Thứ Bảy, 5 tháng 6, 2021

Hồ Chí Minh một tấm gương mẫu mực về bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng, của tinh thần yêu nước, thương dân nồng nàn

 

   Bản lĩnh Hồ Chí Minh là sự thể hiện tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, ý chí quyết tâm cao độ, sự kiên định và năng lực hoạt động thực tiễn xuất sắc của Người nhằm thực hiện thành công khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, để thực sự mang lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

  Trong cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc ra nước ngoài tìm đường cứu nước, cứu dân là sự kiện thể hiện rất sinh động bản lĩnh của Người. Đó làm tấm gương mẫu mực về bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng, của tinh thần yêu nước, thương dân nồng nàn. Điều này được thể hiện tập trung ở mấy điểm cơ bản sau:


   Thứ nhất, đặt vấn đề tìm đường cứu nước bằng tư duy độc lập, phản biện.

   Trong một lần trò chuyện với nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông về việc đi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh bộc bạch: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

   Chủ nghĩa yêu nước là mạch nguồn vô tận, là giá trị xếp cao nhất trong hệ các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Giá trị này được thể hiện và phát huy đặc biệt mạnh mẽ khi đất nước đứng trước họa ngoại xâm. Trong một xã hội bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng “lão quyền”, “sống lâu lên lão làng”, Hồ Chí Minh đã không bị lệ thuộc vào quan điểm của các thế hệ tiền bối, mà vượt lên những định kiến, đưa ra quan điểm riêng của Người: phải đi ra nước ngoài, xem cho rõ, sau khi đã xem rõ, trở về giúp đồng bào. Hồ Chí Minh đã ý thức được tư duy cứu nước truyền thống không thể giúp chiến thắng được thực dân Pháp - một kẻ thù hoàn toàn mới của dân tộc, không chỉ đến từ một hướng khác (hướng Tây) so với truyền thống lịch sử, mà còn hơn hẳn dân tộc Việt Nam trình độ phát triển của phương thức sản xuất (phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất phong kiến). Do đó, cần phải đi ra thế giới để học hỏi tư duy mới, cách thức mới và trở về giúp đồng bào. Học hỏi để tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, chứ không phải là cầu viện, trông chờ, lệ thuộc vào sự giúp đỡ của bên ngoài. Tinh thần thực chứng và độc lập tự chủ như trên giúp Người tránh được các căn bệnh chủ quan duy ý chí, hoặc tâm lý chạy theo đám đông, tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm không phải là hiếm gặp trong xã hội.

   Thứ hai, chọn hướng đi ra nước ngoài khác với hướng đi phổ biến đương thời.

   Trước khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cụ Phan Bội Châu - một người bạn thân với thân sinh Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc, đã từng mời Người - khi đó còn là anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, tham gia phong trào Đông Du, nhưng anh đã từ chối. Mặc dù khi đó chưa có điều kiện hiểu rõ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, nhưng bằng sự nhạy cảm bản thân, anh Thành không tán đồng với chủ trương của cụ Phan Bội Châu, với nhận xét tinh tế: “Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Đây là điều không phải người Việt Nam nào thời đó cũng nhận ra được. Bởi sau chiến thắng của nước Nhật trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905), Nhật nổi lên như là một trong những điển hình tiêu biểu và là tấm gương sinh động cho sự chiến thắng của người châu Á trước người châu Âu, được coi là “anh cả da vàng” và vì “đồng văn, đồng chủng” nên dựa vào người Nhật để đánh đuổi Pháp là điều có sức thuyết phục. Nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh, khi chính quyền Pháp và chính quyền Nhật bắt tay với nhau vì có chung lợi ích về vấn đề thuộc địa, phong trào Đông Du từng sôi nổi một thời đã thất bại.

   Trong khi đó, chọn hướng đi sang phương Tây, tìm hiểu thực chất những điều ẩn giấu sau khẩu hiệu mỹ miều “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để quan sát một chân trời mới, từ đó, đưa lại cho Người những tư duy rất mới: “cũng có những người Pháp tốt”, “Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta”... Chính nhờ chọn hướng đi đúng đắn sang phương Tây, Hồ Chí Minh được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa mới, tư tưởng mới. Bằng tư duy độc lập, tự chủ, óc phê phán tinh tường, Người đã gạn lọc và tiếp thu những hạt nhân hợp lý, làm giàu thêm vốn văn hóa của bản thân, để vươn lên đến đỉnh cao của văn hóa nhân loại, trở thành nhà văn hóa vừa mang đậm chất Á Đông, vừa hết sức cởi mở, hòa hợp với văn hóa phương Tây. Đặc biệt, nhờ chọn hướng đi sang phương Tây, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để gặp gỡ, nghiên cứu và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lêni, thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giúp giải phóng triệt để dân tộc Việt Nam.

   Thứ ba, vượt mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết thực hiện mục tiêu đã định.

   Mục tiêu của Hồ Chí Minh khi đi ra nước ngoài là nhằm cứu nước, cứu dân khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Hướng đi là sang phương Tây, nhưng có một thực tế đầy thách thức đặt ra với Người là không có bất kỳ một khoản tài chính bản thân, hoặc sự tài trợ của một tổ chức, cá nhân nào cho chuyến đi. Người chỉ có hai bàn tay trắng. Mặt khác, khi đi ra nước ngoài, Người chỉ có một mình, sau khi người bạn dự định đi cùng đã bỏ cuộc. Một người dân thuộc địa đi ra nước ngoài không có nguồn tài chính, không có bạn bè, người thân đi cùng, đó thực sự là một điều mạo hiểm và có thể làm chùn bước nhiều người. Nhưng đối với Hồ Chí Minh, thách thức này càng làm nổi rõ hơn bản lĩnh của Người.

   Với tấm lòng yêu nước nhiệt thành, với ý chí “sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”, từ một thanh niên trí thức xuất thân trong một gia đình trí thức phong kiến, có chỗ đứng nhất định trong xã hội đương thời, Người đã chọn con đường “vô sản hóa” và trở thành một người lao động làm thuê - một thân phận bình thường, thậm chí là thấp kém trong xã hội. Nhưng ở người lao động này, luôn luôn nung nấu hoài bão cứu nước, cứu dân - một hoài bão phi thường. Làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, công việc luôn vất vả, cực nhọc suốt từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, nhưng mỗi khi xong việc, Người lại tiếp tục đọc hoặc ghi chép đến nửa đêm mới đi nằm. Mục đích không gì khác hơn là để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, từ đó sẽ giúp ích cho đất nước, dân tộc.

   Kiên định hành trình thực hiện khát vọng cứu nước, cứu dân, thời gian ở Anh (1913 - 1917), để có thể sinh sống, Hồ Chí Minh phải làm nhiều công việc lao động vất vả: quét tuyết cho một trường học, đốt lò ở trung tâm sưởi ấm của Luân Đôn, rửa nồi chảo, bát đĩa ở nhà bếp khách sạn Cáclơtơn .... Thời gian ở Pháp (1917 - 1923), Người làm nhiều nghề khác nhau để có thể tồn tại và tuy phải sống trong những điều kiện hết sức khó khăn, thiếu thốn về vật chất, nhưng vẫn luôn luôn đặt niềm tin vào một tương lai tươi sáng của dân tộc.

   Kiên định mục tiêu cứu nước, cứu dân, nên khi các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị Vécxây (Pháp), với những lời hứa hẹn mở ra hy vọng mới cho các dân tộc thuộc địa về quyền dân tộc tự quyết, Người đã đề xướng việc gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ - một cử chỉ thiện chí, một cách ứng xử hoà bình, “là một kịch bản chấm dứt tình trạng thuộc địa trước công thức: dân chủ về chính trị, rồi độc lập”.

   Để tranh thủ sự ủng hộ của dư luận, Hồ Chí Minh dù đang sống rất khó khăn đã phải tiết kiệm chi tiêu để dành tiền thuê in Yêu sách ra hàng nghìn bản, đem phân phát rộng rãi trong nhân dân Pháp và gửi về Việt Nam. Bản yêu sách đã không được các nước tham dự hội nghị chấp nhận. Song, nó giúp Người “hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”. Dù bị mật thám Pháp theo dõi ráo riết, thậm chí bị Bộ trưởng thuộc địa Anbe Xarô gọi đến gặp, vừa dụ dỗ, vừa đe dọa, nhưng Người không hề bị khuất phục, mà vẫn kiên định với mục tiêu cứu nước, cứu dân đã chọn.

   Thứ tư, lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của dân tộc.

   Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam, từ ngọn cờ Cần Vương đến những chủ trương cứu nước theo con đường dân chủ tư sản, dù từng có lúc diễn ra sôi nổi ở nơi này hay nơi khác, nhưng cuối cùng đều bị thất bại. Những sự thất bại này khiến phong trào yêu nước Việt Nam chìm trong khủng hoảng, bế tắc về cả đường lối cứu nước và lực lượng lãnh đạo.

   Ngày 5/6/1911, khi bắt đầu chuyến hành trình đi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh chắc chắn chưa thể hình dung được việc giành lại độc lập của dân tộc Việt Nam sẽ diễn ra theo cách thức như thế nào, nhưng có một điều Người biết chắc chắn là ước muốn cháy bỏng của bản thân giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Đó chính là động lực vô cùng to lớn, đồng thời cũng là hành trang đặc biệt quý giá của Người trong hành trình bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia vì lý tưởng hết sức cao đẹp, nhân văn, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy hiểm và đầy gian nan, vất vả.

   Trong hành trình tìm đường cứu nước, nhất là những năm tháng sống ở châu Âu, Hồ Chí Minh đã có điều kiện tiếp xúc với nhiều trào lưu tư tưởng trên thế giới. Trên cơ sở lấy tự do, hạnh phúc cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc làm lẽ sống và làm thước đo giá trị để khảo nghiệm các trào lưu tư tưởng thế giới, Người đã gạn lọc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chọn lựa con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với dân tộc Việt Nam. Điều cần nhấn mạnh là chặng đường mà Người đã đi là “chặng đường chiến thắng biết bao khó khăn với sự lựa chọn vững chắc, tránh được những sai lầm dẫn tới ngõ cụt”.

   Hồ Chí Minh khâm phục cách mạng Mỹ với cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (1776) giành được thắng lợi và lập ra Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; khâm phục cuộc cách mạng Pháp (1789) làm rung chuyển châu Âu đang bị thống trị bởi chế độ chuyên chế trung cổ. Nhưng, Hồ Chí Minh cũng phát hiện ra rằng, đây là “những cuộc cách mạng không đến nơi”, bởi những khẩu hiệu mỹ miều, những thành quả của các cuộc cách mạng này chỉ nhằm phục vụ lợi ích của một thiểu số những người giàu - giai cấp tư sản, còn giai cấp công nhân và những người lao động khác vẫn phải sống trong cảnh nghèo khổ. Về bản chất, các cuộc cách mạng này chỉ thay đổi chế độ bóc lột cũ bằng chế độ bóc lột mới tinh vi hơn, hiện đại hơn.

   Điều quan trọng hơn là bằng năng lực quan sát và phân tích rất tinh tế, Hồ Chí Minh nhận thấy rằng giai cấp tư sản ở Mỹ và Pháp đã vứt bỏ những tư tưởng tốt đẹp của các cuộc cách mạng và quay sang áp bức những người lao động chính quốc, từng một thời là đồng minh cách mạng và tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm nô dịch, cướp đoạt, vơ vét sức người, sức của ở các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh. Người thấy đó không phải là con đường Người lựa chọn và cũng không thể là con đường dân tộc sẽ đi.

   Mặt khác, thời điểm Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, trong phong trào công nhân thế giới cũng tồn tại những trào lưu tư tưởng khác nhau trong giai cấp công nhân, trong đó đặc biệt là tư tưởng của tầng lớp “công nhân quý tộc” và các “nghiệp đoàn vàng”. Đó thực chất là tư tưởng của những phần tử cơ hội, nhân danh giai cấp công nhân để xét lại học thuyết Mác, thậm chí cổ vũ, hối thúc giai cấp công nhân mỗi nước tham gia ủng hộ cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa 1914 - 1918.

   Có thể nói, nếu không được trang bị một vốn văn hóa nhất định, không có sự tỉnh táo xem xét và hiểu đúng các trào lưu tư tưởng, hay nói cách khác là nếu không có bản lĩnh, trước hết là bản lĩnh văn hóa, chắc chắn không dễ phân biệt thật giả.

   Giữa nhiều trào lưu tư tưởng của thế giới khi đó, Hồ Chí Minh đã biết phát hiện ra và tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (tháng 7/1920), Người đã “vui mừng đến phát khóc lên” và nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó, Người quyết định bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

   Trong khi đó, những người Việt Nam khác, dù cũng rất giàu lòng yêu nước, thương dân và từng sống nhiều năm ở Pari - thủ đô nước Pháp, như nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, nhưng chưa nhìn ra được giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhân tố cơ bản tạo nên sự khác biệt này chính là trí tuệ mẫn tiệp, tầm nhìn xa thấy rộng của Hồ Chí Minh, một tầm nhìn vượt trước thời đại, hơn hẳn rất nhiều người cùng thời. Với trí tuệ và tầm nhìn đó, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường đúng cho bản thân và cũng là con đường đúng cho toàn thể dân tộc. Đó là con đường dựa chủ yếu vào sức mạnh yêu nước và đoàn kết của đồng bào, đồng thời tích cực tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, để đánh đuổi giặc ngoại xâm, rồi đi tới xây dựng một xã hội mới mang lại hạnh phúc, ấm no thực sự cho mọi người dân, một xã hội không còn áp bức, bất công, thực hiện giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Như Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chỉ rõ "Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là con đường giải phóng duy nhất mà Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra cho nhân dân lao động và tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới".

   Nhìn lại 110 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, càng thấm nhuần tầm vóc vô cùng lớn lao và ý nghĩa trọng đại của sự kiện này đối với sự nghiệp giải phóng và phát triển của dân tộc, càng cảm phục, tri ân sâu sắc công lao vĩ đại của Người. Với lòng yêu nước nhiệt thành và bản lĩnh phi thường, vượt lên những khó khăn, thách thức của hoàn cảnh và những định kiến đương thời, Hồ Chí Minh đã quyết chí đi tìm và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với dân tộc - con đường cách mạng vô sản, thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giành lại độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Bản lĩnh của Người chính là sự kết tinh và nâng tầm bản lĩnh của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh lịch sử mới để đáp ứng yêu cầu lịch sử dân tộc đặt ra. Đó là minh chứng sinh động, là biểu tượng cho sức mạnh vô cùng to lớn của truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, của ý chí độc lập, tự do, tinh thần nhân ái và trí tuệ Việt Nam để đương đầu và vượt lên những thách thức hiểm nghèo của lịch sử.

   Bản lĩnh của Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước là bài học mẫu mực cho các cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về tấm lòng son sắt vì nước, vì dân, sẵn sàng cống hiến, không quản gian khổ, hy sinh, đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên hết và trước hết “lấy độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm lý tưởng phấn đấu của cuộc đời”. Đó cũng là bài học sâu sắc về tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, biết bỏ qua những lối mòn, những yếu tố không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tế; đồng thời chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa giá trị của dân tộc và nhân loại, từ đó vận dụng và bổ sung, phát triển trong điều kiện cụ thể, lấy kết quả thực tiễn phục vụ cho lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm, đánh giá. Đây là những bài học vẫn mang giá trị thời sự sâu sắc trong công cuộc đổi mới hiện nay./.

Việt Nam và Hoa Kỳ tăng cường hợp tác trong ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu

 

Việt Nam và Hoa Kỳ tăng cường hợp tác trong ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu

Theo tin từ Chinhphu.vn - Ngày 27/5, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden có thư gửi Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, cảm ơn Chủ tịch nước đã tham dự Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu cuối tháng 4/2021 và bày tỏ mong muốn hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ tăng cường hợp tác trong ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu.

Tổng thống Biden khẳng định thành công của Hội nghị thượng đỉnh trong việc tạo ra một cam kết toàn cầu để nâng cao các mục tiêu về khí hậu và nêu bật các cơ hội kinh tế đối với các nước đang nỗ lực để giải quyết thách thức này. Tổng thống Biden nhấn mạnh sự cấp thiết của việc tăng hỗ trợ tài chính khí hậu và giúp đỡ các quốc gia dễ bị tổn thương, đồng thời khẳng định quyết tâm cũng như các nỗ lực của Hoa Kỳ để thực hiện các cam kết mình.

Tổng thống Biden đánh giá cao những đóng góp của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đối với thành công của Hội nghị thượng đỉnh, đặc biệt là bài phát biểu sâu sắc của Chủ tịch nước về các lợi ích kinh tế của hành động khí hậu và tầm quan trọng của việc bảo đảm rằng tất cả các quốc gia sẽ cùng hành động.

Tổng thống Biden cam kết hợp tác chặt chẽ với Việt Nam và các nước trong thời gian tới nhằm bảo đảm thành công của Hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc được tổ chức tại Glasgow cuối năm nay, đồng thời bày tỏ mong muốn Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác về ứng phó với biến đổi khí hậu thời gian tới.

Trước đó, nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã cùng 40 nguyên thủ tham dự Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu được tổ chức theo hình thức trực tuyến từ ngày 22-23/4/2021 và có bài phát biểu quan trọng với chủ đề các lợi ích kinh tế của hành động khí hậu, trong đó khẳng định các cam kết của Việt Nam trong việc ứng phó toàn diện với biến đổi khí hậu, chia sẻ lợi ích của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, công bằng và bao trùm, bình đẳng đối với người dân, đồng thời kêu gọi các nước phát triển tăng cường hỗ trợ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thực hiện các mục tiêu về khí hậu.

 

Giữ gìn và phát triển tình hữu nghị truyền thống, quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung

 

Giữ gìn và phát triển tình hữu nghị truyền thống, quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung

Ngày 4/6, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã điện đàm với Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Lý Khắc Cường. Tại cuộc điện đàm, trong không khí hiểu biết lẫn nhau, hữu nghị, chân thành và thực chất, hai Thủ tướng đã trao đổi về nhiều nội dung thiết thực, góp phần củng cố, tăng cường tin cậy chính trị; chia sẻ những khó khăn, thuận lợi, kinh nghiệm và cùng bàn các giải pháp thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới, nhất là về các nội dung kinh tế-xã hội.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thông tin về kết quả Đại hội lần thứ XIII của Đảng và đường lối đối ngoại của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc giữ gìn và phát triển tình hữu nghị truyền thống, quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung luôn được Đảng, Chính phủ Việt Nam xác định là ưu tiên hàng đầu, trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; việc tăng cường và phát triển quan hệ lành mạnh và hiệu quả Việt Nam-Trung Quốc là nhân tố quan trọng cho sự ổn định và phát triển của mỗi nước, đóng góp vào hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chúc mừng Đảng Cộng sản Trung Quốc chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày thành lập và tin tưởng nhân dân Trung Quốc sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn, đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định, phát triển và sự phồn vinh ở khu vực và trên thế giới.   

Hai Thủ tướng nhất trí cao cho rằng, trên cơ sở mối quan hệ hữu nghị truyền thống và sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt hai Đảng, hai nước, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, cùng với nỗ lực của cả hai bên, quan hệ hai Đảng, hai nước đã tiếp tục phát triển tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực trong thời gian qua. Hai Thủ tướng trao đổi và đạt được nhận thức chung về tầm quan trọng của mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc và các biện pháp tăng cường quan hệ thời gian tới như: Duy trì thường xuyên giao lưu, tiếp xúc cấp cao và các cấp với hình thức linh hoạt, phù hợp trong bối cảnh hiện nay; nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư; chia sẻ kinh nghiệm phòng chống dịch COVID-19 và phát triển kinh tế-xã hội ở mỗi nước; phối hợp chặt chẽ tại các cơ chế quốc tế và khu vực. Hai Thủ tướng trân trọng mời sang thăm lẫn nhau vào thời điểm thích hợp khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát.

Trao đổi về việc tăng cường hợp tác thực chất giữa hai nước, hai Thủ tướng cho rằng thời gian tới hai bên cần quan tâm chỉ đạo đối với các lĩnh vực như: Có biện pháp khắc phục tình trạng nhập siêu của Việt Nam, tăng cường nhập khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy, hải sản của Việt Nam, nhất là một số trái cây đang vào mùa vụ như vải thiều, xoài, thanh long, nhãn…; không để đứt gãy chuỗi cung ứng, sản xuất giữa hai nước và quốc tế; khẳng định tính cần thiết của việc thúc đẩy thực hiện, hoàn thành các dự án hợp tác với Trung Quốc tại Việt Nam, trong đó có dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông; đề nghị hai bên tăng cường hợp tác trong phòng chống COVID-19, mong muốn và tìm các giải pháp phù hợp, hiệu quả để Trung Quốc hợp tác, hỗ trợ thực hiện chiến lược vaccine của Việt Nam; nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ và việc thúc đẩy sớm ký kết Thỏa thuận về thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển Việt-Trung.

Về vấn đề trên biển, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị cùng nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định, xử lý ổn thỏa vấn đề trên biển theo tinh thần nhận thức chung cấp cao và thượng tôn pháp luật, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, kiểm soát tốt bất đồng và thấu hiểu, quan tâm đến lợi ích, quyền lợi chính đáng, hợp pháp và bối cảnh của nhau để cùng thúc đẩy giải quyết vấn đề Biển Đông theo phương châm từ dễ đến khó, không để ảnh hưởng đến tổng thể quan hệ hai nước. Nỗ lực cùng ASEAN tích cực thúc đẩy đàm phán xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tiến triển, sớm đạt COC hiệu quả, thực chất.

Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Lý Khắc Cường chúc mừng Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức thành công Đại hội XIII và những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội và phòng chống dịch bệnh COVID-19; khẳng định Đảng, Quốc vụ viện và nhân dân Trung Quốc coi trọng quan hệ với Việt Nam, sẵn sàng tiếp tục đưa quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc phát triển đi vào chiều sâu, hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước; nhất trí tăng cường hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong phòng chống dịch COVID-19; khẳng định coi trọng sự quan tâm và những đề nghị của Việt Nam trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư; mong muốn thúc đẩy các cơ chế đàm phán trên biển sớm đạt tiến triển thực chất, nhất là nỗ lực cùng ASEAN sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

 

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

THỜI TRAI TRẺ TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA BÁC: Cánh chim bằng bay trên bão táp

🌿🌿🌿

Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước với 30 năm bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố. Đó là quãng đời “thanh niên sôi nổi” vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai. Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Báo Quân đội nhân dân Điện tử xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài phần nào ghi chép lại câu chuyện về bản lĩnh, ý chí của một người trai chí lớn đã truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay và mai sau…

Bến cảng Nhà Rồng và ngày 5-6-1911 là cột mốc đánh dấu hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng chúng tôi muốn cùng bạn đọc lùi lại một mốc khác, đó là mùa Thu năm 1910, khi tròn 20 tuổi, Người đã dừng chân ven bờ biển Phan Thiết. Hành trình cứu nước đã bắt đầu từ những bước chân buổi ấy…

🌿 Người thầy bất đắc dĩ và khát vọng đi xa

Phan Thiết, một ngày mùa Thu tháng 9 năm 1910. Chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành dừng chân mà lòng ngổn ngang trăm mối. Cuốn Hồ Chí Minh-biên niên tiểu sử (do Viện Hồ Chí Minh thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006) ghi: Ngày 4-12-1908, Nguyễn Tất Thành khi đang là học sinh với lòng yêu nước thương dân đã tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên và bị thực dân Pháp theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy (cha của Nguyễn Tất Thành), một vị quan thanh liêm đang làm việc ở Huế cũng bị chúng khiển trách.

Sang năm 1909, Nguyễn Tất Thành theo cha, lúc đó là Phó bảng vào huyện Bình Khê thuộc tỉnh Bình Định nhậm chức tri huyện. Sau đó Người được cha gửi vào Quy Nhơn học tiếng Pháp. Những tưởng việc học hành sẽ thuận lợi nhưng chẳng bao lâu, tháng 1 năm 1910, cha Người bị triều đình bãi chức và triệu hồi về Huế. Việc học tập của Nguyễn Tất Thành nguy cơ dang dở.

Tháng 9 năm ấy, Nguyễn Tất Thành quyết định từ Quy Nhơn vào Sài Gòn. Sau này, trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Nhưng hành trình đâu dễ dàng. Đến Phan Thiết thì hết tiền, Người phải xin vào làm trợ giáo, dạy môn Thể dục tại Trường Dục Thanh, một ngôi trường tư thục nằm kề bên bờ sông Cà Ty, thành phố Phan Thiết (Bình Thuận).
Theo hồi ức của các học sinh: Thầy Thành dạy rất tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm sóc trò. Thầy thường phổ biến cho học sinh những thơ ca yêu nước. Vừa phụ trách thể dục, thầy vừa chăm lo xây dựng tủ sách, hướng dẫn học sinh thăm phong cảnh trong vùng...

Ngoài giờ lên lớp với số tiền lương ít ỏi, theo tư liệu ghi chép chỉ vỏn vẹn 8 đồng, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý để đọc. Lần đầu tiên Người được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rousseau, Voltair, Montesquieu, càng thôi thúc Người tìm đường ra nước ngoài.

Cuối năm Canh Tuất (1910), Nguyễn Tất Thành rời Trường Dục Thanh về Sài Gòn tiếp tục con đường đã định… Năm 1960, tập sách Bác Hồ do nhiều tác giả viết in tại Hà Nội đã được Bác Hồ xem. Khi đọc, Bác nói với đồng chí thư ký:

- Bác không có ý định dừng lại Phan Thiết song đến đó thì tiền lộ phí đã cạn mới quyết định ở lại tìm việc làm để có tiền đi tiếp cuộc hành trình.

Đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành xin vào học một trường kỹ thuật do Pháp quản lý, dạy về hàng hải. Sau này, đồng chí Hà Huy Giáp kể lại, có lần Bác nói: "Bác đâu có ý định học thợ, nhưng trong lúc lang thang để tìm cách sang phương Tây, mà có nơi cho mình học, có cái ăn là mình vô thôi".

Ít lâu sau, Người đã tìm đến thăm cha lúc này cũng ở miền Nam. Người cha già dặn dò: "Tìm thăm cha là tốt, nhưng cái cần hơn vẫn là tìm đường cứu dân tộc". Lời dặn ấy như càng củng cố thêm khao khát tột cùng bấy lâu nay Nguyễn Tất Thành nung nấu.

🌿 Người con hiếu thảo gửi tiền cho cha khi nhận tháng lương đầu bếp ít ỏi

Ngày 2-6-1911, Nguyễn Tất Thành nộp đơn xin việc làm ở tàu Amiral Latouche Tréville, một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách, đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Marseille, Pháp. Một ngày sau, anh bắt đầu làm phụ bếp ở tàu với tên mới: Văn Ba. 

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành từ Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn sang Pháp. Người thanh niên 21 tuổi ấy ra đi với mục đích gì? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thoả mãn một ước mơ xa lạ nào đó của tuổi trẻ. Hơn mười năm sau chính anh đã trả lời nhà báo, nhà thơ Xô viết Osip Mandelstam:

Khi là một cậu bé ở tuổi 13, tôi lần đầu tiên đã nghe đến những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái và tình anh em - đối với chúng tôi tất cả người da trắng đều là người Pháp. Tôi muốn tìm hiểu nền văn minh của Pháp để biết xem cái gì ẩn đằng sau những từ ấy. Nhưng ở các trường Pháp dành cho người bản xứ, người Pháp dạy như dạy con vẹt. Người ta ngăn cấm chúng tôi tiếp xúc với sách báo, không chỉ là những nhà văn mới mà ngay cả Rousseau và Montesquieu. Tôi đã làm gì? Tôi quyết định đi ra nước ngoài. Người An Nam bị xem là nông nô. Chúng tôi không chỉ bị cấm du lịch, mà còn bị cấm đi lại trong nước. Đường sắt được xây dựng cho các mục đích chiến lược riêng: trong con mắt người Pháp, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng những tuyến đường này. Tôi đã ra đi bằng đường biển. Lúc đó tôi 19 tuổi. Ở Pháp, các cuộc bầu cử đang diễn ra. Giới tư sản đang lừa phỉnh nhau’.

Rõ ràng là sự lựa chọn đi ra nước ngoài bằng đường biển của Bác Hồ là có chủ đích tìm đường cứu nước. Trả lời phỏng vấn này trùng khớp với những thông tin sau này về tiểu sử của Người.

Con tàu xuyên đại dương ngay trong tháng 6 đã ghé cảng Singapore rồi Colombo, Sa’id (Ai Cập). Ngày 6-7-1911, sau một tháng vượt biển, tàu đến nước Pháp. Ở đây, Nguyễn Tất Thành tận mắt chứng kiến ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Anh trăn trở: “Tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của nước họ trước khi đi “khai hoá” chúng ta”.

Làm phụ bếp trên tàu nhưng khát vọng được học tập để mở mang vẫn cháy bỏng. Ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống Pháp trình bày nguyện vọng muốn vào học Trường Thuộc địa. Đơn có đoạn viết: “…Tôi rất ham học. Tôi muốn sẽ trở nên có ích cho nước Pháp đối với các đồng bào của tôi, đồng thời có thể giúp họ hưởng được những ân huệ của giáo dục...”.

Thế nhưng nước Pháp không văn minh và bác ái như khẩu hiệu, lá đơn được quay về thuộc địa và người ta vì dị ứng với việc Người tham gia biểu tình năm 1908 đã bác bỏ nguyện vọng đó.

Giữa tháng 10 năm ấy, theo hành trình, con tàu  Amiral Latouche Tréville quay trở về Sài Gòn rồi lại ra đi. Sổ lĩnh lương tàu mà bản chụp hiện còn lưu tại Viện Hồ Chí Minh ghi rõ, Người nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911. Dù làm việc vất vả nặng nhọc, có thể mất mạng bất cứ lúc nào, nhưng mức lương lại rất bèo bọt. Sổ ghi, sau khi đóng tiền ăn, tiền nộp cho cai bếp, góp vào quỹ bảo hiểm cho thủy thủ người Pháp thì chỉ còn nhận được vỏn vẹn 10 franc.

Có một chi tiết thật xúc động, theo chính Hồ sơ của Chánh mật thám ghi lại: Nhận lương ít ngày thì ngày 31-10-1911, từ Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ, nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

🌿 Giọt nước mắt bác ái rớt giữa đại dương 

Bước sang năm 1912, con tàu tiếp tục hành trình đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Algeria, Tunisia, Democratic Republic of the Congo, Dahomey, Senegal, Réunion…

Đến đâu, Nguyễn Tất Thành cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Đến Dacar, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả ca nô xuống vì sóng to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi.

Cảnh tượng đó làm cho Nguyễn Tất Thành hết sức đau xót, anh khóc. Hỏi tại sao, anh buồn rầu trả lời: “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo”.

Anh kể lại điều anh từng trông thấy trên bờ biển Phan Rang, Phan Thiết trước lúc ra đi: “Ở ta, tôi cũng thấy những chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.

🌿 Bóng tối dưới chân tượng nữ thần tự do 

Cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành theo con tàu đến Mỹ. Điện tín của Chánh mật thám Sài Gòn sau này ghi lại: Ngày 15-12-1912, từ New York, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha. Thư cho biết, anh đã gửi cho cha mình ba ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời.

Thời gian ở Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu. Nữ tác giả Josephine Stenson, một nhà sử học người Mỹ đã tự bỏ tiền túi ra để đi khắp những nơi mà Bác Hồ đặt chân tìm hiểu, sau này đã phát biểu sâu sắc về Bác Hồ tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1990) ở Hà Nội.

Bà viết: “…Tôi nghĩ ngay đến Tượng thần Tự do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và ca ngợi thần Tự do, Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và mọi chính khách, sau khi đã đến tham quan thần Tự do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế là ánh sáng tự do... Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do nhưng nhìn xuống dưới chân tượng và ghi “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân Tượng thần Tự do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người chứ không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức Tượng thần Tự do".

🌿 Học tập khát vọng cháy bỏng 

Lao động vất vả nhưng khát vọng học tập luôn cháy bỏng trong Nguyễn Tất Thành. Cùng với bức thư gửi cho cha, anh còn gửi một bức thư cho anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (thời kỳ này đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ), nhờ xin cho vào học Trường Thuộc địa tại Pari. Nhưng kết quả không khả quan hơn, vẫn với sự kỳ thị, toàn quyền trả lời: “…ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở Pháp”.

Đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Pháp, sau đó sang Anh.

Đến nước Anh, lên bờ, làm gì để sinh sống là một câu hỏi quá khó khăn giữa thủ đô London hoa lệ. Nguyễn Tất Thành nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ.
Nhưng cũng ngay từ những ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học ngoại ngữ. Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống, anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo sư người Ý.

Giữa năm ấy, từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư cho thấy anh rất quyết tâm học ngoại ngữ: "Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều…”.

🌿 Gác lại những niềm riêng 

Cuối năm 1913, việc đốt lò vất vả khiến Nguyễn Tất Thành ốm nặng, bị cảm, phải xin nghỉ việc. Bình phục, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách sạn Drayton Court rồi sang làm phụ bếp ở khách sạn Carlton, một khách sạn sang nổi tiếng ở London, dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Escophier.

Hằng ngày, anh để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc là một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bít tết để đưa lại cho nhà bếp. Vua đầu bếp hỏi tại sao không vứt đi như những người khác, anh trả lời: "Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy". Ông ta tỏ ra cảm phục và nói: "Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền".

Từ đó, Nguyễn Tất Thành được ông vua bếp đưa vào chỗ làm bánh với số lương cao hơn. Mọi người cho biết lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế!

Nhà văn, nhà sử học, Giám đốc Trung tâm lưu trữ, Thư viện Marx, Vương quốc Anh John Callow cho rằng, chính trong thời gian ở London, Hồ Chí Minh đã đọc các tác phẩm của Marx và Engels, được in rất rẻ tại Nhà in Thế kỷ Hai mươi thuộc Đảng Dân chủ Xã hội Anh. Bốn năm ở London đã góp phần rất nhiều trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành đã từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp, tiếp tục hành trình tìm đường cứu nước của mình.

Hành trình 6 năm đầu tìm hình của nước ở tuổi 20, Người đã phải trải qua đủ mọi đắng cay, một mình dặm trường nơi đất khách quê người, phải gác lại những tình cảm riêng tư như nhà sử học người Mỹ ghi lại: “…một số sĩ quan Anh-Mỹ trong đội quân của đồng minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả tập hồi ký “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa”. Chúng tôi có hỏi - không phải tò mò mà trên danh nghĩa là đàn ông với nhau, tại sao Chủ tịch không lấy vợ, không lập gia đình? Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất”.

Theo QĐND 

Phạm Văn Vông

Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) có công văn gửi lãnh đạo các Tổ chức tôn giáo đề nghị siết chặt các biện pháp phòng dịch.

 

Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) có công văn gửi lãnh đạo các Tổ chức tôn giáo đề nghị siết chặt các biện pháp phòng dịch.

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là liên quan đến ổ dịch tại điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung “Hội thánh Truyền giáo Phục hưng” với hơn 300 ca F0, ngày 4/6, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) tiếp tục ra công văn đề nghị tạm dừng mọi sinh hoạt tôn giáo tại các cơ sở thờ tự, các điểm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung và treo biển cảnh báo tại các cơ sở, điểm nhóm nhằm thực hiện triệt để công tác phòng dịch.

Đến 15h ngày 4/6, liên quan đến ổ dịch tại điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung “Hội thánh Truyền giáo Phục hưng” (quận Gò Vấp, TP.HCM) đã có 310 F0, hơn 5.300 F1 và trên 320.000 người thuộc diện theo dõi y tế. Ngoài 20/22 quận, huyện, thành phố của Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay đã có 15 tỉnh, thành phố có các ca F0, F1, F2 liên quan đến Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng. Cũng từ điểm nhóm này, một số tín đồ của 03 Hội thánh Tin lành khác cũng trở thành F1 và F2. Dự báo trong những ngày tới số lượng F0, F1 và người tiếp xúc với F0, F1 sẽ còn gia tăng về số lượng, phạm vi.

Công văn của Ban Tôn giáo Chính phủ nhấn mạnh: Thực tế trên cho thấy,  các biện pháp phòng, chống dịch trong một số cơ sở tôn giáo còn bất cập, đó là: một số tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo chưa thực hiện đúng tinh thần công văn số 1988/BNV-TGCP ngày 07/5/2021 của Bộ Nội vụ và hướng dẫn của chính quyền địa phương; chưa chủ động triển khai, cập nhật các văn bản hướng dẫn phòng chống dịch của cơ quan chức năng, nhất là đối với các điểm nhóm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, hoạt động nhỏ lẻ tại một số tỉnh, thành phố, dẫn đến nguy cơ lây nhiễm và bùng phát dịch bệnh.

Công văn của Ban Tôn giáo Chính (Bộ Nội vụ) phủ nêu rõ: Đối với các cơ sở, điểm nhóm có người nghi nhiễm, cần phối hợp với các cấp chính quyền để truy vết dịch tễ, khai báo lịch trình di chuyển, thực hiện cách ly theo quy định; Cập nhật thông tin chính thống, phổ biến công tác phòng, chống dịch đến các cơ sở thờ tự, điểm nhóm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm về dịch.

Đặc biệt, người đứng đầu, đại diện tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo, điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không chấp hành các quy định về phòng, chống dịch bệnh Covid-19, làm phát sinh dịch bệnh tại cơ sở tôn giáo, lây nhiễm trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo và trong cộng đồng.

Đây là lần thứ hai, liên quan ổ dịch tại Hội thành truyền giáo Phục hưng, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) có công văn gửi lãnh đạo các Tổ chức tôn giáo đề nghị siết chặt các biện pháp phòng dịch.

Trước đó, tại buổi làm việc với Ban Chỉ đạo phòng chống COVID-19 TP. HCM ngày 1/6, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu, trong thời gian 1-2 tuần TP. HCM phải dập tắt ổ dịch liên quan Hội thánh truyền giáo Phục Hưng, bằng mọi giá phải kiểm soát được. Đồng thời, rà soát lại hết 145 điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tương tự như Hội thánh truyền giáo Phục Hưng, tăng cường quản lý nhà nước chặt tại các nơi này.

 

NIỀM TIN

 Bỗng đâu cô-vít lan ra

Làm cho toàn thể dân ta oằn mình

Đảng và Chính phủ hết mình

Đêm ngày cập nhật tình hình vùng khoanh

Trẻ con khó học, khó hành

Công nhân làm việc phải đành cách ly

Muôn vàn nỗ lực chẳng bì

Mục tiêu kép giữ, cùng kỳ các năm

Chống dịch như chống ngoại xâm

Huy động lực lượng toàn dân, toàn ngành

Gia đình xa cách cũng đành

Blouse áo trắng, áo xanh quên mình

Chiến sỹ anh dũng thời bình

Lao vào vùng dịch, chẳng màng gian lao

Xúc động, thương xót, nghẹn ngào

Mồ hôi ướt đẫm giữa trời nóng thiêu

Mệt quá đi đứng liêu xiêu

Vẫn cố xét nghiệm đủ liều cho dân

Bởi vì một phút chậm chânC

Cô-vítcó thể lan tràn hiểm nguy

Máy thở, truyền dịch, ô xy

Chăm lo tiếp sức bệnh nhân khỏe dần

Cán bộ y tế chuyên cần

Ngăn vùng, dập dịch, nhường nhà cách ly

Nắng, mưa, giông bão bất kỳ

Nghe tin dịch bệnh tức thì có ngay

Bộ đội chiến sỹ hôm nay

Biên cương giữ vững, sớm ngày sát sao

Không để đối tượng vượt rào

Xâm nhập mang bệnh tràn vào quê hương

Công an kết hợp dân phòng 

Tuần tra, canh giữ đồng lòng quyết tâm 

Còn những cống hiến âm thầm

Ngòi bút tác chiến, ân cần truyền thông

Tư tưởng, ý chí mà thông

Từ trên xuống dưới, “bình tông” nhẹ nhàng 

Chúng ta quyết chẳng đầu hàng 

Một ngày tươi sáng, vững vàng non sông!

Sự lựa chọn lịch sử

         Cách đây 110 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước - con đường “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Thời gian đã lùi xa, nhưng giá trị lịch sử và thời đại của sự kiện này vẫn mang tính thời sự sâu sắc, có tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn hiện nay.



    Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, sống trong bối cảnh nước mất, nhà tan, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh đất nước và nỗi thống khổ của Nhân dân. Người quyết định phải tìm ra con đường mới nhằm đánh đuổi thực dân Pháp để cứu nước, cứu dân. Với lòng yêu nước nồng nàn và ý chí, khát vọng giải phóng dân tộc, ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng đi Mác xây (Pháp) mang theo khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước, để đem lại: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”.

Thời gian ở nước ngoài từ năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã xác định mục tiêu rõ ràng là tìm con đường đấu tranh đúng đắn để giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào mình. Để thực hiện được mục tiêu cao cả đó, Nguyễn Tất Thành đã phải làm nhiều nghề để sinh sống như phụ bếp trên tàu, quét tuyết, chụp ảnh, vẽ minh họa cho các báo, viết báo.v.v. Cũng qua công việc, Người thêm hiểu, đồng cảm với những người lao động cùng khổ ở khắp mọi nơi trên thế giới, rèn luyện bản thân, nuôi dưỡng ý chí tự lực, tự cường, tu dưỡng đạo đức và bản lĩnh của chiến sĩ cách mạng. Sau này, Bác Hồ tâm sự, Bác làm rất nhiều nghề để làm một nghề lớn lao, đó là nghề cách mạng.

Sau những năm tháng bôn ba khắp năm châu, bốn biển, cuối cùng, Người đã tìm được và đi theo con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin. “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc trăn trở tìm đường về nước để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam. "Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập" - Người viết thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, năm 1923. Với việc tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập trung mọi nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam.

Ngày 03/02/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đây là bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam. Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời, theo phân tích của GS Hoàng Chí Bảo, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, "là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước ngoặt của phong trào cách mạng Việt Nam, đây là khởi đầu dẫn tới Thời đại Hồ Chí Minh, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng triền miên về đường lối cứu nước từ cuối thế kỷ XIX đến thập niên 30 thế kỷ XX. Bước ngoặt ấy cũng là khởi đầu cho sự thay đổi số phận của dân tộc ta, là dấu mốc điển hình cho sự phát triển thành thục tư tưởng, đường lối và phương pháp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh... Sự ra đời của Đảng không chỉ khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam mà còn cho thấy những cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam".

Thực tiễn đã chứng minh, bằng con đường Bác đã chọn “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, cách mạng Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đi theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra; trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vận dụng phát triển, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế./.