Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Bệnh nhân Bắc Giang trẻ tổn thương phổi nhanh

Bác sĩ Trần Thanh Linh cho biết nhiều bệnh nhân ở Bắc Giang còn trẻ song tình trạng nặng tăng nhanh, tổn thương phổi nhanh hơn so với bệnh nhân đợt dịch Đà Nẵng. Bác sĩ Linh là Phó trưởng khoa Hồi sức cấp cứu, đội trưởng Đội phản ứng nhanh của Bệnh viện Chợ Rẫy tới chi viện, điều trị các bệnh nhân nặng tại Bắc Giang. Anh cũng từng tham gia điều trị bệnh nhân tại Đà Nẵng trong đợt dịch tháng 7-8/2020. Theo bác sĩ Linh, đợt dịch tại Bắc Giang chứng kiến số lượng bệnh nhân trẻ nhiều hơn, bị tổn thương phổi nhanh hơn, phổi trắng xóa chỉ sau vài ngày, diễn biến nặng rất nhanh. Các bệnh nhân ở Đà Nẵng năm 20202, trẻ nhất cũng đã 40 tuổi, hầu như không có triệu chứng và phổi rất ít tổn thương. Hiện nay virus đã biến chủng, có tốc lộ lây lan nhanh khiến cho số lượng người mắc tăng cao hơn, từ đó số bệnh nhân nặng cũng tăng lên. Một bệnh nhân nữ 38 tuổi đã tử vong dù không có bệnh nền. Do đó, công tác điều trị trở nên vất vả, hồi sức tích cực khó khăn hơn. Y bác sĩ thay nhau theo dõi sát tình trạng người bệnh, chủ động can thiệp khi có diễn biến bất thường. "Bệnh nhân trẻ, thầy thuốc càng phải cố gắng cứu được, kiên quyết không để tử vong", bác sĩ Linh cho biết. Nhóm điều trị tại Bệnh viện Phổi Bắc Giang đã tiếp nhận 3 ca phải thở máy, lọc máu liên tục và 7 ca thở oxy dòng cao HFNC. Trong đó, có một người bệnh chuyển viện từng tiên lượng xấu, chỉ định ECMO (hệ thống oxy hóa màng ngoài cơ thể) song bệnh đã đỡ sau khi được lọc máu và đặt nội khí quản. Bệnh viện Phổi Bắc Giang tiếp nhận các bệnh nhân phải thở oxy từ bệnh viện dã chiến chuyển đến, chia sẻ điều trị bệnh nhân nặng với Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang. Toàn tỉnh đang có 61 người tiến triển nặng, 30 người tiên lượng nguy kịch, khoảng 2.300 bệnh nhân đang điều trị tại 10 cơ sở. Bắc Giang đã chuẩn bị 15 khu cách ly, điều trị cho bệnh nhân dương tính, đang hoạt động 14/15 khu với công suất dự kiến 4.197 giường. Sắp tới, tỉnh sẽ triển khai Trung tâm Hồi sức tích cực ICU 2 tại Bệnh viện Tâm thần, quy mô 100 giường.

Dịch ở TP HCM đã lây 4 chu kỳ, xâm nhập nhiều công ty, khu công nghiệp

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long đánh giá ổ dịch Hội thánh Truyền giáo Phục hưng đã lây 4-5 chu kỳ, hàng chục công ty, 3 khu công nghiệp xuất hiện ca nhiễm, dự báo thêm các ổ dịch không rõ nguồn lây. Cùng Phó thủ tướng Trương Hòa Bình họp với Ban chỉ đạo chống dịch TP HCM sáng 1/6, Bộ trưởng Long nhận định ổ dịch liên quan hội truyền giáo mức độ nguy hiểm nhất, khó kiểm soát nhất trong tất cả ổ dịch tại TP HCM. Theo Bộ trưởng, trường hợp đầu tiên của ổ dịch có triệu chứng vào ngày 13/5, nhưng ca nhiễm đầu tiên được phát hiện sau đó 14 ngày. Với chủng virus lần này, theo nhiều nghiên cứu, chu kỳ lây nhiễm rất nhanh, chỉ 2-3 ngày, thậm chí sớm hơn, chúng có phát tán mầm bệnh rộng ra ngoài môi trường trong thời gian ngắn. "Như vậy, chúng ta có thể đã chậm mất 4-5 chu kỳ, trong khi virus lây theo cấp số nhân, cực kỳ nguy hiểm", ông Long nói. Vì ổ dịch đã lây 4-5 chu kỳ, tức là F4, F5 đã trở thành F0, thời gian tới TP HCM có thể xuất hiện một số ổ dịch mới không rõ nguồn lây, Bộ trưởng dự đoán. Hôm 26/5 khi ổ dịch hội truyền giáo mới xuất hiện, Sở Y tế TP HCM đánh giá dịch đã qua hai chu kỳ lây. Thực tế, chỉ trong 6 ngày, 20 trong số 22 quận, huyện, thành phố với nhiều tòa nhà, cao ốc văn phòng, công ty, khu công nghiệp đã xuất hiện ca Covid-19. Ông Long lo lắng, với đặc điểm virus lần này lây rất nhanh trong không khí, nhất là môi trường kín, thì nguy cơ mầm bệnh xâm nhập và lây nhiễm tại khu công nghiệp là rất lớn. Thêm nữa, với đặc thù riêng biệt, các khu công nghiệp không thể tổ chức làm việc online. Điều kiện thông khí tại công xưởng, nhà ăn, khu vệ sinh đều hạn chế. Ngoài ra, nhiều công nhân còn đi chung trên phương tiện giao thông, cùng ở khu nhà trọ đông đúc... là điều kiện cho dịch bệnh dễ lây lan. "TP HCM có 1,6 triệu công nhân, nếu không kiểm soát dịch bệnh tốt sẽ gây ra khủng khoảng", bộ trưởng Long nhấn mạnh khi nhắc lại bài học từ Bắc Giang. Theo giám đốc Sở Y tế thành phố Nguyễn Tấn Bỉnh, 40 trong số 55 thành viên Hội thánh Truyền giáo Phục hưng đã mắc Covid-19. Thành phố đến sáng 1/6 ghi nhận 211 ca nhiễm của chuỗi này. Như vậy, trung bình mỗi ca F0 ban đầu đã lây nhiễm cho hơn 5 người khác. Trong đó, nhiều thành viên hội truyền giáo làm việc trong các khu công nghiệp, tòa nhà văn phòng. "Nguy cơ dịch bệnh lây lan từ cộng đồng dân cư, người lao động vào khu công nghiệp đã hiện hữu. Môi trường làm việc tập thể, tập trung đông người trong các khu công nghiệp là điều kiện thuận lợi cho dịch lây lan nhanh và mạnh ra cộng đồng", ông Bỉnh nói. TP HCM đến nay đã ghi nhận hàng chục ca lây nhiễm trong các tòa nhà văn phòng, xí nghiệp. Đặc biệt, nhánh lây nhiễm tại Công ty đầu tư dịch vụ Thiên Tú, quận Tân Bình, đến 34 trong số 300 nhân sự mắc Covid-19. Môi trường làm việc khép kín, sử dụng điều hòa khiến dịch lây nhanh hơn. Tại Công ty Phát triển giải pháp tầm nhìn IDS, quận Tân Phú, ghi nhận 9 ca. Trường mầm non ở quận 12 có 5 ca trong cùng một gia đình. Tòa nhà Sogetraco trên đường Đặng Văn Ngữ, quận Phú Nhuận, trong 100 nhân viên có 4 ca nhiễm. Công viên phần mềm Quang Trung trong 400 nhân viên có 4 ca. Ba tòa nhà văn phòng lớn ở quận 12 ghi nhận 5 ca. Ba khu công nghiệp Tân Bình, Tây Bắc Củ Chi và Vĩnh Lộc - Hóc Môn quy mô 500-1.000 công nhân cũng ghi nhận mỗi nơi một ca Covid-19. Tuy nhiên, Giám đốc Sở Y tế cho biết hiện tạm kiểm soát được tình hình ở các khu công nghiệp này, các trường hợp tiếp xúc ca nhiễm đã co kết quả xét nghiệm âm tính. Tối 31/5, sau khi nhận thông tin hai ca dương tính phát hiện tại Long An là công nhân của một xí nghiệp may ở khu công nghiệp Tân Phú, TP HCM đã yêu cầu công ty này tạm ngừng hoạt động. Có 146 F1 được lấy mẫu xét nghiệm, đưa đi cách ly tập trung. 1.082 người lao động khác được lấy mẫu xét nghiệm tầm soát. "Dự báo sẽ khoảng 500 ca nhiễm liên quan ổ dịch Hội thánh Truyền giáo Phục hưng, vì còn nhiều F1 vẫn đang trong các khu cách ly tập trung", ông Bỉnh cho biết. Hiện, các khu công nghiệp, khu chế xuất tại thành phố có khoảng 280.000 công nhân và 3.000 chuyên gia. Khu công nghệ cao 45.000 công nhân. Ngoài ra, các khu công nghiệp nhỏ lẻ, xí nghiệp có gần 1,3 triệu công nhân. Hôm 31/5, Phó thủ tướng Trương Hòa Bình đã thị sát công tác chống dịch tại một số khu công nghiệp ở TP HCM.Phó thủ tướng yêu cầu mỗi doanh nghiệp phải triển khai các kế hoạch chống dịch thành hành động cụ thể, như lắp đặt các tấm chắn giọt bắn trong nhà ăn, giãn cách trong phân xưởng... Bộ trưởng Long cũng cho rằng đây là thời điểm TP HCM cần quyết liệt truy vết triệt để hơn nữa, "càng triệt để bao nhiêu, càng đỡ gánh nặng bấy nhiêu". Đặc biệt, các chủ doanh nghiệp phải quản lý nhân công chặt chẽ hơn. Nếu cần thiết phải cách ly tập trung một số khu nhà ở công nhân. Công nhân sau khi đi làm về chỉ ở trong phòng, ở nhà. Tạo được chuỗi an toàn từ công xưởng, nhà ăn, khu vệ sinh, phương tiện giao thông, đến nơi lưu trú thì mới bảo vệ được an toàn cho toàn khu công nghiệp. Ngoài ra, thành phố cần duy trì thực hiện xét nghiệm tối thiểu 20% công nhân, xoay vòng liên tục. Ông Long đề nghị địa phương không nên quá đặt nặng vấn đề phải xét nghiệm bằng RT-PCR. Hiện Bộ Y tế đã tập huấn cho công nhân ở Bắc Giang tự xét nghiệm bằng test nhanh kháng nguyên. Hiệu quả test nhanh được đánh giá tương đương xét nghiệm gộp mẫu của RT-PCT, đạt trên 70%.

Không để hiện tượng mượn phê bình làm điều xấu

Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng ta đã chỉ ra, đó là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng”. Vì sao phải phê bình? Từ rất sớm, trong chuyên mục Thường thức chính trị, trên Báo Cứu quốc, từ ngày 16-1 đến ngày 23-9-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật”. Mục đích của TPB&PB theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: Với tổ chức, “cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”. Nếu đoàn kết làm nên sức mạnh của Đảng thì TPB&PB được coi là cội nguồn sức mạnh bậc nhất của Đảng. Với các đảng viên, “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”; “là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm”. TPB&PB là phương pháp để giáo dục, rèn luyện đảng viên. Người cho rằng: “Chúng ta vì dân, vì nước mà làm cách mạng. Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình. Mục đích phê bình là cốt lợi cho công việc chung”. Phê bình như thế nào? Mục đích đã đúng thì lại cần phải có một tinh thần, thái độ, cách thức thực hiện phù hợp. Đây chính là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Người căn dặn: “Vì vậy phê bình mình cũng như phê bình người khác ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người. Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét”. Để phê bình có hiệu quả, theo Người, phải phê bình toàn diện, đa chiều; do đó, trong bài Thuốc đắng dã tật nói thật mất lòng, Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Người cũng căn dặn: Phải kết hợp giữa phê bình và tự phê bình; phải thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đúng nguyên tắc và nêu gương trước cấp dưới, trước quần chúng. Đặc biệt, phê bình phải trên tình đồng chí thương yêu nhau. Đây là điều căn cốt nhất và phương thức hiệu quả nhất khi thực hành phê bình. Trong Di chúc, Người căn dặn “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu nhau”. Phải dân chủ trong phê bình và tôn trọng đối tượng được phê bình. Ngày 30-5-1957, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên Hải Phòng, Người ân cần nói: “Phê bình phải dân chủ, nghĩa là Bác phê bình các cô, các chú, trái lại các cô, các chú có thể phê bình Bác, có cái hay phải học, cái khuyết điểm thì phê bình. Các cô, các chú yêu Bác, muốn Bác tiến bộ thì phải phê bình”. Phong cách phê bình của Người thể hiện sự gần gũi, yêu thương nhau giữa các thành viên trong một đại gia đình lớn; vừa mềm dẻo, vừa cương quyết để đạt được mục đích của TPB&PB mà không “cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc” dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí phản tác dụng. Trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, Đảng ta một lần nữa yêu cầu: Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt TPB&PB. Xây dựng quy định TPB&PB, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. TPB&PB trong Đảng nói chung, đối với cán bộ, đảng viên của Đảng nói riêng đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hiệu quả, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI đến nay. Tuy nhiên, vấn đề này hiện nay vẫn tồn tại những bất cập đó là: Thứ nhất, tự phê bình thì mạnh dạn nhưng phê bình còn e dè, nể nang. Đây là một trong những bất cập khá phổ biến trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Như một lẽ tự nhiên, tự phê bình thường không “động chạm”, còn phê bình lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền và lợi ích của một tổ chức hay một cá nhân. Do đó, không ít cán bộ, đảng viên còn biểu hiện “dĩ hòa vi quý”, e dè, nể nang, ngại va chạm nhất là khi phê bình cấp trên. Thứ hai, lợi dụng phê bình để hạ thấp uy tín người khác. Vì mục đích vụ lợi, không ít cán bộ, đảng viên lợi dụng việc phát huy dân chủ, đề cao phê bình để công khai nói xấu, công kích để hạ thấp uy tín của người được phê bình hoặc lợi dụng phê bình để tranh cãi, gây mất đoàn kết hoặc khuyết điểm chưa rõ thì tìm cách che dấu… Bên cạnh đó, thái độ trông trước ngó sau, đón ý cấp trên để phê bình cho “trúng” hoặc xem người khác nói gì rồi hùa theo. Một tình trạng nữa là có những người lợi dụng phê bình làm công cụ để hạ bệ người không cùng phe cánh. Phê bình không khách quan, không kịp thời nhắc nhở đồng chí, đồng nghiệp mà “tích lũy khuyết điểm” của người khác để kết tội. Với “chiếc áo” phê bình, họ kéo bè, kéo cánh để công kích những người không ưa, gây mất đoàn kết nội bộ, làm rối loạn cơ quan, đơn vị... Thứ ba, tinh thần đấu tranh TPB&PB của cán bộ, đảng viên còn hạn chế, chưa nêu cao tính xây dựng, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên. Tâm lý “thứ nhất ngồi lỳ, thứ nhì đồng ý” hay “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án” hoặc “gió chiều nào theo chiều ấy” để tạo cảm giác “an toàn” cho mình khiến một số cán bộ, đảng viên ngại phát biểu biểu ý kiến trong sinh hoạt Đảng (việc phát biếu ý kiến chỉ tập trung vào đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, cán bộ, đảng viên lớn tuổi, còn một số đảng viên trẻ rất ít phát biểu trong các kỳ sinh hoạt), nếu phát biểu cũng phê bình chung chung, chiếu lệ, né tránh những vấn đề nhạy cảm, gai góc. Không ít tổ chức đảng mất đoàn kết nội bộ hoặc đoàn kết xuôi chiều vì có những cán bộ, đảng viên “dĩ hòa vi quý” hoặc có thái độ hành vi “đạo đức bốn mặt” (“Đạo đức bốn mặt”: Trước mặt nói rất tốt, rất hay về người này, người khác nhưng lại nói xấu người nọ, chê bai người kia sau lưng; trước cấp trên thì xum xoe, nịnh bợ, luồn cúi; trước nhân dân thì thờ ơ, vô cảm, “sống chết mặc bay”). Thứ tư, người được phê bình thường có biểu hiện không thừa nhận khuyết điểm, thái độ cầu thị không tốt, thậm chí tiếp nhận các ý kiến phê bình của người khác một cách cực đoan; từ đó, cán bộ, đảng viên là cấp trên tìm cách để ý, trù dập những người phê bình mình là cấp dưới. Vì vậy, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra đó là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng”. Còn tồn tại những bất cập có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân cơ bản là do tư tưởng “ngại va chạm”, tính chủ động, tinh thần trách nhiệm, tinh thần TPB&PB của một số cán bộ, đảng viên chưa cao. Nguyên nhân chính là do cán bộ, đảng viên còn bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, bị ràng buộc bởi lợi ích “được gì? mất gì?”; toan tính lợi ích cá nhân, cục bộ, bản vị vì lợi ích trước mắt, chưa vì lợi ích tập thể và lợi ích lâu dài. Nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên còn do cán bộ, đảng viên chưa có văn hóa phê bình. Vì vậy, trong nhiều “vụ án ngàn tỷ” thời gian gần đây, có những người vi phạm rất nghiêm trọng, làm thất thoát tài sản lớn của Nhà nước, nhưng khi bị cơ quan pháp luật xét xử cũng chỉ nhận khuyết điểm là do hạn chế về nhận thức.

Phê bình chân chính và có văn hóa

Thực hiện thường xuyên TPB&PB là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Cấp ủy, các tổ chức đảng cần quyết liệt thực hiện TPB&PB theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII. Khắc phục tình trạng nể nang, dĩ hòa vi quý, đoàn kết xuôi chiều, bị tình cảm cá nhân chi phối; đồng thời, nghiêm khắc xử lý những biểu hiện lợi dụng phê bình để đấu đá, làm mất uy tín của nhau, gây rối đối với tổ chức, ảnh hưởng đến đoàn kết trong tổ chức đảng, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng kích động, chia rẽ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải phê bình một cách thẳng thắn, chân thành nhằm giúp đồng chí, đồng đội nhận rõ sai lầm, sửa chữa khuyết điểm để không ngừng tiến bộ, tuyệt đối không vì mâu thuẫn cá nhân, động cơ cá nhân mà phê bình theo kiểu “vạch lá tìm sâu”, “bới lông tìm vết” nhằm trù dập, đấu đá, hạ bệ lẫn nhau. Do đó, các tổ chức đảng khi tiến hành TPB&PB, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh. Mỗi cán bộ, đảng viên kiểm điểm phải bảo đảm tính trung thực trong tự kiểm điểm, người phê bình thì công khai dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần xây dựng và cán bộ cấp trên phải làm gương cho cấp dưới. Đồng thời, phải kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng và cá nhân không thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt TPB&PB, không tự nhận sai lầm, khuyết điểm và che dấu những hạn chế, khuyết điểm cho nhau. Việc góp ý cho nhau, cùng nhau tiến bộ, nâng cao phẩm chất con người, phát huy tính tích cực của con người; cần nhận thức sâu sắc hơn, thực hiện triệt để hơn nguyên tắc TPB&PB để Đảng luôn trong sạch, làm cho uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao. Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực TPB&PB. Đảng ta yêu cầu mọi tổ chức đảng và mọi đảng viên đều phải thực hiện tốt TPB&PB. Theo đó, phê bình không phải là sỉ vả, xúc phạm danh dự của nhau mà là sự thể hiện tình cảm đồng chí trong sáng, chân thành; phê bình là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ và để đoàn kết tốt hơn; phê bình phải mang tính khách quan, vô tư, có lý, có tình, cổ vũ ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nhược điểm; phê bình phải trên nguyên tắc tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, chống thổi phồng hoặc bóp méo sự thật; phải biết phân tích ưu điểm, khuyết điểm của đồng chí mình theo quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể... Chỉ có phê bình như thế mới là phê bình chân chính và mới có tác dụng; nói cách khác là phê bình có văn hóa.

NGHĨ VỀ CHỮ LIÊM CỦA NGƯỜI CÁN BỘ

Quyết liệt đấu tranh với tiêu cực, tham nhũng đang được Đảng triển khai mạnh mẽ với những bước đi chắc chắn, bài bản nhằm bóc trần và loại bỏ những "con sâu" đang phá hoại thành quả tốt đẹp của cả dân tộc nỗ lực đạt được. Đây là sự tiếp nối thực hiện những lời căn dặn của Bác kính yêu với toàn Đảng, toàn dân. Người chỉ rõ, để Đảng ta thật sự là một Đảng lãnh đạo và là đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì trước hết cán bộ, đảng viên phải thực hành đoàn kết và thanh khiết. Chính vì lẽ đó, trong những phẩm chất cần có của người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao chữ Liêm. Chữ Liêm theo Người, đó là liêm khiết, không tham lam, vơ vét của công và của dân, “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình”. Từ lúc Đảng chưa ra đời, trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Hồ Chí Minh đã yêu cầu người cách mạng phải “ít lòng ham muốn về vật chất”. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền thì chữ Liêm càng quan trọng, bởi nếu thiếu nó thì cán bộ “biến thành sâu mọt của dân”. Vì vậy, sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm khiết". Người cán bộ liêm khiết là làm việc trung thực với lương tâm, trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ được giao, chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Người Liêm tận tậm với công việc, không màng tiền tài địa vị, không hư vinh, hư danh. Họ có lòng tự trọng, biết xấu hổ khi có suy nghĩ, hành động sai trái, kiên quyết không bắt tay hay thỏa hiệp cho những hành vi vi phạm pháp luật. Thẳng thắn tự phê bình, Đảng ta chỉ rõ: Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có một bộ phận không nhỏ đã bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, chạy theo danh lợi, kèn cựa địa vị, tham nhũng, quan liêu, nghiêm trọng hơn là “lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân”… Suy cho cùng những hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu xảy ra đều có nguyên nhân từ sự bất liêm, vô cảm khi làm những điều không tốt. Trong bài “Cần Kiệm Liêm Chính” viết tháng 6/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiều biểu hiện của sự bất liêm như: Cậy quyền, cậy thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư, người có tiền cho vay cắt cổ, hoặc dìm người giỏi để giữ địa vị, hoặc gặp việc khó thì không dám làm… Sự bất liêm nảy sinh từ nhiều lẽ. Đó là những cám dỗ đời thường, ham tiền bạc, địa vị, danh vọng như người nọ, người kia trong xã hội, gây bè dựng cánh vì những toan tính cá nhân. Người "bất liêm" sẽ tìm mọi cách để xoay xỏa, luồn cúi, tận dụng mọi cơ hội, tác động để đạt được ham muốn một cách nhanh nhất. Thủ đoạn thì muôn vàn, nhưng đều có điểm giống nhau là xem thường đạo đức, liêm sỉ, miễn sao đạt được mục đích của mình. Khi nói về tư cách của người cán bộ, đảng viên, theo Hồ Chí Minh “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật". Do đó đối với cán bộ, công chức, Hồ Chí Minh khuyên “để giúp công việc chính phủ một cách đắc lực, để nâng cao tinh thần kháng chiến, anh em viên chức bây giờ phải có 4 đức tính là: "cần, kiệm, liêm, chính”. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao công tác cán bộ, Người khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc"; "muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém…". Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ, trước thềm Đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, việc sàng lọc, lựa chọn những cán bộ vừa có đức trong thừa hành công vụ vừa có tài ngang tầm nhiệm vụ, đang là công việc đặc biệt quan trọng được Đảng ráo riết thực hiện. Mới đây, Kết luận của Ban Bí thư về việc tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đã chỉ rõ: "Kiên quyết không đề xuất, quyết định những nhân sự không bảo đảm tiêu chuẩn về độ tuổi, uy tín...; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết, "cục bộ", "lợi ích nhóm"; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gây thất thoát tiền bạc, tài sản của Nhà nước; phẩm chất, năng lực hạn chế, có biểu hiện "chạy chọt, vận động, tranh thủ lẫn nhau"... Nhìn rộng hơn, những hiện tượng này đều do bất liêm mà ra.

Rèn đức - giữ 'Liêm'

Rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên luôn là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Theo Người "Liêm" là một phần của đạo đức cách mạng mà người đảng viên, người cán bộ tốt phải có, phải rèn luyện. Cho đến cuối đời, trong Di chúc để lại cho muôn đời sau, Hồ Chí Minh vẫn đau đáu về chữ "Liêm" trong xây dựng đạo đức cách mạng cho Đảng, đó là "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng...". Bàn về chữ Liêm, theo Tiến sỹ Vũ Thị Kiều Phương (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liêm là "không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết"; là "không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ"; là "chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống"; là "không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân". Thậm chí "Liêm" còn được Người bàn trong một trước tác chuyên biệt về các đức tính cần, kiệm, liêm, chính "Cần Kiệm Liêm Chính" viết năm 1949. Trong đó, cần, kiệm, liêm, chính có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, là tiền đề của nhau. Người có chỉ rõ sự khác biệt giữa "Liêm" của "ngày xưa" với "Liêm" của ngày nay. Nếu như ngày xưa "Liêm" chỉ để nói đến "những người làm quan không đục khoét dân", "trong sạch, không tham lam", thì ngày nay "Liêm" có nghĩa rộng hơn và "mọi người đều phải Liêm". Và "Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm", bởi "có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam. Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất Liêm". Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không phải cứ thực hiện các nội dung "Liêm" như thế là đã có "Liêm". Thực hiện "Liêm" như vậy mới chỉ là "Liêm một nửa". Để "Liêm" thật sự hoàn chỉnh thì không phải chỉ mình thực hiện "Liêm", mà còn phải giúp người khác cũng thực hiện được "Liêm". Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo - người đã dành hơn 30 năm cuộc đời mình để nghiên cứu, sưu tầm, chia sẻ những câu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh, thấy rằng Bác không chỉ là một nhà tư tưởng mà còn là một nhà đạo đức học. Lý thuyết đạo đức của Bác là đạo đức cách mạng, quy tụ vào có bốn giá trị, đó là: Cần, kiệm, liêm, chính. Như Bác gọi đó là bốn đức để làm Người. Có đủ cần, kiệm, liêm, chính mới chí công vô tư được, mới vô ngã, vị tha được, mới có thể đứng ngoài vòng danh lợi để suốt đời vì nước, vì dân được. Bác nói cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức cơ bản để làm Người, phải đủ cả bốn đức mới là con người hoàn toàn, thiếu một đức thì không thành người. Nhưng ở đời thì nhân vô thập toàn, không ai là hoàn toàn cả, cho nên muốn có đủ bốn đức thì suốt đời phải rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân mà Bác gọi là chống giặc nội xâm ngay ở trong lòng. Bác còn hình dung đây là cuộc chiến đấu suốt đời mà sẽ có không ít sự đau đớn ở trong lòng. Suy nghĩ về chữ Liêm trong quan hệ đạo đức của Bác, Giáo sư. Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo phân tích liêm là kết quả của cần và kiệm, có cần, có kiệm thì mới liêm được, mà có liêm thì mới chính được. Vậy liêm ở đây là liêm khiết, trong sạch không có gì tư túi, khuất tất, bất minh. Liêm gắn liền với chính. Chính vì thế khi trừng trị tham nhũng, Bác chỉ thị là trừng trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai, bất kể chúng ở cương vị nào. Bây giờ Đảng đang thực hiện lời Bác là không có ngoại lệ là vì thế. Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo đánh giá chữ Liêm rất quan trọng, nhất là đối với người có chức, có quyền. Có liêm tức là liêm khiết, không tham nhũng, có liêm mới trong sạch, quang minh chính đại. Chữ Liêm gần như là thước đo về đạo đức, nhưng đồng thời cũng là thước đo về bản lĩnh của con người, nhất là khi có chức, có quyền. Điều đó càng đúng trong điều kiện hiện nay khi mà hằng ngày, hằng giờ con người bị cám dỗ bởi đồng tiền vật chất của kinh tế thị trường. Trước đây rèn luyện và bảo vệ, phát huy chữ Liêm đã khó, trong điều kiện ngày nay càng khó hơn bởi vì cuộc sống đã thay đổi, hằng ngày hằng giờ, người ta nghĩ tới lợi ích, nhất là lợi ích vật chất, thì chữ Liêm đúng là thách thức đối với cán bộ, đảng viên nói chung, nhất người có chức vụ. Chức vụ càng cao, càng đứng trước những thách thức rất nghiệt ngã của chữ Liêm - Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo đánh giá.

TỰ CHỈNH ĐỐN, TỰ NGĂN CHẶN

Vậy làm thế nào để thực hiện được lời Bác, giữ được chữ Liêm trong điều kiện hiện nay, Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo thấy rằng trước tiên cần phải thường rèn luyện cho đủ cả bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính. Người có cần, có kiệm thì người đó đã có tiền đề để liêm. Có liêm thì sẽ chính trực, công minh, không lợi dụng, không cá nhân riêng tư mà tất cả vì dân. Đồng thời phải có thể chế, luật pháp thật nghiêm để buộc mọi người phải liêm, nếu không liêm, phải chịu những hình phạt nghiêm khắc của luật pháp để giữ được lòng tin của nhân dân. Một nội dung quan trọng khác, theo Giáo sư. Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo, Đảng phải chú trọng giáo dục, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ có trọng trách. Trên cơ sở đưa đạo đức vào nội dung xây dựng Đảng, cần đẩy mạnh giáo dục danh dự, giáo dục liêm sỉ, giáo dục nỗi biết nhục khi rơi vào chuyện xấu xa, khuất tất. Bác Hồ nói tham nhũng, tham lam là điều đáng xấu hổ nhất, phải rèn luyện cho cán bộ, đảng viên tự thức tỉnh mình, tự răn đe và chỉnh đốn mình, tự ngăn chặn mình khi có nguy cơ làm những điều sai trái. Cuối cùng, theo Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo, phải đặt trong sự kiểm soát của dân. Đây là điều rất quan trọng, môi trường xã hội công khai, minh bạch, dân chủ, người dân có tiếng nói giúp Đảng uốn nắn cán bộ khi cán bộ có sai lầm, như vậy mới gắn Đảng với dân là một, cán bộ sẽ sống trong môi trường cần, kiệm, liên, chính. Theo Tiến sỹ Vũ Thị Kiều Phương, để chữ "Liêm" được thực hiện sâu rộng trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói "cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên", nhất là "cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân". Nếu cán bộ "thi đua thực hành liêm khiết" thì "sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân". Và ngược lại, người dân cũng cần nâng cao trình độ, hiểu biết, phải biết quyền hạn của mình để có thể kiểm soát được cán bộ, để "giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm", bởi "quan tham vì dân dại". Người cũng nhấn mạnh rằng, pháp luật phải "thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì". Để rèn luyện phẩm chất này, theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lý Việt Quang, Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, điều đầu tiên là tự tu dưỡng của mỗi cá nhân, tự nhận thức được đâu là cái đúng, đâu là cái sai; tiếp tục tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của con người. Theo ông Quang, có những việc vẫn cần phải nhắc đi, nhắc lại nhiều lần để tạo thành một nếp nghĩ, thói quen của mỗi cán bộ, đảng viên. Cùng với giáo dục thuyết phục, cần có biện pháp kỷ luật nghiêm minh tùy theo mức độ vi phạm để xử lý thích đáng. Đánh giá, rèn luyện, giữ liêm là cả quá trình lâu dài, vì đây là phạm trù đạo đức, đối với mỗi con người nói chung và cán bộ, đảng viên nói riêng, việc rèn luyện là cả cuộc đời. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thế Hanh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) đây cũng là phẩm chất của nêu gương. Giữ được liêm tức là cán bộ, đảng viên đã nêu gương trước quần chúng nhân dân. Nhiều cán bộ cao cấp nhưng không tu dưỡng, rèn luyện, không giữ được liêm đã sa ngã và bị xử lý nghiêm khắc, cho thấy hơn lúc nào hết, chúng ta phải làm việc này thật quyết liệt. Không chỉ xem xét năng lực chuyên môn, trong tuyển lựa, rèn luyện cán bộ phải kiểm tra, đánh giá việc thực hiện tư cách của người cán bộ trên vị trí công tác được phân công. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thế Hanh nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, để không còn những lỗ hổng, kẽ hở mà luồn lọt, len lách, để muốn "bất liêm" cũng không thể được, đồng thời phải tận dụng hệ thống kiểm tra, giám sát. Việc này cần được triển đồng bộ, từ nhiều lực lượng khác nhau, trong đó có vai trò quan trọng của nhân dân. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chữ "Liêm" của con người trong xã hội, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, là vô cùng sâu sắc và ý nghĩa. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương sáng về thực hành chữ "Liêm". Điều này khẳng định sự nhất quán từ tư tưởng tới thực tiễn cách mạng của Người về chữ "Liêm", tạo nên một nhân cách lớn - nhân cách Hồ Chí Minh.

Ngọc càng mài càng sáng

Giữ "Liêm" trong cán bộ, đảng viên là yêu cầu đặt ra cho mỗi người trong sinh hoạt, nếp sống cũng như thừa hành chức trách, nhiệm vụ được giao. Đây là quá trình tôi luyện lâu dài, đòi hỏi mỗi cá nhân tự ý thức để tự răn, tự rèn, để liêm khiết phải luôn là phẩm chất hàng đầu của người cán bộ. Trước tiên phải thấy rằng đạo đức của cán bộ, đảng viên không phải tự nhiên mà hình thành, như cách nói của Người, đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống, mà do tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ hằng ngày để phát triển, củng cố, như "ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong". Theo lời Người, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, việc rèn luyện đạo đức cách mạng là yêu cầu nội tại, thường xuyên, liên tục. "Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào, thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít...". Liêm và giữ được Liêm, trước hết phải là quá trình tự thân. Muốn bền chặt, vững chãi, hẳn phải từ gốc, đó là nhận thức, tình cảm, là quyết tâm của chính mỗi người khi hiểu về chữ Liêm và tôi rèn để có Liêm. Cuộc sống vốn nhiều cám dỗ, đặc biệt khi mở ra cơ chế thị trường, những tác động trái chiều cũng từ đó ùa theo, len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Đất nước hơn 30 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng tự hào, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến những biến động đáng lo ngại về đạo đức, lối sống và nhận thức của con người, trong đó có một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ đây đã nảy sinh những tư tưởng, ý thức, tiêu chí đạo đức đi ngược lại với những giá trị truyền thống của dân tộc. Quan hệ chủ yếu, xuyên suốt trong cơ chế thị trường là hàng hóa - tiền tệ, đồng tiền đã đi vào mọi hoạt động xã hội, cả trong đời sống tinh thần, trong quan hệ gia đình. Điều này đã có những tác động không nhỏ tới tâm tư, tình cảm của con người, đưa tới những thay đổi mà hệ lụy của nó là hình thành những tư tưởng, suy nghĩ, hành động không còn theo chuẩn mực truyền thống đã có, những tiêu cực, trái chiều từ đó nảy sinh trong xã hội. Đâu đó xuất hiện thói khoe khoang, sống xa hoa, vương giả, đâu đó là thái độ cửa quyền, sách nhiễu, gây khó khăn cho người dân trong giải quyết công việc, đâu đó là sự thờ ơ, vô cảm trước những thói hư, tật xấu trong xã hội... Những hiện tượng này xuất hiện không ít trong cuộc sống, có tác động, ảnh hưởng không tốt tới những giá trị chuẩn mực trong xã hội. Để Liêm, điều căn bản, sâu xa nhất là nhận thức, hiểu rõ được tầm quan trọng, từ đó mới có hành động đúng. Người cán bộ, đảng viên phải giữ Liêm bằng bản lĩnh và sự tỉnh táo, trọng danh dự, nhân phẩm của mình hơn vinh hoa phù du. Muốn Liêm và giữ Liêm, mỗi cán bộ, đảng viên phải giác ngộ, tự tu dưỡng và rèn luyện. Nó bắt nguồn từ những việc rất nhỏ trong cuộc sống, trong công việc, trong cách ứng xử. Đó là làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình trong thừa hành công vụ, là dám đấu tranh, lên án với những hành vi sai trái, vụ lợi, là loại bỏ ham muốn tiền bạc, giàu sang bất chính, là sống khiêm nhường, không khoe khoang hợm hĩnh, không bợ trên nạt dưới, không vòi vĩnh, tranh thủ để tư lợi cho mình và người thân... Rèn luyện để giữ Liêm là cả quá trình, đòi hỏi mỗi cá nhân phải luôn răn mình, nhẫn nại và nỗ lực, phải nêu cao chữ Liêm để giữ được thanh danh, từ đó bồi đắp thêm niềm tin của người dân với cán bộ công quyền. Việc tự tu dưỡng, rèn luyện không hề dễ dàng mà cần kiên định và quyết tâm, như ví von của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài thơ Nghe tiếng giã gạo (Tập thơ Nhật ký trong tù): Gạo đem vào giã bao đau đớn/Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/Sống ở trên đười người cũng vậy/Gian nan, rèn luyện mới thành công. Điều này đang càng trở nên cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết bởi như Người dặn: “mọi thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu”. Cán bộ chính là mắt xích quan trọng, là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể, Nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.

NÊU GƯƠNG PHẢI TRỞ THÀNH TRIẾT LÝ SỐNG CỦA XÃ HỘI

Sinh thời, Chủ tịch luôn coi trọng công tác cán bộ bởi Người luôn coi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc". Vì thế Người luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ "vừa hồng, vừa chuyên". Một trong những cách thức, biện pháp mà Người luôn nhắc tới khi xây dựng đội ngũ cán bộ đó là "nêu gương". Đề cao tính hiệu quả của nêu gương trong lãnh đạo, nhất là trong công tác tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người cho rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chí Hiếu (Tạp chí Cộng sản) sức thuyết phục mạnh mẽ trong tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ nói luôn đi đôi với làm, dù việc lớn hay việc nhỏ, tự mình phải làm gương trước. Tấm gương nói đi đôi với làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ quan niệm của Người, từ lòng dạ trong sáng, chính tâm, thật sự vì dân, vì nước. Người khuyên mọi người sống trong sạch, không ham tiền tài, danh vọng, không cậy quyền thế mà đục khoét của dân. Cuộc sống giản dị, trong sạch của Bác thật sự là tấm gương sáng để cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền phải tự soi lại mình. Nhấn mạnh tới yêu cầu đặt ra hiện nay là thực hiện noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng những hành động cụ thể, thực chất và thiết thực, tránh rơi vào "bệnh" hình thức, thành tích hoặc thực hiện theo kiểu cho có phong trào một cách đại khái, qua loa, chiếu lệ, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chí Hiếu cho rằng, cần phải nhận thức rõ việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải việc làm cao siêu, to tát, mà rất gần gũi, thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị và sinh hoạt hằng ngày. Phương châm thực hiện cần quán triệt ở đây là "trên trước, dưới sau", "trong trước, ngoài sau", học đi đôi với làm theo, chú trọng việc làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng vấn đề nêu gương. Theo Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, Bác không chỉ tâm nguyện mà Bác còn hành động. Cả cuộc đời Bác không màng danh lợi, ở ngoài vòng danh lợi để có thể toàn tâm, toàn ý vì dân. Bác nhấn đi nhấn lại rằng, chúng ta phải là đầy tớ, công bộc trung thành, tận tụy của dân, Bác còn dạy là nói ít, làm nhiều, chủ yếu là hành động, lời nói đi đôi với việc làm, đã nói thì phải làm. Muốn nêu gương trước hết chủ thể nêu gương ấy phải gương mẫu, trung thực, trách nhiệm, phải có đức hy sinh, tức là có động cơ sống trong sáng, vì dân, vì nước, không có gì riêng tư. Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh, nêu gương không chỉ là vấn đề nhận thức, mà còn là hành động, hai nội dung phải nhất quán với nhau, nói đi đôi với làm. Quy định số 08 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, được người dân đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Bày tỏ sự đồng tình với việc ban hành bản Quy định này, Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho rằng, phải triển khai những giải pháp đồng bộ, trong đó điều đầu tiên là phải nâng cao nhận thức, phải xây dựng, giáo dục về liêm sỉ, danh dự, giáo dục sự biết tự phê phán, tự cảnh tỉnh mình khi làm những điều xấu xa, không xứng đáng. Lương tâm và danh dự rất quan trọng, nhất là đối với người lãnh đạo. Đi cùng với việc giáo dục nâng cao nhận thức, rất cần dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát và siết chặt kỷ cương, luật pháp, các quy định, quy chế của cơ quan, đơn vị. Bàn luận về tầm quan trọng của việc nêu gương trong bối cảnh hiện nay, Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Quang Liêm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nêu một thực tế, khi con người ở tình huống gay cấn, nguy cấp, sẽ dễ bộc lộ những phẩm chất vượt trội, thực sự xứng đáng là tấm gương. Trong cuộc sống bình an, hình như nhu cầu trở thành tấm gương và việc nêu gương không rõ ràng. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa đóng góp to lớn của nêu gương, theo Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Quang Liêm, cần giáo dục cho mọi người hành động nêu gương phải trở thành ý thức tự nhiên, sự rèn luyện thường xuyên, trở thành triết lý sống của xã hội, một triết lý luôn luôn mong muốn tử tế, tốt đẹp hơn. Việc nêu gương phải bền bỉ, phải trở thành việc làm thường xuyên. Trong Lời kêu gọi thi đua ngày 1/8/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh "Tưởng lầm rằng thi đua chỉ nhất thời. Thật ra thi đua là phải trường kỳ". Công tác thi đua, xây dựng các tấm gương, nêu gương và lan tỏa hình ảnh đẹp của các tấm gương cần được thực hiện với tâm thế phấn khích, liên tục, không được đánh trống bỏ dùi - ông Nguyễn Quang Liêm nêu quan điểm. Đưa ra những phân tích, nhìn nhận về những tác động mặt trái, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Minh Trưởng, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng nhấn mạnh biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong nội bộ Đảng là phải đoàn kết chặt chẽ, đẩy mạnh việc quán triệt, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. "Mỗi cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, bằng việc nêu gương, trước hết là nêu gương về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, gương mẫu đi đầu trong công việc; hoàn thành nhiệm vụ, nói đi đôi với làm, thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kiên quyết chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân... Đó là cơ sở để giữ vững ổn định chính trị, phát triển đất nước, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người đi xa: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư", trở thành tấm gương sáng cho quần chúng học tập, noi theo".

MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM-NGA LÀ MỐI QUAN HỆ SON SẮT, THỦY CHUNG!

 “ĐỒNG CHÍ NGA”


Ngày 9 tháng Năm vừa qua, nước Nga đã phô trương sức mạnh quân sự của mình, làm cho những người nào yêu mến nước Nga cũng cảm thấy vui với bạn. Mặc dù đảng cầm quyền ở nước Nga không phải là đảng Cộng sản, song trong suốt buổi lễ, đôi lúc lại vang lên hai tiếng “đồng chí”, đó là cách xưng hô giữa những người cộng sản với nhau trước đây.

Các thế lực thù địch với nước Nga cũng như với các nước do đảng Cộng sản cầm quyền đều tìm mọi cách “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Song ngay từ khi lên cầm quyền, ông Putin đã đặt quân đội dưới lãnh đạo trực tiếp của tổng thống nên nhiều âm mưu lật đổ chính quyền do ông Putin lãnh đạo, đều thất bại.

Quân đội của nước Nga vẫn tôn trọng và phát huy truyền thống cách mạng của quân đội Xô Viết đã từng đánh bại phát xít Đức, giúp loài người thoát khỏi họa diệt chủng của Đức quốc xã, chính vì thế mà đi sau là quốc kỳ Nga hiện tại là cờ của những quân khu, quân đoàn đã từng tham gia chống phát xít, nổi bật lên hình chiếc búa liềm. Điều đó nhắc mọi người hãy đừng quên lịch sử.

Nước Nga không phải của đảng Cộng sản còn như vậy, trong khi đó nhiều kẻ đang sống dưới chế độ Cộng sản lại cứ muốn quên đi quá khứ, thậm chí còn xuyên tạc lịch sử một thời anh hùng, một thời vinh quang của dân tộc.

Có lẽ cũng vì tôn trọng lịch sử - một thời Liên Xô đã cùng các nước XHCN, kẻ nhiều người ít giúp Việt Nam đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, nên sau hàng chục cuộc xâm lăng của các triều đình phong kiến phương Bắc, Liên Xô ngày xưa và nước Nga ngày nay vẫn hết lòng (tôi dùng chữ này không biết có chính xác không?) giúp đỡ Việt Nam.

Còn nhớ năm 1979, khi triều đại Đặng Tiểu Bình, theo truyền thống phong kiến xưa, đã đem quân sang xâm chiếm Việt Nam. Để tạo áp lực giải vây cho người anh em Việt Nam, Liên Xô đã dàn quân ra biên giới Trung - Xô, mặt khác cho tầu chiến án ngữ ở Biển Đông, khi cuộc chiến đến hồi gay cấn, chính Liên Xô đã đưa máy bay vận tải cỡ lớn giúp ta chuyển quân chính quy từ Campuchia về nước để dẹp quân xâm lược trên biên giới.

Nước nào đã kiên trì hợp tác với Việt Nam trong lãnh vực dầu khí? Chính nước Nga. Một vài nước cũng thèm muốn nguồn tài nguyên dưới biển của Việt Nam song, một khi Trung quốc lên tiếng thì vội rút đi. Riêng Nga thì không. Việt Nam và Nga đã duy trì hoạt động của liên doanh VietsoPetro qua mấy thập niên và ngày nay vẫn thế. Mới cách đây vài ngày, Nga còn cho một tầu lớn sang giúp Việt Nam khảo sát và đánh giá tiềm năng dưới biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Điều đó đã làm cho nhiều nước sôi máu song đành phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Nga mà! Việt Nam mà!

Cảm ơn ông Putin, ông chưa quên hai tiếng “đồng chí”. Mặc dù nước Nga và những nhà lãnh đạo nước Nga trên bình diện chính trị thế giới không còn là một nước Cộng sản, cũng chẳng phải là người Cộng sản, song vẫn còn hơn những nước vỗ ngực tự xưng là Cộng sản!.

Khi viếng nơi an nghỉ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Putin đã viết: “Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ hòa bình tiến bộ và phồn vinh. Nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc, là biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai… Vì thề lịch sử sẽ mãi mãi nhắc tới Người như một bậc thánh nhân”

Yêu nước ST.

Từ ngày 01/6, người tham gia BHYT được sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID trong khám chữa bệnh trên toàn quốc

Ngày 31/5, BHXH Việt Nam đã ban hành Công văn số 1493/BHXH-CSYT gửi BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân (gọi chung là BHXH tỉnh) về việc sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng “VssID - Bảo hiểm xã hội số” để đi khám chữa bệnh (KCB) BHYT. Theo đó, bắt đầu từ ngày mai (ngày 01/6), người dân trên toàn quốc sẽ được sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID khi đi KCB thay thế cho việc sử dụng thẻ BHYT giấy. Ngày 16/11/2020, Thủ tướng Chính phủ đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ công bố ứng dụng “VssID - Bảo hiểm xã hội số” trên nền tảng thiết bị di động của BHXH Việt Nam. Phát biểu chỉ đạo tại buổi Lễ, Thủ tướng chỉ đạo BHXH Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế nghiên cứu triển khai đầy đủ thẻ BHYT trên ứng dụng VssID theo hướng vừa đảm bảo tiện ích, vừa đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam đã từng bước hoàn thiện các chức năng của ứng dụng VssID và chỉ đạo BHXH các tỉnh tổ chức triển khai đẩy mạnh việc sử dụng ứng dụng trên phạm vi cả nước. Vừa qua, BHXH Việt Nam đã có Công văn số 1115/BHXH-TST đề xuất Bộ Y tế cho ý kiến thống nhất về việc sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID trong KCB BHYT trên phạm vi toàn quốc, kể từ ngày 01/6/2021. Đề xuất này được đưa ra trong khi Thủ tướng Chính phủ đã và đang chỉ đạo quyết liệt việc tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nền kinh tế số, xã hội số và trên cơ sở những lợi ích thiết thực mang lại cho người tham gia và cơ sở KCB. Theo đó, trên cơ sở đề xuất của BHXH Việt Nam, ngày 27/5/2021 Bộ Y tế đã có Công văn số 4316/BYT-BH về việc sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID để đi KCB BHYT, BHXH Việt Nam đề nghị BHXH các tỉnh báo cáo UBND tỉnh, phối hợp với Sở Y tế để chỉ đạo cơ sở KCB triển khai thực hiện, có văn bản thống nhất thực hiện một số nội dung sau: Thứ nhất, từ ngày 01/6/2021, người bệnh BHYT đi KCB được sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID thay thế cho việc sử dụng thẻ BHYT giấy. Thứ hai, cơ sở KCB sử dụng đầu đọc để quét mã QR-Code hoặc ghi trực tiếp số thẻ BHYT trên ứng dụng VssID (đối với trường hợp cơ sở không có đầu đọc). Thứ ba, cơ sở KCB có các giải pháp chống lạm dụng trục lợi quỹ KCB BHYT; tiếp nhận các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, kịp thời báo cáo cơ quan BHXH để phối hợp giải quyết. BHXH Việt Nam cũng yêu cầu Giám đốc BHXH các tỉnh chỉ đạo các phòng chuyên môn tiếp nhận, xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc sử dụng ứng dụng VssID để đảm bảo quyền lợi của người bệnh BHYT theo các nội dung chỉ đạo tại Công văn số 3717/BHXH-CNTT ngày 25/11/2020 về việc triển khai ứng dụng VssID. Đặc biệt, qua việc thí điểm triển khai sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID trong KCB tại 10 tỉnh vùng bị lũ lụt thuộc miền Trung - Tây Nguyên trong thời gian vừa qua đã mang lại sự tiện lợi cho người tham gia BHYT và cơ sở KCB. Bên cạnh đó, tính bảo mật, an toàn khi sử dụng được đảm bảo, hạn chế được tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT. Việc chính thức triển khai sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID trong KCB trên toàn quốc là bước đi thực sự phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số của ngành BHXH Việt Nam. Người sử dụng thẻ không lo mất, quên thẻ BHYT như đã xảy ra đối với thẻ BHYT giấy; đồng thời giúp giảm thời gian làm thủ tục KCB của cả người tham gia và cơ sở KCB, do thẻ có mã QR code được tự động tăng độ phân giải, tăng độ sáng hiển thị làm rõ các thông tin trên thẻ BHYT. Đặc biệt, việc triển khai này còn đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp người dân hạn chế đi lại, không phải giao dịch trực tiếp với cơ quan BHXH đối với các hoạt động liên quan tới thẻ BHYT giấy trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp./.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI DO CÁC PHẦN TỬ PHẢN ĐỘNG, THOÁI HÓA,, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ, BẤT MÃN GÂY RA

Một số đối tượng lá mặt, lá trái, cơ hội chính trị, số phần tử bất mãn, cực đoan quá khích đang sống, làm việc thụ hưởng những thành quả cách mạng do Đảng và nhân dân mang lại, nhưng lại bí mật cộng tác với những phần tử bất mãn, phản động nước ngoài để mưu cầu lợi ích cá nhân. Số đối tượng này tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, móc nối viết bài nói xấu chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam. Những bài viết được tung lên Internet có nội dung tuyên truyền những quan điểm phản động, cực đoan. Chính số đối tượng ở trong nước, những phần tử bất hảo nói trên đã tham gia cộng tác viết bài, cung cấp thông tin, gửi thư kiến nghị đưa lên mạng gây ảnh hưởng xấu xung quanh việc ta bắt giữ các đối tượng có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Ngoài ra, phải kể đến một số văn nghệ sĩ, nhà báo, các nhà hoạt động chính trị, xã hội người ngoại quốc, ở nước ngoài đã đến Việt Nam do không có những thông tin chính xác, đầy đủ, bị người Việt phản động lưu vong tuyên truyền, lôi kéo cung cấp thông tin bịa đặt chống phá Việt Nam. Trong khi đó, các nguồn sách báo, phim ảnh có nội dung đồi trụy, ca ngợi một chiều, phiến diện về cuộc sống của những nước phát triển TBCN không quản lý được, tác động vào tư tưởng, tâm lý của nhân dân. Những biểu hiện cơ hội hữu khuynh ở nước ta hiện nay đã và đang xuất hiện trong bối cảnh đất nước vừa có thời cơ, vận hội lớn, vừa đứng trước nguy cơ, thách thức nghiêm trọng. Tư tưởng cơ hội hữu khuynh đó không chỉ được xây dựng trên một cơ sở lý luận xét lại nào đó, mà chỉ là sự cóp nhặt hỗn tạp giữa trào lưu triết học, xã hội học tư sản hiện đại, song lại chưa thoát được căn bệnh giáo điều đối với chủ nghĩa Mác-Lênin và mắc bệnh thực dụng. Điều này thể hiện thái độ và lối sống cơ hội nhằm trục lợi cả chính trị và vật chất. Cố tình nhắm mắt trước lịch sử của dân tộc về quá trình phát triển đi lên CNXH là tất yếu, lợi dụng sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô để phủ nhận những thành quả cách mạng mà nhân dân các nước đó lựa chọn, và từ đó lên lớp dạy cho nhân dân ta. Họ cho rằng bi kịch Xô viết như lời cáo chung cho Chủ nghĩa Cộng sản, là hệ quả tất yếu cho các nước XHCN còn lại. Một số đối tượng còn kích động nhân dân để gây rối như các vụ bạo loạn ở một vài nơi trong nước. Đồng thời, những đối tượng này còn cho rằng CNXH không có cơ sở kinh tế vì chế độ XHCN ở nước ta đã chấp nhận nền kinh tế thị trường. Một số quan điểm khác phủ nhận con đường phát triển đất nước theo hướng XHCN lại viện dẫn cơ sở lý luận, phương pháp luận Mác xít về quá trình vận động của lịch sử như một dòng chảy lịch sử tự nhiên. Những người cơ hội trước kia đã từng giáo điều trong việc nhận thức về sự thối nát, giãy chết của CNTB, thì bây giờ họ lại ấu trĩ cho rằng thế giới TBCN ngày nay toàn những nước tư bản có nền công nghệ phát triển cao, toàn những con rồng, con hổ; rằng con đường tư bản đưa dân tộc đến tương lai tươi sáng. Họ ngụy biện rằng không nhất thiết phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng CNXH, không nhất thiết phải chịu sự lãnh đạo của Đảng CS thì đất nước mới phát triển. Từ đó vội vàng đi đến kết luận rằng CNXH chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có thì chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ. Chúng xuyên tạc, trong nội bộ Đảng vẫn duy trì cái gọi là chế độ tập trung dân chủ, mà hầu hết các Đảng CS trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự tập trung quyền lực bao giờ cũng đưa tới chỗ triệt tiêu dân chủ. Nhiều lắm dân chủ chỉ trở thành đồ rởm, chỉ có tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực. "Đảng là cản trở của nền dân chủ" nên kiến nghị đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng "Đảng chỉ nên lãnh đạo tư tưởng, đạo đức, lối sống và định hướng chung chung", "không lãnh đạo kinh tế, văn hóa, không lãnh đạo lực lượng vũ trang"... đó là công việc của nhà nước. Đây là thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa nguyên chính trị, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang để vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng tung ra luận điệu trong Đảng có phe cải cách và phe bảo thủ, có “nhóm lợi ích” từ lãnh đạo cấp cao và nhóm này chi phối toàn bộ các nhóm lợi ích ở cấp dưới. Chúng cũng bịa đặt rằng "điều này cho thấy phe bảo thủ đã thành công trong việc đặt nặng sự ổn định chính trị trong nước trước cải cách. Thành phần thủ cựu trong Đảng cộng sản lo ngại Nhà nước sẽ mất đặc quyền đặc lợi". Chúng tìm mọi cách bịa đặt, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, xuất hiện nhiều cuốn nhật ký, hồi ký tài liệu tung ra những chuyện giật gân trong sinh hoạt của các nhà lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cao cấp của Đảng, gây nghi ngờ hòng mong chia rẽ nhân dân với Đảng. Các đối tượng phủ định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là định hướng XHCN, như "kinh tế thị trường và CNXH như nước với lửa không thể hòa nhập được". "Kinh tế thị trường là kinh tế TBCN, do thời cuộc và do cuộc sống bắt buộc, chính quyền Việt Nam phải chọn sống chung với con hổ yêu tinh hiện đại này, thể nào sớm hay muộn cũng bị nó ăn thịt"; thực hiện đường lối mở cửa, phát triển kinh tế thị trường là chế độ Cộng sản Việt Nam đã uống liều thuốc đắng, kinh tế nhà nước là ung nhọt, là sân sau của những “nhóm lợi ích” cấp cao, là những tổ mối đục khoét của cải đất nước. Xuyên tạc lịch sử, đòi lật án, chúng xuyên tạc "Thành quả cách mạng Tháng Tám là thành quả cay đắng. Chính quyền về tay nhân dân nhanh chóng rơi vào tay Đảng cộng sản", rằng "dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu của dân tộc là do Đảng cộng sản gây ra". Chúng vu cáo "cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến, quân đội ta là những người lính đánh thuê của các thế lực hiếu chiến". Bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, làm mất lòng tin.Tất cả các mũi tấn công trên đều nhằm vào phát triển mầm mống các nhân tố chống CNXH, thúc đẩy sự hình thành xã hội dưới tác động của hàng hóa, nguồn vốn phương Tây, hình thành tâm lý sùng bái đồng dollar, lôi kéo thêm lực lượng cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân để lấn át kinh tế nhà nước. Tiếp tục phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh khi chúng cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác-Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" suốt mấy chục năm là một sai lầm mà lịch sử không bao giờ tha thứ. Từ đó họ phát động chiến dịch bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi nhọ danh nhân mà họ gọi là chiến dịch "hạ bệ thần tượng". Gần đây chúng tung lên luận điệu "No Ho" phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Bác. Thâm độc hơn, chúng tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác-Lênin. Chúng ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác-Lênin đã lỗi thời, nên chỉ dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh mà thôi, vì "Chủ nghĩa Hồ Chí Minh" là chủ nghĩa dân tộc, vì dân tộc”. Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, là thủ đoạn thâm độc làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh. Trắng trợn hơn, chúng rêu rao tư tưởng Hồ Chí Minh là “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Bây giờ có độc lập tự do rồi thì cần gì tư tưởng Hồ Chí Minh nữa. Hoặc cứ coi Hồ Chí Minh là một vị thánh của dân tộc để thờ, còn tư tưởng của Người thì không cần cho đất nước trong thời cuộc hiện nay. Họ còn nói chế độ một Đảng là không dân chủ, thậm chí đòi các đảng cộng sản đang cầm quyền phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế đa sở hữu thì nền chính trị không thể nhất nguyên được, không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy theo họ, dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị. Không ít những lời gièm pha, chỉ trích rằng dân chủ của ta là nửa vời, chưa mở ra đã khép lại… Có người nói cách làm của chúng ta là non gan, yếu bóng vía, không dám mở bung dân chủ hết cỡ, không dám thực hiện dân chủ công khai, không giới hạn. Để chứng minh điều này, những người có lập trường cơ hội và thù địch viện dẫn và xuyên tạc nhiều sự thật lịch sử. Lấy hiện tượng làm bản chất, cường điệu một số hiện tượng đơn lẻ, có thực và có nguyên nhân cụ thể, biến nó thành phổ biến, tất yếu và không tránh khỏi của cả hệ thống. Từ tệ tham nhũng mà Đảng đang đấu tranh thì họ suy ra thành đảng tham nhũng. Đối với các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, dưới con mắt của các phần tử cơ hội, thù địch đều cho là có vấn đề, sai lầm, đầy mâu thuẫn, lúng túng và bế tắc. - Tấn công vào định hướng XHCN trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Họ cho rằng Đảng ta đưa ra định hướng XHCN là thừa, vô nghĩa, do đó chỉ cần đặt vấn đề xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh là đủ, cần gì phải định hướng XHCN, vì theo họ dòng sông tự nó phải chảy ra biển, cần gì phải uốn nắn. Rằng: Việt Nam tiến lên CNXH bỏ qua TBCN là một điều kỳ quặc, trái quy luật, vì thế hãy tạm gác lại mục tiêu CNXH và lùi về với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là đúng đắn nhất. 3. Những luận điệu sai trái hình thành do trình độ nhận thức chính trị kém So với các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn là một nước nghèo và đang phát triển, sự phát triển kinh tế còn chưa vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế còn chưa cao. Trong lĩnh vực xã hội, còn nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi phải được tiếp tục quan tâm giải quyết. Điều đó đã tác động, gây ảnh hưởng xấu tới tâm trạng xã hội, là cái cớ để một số phần tử đả kích chế độ. Các thế lực thù địch đã lôi kéo, kích động một bộ phận nhân dân và cả một số cán bộ các dân tộc thiểu số đi theo tiếng gọi của thần thánh hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Họ kích động tư tưởng hẹp hòi, dẫn đến nhận thức sai lệch trong một số vấn đề như: dân tộc thiểu số phải có đức tin riêng, có cuộc sống riêng, người Kinh là những kẻ cướp đất, cướp miếng ăn của họ. Từ cách nhìn sai lệch dễ nảy sinh quan điểm sai trái, những yếu tố tâm lý nghi kỵ, dân tộc hẹp hòi. Do sự nhận thức yếu kém cộng với sự kích động thù địch trong và ngoài nước, một số đồng bào dân tộc đã gây mất trật tự trị an, chống lại và hành hung người thi hành công vụ; một số người còn trốn, đi theo Fulro ra nước ngoài làm tay sai cho chúng. Đồng bào ở các vùng chiến lược về an ninh, quốc phòng ở nước ta chủ yếu là đồng bào theo đạo, người dân tộc thiểu số, có trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Đây là những địa bàn trọng yếu nhưng hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu kém nên đã trở thành một trong những điểm yếu để các thế lực thù địch tác động mạnh bằng chiến tranh tâm lý. Ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch thông qua việc truyền đạo trái phép, các tổ chức phi chính phủ đã mị dân bằng những khẩu hiệu có liên quan sát thực đến đời sống của nhân dân như “đói cho ăn, đau cho thuốc, chết cho hòm”… Sự kiện đồng bào Mông ở Mường Nhé vừa qua cũng có sự tác động của các đối tượng phản động. Trong khi đó, một số nơi do bất bình trước những khó khăn, những cách làm sai trái của một số cán bộ nên phản ứng tập thể, gây mất an ninh trật tự ở nông thôn, an ninh đô thị, thậm chí kéo dài những vụ tranh chấp, khiếu kiện, đình công, lãn công… Do tác động nhiều mặt, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng như tầm thường văn hóa, chạy theo lối sống sinh hoạt văn hóa lai căng, thác loạn, dung tục, xa rời văn hóa truyền thống. Một số đầu sách có nội dung phức tạp, xuyên tạc lịch sử văn học Việt Nam vẫn được nhập khẩu, phát hành. Trên thị trường băng đĩa nhạc xuất hiện hàng loạt băng đĩa đồi trụy, phản động được lưu hành. Hàng loạt thông tin xâm nhập vào không được kiểm chứng, dẫn đến nhận thức sai lệnh thông tin và hình thành nên quan điểm sai trái. Một số báo, đài đưa tin, bài thiếu chính xác, thiếu định hướng tư tưởng gây ảnh hưởng xấu trong dư luận. Trong khi đó, một số cơ quan thông tấn báo chí nước ngoài (AFP, Reuter, BBC, VOA) đưa các tin, bài vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Không ít cán bộ, đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân đã đọc, nghe những luận điệu này, không phân biệt đúng sai, nhiều cán bộ đảng viên đã biểu hiện dao động, mất lòng tin và suy thoái về tư tưởng chính trị, vô tình thành phần tử cơ hội gấy nguy hại nghiêm trọng tới sự vững mạnh về chính trị và trong sạch về tổ chức của Đảng. Các thế lực thù địch rất quan tâm lôi kéo tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh, sinh viên vì đây là lực lượng hùng hậu, là đội ngũ quan trọng trong xã hội, nhất là trí thức, lớp trẻ. Chúng coi đó là hướng hoạt động có tính chiến lược nhằm chuyển hóa tư tưởng của thế hệ điều hành đất nước trong tương lai. Những thế hệ sau 1975 đã quên hoặc chưa từng nếm trải những khổ cực trong chiến tranh do đó dễ bị thao túng, lôi kéo. Do ảnh hưởng của các thế lực thù địch cùng với tác động của một số yếu tố khách quan, một số sinh viên hiểu sai và nói sai về đất nước và chế độ. Có một số cán bộ, đảng viên, trí thức cũng ngộ nhận, phê phán nguyên tắc tập trung dân chủ, thậm trí có người còn đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, nó chỉ thích họp với hoạt động của Đảng khi chưa dành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo chiến tranh, rằng thực hiện tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo. Họ cho rằng định hướng XHCN là giáo điều, sách vở, xuất phát từ định đề giai cấp chứ không xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Theo họ, phải từ bỏ định hướng XHCN thì mới phù hợp với thực tế đất nước, xu thế với thời đại. Họ cho rằng chúng ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất XHCN bằng mọi giá, nên lực lượng sản xuất ngày càng bị yếu kém, trì trệ, dẫn tới kinh tế tụt hậu. Một số người cho rằng không nên phân chia nền kinh tế theo tiêu chí quan hệ sản xuất mà lâu nay vẫn làm, như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo họ, cách phân chia đó dẫn đến việc phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, không có lợi cho việc phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế khác. Thay vào đó, nên phân chia nền kinh tế theo tiêu chí nhỏ, vừa và lớn. Họ cho rằng, chỉ bằng cách xóa bỏ mọi dấu hiệu quan hệ xã hội của sản xuất thì mới có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Có người còn lớn tiếng khuyên chúng ta cứ “nhập khẩu” toàn bộ luật pháp của phương Tây về và làm theo thì đất nước mới phát triển. “Cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, Đảng ta, nhân dân ta luôn mong muốn một không khí hòa bình để xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc nhưng các thế lực thù địch không để chúng ta yên. Chúng thường xuyên chống phá chúng ta bằng nhiều thủ đoạn trong đó có những luận điệu sai trái, xuyên tạc. Vì vậy, đấu tranh chống luận điệu sai trái như một nhiệm vụ tất yếu chúng ta cần làm và nhất định phải làm thật tốt. Để thực hiện được điều đó, cần nhận rõ các loại quan điểm sai trái để có những đối sách phù hợp. Yêu cầu chung nhất của việc đấu tranh này chính là làm tốt công tác tư tưởng trong Đảng và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội. Gần 90 năm qua, Đảng ta luôn khẳng định công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo thực hiện những mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng. Đây là nhiệm vụ đặc biệt, cần có sự phối hợp đồng bộ, chỉ đạo chặt chẽ, huy động năng lực và trí tuệ của đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nhận thức tình cảm, tư tưởng của nhân dân. Đấu tranh chống các luận điệu sai trái cũng chính là sự khẳng định lập trường của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đó củng cố nhận thức chính trị, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn./.

Nhận rõ các luận điệu sai trái, thù địch để kiên quyết đấu tranh bác bỏ

Trong quá trình cách mạng, cuộc đấu tranh tư tưởng luôn diễn ra thường xuyên và hết sức phức tạp. Cường độ và tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh này thường tăng cao ở những thời điểm quan trọng và nhạy cảm. Thời điểm hiện nay, toàn Đảng đang triển khai những nhiệm vụ trọng đại chuẩn bị cho Đại hội XIII và đó cũng là dịp các thế lực thù địch đẩy mạnh những hoạt động chống phá cách mạng nước ta mà một trong những trọng điểm của chúng là chống phá về tư tưởng. Tình hình đó đặt ra những trách nhiệm nặng nề đối với cuộc đấu tranh tư tưởng, trong đó đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch càng trở thành một trong những nhiệm vụ bức thiết. Để thực hiện tốt trọng trách này, vấn đề nhận diện các loại luận điểm sai trái, thù địch là hết sức cần thiết. Sau đây, xin nêu những dạng luận điệu sai trái, thù địch để có những giải pháp xử lý cụ thể và thích hợp. Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực thù địch đang thay đổi phương thức hoạt động. Mục tiêu nhất quán không thay đổi của chúng là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, "phi chính trị hóa", vô hiệu hóa quân đội, tiến tới xóa bỏ chế độ nhà nước XHCN ở Việt Nam. Khi Mỹ tiến hành bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tuyên bố "Mỹ quan hệ với Việt Nam là vì quyền lợi của Mỹ và để chuyển hóa chế độ chính sách ở Việt Nam theo kiểu Đông Âu và Liên Xô cũ". Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Kissinger cho rằng "Những người cộng sản Việt Nam đã thắng trong chiến tranh, nhưng họ sẽ thua trong hòa bình, trước đây cộng sản dùng súng để đuổi người Mỹ ra khỏi Sài Gòn, ngày nay người Mỹ sẽ dùng dollar để đuổi cộng sản ra khỏi Sài Gòn. Chính phủ Hoa Kỳ đã chi mất 1.000 tỷ USD trong chiến tranh Việt Nam, bây giờ họ cũng không thể để cộng sản yên vị trên đất nước Việt Nam được". Âm mưu của Mỹ là sử dụng con đường ngắn nhất lôi kéo Việt Nam theo Mỹ, dùng chính trị để phát triển ảnh hưởng kinh tế, dùng kinh tế để chi phối sự lãnh đạo của Đảng CSVN, dùng quần chúng để làm tăng thêm sự đối lập của quần chúng với chính quyền và với Đảng. Với ý đồ đó, Mỹ và các thế lực thù địch đã thực hiện một loạt bước như ngoại giao thân thiện, chi phối đầu tư, khoét sâu nội bộ, viện trợ kinh tế, cấp học bổng cho học sinh, nghiên cứu sinh và nhận học sinh, nghiên cứu sinh sang Mỹ và các nước tư bản khác để tiếp cận, từng bước thực hiện âm mưu lũng đoạn nội bộ ta. Chúng ráo riết chống phá bằng mọi thủ đoạn vừa công khai, vừa bí mật, kết hợp bên trong và bên ngoài hòng làm thay đổi quan điểm, lập trường chính trị trong nội dung các văn kiện Đại hội Đảng, hòng làm cho Đảng ta suy yếu về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tạo nên và thúc đẩy nhanh quá trình tự diễn biến, làm xói mòn và mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng; làm suy yếu hệ thống lãnh đạo bằng cách loan tin bịa đặt có mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo cấp cao... Nhiều nội dung của tư tưởng đa nguyên, xóa bỏ độc quyền lãnh đạo đã được ráo riết tuyên truyền dưới nhiều hình thức để xâm nhập vào xã hội và nội bộ Đảng ta trong thời gian qua. Các đối tượng thù địch nước ngoài tiếp tục gia tăng chống phá, xuyên tạc nội dung nghị quyết, phá hoại quá trình thực hiện nghị quyết. Một số xu hướng mà các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện truyền bá những luận điệu sai trái: - Tấn công vào nền tảng tư tưởng của chúng ta - chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nhà tư tưởng chống cộng, chống CNXH phê phán, đả kích tới tấp vào CN Mác-Lênin hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của chúng ta và đẩy chúng ta đi chệch quỹ đạo của CNXH. Các thế lực thù địch tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Cộng sản như: du nhập CN Mác-Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì CN Mác-Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc. Họ còn cho rằng lý luận Mác-Lênin chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đấu tranh dân tộc thuần túy, không thể áp đặt mẫu học thuyết Mác-Lênin vào Việt Nam, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường; vì thế các đảng cánh tả và nhiều đảng cộng sản trên thế giới không coi chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng. Và họ đưa ra luận điệu rằng tại sao các nước theo chủ nghĩa Mác-Lênin chưa thể là nước phát triển, còn tất cả các nước phát triển trên thế giới hiện nay đều không tuân theo chủ nghĩa Mác-Lênin. - Phủ định nền tảng tư tưởng: phủ định học thuyết Mác-Lênin, cho là học thuyết Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, chỉ phù hợp với một chừng mực nào đó với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta, từ đó cho rằng CN Mác-Lênin lỗi thời ở Việt Nam. Gần đây chúng chuyển sang luận điệu "Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa, ngay cả các cán bộ cấp cao". Đồng thời chúng xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, đưa ra các luận điệu "đấu tranh giai cấp", "tập trung dân chủ" là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ, không phù hợp với xu thế thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển. - Phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" suốt mấy chục năm. Cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm phương tiện; đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử... - Phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng hình thái kinh tế xã hội chỉ là một lý thuyết về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được, sự sụp đổ CNXH ở Đông Âu, Liên Xô là một tất yếu, dự báo trước. Cho rằng, nhà tư bản bóc lột công nhân nào khi hiện nay các nhà máy, công xưởng toàn các rô bốt làm việc. Cho rằng CNXH đặt xã hội lên trên cá nhân chỉ là đề cao một số người đang nắm quyền trong xã hội đó. - Tấn công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng không thể làm trái qui luật bỏ qua chế độ tư bản vì hiện nay Việt Nam đang xây dựng và phát triển CNTB dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vậy nên, cần giải quyết các vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó, theo chủ nghĩa xã hội dân chủ là tốt nhất. Chúng cho rằng, kinh tế thị trường lại định hướng XHCN sẽ không thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, sẽ bị cô lập trên trường quốc tế. Chúng rêu rao: Đảng CSVN đã chọn con đường sai, không thể có CNXH. Không ít kẻ đã lớn tiếng rằng "CNXH chính là bước quá độ từ CNXH nghèo đói tiến tới CNTB, những ước mơ của CNXH thì chính CNTB đã thực hiện rồi, rằng người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở CNTB những lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề được đặt ra trong đời sống loài người. Tóm lại, người ta muốn nói những người Mác xít bàn về CNXH chẳng khác nào bàn về hư vô". - Tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, các thế lực thù địch đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa đảng. Các thế lực chống cộng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là vào nguyên tắc tập trung dân chủ. Bằng việc vu cáo Đảng CS chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị", thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân. Gần đây chúng đưa ra luận điệu mới rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Điều kiện hiện nay không còn phù hợp nữa để lực lượng khác mới đưa đất nước tiến lên. Một số người không phủ nhận hoàn toàn tính chất ưu việt của CNXH nhưng lại phê phán Mác về luận điểm đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, cho rằng những luận điểm này làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích thù hận, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên. Dựa vào một số "cải cách" ở các nước tư bản và nhất là dựa vào các mô hình xã hội - dân chủ Thụy Điển, Phần Lan, họ cho rằng từ CNTB tiến sang CNXH không nhất thiết phải thông qua cách mạng xã hội mà cứ để cho nó phát triển tự nhiên, thông qua việc mở rộng dân chủ, đấu tranh nghị trường để nhân dân tự lựa chọn chế độ chính trị mới. - Về sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân: chúng cho rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, những lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao, "lại được đào luyện trong một lôgíc chuyên chế bạo ngược", cho nên giỏi lắm cũng chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển. Họ lập luận: "... nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là "Người đào huyệt chôn CNTB" xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò lịch sử của mình? Đảng CSVN không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Vì thế nhiều cán bộ cao cấp của Đảng chỉ phấn đấu leo cao để tham nhũng, “lợi ích nhóm”. Với những điều kiện như trên, giai cấp công nhân và Đảng CSVN không thể lãnh đạo, xây dựng được CNXH đích thực ở Việt Nam..." v.v... và v.v... - Phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên CNXH, phê phán triệt để, bôi đen CNXH hiện thực, bác bỏ con đường XHCN, công khai ca ngợi con đường TBCN. Cho rằng "đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là chắp vá, không tưởng. Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN thì sẽ bị trả giá, tự giác thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn". Gần đây có luận điệu xảo quyệt, thâm độc hơn như "con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ TBCN theo định hướng XHCN, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập với nhau". - Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng CSVN và bôi nhọ lãnh đạo. Chúng lập luận, cho dù trong quá khứ có làm nhiều thành tích thì đến thời đại mới đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước. Phản bác quan điểm, cương lĩnh của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch đòi "từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ". - Chống phá nước ta về vấn đề nhân quyền. Một số nước Phương Tây đưa ra những chiêu bài "nhân quyền cao hơn chủ quyền, nhân quyền không biên giới, vấn đề nhân quyền về bản chất không còn được coi là công việc thuộc nội bộ của một quốc gia". Hơn nữa, họ còn nêu ra rằng cộng đồng quốc tế có quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia để bảo vệ nhân quyền và giải tỏa tai họa để can thiệp "nhân đạo". Ngay cả khi quan hệ Việt – Mỹ đã được nâng cấp thành quan hệ đối tác toàn diện, một số đối tượng trong chính quyền Mỹ vẫn công khai tuyên bố: "Vấn đề nhân quyền vẫn sẽ là trọng tâm của sự bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Sự khác biệt về nhân quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã cản trở mối giao hảo giữa hai nước và sự tiến bộ chậm chạp về nhân quyền đã làm tắc nghẽn sự phát triển của Việt Nam". Mục tiêu của các thế lực thù địch là tập trung hướng vào nội bộ ta, tìm mọi hình thức, tinh vi hoặc trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ không ổn định, luôn luôn gieo rắc ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ, lục đục nội bộ. Ví dụ các chiến dịch tung tin thường tập trung vào các kỳ đại hội, kỳ bầu cử Quốc hội nhằm mục đích kích động, chia rẽ nội bộ. Xuất hiện nhiều luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm như "Phe thân Mỹ sẽ thắng và phe thân Trung Quốc sẽ thua”. Theo số liệu thống kê hiện nay ở bên ngoài có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, mạng internet, 429 tờ báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản tập trung tuyên truyền chống phá ta. Hàng năm có hơn 3 nghìn tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng, 28 nghìn thư ân xá quốc tế xâm nhập, tán phát qua con đường bưu điện quốc tế dưới dạng quà cáp, và gần 11 nghìn ấn phẩm được đưa vào bằng nhiều con đường khác. Các đài phát thanh RFI, VOA, BBC liên tục phát những tài liệu, các cuộc phỏng vấn những phần tử người Việt lưu vong ở nước ngoài để cắt xén, thổi phồng, xuyên tạc một số sự kiện ở trong nước đưa lên mạng đang phát tán rộng rãi trong xã hội nhằm gây khó khăn cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội trước thời điểm Đại hội Đảng.

Không để những kẻ cơ hội, lươn lẹo chui vào bộ máy công quyền

Không ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đã ví những kẻ cơ hội chính trị như những “con lươn, con chạch”. Vì nói đến “con lươn, con chạch”, người ta hay liên tưởng đến những kẻ ra luồn vào cúi, sống lươn lẹo, uốn éo, thoắt ẩn thoắt hiện, khó nắm bắt như loài lươn, loài chạch. Một trong những biểu hiện tinh vi nhất của những kẻ cơ hội chính trị như “con lươn, con chạch” là thái độ “sống giả” để tạo ra uy tín giả vì mục đích háo danh, vụ lợi. Một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác chuẩn bị đại hội ở các tổ chức đảng là việc chuẩn bị nhân sự. Đại hội có thành công hay không, phụ thuộc một phần rất quan trọng vào công tác chuẩn bị, quy hoạch, sàng lọc nhân sự có chặt chẽ, chu đáo, chính xác hay không. Thời gian gần đây, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị yêu cầu tổ chức đảng các cấp cần phải làm thật tốt công tác chuẩn bị nhân sự ngay trước thềm đại hội. Một trong những nội dung các chỉ thị đề ra là các cấp ủy đương nhiệm phải chủ động sàng lọc, không để lọt vào cấp ủy khóa mới những kẻ cơ hội chính trị, lập trường thiếu vững vàng, thiếu quyết đoán, không có khí khái, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm. Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” nêu rõ: “Kiên quyết sàng lọc, không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, bè phái, cơ hội, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh”. Kết luận số 55-KL/TW ngày 15-8-2019 của Ban Bí thư “Về việc tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng”, trong đó cảnh báo một số nơi cấp ủy viên, ủy viên thường vụ, người đứng đầu cấp ủy còn đủ điều kiện tái cử có hiện tượng giữ mình, né tránh, ngại va chạm; đồng thời yêu cầu không đưa vào cấp ủy khóa mới những người có biểu hiện “thiếu tích cực trong công tác, sợ trách nhiệm, dĩ hòa vi quý”. Trước đó (tháng 11-2018), chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Dứt khoát không đưa vào quy hoạch nhiệm kỳ mới những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, mất đoàn kết, gây rối nội bộ, tham nhũng tiêu cực, cơ hội chính trị như “con lươn, con chạch”. Không ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta ví những kẻ cơ hội chính trị như những “con lươn, con chạch”. Một trong những biểu hiện tinh vi nhất của những kẻ cơ hội chính trị như “con lươn, con chạch” là thái độ “sống giả” để tạo ra uy tín giả vì mục đích háo danh, vụ lợi. Theo Từ điển tiếng Việt giải thích, “giả” không chỉ có nghĩa “không phải là thật”, mà “giả” còn bao hàm nhiều nghĩa như: Giống vật gì nhưng không phải mang bản chất của vật ấy; làm ra để thay thế một vật nào đó; làm giống như thật; bắt chước sự thật. Chung quy lại, giả đối lập với thật, là lợi dụng cái thật để làm y như thật nhằm che mắt, lừa dối thiên hạ vì mục đích hẹp hòi, nhỏ nhoi, không chính đáng. Ví như làm và bán hàng giả để kiếm lợi nhuận bất chính. Học hành giả nhằm nâng “khống” kiến thức với động cơ tiến thân không lành mạnh. Chứng chỉ giả nhằm hợp lý hóa trình độ nào đó hay “đánh bóng” lý lịch cá nhân hòng vụ lợi. Thật ra, cái giả nào cũng đáng quan ngại. Nhưng thời nay, có một thứ giả đáng quan ngại hơn chính là tình trạng “sống giả”. “Sống giả” không chỉ có nghĩa là sống không thật lòng mình, mà đó là kiểu cách sống bằng mọi giá để lấy lòng, mua chuộc người khác. Ở nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức hiện nay, “sống giả” được khoác lên bộ mặt không ít người. Những người “sống giả” có đặc điểm chung là, với cấp trên cái gì cũng phải, cũng đúng, cũng hay; với thủ trưởng thì bao giờ cũng nhẹ nhàng, mềm mỏng, nhũn nhặn “một dạ hai vâng”; với mọi người thì “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “gió chiều nào che chiều ấy”, “thấy xôi khen xôi ngọt, thấy thịt bảo thịt bùi”, lúc nào cũng ứng xử theo kiểu dĩ hòa vi quý để cố gắng không làm mất lòng, phật ý ai cả. Nhưng còn có một thứ “sống giả” tinh vi hơn, đấy là một số người ứng xử đến mức “siêu khéo”, luôn sử dụng những “lời có cánh”, những mỹ từ để khen ngợi người này, vuốt ve người khác, biết tận dụng thời cơ để cung kính cấp trên, chiều chuộng cấp dưới, “cưng nựng” đồng nghiệp. Cái sự “sống giả” này thấy rõ nhất ở một số người đang trong thời điểm chuẩn bị quy hoạch, chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm, chuẩn bị bầu cử, chuẩn bị đại hội, chuẩn bị bổ nhiệm chức vụ mới. Những người “sống giả” không dễ phát hiện như hàng giả, chứng chỉ giả, bằng cấp giả. Vì đó là những con người bằng xương bằng thịt hẳn hoi, đôi khi được “khoác” trên mình bằng diện mạo bóng bẩy hào hoa, nhưng họ nhũn nhặn thể hiện “cử chỉ giả” để làm xiêu lòng người khác. Ví như nụ cười họ tươi tắn, rực rỡ như những đóa hoa đang nở; giọng mềm như tơ lụa, lời ngọt như mía lùi, ánh mắt lại biết “đung đưa” đúng lúc, đúng chỗ và như có ma lực thôi miên vào từng đối tượng giao tiếp, ứng xử. Những người “sống giả” thường biết diễn giỏi, nói hay, lợi dụng tình cảm chân thành, hồn hậu của mọi người nhằm mua chuộc nhân tâm. Như vậy, “sống giả” cũng là một trong những hình thức tạo dựng uy tín giả cho cán bộ, đảng viên, một triệu chứng không thể xem thường trong bộ máy công quyền. Vì thực tế đã có những người tiến thân không phải do tài năng, đức độ, mà đi lên bằng cái “môi mỏng, lưỡi mềm” siêu đẳng của họ. Họ hiếm khi gây mất lòng ai, nhưng do tài cán có hạn, lại chỉ khư khư giữ mình vì ngại đụng chạm, ngại va vấp, ngại khuyết điểm, thế nên những người này thường không có chính kiến rõ ràng, không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm, nên không góp phần tạo ra động lực thúc đẩy, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc cho tập thể, cho bộ máy. “Sống giả” thực chất là cách sống chủ yếu chỉ vì lợi ích của mình mà không vì tập thể, vì mọi người, do đó, ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận động, phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Đấy là chưa kể có những người “sống giả” đến mức như một “diễn viên có hạng” trong giao tiếp ứng xử, họ sẵn sàng đổi màu như con tắc kè để mua vui người này, lấy lòng người khác nhằm mục tiêu tối thượng là “tăng phiếu, lên ghế” cho bản thân mình! “Sống giả” đâu đó vẫn hiện diện hằng ngày trên những khuôn mặt thật, song, nó lại được bao bọc tinh vi bởi những cái mặt nạ bóng bẩy hào hoa bên ngoài, thế nên nó rất dễ làm mập mờ, lẫn lộn ranh giới tốt-xấu, đúng-sai, hay-dở trong nội bộ và gây khó khăn thêm cho việc nhận định, đánh giá chuẩn mực nhân cách cán bộ, đảng viên. Châm ngôn có câu: “Lộng giả thành chân”, nó vừa có nghĩa “bỡn quá hóa thật”, vừa mang hàm ý những cái giả để lâu ngày nếu không được vạch mặt chỉ tên để uốn nắn, chấn chỉnh và loại trừ khỏi cuộc sống thì sẽ đến lúc người ta tin đó là sự thật. Nếu tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó mà cứ để cho tình trạng “sống giả” nhởn nhơ thì không chỉ làm tổn thương những nhân cách trung thực, phương hại những phẩm giá chân chính mà còn làm thui chột những cán bộ, đảng viên có động cơ phấn đấu lành mạnh. Hiện nay, các địa phương, các cơ quan, đơn vị đang khẩn trương, tích cực chuẩn bị các bước quy hoạch nhân sự chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Vì vậy, cấp ủy, ban thường vụ, người đứng đầu cấp ủy và các cơ quan chức năng giúp việc càng phải sớm nhận diện, phát hiện, thẩm định, sàng lọc chặt chẽ ngay từ đầu để ngăn chặn không cho những kẻ cơ hội như “con lươn, con chạch”, “sống giả” chui vào vị trí lãnh đạo các cấp. Làm được như vậy, chúng ta sẽ góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ./.

Hãy bày tỏ lòng yêu nước đúng cách

Trong mỗi người con dân đất Việt, hầu như ai cũng mang trong mình một tình yêu sâu sắc đối với quê hương, đất nước. Điều quan trọng là mỗi người cần thể hiện tình yêu nước sao cho đúng cách, đúng lương tâm trách nhiệm của một công dân chân chính. Thời gian qua, đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, lợi dụng lòng yêu nước nhưng nhận thức còn mơ hồ của một bộ phận người dân, một số đối tượng xấu đã lên mạng xã hội kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân xuống đường, biểu tình. Chưa dừng lại ở đó, những phần tử cơ hội chính trị, bất đồng chính kiến còn đưa ra cái gọi là “thông điệp mạnh mẽ của người dân lên án thái độ ươn hèn và phản ứng nhu nhược của Đảng, Nhà nước trước hành động ngang ngược vi phạm chủ quyền Việt Nam của Bắc Kinh”(!). Thực ra không phải bây giờ, mà những năm gần đây, lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ môi trường, các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã kích động một bộ phận người dân xuống đường biểu tình, tuần hành mà thực chất là nhằm gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân. Tháng 5-2014, lợi dụng việc Trung Quốc hạ giàn khoan dầu Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam, các phần tử xấu đã xúi giục, lôi kéo, kích động người dân, công nhân xuống đường đi tuần hành, biểu tình trái pháp luật. Một số người dân quá khích xông vào đập phá tài sản của một số doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, gây thiệt hại về kinh tế. Trước hết phải khẳng định rằng, việc Trung Quốc mới đây đưa tàu thuyền vào bãi Tư Chính thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế.

KHÔNG ĐỂ LÒNG YÊU NƯỚC BỊ LỢI DỤNG

Trước những vấn đề hệ trọng của đất nước, việc người dân bày tỏ quan điểm, thể hiện lòng yêu nước là rất đáng trân trọng. Chỉ đáng tiếc, trong khi đa số người dân đã thể hiện thái độ bình tĩnh, đúng mực, vẫn còn một số người do thiếu thông tin hoặc bị xúi giục, lôi kéo, kích động nên đã bị cuốn theo “tâm lý đám đông” tiêu cực, rồi bày tỏ lòng yêu nước thái quá, không phù hợp với lợi ích quốc gia dân tộc. Lòng yêu nước của nhân dân ta, như Bác Hồ từng khẳng định “đó là một truyền thống quý báu của ta”. Nhưng truyền thống quý báu đó chỉ thực sự phát huy tác dụng khi mỗi người dân thể hiện lòng yêu nước đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ; không có bất cứ thái độ, cử chỉ, hành vi nào làm tổn thương đến hình ảnh đất nước, phương hại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Người dân có lòng yêu nước chân chính không thể đi tuần hành rầm rộ gây cản trở giao thông, xông vào đập phá trụ sở chính quyền, ném gạch đá vào lực lượng công an đang thực thi nhiệm vụ, dọa “đốt” công ty… như từng xảy ra ở tỉnh Bình Thuận và một số địa phương phía Nam trong tháng 6-2018. Để lòng yêu nước chân chính của nhân dân không bị lợi dụng, các cấp ủy, chính quyền cần làm tốt hơn nữa công tác dân vận, tăng cường biểu dương, khen thưởng, nhân rộng gương người tốt, việc tốt; đồng thời, chú trọng nắm bắt dư luận xã hội để kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của dân. Hiện nay, trình độ dân trí ngày càng tăng, nhu cầu của các tầng lớp nhân dân cũng ngày càng cao và đa dạng. Sự bùng nổ thông tin, nhất là thông tin trên mạng xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm, lối sống, ứng xử… của các thành phần trong xã hội, nhất là giới trẻ. Điều này đặt ra yêu cầu, trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở phải chủ động, tăng cường gặp gỡ, đối thoại, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân để thu hẹp những khoảng cách bất đồng, tháo gỡ mâu thuẫn, tìm biện pháp giải quyết và bảo đảm lợi ích tối ưu cho người dân.

TỈNH TÁO TRƯỚC NHỮNG ÂM MƯU ĐEN TỐI CỦA CÁC PHẦN TỬ XẤU

Thời gian qua, đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, lợi dụng lòng yêu nước nhưng nhận thức còn mơ hồ của một bộ phận người dân, một số đối tượng xấu đã lên mạng xã hội kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân xuống đường, biểu tình. Chưa dừng lại ở đó, những phần tử cơ hội chính trị, bất đồng chính kiến còn đưa ra cái gọi là “thông điệp mạnh mẽ của người dân lên án thái độ ươn hèn và phản ứng nhu nhược của Đảng, Nhà nước trước hành động ngang ngược vi phạm chủ quyền Việt Nam của Bắc Kinh”(!). Thực ra không phải bây giờ, mà những năm gần đây, lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ môi trường, các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã kích động một bộ phận người dân xuống đường biểu tình, tuần hành mà thực chất là nhằm gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân. Tháng 5-2014, lợi dụng việc Trung Quốc hạ giàn khoan dầu Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam, các phần tử xấu đã xúi giục, lôi kéo, kích động người dân, công nhân xuống đường đi tuần hành, biểu tình trái pháp luật. Một số người dân quá khích xông vào đập phá tài sản của một số doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, gây thiệt hại về kinh tế. Trước hết phải khẳng định rằng, việc Trung Quốc mới đây đưa tàu thuyền vào bãi Tư Chính thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế.

Vắc xin đặc trị chống "chạy chức, chạy quyền"

“Chạy chức, chạy quyền” là một trong những tình trạng bổ nhiệm chức vụ/quyền hạn cho những cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện. Đó có thể là người thân, họ hàng, cùng cánh hẩu, cùng quê, "đệ tử"... được giấu dưới vỏ bọc “đúng quy trình”, “đúng quy định”. Vấn nạn này ngày càng trở nên ung nhọt, phổ biến không chỉ gây nhiều hệ lụy trong công tác cán bộ, gây bức xúc trong dư luận xã hội mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, đòi hỏi cần phải có vắc xin đặc trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[1], vì “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” và Người cũng nhấn mạnh rằng, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[2]. Thấm nhuần những chỉ dẫn của Người, trong 89 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác cán bộ, xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ có đức có tài, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Tuy nhiên, thực tế công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, công tác cán bộ nói riêng (bao gồm lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo...) đã cho thấy, một trong những vấn nạn nhức nhối, nổi cộm hiện nay, được đề cập trong các văn kiện Đại hội của Đảng, trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng chính là “chạy chức, chạy quyền”. Thông qua “chạy”, những kẻ cơ hội, đầu cơ chính trị đã chui sâu, leo cao vào các vị trí chủ chốt trong tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Những năm gần đây, thông tin về việc những quan chức lạm dụng chức vụ/quyền hạn được giao đã kéo bè, kéo cánh, đưa người thân, cánh hẩu vào giữ các vị trí tại các cơ quan công quyền, tạo tiền đề hình thành “nhóm lợi ích” cho thấy, câu chuyện cả nhà làm quan, cả họ làm quan như vưa, như chúa ở mỗi địa phương đã không còn là hiện tượng đơn lẻ. Vấn nạn này xảy ra, trải dài từ Bắc vào Nam: Hà Giang, Mỹ Đức (Hà Nội), An Dương (Hải Phòng), Kim Thành (Hải Dương), Bắc Ninh, Quảng Trạch (Quảng Bình), Hiệp Đức (Quảng Nam), Bình Định, Cần Thơ,v.v.. dẫn đến tình trạng một gia đình, một dòng họ “cát cứ”, “thao túng”, “chi phối” công tác cán bộ nói riêng, quyền lực chính trị, kinh tế của địa phương nói chung, gây bức xúc trong nhân dân. Có thể nói, “chạy chức, chạy quyền” là "điển hình phản cảm" của việc vi phạm các chuẩn mực đạo đức của người cách mạng, đe dọa trật tự kỷ cương, luật pháp, để lại những hệ lụy tiêu cực về kinh tế, chính trị, xã hội nặng nề; làm băng hoại cả nền tảng đạo đức xã hội. Việc “sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”[3] trong công tác cán bộ là những biểu hiện cụ thể, phản ánh sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của những người “chạy” và cả người được “chạy”. Một mặt, “chạy chức, chạy quyền" là sự tha hóa quyền lực, tạo ra lỗ hổng, khiếm khuyết trong công tác cán bộ, gây mất đoàn kết nội bộ, làm triệt tiêu động lực phấn đấu của những người chính trực, gây tâm tư trong công tác tư tưởng, công tác cán bộ; mặt khác, tạo “hiệu ứng cần chạy, phải chạy” trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương để được lên chức ở Trung ương và địa phương. Soi rọi theo 23 điều Hồ Chí Minh yêu cầu về “Tư cách người cách mệnh” (tác phẩm Đường Cách mệnh, năm 1927), có thể thấy, những người tham gia “chạy chức, chạy quyền” và những người giúp cho việc vận hành “chạy chức, chạy quyền” được hanh thông chính là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cả tư tưởng và hành động. Đó là những người đã không rèn luyện đạo đức cách mạng theo đúng những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, không làm trọn lời thề đảng viên, không phụng Tổ quốc và nhân dân như khi tuyên thệ. Cụ thể: 1) Họ đã không “tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại. Chịu khó. Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật"[4]. Bởi vì “chạy”, cho nên họ không phải trải qua quá trình rèn luyện đạo đức cách mạng, không phải bền gan phấn đấu, tu dưỡng mà đã được sớm cất nhắc, bổ nhiệm. Bởi vì sớm có được chức vụ/quyền hạn dễ dàng nên họ đã "dương dương tự đắc", tự cao, tự đại, tự mãn với những gì mình đang có, để rồi sa vào cá nhân chủ nghĩa, tiếp tục tạo điều kiện, tiếp tay cho những kẻ “như mình, giống mình” chạy tiếp vào các vị trí khác. 2) Họ đã không “đối người phải: “Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người”[5], vì, chức vụ/quyền hạn hiện có là do được nâng đỡ, cất nhắc bởi “chạy”, nên phần thì họ không đủ năng lực, trình độ đảm đương công việc; phần thì do “mặc chiếc áo quá rộng”, có chức, có quyền quá dễ dàng nên không thể nghiêm cẩn trong công việc, càng không thể “có lòng bày vẽ cho người”. Vì năng lực có hạn, lại lộng quyền, lạm quyền nên trong thực thi công vụ thì quan liêu, tham ô, tham nhũng, vòi vĩnh, gây bức xúc trong xã hội và trong quan hệ ứng xử với đồng nghiệp thì “nịnh trên, nạt dưới”, làm mất lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, vào công tác cán bộ. 3) Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và cả tổ chức thực hiện, những kẻ do “chạy” được chức, quyền cũng không có tinh thần và phương pháp “làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”[6]. Đó là những người không chỉ coi thường tổ chức, Điều lệ Đảng, pháp luật, công khai vi phạm các nguyên tắc tổ chức, làm suy yếu tổ chức đảng, mất uy tín của tập thể, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ mà còn trở thành nhân tố gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, dẫn đến thao túng bộ máy lãnh đạo, thao túng công tác cán bộ. Với họ, những kẻ cơ hội, chăm lo đầu tư quan hệ để lấy lòng cấp trên, a dua theo bất cứ điều gì cấp trên nói, làm theo chỉ đạo của cấp trên... thì sẽ được cất nhắc, bổ nhiệm; còn những người có năng lực và đạo đức, nhưng liêm chính, không chịu cúi luồn, không cùng phe cánh “sẽ trượt từ vòng quy hoạch”. Điều 10. Hành vi chạy chức, chạy quyền 1. Tiếp cận, thiết lập quan hệ, hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm mục đích có được vị trí, chức vụ, quyền lợi. 2. Tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, nhất là các dịp lễ tết, sinh nhật và các cơ hội khác, sử dụng danh nghĩa tình cảm cá nhân hoặc danh nghĩa tổ chức, cơ quan, đơn vị, cá nhân khác để tặng quà, tiền, bất động sản, sắp xếp các hoạt động vui chơi, giải trí cho cán bộ lãnh đạo, người có thẩm quyền hoặc người có liên quan nhằm mục đích được sự ủng hộ, tín nhiệm, được vị trí, chức vụ, quyền lợi. 3. Lợi dụng các mối quan hệ thân quen hoặc sử dụng lợi thế, vị trí công tác, uy tín của người khác để tác động, tranh thủ, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, bổ nhiệm mình hoặc người khác, "cánh hẩu" vào vị trí, chức vụ theo ý đồ cá nhân hoặc một nhóm người. 4. Lợi dụng việc nắm được thông tin nội bộ hoặc thông tin bất lợi của tổ chức, cá nhân để đặt điều kiện, gây sức ép đối với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, đề cử, bổ nhiệm mình. 5. Dùng lý lịch, xuất thân gia đình, thành tích công tác của bản thân để mặc cả, cài đặt điều kiện, đòi hỏi vô lý đối với tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm nhằm có được vị trí, chức vụ, quyền lợi. 6. Sử dụng các hành vi tiêu cực khác nhằm có được vị trí, chức vụ, quyền lợi. Điều 11. Hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền 1. Biết nhân sự có hành vi chạy chức, chạy quyền nhưng che giấu, thỏa hiệp, không xử lý theo thẩm quyền hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý. 2. Không xử lý theo thẩm quyền quy định hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý khi nhận được đơn, thư phản ánh, tố cáo nhân sự có hành vi chạy chức, chạy quyền. 3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người khác quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự theo ý mình. 4. Xác nhận, chứng thực, nhận xét, đánh giá không đúng sự thật hoặc làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ nhân sự, kết quả bầu cử, lấy phiếu giới thiệu, phiếu tín nhiệm, thi tuyển nhằm có lợi cho nhân sự hoặc để đạt mục đích cá nhân. 5. Trì hoãn, không thực hiện khi thấy bất lợi hoặc chọn thời điểm có lợi đối với nhân sự theo ý mình để thực hiện quy trình công tác cán bộ. 6. Trực tiếp hoặc gián tiếp nhận hối lộ nhằm giúp cho người khác có được vị trí, chức vụ, quyền lợi không chính đáng. 7. Trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ, môi giới cho nhân sự thực hiện các hành vi chạy chức, chạy quyền nêu tại Điều 10 Quy định này. 8. Các hành vi khác nhằm bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. (Quy định số 205-QÐ/TW ngày 23/9/2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”) Tệ nạn này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo rất sớm, trong một số bài viết ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và sau này. Tuy nhiên, ung nhọt này dường như chưa có “kháng sinh” đặc trị. Cùng với thời gian Đảng cầm quyền, vấn nạn này ngày càng “lở loét”, “lan nhanh” dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “là con đẻ” của “chạy chức, chạy quyền” đã mặc nhiên coi “chạy” là con đường tiến thân hiệu quả nhất, để rồi “lan vòi bạch tuộc” của mình, tiếp tục dung dưỡng, bảo kê cho những người có “nhu cầu chạy” đến được với những người “cần phải chạy”, để tạo thành đường dây, phong trào “chạy chức, chạy quyền”. Sự “chạy” này vừa vô tình, vừa hữu ý đã làm cho bệnh cậy quyền, ỷ thế, độc đoán, chuyên quyền, tham lam, địa phương chủ nghĩa, tư túng, kéo bè kéo cánh, nể nang, óc hẹp hòi… trong đội ngũ cán bộ chủ chốt không bị ngăn chặn, kiểm soát kịp thời; làm cho công tác cán bộ trở nên bị động, bị vô hiệu hóa, hình thức; làm cho trong nội bộ thì "im ắng", bên ngoài thì "thậm thà thậm thụt"... Hệ quả của nó là, nạn “chạy chức, chạy quyền” diễn ra trong tất cả các khâu của công tác cán bộ: chạy tuổi, chạy vào quy hoạch, chạy để được bổ nhiệm, chạy để được luân chuyển, v.v.., tạo thành một “làn sóng” khi trầm khi bổng, nhưng rõ nét nhất, sôi động nhất là trước mỗi kỳ đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. “Chạy chức, chạy quyền” không chỉ tạo ra một tiền lệ xấu trong công tác cán bộ, làm cho những người làm việc nghiêm túc, nỗ lực trau dồi về mọi mặt và thành tâm phấn đấu cũng dần tự ti vào năng lực bản thân, rồi “nhìn gương” đó để phát sinh tính láu cá, cơ hội, đầu cơ chính trị... mà còn làm mất uy tín của Đảng, suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng cầm quyền và chế độ. Ung nhọt và căn bệnh trầm kha này đã được Đại hội XII của Đảng chỉ ra: “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp... chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”[7], được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trăn trở, nhấn mạnh tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018 của ngành tổ chức xây dựng Đảng ngày 19/1/2018: “Chạy chức, chạy quyền, tệ tham nhũng đã chi phối tới nhiều khâu trong công tác cán bộ, từ lựa chọn đối tượng đưa đi đào tạo, bồi dưỡng, đến quy hoạch, luân chuyển, đánh giá, bổ nhiệm, nên mới “có hiện tượng đề bạt, cất nhắc nhiều người nhà, người thân quen mặc dù không đủ tiêu chuẩn? Vì sao cứ nói bổ nhiệm đúng quy trình nhưng kết quả thực tế bố trí cán bộ lại là sai?”.