Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2021

Tài lộc viển vông?

1 - Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc “an cư” của cán bộ, địa phương Q. đã xây dựng một ngôi nhà công vụ to đẹp, khang trang cho một vị lãnh đạo chủ chốt. Bên trái ngôi nhà là một chiếc cổng uy nghi mà mỗi lần bước vào đây, ai cũng cảm tưởng như đến một gia đình quyền quý. Người lãnh đạo đầu tiên ở ngôi nhà công vụ này coi nó là một “ngôi nhà hoàn hảo” nên đồng ý với việc “xây thế nào, ở thế nấy”. Nhưng chỉ hơn một năm sau, một vị khác được điều động vào chức vụ lãnh đạo chủ chốt này. Ông “chỉ đạo” cấp dưới tu bổ, sửa sang ngôi nhà công vụ đó cho sang trọng và đẹp đẽ hơn. Trong số các hạng mục phải tu sửa có một hạng mục là xây mới cổng ở phía bên phải ngôi nhà. Bởi vì theo vị lãnh đạo này, “chủ mới” phải có “lối đi mới” to hơn, cao hơn mới “hanh thông” và “dễ bề” thăng tiến! Thế là một cái cổng mới to hơn, cao hơn, hoành tráng hơn được xây cất. Sống và làm việc trong ngôi nhà công vụ được gần nửa nhiệm kỳ, vị lãnh đạo này được luân chuyển sang địa phương khác. Người thay thế cương vị mới sau khi xem xét “hướng nhà” một cách thận trọng, kỹ lưỡng, đã đi tới quyết định cho xây một cái cổng mới phía trước ngôi nhà. Vì theo ông, cổng ở bên trái, bên phải vừa không “thuận tiện” vừa “chướng mắt”. Cổng phải ở trước tiền sảnh ngôi nhà mới “phù hợp” với thuật “phong thủy”, đồng thời thể hiện “bước tiến” của “chủ nhà” luôn luôn ở phía trước. Và ngay sau đó, cấp dưới của ông lại phải xây thêm một chiếc cổng mới có phần còn bề thế, hoành tráng hơn hai cái cổng kia ... 2 - Trước nhà công vụ của giám đốc (nằm trong trụ sở chính) của công ty T. (doanh nghiệp nhà nước) đã xây dựng một khuôn viên có hòn non bộ và các chậu hoa, cây cảnh thể hiện phong cảnh “sơn thủy hữu tình” khá lãng mạn. Phần lớn các chậu cây cảnh được cắt tỉa gọn gàng theo từng hình thế, dáng dấp khá bắt mắt, chỉ có hai cây sung thì không được chăm chút, uốn nắn nên cành này chĩa ngang, cành kia xiên chéo, dưới gốc thì cỏ mọc um tùm. Bởi theo “quan niệm” của giám đốc công ty, cây sung là biểu hiện của sự “sung túc”, cứ để cho nó phát triển tự nhiên, không cần phải vun với, tỉa tót làm gì. Sau khi giám đốc về hưu, một phó giám đốc khác lên thay đã “chỉ đạo” ngay tổ lao công “đào tận gốc, trốc tận rễ” hai cây sung ấy đi, rồi cho mua hai cây lộc vừng rất đẹp đặt vào vị trí đó. Vì theo vị giám đốc mới, muốn có cuộc sống “sung túc” phải “nai lưng, cật lực” làm ra thì mới có, còn “lộc” thì tự nó đến, muốn có nhiều lộc thì trước trụ sở phải có cây lộc vừng bề thế! Tuy nhiên, khoảng một năm sau, khi cây lộc vừng đang trong giai đoạn phát triển tươi tốt thì ông giám đốc này chẳng may bị bạo bệnh. Một người ở sở kế hoạch - đầu tư của tỉnh xuống làm giám đốc mới. Sau một tuần lên “nắm quyền” công ty, vị giám đốc này yêu cầu tổ lao công chuyển hai cây lộc vừng về hai đầu nhà, thay vào đó là trồng hai cây đa với “lý sự”: Cây đa biểu hiện cho sức sống trường tồn, có cây đa cành lá tỏa bóng xum xuê mới tạo ra cảm giác thư thái và bầu không khí yên lành, mát mẻ trong công ty! Người đời thường nói... “Phú quý sinh lễ nghĩa”. Nhưng địa phương Q. vẫn thuộc diện khó khăn nhất nhì của tỉnh, còn công ty T. cũng làm ăn ở dạng “thường thường bậc trung” chứ không “nổi đình nổi đám” gì. Vì vậy, tính cả tiền thiết kế, thi công, mua vật liệu và công sức xây ba cái cổng và tiền mua các loại cây cảnh “xịn” thì cũng phải tốn kém nhiều triệu đồng. Xét về phương diện kinh tế, đó là một sự lãng phí. Còn nhìn ở góc độ văn hóa, đó là quan niệm lệch lạc và có phần mê tín, ảo tưởng. Chẳng lẽ một cái cổng hay một cây cảnh lại có thể là “tác nhân” góp cho sự “ thăng tiến”, “phát đạt” hay mang lại “tài lộc” cho con người hay sao? Quan niệm về “tài lộc” như vậy quả là viển vông, lãng phí. Hãy góp phần giữ gìn, bảo vệ, tiết kiệm tài sản của Nhà nước. Đó là một yêu cầu và cũng là thể hiện một nét đẹp văn hóa trong sử dụng tài sản của tập thể!

Cần loại bỏ những cán bộ “giã cào” (!)

Trước hết, tôi có mấy lời về hai chữ: “Giã cào”! Quê tôi thuộc một tỉnh vùng biển. Bà con ngư dân làm nghề biển thường sử dụng nhiều loại lưới để đánh bắt hải sản. Trong đó có một loại lưới vừa to, vừa cao, vừa dày, các mắt lưới được đan rất nhỏ khiến những con tôm, con tép, con cá nhỏ xíu, thậm chí cả đến những đàn cá lòng tong vừa mới nở cũng không thoát khỏi loại lưới này. Đó là loại lưới giã cào. Đã có nơi, chính quyền địa phương phải ban hành lệnh cấm bà con ngư dân sử dụng loại lưới giã cào, vì nếu không thì loại lưới này sẽ “tiêu diệt” sạch sành sanh các loài tôm, cá vừa mới nở, sẽ làm cho vùng biển đó kiệt quệ, tôm cá không kịp lớn và sẽ không có cơ hội sinh sôi nảy nở. Trong xã hội của chúng ta ngày nay, đại đa số cán bộ của Đảng và Nhà nước đều ra sức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, phấn đấu để thực hiện tốt những lời Bác Hồ đã dạy: “Cán bộ là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”, nên họ được nhân dân quý trọng, tin tưởng, mến phục. Nhưng thật đau lòng, vì hiện tại, vẫn còn không ít những cán bộ thoái hóa, biến chất, vi phạm phẩm chất đạo đức cách mạng. Họ dùng tiền để mua chức tước, rồi dùng chức tước để vơ vét tiền. Họ lợi dụng chức quyền để tìm cách tham ô tài sản của Nhà nước, nhận hối lộ để làm giàu cá nhân. Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi mánh lới xảo trá, họ vơ vét không nương tay trong mọi cơ hội, mọi trường hợp của mọi đơn vị, địa phương và mọi người, miễn sao trong két sắt nhà họ luôn đầy ắp tiền, vàng là được. Người có cấp chức to thì “ăn” ở các dự án (dự án có thật và cả dự án “ma” - nghĩa là họ tự vẽ ra dự án để lừa bịp mọi người, không cần biết dự án đó có khả thi hay không - và thực tế đã có rất nhiều dự án bị phá sản). Họ “ăn” trong các công trình xây dựng, như nhà cửa, cầu cống, đường sá, thủy lợi, kể cả việc bán đất, bán nhà, họ đều có cách để “ăn”. Họ “ăn” trong việc mua đi, bán lại các trang thiết bị công cộng, và họ “ăn” trong các hợp đồng bán đất, bán ruộng, bán tài nguyên khoáng sản ở địa phương. Và thậm chí họ còn “ăn” trong việc xét khen thưởng huân, huy chương các loại... Những đơn vị đang có vấn đề về tham nhũng, và làm ăn thua lỗ, đang lừa dối khách hàng, nhưng lại muốn có huân, huy chương để lừa bịp dư luận, họ sẵn sàng bỏ ra tiền tỉ để kiếm các danh hiệu ảo. Người có cấp chức trung thì “ăn” khi xét duyệt để nhận người vào cơ quan, rồi xét duyệt vào biên chế chính thức, xét duyệt lên lương...Việc điều động cán bộ từ nơi này đi nơi khác, nhất là cán bộ, nhân viên từ vùng sâu, vùng xa về đồng bằng, thành phố... Tất cả đều có giá cụ thể. Từ một việc nhỏ như xét tuyển một nhân viên vào các cửa hàng, công ty, xí nghiệp làm tạp vụ, đến việc xét tuyển một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học mới ra trường, xin vào cơ quan nhà nước đều có giá từ vài ba chục triệu đến hàng trăm triệu đồng cho một trường hợp cụ thể. Đó là chưa nói đến việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, cất nhắc cán bộ hoặc giới thiệu nhân sự vào các cơ quan dân cử, ở nơi này, nơi khác đã có hiện tượng không trong sáng của một số cán bộ chỉ nghĩ đến việc đòi hỏi thủ tục “Đầu tiên” (nói lái là “Tiền đâu”?). Những cán bộ như vậy nhân dân thường gọi là những cán bộ “Giã cào” !

“Mở ngoặc”

Ông là người có học hàm, học vị và hiện đang công tác ở một cơ quan rất có uy tín. Đó là tất cả những gì tôi được biết về vị báo cáo viên trong buổi nói chuyện thời sự hôm ấy sau lời giới thiệu của đồng chí Bí thư Đảng ủy phường. Khi mới nghe ông nói, tôi rất có cảm tình. Nhưng thú thật, càng về sau, sự cảm tình ấy càng giảm, và cuối cùng, sự cảm tình đã bị thay thế bởi một cảm giác khó chịu. Vì sao vậy? Bởi vì, sau khi truyền đạt những nội dung cơ bản, những quan điểm chủ yếu của Đảng về một vấn đề nào đó ông thường “tôi xin mở ngoặc” để nói với người nghe về những quan điểm của riêng mình; mặc dù ông đã thận trọng “rào trước, đón sau” rằng: “Đó chỉ là những ý kiến của cá nhân tôi với tư cách là một nhà nghiên cứu để các đồng chí tham khảo”. Xin dẫn ra đây vài vấn đề mà ông đã “mở ngoặc”: 1 - Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển? Về vấn đề này ông trích dẫn: Đại hội IX của Đảng đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Đại hội X nói rõ hơn là sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển (tức là sẽ hoàn thành mục tiêu đó vào năm 2009). Và, bắt đầu từ cuối năm 2009 chúng ta chính thức tuyên bố đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, gia nhập vào nhóm nước đang phát triển và có mức thu nhập trung bình. Ngay sau đó, ông xin “mở ngoặc” để nói rõ hơn về vấn đề này. Theo như ông nói, Liên hợp quốc quy định rất rõ ràng rằng, một quốc gia được coi là đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển phải đạt được ba tiêu chí: Một là, mức GDP bình quân đầu người phải đạt trên 950 USD. Hai là, các chỉ số phát triển con người phải ở mức tương đối cao. Ba là, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không thể thiếu thốn, lạc hậu. Vậy hiện nay chúng ta đã đạt được cả ba tiêu chí đó chưa? Ông khẳng định chúng ta mới đạt được tiêu chí đầu tiên (GDP bình quân đầu người năm 2010 là trên 1.000 USD), còn hai tiêu chí sau thì chưa đạt. Khi chưa đạt đầy đủ các tiêu chuẩn mà cứ nói là đạt thì sẽ rơi vào tình trạng “ngộ nhận”. Đấy, nội dung trong phần “mở ngoặc” của ông là như vậy. 2 - Về khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Sở dĩ ta gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” vì đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa (mục tiêu của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội) và cũng chưa phải là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (chúng ta còn đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội). Đó là cái phần ông nói theo quan điểm của Đảng. Nhưng ngay sau đó ông lại xin “mở ngoặc” để “giải thích” rõ hơn về vấn đề này. Ông bảo: “Kinh tế thị trường là một sân chơi chung với những quy chuẩn chung rất rõ ràng. Những quy chuẩn đó hoàn toàn mang tính kinh tế, không mang tính chính trị! Các nước tư bản chủ nghĩa chưa bao giờ nói rằng nền kinh tế của họ là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Vậy theo tôi, ta chỉ cần nói kinh tế thị trường là đủ; không nhất thiết phải nhấn mạnh kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hay kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong buổi nói chuyện hôm đó, vị báo cáo viên này còn nhiều lần “xin mở ngoặc”. Song, tôi chỉ nêu hai trường hợp điển hình trên đây, bởi vì nói hết ra tôi e rằng mức độ khó chịu ở độc giả sẽ ngày một tăng. Những quan điểm, chủ trương của Đảng ta được nêu trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết thường rất khái quát và súc tích. Vì thế việc “mở ngoặc” để minh họa cho những quan điểm, chủ trương đó là cần thiết. Song, nội dung trong phần “mở ngoặc” phải bám sát quan điểm của Đảng, không được tùy tiện và vô nguyên tắc. Chẳng hạn về kiềm chế lạm phát ta nên nói rõ: thế nào là lạm phát, thực trạng lạm phát ở nước ta hiện nay, những giải pháp kiềm chế lạm phát, thực hiện những giải pháp đó bước đầu đã thu được những kết quả gì. Những nội dung trong phần “mở ngoặc” đó phải nhằm làm cho người nghe, người đọc thấy rõ quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc kiềm chế lạm phát, những giải pháp để kiềm chế lạm phát là có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, có tính khả thi và bước đầu đã thu được những kết quả tốt. Tóm lại là phải tạo được lòng tin trong nhân dân chứ không phải gieo vào họ sự hoài nghi. Chúng ta đang tiến hành học tập, quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng ở các cấp từ Trung ương tới cơ sở. Kết quả học tập phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ báo cáo viên, những người có nhiệm vụ giới thiệu, quán triệt những nội dung cơ bản trong các văn kiện của Đại hội XI. Vì vậy, phải có kế hoạch sàng lọc đội ngũ báo cáo viên, bảo đảm chắc chắn rằng họ là những người có quan điểm chính trị vững vàng, nắm chắc những nội dung cơ bản, những điểm mới trong các văn kiện của Đại hội và có khả năng biểu đạt tốt./.

Lý sự “4C” vọng “6C”

Người bạn thân của tôi hiện đang là giảng viên ở một trường chính trị tỉnh. Vốn đam mê ngôn ngữ mẹ đẻ, anh rất quan tâm đến sự biến đổi và phát triển của tiếng Việt, nhất là những từ ngữ thường gặp trong sinh hoạt, ứng xử, giao tiếp hằng ngày. Hôm về thăm quê, gặp lại anh, tôi nói vui: - Xin chào thành phần “4C”! Cậu vẫn giữ được phong độ giỏi giang như thời sinh viên ngày xưa chứ? Anh tủm tỉm cười rồi “chế giễu” tôi: - Cậu lạc hậu nhiều lắm đó! Bây giờ đâu chỉ có “4C”, mà có “6C”, “7C”... và cả đến “10C” nữa đấy! Thấy tôi “nghệt” mặt tỏ ra chưa hiểu, anh giải thích luôn: - Từ “4C” - tức “con cháu các cụ”, đã “phái sinh” thêm nhiều ý mới. Chẳng hạn như “6C” - “Con cháu các cụ, chiếu cố”; “7C” - “Con cháu các cụ, cần chiếu cố”; “10C” - “Con cháu các cụ cả, chắc chắn còn chiếu cố”. Tóm lại, đã thuộc diện con cháu các cụ, trước sau thể nào cũng được chiếu cố. Tôi “chất vấn” anh: - Nhưng nhìn quá trình học tập, phấn đấu của cậu, tôi thấy những “lý sự” trên xem ra không đúng? (Xin mở ngoặc: anh là con của một vị cán bộ lãnh đạo một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Dù có rất nhiều lợi thế để được vào các vị trí “ngon”, dễ “hái ra tiền”, nhưng anh đã quyết định đi con đường riêng, hoàn toàn không phụ thuộc vào “cái bóng” của người cha. Anh được mọi người trân trọng, quý mến vì đã biết lập thân, lập nghiệp bằng chính năng lực và sự trung thực của mình). - Đấy là dư luận xã hội “xì xào” thế, chứ không phải những điều tớ nghĩ ra - anh bộc bạch - Mà nói như thế không phải là tớ muốn “vơ đũa cả nắm” đâu. Vì trên thực tế, nhiều người sinh trưởng trong những gia đình có chức, có quyền, nhưng họ vẫn tự đi bằng đôi chân của chính mình. Tự thân cụm từ “con cháu các cụ” không có lỗi gì. Cái lỗi là do con người nhiều khi cố tình làm “biến dạng, méo mó” nó đấy thôi. Người xưa có câu “Hổ phụ sinh hổ tử” hàm ý muốn nói, bố mẹ giỏi giang thường sinh ra những người con tài năng. Trong số đó, có nhiều người con đã miệt mài đèn sách sớm hôm, tự giác tu dưỡng, học hành đến nơi đến chốn và phấn đấu công thành danh toại để góp phần làm đẹp thêm truyền thống gia đình, làm “mát lòng” cha mẹ. Tuy nhiên, cũng không ít người dựa dẫm, ỷ vào chức quyền của cha mẹ, không thường xuyên chăm chỉ rèn luyện, trau dồi đạo đức, không phấn đấu bằng nỗ lực của bản thân! Hơn thế, có người còn lười lao động, nhác tu thân, như những “cậu ấm, cô chiêu” chỉ biết tiêu tiền như ném qua cửa sổ và chạy theo lối “sống thoáng, sống nhanh, sống gấp” mà dư luận đã nhiều lần cảnh báo, kêu ca, phàn nàn. - Vậy theo cậu, làm thế nào để phòng chống, ngăn chặn, hạn chế những tiêu cực của các mối quan hệ thiếu lành mạnh từ “4C” đó? - Theo tớ, các cấp, các ngành, các tổ chức, cơ quan, đơn vị cần thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch, công tâm trong tuyển dụng, điều động, bố trí, bổ nhiệm nhân sự. Trên cơ sở lấy tiêu chuẩn đức - tài, hiệu quả công tác và tín nhiệm của quần chúng làm thước đo chủ yếu, phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người trong tổ chức, cơ quan, đơn vị mình có cơ hội phấn đấu, cống hiến và trưởng thành; kiên quyết xóa bỏ tình trạng nể nang, ô dù, cục bộ trong công tác nhân sự. Mỗi cấp ủy và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị phải thật sự công tâm, hết lòng vì việc chung, vì lợi ích chung... Tóm lại, cần thực hiện “Con cháu các cụ, chi cần chiếu cố” - đây cũng là “8C”, nhưng là “8C” lành mạnh. Một khi không chiếu cố, “con cháu các cụ” nhất định sẽ phải quyết chí học hành, rèn luyện, phấn đấu nghiêm túc như những người khác mới có cơ hội phát triển. - Thế còn muốn nhân rộng, phát huy những mặt tích cực của “4C”? - Trước hết và trên hết là: “Con cháu các cụ, cần cố”! - Đây cũng có thể gọi là “6C” lành mạnh? - Đúng vậy. Chỉ có ngẩng cao đầu, đứng thẳng lưng và đi bằng đôi chân của chính mình, “con cháu các cụ” mới xứng đáng là “Hổ tử tôn thêm vinh quang cho hổ phụ”! Tôi gật đầu mỉm cười đồng tình với những lý sự của người bạn thân - một thành phần “4C” chính hiệu, nhưng đã tự mình thực hiện “8C” và “6C” lành mạnh! Rất mong xã hội ta sẽ ngày càng nhiều thành phần “4C” đích thực như bạn tôi./.

Thế à!

Mấy ông là hàng xóm với nhau. Lúc đang công tác mỗi người một nghề, lại không có thời gian rỗi, do đó ít có điều kiện để tâm sự. Giờ đã nghỉ hưu nên mỗi buổi chiều, sau khi giúp các con đón cháu từ trường về, các ông lại ra vườn hoa trước nhà ông B. hóng mát, đánh cờ, trò chuyện. Chủ nhật vừa qua, sau vài ba ván cờ, ông A. kể lại với mấy ông rằng: - Năm ngoái, ở một cơ quan, có ông lãnh đạo cấp bộ mẹ mất ở quê. Nghe tin, có người xin nghỉ phép, đi xe máy cả đêm (may mà không bị tai nạn), vượt qua chặng đường hàng trăm cây số về tận tỉnh N. xin thủ trưởng cho chịu tang như con cháu trong nhà. Rồi anh ta đeo khăn, mặc áo tang, mặt lúc nào cũng buồn rầu như chính mẹ anh ta mất. Anh này còn ở lại lo công việc cho gia đình “sếp” suốt 3 ngày đêm, xong mới về cơ quan làm việc. Nghe ông A. kể, ông B. ngồi bên cạnh nói: - Chuyện ấy bình thường! Quan tâm làm gì. Im lặng một lúc, ông A. kể tiếp câu chuyện thứ hai: - Vừa qua, ở thành phố có “sếp” chuyển về nhà mới, cán bộ cấp dưới đã “kịp thời” đến siêu thị điện máy mua máy giặt và tủ lạnh đắt tiền chở đến nhà “sếp” làm “quà tân gia”. Cậu ta còn cho thợ đến lắp đặt xong xuôi, chạy thử “ngon lành”, rồi nhẹ nhàng chu đáo nói với vợ “sếp”: - Chị cứ sử dụng “vô tư”. Có gì trục trặc, không hài lòng, gọi cho em, để em bảo họ sửa chữa, hoặc đổi cái khác. Nghe ông A. kể đến đây, ông B. lại bảo: - Chuyện đó giờ cũng bình thường. Tưởng sau khi nghe nói như vậy, ông A. không kể nữa. Nhưng không, ông A. lại kể tiếp chuyện thứ ba: - Ở cơ quan nọ, trước đây cứ mỗi lần Tết đến là có anh cán bộ cấp dưới mua sắm đầy đủ các thứ: hương hoa, thịt cá, giò chả, bánh trái, rượu ngoại và cả “tiền âm phủ”... rồi cùng vợ đưa đến nhà “sếp”, quét dọn nhà cửa, bày biện chu tất, hơn cả con cái lo cho bố mẹ đẻ. Chưa nghe hết câu chuyện, ông B. cũng lại bảo rằng: - Bình thường. Chuyện như thế bây giờ không hiếm. Đến lúc này ông A. mới đứng dậy, nói to hơn, như để bày tỏ thái độ phản ứng đối với ông B.: - Đúng là những chuyện tôi kể trên bây giờ nó trở thành “thường ngày ở huyện” và “chuyện bình thường” như ông B. nói, bởi đó là những kiểu “chạy” phổ biến hiện nay của bọn cơ hội ở các cấp, các ngành... Nhưng, tôi thấy không bình thường là ở chỗ sau đó có kẻ đã được “sếp” đề bạt lên chức này chức nọ một cách “ngon lành”... Nghe ông A. nói vậy, ông B. cũng lập tức đứng dậy, mở tròn mắt, rồi nói to: - Thế à! Những người như thế mà làm lãnh đạo thì nguy quá! Lúc này trời vừa tối, mọi người không ai bảo ai cùng nhau lặng lẽ ra về./.

Đọc bản đảng viên tự kiểm điểm trước đây, suy nghĩ về đảng viên tự kiểm điểm hiện nay

Tôi vừa tìm được bản tự kiểm điểm định kỳ trong đợt “chỉnh cán chỉnh cơ” của ông Nguyễn Sinh Chưng – Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Quảng Bình, do một cán bộ Trường Đảng tỉnh Quảng Bình cung cấp. Xin thông tin lại cho bạn đọc bản tự kiểm điểm của một đảng viên cách đây 58 năm và suy nghĩ về đảng viên tự kiểm điểm hiện nay. Bản kiểm điểm của ông có sáu chữ ký xác nhận của sáu cán bộ, đảng viên trong tổ văn hóa giáo dục của tỉnh (gồm các ông: Trung Tâm, Phạm Kim Ngân, Hoàng Trọng Báu, Trần Đình Côn, Nguyễn Đình Nhân và Phạm Minh Chúng). Sau thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, năm 1953 Trung ương Đảng ta quyết định khẩn trương chuẩn bị cho giai đoạn tổng phản công trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Để chuẩn bị tư tưởng cho đảng viên, quân và dân ta bước sang giai đoạn mới, Trung ương Đảng ta đã đề ra phong trào “chỉnh cán, chỉnh quân” (đối với lực lượng quân đội) và “chỉnh cán, chỉnh cơ” (đối với lực lượng cán bộ trong cơ quan ban ngành). Trong bản tự kiểm điểm định kỳ của ông Nguyễn Sinh Chưng, có 4 phần: Kiểm điểm tư tưởng sợ địch; kiểm điểm quan điểm sợ khó sợ khổ, sợ trường kỳ kháng chiến; kiểm điểm việc “tranh thủ” trong công tác để vì lợi ích riêng tư và kiểm điểm về mặt nhận thức trong sự bóc lột tàn tệ của đế quốc phong kiến đối với nhân dân ta. Đọc bản tự kiểm điểm này tôi thấy ông nói về ưu điểm của chính mình rất ít. Trong suốt 6 trang viết bằng “giấy bù” nhám và đen của thời ấy, ông Phạm Sinh Chưng chỉ nói về những tồn tại và tự phê phán rất nghiêm khắc những khuyết điểm của bản thân mình ở cả 4 phần của bản tự kiểm điểm. Trong phần tự kiểm điểm tư tưởng sợ địch có đoạn ông viết: “Ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Quảng Bình đóng ở đồng bằng. Thường bị uy hiếp dưới tầm đạn ca nông và máy bay địch. Một dịp tôi bị thương nhẹ, nhân đó tôi cho cơ quan chuyển về chiến khu vùng miền núi”. Ông tự phê phán: “đó là vì động cơ sợ chết, sợ bị thương. Đó là tư tưởng khiếp sợ địch. Mang động cơ cá nhân, dùng mệnh lệnh làm cho một số cấp dưới thắc mắc, phản đối”. Ông kết luận: “tôi đã không nghĩ đến nhân dân đang kiên trì bám trụ dưới tầm bom đạn của giặc…. Người đảng viên trước hết phải rèn luyện tính chịu đựng, phải biết đương đầu với sự sống và cả cái chết để cứu vãn lấy sinh mệnh của đất nước, kể cả sinh mệnh chính trị của bản thân mình”. Trong phần phê phán tinh thần sợ khó sợ khổ, sợ trường kỳ kháng chiến ông đã kiểm điểm: “tháng 11 năm 1951 tôi đi dự Hội nghị tuyên truyền ở khu về, đáng lẽ tôi phải vào miền nam của tỉnh ngay, nhưng tôi lấy lý do đang đi công tác một số vùng của phía bắc gần nhà, tôi nghỉ thêm một tháng để được vợ con tẩm bổ. Tôi đã vô kỷ luật không làm gương cho anh em nhân viên cấp dưới. Họ cũng học theo tôi vào chậm quá thời hạn công tác. Lần nữa, năm 1952 tôi đi công tác ở miền bắc, bị thương nhẹ tôi lấy cớ xin nghỉ thêm 15 ngày để điều trị. Vì tôi nghĩ vào miền nam hiện nay rất ác liệt, đời sống rất kham khổ lại bị uy hiếp nguy hiểm đến cả tính mạng…” cuối cùng ông tự phê phán: “người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải luôn nhớ rằng, lo trước cái lo của dân, phải hưởng thụ sau dân. Phải rèn luyện chịu đựng gian khổ hi sinh, khắc phục tư tưởng cầu an hưởng lạc. Luôn luôn suy nghĩ đến sự cực khổ của nhân dân. Nhân dân là người cùng khổ nhất, phải đặt mức sống của mình ngang hàng với nhân dân. Có như thế mới lãnh đạo được nhân dân, phải luôn chuyên tâm cho sự nghiệp cách mạng”. Phần kiểm điểm việc “tranh thủ” trong công tác để vì lợi ích riêng tư, ông Nguyễn Sinh Chưng viết: “như tôi đã viết ở phần trước, tôi đã lấy lý do công tác, lấy lý do bị thương để về sống với vợ con gần 2 tháng. Những lần sống thiếu thốn vất vả quá vợ tôi khuyên tôi về đầu hàng giặc... Có lần tôi đã định cắt đứt tình vợ chồng thả vợ về với địch”. Ông đã tự phê phán: “…tôi đã chịu đựng gian khổ trong 7 năm trường kỳ kháng chiến, được vợ chăm sóc đùm bọc nhưng do chỉ một câu nói của vợ thiếu suy nghĩ mà tôi đã vội cho rằng vợ tôi là người phản động. Nếu vợ đã nghe lời tôi thì địch sẽ dựa vào đó để phản tuyên truyền và phá vỡ các cơ sở của ta. Tôi tham gia kháng chiến với tư tưởng ỷ lại, thiếu tinh thần tự lực cánh sinh. Tôi không có tư tưởng cách mạng dứt khoát, thiếu phương pháp tuyên truyền thuyết phục đối với gia đình. Có khi do quá nghèo khổ, khó khăn tôi đã lúng túng thiếu sự sáng suốt quyết đoán của một người đảng viên…”. Trong phần tự kiểm điểm về nhận thức sự bóc lột tàn tệ của đế quốc phong kiến ông viết: “năm 1951, nhân anh em cán bộ thị xã Đồng Hải cho biết: tôi có một người em họ ở Phú Ninh trong vùng tạm chiếm rất giàu, làm ăn sản xuất rất khá, tôi đã gửi thư xin của cải, đồng hồ, bút máy…. Vì tôi nghĩ rằng, trong số ruộng vườn của em họ tôi thừa hưởng có một phần ruộng của mẹ tôi và một mảnh vườn nữa…”. Ông đã tự phê phán: “đó là tư tưởng cầu an hưởng lạc. Nhận quà của người giàu để hưởng lạc cá nhân. Tôi chưa phát huy được tính tự lực cánh sinh, chưa xác định được lao động là vinh quang”. Cuối cùng ông Nguyễn Sinh Chưng đã đề ra phương pháp tu dưỡng và rèn luyện bản thân như sau: “- Tự lao động, lao động hóa bản thân và gia đình để tự cải thiện đời sống và cải tạo tư tưởng hưởng lạc cầu an. - Phải hòa mình với nông dân, đi sâu đi sát nhân dân. - Đặt mức sống hàng ngày của mình, gia đình mình ngang với mức thấp nhất của người cùng khổ nhất. Không đòi hưởng lạc và sống xa hoa. - Ghép mình, vợ con mình vào tổ chức kháng chiến. - Không sợ địch, không sợ chết, không sợ bị thương. Tất cả cho trường kỳ kháng chiến thắng lợi”. Đọc bản tự kiểm điểm định kỳ của một đảng viên Đảng Lao động Viêt Nam, một cán bộ đầu ngành của tỉnh Quảng Bình trong đợt “chỉnh cán, chỉnh cơ” mà Trung ương Đảng phát động, tôi rất xúc động và cảm phục tư tưởng “tự phê bình và phê bình” mà Bác Hồ đã dạy. Tư tưởng tự phê và phê bình là vũ khí sắc bén để đảng viên từng bước hoàn thiện mình, tu dưỡng sữa chữa những sai lầm thiếu sót của bản thân, nguyện trở thành một đảng viên gương mẫu, một cán bộ tốt. Có như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, chúng ta mới giành được thắng lợi vẻ vang trong việc chuẩn bị cho giai đoạn tổng phản công trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 và Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954. Đọc bản tự kiểm điểm định kỳ của ông Nguyễn Sinh Chưng, nguyên Trưởng Ty Thông tin Tuyên truyền, tiền thân của Ty Văn hóa Thông tin, nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin Truyền thông của tỉnh Quảng Bình, tôi tự liên tưởng ngay đến việc đảng viên viết bản tự kiểm điểm định kỳ hằng năm hiện nay. Để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp giai đoạn 2011-2016, để thực hiện tốt nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay, thiết nghĩ cần nhận thức rõ, hiện nay chúng ta đang trong giai đoạn “bản lề”, chuẩn bị cho cuộc “tổng phản công” để đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Mục tiêu sự nghiệp cách mạng đó có thành công và trở thành hiện thực hay không trước hết phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng và vai trò đầu tàu gương mẫu của mỗi đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những yếu tố để đảng viên tu dưỡng, rèn luyện là việc tự kiểm điểm định kỳ hằng năm, hay kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương bốn về xây dựng Đảng hiện nay phải thực sự có hiệu quả, biết tự phê bình và phê bình thẳng thắn, biết nhìn thẳng vào sự thật, biết nói đúng sự thật và biết hành động đúng của mỗi đảng viên, tương tự như bản tự kiểm điểm định kỳ của ông Nguyễn Sinh Chưng. Nhìn lại các bản đảng viên tự kiểm điểm định kỳ hằng năm hiện nay mà các tổ chức đảng đang làm thì thấy không ít nơi làm cho xong chuyện, mang tính hình thức. Chủ yếu bản tự kiểm điểm ấy chỉ nói về ưu điểm của mình, phần khuyết điểm thiếu sót, phần phương hướng khắc phục những khuyết điểm chỉ được viết qua quýt, chiếu lệ. Hơn nữa, mấy năm gần đây, mỗi đảng viên chúng ta viết theo mẫu in sẵn của ban tổ chức. Phần khuyết điểm thiếu sót chỉ có vài ba dòng, phần phương hướng khắc phục cũng vậy. Thậm chí bản tự kiểm điểm định kỳ hằng năm của mỗi đảng viên có thể sao chép cho nhiều đảng viên khác vẫn đúng, hoặc bản tự kiểm điểm định kỳ của năm này có thể sao chép sang cho những năm sau vẫn đúng, vẫn hay. Đó là tình trạng không hiếm thấy. Bản kiểm điểm sao chép đó vẫn được trình bày trước chi bộ Đảng, vẫn được xếp loại đảng viên bằng bỏ phiếu kín đàng hoàng. Nên chăng, cần có sự đổi mới về mẫu văn bản đảng viên tự kiểm điểm và được thống nhất chung trong toàn Đảng. Bản đảng viên tự kiểm điểm phải được viết tay, viết từ tâm, từ con tim dựa vào các yêu cầu của tổ chức Đảng, phù hợp với tình hình cụ thể hằng năm. Có suy nghĩ trăn trở với những yêu cầu hằng năm của Đảng thì bản viết mới có chất lượng thực sự. Đây cũng chính là một lần tự thức tỉnh mình, tự nghiêm khắc với chính mình. Bản tự kiểm điểm của đồng chí Nguyễn Sinh Chưng cách đây 58 năm, đáng để các thế hệ đảng viên và tổ chức đảng suy nghĩ, học tập và làm theo./.

Công, tư lẫn lộn

Có những câu chuyện người ta muốn nhanh chóng rơi vào quên lãng và mong sẽ không còn trường hợp tương tự xảy ra. Thế nhưng, cảm tưởng như bút mực của công luận dù có “dào dạt như nước Biển Đông” cũng không đủ để thấm vào tai những người vẫn “thích đùa”, hay nói cách khác là “thích làm trò hề” trước dư luận thiên hạ! Chả là mới đây, nhiều công chức ở tỉnh B. bỗng dưng cảm thấy “nổi da gà” khi nhận được thiệp mời đến ăn cơm tại nhà riêng nhân dịp 2 năm giỗ mẹ của một vị cán bộ đầu ngành có in rõ họ tên người mời kèm theo tên cơ quan khá nhạy cảm... Nghe thế, biết vậy mà… buồn. Buồn vì thời gian gần đây, báo chí còn chưa ráo mực phản ánh mấy vị quan chức đang ở chốn “công đường” đàng hoàng mà vẫn làm mấy cái việc “cò con”, như ngày vui trăm năm của con trai lại mang danh “Phó ban thường trực Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng” của tỉnh đi mời người khác “phải” đến dự; việc tang cha, mẹ lại nhờ “công văn dấu đỏ” thông báo đi khắp các cơ quan, đơn vị đến phúng viếng; đám cưới của con gái mà lại phân công nhân viên thuộc quyền đến giúp bằng lịch công tác tuần hẳn hoi… Cứ tưởng xã hội càng hiện đại, vị thế của luật pháp càng giữ vai trò tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội thì người dân, trước nhất là các vị ít nhiều có chức quyền, sẽ không bao giờ để việc công, tư lẫn lộn tùng phèo đến vậy. Nhưng trớ trêu thay, một số người có học, có chức tước vẫn chưa thấu đáo cái suy nghĩ tưởng như sơ đẳng đó để rồi “lạc bước” vào “mê cung” công, tư đầy tính toán, mà cũng dễ gặp rủi ro như chơi. Thì đấy, chẳng biết sau mấy việc hiếu hỉ trên đây người trong cuộc được những “lợi lộc” gì, tiền của chảy thêm “vào túi cá nhân” được bao nhiêu, nhưng người thì phải chuyển công tác, người lại chịu sự “búa rìu” của dư luận. Thế mới biết câu răn dạy của người xưa “tham thì thâm” chí lý biết bao! Thật ra trong cuộc sống, không ai (và cũng không nên) phân biệt quá mức rạch ròi, chi li theo kiểu “Chẻ sợi tóc làm tư” thế nào là công, thế nào là tư. Bởi “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” như triết học mác-xít khẳng định và đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Nếu một ai đó lúc nào cũng mang danh cá nhân thuần túy để xử lý, giải quyết mọi mối quan hệ mà không cần ánh sáng pháp luật rọi chiếu, không cần cộng đồng làm chỗ dựa (dù chỉ là tinh thần) và cũng không cần chuẩn mực đạo đức xã hội điều chỉnh thì dễ trở thành kẻ cực đoan, đơn lẻ giữa đồng loại. Nhưng cũng sẽ trở nên ích kỷ khi lợi dụng vị trí công tác để “cá nhân hóa” mọi mối quan hệ chỉ vì lợi ích của bản thân, gia đình mình. Không phải ngẫu nhiên mà trong một hội nghị về an toàn giao thông diễn ra cuối năm ngoái, một vị lãnh đạo ngành công an đã thẳng thắn lên tiếng và đề nghị cán bộ lãnh đạo ở các cấp, các ngành, các địa phương đừng “xía vào” câu chuyện cảnh sát giao thông xử lý các trường hợp vi phạm Luật Giao thông thuộc thành phần “4C” (con cháu các cụ)! Một khi các vị “cầm cân nảy mực” trong xã hội mà vẫn lấy “quyền lực cá nhân” để can thiệp vào “việc công” như vậy không chỉ gây khó dễ cho lực lượng chức năng, mà vô hình trung còn làm mất “tính thiêng” và sự nghiêm minh của luật pháp, hơn thế làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với chính quyền. Cách đây gần hai trăm năm, cụ Nguyễn Du từng cảnh tỉnh: “Nghĩ mình phương diện quốc gia/ Quan trên nhắm xuống, người ta trông vào”. Đã là quan chức, ít nhiều ai cũng thể hiện vai trò “phương diện quốc gia”. Thế nên, có những việc làm, hành vi của các quan chức trong xã hội thông tin khó mà lọt qua hàng vạn, hàng triệu con mắt của nhân dân, huống chi là những việc đình đám như hiếu hỉ và ồn ào như giao thông đi lại trên đường. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng. Còn bao việc công, tư lẫn lộn khác biểu hiện tinh vi dưới nhiều hình thức mới đáng sợ hơn. Đó là lấy xe công đi chùa, đi hội; dùng tiền tập thể nhưng lấy danh nghĩa cá nhân đi biếu xén cấp trên; sử dụng công sản phục vụ nhu cầu riêng; núp bóng “đầy tớ của dân” nhưng làm gì cũng chỉ mưu cầu vinh thân, phì gia, v.v.. Chính những việc làm công, tư lẫn lộn này là nguy cơ làm mọt ruỗng tư chất cán bộ, đảng viên; gặm nhấm nền tảng đạo đức xã hội và dễ làm khuynh đảo luật pháp. Vậy có lời thưa rằng, một khi ai đó đã mang danh “ăn cơm Nhà nước, ở nhà công”, xin đừng quên làm tròn bổn phận, đạo lý “Dĩ công vi thượng” của người cộng sản như Cụ Hồ đã dạy và hãy tự mình biết cách “dị ứng” trước những hành vi “công, tư lẫn lộn” dễ phiền lòng dân, thêm đau lòng nước!

“Phong bì sạch”, “phong bì bẩn”

Lâu lâu mới về quê, tôi gặp lại người bạn thân hiện là giáo viên trường làng. Sau chuyện gia đình, vợ con, công việc, hai đứa hàn huyên chuyện nhân tình thế thái. Chuyện đang rôm rả, bạn tôi đột ngột hỏi một câu “tréo ngoe”: - Này, đã bao giờ cậu nhận “phong bì bẩn” chưa? Khá bất ngờ, nên tôi hỏi lại: - “Phong bì bẩn” nghĩa là không sạch chứ gì? Cậu có thể phân biệt giúp thế nào là “phong bì sạch”, “phong bì bẩn” được không? Sau câu trả lời “OK”, cậu ta lý giải: Ở nghĩa gốc, “phong bì sạch” là những phong bì để đựng những lá thư truyền thống mà dân ta vẫn thường viết, gửi cho nhau, nhất là trong thời chiến và thời bao cấp. Còn hiểu theo nghĩa hiện nay, “phong bì sạch” là những phong bì có tiền ở trong đó, nhưng thường là số tiền nhỏ mà cả người đưa và người nhận đều vô tư, trung thực và không mảy may trông mong sự “có đi có lại mới toại lòng nhau”. Những “phong bì sạch” luôn được phát, trao, tặng công khai minh bạch. Chẳng hạn như kèm theo phần khen là những phong bì đựng tiền thưởng cho học sinh giỏi các cấp, cho các vận động viên đạt thành tích thi đấu cao, cho những tấm gương người tốt - việc tốt; hay đó cũng là những món quà tình nghĩa, nhân ái mà cộng đồng dành tặng cho những người, những gia đình có công với nước vào mỗi dịp lễ, tết; cho những mảnh đời éo le, đơn côi, bất hạnh... Còn “phong bì bẩn” là phong bì dùng chỉ nhằm mục đích “chạy” đủ thứ: chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy dự án, chạy huân chương, chạy án, chạy thầu… Cả người đưa và người nhận phong bì loại này thường tâm không sáng, lòng không trong, nghĩa không trọng và đều mang nặng tư tưởng “ông mất chân giò, bà thò chai rượu”, có nghĩa là rất thực dụng, vụ lợi bởi những toan tính, mưu cầu cá nhân. Những chiếc “phong bì bẩn” chả khi nào được đưa - nhận công khai giữa thanh thiên bạch nhật, mà thường gửi, chuyển cho nhau ở những nơi kín đáo nhằm “che mắt” thiên hạ. Tôi tiếp tục chất vấn: - Thế trước các cuộc họp, hội nghị, các đại biểu đều được phát phong bì hay như việc bệnh nhân đưa phong bì cho y, bác sĩ để mong được khám, chữa bệnh tốt hơn thì đó thuộc loại phong bì gì? - Phong bì phát cho các đại biểu đi dự họp, hội nghị đều “sạch” 100%, bởi đấy là mức phí Nhà nước hỗ trợ cho cán bộ, công chức khi tham gia những việc công, việc chung của tập thể. Còn đối với phong bì ở bệnh viện, cần phải dứt khoát rằng: Nếu đội ngũ thầy thuốc mà nhận phong bì của bệnh nhân hay thân nhân của họ vào thời điểm trước và trong lúc khám, chữa bệnh đều thuộc loại “phong bì bẩn”, vì đó là một hình thức trục lợi không hơn không kém. Còn nếu ai đó sau khi được khỏi bệnh, ra viện mà ít nhiều có lòng thành gửi quà cho y, bác sĩ thì cũng có thể chấp nhận được. Có thể gọi đó là “phong bì sạch” vì nó xuất phát từ đạo lý tri ân, lễ nghĩa của ông cha ta là: Biết cảm ơn những người đã có công giúp mình tai qua nạn khỏi. Tất nhiên, việc đưa phong bì này cũng không nên khuyến khích, mà tùy vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi người để ứng xử sao cho phù hợp. - Vậy, nếu “chốt” vấn đề lại, theo cậu, sự khác biệt căn bản giữa “phong bì sạch” và “phong bì bẩn” là ở điểm nào? - Đó là tính mục đích. Mục đích gửi, chuyển, trao, tặng và tiếp nhận phong bì luôn công tâm, trung thực, lành mạnh, vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân, sự vững mạnh của tập thể, vì an sinh của cộng đồng và vì sự ổn định xã hội thì đó là loại “phong bì sạch” cần được nâng niu, trân trọng. Ngược lại, đưa và nhận phong bì chỉ vì lợi ích cá nhân, làm phương hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích nhân dân và làm biến dạng, méo mó các mối quan hệ, làm đảo lộn các chuẩn mực, giá trị đạo đức thì cần phải chống, ngăn ngừa và kiên quyết tẩy chay những loại “phong bì bẩn” đó nhằm góp phần làm lạnh mạnh môi trường văn hóa xã hội. Nghe bạn lý giải thế, tôi hớn hở nói ngay: - May quá, “phong bì sạch” tớ cũng đã nhận, dù chưa nhiều. Nhưng “phong bì bẩn”, thưa bạn, tớ chưa bao giờ đưa cho ai và cũng chưa nhận của ai bao giờ./.

Tình huống không có trong dự kiến

Vào cuối giờ làm việc chiều thứ sáu, phó bí thư thường trực tỉnh ủy gọi chánh văn phòng tỉnh ủy lên phòng mình và dặn: - Mình vừa mới nhận được điện. Sáng thứ hai tuần tới có mấy anh, chị nhà báo ở Trung ương xuống tìm hiểu thực tế, viết bài, cậu nhớ đón tiếp một cách chu đáo, cẩn thận. Nhà khách của mình chưa sửa xong nên có thể bố trí mấy anh, chị ấy nghỉ ở nhà khách ủy ban. Nếu bên ấy hết phòng thì ra thuê mấy phòng ngoài khách sạn. Cậu bàn với mấy anh bên ban tuyên giáo cho một đồng chí đi với đoàn cả đợt. Đúng 10 giờ sáng thứ hai, một chiếc xe 15 chỗ Toyota biển trắng Hà Nội, tiến vào sân tỉnh ủy. Ba người (2 nam, 1 nữ) từ trên xe bước xuống. Chánh văn phòng tỉnh ủy ngạc nhiên, nghĩ thầm: - Xe của đoàn nào nhỉ? Chắc không phải của mấy “ông nhà báo”. Xe của cơ quan báo chí Trung ương phải là biển xanh chứ? Chắc đây lại là tình huống không có trong dự kiến? Ba người vào chỗ chánh văn phòng tỉnh ủy và tự giới thiệu, trao đổi danh thiếp và như đã hẹn trước muốn gặp đồng chí phó bí thư thường trực tỉnh ủy trước khi xuống cơ sở. Đồng chí chánh văn phòng băn khoăn: - Rất tiếc, sáng nay đồng chí phó bí thư xuống huyện để chỉ đạo chiến dịch... Đồng chí ấy hẹn sẽ gặp các anh, chị sau khi các anh, chị đi cơ sở về. Trưa nay, cơm nước, nghỉ ngơi một lát, xin mời các anh, các chị vãn cảnh thành phố, đi lễ một số đền, chùa. Sáng mai, chúng tôi sẽ cho người dẫn các anh đến một số cơ sở, trong đó có 2 doanh nghiệp của trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, nhưng tổ chức đảng thì lại trực thuộc tỉnh ủy. Năm vừa rồi làm ăn, doanh thu “được lắm”. Chả mấy khi các anh, các chị về tỉnh, xin mời đoàn thăm một số cơ sở có những lễ hội truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc tốt. Còn việc ăn ở, để khỏi phiền phức cho huyện, làm việc xong, tối xin mời các anh, chị cứ về tỉnh nghỉ ngơi cho thoải mái... Để đồng chí chánh văn phòng trình bày xong, một nhà báo lớn tuổi nhất trong đoàn từ tốn trình bày: - Tuy ba chúng tôi là người của ba tờ báo, cơ quan khác nhau, nhưng đều có chung một mục đích. Đúng ra, thì “nhập gia tùy tục” nhưng lần này xin các anh cho một ngoại lệ là xuống một xã nằm ngoài sự chỉ định, bố trí của các anh và xin phép được xuống tận nhà dân, cùng ăn, cùng ở để trực tiếp trao đổi, gần gũi với dân. Mục đích cũng không có gì khác là nghe được trực tiếp tâm tư, nguyện vọng của người dân, may ra góp tiếng nói cùng các anh ổn định tình hình ở đấy... Mới nghe đến đây, đồng chí chánh văn phòng đã nhảy khựng lên như dẫm vào lửa: - Ấy, ấy! Không được đâu. Xã ấy tình hình đang rất phức tạp. Chúng tôi sợ các anh “không vào được” chứ nói chi đến việc ăn, ở với bà con. Và muốn vậy, chúng tôi phải báo cáo việc này với đồng chí bí thư tỉnh ủy chứ không đơn giản như các anh, chị nghĩ đâu, thậm chí phải có ý kiến của ban thường vụ tỉnh ủy, chứ cái chức chánh văn phòng “tép riu” như tôi đây làm sao dám cho các anh, chị xuống đó được. - Anh cứ yên tâm! Chúng tôi đã lường trước mọi tình huống có thể xảy ra. Nếu dân không cho chúng tôi ăn, ở thì chui vào xe, mỗi người một ghế mà nằm; thức ăn, đồ uống chúng tôi cũng đã chuẩn bị hết để sẵn ngoài xe kia rồi. Chính vì thế chúng tôi mới thuê hẳn chiếc xe 15 chỗ biển trắng đấy chứ. Đấy là lo xa thế thôi chứ chúng tôi nghĩ dân mình tốt lắm, nỡ nào để các nhà báo nằm ngoài xe dùng mì ăn liền trừ bữa! Anh nhà báo trình bày xong và gọi điện nói chuyện trực tiếp với đồng chí bí thư tỉnh ủy đang họp ở Hà Nội. Nhà báo chuyển điện thoại cho đồng chí chánh văn phòng, đồng ý cho đoàn nhà báo xuống xã theo nguyện vọng của đoàn. Ngay chiều hôm đó đoàn nhà báo cùng đồng chí chánh văn phòng tỉnh ủy xuống cái xã mà tỉnh cho rằng đang rất phức tạp đó. Cả gần một tuần đó, đoàn nhà báo cùng đồng chí chánh văn phòng cùng ăn, cùng ở, cùng trao đổi trực tiếp, lắng nghe được rất nhiều ý kiến của người dân. Người dân rất tin tưởng vào các nhà báo nên họ nói hết sự thật, phân tích có tình, có lý; cán bộ huyện sai ở đâu; sai lầm của cán bộ chính quyền xã ở chỗ nào; cán bộ ai xấu, ai tốt, ai tham nhũng, người nào vô tình hay cố ý phạm sai lầm khuyết điểm; một số người dân cực đoan ra sao... Rất nhiều người dân nghe có đoàn nhà báo từ trung ương xuống tìm hiểu tình hình thì trực tiếp đến cung cấp thông tin một cách khách quan, trung thực. Cuối đợt công tác, đoàn nhà báo chẳng những không phải thanh toán tiền ăn, tiền ở mà còn được người dân lưu luyến tiễn ra xe với những cái bắt tay thân thiết, mắt rưng rưng ngấn lệ. Hôm đoàn nhà báo làm việc với đồng chí phó bí thư thường trực tỉnh ủy trước khi về Hà Nội, thay vì báo cáo tình hình trong tỉnh, đồng chí phó bí thư chăm chú lắng nghe đoàn nhà báo phản ánh tình hình ở dưới xã. Cũng chính nhờ những thông tin quý báu đó, một thời gian ngắn sau, tỉnh ủy đã đề ra được những giải pháp tháo gỡ khó khăn, phức tạp, nhanh chóng ổn định tình hình, đưa xã phát triển vững mạnh. Đó là câu chuyện của mấy năm về trước. Giờ đây, đồng chí bí thư tỉnh ủy khi đó đã nghỉ hưu. Đồng chí chánh văn phòng tỉnh ủy nay đã là phó bí thư tỉnh ủy. Mỗi lần gặp, các anh ở tỉnh đều nhắc đến kỷ niệm về tình huống không có trong dự kiến./.

Lãng phí và hình thức

Trong cuộc sống của mỗi con người đều mặc nhiên tồn tại những bản tính cố hữu, có những điều hay, phù hợp với xu hướng phát triển văn minh của nhân loại, nhưng cũng có những điều không tốt, nếu không chế ngự được sẽ là nguyên nhân gây ra những “căn bệnh xã hội”. Vi-rút “sĩ” “Sĩ” là một bản tính của con người. Nhưng nếu “sĩ” thái quá sẽ dẫn đến bệnh hình thức, phô trương, lãng phí, cũng từ đó dẫn đến tham ô, tham nhũng và nhiều vấn nạn xã hội khác. Cùng với xu hướng phát triển của một xã hội văn minh, hiện đại, những mặt trái chiều đang phát sinh ngày càng nhiều. Lãng phí và hình thức là một hiện tượng tiêu cực nhưng lại rất phổ biến cần phải chế ngự đối với mỗi tổ chức, mỗi con người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên. Người ta nói “sĩ” là căn bệnh. Không, nói đúng hơn, nó là nguyên nhân, là vi-rút dẫn đến các căn bệnh. Xét về góc độ tích cực, “sĩ” là bản chất, là bản tính thiên bẩm của mỗi con người. Giữ được sĩ diện là thể hiện mình là một trong những biểu hiện của lòng tự trọng. Nhờ biết “giữ sĩ diện”, con người đã giữ được những mối quan hệ hài hòa trong cuộc sống. Tuy nhiên, vẫn còn không ít người quan niệm sai lầm khi cho rằng “giữ sĩ diện” chỉ là coi trọng, đề cao những biểu hiện bề ngoài, lấy hình thức phủ quyết nội dung, như vậy là đã quên đi cái đích thực của “sĩ diện”. Trong cuộc sống hằng ngày, có những người vì quá “sĩ” mà làm cho lời nói và hành động của mình trở nên sai trái, tưởng như đó là giữ được sĩ diện, nhưng thực chất lại làm mất đi sĩ diện của bản thân. Trong mua sắm hằng ngày, vì “sĩ”, một số người chẳng cần mặc cả, trong những cuộc vui chơi, nhiều người đã chi tiêu “vung tay quá trán”, thể hiện sự “sành điệu” bằng cách vung tiền không tiếc tay...

Từ “sĩ” đẻ ra... bệnh lãng phí và hình thức

Trong truyện ngắn “Giá ai cho cháu một hào”, Nguyễn Công Hoan kể về một đứa nhỏ đi ăn cắp bị giải về quê. Nó than thở mỗi lần như thế này, nhà nước tốn vì nó đến bảy, tám đồng bạc. Trong khi đó, giá có ai cho nó một hào làm vốn để nó mua đôi thùng đi gánh nước thuê, thì nó chẳng ăn cắp làm gì. Ý nghĩa của truyện muốn nói, do tiếc những món nhỏ, người ta lãng phí những món rất to mà không hay biết. Đó là chuyện ngày xưa. Còn ngày nay, có nhiều tập thể chỉ vì “sĩ” nên mặc dù làm ăn thua lỗ vẫn tổ chức hội hè linh đình. Có doanh nghiệp tổ chức cả lễ kỷ niệm 18 tháng thành lập, trong khi số nợ lương công nhân đã sang tháng thứ hai. Có những chuyện tưởng như “điên rồ” khi ngân hàng nọ cho hay về các khoản nợ xấu, mới biết số người tay trắng lập công ty, vay ngân hàng mua xe hơi, tiêu xài trác táng rồi phá sản… rất nhiều. Phải chăng, từ “sĩ” sinh ra bệnh hình thức, lãng phí? Còn thấy rõ biểu hiện của “sĩ” trong thói quen ẩm thực của người Việt. Nếu ở phương Tây, để biểu hiện thiện chí của mình trong các bữa tiệc, người ta sẽ dùng hết các món ăn được dọn ra. Còn ở nước ta, khi ăn, uống phải để lại một ít mới được coi là... lịch sự. Một bữa cơm thường, có thể thấy số thức ăn thừa đó không đáng là bao. Nhưng nếu mỗi nơi một bữa cơm như thế, hay những bữa tiệc xa hoa hàng chục, hàng trăm mâm cỗ, thì đây là một sự lãng phí đáng để mọi người cùng suy ngẫm. Có một đơn vị tổ chức sơ kết Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", với khẩu hiệu “Làm theo Bác” là trung tâm, nhưng kết thúc buổi sơ kết thì tổ chức ngay một bữa tiệc chào mừng, trích một nửa kinh phí từ quỹ của đơn vị, còn thiếu thì huy động đóng góp. Đó là sự lãng phí và việc học tập cũng chỉ là hình thức. Lại có buổi họp đóng góp ý kiến về Luật Phòng, chống tham nhũng, có những quan khách lục tục bỏ ra về giữa giờ với lý do này, lý do nọ; vậy đó có phải là tham nhũng về thời gian chăng? Những hiện tượng, hoạt động đó cũng chính là hình thức, phô trương chứ không có sự gắn kết giữa nói và làm. Như vậy, từ cái “sĩ” trong mỗi con người, mỗi khi không biết chế ngự nó sẽ là nguyên nhân căn bản dẫn đến nhiều căn bệnh khác, trong đó có lãng phí và hình thức. Khi xã hội, đất nước còn khó khăn, mỗi cá nhân, mỗi người đứng đầu tổ chức cần phải chế ngự được bản tính cố hữu đó mới có thể thực hành tiết kiệm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần làm cho cuộc sống văn minh hơn, đất nước ngày càng giàu đẹp hơn để hướng tới xây dựng xã hội mới trên cơ sở xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa./.

Tỷ lệ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm có phải là thước đo uy tín của người lãnh đạo hiện nay?

Mấy năm qua, việc đánh giá đề bạt cán bộ đều thông qua việc hiệp thương, bỏ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm. Nhiều nơi, nhiều đơn vị đã làm tốt, nhưng ở một vài đơn vị đã lợi dụng chủ trương này để tạo phe cánh, hạ bệ lẫn nhau. Một sự vật bao giờ cũng có hai mặt. Làm thế nào để phát huy hết mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của việc bỏ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm, để nó trở thành thước đo uy tín, sự tín nhiệm của người lãnh đạo hiện nay? Tôi đã có một cuộc đàm đạo và tranh luận với đồng chí P - nguyên là Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ - người cùng quê, trên quan điểm bạn hữu thân tình. Tôi đặt vấn đề: “Theo anh, thế nào được gọi là người lãnh đạo có uy tín hiện nay?”. Anh P trả lời như một quan niệm đã được chuẩn bị trước: “Người lãnh đạo có uy tín hiện nay là được nhiều người, hay nói chính xác hơn là được hơn 75% số người trong cơ quan công nhận và ủng hộ”. Tôi công nhận quan điểm của anh P, và nghĩ, có lẽ cũng chỉ có cách đó để đánh giá uy tín của người lãnh đạo hiện nay. Nhưng đó là lý thuyết trong “điều kiện tiêu chuẩn”. Ở đây, chúng ta muốn nói đến cán bộ trong môi trường sống, công tác cụ thể. Hằng ngày, hằng tuần họ đang cọ sát và phấn đấu tại một chi bộ, đảng bộ, trong một cơ quan, đơn vị cụ thể. Anh P cười xòa, giảng giải với tư cách của một người lãnh đạo: “Nếu có sự việc cụ thể nào đó, trong một cơ quan hoặc một chi bộ, đảng bộ nào đó có quan điểm đánh giá trái với quy luật tôi đã nêu, thì đó là trường hợp riêng lẻ, mang tính cá biệt mà thôi”. Thực tế cuộc sống đang có hàng loạt sự việc xảy ra trong các cơ quan, đơn vị, địa phương… “trái với quy luật” anh P đã nêu. Nhất thiết đó không là hiện tượng riêng lẻ và cá biệt. Vậy hiểu uy tín của người lãnh đạo thế nào là đúng? “Uy tín” là một từ ghép. “Uy” có thể hiểu là người “có uy”. Chúng ta hiểu nó dưới góc độ “uy nghiêm”, “uy phong”, “uy nghi”… được toát ra từ tướng mạo của người lãnh đạo. “Uy” toát ra từ cách ăn mặc, đi đứng, nói năng, giao tiếp…, nhất là từ những khẩu lệnh, quyết định, chỉ thị… của người lãnh đạo đối với cấp dưới mình. “Uy” chúng ta có thể hiểu nó là hình dáng bề ngoài dễ che đi cái thực chất bên trong. Chúng ta cũng có thể hiểu nó bằng vế đầu của câu ngạn ngữ: “Miệng Nam Mô…”, còn bên trong người đó có chứa “một bồ giao găm” hay là sự thiện tâm thì phải hiểu nó qua từ “tín”. “Tín” có thể hiểu là “tin” - là niềm tin đích thực, chân chính của cấp dưới đối với người lãnh đạo. Để đánh giá đúng uy tín, chúng ta nên hiểu theo câu ngạn ngữ: “tâm phục - khẩu phục”. Trong một cơ quan, một chi bộ, đảng bộ có những người “khẩu phục” bằng cách tâng bốc, nịnh bợ… để làm vừa lòng lãnh đạo, như việc tung hô “vạn tuế ” đối với việc “trung quân”, nhưng trong tâm lại khinh bỉ, hằn học, sẵn sàng “ngáng chân” khi có điều kiện. Những sự việc đang xảy ra quanh ta, đủ để cho mỗi người, mỗi đảng viên, tổ chức Đảng suy ngẫm... Bỏ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm thuộc vào phạm trù “tâm” (ấy là chưa nói “tâm phục”). Vì tâm có sáng, có trung thực thì khi bỏ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm sẽ đúng với nghĩa “phục” hay “không phục”, đúng với việc đánh giá bản chất của người lãnh đạo hiện nay. Ngược lại, “tâm” chứa “một bồ dao găm” thì làm sao phiếu bầu, phiếu tín nhiệm trở thành thước đo chính xác để đo uy tín của người lãnh đạo!

Cặp phạm trù “tiết kiệm - lãng phí”

Ngày nghỉ cuối tuần, tôi đến nhà một người đồng đội chơi. Anh vốn ít nói, thế mà không hiểu sao hôm đó anh lại lắm lời thế, khiến tôi phải cắt ngang tếu táo: - Ông vốn kiệm lời, sao hôm nay lại hào phóng, nhiều “lý sự” vậy! Hình như khơi đúng “mạch nguồn” cảm hứng, anh càng hớn hở hơn: - Ừ, đúng đấy. Ông có thích nghe tôi “lý sự” về cặp phạm trù “tiết kiệm - lãng phí” không? - Ôi, hơi đâu mà triết lý cái chuyện “xưa như diễm” ấy chứ! - Này ông, chuyện xưa nhưng mà không… diễm đâu! Chuyện “rất nóng” đấy! Thế rồi, anh “e hèm” một cái rõ điệu bộ và bắt đầu: Ông thấy nhiều người khi tham gia giao thông ra vẻ tiết kiệm từng giây, từng phút bằng việc cố tình lạng lách, vượt đèn đỏ, nhưng lại vô cùng lãng phí hàng tiếng đồng hồ để la cà, nhậu nhẹt ở những hàng nước, quán bia ven đường... Không ít công chức, viên chức hiện nay đã chẳng tận dụng, tranh thủ thời giờ để tự học tập, tự nghiên cứu nhằm bổ sung, nâng cao, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, mà lại rất hay “buôn dưa lê” với nhau tới vài ba giờ đồng hồ về đủ thứ chuyện, cả những chuyện “giời ơi, đất hỡi” rất “vô bổ”... Không ít người thuộc diện “ăn cơm nhà nước, ở nhà công” luôn nhắc nhở vợ (chồng), con cái phải “căn cơ” từng số điện, từng xô nước, từng cú điện thoại gọi đi ở nhà mình; nhưng ở công sở, họ lại “hồn nhiên” quen tay bật tất cả đèn điện trong phòng, “quên” khóa vòi nước, “nấu cháo” điện thoại, dùng máy tính để chơi games, “chát chít”, nghe nhạc một cách vô tư... Nhưng đấy mới chỉ là những chuyện “tiết kiệm - lãng phí” nhỏ thôi, còn những chuyện “tiết kiệm - lãng phí” lớn lắm kia nhé: Có những địa phương, cơ quan, ban, ngành yêu cầu cán bộ, nhân viên phải in ấn, phô-tô các văn bản trên hai mặt giấy để thực hiện chủ trương “tiết kiệm là quốc sách”; nhưng lại rất “hào phóng” khi tổ chức những cuộc tiếp khách “trên mức trọng thị”, bày ra những bữa tiệc tập thể linh đình, những buổi khởi công dự án, động thổ công trình vô cùng tốn kém. Vào dịp lễ tết, có những món quà tặng người có công với nước hay người già đơn côi, trẻ em bất hạnh, đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, giá trị thường chỉ ở mức“khiêm tốn” vài trăm nghìn đồng; nhưng để tổ chức trao những món quà tặng đó không ít cơ quan, đơn vị rầm rộ đi thành đoàn với năm bảy chiếc xe con bóng loáng kèm theo cả một “đội quân” ghi hình, chụp ảnh… hùng hậu làm sao! Có những địa phương tính toán cực kỳ chi ly khi xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo, kiên cố hóa trường lớp, nhà văn hóa cộng đồng cho bà con nghèo ở những địa bàn xa xôi, hẻo lánh... nhưng lại nồng nhiệt chào đón, ký kết “lỏng tay” cho rất nhiều công trình chủ yếu chỉ để phục vụ những người “lắm tiền nhiều của”, như sân golf, sân tennis, bể bơi, siêu thị, khách sạn, nhà hàng sang trọng… Có những… - Anh dừng lại giây lát rồi tiếp: Nếu mà liệt kê những chuyện “tiết kiệm - lãng phí” như thế thì cả ngày cũng không hết đâu. Thôi bây giờ tôi gom lại vấn đề bằng một cặp phạm trù bao trùm nhất, nổi cộm nhất để nói về sự “tiết kiệm - lãng phí” nhé. Đó là ở nhiều nơi, nhiều lúc, và ở nhiều người vẫn đang có tình trạng “thừa thãi” về lời nói theo kiểu hô khẩu hiệu với những ngôn từ bóng bẩy, mỹ miều; nhưng lại quá hà tiện việc làm, hành động thiết thực, cụ thể để cải thiện tình hình. Nếu không suy nghĩ nghiêm túc và giải quyết thấu đáo cặp phạm trù đối lập “nói nhiều - làm ít” này, thì sẽ tiếp tục “đẻ ra” nhiều chuyện “tiết kiệm - lãng phí” tiềm ẩn những nguy cơ lớn hơn! Đồng tình với ý kiến của anh, tôi góp thêm: Đúng là phải nỗ lực ngăn ngừa những sự lãng phí không cần thiết và nhân lên những ý thức, suy nghĩ, cử chỉ, việc làm tiết kiệm theo nghĩa tích cực... Nói thì đơn giản vậy nhưng chỉ khi mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đồng lòng chung sức thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí thì mới có thể góp phần xây dựng xã hội văn minh, đất nước giàu mạnh./.

“Hội chứng” chỉ đạo và tiếp thu chỉ đạo

Chỉ đạo và tiếp thu chỉ đạo thường là việc cán bộ lãnh đạo truyền đạt chỉ thị, nghị quyết và sự tiếp thu của tập thể đối tượng được nghe. Người truyền đạt thường là cán bộ cấp cao. Người truyền đạt phải nêu rõ tinh thần của chủ trương, nghị quyết, có thể có liên hệ ưu, khuyết điểm giới thiệu để đối tượng nghe suy ngẫm, sửa chữa. Khách quan, nghiêm túc, nhưng không phải là thái độ kẻ cả, răn dạy. Không ít nơi cứ có cấp trên xuống dự, là có “phát biểu chỉ đạo” và có cán bộ địa phương, đơn vị “tiếp thu ý kiến chỉ đạo”. Lâu dần, ngay tại các cuộc họp đoàn thể ở tổ dân phố cũng không thể thiếu 2 mục trên. Tại một cuộc họp chi hội người cao tuổi của một tổ dân phố nọ tổ chức mừng thọ và tổng kết công tác năm, đại biểu lãnh đạo phường được cử xuống dự là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường cũng “phát biểu ý kiến chỉ đạo”, rồi chi hội trưởng người cao tuổi tổ dân phố cũng phải “tiếp thu ý kiến chỉ đạo”. Điều đáng nói là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường lại chính là con của ông chi hội trưởng người cao tuổi tổ dân phố đó. Thế là, người ta bảo: “Con chỉ đạo cha”. Ở nhiều khu phố, gặp cả trường hợp bí thư chi bộ trẻ, đáng tuổi con của người chủ trì “phát biểu chỉ đạo”, còn người chủ trì đáng tuổi cha, chú người chỉ đạo phải “tiếp thu chỉ đạo”. Nhưng cũng có người bảo: “Đâu có gì phải trách cứ,... chuyện xã hội, việc nhà nước, đâu phải chuyện gia đình mà kể đến tuổi tác, tôn tri trật tự. Người lớn tuổi đi trước ở mặt này, nhưng lại đi sau ở mặt khác và ngược lại. Đó là chuyện bình thường!”. Cái không bình thường muốn nói ở đây là tại sao chúng ta không sửa lại, thay câu giới thiệu “Đồng chí A chỉ đạo” bằng câu “Đồng chí A phát biểu ý kiến” hay “Đồng chí A đáp từ”. Cái không bình thường trong các trường hợp còn lại là lòng khiêm tốn. Người ta, nhất là ở một số cán bộ dù chức tước, cương vị công tác không to, cứ muốn được người khác tâng bốc, đề cao. Người giới thiệu cứ muốn được cấp trên vui lòng, “có mất gì đâu chứ”. Cuối cùng “hội chứng” phát biểu chỉ đạo và tiếp thu chỉ đạo cứ thế lan rộng. Việc thiếu tự trọng và đầu óc địa vị, thích tâng bốc, thiếu khiêm tốn như đôi cánh đẩy con diều cá nhân chủ nghĩa lên cao. Đã có thủ trưởng khi nhờ nhân viên sửa lại hệ thống đèn của nhà mình, lại nói “tôi chỉ đạo cậu phải làm xong chiều nay” và nhân viên nọ cứ răm rắp “xin tiếp thu ý kiến chỉ đạo của thủ trưởng”. Bác Hồ khi viết xong bài báo “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”, trước khi gửi đến tòa soạn để đăng, Bác đưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, rồi 2 đồng chí cán bộ văn phòng đọc và góp ý. Một đồng chí đề nghị: xin phép Bác đưa cụm từ “nâng cao đạo đức cách mạng” lên trước cụm từ “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” với lý do cán bộ đảng viên ta nói chung là tốt, ưu điểm là cơ bản. Đồng chí cán bộ kia cũng nhất trí. Bác Hồ im lặng suy nghĩ, cuối cùng bảo: - Ý kiến các chú Bác thấy cũng có lý, nhưng còn phân vân điều này. Ví như gia đình các chú tiết kiệm, mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới. Vậy trước khi vào phòng, các chú có quét dọn nhà cửa sạch sẽ hay cứ để rác rưởi bẩn thỉu mà khiêng bàn ghế, giường tủ vào? Mọi người đang lúng túng chưa biết trả lời thế nào thì Bác nói: “Vì 2 chú đã đề nghị, là đa số. Bác nhượng bộ, đổi lại đầu bài. Nhưng ở trong bài thì dứt khoát phải để nguyên ý của Bác “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng!”. Bác Hồ, một thiên tài, một lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc mà khiêm tốn đến như thế, khiêm tốn nhưng vẫn cương quyết bảo vệ cái đúng. Điều đó đáng để chúng ta suy ngẫm. Sự khiêm tốn không chỉ với đồng cấp, mà kể cả của cấp trên đối với cấp dưới. Nó có sức cuốn hút và thuyết phục mọi người hơn bất cứ chức quyền nào./.

Lời chúc

Nghe tin anh H nghỉ hưu, mấy anh em ở cơ quan cũ rủ nhau đến thăm. Như thường lệ, họ không quên mang quà đến như lúc anh ấy đang công tác. Nhưng khác với những lần trước, đến nhà anh H lần này nét mặt và tâm trạng của họ không vui, nhưng cũng chẳng thấy buồn. Làm lãnh đạo bao nhiêu năm nên anh ấy rất hiểu những biểu hiện tình cảm của cấp dưới. Vì vậy, khi ngồi nói chuyện anh H tỏ ra thân tình, gần gũi, làm cho giữa anh và cấp dưới không hề có khoảng cách. Sau khi hỏi thăm sức khỏe của vợ chồng, công việc của các con anh H và việc học hành của các cháu, anh A thay mặt mọi người phát biểu ý kiến, bày tỏ sự biết ơn, luyến tiếc khi nghe tin anh có quyết định nghỉ hưu. Có người trong đoàn nghe anh A nói còn sụt sùi, lấy khăn lau nước mắt. Điều ấy làm cho anh H ngồi đối diện cũng cảm thấy mủi lòng. Nhìn mọi người một lượt, anh phát biểu, cảm ơn anh A và các anh chị em, rồi đứng dậy đi lại phía tủ lấy chai rượu ngoại, rót mỗi người một ly. Thấy vậy, tất cả cũng đứng lên, cầm ly rượu trên bàn, lần lượt bước đến gần anh như những lúc liên hoan ở nhà hàng trước đây, rồi đồng thanh nói: - Kính chúc anh và gia đình luôn mạnh khỏe! Anh cười. Phòng khách rộng, trở nên ấm cúng, vui vẻ hơn. Mọi người thấy anh như trẻ lại. Cao hứng sau lời chúc của mọi người, anh B nói tiếp: - Anh đã nghỉ hưu nhưng chúng em vẫn luôn thấy “sếp” trong công việc hằng ngày. Hôm nay trong không khí vui vẻ, thân tình, tiếp theo lời chúc của mọi người, em xin kính chúc anh “hạ cánh an toàn”. Lúc này hình như không kìm nén được, anh H ngắt lời anh B, rồi nói: - Sao cậu lại chúc tôi như vậy. Thì ra lâu nay các cậu làm việc dưới quyền tôi, nhưng không tin mà chỉ im lặng phục tùng. Nay, tôi đã nghỉ hưu các cậu mới nói ra để tỏ thái độ nghi ngờ chứ gì? Nghe anh nói như vậy, anh B lúng túng, vội thanh minh. - Anh hiểu nhầm chúng em rồi, không phải như thế ạ! Chúng em chúc như vậy là bởi lẽ, lâu nay có nhiều người không được như anh nên khi chưa đến tuổi nghỉ hưu, hoặc vừa mới nghỉ đã bị ủy ban kiểm tra, thanh tra các cấp phát hiện ra nhiều sai phạm lúc đương chức. Có người sai phạm về kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; có người sai phạm về tư cách, đạo đức, lối sống bị tổ chức đảng, chính quyền xử lý kỷ luật. Người thì bị khiển trách, người thì bị cảnh cáo, thậm chí có người còn bị đưa ra truy tố trước pháp luật. Những người như thế mang danh là lãnh đạo, nhưng quả là đáng thương, đáng trách và đáng lên án. Họ về hưu mà cũng chẳng an toàn. Lặng đi, đặt ly rượu xuống bàn, anh chậm rãi nói: - Đã từ lâu có người nói với tôi rằng, làm lãnh đạo có nhiều lúc hiểu không đúng, hoặc hiểu sai cấp dưới, kể cả lòng tốt, sự trung thực, thẳng thắn của họ. Lúc đang làm việc ít có thời gian nghĩ tới câu nói đó, giờ về hưu, nghĩ lại mình thấy đúng như vậy. Ngừng một lúc, anh H nói tiếp: - Cảm ơn các cậu vẫn nhớ và đến thăm mình. Mình cũng chúc các cậu những năm còn đang công tác, dù ở cương vị nào, làm công việc gì, cũng luôn gương mẫu, đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao để đến khi nghỉ hưu chúng ta đều vui vẻ, thanh thản, như lời các cậu chúc mình ngày hôm nay./.

HÀNH ĐỘNG NHỎ, ĐẬM GIÁ TRỊ VĂN HÓA!!!

Cháu nhỏ chắc hẳn phải được sinh ra trong một gia đình có nền nếp ,văn hoá- hẳn phải được học trong một môi trường giáo dục nhân văn ... Chú bộ đội chắc chắn cũng phải được sinh ra trong một gia đình có nền nếp ,có giáo dục đầy đủ- khi nhập ngũ lại được rèn luyện và học tập trong môi trường quân đội nhân dân Việt Nam đầy tính giáo dục, mẫu mực... Khi cháu nhỏ đi học về qua cổng đơn vị thấy chú bộ đội đứng gác, cháu đã dừng bước rồi cúi đầu chào chú bộ đội một cách rất lễ phép. Đáp lại - chú bộ đội ngay lập tức đứng nghiêm trang chào lại cháu bé theo đúng điều lệnh quân đội. Hai lứa tuổi khác nhau- hai môi trường khác nhau - hai hoàn cảnh khác nhau... nhưng hai tư tưởng lại gặp nhau rất đồng điệu ... Một hành động nhỏ ...nhưng ý nghĩa văn hóa lại rất lớn . Được chứng kiến tình cảm nhân dân dành cho QĐNDVN được xây dựng từ các cháu thiếu nhi... bỗng dưng thấy trong lòng đầy xúc động. Thật tuyệt vời !!!

Từ độc lập, tự do đến chủ nghĩa xã hội và nhiệm vụ đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo

Vận dụng sáng tạo thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Muốn xây dựng và phát triển đất nước từ độc lập tự do lên chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay cần có những con người tri thức tự do, thông thái. Điều này đòi hỏi chúng ta phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. 1. Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chúng ta phấn đấu trở thành nước “công nghiệp hiện đại”, “kinh tế tri thức phát triển”, “dân giàu, nước mạnh”, “dân mạnh, nước giàu”, “dân tộc thông thái”, “xã hội xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Có độc lập, tự do mới có dân tộc thông thái, xã hội xã hội chủ nghĩa. Có dân tộc thông thái mới giữ vững được độc lập, tự do, phát triển mạnh kinh tế tri thức mà tiến lên chủ nghĩa xã hội. Dân tộc thông thái kết nối độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Có dân tộc độc lập, tự do, dân tộc thông thái là có xã hội xã hội chủ nghĩa. “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mỗi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà … ”(1) Dân có “hiểu biết”, “có kiến thức” là dân tri thức. Dân tri thức làm cho “dân mạnh, nước giàu”, “dân tộc thông thái”. Vốn là dân “nô lệ” “dốt, yếu, nghèo”, được Cách mạng Tháng Tám giải phóng, người dân nước ta trở thành dân “tự do”, cùng nhau đoàn kết phấn đấu cho “dân mạnh, nước giàu”, “dân giàu, nước mạnh”, “dân tri thức, kinh tế tri thức, xã hội tri thức xã hội chủ nghĩa, dân tộc thông thái”, vươn tới con người tri thức tự do, thông thái - con người xã hội xã hội chủ nghĩa của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong thế giới hiện đại, tri thức, khoa học, công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp, đang phát triển trên cơ sở hệ thống kết cấu hạ tầng thông minh, các ngành, nghề thông minh. Xã hội tri thức, trên nền tảng kinh tế tri thức, phát huy tối đa năng lực tri thức của toàn xã hội, tạo nên sự bình đẳng mới về quyền sở hữu tri thức của con người. “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức” cần được đẩy mạnh trên cơ sở xây dựng và phát triển dân tộc thông thái, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thông minh, các ngành, nghề thông minh, xây dựng con người tri thức tự do, thông thái. Như vậy, con người tri thức tự do, thông thái vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực chủ yếu xây dựng kinh tế tri thức hiện đại, xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, dân tộc thông thái, phát triển đất nước ta từ độc lập, tự do đến chủ nghĩa xã hội . 2. Làm thế nào để có con người tri thức tự do, thông thái, xây dựng và phát triển đất nước ta từ độc lập tự do lên chủ nghĩa xã hội? Theo Hồ Chủ tịch: “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách. Tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều… Không phải học để thuộc lòng từng câu từng chữ...”(2); “Phải biết tự động học tập... Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”(3). Con người tri thức tự do, thông thái biết và dám “độc lập suy nghĩ, tự do tư tưởng”, “tự do sáng tạo”, “tự do phục tùng chân lý”, có năng lực tư duy độc lập sáng tạo - một phẩm chất trọng yếu của nhân lực trình độ cao trong nền kinh tế tri thức hiện đại - chỉ có thể tự đào tạo được thông qua “quá trình tự học - tự hành sáng tạo, dưới sự hướng dẫn khoa học của người dạy”, thông qua hoạt động tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành, tự mình tìm ra tri thức, chân lý… “Nguồn nhân lực trình độ cao, đặc biệt về công nghệ thông tin”, “chính phủ điện tử, doanh nghiệp điện tử, công dân điện tử”, “kinh tế tri thức”, “dân tộc thông thái”…tất cả đang khẩn thiết đòi hỏi phải ứng dụng và phát triển sáng tạo công nghệ thông tin, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thông minh, các ngành nghề thông minh, ưu tiên hàng đầu cho các ngành, nghề chăm sóc, đầu tư cho nguồn vốn con người, cho năng lực tri thức của toàn xã hội. Kho tri thức toàn nhân loại không ngừng tăng lên. Các ngành, nghề, trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, trường đại học, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức đổi mới - sáng tạo,… của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, có sứ mệnh trọng đại là chắt lọc và thu nhận tri thức toàn nhân loại cho thích ứng với nhu cầu của đất nước, ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến trên thế giới vào thực tiễn quản lý, kinh doanh, nghiên cứu và đời sống, đồng thời, sáng tạo ra các tri thức mới cần thiết cho nền kinh tế Việt Nam, nâng cao và phát huy năng lực tri thức của toàn xã hội . Kinh tế tri thức khai thác tối đa tiềm năng sáng tạo của xã hội, tạo ra môi trường kinh tế và cơ chế xã hội dân chủ khuyến khích sáng tạo và sử dụng tri thức, khai thông dòng chảy tự do của tri thức, thúc đẩy và phát huy năng lực sáng tạo của từng cá nhân, từng bộ phận, tạo ra sự liên kết, hợp tác, cộng năng đổi mới - sáng tạo, nâng cao không ngừng năng lực sáng tạo của toàn xã hội. 3. Thế giới đang chuyển sang lấy tri thức làm nguồn lực phát triển chủ yếu. Cơ may cạnh tranh và phát triển bền vững của quốc gia cơ bản dựa vào năng lực tri thức của toàn dân tộc. Sự giàu mạnh của đất nước phụ thuộc vào hàm lượng chất xám sáng tạo trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội. Mô hình kinh tế tri thức xã hội chủ nghĩa chưa từng có trong thực tiễn đang đòi hỏi phải có nhiều tài năng lý luận và thực hành sáng tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường dài gần bốn thập kỷ đã qua, điều thật đáng để cho chúng ta phải suy ngẫm là với những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa về cơ bản là tương đương với nước ta, nhưng một số nước xung quanh chúng ta đã có những bước phát triển nhanh, mạnh hơn. Trong cùng một thời gian, chúng ta vươn tới phổ cập tiểu học thì Hàn Quốc đã nhảy vọt đến phổ cập đại học. Trong danh sách 200 trường đại học hàng đầu châu Á do Tổ chức Đánh giá đại học toàn cầu công bố tháng 9-2012, Hàn Quốc có 31 trường; Thái Lan: 9 trường; Ma-lai-xi-a: 8 trường, In-đô-nê-xi-a: 6 trường; Phi-lip-pin: 4 trường. Còn Việt Nam không có trường nào! Đội ngũ giáo sư, tiến sĩ của chúng ta đông về số lượng nhưng lại kém về hiệu quả, chất lượng nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ. “Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội, chưa bám sát yêu cầu phát triển của đất nước, tiềm lực khoa học và công nghệ phát triển chậm và có nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với khu vực và thế giới”(4). Chúng ta quen sao chép quá nhiều, tầm chương trích cú quá nặng. Có tri thức mà không dám hoặc không thể sử dụng linh hoạt, sáng tạo, chỉ có trích dẫn nguyên xi, bắt chước máy móc thì đó là tri thức chết, tư duy xơ cứng, khuôn sáo, giáo điều, bóp chẹt sáng tạo. Mỗi khi chúng ta nói theo, làm theo,“một cách xuôi chiều”, rập khuôn, áp dụng máy móc các bài học kinh nghiệm nước ngoài là một lần chúng ta thất bại. Điều thật đáng suy ngẫm hơn là tư duy xơ cứng lại bắt nguồn từ hệ thống nhà trường với các phương pháp truyền đạt - tiếp thu “thụ động một chiều”, “ghi nhớ, nói theo, làm theo”, “thi gì học nấy” cùng với hệ thống đánh giá thi cử nặng nề, lạc hậu; chỉ có thể đào tạo ra những con người được “nhồi nhét” kiến thức để vượt qua các cửa ải thi cử, mạnh về thừa hành, phục tùng, rập khuôn, yếu về tự học, thực hành, sáng tạo, ngược hẳn với mục tiêu đào tạo con người tri thức tự do, thông thái. Tổ chức Sở hữu Trí tuệ toàn cầu của Liên hợp quốc đã “báo động đỏ” cho chúng ta khi công bố “chỉ số trí tuệ quốc gia Việt Nam năm 2012 ở dưới mức trung bình của thế giới”. “Trí tuệ quốc gia Việt Nam đang ngụp lặn ở nửa dưới của thế giới và với xu hướng ngày càng chìm sâu, thụt lùi xa so với láng giềng, nếu cứ đà này phát triển thì nguy cơ dẫn đến mức Việt Nam trở thành quốc gia trí tuệ kém phát triển là nhãn tiền! Nguyên nhân khiến chỉ số về trí tuệ của Việt Nam đang ngày càng thụt lùi không phải do con người Việt Nam kém cỏi mà là do sự bất cập của tổ chức, quản lý nhà nước và sự yếu kém trong chăm sóc, đầu tư cho vốn con người”(5). Hơn bao giờ hết, cần phải có một chiến lược quốc gia thật hữu hiệu về con người tri thức tự do, thông thái và dân tộc thông thái, bảo đảm cho trí tuệ Việt Nam từng làm nên mọi chiến thắng vĩ đại của dân tộc, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sớm “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước, sớm tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên “dân tộc thông thái kết nối độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội”, “kinh tế tri thức hiện đại xã hội chủ nghĩa”, “xã hội tri thức xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, “con người tri thức tự do, thông thái - con người xã hội chủ nghĩa”. Muốn có chủ nghĩa xã hội, phải có con người tri thức tự do, thông thái. Và để có những con người tri thức tự do, thông thái, phải đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo./.

Thật là nực cười cho những đứa con lạc loài trong lòng dân tộc



Có lẽ người Việt chống cộng không bao giờ phủ nhận được rằng, kiếp vong nô 46 năm qua là tội lỗi, nỗi đau, nỗi nhục, nỗi buồn không bao giờ vơi được của những kẻ cầu vinh bán nước mang danh ngụy Sài Gòn.

Nhà “dân chủ” lưu vong Capuchia biết gì mà chê bầu cử Việt Nam “ngột ngạt “?



Ngày 23/5, dù trong bối cảnh dịch đại dịch Covid-19, cuộc bầu cử tại Việt Nam đã diễn ra trong một hoàn tất. Thế nhưng, trong khi đất nước Việt Nam đang tích cực hoàn thành mục tiêu kép, một “nhà dân chủ” ở mãi tận Campuchia lại ra sức phát tán những lời rêu rao lố bịch về nước láng giềng. Đáng nói, những lời xuyên tạc đó lại được hà hơi tiếp sức” bằng bài phỏng vấn “Vietnam’s National Assembly Vote: A Futile Gesture” (Bầu cử toàn quốc tại Việt Nam: Một cử chỉ vô nghĩa) của trang The Diplomat.

Thận trọng trước chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”

 

Thận trọng trước chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”

 

Trong lúc mà cả thế giới đang gồng mình chống đại dịch Covid-19 nhằm ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh nguy hiểm này thì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong nước và hải ngoại như: Trương Minh Hưởng, Nguyễn Văn Đài, Trần Thị Nga …vẫn thường xuyên tung lên mạng xã hội những lời lẽ xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam với thái độ chủ quan quy chụp cho rằng: Nước CHXHCN Việt Nam là một Nhà nước độc tài được cai trị bởi một đảng duy nhất; ở Việt Nam báo chí, ngôn luận bị chính quyền cấm đoán, hay như tình trạng dịch bệnh Covid -19 đe dọa tính mạng người dân…

Trước hết cần khẳng định những những quan điểm trên là hết sức xuyên tạc, phản động. Việc lựa chọn mô hình một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo là do thực tiễn lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa của từng quốc gia dân tộc. Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Hãy nhìn vào câu chuyện chống dịch Covid-19 để thấy một Việt Nam tôn trọng và đảm bảo quyền con người như thế nào?

Phải coi việc phòng, chống dịch như “chống giặc” hay như, không đánh đổi sức khỏe con người để phát triển kinh tế. Thông điệp mạnh mẽ và kiên quyết trong phòng chống dịch Covid-19 của Chính phủ Việt Nam đã được sự đồng tình, ủng hộ của toàn xã hội. Cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc một cách đồng bộ, chặt chẽ, quyết liệt không để bất cứ người dân nào bị bỏ lại phía sau. Bảo vệ tốt nhất sức khỏe và tính mạng của nhân dân có lẽ là thông điệp có ý nghĩa sâu sắc nhất và nhân văn nhất của một Chính phủ vì dân, lo cho dân và cũng thể hiện quyết tâm cao nhất đất nước vì quyền được sống của con người.

Trong lúc dịch bệnh diễn biến phức tạp, lượng người trở về tránh dịch từ nước ngoài tăng đột biến, hơn một trăm đơn vị, nhà trường quân đội trở thành nơi tập trung cách ly. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ ngày đêm làm nhiệu vụ, tất cả chỉ với một mục tiêu duy nhất là bảo đảm tính mạng cho người dân. Những người mắc bệnh, dù là người Việt Nam hay người nước ngoài ở Việt Nam đều được chăm sóc, điều trị một cách chu đáo. Điều đó thể hiện truyền thống đạo lý cao đẹp tương thân tương ái, thương người như thể thương thân của dân tộc Việt Nam. Ấy vậy mà, đúng lúc cả thế giới đang quay cuồng trong cơn bão Covid-19 vẫn có những kẻ “theo đóm ăn tàn” nhân danh dân chủ để xuyên tạc nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong chống dịch Covid-19 là việc làm đáng bị lên án. Cũng thật dễ hiểu, bởi lâu nay nhìn thấy một Việt Nam đồng lòng, đoàn kết thống nhất cao về ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cùng chung tay quyết chiến thắng đại dịch Covid-19 là điều mà các thế lực thù địch, phần tử bất mãn chế độ không hề mong muốn nên chúng luôn tìm mọi cách xuyên tạc, chống phá với thái độ hằn học.

Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Chỉ cần nhìn những gì Nhà nước Việt Nam đã và đang làm cho người dân của mình trong chống dịch Covid-19 sẽ là một trong những minh chứng rõ nhất cho câu trả lời về thực tế việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Cũng không phải vô cớ mà Việt Nam lại được bầu vào Hội đồng Nhân quyền, vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với số phiếu rất cao. Vậy nên việc lợi dụng những khó khăn về dịch bệnh hay những vụ việc phức tạp nhạy cảm để xuyên tạc, kích động gây bức xúc dư luận mà các thế lực thù địch đã đang thực hiện chỉ nhằm mục đích duy nhất là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Vì vậy, chúng ta phải thận trọng, cảnh giác với chiêu bài "dân chủ, nhân quyền" mà các thế lực đang sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam.