Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021
Quyết liệt hơn, mạnh tay hơn để chặn đứng đà lây nhiễm của ổ dịch COVID - 19
TPHCM cần tăng cường lấy mẫu tầm soát, phát hiện sớm ca bệnh, trong đó trọng điểm là chống dịch bệnh xâm nhập vào khu công nghiệp. TP cần có những giải pháp quyết liệt hơn, mạnh tay hơn để chặn đứng đà lây nhiễm của ổ dịch liên quan hiện nay. Mặc dù chúng ta vẫn ở trong thế chủ động kiểm soát nhưng nếu chúng ta lơ là, mất cảnh giác thì hậu quả sẽ rất khó lường. Đó là những ý kiến được đưa ra tại buổi làm việc của Đoàn Công tác Chính phủ do Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình với Ban Chỉ đạo Phòng chống dịch COVID - 19 TPHCM diễn ra sáng 1/6.
Tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thành Phong thông tin, từ ngày 27/4 đến nay TP xuất hiện 4 chuỗi lây nhiễm COVID - 19, trong đó quan ngại nhất là chuỗi lây nhiễm của nhóm truyền giáo Phục Hưng tại Gò Vấp (phát hiện từ 26/5). Ban đầu nhóm chỉ khai có 22 thành viên, đến chiều hôm qua 31/5 con số này lên đến 55 thành viên. Trong số 55 thành viên này, 40 người đã là F0, tạo thành chuỗi lây nhiễm 200 ca tại 22 quận, huyện. Chuỗi này không chỉ trong phạm vi TP mà đã lan xuống tới Long An, Bạc Liêu. Đối với 3 chuỗi COVID - 19 còn lại có thể nắm chắc và khống chế được.
“TP cho đến giờ phút này vẫn trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên thời gian tới có thể tiếp tục ghi nhận các ca nhiễm rải rác, từ các chùm ca bệnh trong cộng đồng do có nhiều nguồn lây chưa được phát hiện, ví dự như từ các ổ dịch cũ, từ địa phương khác các nguồn lây nhiễm nhập cảnh từ nước ngoài.” – Đồng chí Nguyễn Thành Phong lưu ý.
Đồng chí Nguyễn Thành Phong cho biết, việc giãn cách xã hội toàn TP theo Chỉ thị 15 và Chỉ thị 16 đối với quận Gò Vấp và phường Thạnh Lộc, Quận 12, đang được triển khai. TP cũng đang tập trung lấy mẫu xét nghiệm trên địa bàn TP, trước mắt tập trung lấy mẫu xét nghiệm các đơn vị bầu cử, tổ bầu cử có quận, huyện thành viên điểm nhóm này đã đi bầu. Trọng điểm thứ 2 lấy mẫu xét nghiệm cho công nhân khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao.
Theo đồng chí Nguyễn Thành Phong sắp tới TP sẽ triển khai gói hỗ trợ thứ 2 trong tình hình dịch bệnh hiện nay để phòng chống dịch cho tốt, mặt khác phải đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng, an sinh xã hội. Đối với vấn đề tiêm vắc - xin phòng COVID - 19, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thành Phong kiến nghị, Chính phủ có cơ chế để Bộ Y tế kiểm dịch đầy đủ quyết định nhập vắc - xin nào, chất lượng ra sao, tính toán vấn đề phương thức thanh toán, nguồn thì TP sẽ chủ động để có thể giải quyết được nguồn vắc – xin.
Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long nhận định, liên quan đến ổ dịch ở nhóm truyền giáo Phục Hưng, trường hợp đầu tiên có triệu chứng từ ngày 13/5 đến khi được phát hiện đã quá 13, 14 ngày. Bên cạnh đó chủng virus là biến thể SARS - CoV - 2 lần đầu tiên được phát hiện tại Ấn Độ; chu kỳ lây nhiễm rất ngắn (có thể từ 2 đến 3 ngày, thậm chí còn sớm hơn), đã phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài rất nhanh. Như vậy TPHCM đã chậm mất khoảng 4 đến 5 chu kỳ. Mỗi chu kỳ, virus lây lan theo cấp số nhân. Có thể phát triển các chuỗi lây nhiễm không rõ nguồn lây.
“Đây là một trong những ổ dịch nguy hiểm nhất, khó kiểm soát nhất trong phòng chống dịch bệnh ở TPHCM. Thành phố cần xác định từ nay trở đi phải tăng cường các biện pháp phòng chống dịch”. – Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long nhấn mạnh.
Đề cập đến các biện pháp trong thời gian tới, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long yêu cầu TPHCM tăng cường lấy mẫu tầm soát, phát hiện ca bệnh, trong đó trọng điểm là chống dịch bệnh xâm nhập vào khu công nghiệp; tăng cường lấy mẫu tầm soát, phát hiện ca bệnh. Tất cả các trường hợp có triệu chứng sốt, ho, khó thở khi đến tất cả các cơ sở y tế trên địa bàn cần phải được xét nghiệm 100%, tránh bỏ sót ca bệnh. Cùng với đó là khẩn trương đàm phán để có vắc - xin sớm nhất để có nhiều nguồn vắc - xin. Bộ Y tế sẽ thẩm định và tạo điều kiện tối đa trong việc cấp phép, đốc thúc nguồn vắc - xin được đưa về nước.
Về điều trị, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long đánh giá cao việc TP đã chuẩn bị phương án điều trị cho 5.000 người khi xảy ra các tình huống, tuy nhiên, TP phải có phương án cao hơn nữa, nhất là chuẩn bị tốt cho ICU (hồi sức tích cực), những bệnh nhân nặng. Bộ Y tế cũng giao cho Bệnh viện Chợ Rẫy tăng cao năng lực điều trị, chuẩn bị phương án trong trường hợp phải điều trị tích cực cho 200 bệnh nhân, 50 bệnh nhân rất nặng.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đánh giá cao nỗ lực của TPHCM trong công tác phòng, chống dịch bệnh thời gian qua. TPHCM đã có một số giải pháp quyết liệt và chính xác trong thực hiện cách ly và giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15, 16 của Thủ tướng Chính phủ.
Liên quan đến ổ dịch điểm sinh hoạt của nhóm truyền giáo Phục Hưng, đồng chí Trương Hòa Bình nhấn mạnh, TP cần có những giải pháp quyết liệt hơn, mạnh tay hơn để chặn đứng đà lây nhiễm của ổ dịch này. Mặc dù chúng ta vẫn ở trong thế chủ động kiểm soát nhưng nếu chúng ta lơ là, mất cảnh giác thì hậu quả sẽ rất khó lường. Do đó chúng ta cần kiên quyết, chủ động phòng ngừa, chủ động tấn công, ngăn chặn, kiểm soát không để dịch tiếp tục lây lan.
Từ ổ dịch tại điểm sinh hoạt nhóm truyền giáo Phục Hưng, đồng chí Trương Hòa Bình yêu cầu phải rà soát lại hoạt động của các điểm nhóm sinh hoạt tín ngưỡng trên địa bàn TPHCM. Chúng ta không cấm đoán sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo nhưng phải tuân thủ quy định của pháp luật Nhà nước và cả các quy định về phòng, chống dịch bệnh hiện nay.
TPHCM cần tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tập trung, chủ động để ngăn chặn và xử lý dứt điểm các ổ dịch trên địa bàn; tiếp tục thực hiện phương châm “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”, nêu cao tinh thần đề cao cảnh giác với dịch bệnh trong mọi hoạt động.
Đồng chí Trương Hòa Bình đề nghị TP cần tính toán để sớm có thể bảo đảm đủ năng lực cách ly cho 30.000 người trong trường hợp xảy ra các tình huống; tuyệt đối không để xảy ra lây nhiễm trong khu cách ly. Đồng chí lưu ý, mỗi phòng cách ly chỉ nên tối đa 2 người, trừ những trường hợp cách ly cho gia đình thì có thể lên 4 người/phòng. Cùng với đó là phải quản lý chặt, không để xảy ra tình trạng người cách ly tụ tập, giao lưu giữa các phòng trong khu cách ly.
Liên quan đến công tác phòng chống dịch bệnh tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đề nghị TPHCM rà soát, bổ sung các Bộ tiêu chí an toàn trên từng lĩnh vực để áp dụng vào thực tế. Đồng chí lưu ý, các doanh nghiệp tuyệt đối không được lơ là, phải thường xuyên cập nhật, rà soát, bổ sung các hướng dẫn phòng, chống dịch của các cơ quan chức năng.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình nhấn mạnh, phải tiếp tục thực hiện “Mục tiêu kép”; duy trì tăng trưởng trong điều kiện tăng cường mạnh mẽ các biện pháp phòng chống dịch bệnh. TPHCM cần tính toán kỹ lưỡng các giải pháp để không bị giảm sâu ở khu vực sản xuất.
Về việc tiêm vắc - xin ngừa COVID-19, đồng chí Trương Hòa Bình đề nghị Bộ Y tế, sớm có văn bản hướng dẫn cho các địa phương, tổ chức, cá nhân trong việc tìm nguồn vắc - xin. TPHCM phải là địa phương đi đầu trong chủ động tìm nguồn và đẩy nhanh việc tiêm vắc - xin cho người dân. Cùng với các đối tượng ưu tiên như hiện nay, cần chủ động tiêm vắc - xin cho công nhân, đội ngũ người lao động trong các khu công nghiệp, người làm việc trực tiếp trong những khu cách ly tập trung thông qua vận động, huy động nguồn lực xã hội hóa để mua vắc - xin.
Các bộ, ngành theo thẩm quyền, chức năng của mình, cần sớm có hướng dẫn, hỗ trợ TPHCM triển khai gói hỗ trợ thứ 2 cho doanh nghiệp và người lao động để duy trì sản xuất. Bộ Công thương phối hợp Bộ Y tế, TPHCM xây dựng Bộ tiêu chí an toàn trong các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; có phương án sẵn sàng dự phòng nhu yếu phẩm và cung ứng đến các địa điểm, khu vực cách ly, giãn cách xã hội.
Ngăn chặn sự xuống cấp đạo đức trong xã hội: Tiếp cận từ văn hóa
Đạo đức xã hội xuống cấp là vấn đề đáng lo ngại ở nước ta hiện nay. Chúng ta đều nhận thức được tác hại khôn lường của nó đối với sự phát triển của dân tộc. Đặt câu hỏi sự xuống cấp đó từ đâu mà ra thì hẳn là có rất nhiều câu trả lời và câu trả lời nào cũng có những lý do và giải pháp cơ bản. Tuy nhiên giải pháp nào cũng khó mà thực hiện một cách thấu đáo, bền vững. Từ cách tiếp cận của văn hóa cũng như vậy.
Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa là sản phẩm của một xã hội. Tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều phản ánh vào văn hóa. Sự xuống cấp đạo đức cũng nằm trong một bối cảnh chung như thế. Xét theo chiều lịch đại, chúng ta thấy sự thay đổi nhanh chóng của xã hội Việt Nam. Nhiều thành tựu chính trị, kinh tế, xã hội và cả văn hóa đã được người dân chứng kiến, đặc biệt từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc Đổi mới. Tuy nhiên, không có bất cứ thứ gì không có mặt trái của nó. Sự mở cửa về kinh tế, xã hội, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông, bên cạnh những tác động tích cực, cũng để lại rất nhiều hệ quả. Ở góc độ văn hóa, sự thay đổi xã hội khiến cho lôgic vận hành của văn hóa thay đổi, bao gồm những vấn đề của định hướng giá trị, thói quen và phong tục, tập quán của một xã hội đang trên đà chuyển đổi. Với định hướng giá trị, thì đó là những giá trị cũ, có những thứ không còn thích hợp thì chưa mất hẳn, còn những giá trị mới, phù hợp hơn thì chưa thực sự định hình. Có những tấm gương đạo đức trước kia có tác dụng rất lớn, giờ không còn đóng đúng vị trí của nó nữa!
Xã hội rơi vào tình trạng khủng hoảng giá trị. Từ khủng hoảng giá trị dẫn đến mất niềm tin và định hướng trong xã hội, đó là lý do quan trọng của tình trạng xuống cấp đạo đức vì xung đột và khủng hoảng giá trị và niềm tin. Kể cả những nghề được xã hội coi trọng, xem là cao quý như nghề giáo và nghề y đang chứng kiến nhiều hiện tượng xuống cấp đạo đức cũng chính vì những lý do này.
Sự thay đổi thói quen, phong tục, tập quán cũng trong vòng quay như vậy. Những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc giờ đây bị thách thức bởi những thói quen mới được ra đời từ cuộc sống giàu sang và tiện nghi hơn, bị quyến rũ bởi những thông tin về cuộc sống xa lạ ở các xã hội xa lạ. Điều này dường như còn được làm đậm hơn bởi những “người của công chúng” khi đưa ra những ca khúc phản cảm với những ca từ nhảm nhí, lối sống tạo scandal để nổi tiếng bằng mọi giá, bất chấp những giá trị đạo đức của dân tộc. Tất cả khiến cho nhiều chủ nhân tương lai của xã hội (thế hệ trẻ) lạc lối trong cách xác định lý tưởng sống cũng như phong cách sống. Những lối sống mới xa lạ, đua đòi, những phong cách thời trang, nghệ thuật không phù hợp với chuẩn mực đạo đức dân tộc đã khiến cho xã hội trở nên hỗn loạn hơn, và đó cũng là nguyên nhân của sự xuống cấp đạo đức trong xã hội xét từ cách nhìn văn hóa.
Các phương tiện truyền thông đang khiến cho những giá trị phản văn hóa được dung dưỡng, lan truyền bằng những thông tin thiếu định hướng. Việc xuất hiện của các phương tiện truyền thông mới với internet và điện thoại di động thông minh, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách, đặc biệt trong tầng lớp thanh, thiếu niên. Thế giới ảo nhưng tác động thực là những thứ mà xã hội chúng ta chưa từng chứng kiến và chưa có giải pháp hữu hiệu để đối phó. Trào lưu cá nhân hóa khác rất nhiều so với lối sống vì cộng đồng từng phổ biến trong xã hội truyền thống. Các cá nhân tưởng tượng mình vô danh trên thế giới ảo, có thể thể hiện ý kiến (kể cả bức xúc) của mình theo cả những cách tiêu cực nhất. Và khi chính sự tự kiểm soát bản thân không thể thực hiện được trên môi trường mạng, cái xấu sẽ lan tràn ra toàn xã hội. Đó là những điều chúng ta thực sự lo ngại.
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG XUỐNG CẤP ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI
Chắc sẽ còn nhiều hơn nữa những lý do giải thích cho sự xuống cấp đạo đức, nhưng câu trả lời cho giải pháp nào để giúp giảm bớt và tiến tới loại trừ hẳn hiện tượng tiêu cực này có lẽ sẽ quan trọng hơn việc mải miết đi tìm nguồn gốc mà không đưa ra những cách làm hữu hiệu để loại bỏ nó. Dưới đây là một vài gợi ý nhỏ cho một vấn đề lớn được tiếp cận từ góc độ văn hóa:
Thứ nhất, cần quan tâm hơn đến vai trò của nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng con người mới, xác định những giá trị xã hội mới được xã hội tôn vinh.
Trước kia, cha ông chúng ta chỉ sử dụng các loại hình nghệ thuật như tuồng, chèo, cải lương, sử dụng tục ngữ, dân ca để chuyển tải các thông điệp nhân văn, mà giáo huấn được cả xã hội đi theo tiếng gọi của lương tri, đạo đức. Bối cảnh xã hội hiện nay không cho phép chỉ sử dụng những biện pháp cũ, nhưng nếu chúng ta cho nghệ thuật, hình thành những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, thu hút sự quan tâm của nhiều người dân trong xã hội, thì sức lan tỏa của các thông điệp từ nghệ thuật có tác dụng cao hơn nhiều lời hiệu triệu. Chứng kiến cả chục ngàn người đứng lên hát vang quốc ca trong một trận đấu bóng đá và cả nước hân hoan, vẫy cờ, ào xuống phố một cách trật tự, văn minh cùng với niềm vui chiến thắng của dân tộc, cũng là lúc chúng ta hiểu thêm những giá trị tốt đẹp mà văn hóa đem lại cho cả xã hội. Từ những niềm vui tinh thần do văn hóa mang lại đó, bầu không khí xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn, thuận tiện hơn để cả dân tộc có thể tạm quên đi những khó khăn, tiếp bước trên hành trình vinh quang của mình.
Thứ hai, xây dựng và củng cố hệ thống các quy tắc đạo đức trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi viết cuốn sách “Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản”, Max Weber đã nhấn mạnh đến khía cạnh dẫn dắt sự phát triển của xã hội từ các giá trị đạo đức. Theo đó, chính các giá trị đạo đức đã có tác dụng vừa ổn định xã hội, vừa tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Muốn làm được như vậy, xã hội cần hình thành hệ thống các quy tắc đạo đức ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Nghề giáo, nghề y hay bất kỳ một ngành nghề nào cũng có một bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Bộ quy tắc đạo đức ấy sẽ giúp đạo đức xã hội được ổn định trong từng nhóm nhỏ, rồi từ đó lan ra toàn xã hội (việc Hội Nhà báo Việt Nam vừa cho ra đời Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam là một ví dụ cho thấy, chúng ta cần có thêm các bộ quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức cho các lĩnh vực khác nhau để bảo đảm sự ổn định, rõ ràng trong hành vi ứng xử của từng nhóm xã hội trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể).
Thứ ba, phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông trong việc truyền đi thông điệp tích cực về những lối sống đẹp, những tấm lòng nhân ái trong xã hội, và hình thành một dư luận xã hội ủng hộ các giá trị chân - thiện - mỹ. Về bản chất, xã hội là tốt và con người là hướng thiện. Vì thế, để cái tốt và lòng hướng thiện lan tỏa trong xã hội sẽ khiến cho cuộc sống đẹp hơn. Chính cái thiện, cái đẹp của văn hóa trong xã hội sẽ góp phần đẩy lùi tệ nạn và cái xấu, đạo đức tốt đẹp trong xã hội sẽ dần trở lại. Từ đó, văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, là hệ điều tiết cho sự phát triển xã hội./.
Nêu cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời việc bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là: Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Như vậy, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước là một trong các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, đó cũng là một nội dung trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, kịp thời ngăn chặn biểu hiện này không chỉ là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng mà còn là biện pháp để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Trong các lãnh tụ tiền bối, người bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt nhiều nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng bịa đặt, Hồ Chí Minh thực chất chỉ là người “dân tộc chủ nghĩa”(!). Chúng xuyên tạc tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh là “phi nhân tính”(!).
Chúng suy luận: “Nhân dân Việt Nam đi theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh là sai lầm, là đi vào ngõ cụt”(!). Chúng còn dựng những câu chuyện hoang đường về thân thế, đời tư của Người cùng với việc vẽ lên “chân dung” người cộng sản không có tình cảm, tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em; công khai mục tiêu phá bỏ thần tượng Hồ Chí Minh.
Để tăng cường xuyên tạc, vu cáo, các thế lực thù địch đã tổ chức một số cuộc hội thảo, tọa đàm, diễn đàn quốc tế ở các nước có đông bà con Việt kiều sinh sống và làm việc như: Australia, Mỹ, Canada... rồi gửi thư ngỏ, tài liệu truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cơ quan chức năng trong nước, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Qua đó, chúng ra sức rêu rao rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, lạc hậu, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới.
Sự chống phá của các thế lực thù địch quyết liệt là vậy, nhưng thực tế đã cho thấy, thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là một di sản quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, nhiều công trình khoa học, chương trình nghiên cứu, bài nói, bài viết của các học giả, nhân sĩ, trí thức, nhà chính trị… trong và ngoài nước đã công bố là minh chứng rõ nét.
Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh được toàn thể nhân dân Việt Nam qua nhiều thế hệ và nhiều tổ chức, cá nhân có lương tri trên thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh. Trong đó, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), năm 1987, đã ra Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong đó, đánh giá Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.
Với ý nghĩa đó, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã trở thành giá trị văn hóa có sức thẩm thấu và lan tỏa mạnh mẽ; là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển; cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các vị lãnh tụ tiền bối khác cũng bị bôi nhọ, xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo. Điển hình như, ngày 27-9-2018, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt (thành phố Cần Thơ) đã xét xử sơ thẩm bị cáo Bùi Mạnh Đồng (“tự” Beo, 40 tuổi, ngụ quận Thốt Nốt) về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Theo đó, từ năm 2017 đến tháng 7-2018, Bùi Mạnh Đồng đã lấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trên mạng internet, sau đó chèn chữ vào hình ảnh, tạo nên nội dung xuyên tạc, vu khống, nhằm bôi nhọ lãnh tụ. Qua đó, đã tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước chống phá chế độ; gây khó khăn cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Không chỉ lãnh tụ tiền bối, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn bị bịa đặt, vu cáo. Thủ đoạn của chúng là tạo hàng loạt bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc để đăng tải trên tất cả các mạng xã hội. Điển hình như Nguyễn Chí Khương (23 tuổi, trú tại Bến Tre) quay và đăng tải lên Facebook đoạn clip bịa đặt “Đoàn xe Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân về thăm Bến Tre”.
Clip cho thấy sự xuyên tạc trắng trợn khi ngày hôm đó (27-10-2016), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đang điều hành phiên họp Quốc hội tại Hà Nội. Thực chất, đoạn clip mà Khương quay và tải lên mạng xã hội là đoàn xe của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đơn vị chức năng của tỉnh Bến Tre tham gia diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2016.
Nhìn chung, hành động bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch tuy không mới nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc hoang mang, sự nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tác động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hành vi tung tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã được một số nước xếp ngang với những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất. Chính phủ Anh xếp loại tội phạm này ngang hàng với tấn công khủng bố, tấn công bằng vũ khí hóa học.
Trên tinh thần đó, đối với các cơ quan pháp luật Việt Nam, dù đề cao tính giáo dục thuyết phục nhưng phải chủ động trong đấu tranh, phòng ngừa và đẩy lùi các hoạt động bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phải kết hợp chặt chẽ nhiều biện pháp trong đó có cả biện pháp xử lý hành chính, xử lý hình sự.
Đặc biệt, với những kẻ cố tình xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo vì động cơ chính trị, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự an toàn xã hội cần được xử lý một cách kiên quyết, nghiêm minh. Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 1-1-2019 là cơ sở pháp lý và là biện pháp răn đe đủ mạnh để xử lý các đối tượng tung tin, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng.
Đối với đảng viên, bên cạnh việc đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản bác luận điệu xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch, cần thực hiện nghiêm Quy định số 102-QĐ/TƯ ngày 15-11-2017 của Ban Chấp hành Trung ương quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trong đó áp dụng hình thức cao nhất là khai trừ khỏi Đảng đối với nhiều vi phạm, trong đó có trường hợp bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước…
Cuối cùng, để kịp thời ngăn chặn tình trạng bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải chủ động trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng văn hóa nhằm phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá, bịa đặt, vu cáo của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị.
Tuy nhiên, phải có phương pháp đấu tranh khoa học; trong phê phán phải lập luận chặt chẽ; phải thể hiện tính chiến đấu, tính sắc bén và tính thuyết phục cao. Bên cạnh đó cần phải kịp thời chấn chỉnh những tư tưởng, quan điểm không đúng, lệch lạc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về biểu hiện bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Làm được như vậy sẽ góp phần thực hiện thành công Nghị quyết hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
THAM NHŨNG VÀ HỆ LỤY
Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi[1](nhưng bài viết này chỉ giới hạn ở những người có chức quyền, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức,v.v.. làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị). Đặc điểm chung của tham nhũng là người thực hiện hành vi có chức quyền, sử dụng chức quyền như một phương tiện để trục lợi cho mình, gia đình mình hoặc cho người thân về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần.
Theo Bộ Luật hình sự, Luật PCTN (năm 2005) và Luật PCTN năm 2018 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019), các hành vi tham nhũng bao gồm: "1. Các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; đ) Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; g) Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; h) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; k) Nhũng nhiễu vì vụ lợi; l) Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; m) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. 2. Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi"...
Thực tế cho thấy, các hành vi tham nhũng nêu trên đã và đang xảy ra không chỉ ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án lớn có giá trị hàng ngàn tỷ đồng (tham nhũng lớn) mà còn xuất hiện nhiều tại các bệnh viện, các cơ quan công quyền ở cơ sở,v.v.. nơi hằng ngày trực tiếp giải quyết những công việc liên quan lợi ích của nhân dân (tham nhũng vặt). Diễn ra càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích - “tham nhũng lớn” hay “tham nhũng vặt” - những hành vi tham nhũng của những người đang chịu trách nhiệm thực thi công vụ, quản lý trong một tổ chức có động cơ, lợi ích cá nhân, trục lợi trên cương vị của mình, sẵn sàng “ăn không từ thứ gì” cũng đều gây hậu quả nặng nề, cũng đều là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong đó, “tham nhũng lớn” bị phát hiện ngày càng tăng về số lượng, mức độ thiệt hại, số tiền và tài sản thất thoát và rất rất nhiều vụ “tham nhũng nhỏ” diễn ra công khai cũng từng bước được “chỉ mặt vạch tên”.
Tham nhũng không chỉ xảy ra trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai,v.v.. mà còn lan rộng sang các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao; trong các chương trình trợ cấp cho thương binh, liệt sĩ, các gia đình chính sách; trong các chương trình cứu trợ cho đồng bào gặp thiên tai; trong quá trình xét duyệt công nhận di tích lịch sử, văn hoá, thi đua khen thưởng,v.v... Tham nhũng làm thay đổi mọi lĩnh vực trong trong đời sống xã hội như kinh tế, luật pháp, dân chủ, luân lý, giáo dục... đã xâm phạm, thậm chí làm xê dịch, thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức trong hệ thống các cơ quan công quyền, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Tham nhũng không chỉ làm xói mòn niềm tin của người dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn "tiếp tay" cho các thế lực thù địch, phản động trong việc bôi nhọ, hạ uy tín, vị thế của Đảng trong phạm vi quốc gia cũng như trên trường quốc tế.
Tham nhũng - những lợi ích bất chính đã hoặc sẽ có được đã khiến nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao “không giữ được mình”, không gương mẫu trong thực thi trọng trách được giao, nói một đằng, làm một nẻo, không còn xứng đáng với vai trò tiền phong. Họ đã bất chấp việc vi phạm pháp luật mà làm trái công vụ, trái lương tâm, đạo đức nghề nghiệp…để vụ lợi, trục lợi cho mình, người thân, cánh hẩu của mình, nhóm lợi ích của mình... dẫn đến làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gây bất bình, bức xúc, thậm chí phản ứng của nhân dân đối với các cơ quan công quyền. Vì vậy, bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ[2]; “là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta… làm hỏng tinh thần trong sạch, ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”[3]. Tuy các tệ nạn này biểu hiện trong đời sống xã hội dưới nhiều dạng khác nhau, song các hành vi tham ô, tham nhũng dù là “lớn’ hay “vặt” cũng đều là “ăn cắp của công làm của tư”, “đục khoét của nhân dân”, “ăn bớt của bộ đội”, “tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình”, “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”[4]…, cho nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải “- Chống nạn tham ô, - Chống nạn lãng phí, - Chống bệnh quan liêu”[5]. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng, chừng nào và ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó ắt có tham ô, lãng phí và nơi nào bệnh quan liêu càng nặng, thì ở đó càng nhiều lãng phí, tham ô, càng nhiều hiện tượng tham nhũng từ nhỏ đến lớn. Tất cả những tệ nạn đó, các hành vi đó, dù xảy ra ở cấp Trung ương hay tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở cũng đều là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân, chúng đều “xâm phạm đến lợi ích của nhân dân”, đều “là kẻ thù của nhân dân và của Chính phủ”. Do đó, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu cũng rất cần thiết, “quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”- mặt trận tư tưởng và chính trị. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Thực hiện theo chỉ dẫn của Người, trong những năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là trong thời kỳ miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội để làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam, công tác phòng và chống tham ô, tham nhũng, quan liêu - chống thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm” đã được thực hiện, với quyết tâm chính trị cao. Từ Trung ương đến các địa phương đều thống nhất triển khai chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu với tinh thần: 1) “Phải kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sự sinh hoạt của chúng ta. Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ”[6]; 2) “Phải chấm dứt nạn phô trương, lãng phí” trong “những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn” và “không thể tha thứ cho những việc phô trương, lãng phí như vậy”[7]; 3) Chấm dứt cái thói vô Chính phủ như “xem thường phép luật, chính quyền”, “hy sinh lợi ích của nước nhà để lên mặt mình khảng khái” của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức quyền; 4) Phải chống nạn ăn cắp của công mà các cơ quan quen gọi trộm cắp “đường hoàng” vì “đó là một điều đáng chú ý, một điều đáng nguy hiểm”; đồng thời, cũng phải chống bọn “trộm cắp kín đáo”, “bọn trộm cắp tinh vi”, để chúng “không sống còn được” [8]…
Khi cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, tình trạng tham nhũng bộc lộ ngày càng rõ nét, diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp và có nguy cơ lan rộng, làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Mặc dù Đảng đã có Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí", song hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế. Số vụ việc về tham nhũng được phát hiện còn chưa cao so với tình hình thực tế. Một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm; trong đó, có việc thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm PCTN của Đảng và Nhà nước. Đánh giá thực trạng và dự báo tình hình tham nhũng ở Việt Nam, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xác định: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xẩy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”[9]. Trước tình hình đó, Hội nghị đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (Ban Chỉ đạo) trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng Ban Chỉ đạo; lập lại Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy là cơ quan tham mưu cho cấp ủy về công tác nội chính và PCTN. Trong đó, Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo PCTN, nhằm tạo bước chuyển mới, mạnh mẽ hơn trong công tác đấu tranh PCTN. Tiếp đó, ngày 7/12/2015, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 50-CT/TW về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng"; đồng thời, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy, địa phương, đơn vị gắn tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị với công tác đấu tranh PCTN… Trong đó, nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, cơ quan, đơn vị “phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; chủ động tự phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng là thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực, trách nhiệm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu”...
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, nghị quyết về PCTN, công tác PCTN đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực rõ rệt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Báo cáo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN ngày 25/6/2018 khẳng định: “Công tác phòng, chống tham nhũng được chỉ đạo thực hiện ráo riết, quyết liệt, đạt nhiều kết quả tích cực, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, được nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá tích cực. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”. Theo đó, nhiều quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước được ban hành về PCTN vừa có tác dụng giáo dục, răn đe, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện và xử lý các sai phạm… Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN …
Sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, “cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 490 tổ chức đảng và 35 nghìn đảng viên vi phạm, trong đó có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái”. Nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có cả đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị đã bị kỷ luật; trong đó có cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, cả trong lực lượng vũ trang,v.v.. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ việc tồn tại từ nhiều năm trước đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn; có lý, có tình, thể hiện rõ quan điểm “nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền”, góp phần nâng cao uy tín, sức chiến đấu của Đảng và cũng là biện pháp cảnh tỉnh, răn đe có hiệu quả (vụ án Dương Chí Dũng; vụ án Vũ Quốc Hảo; vụ án Huỳnh Thị Huyền Như; vụ án Phạm Công Danh; vụ án Hà Văn Thắm; vụ án Giang Kim Đạt; vụ án Đinh La Thăng; vụ án Trịnh Xuân Thanh; vụ án Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm); vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc); vụ án đánh bạc và tổ chức đánh bạc xảy ra tại Phú Thọ và một số địa phương;... Việc thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao (vụ Giang Kim Đạt hơn 300 tỷ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỷ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỉ đồng; vụ Đinh La Thăng hơn 20 tỷ đồng; vụ Trịnh Xuân Thanh hơn 45 tỷ đồng; vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng... Đấu tranh PCTN được làm nghiêm từ trên xuống dưới và đó chính là bước đột phá trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với lĩnh vực này, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PCTN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm; việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu… Trong khi đó, không chỉ các vụ “tham nhũng lớn” mà ngay cả “tham nhũng vặt” trong khu vực hành chính, dịch vụ công vẫn còn nhiều, gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, việc chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm thực hiện nghiêm đã tạo “kẽ hở” cho việc lạm quyền để trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu rèn luyện đạo đức, tham lợi, vụ lợi bất chính...
TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH PCTN - MỘT NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG CỦA ĐẢNG CẦM QUYỀN
Để phòng ngừa và đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng không chỉ cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong nhân dân mà còn là một trong những thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và mỗi người dân về quyết tâm của Đảng, Nhà nước đối với cuộc đấu tranh PCTN; đưa nội dung đấu tranh PCTN vào sinh hoạt định kỳ của các tổ chức Đảng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Trong đó, các tổ chức Đảng tăng cường chỉ đạo quyết liệt công tác giáo dục, phòng ngừa tham ô, tham nhũng; các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về PCTN. Đồng thời, nâng cao và phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng trong thwucj thi trọng trách được giao gắn với đấu tranh PCTN theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường phối hợp và kịp thời cung cấp, công khai thông tin, định hướng tuyên truyền về PCTN, để một mặt tạo sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị; mặt khác thông qua đó, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch lợi dụng PCTN để chống phá Đảng, Nhà nước. Chủ động thông tin về kết quả kiểm tra, thanh tra, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, bất kể là ai, giữ chức vụ gì; về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; về những vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm trong đấu tranh PCTN đi liền cùng với việc chủ động tuyên truyền gương người tốt, việc tốt; bảo vệ, khen thưởng, động viên những người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng. Thông qua tuyên truyền về kết quả đấu tranh PCTN, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật và đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm, góp phần làm trong sạch bộ máy, tạo động lực, khí thế, sự thống nhất cao về ý chí và hành động để cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.
Thứ ba, tiếp tục gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ" với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và với các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”… Qua đó, mỗi người hằng ngày đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng trực lợi và các biểu hiện cơ hội, thực dụng, lạm dụng chức quyền để mưu cầu lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”,v.v.. Coi đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi cá nhân trong công tác giáo dục và tự giáo dục, vừa đấu tranh và tự đấu tranh để thiết thực phòng và chống 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ nói chung, về đấu tranh PCTN nói riêng.
Thứ tư, phải công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức,v.v.. nhà nước nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện chức trách, công vụ theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định. Việc công khai, minh bạch không chỉ góp phần để những người "có chức quyền" hiểu rằng mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để vụ lợi, trục lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý mà còn để người dân nhận biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật cũng như đòi hỏi các cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước thực hiện các quy định đó. Theo đó, cần công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức theo quy định,v.v.. đó là “những chìa khóa then chốt” để bảo đảm đấu tranh PCTN hiệu quả, thành công.
Thứ năm, tham khảo kinh nghiệm PCTN của một số nước trên thế giới, để có thể vận dụng trong quá trình xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, hoàn thiện thể chế, phân cấp, quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp trong đấu tranh PCTN. Bổ sung một số hành vi tham nhũng thuộc tội phạm tham nhũng; ban hành các quy định về bảo vệ, khen thưởng người có thành tích trong công tác PCTN, nhất là người tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng; đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/2/2018. Đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ PCTN; tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng đi liền cùng với đó là cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, công chức, viên chức,v.v.. để góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCTN. Đồng thời, cùng với quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, trước mắt, phải xây dựng và hoàn thiện chế tài pháp lý để mỗi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức quyền tại các cơ quan công quyền trong hệ thống chính trị “không thể tham nhũng” và “không dám tham nhũng”./.
Không có cách nào kiểm soát đại dịch COVID -19 nếu không có vaccine
Bài học được rút ra là không có cách nào kiểm soát đại dịch COVID-19 nếu như không có vaccine. Các nước đang phát triển cần được tiếp cận nhiều hơn với các nguồn cung cấp vaccine đã có sẵn trong ngắn hạn, vì lợi ích chung của cả thế giới trong việc đánh bại đại dịch COVID-19.
Mùa hè năm nay, các nước giàu ở phương Tây sống trong bầu không khí sôi sục của chương trình tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19 trên diện rộng. Người dân các nước giàu phương Tây chia làm hai phe, một bên vui mừng lạc quan về chương trình tiêm chủng quốc gia, một bên lo ngại về biến chủng mới của vius nhưng tất cả đều chung cảm nhận là tình trạng tồi tệ nhất của thế giới đối với đại dịch COVID có lẽ gần như đã đi qua.
Trái ngược với hình ảnh phấn khởi đó là sự tương phản của châu Á. Tâm lý tự mãn, tư tưởng dân túy và hạ tầng y tế nghèo nàn đã thổi bùng làn sóng COVID-19 lần thứ hai tại Ấn Độ với hàng triệu ca mắc bệnh. Chuông báo động đã gióng lên từng hồi trên khắp Đông Nam Á. Tình hình đã trở nên tồi tệ tại Thái Lan, Malayxia, Indonexia, Philippine. Tất cả các nước này đã ghi nhận số ca lây nhiễm trong ngày ở mức cao kỷ lục, vượt xa những làn sóng lây nhiễm trước đó. Indonexia đang mấp mé con số 6.000 ca nhiễm mới mỗi ngày, Philippine ngày 22/5 công bố 6.800 ca nhiễm, Campuchia tháng 5 có trên 24.000 người tăng gấp 10 so với tháng 4, Lào tháng 5 có 1.700 ca so với chưa tới 50 ca nhiễm hồi đầu tháng 4. Thái Lan trong tháng 4 ghi nhận hơn 72.000 ca bệnh cao hơn rất nhiều so với tổng số chưa đến 7.000 ca của năm 2020. Làn sóng lây nhiễm dịch bệnh COVID-19 lần thứ tư cũng đã xuất hiện trở lại ở Nhật Bản chỉ 10 tuần trước khi Olympic thế giới được tổ chức. Theo trang Southeast Asia Globe, làn sóng COVID-19 mới có thể chấm dứt câu chuyện “chống dịch thành công” của khu vực sông Mêkông. Tiến sĩ Jessica Manning thuộc Trung tâm y tế quốc gia ở Maryland Mỹ cho rằng: “Sự bùng nổ những biến thể mới khiến chúng ta không còn nuôi dưỡng quan niệm rằng người Campuchia, người Thái Lan hoặc người Việt Nam có khả năng miễn nhiễm với virus”.
Sự hoành hành trở lại của đại dịch tại nhiều nước khiến dư luận chú ý về công tác quản lý đại dịch của châu Á, vốn dĩ được đánh giá là rất thành công trong năm 2020. Nhiều ý kiến cho rằng, dù thành tích kiểm soát dịch bệnh với các biện pháp cách ly tại khách sạn, cách ly bệnh nhân, đeo khẩu trang bắt buộc và truy vết những trường hợp tiếp xúc… của châu Á là rất ấn tượng, song về cơ bản khu vực đã tụt hậu so với thế giới phương Tây khi bước vào giai đoạn triển khai tiêm chủng. Các giải pháp và hành động được đánh giá là có hiệu quả trong công tác ngăn công tác ngăn chặn dịch bệnh lây lan vào năm ngoái hiện đã không còn phát huy tác dụng, trong khi Mỹ và Châu Âu bắt đầu mở cửa trở lại thì phần lớn các quốc gia châu Á lại phải thắt chặt phong tỏa.
Bài học được rút ra là không có cách nào kiểm soát dịch bệnh nếu như không có vaccine. Đây chính là lý do mà nhiều khu vực tại châu Âu và Mỹ đã chứng kiến số ca nhiễm giảm hẳn và châu Á dường như đang tụt hậu trong cuộc chiến này.
Ông Shiro Amstrong, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Australia - Nhật Bản tại đại học quốc gia Australia cho rằng: Những đợt bùng phát gần đây trên khắp Thái Lan, Đài Loan và Singapore là điều đáng tiếc và nhắc nhở chúng ta chưa qua được đại dịch. Những gì xảy ra ở Ấn Độ có thể xảy ra ở bất kỳ nơi đâu tại Đông Nam Á và Nam Á, nếu không có sự hợp tác và hỗ trợ vaccine từ các nền kinh tế tiên tiến”. Karrthik Nachiappan, nhà nghiên cứu tại Đại học quốc gia Singapore khẳng định vaccine sẽ là chìa khóa để châu Á duy trì sự dẫn đầu trong cuộc đua hồi phục kinh tế. Ông nói: “Chìa khóa ở đây để tránh bị áp đặt thêm các biện pháp hạn chế, thậm chí có thể là phong tỏa là vaccine và cần đảm bảo đủ nguồn cung vaccine để tiêm chủng nhiều hơn hoặc có chương trình vaccine kéo dài khoảng cách giữa các liều tiêm…”
BẤT BÌNH ĐẲNG, MIỄN TRỪ BẢN QUYỀN VÀ MỞ NÚT THẮT TRONG SẢN XUẤT VACCINE PHÒNG COVID-19
Đã có nhiều tranh luận liên quan đến “cuộc chiến” vaccine phòng ngừa COVID-19 như quyền sở hữu trí tuệ, ngoại giao vaccine, bất bình đẳng vaccine, sản xuất vaccine mở. Theo thống kê hiện các quốc gia giàu có chỉ chiếm 16% dân số thế giới nhưng sở hữu tới 60% lượng vaccine. Người đứng đầu Tổ chức Y tế thế giới WHO đã lên tiếng về vấn đề này bởi những quốc gia giàu có đang có gấp 3 lần lượng vaccine để tiêm chủng cho toàn bộ dân số của họ. Nhiều ý kiến cho rằng cần tạm miễn trừ quyền sở hữu trí tuệ đối với vaccine phòng COVID-19. Điều này cho phép các nước đang phát triển sản xuất hoặc nhập khẩu các liều vaccine gốc mà không cần sự cho phép của các công ty sở hữu bằng sáng chế. Việc đình chỉ bảo hộ sáng chế vaccine có thể cho phép tăng tốc sản xuất trên toàn cầu để chống lại một đại dịch đã cướp đi sinh mạng của hơn 3 triệu người trên thế giới. Ngày 5/5, đại diện Thương mại Mỹ Katherine tuyên bố ủng hộ việc tạm hoãn bảo vệ bản quyền vaccine phòng chống Covid-19.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng hủy bỏ quyền bảo hộ sáng chế vaccine không phải là “cây đũa thần” do còn nhiều chướng ngại vật trong đó có vấn đề kinh tế và chính trị. Báo kinh tế Les Echos đề cập đến việc tại sao các tập đoàn dược phẩm không ủng hộ việc đình chỉ bảo hộ sáng chế đối với vaccine ngừa COVID-19. Dựa trên 11 loại vaccine được bán trên thị trường, Viện CEPI của Pháp cho biết, tính trung bình mỗi dự án phát triển vaccine cần tới 10 năm với số tiền đầu tư từ 2,8-3,7 tỷ đô la và tỷ lệ thất bại ở thời điểm khởi đầu dự án lên tới 94%. Nếu quyền sở hữu trí tuệ không được bảo đảm, các hãng bào chế rất khó tìm được nhà đầu tư tài chính. Bên cạnh tâm lý lo sợ mất nguồn thu nếu bằng sáng vaccine ngừa COVID-19 bị đình chỉ, các tập đoàn còn lo ngại về việc mất kiểm soát hệ thống quyền sở hữu trí tuệ tạo tiền lệ cho việc đình chỉ sáng chế tương tự nếu sau này thế giới lại lâm vào khủng hoảng do dịch bệnh.
Bất chấp nhiều nỗ lực, cuối tháng 4 vừa qua, sản lượng vaccine toàn cầu mới đạt 1,2 tỷ liều, thấp hơn rất nhiều so với tốc độ cần thiết để đạt mục tiêu cho năm 2021. Hơn nữa, các biến thể mới và nguy hiểm hơn có thể tiếp tục xuất hiện làm giảm hiệu quả của vaccine, các nước cần thêm nhiều liều hơn để đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng, do đó, nhu cầu vaccine ở các nước giàu vẫn sẽ tiếp tục. Chủ nghĩa dân tộc vaccine và các lợi ích thương mại tiếp tục là mối đe dọa khiến cho các nước đang phát triển phải đứng cuối hàng chờ để có vaccine, thậm chí phải chờ lâu hơn. Điều này làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến thể nguy hiểm hơn và gây ra một vòng luẩn quẩn.
Roland Rajah, Giám đốc Chương trình Kinh tế học quốc tế đã chỉ ra một số lý do cho thấy việc miễn trừ quyền sở hữu trí tuệ đối với vaccine ngừa COVID-19 sẽ không “giết chết” sự đổi mới, nhưng cũng sẽ không tự nhiên đem lại nhiều liều vaccine hơn để đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay do các rào cản về quy tắc thương mại, nguyên liệu cũng như năng lực sản xuất của các nước nghèo. Việc miễn trừ bản quyền đối với vaccine là việc cần phải làm nhưng chưa đủ. Cần có những kêu gọi xóa bỏ các hạn chế xuất khẩu và tăng cường đầu tư để tăng nguồn cung. Các nước đang phát triển cũng cần được hỗ trợ tài chính để mua đủ vaccine.
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên kêu gọi các quốc gia “miễn trừ bản quyền” vaccine COVID-19. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng ngày 13/5 đã nêu rõ: “Để mở ra cơ hội khống chế lây lan dịch bệnh nguy hiểm này, Việt Nam mong muốn các quốc gia chia sẻ thông tin, miễn trừ bản quyền vaccine COVID-19 để các loại vaccine có thể phổ biến rộng rãi ở tất cả các nước trên thế giới. Vaccine do Việt Nam sản xuất dự kiến được sử dụng trong năm 2022”. Điểm mấu chốt hiện nay là thời gian quan trọng hơn tiền bạc. Các nước đang phát triển cần được tiếp cận nhiều hơn với các nguồn cung cấp vaccine đã có sẵn trong ngắn hạn, vì lợi ích chung của cả thế giới trong việc đánh bại đại dịch COVID-19.
VACCINE VÀ CUỘC CHIẾN TIẾP THEO CỦA VIỆT NAM VỚI ĐẠI DỊCH COVID-19
Việt Nam được đánh giá có nhiều thành công trong cuộc chiến với đại dịch COVID-19. Trang mạng Peoplesreview cho rằng Việt Nam tiếp tục chống dịch tương đối thành công nhờ những nỗ lực không ngừng trong việc dự phòng và phòng chống dịch bệnh. Lãnh đạo Việt Nam bắt đầu cuộc chiến chống COVID-19 bằng những hành động khẩn trương và quyết liệt. Người dân tuân thủ và duy trì các biện pháp phòng ngừa, kể cả giãn cách xã hội. Nền kinh tế VIệt Nam có khả năng chống chịu và dự kiến đạt mức tăng trưởng 6,5% vào năm 2021. Trang Devpolicy của Australia dẫn số liệu của Worldometers cho biết, tính đến ngày 18/5 tỷ lệ tử vong do COVID-19 trên 1 triệu dân ở Việt Nam là 0,4 trong khi ở Singgapore là 5, Thái Lan là 9, Australia là 35 và Malayxia là 59. Tỷ lệ nhiễm bệnh trên 1 triệu người ở Việt Nam là 44, trong khi ở Singaporre là 10.460, Thái Lan là 1.623 và Malyxia là 14.500.
Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn chậm tiến độ tiêm chủng ngừa COVID-19 so với các nước láng giềng Đông Nam Á. Lào và Campuchia dẫn đầu trong việc triển khai tiêm chủng, tiếp đó là Thái Lan, Malayxia, Indonexia và Philippine. Thống kê của Our World in Data cho thấy 32% trong số 5,7 triệu dân của Singapore đã được tiêm ít nhất một mũi vaccine ngừa COVID-19 thì hiện mới chỉ có khoảng 1% trong số 96 triệu dân Việt Nam được tiêm vaccine.
Theo trang Nikkei của Nhật Bản đưa tin ngày 18/5, làn sóng mới của dịch COVID-19 có thể tác động đến kinh tế Việt Nam. Hoạt động sản xuất sẽ bị gián đoạn hơn nếu tình trạng lây nhiễm không được kiểm soát được và điều này có khả năng ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam sang các điểm đến như Mỹ và Trung Quốc. Tốc độ tiêm chủng chậm sẽ càng làm tăng thêm lo ngại.
Zhang Zhiwei, nhà kinh tế trưởng tại Pinpoint Asset Management cho rằng, ngược lại với xu hướng chuyển dịch chuỗi cung do chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, tình hình dường như đang thay đổi và chuỗi cung ứng có thể quay trở lại Trung Quốc khi số ca nhiễm COVID-19 tăng đột biến ở Ấn Độ và nhanh chóng ở Việt Nam. Việc cấm hoặc hạn chế nhập cảnh khiến các công ty đa quốc gia không thể cử nhân viên của họ đến Ấn Độ để thiết lập các nhà máy mới. Hiện tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc dao động khoảng 20-40%/tháng. Nếu các nhà máy ở Ấn Độ và Việt Nam sớm trở lại sản xuất, xuất khẩu của Trung Quốc dự kiến sẽ chậm lại trong nửa cuối năm 2021, khi các công ty chuyển hoạt động sản xuất sang hai quốc gia này. Tuy nhiên “nếu chuỗi cung ứng Ấn Độ và Việt Nam” bị gián đoạn trong một thời gian dài, Trung Quốc có thể đạt mức tăng trưởng xuất khẩu 20-30% trong năm tới.
Theo tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc, chuỗi cung của Apple đang phải đối mặt với sự bất ổn ngày càng tăng, khi nhiều nhà máy của các nhà cung cấp cho hãng công nghệ khổng lồ của Mỹ phải tạm dừng hoạt động do đại dịch COVID-19. Sau sự gián đoạn hoạt động của nhà máy Foxcon Tecgcology Group - nhà cung cấp lớn của Apple tại Ấn Độ, các nhà máy của Foxconn và một nhà cung cấp khác là Luxshare Precision Industry đã tạm ngừng hoạt động tại Việt Nam, việc không khởi động lại sản xuất trong 2 tuần sẽ gây căng thẳng cho năng lực toàn cầu của Apple. Trong bối cảnh hoạt động sản xuất ở Ấn Độ gián đoạn, Foxconn đã tích cực tuyển dụng lại một số nhà máy lớn tại Trung Quốc. Theo các nhà phân tích, đây có thể là dấu hiệu ban đầu của việc công ty này chuyển một số công việc từ Ấn Độ sang Trung Quốc.
Các nhà phân tích cho rằng cách lâu dài là Việt Nam phải tiêm vaccine ngừa COVID-19 cho phần đông dân chúng.
Tiến sỹ Todd Pollack, Giám đốc Quốc gia của tổ chức Đối tác vì tiến bộ Y tế tại Việt Nam (HAIVN) cho rằng: “Việt Nam đã làm đúng mọi thứ. Những gì Việt Nam cần làm bây giờ là tiêm chủng cho người dân”.
Hiện nay, Bộ Y tế nước ta đã đàm phán với nhiều quốc gia, tổ chức, nhà sản xuất để đa dạng hóa nguồn cung vaccine. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết trong cả năm 2021, Việt Nam sẽ có khoảng 110 triệu liều vaccine, bao gồm 38,9 triệu liều vaccine từ chương trình COVAX, 30 triệu liều từ AstraZeneca và 31 triệu liều từ Plizer. Khi có vaccine, ngành Y tế sẽ triển khai chiến dịch tiêm phòng vaccine COVID-19 quy mô rộng lớn, chưa từng có trong lịch sử ngành Y tế Việt Nam.
Việt Nam đang kêu gọi các quốc gia “miễn trừ bản quyền” với vaccine COVID-19. Trong một cuộc họp với đại diện của WHO, Bộ Y tế Việt Nam đã đề nghị phía Tổ chức Y tế thế giới WHO tạo điều kiện đàm phán để một doanh nghiệp trong nước được chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine Pfizer/BioNTech và Moderna theo công nghệ ARNm.
Ngoài việc tìm hướng sản xuất, Việt Nam còn “tự chủ động nguồn vaccine” với 3 loại vaccine đang được thử nghiệm: Nano Covax của Công ty cổ phần Công nghệ sinh học dược Nanogen kết hợp với Học viện Quân y, Covivac của Viện Vaccine và Sinh phẩm – IVAC sẽ thử nghiệm giai đoạn 1 vào tháng 7/2021 và Vabiotech của Công ty TNHH một thành viên vaccine và sinh phẩm số 1 thuộc Bộ Y tế.
Trong 3 loại này vaccine Nano Covax có thể được bảo quản ở nhiệt độ 2-8 độ C, bắt đầu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 với hơn 10 ngàn người từ giữa tháng 5 và dự kiến hoàn tất trong tháng 8 hoặc tháng 9. Vaccine made in Việt Nam có thể được sử sụng vào cuối năm 2021.
Ông Đỗ Minh Sĩ, Giám đốc nghiên cứu và phát triển của Nanogen khẳng định công ty có khả năng sản xuất 120 triệu liều mỗi năm. Tuy nhiên cũng có nhiều chuyên gia đặt câu hỏi về khả năng sản xuất trên quy mô lớn, về nguồn tài chính cũng như công tác kiểm soát chất lượng của Việt Nam.
Việt Nam đang thực hiện nhiều nỗ lực trong đàm phán mua, nhận hỗ trợ cũng như sản xuất vaccine ngừa COVID-19. Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 21/NQ-CP về mua và sử dụng vaccine phòng COVID-19, dự kiến mua 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người, với tổng nhu cầu kinh phí ước khoảng 25,2 nghìn tỷ đồng. Trong điều kiện trước mắt còn khan hiếm, Việt Nam cần xây dựng chiến lược phân bổ, tiêm vaccine hợp lý, ưu tiên cho các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao, các tỉnh thành đang có dịch nặng nhất và sau đó là các tỉnh thành, địa phương cần ưu tiên. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh các nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Thứ nhất, truyền thông, vận động sự tham gia đóng góp của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nước, nước ngoài và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác đóng góp xây dựng Quỹ vaccine phòng COVID-19, góp phần đẩy nhanh tiến độ tiếp cận mua, nhập khẩu vaccine để triển khai tiêm chủng trên diện rộng cho nhân dân.
Thứ hai, đẩy mạnh tuyên truyền vận động tham gia tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19 như là lợi ích và trách nhiệm của mỗi cá nhân, đảng viên, tổ chức và đông đảo nhân dân; tránh tâm lý do dự, hoài nghi hoặc cố tình chống lại việc tiêm chủng vaccine./.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam với mục đích “tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập sâu rộng vào đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”(1). Một trong những vấn đề bị các thế lực thù địch tấn công nhiều nhất là vai trò lãnh đạo, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, cần nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đó để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 90 năm qua.
Ảnh minh họa
1. NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” bằng việc chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định về chính trị nhằm cản trở quá trình Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam theo các hướng chủ yếu sau:
Thứ nhất, những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, bóp méo để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước (2).
Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước” (3). Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập” vì Đảng có “một bộ máy đã tạo nên một xã hội không có tự do, dân chủ”(4). Chúng cho rằng: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”(5). Chúng lập luận rằng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội là theo “chế độ đảng trị = đảng chủ”, “thể chế Việt Nam hiên nay là không phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chế độ một Đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “Hiến pháp của Việt Nam là không chính danh, chỉ là Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, toàn trị”(6).
Như một thông lệ, trước thềm các kỳ đại hội của Đảng, các thế lực thù địch lại tấn công mạnh mẽ vào vai trò lãnh đạo của Đảng bằng những luận điệu xuyên tạc. Điển hình là trước khi Đại hội XII diễn ra, đã có những luận điệu vu khống cực kỳ phản động: “Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản”(7). Từ việc đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch còn lên tiếng đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo của Đảng.
Thứ hai, những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đường lối cách mạng của Đảng, phủ nhận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong thời gian qua, các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng qua các cương lĩnh, văn kiện. Các thế lực thù địch cho rằng, việc ban hành các cương lĩnh, văn kiện là thể hiện sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”, thể hiện sự “sự chuyên chính của một đảng”, “sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu”(8). Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều nhằm phá hủy lòng tin của Nhân dân với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng và Nhà nước với Nhân dân. Chúng tập trung tuyên truyền những luận điệu này ngày càng nhiều nhằm kêu gọi nhân dân phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ đường lối lãnh đạo của Đảng. Trắng trợn hơn, chúng còn đưa ra luận điệu đòi “đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc để giữ gìn độc lập, chủ quyền của đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”(9).
Trọng tâm của sự công kích, chống phá cương lĩnh, văn kiện của Đảng là sự xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch về con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề dân tộc, dân chủ, tôn giáo, nhân quyền… Dễ dàng nhận thấy thực chất của sự chống phá này là phủ nhận đường lối xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra trong các cương lĩnh chính trị; từ đó cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản nhằm gây nên sự hoang mang, dao động của nhân dân về con đường phát triển đất nước, sâu xa hơn nữa là nhằm phá vỡ từng mảng nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tạo ra sự khủng hoảng chính trị, làm chệch hướng con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Thứ ba, những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về cán bộ lãnh đạo của Đảng.Bên cạnh những luận điệu phủ nhận về đường lối lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch còn ra sức tấn công vào công cuộc xây dựng Đảng hiện nay. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”(10). Chúng còn dự đoán tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng: “Trước tình hình cai trị độc tài, vô hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông” (11).
Trong hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, một mục tiêu mà các thế lực thù địch luôn hướng tới là các cán bộ lãnh đạo của Đảng. Vì xác định đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là “linh hồn” của Đảng nên các thế lực thù địch đã ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao của Đảng nhằm tạo nên sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân. Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng truyền thông, nhất là mạng xã hội để phát tán các bài viết, video, clip xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của các lãnh tụ của Đảng, các cán bộ lãnh đạo nhằm tạo ra sự bất mãn trong nhân dân, kích động “phản biện xã hội”, nhất là vào các dịp trước, trong và sau Đại hội Đảng.
Gần đây, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân đứng lên khiếu kiện tập thể, gây rối trật tư công cộng, bêu riếu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; từ đó tạo điều kiện để cho các phần tử cơ hội chính trị nước ngoài tham gia gây nên tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng tại một số địa phương. Trước thềm Đại hội XIII, “đến hẹn lại lên”, các thế lực thù địch ra sức đồn đoán về tình hình nhân sự của Đại hội Đảng, tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi nhọ những đồng chí có tên trong danh sách bầu cử Đại hội Đảng các cấp, nhất là nhân sự của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch khi thực hiện sự chống phá này là chúng móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. “Ngọn cờ” mà các thế lực thù địch hướng tới chính là những phần tử ở ngay trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nhưng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn chính trị. Đây chính là những kẻ “tay trong” được các thế lực thù địch lợi dụng nhằm lấy thông tin để thêu dệt, xuyên tạc về các lãnh tụ của Đảng nói riêng và công tác nhân sự của Đảng nói chung.
Có thể nhận thấy, các thế lực thù địch đã dùng những chiêu bài, thủ đoạn rất tinh vi để xuyên tạc, phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích lớn nhất của những chiêu bài này là nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị”, từ đó tiến tới xây dựng một chế độ chính trị mới ở Việt Nam do các thế lực thù địch, phản động giật dây, điều khiển. Đây là một âm mưu rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần được tỉnh táo nhận diện.
2. TIẾP TỤC KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ TO LỚN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA DÂN TỘC
Từ việc nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta càng cần phải tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc để tiếp thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng cũng như vận mệnh và tương lai của đất nước.
Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Từ khi thành lập đến nay, suốt hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thủ thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và đặc biệt nhất là những thành công to lớn của 35 đổi mới đất nước. Thực tế phát triển đất nước qua hơn 35 năm đổi mới đã cho thấy, Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh chứ không phải giống như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch: “Đảng tự vinh danh, tự đeo vòng nguyệt quế vào cổ cho mình quyền cầm đầu nhân dân”(12). Những thành tựu rất quan trọng của đất nước trong thời gian qua là cơ sở khách quan để khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đúng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2020): Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thứ hai, có thái độ khách quan, công tâm khi nhìn nhận những khuyết điểm, thiếu sót của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, nhất là kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”(13).
Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (năm 2012), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016), có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc “tự sửa mình” và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Cũng không vì thế mà đưa ra những lời rêu rao theo kiểu chụp mũ, vô căn cứ là “không ai muốn sống ở Việt Nam”, “những kẻ lắm tiền, nhiều của là thành phần cán bộ có chức có quyền đã tìm mọi cách đem gia đình chạy khỏi Việt Nam sau khi đã vơ vét đầy túi”(14).
Thứ ba, tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lòng dân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là sự kế thừa các bản Hiến pháp trước đó như Hiến pháp năm 1980, năm 1992 đồng thời thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp. Hơn nữa, chính nhân dân Việt Nam đã tin tưởng lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng trong suốt thời gian qua.
Hơn nữa, mối quan hệ của Đảng với Nhân dân là mối quan hệ máu thịt bởi Đảng vì Nhân dân là phấn đấu, tôi luyện, trưởng thành, lấy hạnh phúc cho Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; ngược lại, Nhân dân cũng luôn vững tin theo Đảng, cùng chung tay giúp sức xây dựng và chỉnh đốn Đảng, sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn. Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân chính là nguồn gốc sức mạnh và nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, “luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội của các thế lực thù địch là hoàn toàn trái với nguyện vọng, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác, không mắc mưu kẻ địch phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội của chúng ta”(15).
Như vậy, nhận diện các quan điểm sai trái về Đảng Cộng sản Việt Nam để chúng ta - những người cộng sản luôn cảnh giác trước những luận điệu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Quan trọng hơn nữa, chúng ta cũng có dịp nhìn lại hành trình hơn 90 năm ra đời và phát triển của Đảng, cảm thấy tự hào về những thành tựu to lớn, nổi bật của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời không được chủ quan, lơ là trước những sai lầm, khuyết điểm để có ý thức xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam để mỗi đảng viên thêm vững tin vào Đảng, luôn trọn một niềm tin theo Đảng, cùng sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên những chặng đường tiếp theo.
Nguon. Ban tuyen Hung Yen./.
Mấy khía cạnh lý luận về cán bộ, công chức cấp cơ sở
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng công tác cán bộ và luôn đặt nó lên vị trí hàng đầu trong xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước. Tư tưởng về công tác cán bộ của Người không chỉ phát huy vai trò trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Công tác cán bộ có vai trò quan trọng trong xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo, đánh giá và sử dụng cán bộ, giao cho họ những trọng trách và giúp đỡ họ hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó.
Cán bộ là những người tổ chức và lãnh đạo hoạt động thực tiễn, là trụ cột trong mọi giai đoạn cách mạng của đất nước. Có cán bộ tốt thì mới có phong trào cách mạng tốt, còn ngược lại thì phong trào phát triển chậm, không đúng hướng, thắng lợi không cao hoặc có thể đi xuống. Bởi vì, cán bộ chính là người ”bắc cầu” đem quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, tổ chức lãnh đạo họ thực hiện; cán bộ là người đem ”lý thuyết” để cho người dân hiện thực hóa. Cùng với vai trò ”bắc cầu” cán bộ còn là người nắm bắt tình hình, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân phản ảnh cho Đảng, Nhà nước để kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát hợp với thực tiễn phong trào, bảo đảm cho Đảng gần dân, dân tin Đảng.
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân cần đội ngũ cán bộ có tài, có đức. Những người đảm nhận chức trách, quyền hạn ở mọi cấp mọi ngành từ Trung ương đến cơ sở, đại diện cho lợi ích của quần chúng nhân dân mà không có đủ uy tín, mất uy tín trước dân có tác hại to lớn không thể lường hết. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng, uy tín cho cán bộ. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội và tội phạm”.
Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cán bộ, công chức cấp cơ sở có một vai trò rất quan trọng, bởi họ là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở cơ sở; là người giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã, vì lẽ đó, cán bộ, công chức cấp cơ sở là một trong những nhân tố có ý nghĩa chiến lược, là nhân tố không nhỏ góp phần quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta thành nước công nghiệp, có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Cán bộ, công chức cấp cơ sở là những người trực tiếp, tiếp xúc với nhân dân hàng ngày, giải đáp, hướng dẫn, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên cấp trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Vì vậy, chất lượng hoạt động của công chức cấp cơ sở ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước.
Cán bộ: Ở Việt Nam từ “cán bộ” được nghe một cách quen thuộc, phổ biến. Hiểu theo nghĩa thông thường của người dân thì “cán bộ” được hiểu là người làm việc ở cơ quan Đảng, Nhà nước. Có cách hiểu khác “cán bộ” là những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định. Tại những trụ sở hành chính chính công, “cán bộ” là danh từ chung được những người dân đến giải quyết công việc chỉ về những người đang thụ lý hoặc giải quyết một vụ việc cho người dân. Ở các trại giạm tù nhân sử dụng từ “cán bộ” để chỉ các “quản giáo” phụ trách, quản lý mình.
Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, lực lượng vũ trang. Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người có mức lương từ cán sự (cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị và dễ hiểu. Theo Người: Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng.
Theo khoản 1, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13-11-2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2010, quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương, thuộc biên chế Nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; giữ vai trò và cương vị nòng cốt trong cơ quan (có thể là người lãnh đạo, người quản lý), có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của cơ quan.
- Công chức: Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước. Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng.
Khái niệm công chức được hình thành và thường gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền hành chính nhà nước. Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định" (Trích Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950). Cùng với sự phát triển của đất nước và nền hành chính nước nhà, khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức. Năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Để hướng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Nghị định số 06/2010/NĐ- CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là "Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Như vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc Việt Nam; các tổ chức Chính trị xã hội; những người lãnh đạo, quản lý đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Cán bộ, công chức cấp cơ sở: Cán bộ, công chức cấp cở sở (hay cấp xã) Theo khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức (cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở: Khái niệm chất lượng: Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Dưới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc”. Đây là cách đánh giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó. Theo một cách hiểu khác thì: Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật.
Như vậy, về chất lượng cán bộ, công chức, có thể hiểu chất lượng của cán bộ, công chức là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân về cung ứng các dịch vụ hành chính. Tiêu chí để đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cũng đa dạng: Có thể là tỷ lệ giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; có thể là sự đo lường về mức độ thỏa mãn của người dân khi hưởng thụ dịch vụ hành chính liên quan đến các yếu tố, như sự hài lòng về thái độ phục vụ, sự hài lòng về thời gian giải quyết công việc của người dân…
- Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức, cấp cơ sở: Chất lượng cán bộ, công chức được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn của cán bộ, công chức là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức… của những người cán bộ, công chức theo những tiêu chí nhất định đối với từng ngành nghề riêng biệt. Để đánh giá chất lượng cán bộ, công chức là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu chất lượng đối với cán bộ, công chức ngày càng cao, đòi hỏi người cán bộ, công chức không những có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn cán bộ, công chức mà còn phải gương mẫu, có tinh thần kỷ luật cao, có tư duy khoa học, lý luận sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, gắn bó với tập thể, với cộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt; luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chất lượng của cán bộ, công chức ngoài những yếu tố nêu trên còn phụ thuộc vào cơ cấu cán bộ, công chức, đó là tỷ lệ hợp lý giữa các độ tuổi, giữa giới tính nam và nữ, giữa thành phần dân tộc, giữa cán bộ với công chức lãnh đạo, quản lý, công chức phụ trách chuyên môn nghiệp vụ.
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu, chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của cán bộ, công chức, thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, chất lượng và hiệu quả thực nhiệm vụ được phân công của cán bộ, công chức cũng như cơ cấu hợp lý về độ tuổi, về số lượng cán bộ, công chức và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao.
Về tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở: Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Tiêu chí về năng lực chuyên môn và kỹ năng công tác; Tiêu chí về uy tín trong công tá; Tiêu chí về chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc được giao; Tiêu chí về năng lực tổ chức, quản lý.
Các hoạt động nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở: Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; Công tác tuyển dụng; Công tác sử dụng cán bộ, công chức; Công tác đánh giá cán bộ, công chưc; Công tác kiểm tra, giám sát công chức trong thi hành công vụ.
Bên cạnh đó các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức gồm: Các yếu tố khách quan, như: Chế độ, chính sách - Khen thưởng; kỷ luật cán bộ, công chức. Các yếu tố chủ qua: Tinh thần trách nhiệm trong công tác; Ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, công chức.
Cán bộ, công chức cấp cơ sở có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người gần dân, sát dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trực tiếp giải quyết những yêu cầu, thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân. Cán bộ, công chức cấp cơ sở đã có sự đóng góp rất lớn trong sự nghiệp cách mạng, duy trì ổn định an ninh chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, là động lực của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở là tổng hợp các yếu tố về phẩm chất chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, ý chí, niềm tin, năng lực, gắn bó với tập thể, cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu chất lượng đối với cán bộ, công chức ngày càng cao, đòi hỏi người cán bộ, công chức không những có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn cán bộ, công chức mà còn phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, có tinh thần kỷ luật cao, có tư duy khoa học, lý luận sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, gắn bó với tập thể, với cộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt. Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì cán bộ, công chức cần phải hội tụ những yếu tố cấu thành đó./.
SỰ KHÁC NHAU VỀ BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản
là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ
và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội
chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm
và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước
bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện
chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Ngày nay bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam càng trở nên rõ nét hơn./.
Không để những “mảnh chĩnh” thông tin tiếp tay cho “ngụy tuyên truyền”
Lợi dụng internet, gần đây, các thế lực thù địch ra sức tìm cách hạ thấp vai trò của báo chí, truyền thông chính thống và cổ xúy cho những cái gọi là “nhà báo công dân”, “báo mạng xã hội”, “nhà xuất bản mạng”… Chúng “nâng cấp” một số blogger, facebooker thành những “nhà báo tự do”, “nhà báo toàn cầu”... Cha ông ta có câu: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai/ Nữa là mảnh chĩnh ném ngoài bờ tre!”. Thế mà một số người do thiếu hiểu biết và tư tưởng lệch lạc lại hay tìm đọc, thậm chí cổ vũ, tiếp tay cho thứ "mảnh chĩnh" thông tin ấy để chúng “ngụy tuyên truyền” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân…
Trịnh Hữu Long, sinh năm 1986, quê Thanh Hóa, từng tốt nghiệp Trường Đại học Luật Hà Nội nhưng lại sớm sa ngã. Cách đây 5 năm, Long dựng lên một trang mạng và tự xưng trang này là “tạp chí” với tinh thần chủ đạo là tập hợp những bài viết phân tích, bôi đen tình hình đất nước, xuyên tạc Đảng, Nhà nước dưới góc nhìn pháp luật. Trang mạng của Long nhanh chóng thu hút nhiều nhân vật bất mãn và được sự hậu thuẫn của tổ chức Việt Tân để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trang mạng này xưng là một tạp chí độc lập và phi lợi nhuận, không đặt quảng cáo, nhưng lại kêu gọi bạn đọc tài trợ từ “20 nghìn đồng trở lên”. Theo một tài liệu được công bố, năm 2016, trang này từng xin được hơn 23.000USD nhưng phần lớn đều từ các tài trợ ẩn danh. Năm 2018, trang mạng này đã tiếm danh đại diện cho hơn 50 triệu người sử dụng internet Việt Nam khởi xướng việc vận động ký tên vào thư gửi Chủ tịch Facebook, chất vấn và xuyên tạc, lu loa Facebook “hợp tác với Chính phủ và phản bội người dân Việt Nam”.
Gần đây, mạng xã hội (MXH) lan truyền video tố cáo Cảnh sát Giao thông tỉnh Đắc Lắc chặn, cản trở xe đưa người đi cấp cứu vì lỗi chạy quá tốc độ. Song tìm hiểu sự việc thì đó chỉ là một màn kịch nhằm đánh lừa dư luận. Trong clip có cảnh một chiếc xe vi phạm vừa bị cảnh sát thổi còi thì xuất hiện ngay một phụ nữ xuống xe khóc rống lên kể lể đưa con đi cấp cứu nhưng tay “không quên” cầm điện thoại livestream. Một người đàn ông lại từ xe bế cháu bé ra đặt… giữa đường. Lo cho tính mạng người dân, một cảnh sát bế cháu bé lên xe để đưa cháu đi bệnh viện thì người nhà ngăn cản, chửi bới là “công an đàn áp dân, vi hiến”. Đến khi cảnh sát cho chiếc xe được đưa cháu bé đi bệnh viện thì họ lại tuyên bố “trưa rồi, không đi nữa” và lấy ra những cuốn hiến pháp phát cho người dân ở đó, quên luôn việc cấp cứu cho cháu bé. Rất nhiều bạn đọc tỉnh táo đã nhận ra chân tướng sự việc và chỉ rõ đó là clip của tổ chức phản động "Con đường Việt Nam" vì trong clip có nhóm người mang trang phục của tổ chức này. Thế nhưng, vẫn có một số người dân chia sẻ, comment nói xấu cảnh sát, nhìn nhận sai lệch về sự việc.
Năm 2017, Cục An ninh mạng, Bộ Công an đã phối hợp Công an TP Hồ Chí Minh và Công an tỉnh Thái Nguyên bắt hai đối tượng là Bùi Hiếu Võ và Phan Kim Khánh để điều tra về tội tuyên truyền chống Nhà nước theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Qua điều tra, từ tháng 5-2015, chúng đã lập tài khoản facebook và các trang mạng lấy tên là “Báo Tham Nhũng”, “Tuần Việt Nam”, “Dân chủ TV”, “Việt Báo TV” và “Việt Nam online” để đăng nhiều thông tin bịa đặt, xuyên tạc. Chúng móc nối, tham gia quản trị một số trang mạng của tổ chức khủng bố Việt Tân và một số tổ chức phản động khác.
Cùng thời gian này, tại Hà Tĩnh, cơ quan chức năng đã phá vụ án và bắt Nguyễn Văn Hóa (22 tuổi, trú tại xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) cùng một số đối tượng do có hành vi kích động, gây rối, biểu tình, đập phá tài sản. Qua điều tra phát hiện, mỗi tháng Hóa viết, quay 16 clip, phóng sự mang nội dung xuyên tạc để chia sẻ, gửi cho những cá nhân thuộc các tổ chức phản động và một số đài, trang mạng nước ngoài… để nhận mức lương 1.500 USD/tháng từ tổ chức Việt Tân. Đó là sự thật ẩn sau những nội dung y chia sẻ núp dưới danh nghĩa yêu nước, bảo vệ môi trường, vì cuộc sống của nhân dân…
Bị lợi dụng hay cố tình la làng?
Bên cạnh một số người dân nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết, cũng có hiện tượng vì động cơ cá nhân mà cổ xúy, tiếp tay cho những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước. Câu chuyện ở Thái Nguyên, địa phương từng phối hợp với Cục An ninh mạng, Bộ Công an khởi tố, bắt giam đối tượng phản động nêu ở phần trên của bài viết là một ví dụ.
Do vướng mắc về lợi ích của gia đình, một nữ chủ doanh nghiệp đã liên tục tán phát nhiều đơn thư có nội dung không đúng sự thật. Bà này còn liên hệ và nhờ vả cả đối tượng phản động để đưa thông tin khiếu kiện lên một số trang tin phản động và liên tục “rải bom” đơn kêu cứu đến lãnh đạo các cấp và các cơ quan Trung ương, địa phương, bất chấp nhiều nội dung các cơ quan chức năng đã vào cuộc và kết luận, nêu rõ không có những sai phạm như đơn thư quy kết. Đối tượng "trợ giúp" doanh nghiệp, nguy hiểm thay lại là một trong những kẻ cầm đầu nhóm phản động “NoU Hà Nội” và thường xuyên tung các thông tin chống phá Đảng, Nhà nước lên cái gọi là "kênh truyền hình CHTV" trên Youtube. Y từng bị công an triệu tập vì tiến hành các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và có liên hệ với một số tổ chức phản động nước ngoài. Vậy mà chủ doanh nghiệp nêu trên đã nhiều lần gặp và trực tiếp cùng đối tượng này "lên sóng" trong những clip kéo dài cả giờ đồng hồ. Với những thông tin được cung cấp, đối tượng này ngang nhiên xuyên tạc, bóp méo sự việc, nói xấu chính quyền và các cơ quan pháp luật. Các clip trên được chia sẻ trên MXH, tạo cớ để một số đối tượng lợi dụng xuyên tạc nói xấu Đảng, Nhà nước.
Vẫn liên quan đến cái gọi là "kênh truyền hình CHTV", một lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Ninh cho biết, thời gian gần đây các đối tượng điều hành trang mạng này cũng kích động, lôi kéo một số người dân, móc nối, liên kết với một số đối tượng khiếu kiện dạng "đầu đơn" ở địa phương để hứa hẹn giúp đỡ đấu tranh bằng CHTV... để đòi quyền lợi cho “dân oan”. Đối tượng còn ngang nhiên gọi điện, gây sức ép với một số cơ quan chức năng trong tỉnh đòi được “làm việc” và tuyên bố "kênh truyền hình CHTV" của y ngang với VTV, thậm chí còn gây ảnh hưởng… quốc tế(?).
Cần những giải pháp kiên quyết, đồng bộ
Hiện tượng lợi dụng các kênh truyền thông “tiểu ngạch” để chống phá Đảng, Nhà nước thời gian gần đây diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp với nhiều thủ đoạn mới. Ngoài việc “nâng cấp” các facebook, blog thành các “tạp chí”, “nhà xuất bản” để mở rộng diện tán phát; các thế lực thù địch còn khai thác triệt để khả năng tương tác, lan truyền trên MXH; lập nhiều kênh Youtube phản động. Chúng cũng lợi dụng danh nghĩa luật sư, từ thiện, hỗ trợ pháp lý để lôi kéo, xúi giục một số người dân khiếu kiện kéo dài, thậm chí tụ tập, gây rối; đồng thời mở rộng các hình thức hội luận, đào tạo trực tuyến, hội họp trực tuyến... Những thông tin xấu độc trên MXH có tác động tiêu cực đến tình hình, tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, dao động, tiếp sức cho "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, để đấu tranh có hiệu quả với những thủ đoạn trên, các cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý, xử lý sai phạm. Vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đẩy mạnh các hoạt động trao đổi, làm việc với đại diện của Facebook, Google yêu cầu giải quyết các đề nghị ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam trên MXH hiệu quả hơn. Việc xây dựng và ban hành "Bộ quy tắc ứng xử cho các nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam" cần sớm được triển khai. Hiện, Facebook đã xây dựng một kênh riêng để giải quyết các đề nghị gỡ bỏ thông tin vi phạm MXH của Việt Nam. Sau khi Luật An ninh mạng có hiệu lực, việc sớm đưa luật vào cuộc sống rất cần thiết. Lãnh đạo Cục An ninh mạng (Bộ Công an) từng cho biết: Google và Facebook đều đánh giá Luật An ninh mạng của Việt Nam là “phù hợp” và sẽ nghiên cứu để sửa chính sách của mình phù hợp với Luật An ninh mạng của Việt Nam. Bà Ann Lavin, Giám đốc Chính sách công và Quan hệ chính phủ của Tập đoàn Google tại châu Á-Thái Bình Dương khi làm việc tại Việt Nam từng cho biết: “Google cam kết tuân thủ pháp luật các nước sở tại, trong đó có Việt Nam. Chúng tôi hiểu sâu sắc đó là nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ pháp luật nước sở tại Việt Nam nên việc tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam là rất quan trọng và cần thiết để tuân thủ”
Tính đến hết tháng 6-2018, Google đã gỡ bỏ 6.700/7.800 video clip ra khỏi Youtube, trong đó có gần 300 video clip có nội dung phản động, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, 6 kênh Youtube đã bị chặn hoàn toàn... Facebook cũng đã gỡ bỏ gần 1.000/5.500 đường link có nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam, 107/107 tài khoản giả mạo, 137 tài khoản nói xấu, bôi nhọ, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước.
Các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong ngăn chặn thông tin xấu độc. Kinh nghiệm từ Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy: Bộ đã phát hiện, cảnh báo cho các doanh nghiệp quảng cáo về tình trạng Google gắn quảng cáo của nhiều thương hiệu nổi tiếng ở trong và ngoài nước trên các video clip phản động, bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao trên kênh Youtube của Google. Chính điều này đã dẫn đến việc các đại lý quảng cáo lớn ở Việt Nam đồng loạt dừng quảng cáo trên toàn hệ thống của Google một thời gian. Từ cơ sở đó, Google đã đồng ý thiết lập cơ chế riêng để Bộ Thông tin và Truyền thông có thể yêu cầu Google gỡ bỏ số lượng lớn các video clip vi phạm trên Youtube.
Về phía các cơ quan pháp luật, cần xử lý mạnh tay, nghiêm minh hơn nữa các hành vi vi phạm; nhất là xử phạt một số cá nhân thông tin xuyên tạc, chống phá trên internet. Như trường hợp Dũng vova không phải là nhà báo, không quản lý kênh truyền hình, báo chí được pháp luật công nhận thì không thể lôi kéo, kích động người dân kiện tụng, tán phát thông tin, thể hiện sự coi thường kỷ cương, phép nước. Những hiện tượng như vậy phải xử lý nghiêm minh cả người tán phát và người cung cấp thông tin, tiếp tay cho đối tượng.
Đối với mỗi người dùng internet và MXH cũng như người dân nói chung, phải biết "gạn đục khơi trong" khi tiếp cận thông tin trên internet và MXH; không vì thiếu hiểu biết hay vì sự bức xúc mà đơn giản tiếp tay cho những kẻ xấu lợi dụng để kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)