chủ nghĩa xã hội.

          Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.

 

          4. Đã qua hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Thế giới đã chứng kiến bao cảnh đau thương của nhiều dân tộc ở châu Phi, ở Trung Đông, dù đã giành được độc lập nhưng đất nước bị hoang tàn bởi các xung đột chia rẽ trong nội bộ và sự can thiệp từ bên ngoài. Ngay một số nước dù có độc lập dân tộc nhưng việc tranh giành giữa các lực lượng chính trị trong nước làm cho tình hình luôn nóng bỏng, cuộc sống của nhân dân không được bình yên. Vậy nên, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị loá mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ cả chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.  ST

 

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

1. Một số khái niệm

 1.1. Quan điểm sai trái, thù địch

Quan điểm: Theo Đại từ điển Tiếng Việt, do Nguyễn Như Ý (Chủ biên) quan điểm 1. Là chỗ đứng để xem xét, nhìn nhận vấn đề. 2. Là ý kiến, cách nhìn nhận riêng. Theo từ điển Tiếng Việt, do Hoàng Hữu Phê (Chủ biên) quan điểm là “điểm xuất quy định phương hướng suy nghĩ, cách xem xét và hiểu các hiện tượng, các vấn đề”[1]. Còn theo Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, quan điểm là “cách nhìn, suy nghĩ, ý kiến”. Từ đó, có thể hiểu quan điểm là điểm xuất phát cho những suy nghĩ, đánh giá, nhận định của một người (hoặc của một tập thể) nào đó.

Quan điểm sai trái là những quan điểm thể hiện sự lệch lạc về nhận thức lý luận cũng như nhận thức thực tiễn. Quan điểm sai trái là sự xuyên tạc, bóp méo sự thật, hệ lụy của nó dẫn đến sự nghi ngờ, không tin tưởng và hiểu sai so với quan điểm chính thống.

Quan điểm thù địch là những quan điểm có chủ đích đi ngược lại và đối lập quan điểm chính thống.

Từ đó có thể hiểu: Quan điểm sai trái, thù địch là những quan điểm thể hiện sự lệch lạc về nhận thức lý luận cũng như nhận thức thực tiễn (quan điểm sai trái) hoặc là những quan điểm có chủ đích đi ngược lại và đối lập hoàn toàn với quan điểm chính thống (quan điểm thù địch).

Cần phân biệt quan điểm sai trái, thù địch với những ý kiến khác với quan điểm, đường lối của Đảng.

Nhận thức của cán bộ, đảng viên về những vấn đề liên quan đến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không tránh khỏi những ý kiến khác nhau và khác với quan điểm, đường lối của Đảng. Không thể quy chụp những ý kiến khác với quan điểm, đường lối của Đảng thành những quan điểm thù địch. Quan điểm sai trái, thù địch khác với những ý kiến khác, thể hiện ở những vấn đề sau[2]:

Một là, về động cơ, mục đích

Những người có các quan điểm sai trái, thù địch công khai đả kích vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng, vào đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, nhằm lái đất nước đi vào con đường tư bản chủ nghĩa.

Những người có ý kiến khác, thậm chí trái với một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong một thời điểm nào đó, mục đích muốn góp ý kiến với Đảng, Nhà nước để Đảng, Nhà nước thực hiện tốt hơn vai trò lãnh đạo và quản lý đất nước. Trước những tiêu cực xã hội, những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý, có những ý kiến quá bức xức, phê phán mạnh mẽ, gay gắt nhưng với mục đích, động cơ xây dựng.

Hai là, về nội dung

Các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận, bác bỏ những nội dung cốt lõi, then chốt trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Các ý kiến khác nêu lên những nội dung chưa đồng tình về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba là,về phương pháp, cách thức

Những người có quan điểm sai trái, thù địch không từ một thủ đoạn nào để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân. Chúng sẵn sàng bịa đặt, nói xấu vô liêm sỉ, đổi trắng, thay đen, suy diễn vô căn cứ, quy chụp khuyết điểm, sai lầm của cá nhân thành khuyết điểm, sai lầm của Đảng, Nhà nước, phủ nhận lịch sử.

Các ý kiến khác về cơ bản là phản ánh với các cơ quan có thẩm quyền, phát biểu tại các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học.

Bốn là,về cách thức đăng tải

Những người có quan điểm sai trái, thù địch ở nước ngoài sử dụng mọi cách để tuyên truyền, phát tán những quan điểm của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng như xuất bản sách, báo ở nước ngoài, sản xuất băng đĩa hình, in truyền đơn rồi chuyển về trong nước, sử dụng các đài phát thanh, truyền hình của nước ngoài (RFI, BBC...) để tuyên truyền. Những người có quan điểm sai trái, thù địch ở trong nước cũng tìm mọi cách phát tán quan điểm của mình. Đặc biệt, họ sử dụng các công nghệ thông tin hiện đại như Internet, mạng xã hội (Facebook, Twitter...), các blog để phát tán rất nhanh các quan điểm của họ tới các tầng lớp nhân dân Việt Nam và trên khắp thế giới.

Những người có ý kiến khác hoặc trái với đường lối, quan điểm, của Đảng phản ánh lên cấp trên, cấp có thẩm quyền, có quyền bảo lưu ý kiến, hoặc trình bày, thảo luận tại các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học.

Năm là,về nhân thân

Những người có quan điểm sai trái, thù địch chủ yếu là các thế lực thù địch bên ngoài, các đảng phái chính trị phản động ở hải ngoại, các phần tử ở hội chính trị trong và ngoài nước, có những người làm việc cho chế độ Mỹ - Ngụy, có những người đã từng vi phạm pháp luật Việt Nam, lòng đầy hận thù với chế độ. Trong số này, có một số người từng là cán bộ, đảng viên, nay đã trở thành thế lực thù địch.

Những người có ý kiến khác với chủ trương, đường lối của Đảng có thể do trình độ nhận thức hạn chế, thiếu thông tin, do ngộ nhận hoặc chịu ảnh hưởng nhất định của những quan điểm sai trái, thù địch, chứ không phải là các thế lực thù địch.

 

1.2. Khái niệm luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch

Luận cứ: Theo Đại từ điển Tiếng Việt, do Nguyễn Như Ý (Chủ biên), luận cứ là lý lẽ dùng để lập luận khi chứng minh, khẳng định hay bác bỏ điều gì.

Phê phán: Theo Đại từ điển Tiếng Việt, do Nguyễn Như Ý (Chủ biên), phê phán là vạch rõ và lên án điều sai trái.

Luận cứ phê phán là lý lẽ vạch rõ, lên án điều sai trái.

Từ đó, có thể hiểu, luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch là lý lẽ vạch rõ, bác bỏ những điều sai trái, thù địch trái với quan điểm, đường lối của Đảng hiện hành.

 

1.3. Khái niệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Hữu Phê (Chủ biên), bảo vệ là chống lại mọi xâm phạm để giữ cho luôn được nguyên vẹn; là bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững ý kiến, quan điểm.

Theo Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Như vậy, theo Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị thì khái niệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là rất rộng, toàn diện, gồm năm nội dung:

(1) Bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; (2) Bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (3) Bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; (4) Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; (5) Giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

 

2. Mục tiêu, yêu cầu của xây dựng luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước và sau Đại hội XIII của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường; đất nước đang đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức, nhiều vấn đề mới đặt ra phải giải quyết. Đại hội được tổ chức vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; đất nước trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Đại hội có nhiệm vụ đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nhìn lại 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 35 năm đổi mới; quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển đất nước 5 năm tới (2021-2025), 10 năm tới - đến năm 2030 - năm kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tầm nhìn đến năm 2045 - năm kỷ niệm 100 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đánh giá công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng khóa XII; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; bầu các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Tiếp đó là cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Cũng như các đại hội trước, đây là thời điểm các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước ta, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chúng tung ra các quan điểm sai trái, thù địch chống phá cả về văn kiện và nhân sự. Do đó, chúng ta cần xây dựng các luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước và sau Đại hội XIII của Đảng.

Việc xây dựng luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch cần đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu sau:

- Xây dựng luận cứ khoa học bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Xây dựng luận cứ khoa học bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ.

- Xây dựng luận cứ khoa học bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng nêu trong Dự thảo các văn kiện và các văn kiện được Đại hội thông qua.

- Xây dựng luận cứ khoa học bảo vệ nhân sự Đại hội XIII của Đảng, Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

- Xây dựng luận cứ khoa học để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

- Xây dựng luận cứ khoa học nhằm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động góp phần thực hiện thành công đại hội các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.  ST

 

Bịa đặt, bôi nhọ đời tư của cán bộ lãnh đạo - một thủ đoạn thâm độc của các thế lực chống đối, thù địch

 

1. Nhận diện thủ đoạn, mục đích và sự nguy hại của việc tung tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước

Để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đất nước ta, các thế lực chống đối, thù địch không từ một thủ đoạn nào, một lĩnh vực nào, từ xuyên tạc, phê phán, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh thẳng vào nền tảng tư tưởng của Đảng, tới phê phán, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, kết quả, thành tựu phát triển của đất nước; thổi phồng, xuyên tạc những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; bịa đặt, vu cáo những vấn đề về dân chủ, nhân quyền... để bôi nhọ, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, kích động hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội. Trong các hoạt động chống phá đó, có việc đưa ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Đây là một hoạt động, một thủ đoạn chống phá hết sức xấu xa, thâm độc và nguy hiểm.

Việc chống phá bằng thông tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước của các phần tử chống đối, thù địch được thực hiện hết sức đa dạng, từ những lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ở các thời kỳ trước đây đến lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước hiện nay; từ bịa đặt, bôi nhọ về nguồn gốc xuất thân, gia đình, ông bà, bố mẹ tới bản thân người cán bộ; từ quá trình trưởng thành, học hành kém cỏi, thành tích bất hảo, tư cách đạo đức yếu kém trong những năm tuổi trẻ đến việc được nâng đỡ, ưu ái khuất tất của những người có chức, có quyền đối với cán bộ trong quá trình công tác; từ năng lực kém cỏi, dốt nát, không chịu học hỏi, không biết lắng nghe đến suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, quan hệ nam nữ bất chính, quan hệ “thân hữu” với các doanh nghiệp “sân sau” để vợ, con, anh em trong gia đình, họ hàng lợi dụng, trục lợi đến việc có khối lượng tài sản lớn, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều cổ phần, cổ phiếu, nhiều tiền, vàng gửi ở ngân hàng trong nước và nước ngoài, mà nguồn gốc của những tài sản đó không thể giải thích được, chỉ có thể có được từ tham nhũng, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của xã hội... tức là tất cả những gì xấu xa của con người, có trong xã hội, ở chỗ này, chỗ kia, ở người này, người kia, được góp lại, gán ghép cho một người để bôi nhọ, làm mất uy tín của họ.

Tung ra những thông tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước là việc các thế lực chống đối, thù địch thực hiện thường xuyên, liên tục, gắn liền với việc phê phán, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, thành tựu phát triển của đất nước, xem những người lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là nguyên nhân, là người phải chịu trách nhiệm về những yếu kém của đất nước, của những hiện tượng xấu diễn ra trong xã hội. Nhưng, đồng thời, những hoạt động chống phá này đặc biệt tăng lên vào những dịp có những ngày kỷ niệm lớn, sự kiện lớn của Đảng, của đất nước, như thời gian kỷ niệm ngày thành lập Đảng, thành lập Nước, khi tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng, khi bầu cử Quốc hội, Quốc hội bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Nhà nước... để làm mất uy tín cán bộ, gây rối nội bộ, gây khó khăn cho công tác lựa chọn cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, phá hoại thành công của Đại hội Đảng, của bầu cử và các kỳ họp của Quốc hội...

Mục đích trực tiếp của thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo về đời tư của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước là bôi nhọ, làm mất uy tín những cán bộ này, nhưng sâu xa hơn, nguy hiểm hơn là bôi nhọ, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước; gây rối, chia rẽ nội bộ, phá hoại công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước; phá hoại, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, nuôi dưỡng, kích động tâm lý chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội để cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là những người đại diện cho Đảng, Nhà nước, những người đã qua rèn luyện, thử thách, tiêu biểu cho hàng triệu cán bộ, đảng viên cả về trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức, về uy tín trong Đảng, trong nhân dân, là nòng cốt, trụ cột trong tổ chức Đảng, Nhà nước. Bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao, cấp chiến lược là yếu tố sống còn, gắn liền với sự tồn vong của Đảng. Lòng tin của nhân dân, sự gắn bó, ủng hộ của nhân dân đối với Đảng là nền móng vững chắc của chế độ ta. Chính vì vậy, bịa đặt, vu cáo, xuyên tạc để bôi nhọ đời tư, phá hoại uy tín của những cán bộ lãnh đạo này, hạ bệ thần tượng, là một thủ đoạn thâm độc mà các thế lực chống đối, thù địch luôn đặc biệt chú ý, làm việc này là đánh thẳng vào một trong những “huyệt đạo” quan trọng, liên quan tới vận mệnh của Đảng, của đất nước, đánh thẳng vào yếu tố nền tảng của xã hội, của chế độ.

Mọi thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đều nguy hại đối với đất nước, đối với chế độ. Nhưng tùy theo nội dung, lĩnh vực chống phá, đối tượng, phạm vi và mức độ tác động mà mức độ nguy hại của các thủ đoạn chống phá có khác nhau. Trong đó, chống phá bằng thủ đoạn bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là một trong những thủ đoạn chống phá có tác động nguy hại cao. Khi các thế lực thù địch, chống đối vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền thì tác động chính là bôi nhọ, làm giảm uy tín của đất nước ta trên thế giới, khả năng, phạm vi, mức độ tác động đến các tầng lớp nhân dân có mức độ, khó thuyết phục được tuyệt đại đa số nhân dân ta. Khi họ thổi phồng, khoét sâu vào những hạn chế, yếu kém, phủ nhận những thành tựu của đất nước, phê phán một chủ trương, đường lối, chính sách cụ thể nào đó của Đảng, Nhà nước thì họ cũng chỉ tác động được đến một số người, một bộ phận nào đó trong xã hội. Ngay cả khi họ tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán, đòi loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện tam quyền phân lập, phát triển xã hội dân sự (những vấn đề hệ trọng của Đảng, của đất nước), thì cũng chỉ có thể tác động, thu hút được sự quan tâm của một số người, nhất là trong tầng lớp trí thức. Nhưng khi họ bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước thì chắc chắn thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội, của đông đảo các tầng lớp nhân dân, nhất là khi trong xã hội, trong các tầng lớp nhân dân đã vốn có sẵn những bức xúc, có tâm lý bất bình với tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, với tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những người có chức có quyền. Truyền thống của dân tộc ta là đề cao, coi trọng phẩm chất đạo đức, nhân dân ta không thể chấp nhận những người lãnh đạo đất nước mà suy thoái đạo đức, quan liêu, tham nhũng, lãng phí... như những bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ của các thế lực chống đối, thù địch. Mức độ nguy hại của thủ đoạn chống phá này của các thế lực thù địch, do đó, là rất lớn.

Thủ đoạn chống phá bằng cách tung tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước của các thế lực chống đối, thù địch không phải là mới, không phải bây giờ mới có. Tuy nhiên, từ khi có Internet, có các trang mạng xã hội, thì hoạt động chống phá này tăng lên nhiều, phạm vi tác động, mức độ nguy hại mà nó gây ra, do đó, cũng tăng lên. Internet, các mạng xã hội tạo điều kiện cho mọi người có thể tạo ra các sản phẩm thông tin, thể hiện quan điểm của mình để trao đổi với mọi người, cũng như thể hiện ý kiến của mình về những quan điểm của người khác, tạo nên những hiệu ứng tích cực. Tuy nhiên, Internet, các mạng xã hội cũng tạo cơ hội cho những người xấu, vì nhiều nguyên nhân, nhiều động cơ, mục đích khác nhau đưa ra, lan truyền những thông tin sai sự thật, bịa đặt, vu cáo, xuyên tạc, lừa đảo mà họ có thể ẩn danh, mạo danh để trốn tránh trách nhiệm, trốn tránh sự phê phán, lên án của cộng đồng, của dư luận xã hội, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Trong khi đó, những thông tin bịa đặt, xuyên tạc của họ được phát tán, lan truyền rất nhanh, rất rộng, có thể tới từng người, từng nhà, tất cả các tầng lớp xã hội, ở tất cả các vùng, miền, từ thành phố tới nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo, kể cả ra nước ngoài, tới cộng đồng quốc tế, hết sức nguy hại.

 

2. Thông tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là thủ đoạn xấu xa, cần phải lên án mạnh mẽ về mặt đạo đức

Nhân vô thập toàn, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng, Nhà nước nói chung, kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước nói riêng, không thể nào không có khuyết điểm, sai lầm. Vấn đề là phải hạn chế tối đa việc để xảy ra những sai lầm, khuyết điểm này, nếu xảy ra phải được phát hiện, sửa chữa, khắc phục kịp thời, hạn chế tối đa ảnh hưởng, tác động tiêu cực của nó. Đảng, Nhà nước có điều lệ, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, có nhiều cơ chế, cách thức để làm việc này, để giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động của cán bộ, đảng viên, nhắc nhở, cảnh cáo, ngăn ngừa sai phạm và xử lý sai phạm khi đã phát sinh. Đồng thời, Đảng, Nhà nước có cơ chế động viên, khuyến khích nhân dân, các tổ chức xã hội giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức để tham gia, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Trong khi đó, việc tung tin bịa đặt, vu cáo để bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước hoàn toàn khác về bản chất, về nội dung, động cơ, mục đích với việc nhân dân giám sát, phát hiện cho Đảng, Nhà nước về những hạn chế yếu kém, sai phạm, sự suy thoái tư tưởng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức các cấp, kể cả cán bộ cấp cao, để góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Nội dung mà họ tung ra là do họ bịa đặt, hư cấu, tạo dựng chỉ để thực hiện mục đích là bôi nhọ, làm mất uy tín cán bộ, chống phá Đảng, Nhà nước.

Bịa đặt, hư cấu, tạo dựng những thông tin về đời tư của một người để xúc phạm, bôi nhọ danh dự của một người khác, dù người đó là ai, đều là việc làm xấu xa, trái với đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nhân dân ta, phải bị lên án. Uy tín, danh dự là giá trị, tài sản mà mỗi người đều muốn tạo dựng, giữ gìn. Bịa đặt, vu cáo, đặt điều, gán cho một người lương thiện làm những việc xấu xa để bôi nhọ, hạ uy tín là xúc phạm nhân phẩm, làm nhục người khác. Việc này có thể dẫn đến hủy hoại sự nghiệp, giết chết một con người lương thiện, hủy hoại cuộc sống của một gia đình, thậm chí của cả một gia tộc, ảnh hưởng đến lòng tin, sự kính trọng của con cái đối với cha mẹ, tạo nên mặc cảm tội lỗi của những người thân của cán bộ bị bôi nhọ trước mọi người... Khi không thể thanh minh nổi, không thể tự bảo vệ được mình, không ít trường hợp, người bị bôi nhọ phải bỏ quê hương, nơi ở cũ để đến nơi ở mới, bắt đầu lại cuộc đời. Khi người bị vu cáo, bôi nhọ không chỉ là người tốt, người lương thiện mà còn là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước thì hậu quả, nạn nhân của nó không chỉ là cá nhân, gia đình, mà cả xã hội, cả đất nước. Người lương thiện, có đức, có tài vì bị bôi nhọ, vu cáo, có thể bị loại ra khỏi vị trí lãnh đạo, mà thay vào đó có thể là người không xứng đáng bằng, nếu không bị loại khỏi vị trí lãnh đạo thì khi uy tín bị sứt mẻ, không thể không ảnh hưởng tới hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo. Một người, mới ngày hôm qua, còn là người được xã hội kính trọng, ngưỡng mộ, ngày hôm sau, trên hệ thống mạng lan truyền những thông tin về những việc làm xấu xa của người ấy, mà thực chất là bịa đặt, vu cáo nhưng được tính toán, dàn dựng tinh vi, tỉ mỉ, nhất định sẽ làm nhiều người hoang mang, lo lắng, mất lòng tin vào con người, vào xã hội, vào Đảng, Nhà nước. Hình ảnh của đất nước trong mắt bạn bè quốc tế cũng bị tổn thương. Đây là những mất mát vô hình nhưng rất lớn, nghiêm trọng.

Tôn trọng, đề cao đạo đức cũng là phẩm chất, truyền thống của hầu hết các dân tộc trên thế giới, từ cổ đại cho đến hiện đại. Ngày nay, ở các nước kinh tế phát triển trên thế giới, những nước là khởi nguồn của Internet, các mạng xã hội, có hệ thống pháp luật lâu đời, mặc dù đề cao tự do cá nhân, đề cao tự do ngôn luận, nhưng ở những nước này, quyền riêng tư, những bí mật cá nhân vẫn được tôn trọng, bảo vệ. Những cá nhân đưa tin sai sự thật, bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo để bôi nhọ người khác, xâm phạm quyền riêng tư của người khác tùy theo mức độ có thể bị xử lý bằng pháp luật; nếu không bị xử lý bằng pháp luật thì cũng bị xã hội lên án về đạo đức; còn những trang mạng không thể kiểm soát, ngăn chặn những hành vi như vậy cũng bị Nhà nước nhắc nhở, bị xã hội phản đối, tẩy chay. Như vậy, dù đánh giá dưới góc độ nào thì việc bịa đặt, bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước cũng đều phải khẳng định là việc làm xấu xa, cần phải lên án về mặt đạo đức. Do đó, rất cần tạo ra dự luận xã hội phê phán, lên án mạnh mẽ việc làm này của các thế lực chống đối, thù địch để cảnh báo, ngăn chặn, để nâng cao ý thức cảnh giác, nâng cao sức đề kháng của mỗi người dân trước những thủ đoạn chống phá này.

 

3. Tung tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước là hành vi vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật

Ngày nay, việc tung tin bịa đặt để bôi nhọ một người khác, ở nhiều nước trên thế giới, không chỉ bị phê phán, lên án về mặt đạo đức, mà còn được xác định là hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ nghiêm trọng, nhất là hậu quả do nó gây ra, mà còn bị xét xử theo pháp luật. Ở nhiều nước, những bí mật cá nhân, đời tư, danh dự, uy tín của một con người, một công dân được pháp luật bảo vệ. Công bố, tiết lộ những bí mật đời tư của một người, ngay cả khi điều đó là có thật, nhưng chưa được phép của người đó đã là hành vi vi phạm pháp luật. Bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo để bôi nhọ đời tư của  người khác thì mức độ vi phạm pháp luật còn cao hơn, nặng hơn. Đã có rất nhiều phiên tòa xét xử những vụ việc như vậy, rất nhiều người cố ý bịa đặt để bôi nhọ đời tư, bôi nhọ danh dự, uy tín người khác đã bị kết án từ phạt tiền để đền bù danh dự đến phạt tù để răn đe người khác, để người vi phạm pháp luật phải trả giá cho hành vi của mình. Đây là những quy định, là cơ chế cần thiết trong quản lý xã hội để bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, bảo vệ danh dự, phẩm giá của họ.

Để ngăn chặn, chống lại việc bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ đời tư những người đứng đầu, lãnh đạo đất nước, luật pháp của nhiều nước trên thế giới còn có những quy định chặt chẽ hơn, có những hình phạt nghiêm khắc hơn. Những quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến, như Nhật Bản, Anh, Thái Lan, Campuchia,... Nhật hoàng, Nữ hoàng Anh, nhà vua Thái Lan, Quốc vương Campuchia là người đứng đầu Nhà nước, dù chỉ có tính chất biểu tượng, đều có những quy định của pháp luật nghiêm cấm, trừng phạt nghiêm khắc những người có lời nói, hành động xúc phạm đến những nhân vật tôn quý này. Đối với những người lãnh đạo, đứng đầu Nhà nước khác, như Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội..., các nước đều có những quy định của luật pháp bảo vệ, không chỉ bảo vệ an ninh, an toàn thân thể con người, mà bảo vệ cả uy tín, danh dự, đặc biệt trước những điều bịa đặt, vu cáo để bôi nhọ nhân phẩm, để bảo vệ uy tín, bảo vệ tôn nghiêm, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan lãnh đạo đất nước, bảo vệ hình ảnh của đất nước trong cộng đồng quốc tế.

Ở nước ta, Hiến pháp và pháp luật có nhiều điều khoản bảo vệ quyền con người, bảo vệ danh dự, uy tín, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nghiêm cấm các hành vi bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ, xâm phạm các quyền này của con người. Hiến pháp (năm 2013) quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn” (Điều 21). Luật dân sự (2015) quy định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ” (Điều 34), “Người nào có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì phải bồi thường” (Điều 584) với mức bồi thường và phương thức bồi thường do Luật định. Luật hình sự (2015) quy định người nào thực hiện các hành vi “Bịa đặt hoặc loan tin những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác” là phạm tội vu khống, sẽ bị phạt tiền từ 10 đến 50 triệu, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm (Điều 156); nếu mức độ bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ là nghiêm trọng thì người bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ phạm tội làm nhục người khác, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm (Điều 155). Khi người bị vu khống, bôi nhọ là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hành vi tung tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ được thực hiện với mục đích là chống lại Đảng, chống lại Nhà nước, thì người thực hiện hành vi này phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của Luật hình sự (2015). Điều 117 Luật hình sự quy định “Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm: Làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 10 đến 20 năm”...

Những quy định của Hiến pháp, pháp luật như vậy là đúng đắn, phù hợp với văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc ta, cũng như các dân tộc khác, phù hợp với thông lệ quốc tế, tương đồng với luật pháp của các nước trên thế giới ngày nay. Cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục, việc thực hiện nghiêm minh các quy định của Hiến pháp và pháp luật, xử lý nghiêm các hành vi bịa đặt, bôi nhọ đời tư, xúc phạm nhân phẩm, uy tín, danh dự người khác, nhất là lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước đã góp phần bảo vệ, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội để phát triển, nâng cao uy tín quốc tế của đất nước. ST