Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là
cội nguồn thắng lợi của
cách mạng Việt Nam
trong thời đại hiện nay
Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, vấn đề độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn là một trong những chủ đề nóng bỏng nhất mà
các thế lực thù địch luôn công kích với những luận điệu ngang trái, giả dối và
hằn học. Họ cho rằng, chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, thế giới
đương đại là thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hầu hết các nước trên
thế giới đi theo con đường tư bản chủ nghĩa nên Việt Nam không thể giữ mãi định
hướng xã hội chủ nghĩa. Những luận điệu đó không phải không có những tác động
nhất định đối với một số người nhẹ dạ, cả tin. Chính vì thế, rất cần phải lý
giải một cách cặn kẽ hơn việc Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội.
Trong nhiều văn kiện của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011)
khẳng định một trong những bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng nước ta là:
“Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọn cờ vinh quang mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc
lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ
chặt chẽ với nhau”(1). Văn kiện Đại hội XI của Đảng lại một lần
nữa nhấn mạnh: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực
hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội”(2). Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục
khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng
sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”(3).
Nhất quán với các đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng trong các quan
điểm chỉ đạo định hướng phát triển đất nước trong thời gian tới đã xác định:
“Kiên định vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Nhìn ra bên ngoài và nhìn lại lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX và hai
thập niên đầu thế kỷ XXI, chúng ta càng thấy rằng sự lựa chọn của Đảng ta, của
nhân dân ta là hoàn toàn chính xác. Chính vì thế, chúng ta có đầy đủ luận cứ để
khẳng định độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao đẹp, bất di
bất dịch của nước ta.
1. Như
chúng ta biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng
chiến thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân Pháp xâm lược
nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các
cuộc nổi dậy trên khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân
dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần
Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái
và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và
thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền
thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu
nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp
đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả họ, cả giai cấp phong kiến và
đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề dân tộc ở
nước ta.
Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc càng trở nên
là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam - xã hội thuộc địa, nửa phong
kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong "tình hình đen
tối như không có đường ra". Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng
gánh vác sứ mệnh trọng đại đó?
Nhưng rồi lịch sử có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu
từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ
nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng
sản chủ nghĩa không có người bóc lột người và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư
bản chính là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ
nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị,
sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến, và đã bành trướng ra
khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang trở thành "trung tâm
vũ trụ" chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người.
Nghiên cứu lịch sử xã
hội loài người, Mác đã khái quát nó qua sự phát triển của các phương thức sản
xuất kế tiếp nhau. Theo quan điểm của Mác, sự thay đổi hình thái kinh tế -xã
hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác nhất định phải có điều kiện hình
thái kinh tế xã hội cũ đã mất khả năng tự phát triển và trở thành lực cản xã
hội. Chủ nghĩa tư bản tất yếu bị thay đổi bằng chủ nghĩa xã hội, và điều đó sẽ
xảy ra ở những nước mà chủ nghĩa tư bản phát triển đến đỉnh cao. Chính Lê nin
và Đảng bôn sê vích Nga đã vận dụng sáng tạo các luận điểm của Mác vào hoàn
cảnh lịch sử của nước Nga bằng việc, trước tiên giai cấp công nhân giành lấy
chính quyền, rồi sau đó dựa vào chính quyền của mình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vậy là, chính vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tưởng như đang cực thịnh ấy, thì
Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế
phát triển mới của lịch sử thế giới. Nếu trước Cách mạng Tháng Mười Nga, chế độ
tư bản chủ nghĩa phát triển đến mức người ta rêu rao như một "định
mệnh", như một "trật tự vĩnh hằng", thì sau Tháng Mười năm 1917,
không ai không thấy cái "xiềng xích" giam hãm thế giới đã bị chặt
đứt, điều định mệnh ấy thành ảo tưởng, các trật tự ấy bị lật nhào, tạo ra phản
ứng dây chuyền của hàng loại cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và
chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.
Rõ ràng, Cách Mạng Tháng Mười Nga "rung chuyển thế giới" đã làm cho
tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò
lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; vì vậy con đường để giải quyết mâu thuẫn của
xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng cũng thay đổi. Lý tưởng
Tháng Mười đã không chỉ là ngọn đèn pha dẫn đường tỏa sáng, mà còn có những
đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười Nga là tiếng chuông đánh thức
lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng
Mười Nga là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của chủ nghĩa tư bản. Sự đột
phá Tháng Mười làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ, mất mát lớn. Thế giới bừng
tỉnh, bung ra với sức mạnh của sự hình thành và phát triển chủ nghĩa xã hội,
giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga
đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản,
làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Cách mạng Tháng
Mười Nga là niềm vinh quang của những người vô sản cùng với hàng trăm triệu
người lao động thành thị và nông thôn nước Nga. Họ đã lật đổ sự thống trị của
giai cấp tư sản và phong kiến, giành quyền làm chủ cuộc sống của mình. Đó là
thắng lợi của một xu thế mới: độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội và gắn
kết với chủ nghĩa xã hội.
Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu
trong mảnh đất Việt Nam - nơi mà chính "sự tàn bạo của chủ nghĩa tử bản đã
chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của
công cuộc giải phóng nữa thôi". Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người
gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với
chủ nghĩa xã hội. Ở người, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, bản lĩnh và tố chất đặc
biệt Việt Nam đã "bắt gặp" chủ nghĩa Mác - Lênin, nói như cố Thủ
tướng Phạm Văn Đồng - một cuộc gặp gỡ đẹp như cùng hẹn trước - đã chung đúc nên
tư tưởng Hồ Chí Minh. Với kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác - Lênin kết
hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hoá thành
một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và
giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản
chất của Đảng. Vừa ra đời, Đảng tuyên bố: "Chủ trương tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Lời tuyên
bố ấy cũng đồng nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư
bản chủ nghĩa; và nhìn rộng hơn, cũng bác bỏ bất cứ một con đường nào khác. Một
cách tự nhiên là, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa xã hội không chỉ
là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển
mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi dọc theo thế kỷ XX, sang thế
kỷ XXI, và tiếp tục cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản
mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn
gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm
no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh phúc của
con người.
Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã
hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yêu khách quan;
xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng
Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là
hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến
và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó
là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam
hôm nay và mai sau.
Có thể khẳng định như vậy bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý
thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ
tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ
bản chất kinh tế và chính trị của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã
hội dựa trên các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng
giai cấp.
2. Vượt
qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong công việc giải quyết vấn đề độc lập
theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn liền
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân
tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó
là: Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hoá, đối
ngoại. Độc lập dân tộc thực sự đòi hỏi phải xoá bỏ tình trạng áp bức bóc lột và
nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh
thần. Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ quốc gia
- dân tộc phải do quốc gia - dân tộc đó giải quyết, không có sự can thiệp từ
bên ngoài.
Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp, giải
phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội sẽ xoá
bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra. Nhờ đó, nó xoá bỏ cơ sở kinh tế sinh
ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý
thức và tư tưởng.
Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát
triển phồn vinh về kinh tế và sự phát triển phong phú, đa dạng về văn hoá, tinh
thần, sự thực hiện đầy đủ nhất quyền lực của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã
hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi
người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người
chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày
càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng của sự độc lập tự chủ càng thêm
vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc càng đầy đủ mạnh mẽ.
Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng những khả
năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ, phụ thuộc, bị
áp bức bóc lột và nô dịch. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói
nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác trong thế giới
và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan
hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân
tộc khác. Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm đó chỉ có thể được tìm thấy và
giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của
Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính là cái lôgíc phát triển lịch sử
của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cốt cách Việt Nam, bản
lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới.
Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, từ năm 1930 đến
nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã
lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt
qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng
lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân phong
kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên
độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao
là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng Mùa Xuân năm 1975,
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
3. Qua
hơn 75 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc, đặc biệt 35 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng
tiêu biển cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa, đã tỏ rõ tính độc lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và
đối ngoại, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc
gia độc lập, tự do, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta từ
thân phận nô lệ đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta ra
khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, hội nhập quốc tế; có quan hệ quốc tế ngày càng rộng mở, có vị thế ngày
càng cao trên trường quốc tế. Tất nhiên trong suốt hành trình cách mạng sáng
tạo nhưng cũng gặp phải nhiều trở ngại, gian nan, chúng ta không phải không có
những hạn chế yếu kém khi thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của việc xây dựng nền
độc lập dân tộc và hướng tới chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục
tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn
cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt
son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội
là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của
cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.
4. Đã
qua hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy
biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của
cộng đồng quốc tế. Thế giới đã chứng kiến bao cảnh đau thương của nhiều dân tộc
ở châu Phi, ở Trung Đông, dù đã giành được độc lập nhưng đất nước bị hoang tàn
bởi các xung đột chia rẽ trong nội bộ và sự can thiệp từ bên ngoài. Ngay một số
nước dù có độc lập dân tộc nhưng việc tranh giành giữa các lực lượng chính trị
trong nước làm cho tình hình luôn nóng bỏng, cuộc sống của nhân dân không được
bình yên. Vậy nên, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với
xu thế toàn cầu hoá, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai
đó bị loá mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ cả chủ nghĩa tư bản thì hệ
giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong
hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi
mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo
của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp
đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế
giới. ST
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét