Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Nói một đằng, làm một nẻo

Nhiều năm qua, dưới chiêu bài dân chủ và nhân quyền, một tổ chức có tên là “Ân xá quốc tế” (AI - Amnesty International) đã thường xuyên đưa ra nhiều đánh giá phiến diện, bóp méo sự thật, có tính chất kích động, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ và trực tiếp đe dọa tới an ninh của các quốc gia mà tổ chức này nhắm đến. Bất chấp sự bác bỏ, phản đối của các nước, phải đối diện rất nhiều ý kiến phê phán của chính giới và báo chí, nhưng đến nay, AI vẫn chưa từ bỏ hành vi sai trái, thiếu thiện chí và mục đích đen tối này. Là tổ chức phi chính phủ (NGO) do luật sư người Anh là P.Benenson (P.Ben-nơ-sân) thành lập năm 1961, AI không giấu giếm tham vọng khi xác định mục tiêu hoạt động như: giải phóng mọi tù nhân lương tâm; bảo đảm các phiên tòa diễn ra công khai và công bằng; giúp đỡ những người tìm chỗ nương náu chính trị; hợp tác với các tổ chức cùng mục đích nhằm chấm dứt vi phạm nhân quyền… Để thỏa mãn tham vọng, AI vươn cánh tay tới hầu hết các quốc gia trên thế giới. Và trong quá trình đó, “tù nhân lương tâm” là yếu tố thường xuyên được sử dụng làm khái niệm công cụ để bao biện, bảo vệ một số người vi phạm luật pháp ở các quốc gia. Theo trả lời phỏng vấn trên RFA ngày 12/3/2019 của Nguyễn Trường Sơn - được giới thiệu “hiện là người làm chiến dịch cho AI ở Cam-pu-chia, Việt Nam”, thì “thuật ngữ tù nhân lương tâm được tạo ra từ chính tổ chức AI”, bởi “Trước khi thuật ngữ tù nhân lương tâm được sử dụng thì trước đây người ta thường sử dụng thuật ngữ tù nhân chính trị. Tuy nhiên AI nhận thấy có rất nhiều người, người ta không hề hoạt động chính trị, mà chỉ đơn thuần thực hiện các quyền con người cơ bản của mình, hoặc các quyền công dân của mình, vì thế mà họ phải chịu cảnh tù đày, bắt bớ, đàn áp. Những người như vậy nếu xét theo tiêu chuẩn của một tù nhân chính trị thì không phải, cho nên AI đã nghĩ ra một khái niệm mới, đó là tù nhân lương tâm”. “Nghĩ ra một khái niệm mới” rồi yêu cầu các quốc gia phải tuân theo, cũng như bằng nội hàm của “khái niệm mới” này có thể thấy dường như qua đó AI muốn xóa nhòa ranh giới giữa hành vi phạm tội phải xử lý theo pháp luật tại các quốc gia với quan điểm quy chuẩn riêng, theo cách nghĩ, đánh giá của mình. Chưa kể, bằng việc “nghĩ ra” và sử dụng một khái niệm rất mơ hồ, phải chăng AI đã tìm thấy phương cách hữu hiệu để dễ bề biện hộ cho hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia không chịu nằm trong sự chi phối của những thế lực đã và đang dung túng các hoạt động của AI. Dù bản chất hành động của những người được AI bảo vệ còn là vấn đề gây tranh cãi, nhưng cần phải thấy rằng, trong nhiều văn bản luật quốc tế cũng như văn bản pháp luật của các quốc gia, không hề có mặt “khái niệm mới” do AI chế tạo. Có thể nói, với tham vọng “một mình một đường”, dường như AI muốn áp đặt “luật chơi riêng” của mình lên cả thế giới. Với cách hành xử áp đặt như vậy, AI đã tự cấp cho mình “quyền” đứng trên luật pháp của các quốc gia; bởi trên thế giới ngày nay, theo nguyên tắc pháp quyền, các quốc gia có chủ quyền, có hệ thống pháp luật riêng thì mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu trách nhiệm tuân thủ và chấp hành trước pháp luật, bất luận đó là ai, tổ chức nào. Các năm qua, vì bất bình trước lối hành xử bất chấp pháp luật của AI, rất nhiều quốc gia, tổ chức đã lên tiếng phản đối các cáo buộc thiếu căn cứ, phiến diện, cũng như không chấp nhận việc AI đã phớt lờ các mối đe dọa đến an ninh quốc gia từ những tổ chức, cá nhân vẫn được AI bao bọc trong tấm áo mỹ miều được gọi là “tù nhân lương tâm”. Tiêu biểu như ngày 24/2/2016, Bộ Ngoại giao Thái Lan phủ nhận “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới 2015-2016” của AI, coi đây là một báo cáo “không cân bằng”, “không xét đến bối cảnh đặc biệt” của tình hình nước này, đồng thời khẳng định báo cáo đã “phớt lờ các thách thức dai dẳng mà Thái Lan đang đối mặt, đó là nhu cầu cần phải có sự cân bằng giữa quyền tự do tụ tập và tự do bày tỏ quan điểm trong khi phải ngăn chặn các xung đột chính trị tái diễn...; không phản ánh các tiến triển tích cực xuất phát từ nỗ lực thực sự của Chính phủ Thái Lan để cải thiện nhân quyền”. Hay năm 2017, Chính phủ Syria cũng đã bác bỏ chiến dịch của AI cáo buộc quốc gia này đã tra tấn, sát hại 13.000 người trong một nhà tù, đồng thời khẳng định những cáo buộc của AI là muốn làm tổn hại danh tiếng của Syria trên thế giới. Đồng thời hàng loạt quốc gia khác như Nga, Cộng hòa Dân chủ Công-gô, Trung Quốc,... cũng đã từng lên tiếng phê phán AI thiên vị và thân phương Tây. Phớt lờ thành tựu của nhiều quốc gia trong vấn đề nhân quyền, tự cấp cho mình quyền phê phán, lên án các quốc gia về nhân quyền nhưng bản thân AI trên thực tế lại không hề là địa chỉ tin cậy trong hoạt động bảo vệ nhân quyền ngay từ chính nội bộ của họ. Các bất ổn trong nội bộ AI là thực tế mà tổ chức này đang phải đối mặt, với nhiều cáo buộc nghiêm trọng. Năm 2002, cuộc trò chuyện giữa nhà báo D. Bernstein (D. Bơn-tên) với luật sư F.Boyle (F.Boi-lơ), một cựu thành viên ủy ban điều hành AI ở Mỹ, đăng trên globalpolicy.org ngày 13/6/2002 với tiêu đề “Được ân xá quốc tế?” đã phơi bày thực trạng đáng xấu hổ trong bộ máy của AI. Theo luật sư F.Boyle thì: “AI chủ yếu được thúc đẩy không phải vì quyền con người mà bởi sự công khai. Thứ hai đến tiền. Thứ ba đến nhận được nhiều thành viên hơn. Thứ tư, trận chiến “sân cỏ nội bộ”. Và cuối cùng mới là quyền con người”. F. Boyle cũng thẳng thắn chỉ ra rằng dù vậy, AI lại hết sức kiêu ngạo: “Chúng tôi là tổ chức Ân xá quốc tế. Chúng tôi là tổ chức nhân quyền lớn nhất và quyền lực nhất thế giới. Chúng tôi đã giành Giải thưởng Nobel Hòa bình cho công việc của mình. Vì vậy, chúng tôi làm bất cứ điều gì chúng tôi muốn”! Trước đó, tại Hội nghị hội đồng quốc tế của AI tổ chức tại Dakar (Đắc-ka, Sê-nê-gan) tháng 8/2001, chứng kiến việc AI mở rộng nhiệm vụ bao gồm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã được thông qua, một số thành viên AI đã bày tỏ lo ngại rằng “AI đang mất đi hình ảnh đặc trưng và mở rộng lĩnh vực hoạt động quá lớn. AI có thể biến thành một “cửa hàng tạp hóa nhân quyền” và mất uy tín”. Đáng chú ý mới đây, ngày 26/2/2019 tờ Tagesspiegel (Tấm gương hằng ngày) đã đăng bài “Môi trường làm việc độc hại - Tổ chức Ân xá quốc tế bị cáo buộc điều gì” cho biết: Ngày 31/1/2019, công ty tư vấn quốc tế KonTerra Group tại Washington (Oa-sinh-tơn) công bố một báo cáo về việc lạm dụng nội bộ tại AI. Ngay sau đó, ngày 28/2/2019, trên trang mạng epochtimes.de (tiếng Đức) xuất hiện bài viết đáng chú ý có tiêu đề “Lòng căm thù con người sâu sắc: Tổ chức Ân xá quốc tế bị chỉ trích sau các tiết lộ về bầu không khí làm việc”. Bài viết có đoạn: “Trong khi tổ chức này giương cao biểu ngữ “nhân quyền”, cáo buộc các chính phủ trên thế giới có hành vi vô nhân đạo, thì người ta nói rằng, AI đã vận hành và dung túng cách tiếp cận thô lỗ đối với nhân viên của mình. Sự việc được phanh phui bởi báo cáo “Đánh giá phúc lợi của nhân viên” ngày 31/1/2019. Báo cáo cho biết, có một “môi trường làm việc độc hại” trong AI và không chỉ gần đây, mà đã qua nhiều năm và nhiều thập kỷ. “Bắt nạt, căng thẳng và liều lĩnh” được cho là cuộc sống hằng ngày trong AI. Khi có sự tái cấu trúc lớn tổ chức vào năm 2018, hai vụ tự tử đã xảy ra trong AI, ít nhất là vụ việc của G.Mootoo (G.Mô-tu), cộng tác viên 30 năm của AI, có thể liên quan trực tiếp đến các điều kiện nội bộ. G.Mootoo, người tự kết liễu đời mình vào ngày 25/5 tại văn phòng Paris (Pa-ri, Pháp), đã viết trong một lá thư từ biệt “áp lực công việc không chịu nổi”... Trong vài thập kỷ qua, đã có sự chỉ trích ngày càng tăng đối với hoạt động của AI vì cáo buộc tổ chức này thiên vị, và trên hết là theo đuổi một sự mở rộng độc đoán, thúc đẩy ý thức hệ của khái niệm nhân quyền”. Trong một diễn biến khác cũng liên quan đến sự việc trên, tháng 2/2019, nhóm quản lý của AI đã đề nghị từ chức sau khi một báo cáo độc lập tìm thấy cái gọi là “văn hóa độc hại” tại chính tổ chức này, biểu hiện bằng tình trạng chèn ép tại nơi làm việc, quấy rối, phân biệt giới tính, phân biệt chủng tộc... Báo cáo cũng cho biết những nỗ lực của AI để giải quyết các vấn đề của mình là “không liên quan, không phản ứng, không nhất quán”. Nhiều nhân viên đã mô tả đội ngũ lãnh đạo cấp cao của AI là không làm việc, bất tài và nhẫn tâm. Trong số người ký thư đề nghị từ chức đáng chú ý có: giám đốc nghiên cứu cao cấp, văn phòng tổng thư ký, nhóm gây quỹ toàn cầu, các thành viên phụ trách mảng luật pháp, chính sách, chiến dịch truyền thông... Tổng Thư ký AI K.Naidoo (K.Nêi-đô) phải thừa nhận rằng ông có thể không chấp nhận tất cả các đề nghị từ chức, ưu tiên của ông là xây dựng lại niềm tin ở AI mới là điều cần thiết hơn bao giờ hết. Đây không phải là vấn đề gì mới với AI. Vì trước đó, AI đã từng lâm vào một khủng hoảng chưa từng có. Cụ thể cuối năm 2012, các điều kiện làm việc tồi tệ đã dẫn đến các cuộc đình công ngay tại văn phòng của AI ở London và khu vực Vương quốc Anh. Các báo cáo nội bộ của AI buộc phải thừa nhận ở một số khu vực, nhất là ở Mỹ, tổ chức này đã mất ảnh hưởng cùng với một số lượng thành viên đáng kể. Một nghiên cứu của NGO Monitor chỉ ra cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ một số vấn đề cơ cấu, gồm khuynh hướng tư tưởng hậu thực dân nhất quán, thiếu uy tín trong các báo cáo nghiên cứu, không nhất quán về đạo đức, bất ổn tài chính và tham nhũng, không hành động một cách minh bạch giữa văn phòng Luân Đôn với các bộ phận quốc gia quan trọng (đặc biệt là ở Mỹ)... Đáng nói, dù đã được chỉ ra, những bất ổn đã không hề được AI giải quyết. Từ hiện trạng kể trên, có thể thấy rõ rằng, hoạt động của AI không thực tâm hướng tới nhân quyền. Về thực chất, nhân quyền chỉ là bình phong, là nhãn hiệu AI tự gắn lên mình và dựa vào đó để đưa ra các cáo buộc tùy tiện, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nhiều quốc gia nhằm thực hiện mục đích riêng của mình. Sự tùy tiện ấy thể hiện rõ ngay từ chính nội bộ của AI, mà hệ lụy là AI vi phạm nhân quyền ngay cả với thành viên của mình. Bởi vậy, nếu thực sự hoạt động vì nhân quyền, lớn tiếng phán xét người khác, trước hết AI nên tự xem xét ngay từ chính tổ chức của mình để chấn chỉnh cả về quan niệm, mục đích... lẫn công việc nội bộ.

Cảnh giác với những lời lẽ lu loa, tâm địa đen tối

Xưa nay, khi nói đến những kẻ "tiền hậu bất nhất", ngoài miệng thì nói lời từ bi, hiền lành nhưng trong lòng lại bạc ác, nham hiểm, dân gian có câu “khẩu phật tâm xà”, hay “miệng nam mô, bụng một bồ dao găm”. Thời nay, trên không gian ảo lại xuất hiện những đối tượng không chỉ có lời lẽ lu loa mà tâm địa còn chứa đựng “nọc rắn độc” rất nguy hại. Đó chính là một số đối tượng lợi dụng vụ việc xảy ra ở chùa Ba Vàng (TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) để phỉ báng Phật giáo, xuyên tạc sự thật tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề chính trị nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trong lịch sử tôn giáo Việt Nam, Phật giáo gắn bó lâu đời với dân tộc, con người Việt Nam và có nhiều đóng góp tích cực vào việc xây dựng nền tảng văn hóa, đạo đức tốt đẹp cho xã hội và góp phần củng cố, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, vụ việc lợi dụng hoạt động tôn giáo để truyền bá mê tín dị đoan và trục lợi ở chùa Ba Vàng vừa qua là một điều đáng tiếc. Thực tế cho thấy, nghi thức “thỉnh vong”, “cúng oan gia trái chủ” do một vài cá nhân duy trì tổ chức trong thời gian qua ở chùa Ba Vàng là sai cả về giáo lý, đạo lý, không phù hợp với truyền thống văn hóa tôn giáo tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Liên quan đến vụ việc, chính quyền TP Uông Bí đã tạm dừng các hoạt động sai trái này. Cá nhân sai phạm bước đầu bị xử phạt vì vi phạm nếp sống văn hóa và đối tượng này đang bị cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, sớm đưa ra kết luận những sai phạm để có hình thức xử phạt phù hợp, đúng luật. Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam khu vực phía Bắc cũng đề xuất tạm đình chỉ mọi chức vụ đối với cá nhân trụ trì chùa Ba Vàng. Việc xử lý bước đầu đối với cá nhân liên quan đến sai phạm ở chùa Ba Vàng là hoàn toàn có cơ sở. Vì một trong những nội dung của Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có quy định nghiêm cấm hành vi “Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”. Đông đảo tăng ni, phật tử cả nước và dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ với sự vào cuộc kịp thời, khẩn trương, nghiêm túc của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng và Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sự thật rõ ràng, minh bạch là vậy. Thế nhưng, lợi dụng mạng xã hội, một số kẻ có thái độ thâm thù với chính quyền, chế độ nhân cơ hội này đưa ra những thông tin, bình luận lệch lạc, xảo trá. Các đối tượng không chỉ cho rằng “nguồn cơn của sự tha hóa và biến tướng trong Phật giáo là do chính quyền Hà Nội thao túng Phật giáo” (!); “đó là điều tất yếu xảy ra và không bao giờ dừng lại” vì “chế độ độc đảng hiện hành” (!); mà có kẻ lại “làm thơ” với những câu từ trơ trẽn, đơm đặt và kích động. Không cần bình luận thêm, bởi bản thân những lời lẽ trên đã lộ rõ chân tướng của những kẻ “ngồi lê mách lẻo” bên bàn phím, hằng ngày hằng giờ chỉ biết mải mê tìm kiếm một số thông tin bất cập, tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội rồi quy chụp mọi điều xấu xa, tội lỗi đều do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra! Cái trò gian giảo, “gắp lửa bỏ tay người” này tuy không mới, nhưng luôn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, chứng tỏ âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, phản động ngày càng quyết liệt. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng chính đáng của người dân, giữ gìn thanh danh của đạo Phật Thực ra không phải bây giờ mà từ lâu các thế lực thù địch, phản động luôn coi vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những trọng điểm của âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, khi có điều gì đó liên quan đến các tôn giáo, các đối tượng luôn tìm mọi cách để biến “đốm lửa nhỏ” thành “ngọn lửa to” nhằm thu hút sự quan tâm của một số cơ quan, tổ chức, lực lượng vốn không có thiện chí với Việt Nam để cùng nhau “đồng thanh tương ứng” xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Mặc dù vụ việc xảy ra ở chùa Ba Vàng là do bản thân một số người lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan, trục lợi chứ không phải do sự tác động của chính quyền; nhưng do sự hiềm khích với chính quyền đã “ăn sâu” vào máu của những kẻ chống phá nên chúng chẳng tìm ra được căn cứ, bằng chứng gì thì cứ nói theo kiểu “lấp liếm, lu loa” để đánh lạc hướng dư luận và làm “mồi nhử, thả thính” đối với người nhẹ dạ cả tin! Do vậy, thủ đoạn này không thể xem thường. Đảng, Nhà nước Việt Nam nhiều lần khẳng định, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước không chỉ tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; mà còn luôn tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng. Đồng thời, pháp luật cũng nghiêm cấm mọi hành vi xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đi đôi với tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức tôn giáo trong nước hoạt động đúng giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tổ chức và trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật, là điều bình thường đối với bất cứ nhà nước, chính quyền nào. Mỗi người thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền với thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội của công dân. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, những năm qua, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều có tinh thần dân tộc, yêu nước, gắn bó với Tổ quốc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đạo và đời, giữa giáo lý, giáo luật và pháp luật. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, Phật giáo Việt Nam nói chung và Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng đã có nhiều đóng góp về mặt văn hóa cho xã hội. Tuy Phật giáo không thể làm thay các chức năng thuộc về thể chế xã hội, nhưng có thể góp phần điều chỉnh khả năng nhận thức, khuyến khích điều thiện và ngăn chặn cái ác, lòng tham, qua đó góp phần xây dựng nền tảng đạo đức xã hội lành mạnh. Với tinh thần từ bi hỉ xả, khuyến khích sự hài hòa, bình đẳng và phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, Phật giáo Việt Nam đã góp phần khơi dậy và phát huy tinh thần khoan dung, dân chủ, yêu nước thương nòi, động viên mọi người cùng chung tay xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thực hiện phương châm “Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa xã hội”, các tăng ni, phật tử đã có nhiều hoạt động thiện nguyện, nhân văn để góp phần làm đẹp thêm cuộc sống, xã hội. Được biết, hiện nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 46 trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi với 1.330 trẻ em và 160 bảo mẫu; 15 trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn với 576 cụ được chăm sóc; 33 phòng khám Đông y với 206 lương y tham gia cộng tác và 10 phòng khám Tây y có với 40 bác sĩ tham gia cộng tác để khám, chữa bệnh và phát thuốc miễn phí cho người dân nghèo. Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp cũng như những việc làm thiện nguyện, vì cộng đồng mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các tăng ni, phật tử và cơ sở Phật giáo trên khắp mọi miền đất nước đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ghi nhận, đánh giá cao. Điều này thêm một lần minh chứng sinh động về việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, phát huy những giá trị nhân văn của các tôn giáo, trong đó có Phật giáo để góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Thế nên, lợi dụng vụ việc sai phạm xảy ra trong hoạt động tôn giáo của một ngôi chùa để bôi nhọ hình ảnh Phật giáo Việt Nam là một hành vi xúc phạm đến giới tăng ni, phật tử cả nước, xúc phạm đến niềm tin thiêng liêng của người dân Việt Nam vào giá trị nhân văn của đạo Phật, xúc phạm đến sự đóng góp nhiều mặt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với xã hội, đất nước. Cũng cần nhắc lại rằng, việc chính quyền, cơ quan chức năng vào cuộc xử lý kịp thời vụ việc sai phạm xảy ra trong hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm cho mọi hoạt động, sinh hoạt của tôn giáo phù hợp với giáo lý, giáo luật và pháp luật, qua đó góp phần giữ gìn thanh danh của mỗi tôn giáo trong xã hội.

XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI PHẢI BẮT NGUỒN TỪ SỨC MẠNH CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN

 

Chúng ta phải nhận thức rằng cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển. Vì thế mối quan hệ máu thịt với nhân dân được Đảng ta xác định rõ và không ngừng củng cố./.

Từ đánh tráo khái niệm đến can thiệp thô bạo

Với mục đích đen tối và những toan tính cá nhân nhiều năm qua, các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam, đã a dua tung hứng và sử dụng “tù nhân lương tâm” của “Ân xá quốc tế” (AI - Amnesty International) như một cơ sở để đưa ra đòi hỏi phi lý, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vậy số người được AI gắn nhãn hiệu “tù nhân lương tâm” là ai? Đã nhiều năm, trong các loại tuyên bố, phúc trình, báo cáo và phát ngôn, trả lời phỏng vấn,... của một số tổ chức, cá nhân, thậm chí một số chính phủ, về vấn đề nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam, khái niệm “tù nhân lương tâm” được sử dụng như một cơ sở pháp lý nhằm hướng đến mục đích duy nhất là biện hộ cho một số người ở Việt Nam có hành vi vi phạm pháp luật và đã bị tòa án nhân dân (TAND) xét xử, tuyên án vốn chung mục đích hoặc đồng lõa với hành vi của mình... Dù Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam và đại diện cơ quan chức năng liên quan nhiều lần khẳng định, chứng minh ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, không có người vì bày tỏ chính kiến mà bị bắt giữ, và như các quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam, mọi hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật, nhưng sự thật và chứng lý đó luôn bị phớt lờ. Bởi vậy, mỗi khi TAND ở Việt Nam xét xử, tuyên án một hoặc một nhóm người có hành vi vi phạm pháp luật với các tội danh liên quan hoạt động chính trị, chống phá Nhà nước thì AI bèn trưng ra cái gọi “tù nhân lương tâm” yêu cầu Việt Nam “phải trả tự do vô điều kiện, ngay lập tức” cho số người này nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam. Ðiểm qua số người ở Việt Nam được AI gắn nhãn hiệu là “tù nhân lương tâm” rồi nhất mực bảo vệ, nổi lên có: Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Ðan Quế, Lê Công Ðịnh, Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải, Hoàng Ðức Bình, Huỳnh Trương Ca... Ðiểm chung giữa các cá nhân này là họ cùng có hành vi vi phạm pháp luật, căn cứ vào tội danh được xác định cụ thể trong luật pháp Việt Nam, TAND đã công khai xét xử, tuyên án. Cũng cần nhắc đến một điểm chung nữa, sau khi đã được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, một số “tù nhân lương tâm” đã ra nước ngoài định cư thì “lương tâm” cũng biến mất, “tinh thần đấu tranh” vốn trước đó được AI ca ngợi, cổ vũ, khích lệ, bảo vệ hầu như không còn. Nên có chuyện bi hài là cuối năm 2018, trong khi vẫn tiếp tục sử dụng khái niệm “tù nhân lương tâm” để vu khống Việt Nam mỗi khi cần thiết, tổ chức khủng bố “Việt tân” cũng làm một tổng kết, thừa nhận đó là những người bị kết án, bị cáo buộc vì đã “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, tuyên truyền chống Nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ, gây rối trật tự công cộng, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc”... Càng bi hài hơn vì qua tổng kết này, tổ chức khủng bố “Việt tân” đã trực tiếp cung cấp cho AI chứng cứ để thấy đó là số người vi phạm pháp luật Việt Nam, hành vi của họ không chút gì dính líu với những giá trị của lương tâm. Thực tế, trên thế giới, dù làm việc hay sinh sống bất kể đâu thì khái niệm lương tâm con người vẫn thuộc về phạm trù đạo đức. Và dù có khái quát trừu tượng đến đâu vẫn phải nhìn nhận, đánh giá lương tâm trên cơ sở thực hành, gìn giữ các giá trị chân - thiện - mỹ trong cuộc sống. Từ góc nhìn nhân tính, không thể gọi là người có lương tâm khi “công khai hoạt động chống phá chính quyền, biến nơi ở thành nơi làm ra, tàng trữ, lưu hành, phát tán nhiều tài liệu, hoạt động chống phá Nhà nước, thành lập cái gọi là đảng "Thăng tiến Việt Nam", móc nối, cấu kết các thế lực phản động trong và ngoài nước chống đối Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc” như Nguyễn Văn Lý; “lợi dụng các quyền tự do dân chủ, kích động nhân dân chống chính quyền, chống chế độ, gây phương hại tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội” như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh; “đưa ra đường lối, các kế hoạch hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, cấu kết với đối tượng cầm đầu tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài để bàn bạc, thống nhất phương thức hoạt động để lật đổ chính quyền nhân dân...” như Trần Huỳnh Duy Thức; “thường xuyên đăng tải, chia sẻ trên Facebook cá nhân những thông tin, tài liệu tuyên truyền nói xấu chế độ, cổ vũ đa nguyên, đa đảng; kích động người dân Giáo xứ Trung Nghĩa (Hà Tĩnh) bao vây, tiến công tổ tuần tra của công an, đập phá tài sản nhà trưởng công an xã, kéo lên trụ sở Công an huyện, UBND huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh) gây mất trật tự an ninh” như Hoàng Ðức Bình; “chia sẻ, phát tán bài viết, video, hình ảnh có nội dung kích động, xuyên tạc sự thật, tuyên truyền luận điệu phản động, trái với đường lối, chủ trương của Ðảng và Nhà nước, nhận được sự hỗ trợ, cung cấp tài chính từ các cá nhân cực đoan, tổ chức phản động trong và ngoài nước số tiền là 92,1 triệu đồng, 5.264 USD” như Nguyễn Văn Hóa... Với các tội danh nêu trên, chỉ riêng âm mưu lật đổ chế độ, tiến công lực lượng chức năng, đập phá trụ sở chính quyền thì ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể dung thứ, bắt buộc phải đem ra truy tố, xét xử trước pháp luật để bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội, sự an toàn và yên bình cho cuộc sống người dân. Thế mà, thật khó lý giải, AI lại coi đây là hành động của “nhà hoạt động xã hội và môi trường, người hoạt động ôn hòa, thực thi quyền tự do bày tỏ ý kiến nhằm thúc đẩy nhân quyền”, rồi dựa vào đó để gắn nhãn hiệu “tù nhân lương tâm”, hô hào cứu giúp. Bỏ qua sự phản đối và lên án về cách hành xử của AI của rất nhiều nước trên thế giới, chỉ tính riêng phạm vi Việt Nam, xem xét liên hệ giữa thời gian sự kiện và thái độ của AI với Việt Nam, phải khẳng định càng gần đây AI càng tỏ ra ngạo mạn một cách vô lối, và hung hăng một cách bất thường. Hầu như mọi sự kiện ở Việt Nam, nhất là sự kiện liên quan pháp luật, AI đều tìm cách can thiệp, phê phán, xuyên tạc... Như với Luật An ninh mạng của Việt Nam, AI vừa gửi thư ngỏ tới Microsoft, Apple, Google, Facebook, Samsung yêu cầu những công ty này “tạo áp lực lên Nhà nước Việt Nam”, vừa gửi “thư ngỏ” tới Quốc hội Việt Nam để phản đối. Dù không được mời dự Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) tổ chức tháng 9/2018 tại Hà Nội, AI vẫn cố cử người đến Việt Nam, khi không được nhập cảnh thì lập tức la lối vu cáo. Ngày 9/3/2019, sau khi cơ quan công an thông báo về việc bắt giữ Hà Văn Nam để điều tra hành vi “gây rối trật tự công cộng”, lập tức AI đã gắn cho người này nhãn hiệu “tù nhân lương tâm” và đòi “phải trả tự do ngay lập tức, vô điều kiện”. Thậm chí trước, trong và sau phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm của TAND xét xử Từ Công Nghĩa, Lưu Văn Vịnh, Nguyễn Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Ðức Ðộ, Phan Trung vì có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, thành lập tổ chức phản động với tên gọi “liên minh dân tộc Việt Nam”, tuyên truyền đả kích, bôi nhọ, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ Nhà nước CHXHCN Việt Nam, AI cũng tỏ ra rất xăng xái với đủ loại tuyên bố, yêu cầu mà tác dụng duy nhất là giúp hệ thống truyền thông của các thế lực thù địch với Việt Nam có thêm “tài liệu” để làm rùm beng, vu cáo, xuyên tạc... Năm 2014, đề cập cái gọi là “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam theo quan niệm của AI, Kim Âu - một kẻ nổi tiếng chống cộng, đưa ra ý kiến: “gọi chúng là tù nhân lương tâm thì sai mà nên sửa lại là tù nhân lương tháng mới đúng”! Ý kiến của Kim Âu dựa trên điều ông ta cho rằng những “tù nhân lương tâm” này không quan tâm đến nhân quyền, mà chỉ hoạt động để kiếm tiền tài trợ của nước ngoài. Ðiều này là có cơ sở, vì chính “tù nhân lương tâm” được AI o bế từng thừa nhận. Như Tạ Phong Tần kể “viết, trả lời cho các đài phát thanh BBC, RFI, RFA trên 100 bài. Cứ mỗi bài, BBC trả 28 bảng Anh (khoảng 40 USD). Tổng cộng từ năm 2007 đến nay, tôi đã nhận được gần 15.000 USD từ nhiều báo, đài”. Hồ sơ vụ án Trần Khải Thanh Thủy cho biết chị ta “đã nhận ít nhất 12.350 USD, 200 euro, 400 AUD từ các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong; nhận 1.600 USD, 400 AUD từ bên ngoài với mục đích mua chuộc, lôi kéo người khiếu kiện”. Sau khi được ra nước ngoài định cư, trong bài “Cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, Trần Khải Thanh Thủy đã công khai cho biết trong thời gian “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”, các khoản lương hằng tháng người này được chu cấp bao gồm: tổ chức khủng bố “Việt tân” 200 USD, Bích Huyền 400 USD, báo Người Việt 200 USD (kể cả khi ngồi tù Trần Khải Thanh Thủy vẫn được nhận khoản lương này), “từ Ðàn chim Việt đến Viet Tide, Người Việt, Thời báo,... bèo nhất cũng trả 25 USD, cao nhất là 80 đến 100 USD/bài, còn lại từ 30 đến 50 USD một bài”. Và ngày 22/1/2019, người có biệt danh (nickname) Hao Duc Nguyen viết trên Facebook cá nhân kể sau khi sang Mỹ, Cù Huy Hà Vũ: “xin tiền thành lập chính phủ. Viết hiến pháp mới cho nước Việt trong tương lai. Tiền giấy tờ, tiền thuê thư ký, đánh máy, văn phòng,... một tháng chừng 4.500 USD”... Do vậy, chỉ có thể kết luận đó là những người buôn lương tâm, và thực tế (cũng như với các cá nhân này) AI cũng chỉ như một thế lực có vai trò giúp biện hộ cho những việc làm bất minh. Xét đến cùng, lương tâm là nền tảng tinh thần để mỗi người tự điều hướng suy nghĩ, hành động. Người có lương tâm sẽ thực hiện hành vi đúng đắn, lành mạnh, góp điều tốt đẹp với cuộc sống, cùng mọi người phấn đấu xây dựng xã hội ngày càng ổn định, phát triển. Thậm chí, nếu cần phải phê phán cũng thực hiện với tinh thần thiện chí, cầu thị, không manh động, không lợi dụng quyền cá nhân để làm điều xấu, gây tác hại với cuộc sống của người khác, làm rối loạn, ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự, an ninh xã hội. Vì thế, trong xã hội đã nảy sinh hai khái niệm đối lập nhau là lương tâm và vô lương tâm. Từ thái độ, việc làm của AI với cộng đồng quốc tế và với Việt Nam, hoàn toàn có thể đặt các câu hỏi: Phải chăng AI quan tâm bảo vệ hành vi vô lương tâm vì có lợi cho mục đích của mình hơn là việc ca ngợi, bảo vệ hành vi mang dấu ấn của lương tâm. Và cũng vì lẽ đó, AI sẵn sàng bao bọc người vi phạm pháp luật, cố tình làm chỗ dựa cho một số người, biến lương tâm thành món hàng để trục lợi. Tất nhiên, chỉ những người đang tổ chức, điều hành AI mới hoàn toàn có thể trả lời đầy đủ các câu hỏi này, cũng như chỉ có họ mới là yếu tố quyết định AI có hành xử thực sự xứng đáng. Và đương nhiên, cũng chỉ họ mới điều chỉnh được lương tâm của chính AI trước khi phán xét và gắn tên tuổi của bất kỳ cá nhân nào trên thế giới này với khái niệm lương tâm./.

Bộ đội Biên phòng bắt giữ 47 đối tượng nhập, vượt biên trái phép 25/05/2021

Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, hiện tượng xuất nhập cảnh trái phép, vượt biên trái phép trên các tuyến biên giới vẫn phức tạp. Bộ đội biên phòng tạm giữ 32 người nhập cảnh trái phép Đối tượng Lầu Thị Má bị lực lượng biên phòng phát hiện vượt biên trái phép. Ảnh: TTXVN Đối tượng Lầu Thị Má bị lực lượng biên phòng phát hiện vượt biên trái phép. Ảnh: TTXVN Chiều 24/5, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) cho biết, lực lượng chức năng đã bắt giữ 46 đối tượng nhập cảnh trái phép, trong đó trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc bắt giữ 37 đối tượng, tuyến Việt Nam - Campuchia 8 đối tượng và tuyến Việt Nam - Lào 1 đối tượng. Trước đó, lực lượng BĐBP đã tổ chức tuyên truyền, phát tờ rơi về phòng, chống dịch Covid-19 đến Nhân dân vùng biên giới. Qua đó, giúp người dân ở khu vực biên giới nâng cao nhận thức và thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19; không tiếp tay, bao che cho những đối tượng xuất, nhập cảnh trái phép và báo cáo ngay với cơ quan chức năng nếu phát hiện đối tượng khả nghi trên địa bàn. Cũng trong chiều ngày 24/5, đại diện Đồn Biên phòng A Mú Sung (Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai) cho biết, Tổ Kiểm soát phòng, chống Covid-19 của đơn vị đã phát hiện một trường hợp có hành vi lợi dụng ngày bầu cử 23/5 để vượt biên giới trái phép vào Việt Nam. Cụ thể, khoảng 6 giờ ngày 23/5, Chốt kiểm soát Covid-19 số 4 của Đồn Biên phòng A Mú Sung đang làm nhiệm vụ tại khu vực biên giới thuộc thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung, huyện Bát Xát thì phát hiện một phụ nữ lội qua suối Lũng Bô để nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Đó là đối tượng Lầu Thị Má, sinh năm 1964, dân tộc Mông, trú tại xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Đối tượng Lầu Thị Má khai nhận, bà làm công việc trồng dứa thuê ở thôn Lũng Pô, sát biên giới, sau đó thì lội suối sang Trung Quốc để tiếp tục làm thuê. Đến ngày 23/5, Lầu Thị Má cho rằng vào ngày bầu cử ở Việt Nam thì lực lượng kiểm soát biên giới sẽ lơ là nên đã lội qua suối Lũng Bô để nhập cảnh trái phép về Việt Nam. Đồn Biên phòng A Mú Sung đã lập biên bản, bàn giao công dân Lầu Thị Má cho lực lượng y tế để đưa đi cách ly theo quy định. Nguon Pháp luạt.

Giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng tại cơ sở

     Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới.

    Trong những năm gần đây, tệ nạn tham nhũng đã có những diễn biến hết sức phức tạp, tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chính vì thế Đảng ta cũng đã xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ lớn đe dọa đến sự sống còn của chế độ và sự nghiệp đổi mới của đất nước. Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 của Chính phủ cũng xác định “Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới”. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, hành vi nhũng nhiễu, quan liêu, hách dịch, cửa quyền của một số cán bộ ở cơ sở đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của đảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với đảng.

    Nguyên nhân dẫn đến tệ nạn tham nhũng

    Hệ thống chính trị chậm được đổi mới, trình độ quản lý còn lạc hậu vẫn đang chịu ảnh hưởng nặng nề của việc quản lý tập trung bao cấp, cơ chế xin cho tạo ra các kẽ hở cho tệ nạn tham nhũng nảy sinh và phát triển. Cơ chế chính sách pháp luật về công tác phòng, chống tham nhũng chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương chưa rõ ràng. Chế độ công vụ hiện nay mới bắt đầu được thể chế hóa. Do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường lối sống thực dụng và văn hóa biếu, nhận quà tặng đang bị lợi dụng dẫn đến những hành vi đưa hối lộ cho cán bộ, công chức trong cơ quan để dễ dàng làm ăn, dễ dàng chiếm đoạt tiền của Nhà nước và nhân dân, làm giàu bất chính Ngoài ra, thu nhập của cán bộ, công chức không đủ đảm bảo nhu cầu cuộc sống đã thúc đẩy một bộ phận cán bộ, công chức thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực khi có cơ hội. Sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên; xử lý hành vi tham nhũng chưa nghiêm, vẫn còn sự nể nang, né tránh, bao che cho những người có hành vi tham nhũng. Cải cách hành chính vẫn còn chậm, cơ chế “xin cho” chưa được khắc phục triệt để; thiếu các công cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu. Bên cạnh đó, việc huy động tổng thể lực lượng toàn xã hội tham gia đấu tranh chống tham nhũng chưa được quan tâm đúng mức. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng chưa tạo ra sự chuyển biến tích cực.

    Giải pháp phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác phòng, chống tham nhũng

    Một là, tuyên truyền phổ biến, quán triệt chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, thống nhất có hiệu quả từ nhận thức đến hành động của cán bộ,công chức, viên chức trong việc phòng, chống tham nhũng.

    Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện, củng cố đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở liêm chính, có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; kiểm tra giám sát, ngăn ngừa việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp cơ sở trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng; ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động gây lãng phí, thất thoát kinh phí và tài sản trong cơ quan, đơn vị cơ sở; phát huy vai trò phản biện xã hội về phòng chống tham nhũng; kịp thời ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tiêu cực tham nhũng trong toàn hệ thống chính quyền. Đồng thời, tập trung công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng; Luật phòng chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành; nội dung cơ bản của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đến toàn thể cán bộ, công chức cơ sở; triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng. Tập trung thực hiện các nhiệm vụ, các giải pháp nhằm nâng cao năng lực phát hiện, xử lý tham nhũng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp cơ sở nhằm ngăn chặn, phòng ngừa có hiệu quả những hành vi tham nhũng.

    Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội để phòng, chống tham nhũng.

    Hoàn thiện các quy định để quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc thu chi ngân sách của chính quyền cấp cơ sở; các khoản chi cho đầu tư xây dựng, chi thường xuyên, chi phí hội nghị, lễ hội, tiếp khách. Công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn và việc thực hiện chế độ định mức tiêu chuẩn sử dụng tài sản công của cán bộ công chức cấp cơ sở trước hết là người đứng đầu cơ quan tổ chức đơn vị, minh bạch tài sản thu nhập, việc thực thi công vụ ở nhưng vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân và doanh nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực gắn liền với quyền lợi của người dân, doanh nghiệp như: đất đai, tài nguyên, thuế, ngành nghề kinh doanh nhạy cảm... Rà soát việc tổ chức, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật của Trung ương và địa phương nhằm phục vụ tốt hơn yêu cầu quản lý, đồng thời không gây khó khăn, phiên hà cho người dân, doanh nghiệp.

    Ba là, tiếp tục thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về công tác tổ chức – cán bộ thuộc cấp cơ sở để phòng, chống tham nhũng.

    Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ trong các đơn vị thuộc hệ thống chính trị cơ sở, nhất là trong các khâu tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật. Tăng cường dân chủ ở cơ sở; đặt phòng, chống tham nhũng trong mối quan hệ với chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước nói chung và cải cách hiện đại hóa hệ thống chính quyền cấp cơ sở nói riêng. Kịp thời điều chuyển, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều dư luận, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của hệ thống chính quyền cấp cơ sở. Xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xử lý kỷ luật cán bộ, công chức vi phạm tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cơ quan đơn vị mình.

    Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

    Chỉ đạo tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nhất là việc thực thi công vụ những vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp. Hoàn thiện chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lượng thực thi công vụ của chính quyền cấp cơ sở. Tăng cường vai trò của các cơ quan trong hệ thống chính trị cơ sở đối với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm ngăn ngừa, phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời, đúng quy định của pháp luật đối với những hành vi tham nhũng, tiêu cực. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong phát hiện, xử lý tham nhũng; đẩy mạnh việc thực hiện nâng cao năng thực thanh tra, kiểm tra, chú trọng tăng cường công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về phòng, chống tham nhũng, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức cơ sở làm công tác thanh tra, kiểm tra. Đồng thời, công bố công khai kết luận kiểm tra, thanh tra và kết quả kiểm tra, thanh tra có liên quan đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức. Xử lý nghiêm người đứng đầu cơ quan đơn vị có hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc để đơn vị mình quản lý xảy ra tham nhũng, lãng phí tiêu cực. Có biện pháp mạnh tay đối với cán bộ, công chức có hành vi tham nhũng, tiêu cực sai phạm về chuyên môn. Cụ thể hóa và tăng cường kiểm tra nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức ở trong hệ thống chính trị ở cơ sở và trong các lĩnh vực nhất là trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

    Năm là, tăng cường vai trò giám sát trong công tác phòng, chống tham nhũng.

    Có biện pháp bảo vệ an toàn và kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân dũng cảm tố cáo, phát hiện những hành vi tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục  và có chính sách truyền thong đúng đắn, phát huy vai trò và trách nhiệm của bộ phận tuyên truyền trong phòng, chống tham nhũng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực về công tác phòng, chống tham nhũng. Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa tổ chức đảng các đoàn thể quần chúng và chính quyền cơ sở trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đồng thời, duy trì công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí một cách thường xuyên, liên tục, có biện pháp chặt chẽ, không để sơ hở trong công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ đối với tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị như Đảng ta đã xác định: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”.

Đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là không ngừng, không nghỉ

 Đấu tranh chống tham nhũng không phải là để trị ai, thù oán ai, mà hoàn toàn là nhân văn, nhân đạo. Xử một vài người để răn đe, giáo dục, ngăn ngừa người khác đừng vi phạm, để cảnh tỉnh, cảnh báo là chính, không phải cốt xử cho nhiều, xử cho nặng mới là nghiêm.

Trả lời câu hỏi của báo chí về công tác phòng chống tham nhũng tại Họp báo sau Đại hội XIII của Đảng vào sáng 1/2, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho biết, đây là vấn đề lớn, đất nước nào cũng có, thời nào cũng có, chỉ có nhiều hay ít, rộng hay hẹp.

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt, vừa qua mới là hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Đây là bệnh của những người có quyền, có chức, lại nắm trong tay tiền của nên rất dễ tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Cuộc phát động chống tham nhũng, tiêu cực được bắt đầu từ năm 2013, khi thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng. Từ năm 2013 đến nay, đã xử rất nhiều vụ, nhiều Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị bị đi tù, thu hồi tài sản lên đến hàng triệu USD và nhiều tỷ đồng.

“Tôi nói là không dừng, không nghỉ, không kể đó là ai, không có vùng cấm. Có người trước đây lúc thấy tôi sức khỏe yếu cũng lo chùng xuống. Rồi có tâm lý: Giờ sắp đến Đại hội rồi có làm không? Tôi nói là, mai Đại hội mà hôm nay đến ngày xét xử, vẫn đưa ra tòa xét xử,” Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói và dẫn chứng vừa qua, gần Đại hội vẫn xử nhiều vụ, đến cả Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là không ngừng, không nghỉ, bất cứ lúc nào.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, làm không phải cốt để trị ai, thù oán ai, mà hoàn toàn là nhân văn, nhân đạo. Tổng Bí thư nhắc lại câu nói của Bác Hồ, cưa một cành cây mọt, sâu để cứu cả cái cây. Xử một vài người để răn đe, giáo dục, ngăn ngừa người khác đừng vi phạm, để cảnh tỉnh, cảnh báo là chính, không phải cốt xử cho nhiều, xử cho nặng mới là nghiêm.

“Chưa bao giờ một khóa mấy ông Bộ Chính trị bị đi tù, bị cách chức, tịch thu bao nhiêu tài sản. Có người hối lộ, xách vali tiền đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương định biếu xén, lấp liếm. Tôi nói tại Hội nghị toàn quốc rồi, đồng chí cán bộ kiểm tra mở ra xem đó là gì. Mở vali ra, thấy toàn tiền USD, yêu cầu khóa lại lập biên bản, anh ký vào đây, rồi anh xách vali về”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chia sẻ về việc đấu tranh tham nhũng khó khăn, phức tạp, nếu không có bản lĩnh, dũng khí, tình cảm chân chính thì không làm được.

“Ai cũng thích của, thích tiền. Nhưng danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng khẳng định, đây là cuộc đấu tranh còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt và gian nan. Vừa qua mới là hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Còn quyền, còn chức, còn tiền, nếu con người ta không tu dưỡng rèn luyện sẽ còn xảy ra.

Về những trọng tâm công tác sắp tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: Sắp tới nhiệm vụ còn lớn, nhiều, nặng nề, khó khăn và còn nhiều nguy cơ, nhiều diễn biến phức tạp chưa lường hết được.

“Cảm ơn các bạn đã chúc mừng tôi, chúc mừng sức khỏe, đây là nhân tố rất quan trọng, nếu không nói là quyết định, để làm việc. Tuổi tôi cũng cao rồi, tôi xin nghỉ rồi, nhưng Đại hội bầu, là đảng viên thì phải chấp hành, nên tôi sẽ cố gắng hết sức, còn làm được hay không thì phải là tập thể, phải đoàn kết, thống nhất, trên dưới một lòng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết, nhất trí”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng bày tỏ./.

Tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong phòng chống dịch bệnh Covid - 19

    Những ngày qua, cùng với sự nỗ lực cố gắng của cả nước, lực lượng Công an đã triển khai quyết liệt các biện pháp để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh: “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”; thần tốc, cương quyết, bằng mọi biện pháp tranh thủ từng giờ, từng phút phối hợp rà soát, truy vết, xác minh các trường hợp liên quan đến các ca nhiễm bệnh Covid-19; tăng cường lực lượng bảo đảm an ninh trật tự tại các khu vực bị phong tỏa do có người bệnh dương tính với SARS-CoV-2; tham mưu và triển khai các biện pháp phòng, chống dịch tại các địa điểm bỏ phiếu Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 và các địa điểm cấp căn cước công dân cho người dân. Phối hợp các ban ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm thông điệp “5K” của Bộ Y tế trong phòng, chống dịch. Cùng với đó, mọi lực lượng Công an đã chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ, Công an các tỉnh, thành phố, tăng cường nắm tình hình, kịp thời phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm pháp luật trong công tác phòng chống dịch Covid-19, nhất là vi phạm về việc đeo khẩu trang nơi công cộng.


Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Đảng phải luôn phụng sự và liêm chính!

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và di huấn của Người về xây dựng một Đảng cách mạng luôn phụng sự và liêm chính, luôn trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” không chỉ là tất yếu khách quan, là yêu cầu và nhiệm vụ của một Đảng cầm quyền mà còn là trách nhiệm của những người cộng sản Việt Nam trước lịch sử, nhân dân và dân tộc, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, trách nhiệm và uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên trước Tổ quốc và Nhân dân. Luôn chú trọng xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam thành một Đảng cách mạng phụng sự và liêm chính, được nhân dân tin yêu và ủy thác, vì thế, trước khi đi xa, Hồ Chí Minh dặn lại trong Di chúc: “Đảng là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[1]. Ngay từ khi chuẩn bị chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh (xuất bản năm 1927): “Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải lấy dân chúng công nông làm gốc”[2]. Sau này, khi nói về Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”[3]. Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh rằng, cùng với mỗi bước ngoặt của cách mạng, tình hình và nhiệm vụ của Đảng cũng có sự thay đổi. Song, ở đâu và lúc nào, dù hoạt động bí mật hay đã cầm quyền, thì Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cũng luôn thấu triệt rằng: Đảng cầm quyền, nhưng nhân dân là chủ, quyền là do nhân dân ủy nhiệm, nên đó phải là một Đảng luôn phụng sự (dốc lòng phục vụ, tận tụy phục vụ: phục vụ Tổ quốc[4]) và liêm chính (trong sạch, ngay thẳng: người liêm chính không có lòng tư túi[5]), để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Trong di sản để lại, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm của Người về yêu cầu xây dựng một Đảng phụng sự và liêm chính qua các tác phẩm: Chính phủ là công bộc của dân (19/9/1945); Sao cho được lòng dân (12/10/1945); Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (17/10/1945); Sửa đổi lối làm việc (10/1947); Dân vận (15/10/1949); Tinh thần và trách nhiệm (13/12/1951); Tự phê bình và phê bình (14/2/1952); Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu (3/1952); Phải xem trọng ý kiến của quần chúng (21/8/1956); Đạo đức cách mạng (12/1958); Nói chuyện tại hội nghị thanh tra (5/3/1960); Một lòng một dạ phục vụ nhân dân (18/1/1961); Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (3/2/1969); Di chúc (1969),v.v.. Một Đảng cách mạng chân chính luôn phụng sự Tổ quốc và nhân dân theo Hồ Chí Minh phải tuân thủ 12 điều sau: “1. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. 2. Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau. 3. Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương. 4. Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không. 5. Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. 6. Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng. 7. Mỗi công việc của Đảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát. Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường và lợi ích lâu dài của dân chúng. 8. Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên. 9. Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo. 10. Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài. 11. Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng. 12. Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”[6]. Vì, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”[7] và “trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”[8], nên Hồ Chí Minh xác định Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng liêm chính. Theo đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, nhất là phải có và thường xuyên rèn luyện 5 đức tính tốt: “a) NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân, vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền. b) NGHĨA là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng, ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất cứ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng đúng đắn. c) TRÍ là vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian. d) DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc là phải có gan làm. Thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc. đ) LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ là ham học, ham làm, ham tiến bộ”[9]. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ, công bộc của nhân dân nên phải luôn “đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”[10], để được nhân dân tin yêu và gắn bó. Đồng thời, để phụng sự và liêm chính được tốt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện tinh thần, ý chí: “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, “ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng”; “là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”; “vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết” và “hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng”[11]; “vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”… Tuy nhiên, sớm tiên lượng nguy cơ suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên khi được trao/ủy quyền, Hồ Chí Minh chỉ rõ, “những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân”. Do đó, để ngăn ngừa tình trạng “tư túi”, không “dốc lòng phục vụ, tận tụy phục vụ” Tổ quốc và nhân dân, Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[12]. Cụ thể, theo Hồ Chí Minh: Muốn liêm chính, “những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu… Mình là người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người tài năng, làm được việc… Chớ lên mặt làm quan cách mệnh”[13]… Đồng thời, để phụng sự tốt, mỗi cán bộ, đảng viên “cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”[14] để không chỉ lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội mà còn phải “luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thực hiện theo những chỉ dẫn của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở vững mạnh về mọi mặt; xây dựng và phát triển đội ngũ đảng viên vừa hồng, vừa chuyên, có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, xứng tầm với nhiệm vụ được giao. Trong mọi thời điểm, Đảng đều tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc xây dựng Đảng: Tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh; đoàn kết thống nhất; gắn bó mật thiết với nhân dân, v.v.. Đồng thời, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đã luôn kế thừa, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất và giữ kỷ luật nghiêm minh; tính tiền phong gương mẫu, sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn gian khổ, chịu đựng hy sinh, phấn đấu vì mục đích, lý tư­­ởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, v.v.. để xứng đáng với vai trò tiền phong, để làm tròn bổn phận phụng sự và giữ nghiêm tính liêm chính. TIẾP TỤC XÂY DỰNG ĐẢNG PHỤNG SỰ VÀ LIÊM CHÍNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TÌNH HÌNH VÀ NHIỆM VỤ Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng: “Tất cả các đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo ra sức mạnh của mình, vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”[15], nên nhấn mạnh thang thuốc đặc hiệu để nhìn nhận, đánh giá khuyết điểm, sửa chữa sai lầm chính là phải hằng ngày, liên tục tự phê bình và phê bình gắn với việc kiểm tra và giám sát chặt chẽ từ chương trình hành động, kế hoạch của cấp ủy đến của mỗi cán bộ, đảng viên. Thông qua đó, củng cố và tăng cường khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, nhất là ở bộ chỉ huy tối cao (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư). Cũng trên cơ sở nhận thức sâu sắc rằng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, dạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, ở cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao sẽ làm cho sức chiến đấu của Đảng bị tê liệt, nguồn sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân cũng vì thế mà suy kiệt, nên trong Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn“trước hết nói về Đảng” và chỉ rõ: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”[16]. Không chỉ khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh còn từ sự tiên liệu về sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình và căn dặn trong Di chúc việc phải làm trước tiên là về Đảng. Thực tế, “chỉnh đốn lại Đảng” là yêu cầu khách quan, tất yếu, là công việc nội tại, thường xuyên của Đảng cầm quyền, để “làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[17]. Hơn nữa, vì “Đảng ta một đảng cầm quyền”, nên muốn ra sức làm tròn nhiệm vụ trước Tổ quốc và nhân dân, muốn liêm chính và phụng sự trong tư tưởng và hành động, Đảng phải tập trung thực hiện 3 nội dung chính: 1) “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. 2) “Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”[18]. 3) “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [19]. Đây chính là những nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận xây dựng một Đảng phụng sự và liêm chính; là văn hoá Đảng, là bản chất tâm hồn và đạo đức dân tộc Việt mà Đảng là đại diện, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ của một Đảng cách mạng chân chính. Từ thực tiễn cách mạng; từ tấm gương cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cùng những lời căn dặn đầy tâm huyết của Người trong các trước tác, đặc biệt là bản Di chúc lịch sử về công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn tự chỉnh đốn, đổi mới để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Sau hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đã tránh được những sai lầm cố hữu và những tổn thất do chủ quan duy ý chí, để đưa đất nước ngày một phát triển. Sau 50 năm thực hiện Di chúc của Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được khẳng định. Vai trò đó thể hiện rõ ở đường lối chính trị đúng đắn, ở sự kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ở bản lĩnh chính trị vững vàng của đội ngũ cán bộ, đảng viên khi dũng cảm, thẳng thắn thừa nhận sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân; ở tinh thần chủ động đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Vai trò đó còn thể hiện ở quá trình Đảng lãnh đạo và tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, nhất là ở vào những thời điểm cam go, bước ngoặt khó khăn, thử thách của cách mạng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng một Đảng cách mạng phụng sự và liêm chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là: 1) Sự dao động chính trị, tha hóa đạo đức, sự mất ổn định vững chắc về tư tưởng, tinh thần và sự nao núng, ngả nghiêng của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong tư tưởng và hành động trước sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Từ sự giảm sút niềm tin xã hội chủ nghĩa, “nhạt Đảng”, “nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa”, nhận thức mơ hồ, lệch lạc về chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội, về đường lối, chủ trương của Đảng,v.v.. dẫn đến không dám hoặc không dám công khai đấu tranh với các quan điểm, hành vi trái với quan điểm của Đảng. Thậm chí có người còn a dua, cổ súy cho những tư tưởng đó; mất phương hướng tư tưởng, mất khả năng chủ động kiểm soát và điều chỉnh hành động của mình dẫn đến rơi vào tình trạng khi tả khuynh khi hữu khuynh, khi tự phát manh động khi phiêu lưu chính trị... 2) Thói thực dụng trong chính trị và đạo đức, thể hiện trong tư tưởng, hành động và lối sống. Với những người này, những gì mang lại lợi ích cho mình và phe nhóm mình là quan trọng nhất và trước hết mà không cần biết tới lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Thậm chí, họ không từ một thủ đoạn nào để chiếm đoạt cho lợi ích riêng của mình và phe nhóm mình,v.v.. 3) Tham nhũng chính trị, tha hóa quyền lực khi tự cho mình quyền “sở hữu”, “hiện thân” quyền lực chính trị mà nhân dân ủy thác, để trao đổi, ban phát, trục lợi cho mình và nhóm lợi ích của mình, dẫn đến hình thành tệ nạn gian dối trước cấp trên, cấp dưới và nhân dân; tệ ăn trộm chức quyền như lạm quyền, lợi dụng quyền; tệ nạn chạy chức quyền, tuổi tác, luân chuyển, bằng cấp; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... Những thói hư, tật xấu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không còn phụng sự và liêm chính như Hồ Chí Minh căn dặn này đã dẫn đến tình trạng cánh hẩu, phường hội cát cứ, phe nhóm lợi ích, địa phương chủ nghĩa theo kiểu “trên có chính sách, dưới có đối sách”, hành xử theo lối “nói một đằng, làm một nẻo” miễn là lợi ta mà không màng đến người chung quanh, xâm hại lợi ích chung, làm phân liệt ý chí và tan rã sức mạnh của từng cơ quan, địa phương, đơn vị… Vấn đề này, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ” ngày 30/10/2016 đã chỉ rõ; đồng thời, nhận diện và chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện. Cụ thể là: “Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”; “quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”… Từ đó, Nghị quyết nhấn mạnh: “Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Để khắc phục những hạn chế nêu trên và để xây dựng Đảng thật trong sạch, vững mạnh luôn phụng sự và liêm chính ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Thứ nhất, các cấp ủy Đảng, chính quyền và ban, ngành chức năng tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị tăng cường bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo và chỉ đạo (từ quán triệt đến đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống) trên tinh thần: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, phải hết sức tránh”. Nói đi đôi với làm và phải luôn hướng về cơ sở, gần dân, hiểu dân, trọng dân, tin dân, học dân, dựa vào dân để không chỉ đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị mà còn củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, thiết thực xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Thứ hai, nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng; gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ" với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với Quy định về những điều đảng viên không được làm, với các quy định nêu gương,v.v.. Mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng phải thường xuyên, liên tục rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân gắn với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu,v.v.. theo chương trình hằng năm và đột xuất tại mỗi tổ chức cơ sở Đảng để nâng cao tinh thần phụng sự và liêm chính. Thứ ba, xây đi đôi với chống: tập trung xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế phòng ngừa, kiểm soát quyền lực, đảm bảo mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân gắn với chống sự tha hóa quyền lực; đảm bảo công khai và minh bạch trong thực thi chức năng, nhiệm vụ, trong thực thi quyền lực công theo phương châm cấp trên làm gương cho cấp dưới noi theo; quyết liệt và nghiêm khắc trong công tác kiểm tra, giám sát gắn với tự phê bình và phê bình, đảm bảo trên dưới phối hợp, trong ngoài đồng bộ. Thông qua đó, một mặt ngăn chặn những biểu hiện tha hóa quyền lực như lạm quyền, lộng quyền, trục lợi từ quyền, kéo bè kết cánh, “đầu cơ chính trị”, quan hệ “lợi ích nhóm”, xa rời lý tưởng xã hội chủ nghĩa, sa đọa về đạo đức, lối sống v.v..; mặt khác, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, phòng và chống sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, ngăn ngừa sự dao động trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Thứ tư, tiếp tục xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, địa phương nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Không để quyền làm chủ của nhân dân chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà phải là hành động, là những việc làm cụ thể, phải tạo điều kiện và có cơ chế để thực thi định chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thật sự và hiệu quả. Coi sự đánh giá của nhân dân là thước đo, là một trong những tiêu chuẩn đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của cấp ủy các cấp, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong mọi mặt công tác, nhất là trong quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ các cấp. Thứ năm, mở rộng và đổi mới công tác truyền thông để không chỉ định hướng đúng, kịp thời, đảm bảo sức mạnh của công luận và nhân dân mà còn làm cho việc tuyên truyền các tấm gương người tốt, việc tốt, lấy cái tích cực chống cái tiêu cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu được nhân rộng trong cộng đồng bằng nhiều hình thức phong phú. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, của cả hệ thống chính trị tham gia công tác xây dựng Đảng; tham gia giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên ở mọi nơi, mọi lúc. Đẩy nhanh xét xử những vụ án tham ô, tham nhũng nghiêm trọng trên tinh thần thấu triệt nguyên tắc pháp luật là thượng tôn, kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng là tối thượng, để không chỉ kịp thời, công minh, bình đẳng, đúng đắn đưa ra khỏi Đảng những kẻ sâu mọt không còn phụng sự và liêm chính mà còn thiết thực làm trong sạch Đảng, làm cho Đảng mạnh khỏe, chắc chắn như Hồ Chí Minh mong muốn.

Không để các vụ án hình sự bị hướng lái “chính trị hóa”

Khởi tố và xử lý kịp thời, đúng người, đúng tội các vụ án hình sự là trách nhiệm của các cơ quan pháp luật, có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN). Cảnh sát kiểm tra, khám xét tại cửa hàng điện thoại Nhật Cường mobile ở 33 Lý Quốc Sư, Hà Nội. Ảnh: TTXVN Trong bối cảnh nền kinh tế-xã hội (KT-XH) phát triển và hội nhập, có nhiều tác động của mặt trái kinh tế thị trường, việc xử lý các vụ án hình sự là điều bình thường. Thế nhưng vừa qua, các thế lực thù địch, phản động lại tìm cách lợi dụng, bóp méo, thổi phồng hòng hướng lái "chính trị hóa" các vụ án hình sự. Đây là một trong những thủ đoạn nham hiểm nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta… TỪ ĐỔ CHO GEN HỆ THỐNG, LỖI THỂ CHẾ Mới đây, nhân việc cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án hình sự một doanh nghiệp tư nhân, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam, khám xét với một chủ doanh nghiệp để điều tra về tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015, đã xuất hiện khá nhiều thông tin suy diễn, đồn đoán theo kiểu “thầy bói xem voi” về sự việc. Dù đây chỉ là một vụ án hình sự được thông tin khá rõ ràng, đầy đủ trên báo chí nhưng “lại được” một số phần tử đơm đặt thành vấn đề chính trị. Họ gán ghép vụ án bị khởi tố với nhiều thông tin mang tính cóp nhặt rồi đồn đoán rằng: Đây là những dấu hiệu của việc thanh trừng nội bộ trước Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; và sẽ có nhiều “củi vào lò”. Một số trang báo hải ngoại, vẫn với cái nhìn lệch lạc về Việt Nam đã có bài viết xuyên tạc bản chất nền kinh tế thị trường định hướng XHCN khi cho rằng, ở Việt Nam, muốn làm giàu phải được “bảo kê” và khi sinh mệnh chính trị của người bảo kê bị lung lay thì số phận của doanh nghiệp cũng rất mong manh. Nhiều bài viết trên mạng xã hội chuyển sang suy diễn, xuyên tạc rằng nhiều doanh nghiệp được “nuôi béo đã tới lúc làm thịt”, do ăn chia với các quan chức bảo kê không sòng phẳng, nên bị trả đũa, rồi đây là “cạnh tranh giữa các nhóm quan chức đang bảo kê với nhau…”. Đó chỉ là những suy diễn lung tung, hoàn toàn trái ngược với thực tế xử lý các vụ án hình sự luôn hết sức chặt chẽ, đúng người đúng tội. Một vụ án hình sự khác được dư luận quan tâm là vụ Nguyễn Hữu Linh (61 tuổi) luật sư Đoàn luật sư Đà Nẵng, nguyên Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân TP Đà Nẵng đã bị khởi tố về hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015. Đây là sự việc gây bức xúc dư luận xã hội và đã được cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố theo các quy định tố tụng hình sự. Song lợi dụng vụ việc này, nhiều đối tượng cực đoan đã bẻ lái vấn đề sang xuyên tạc hệ thống tư pháp và chế độ XHCN ở Việt Nam. Trang facebook mang tên Phạm Hưng Ngọc, xưng là người hoạt động tại doanh nghiệp bán sản phẩm Trà Xuân cùng một số facebooker đã có nhiều bài viết thổi phồng sự việc khi đòi tẩy chay không ít thương hiệu vì dùng hình ảnh ca sĩ quảng cáo đã từng chụp ảnh chung với nghi phạm dâm ô. Chưa dừng ở đó, họ còn chính trị hóa vụ án, cho rằng, lực cản chống xâm hại tình dục đã trở thành một nguyên do chính trị, xếp ngang hàng với Formosa là do lỗi hệ thống chế độ, “mềm trên biển” là vì ràng buộc xuất phát từ liên hệ giữa hai đảng, bất công xã hội là hệ quả của đặc quyền dành cho đảng viên. Từ đó, facebook mang tên Phạm Hưng Ngọc kêu gọi phải có một thể chế dân chủ, để “gọi điện cho dân biểu, rồi kêu gọi người khác cùng làm như thế và đưa sự việc ra… Quốc hội, v.v và v.v... Từ kiểu suy diễn này, họ chuyển sang công kích Quốc hội chỉ là “chiếc áo choàng dân chủ”... ĐẾN BÔI ĐEN CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ KỶ LUẬT ĐẢNG Xung quanh sự việc này, một số đối tượng lại cố tình xuyên tạc, bóp méo Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm kỷ luật, cho rằng đảng viên quấy rối tình dục chỉ bị khiển trách. Đài Á châu tự do đã có bài viết xuyên tạc “Đảng viên quấy rối tình dục dưới mọi hình thức chỉ bị khiển trách?". Đài này viện dẫn Điểm c, Khoản 1, Điều 33 Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm nếu đảng viên "có hành vi quấy rối tình dục dưới mọi hình thức" mà "gây hậu quả ít nghiêm trọng" thì bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách. Từ đó suy diễn rằng đảng viên dù vi phạm quấy rối tình dục ở hình thức nào thì cũng chỉ bị khiển trách. Họ cố tình quên rằng, ở Khoản 2, Khoản 3 của Điều 33 còn có thêm các quy định xử lý kỷ luật ở mức cảnh cáo hoặc cách chức, khai trừ khỏi Đảng đối với những trường hợp tái phạm, vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Mặt khác, quan điểm xử lý của Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự, không "xử lý nội bộ"; bị tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì phải khai trừ. Kỷ luật Đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử lý của pháp luật. Với tinh thần đó, đảng viên vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh hơn cả công dân bình thường. Song những người thiếu thiện chí đã cố tình cắt ghép các văn bản, xuyên tạc kỷ luật của Đảng. Tương tự, với vụ án nâng điểm tại kỳ thi THPT quốc gia xảy ra ở một địa phương, như: Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang, Lạng Sơn. Đây là những vụ án phức tạp đã và đang được các cơ quan pháp luật điều tra, khởi tố, xử lý nghiêm minh. Việc công bố danh tính các đối tượng liên quan một phần phụ thuộc quan trọng vào kết quả quá trình điều tra và tuân thủ các quy định của pháp luật. Thế nhưng, lợi dụng sự bức xúc của xã hội, nhiều đối tượng xuyên tạc, bóp méo và cho rằng có sự bao che cho tội phạm. Nhạc sĩ T.K, người gần đây có nhiều bài viết với quan điểm lệch lạc trên một số đài báo hải ngoại đã trắng trợn suy diễn rằng việc nâng điểm chủ yếu xảy ra đối với các đối tượng thi vào ngành công an. T.K hồ đồ lập luận rằng đó là việc “tìm kiếm sự an toàn và bảo đảm sống còn trong một xã hội ngày càng lộ rõ hình thức công an trị” rồi lái sang vấn đề nhân quyền, cho rằng vừa qua Hoa Kỳ chính thức cáo buộc Việt Nam duy trì chế độ “công an trị”. Đây là lập luận bóp méo, xuyên tạc hết sức nguy hiểm. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin là người đưa ra định nghĩa pháp chế vô sản, là nền tảng lý luận cho chúng ta xây dựng nền pháp chế XHCN ngày nay. V.I.Lênin viết: “Tính nghiêm minh của pháp luật hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng, mà ở chỗ phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt”. Kế thừa tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chú trọng xây dựng nền pháp chế XHCN ở nước ta. Đó là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị-xã hội, trong đó tất cả cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang, nhân viên Nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích của tập thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. Trong bài viết về đạo đức công dân, tiêu chuẩn đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra là: “Tuân thủ pháp luật của nhà nước”. Điều đó vẫn còn nguyên tính thời sự khi chúng ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền, đòi hỏi mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh và thượng tôn pháp luật. Trong nền pháp chế ấy, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự của chúng ta cũng ngày càng hoàn thiện, mọi vụ án hình sự đều phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật. Vì vậy, việc xuyên tạc, bóp méo, bẻ lái các vụ việc đơn lẻ thành những vấn đề chính trị, đao to búa lớn để chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ chế độ XHCN thực chất chính là hành vi sai trái cả về pháp lý và đạo lý, cần phải được ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Đây là những thủ đoạn nham hiểm mà chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, làm thất bại. Đối với chính quyền và các cơ quan pháp luật, việc xử lý nghiêm minh, công khai và thông tin đầy đủ, kịp thời về các vụ án hình sự, nhất là các vụ án tham nhũng, tiêu cực được dư luận quan tâm sẽ là vũ khí mạnh mẽ đẩy lùi mọi thông tin xuyên tạc. Đối với mỗi người dân, sự quan tâm đến tình hình thời cuộc, đến các vụ án hình sự là chính đáng nhưng phải dựa trên cơ sở thông tin chính xác, khoa học, đồng thời phải tỉnh táo, tránh bị lôi kéo, kích động, đánh lừa bởi thông tin giả, bởi những âm mưu đen tối.

PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID 19

 Sáng 2.6, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM (HCDC) thông tin TP.HCM ghi nhận 23 trường hợp nghi nhiễm Covid-19 mới, trong đó có 7 ca ở Q.Gò Vấp, 6 ca ở Q.Bình Thạnh,  và 3 ca ở Q.12.

Sáng 2.6, theo HCDC, TP.HCM ghi nhận thêm 23 trường hợp nghi nhiễm Covid-19 mới. Trong đó, có 7 ca nghi nhiễm Covid-19 ở Q.Gò Vấp, 6 ca ở Q.Bình Thạnh, 3 ca ở Q.12, 2 ca ở Q.Tân Bình. Còn Q.Bình Tân, Q.8, H.Bình Chánh và TP.Thủ Đức mỗi địa phương ghi nhận 1 ca. Ngoài ra, có 1 ca mới nhận kết quả từ phòng xét nghiệm và đang xác minh thông tin.
Trong số 23 ca nghi nhiễm mới này có 17 ca được xét nghiệm theo diện F1, 1 ca tiếp xúc vòng 3 liên quan đến Điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng (sinh hoạt tại một địa chỉ ở hẻm 415 Nguyễn Văn Công, P.3, Q.Gò Vấp) và 5 ca còn lại đang xác minh nguồn tiếp xúc.
heo HCDC, tính đến sáng 2.6, Bộ Y tế công bố 19 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 tại TP.HCM các bệnh nhân có mã bệnh từ BN 7552 đến BN 7570; có 497 ca dương tính với Covid-1 phát hiện tại TP.HCM được Bộ Y tế công bố (trong đó 267 ca điều trị khỏi; 230 ca đang điều trị).
Từ ngày 26.5, TP.HCM ghi nhận 219 ca mắc Covid-19 mới có liên quan đến chuỗi lây nhiễm từ Điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng.
Từ 27.5 đến hết ngày 1.6, TP.HCM đã lấy tổng cộng 277.841 mẫu xét nghiệm, trong đó 3.770 trường hợp tiếp xúc gần, 274.071 trường hợp được lấy mẫu giám sát.
Trong 3.770 mẫu tiếp xúc gần, có 219 mẫu cho kết quả dương tính với Covid-19, 2.718 mẫu âm tính, còn lại đang chờ xét nghiệm. Và trong số 227.071 mẫu xét nghiệm giám sát, 93.913 mẫu có kết quả âm tính và 180.158 mẫu đang chờ kết quả.
TP.HCM cũng tăng cường giám sát hoạt động tại các khu cách ly tập trung, kiểm tra, giám sát hoạt động phòng chống dịch tại các doanh nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp, mở rộng xét nghiệm cho người lao động làm việc tại các khu chế xuất, khu công nghiệp.
HCDC cũng cho biết thêm, tổng số trường hợp hiện đang thực hiện cách ly trên địa bàn TP.HCM là 15.348, trong đó 5.554 người đang cách ly tập trung, 9.794 trường hợp đang cách ly tại nhà/nơi lưu trú.
Ngoài ra, TP.HCM đã nhận 70.000 liều vắc xin phòng chống Covid-19 từ chương trình tiêm chủng mở rộng và đang chuẩn bị kế hoạch triển khai chiến dịch tiêm đợt 3.

Giải pháp đột phá để chống xuống cấp đạo đức trong Đảng

Chống xuống cấp về đạo đức trong Đảng nhất định phải đứng vững trên hai chân cơ chế và ý thức tu dưỡng, rèn luyện, vì muốn làm người tốt mà cơ chế không hoàn thiện cũng rất khó. Ngược lại, cơ chế hoàn thiện mà con người hỏng thì phá nát bộ máy. Để xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, quan điểm của Đảng về những giải pháp nêu trong các nghị quyết gần đây là nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân; trong đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; đồng thời, thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp. NHÓM GIẢI PHÁP CƠ CHẾ, BỘ MÁY Đây là nhóm giải pháp bàn đến tính khoa học của cơ chế, bộ máy, vai trò của tổ chức như “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, với nhiều nội dung cụ thể như công tác chính trị tư tưởng; cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; công tác kiểm tra, kỷ luật đảng; vai trò của nhân dân, v.v.. Chỉ có bằng giải pháp cơ chế, bộ máy đúng nghĩa, thật sự và phải đào tận gốc rễ những khuyết điểm thì mới có thể nghĩ tới cách làm của Singapore: Làm cho quan chức không dám, không thể, không cần, không muốn tham nhũng. Một là, chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Đảng phải tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng và đây được coi là giải pháp hàng đầu và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình cách mạng. Điều này đúng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Người cách mạng lại càng cần phải được giáo dục, vì cách mạng là một việc to, chiến sĩ cách mạng phải hiểu cả hai mặt của sự nghiệp cách mạng là to lớn, nặng nề, phức tạp và vẻ vang. Đảng viên khác với những người thường, đó là những người chiến sĩ tiên phong của giai cấp, của dân tộc, nên hoàn toàn không được đại biểu cho lợi ích cá nhân mà phải đại biểu cho lợi ích của dân tộc, của giai cấp. Mặt khác, đảng viên sai lầm sẽ đưa quần chúng đến sai lầm, vì tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân. Trong giáo dục chính trị tư tưởng, quan trọng nhất là nội dung và phương pháp giáo dục. Cụ thể, hiện nay, càng phải tăng cường giáo dục nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; giáo dục về lý tưởng cách mạng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối không được, không thể mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng. Phải giáo dục nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Phải giáo dục nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên, để mỗi đảng viên nhận thức sâu sắc rằng con người cần đạo đức, cách mạng cần đạo đức, thiếu một trong bốn đức cần, kiệm, liêm, chính thì không thành người và không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Có tài năng mà không có đạo đức thì tài năng dễ mai một, nguy hiểm hơn nữa là dễ bị dùng vào những việc xấu xa, thành công cụ của cái bậy, cái ác, gây tác hại không lường được cho cách mạng. Người cách mạng phải được giáo dục đạo đức cách mạng, cao nhất là chí công vô tư, là phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, để thấu hiểu rằng “làm cán bộ, đảng viên là suốt đời làm người đày tớ trung thành của nhân dân”. Học tư tưởng Hồ Chí Minh thì phải biết “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào, đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(2) và “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng, mà phải làm đày tớ cho quần chúng. Cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đày tớ cho quần chúng”(3). Hai là, xây nền dân chủ. Trong cơ chế, tính khoa học của bộ máy thì vun bồi nền dân chủ, thực hành dân chủ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Cùng với cách hiểu “dân chủ là cái thìa khóa vạn năng; là động lực của cách mạng; là dân làm chủ”, cần phải nhận thức đúng đắn, sâu sắc rằng: “Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Cho nên phong trào chống tham ô, lãng phí quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công”(4). Đây là một điểm nhấn, cốt tủy trong công tác xây dựng Đảng, chống xuống cấp về đạo đức trong Đảng hiện nay. Những năm qua, việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Chúng ta thiếu thể chế hóa, cụ thể hóa những đúc kết thành phương châm rất có giá trị của Đảng như “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Vì vậy, có nhiều điều rất hay nhưng vẫn chỉ nằm ở phương châm, nghị quyết. Thực tiễn phong phú hơn sách vở, lý luận. Cuộc sống thay đổi từng ngày. Vì vậy, Đảng, Nhà nước phải rà soát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có quyền. Đồng thời, rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản, quy phạm pháp luật về quản lý công khai minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế “xin-cho; duyệt-cấp”, ngăn chặn, đẩy lùi “nhóm lợi ích”, “sân sau”. Phải suy nghĩ, trăn trở xem dân còn trách nhiệm và những quyền lợi gì nữa ngoài phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”? Phải kiên quyết chống lại thực trạng “nghị quyết một đường, thi hành một nẻo”, nhất là “Đảng phải luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào” và phải đi vào những khâu cụ thể, mới có thể chống được sự hư hỏng của cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng “đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng” và để làm được điều này, phải thể chế hóa nội dung “nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” sao cho thực chất, có hiệu quả. Nhất định phải dựa vào dân để chống tiêu cực, rèn cán bộ, vì “ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”(5). Do đó, phải thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Có kiểm soát bên trong cơ cấu quyền lực nhà nước, đặc biệt là phân công ba thứ quyền rõ ràng, cụ thể; kiểm soát không theo vụ việc mà phải thành chính sách. Rồi kiểm soát quyền lực bên ngoài, tức là vai trò của báo chí, dư luận, các tổ chức xã hội, đặc biệt từ nhân dân. “Cái lồng nhốt quyền lực” không phải chỉ thuộc về trách nhiệm của cấp ủy cấp trên, tổ chức Đảng mà theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì còn là vai trò của nhân dân, là “cái lồng nhân dân”. Nhân dân là những người ủy thác quyền lực cho cán bộ, thì phải là những người có sứ mệnh, trách nhiệm, vai trò to lớn trong việc kiểm soát quyền lực. Theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, “kiểm soát từ dưới lên, tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo là cách tốt nhất”, thì rõ ràng “cái lồng nhân dân” mới thực sự là lồng thép đủ sức ngăn chặn, đẩy lùi mọi tiêu cực, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nhân dân tham gia góp ý là dân chủ. Nhưng cơ chế nào để người dân dám nói là cả một vấn đề. Dân chủ là người dân có quyền nói, quyền làm, quyền quyết và quyền được hưởng hạnh phúc - những nội dung đó đã được ghi vào Hiến pháp và rất cần phải được làm rõ hơn nữa. Không thể nhắc đi, nhắc lại những cụm từ “kiên quyết”, “quyết liệt”, “nâng cao”, “đẩy mạnh”, “tăng cường”, v.v.. mà không có tổng kết, rút ra bài học. Ba là, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng. Không nên hiểu kỷ luật đảng chỉ là xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm mà phải là thường xuyên siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Với phương châm giáo dục là chính, khi cán bộ sai lầm thì phải phê bình cho đúng, tìm mọi cách dạy bảo, “không phải một sai lầm to lớn, mà đã vội cho họ là “cơ hội chủ nghĩa”, đã “cảnh cáo”, đã “tạm khai trừ”. Những cách quá đáng như thế đều không đúng”(6). Nhưng không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt, vì không xử phạt sẽ mất cả kỷ luật, sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Trong Hiến pháp và luật pháp không có khái niệm “vùng cấm”. cho nên phải chống sự suy thoái, tha hóa của những con “sâu mọt” theo tinh thần của Lênin: “Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng nhẹ nhàng như vậy - đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng. Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng”(7) và Hồ Chí Minh: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(8). Không chỉ bắt một tên giặc tham nhũng mà “cần phải có một biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị chúng. Biện pháp ấy là gây nên một đạo đức để ngăn ngừa trộm cắp, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống trộm cắp, làm cho lũ trộm cắp “đường hoàng” cũng như trộm cắp kín đáo - không sống còn được”. Đây chính là một khía cạnh của giải pháp xây nền dân chủ đã nói ở trên. NHÓM GIẢI PHÁP Ý THỨC CÁ NHÂN Một là, sự gương mẫu của cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu có ý nghĩa quyết định. Mọi việc đều do con người làm ra; cơ chế, bộ máy nào cũng do con người tạo ra; một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, cho nên, muốn cơ chế, bộ máy tốt, trước hết phải do những con người tốt xây dựng. Mặt khác, cơ chế, bộ máy tốt mà con người cố tình xuyên tạc, thì không cơ chế, bộ máy nào phát huy nổi hiệu lực. Vì vậy, muốn chống sự xuống cấp đạo đức trong Đảng phải bằng cả sự tự giác tu dưỡng và nêu gương. Mỗi đảng viên phải có lòng tự trọng, tính liêm sỉ và tự giác trong rèn luyện, vì chờ để pháp luật xử lý là hạ sách. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện. Sự gương mẫu của Trung ương, của từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ viên Trung ương Đảng là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Pháp luật là tối thượng nhưng nhân văn cũng rất quan trọng. Pháp trị nhưng phải có đức trị. Đạo lý có trước pháp lý. Thời Bác Hồ rất ít luật, nhưng một hành vi, một việc làm của Bác có sức mạnh lan tỏa lớn. Đó là sức mạnh của nêu gương. Có những việc pháp luật không cấm nhưng lương tâm cắn rứt, đạo lý dân tộc không cho phép làm. Tu thân, chính tâm mới là thiêng liêng, sâu xa, bền vững, tạo niềm tin vững chắc. Hai là, thực hành phê bình và tự phê bình thường xuyên và nghiêm chỉnh là việc làm cần thiết trong tu dưỡng ý thức cá nhân. Đây là nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng; là quy luật phát triển Đảng; là thang thuốc hay nhất để chữa các bệnh trong Đảng. Về điểm này, chúng ta còn những hạn chế. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao, quan trọng nhất là “nghiêm chỉnh” như lời Hồ Chí Minh dặn thì chưa làm được. Vẫn làm chiếu lệ, qua loa, đại khái như cách nói dân gian phê bình theo kiểu “bắn súng chỉ thiên”; thậm chí có kiểu “phê bình” nhưng ẩn ý sâu bên trong, đằng sau đó là nịnh. Một thực tế cho thấy trong những năm qua, 80-90% những vụ việc tham nhũng, lãng phí bị phát hiện, phanh phui không phải do kết quả của tự phê bình và phê bình trong Đảng mà do công luận, tai mắt của quần chúng, truyền thông phát hiện, đúng như một đúc kết đã khẳng định: “Sự tha hóa không thể chấm dứt chỉ bằng tu dưỡng ý thức, đạo đức, nó bị đánh bại bởi cơ chế, tính khoa học của bộ máy, cơ bản nhất, bởi nền dân chủ. Nhưng phần tác động lại của tu dưỡng ý thức không phải thứ yếu. Cơ chế, bộ máy tốt mà con người cố tính xuyên tạc nó thì không cơ chế, bộ máy nào phát huy nổi hiệu lực, thậm chí, thành công cụ của cái bậy, cái ác. Hai phạm trù trên phải đặt ngang bằng nhau, tạo thế hỗ trợ và bổ sung nhau”(9)./.