Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Hãy tin tưởng vào hiệu quả Vaccine trước biến chủng nCoV

 

Theo các chuyên gia biến chủng Delta, được phát hiện ở Ấn Độ, lọt lưới miễn dịch cộng đồng và gây ra làn sóng mới, nhưng áp lực lên hệ thống y tế không quá lớn. Những nước tiến hành chương trình tiêm chủng Covid-19 quy mô lớn đang dần nới lỏng các biện pháp hạn chế, điển hình là Mỹ và Anh. Thủ tướng Anh Boris Johnson tuần qua khẳng định vẫn giữ nguyên ý định khôi phục trạng thái bình thường trên toàn quốc từ ngày 21/6, khi nước này đã tiêm đầy đủ hai liều vaccine cho hơn 40% dân số. Tuy nhiên, chính phủ Anh vẫn băn khoăn về khả năng bảo vệ toàn dân của vaccine trước biến chủng nCoV mới, đặc biệt là biến chủng Delta B.1.617.2 được phát hiện lần đầu ở Ấn Độ và đang tăng tốc lây nhiễm tại nước này. Đây được cho là lý do khiến Bộ trưởng Y tế Anh Matt Hancock hôm nay cho rằng vẫn còn quá sớm để khẳng định sẽ dỡ bỏ mọi biện pháp hạn chế vào ngày 21/6. Mức độ hiệu quả của vaccine được tính bằng tỷ lệ phần trăm, thể hiện vaccine khắc chế virus gây bệnh tốt đến mức nào trên thực tế. Khái niệm này khác với "hiệu suất" của vaccine, chỉ tỷ lệ kháng bệnh trong thử nghiệm. Nếu một loại vaccine "hiệu quả 90%" với bệnh có triệu chứng, nguy cơ người tiêm vaccine đó mắc bệnh thấp hơn 90% so với người không tiêm. Một số nghiên cứu thời gian qua, bao gồm nghiên cứu phòng thí nghiệm lẫn phân tích dữ liệu thực tế trên thế giới, cho thấy danh sách vaccine Covid-19 hiện hành khó khắc chế biến chủng Delta hơn biến chủng Alpha B.1.1.7, được phát hiện đầu tiên tại Anh vào cuối năm 2020. Theo báo cáo của Bộ Y tế Anh, phân tích trên 7.673 ca nhiễm biến chủng Anh có triệu chứng và 2.934 ca nhiễm biến chủng Ấn Độ cho thấy có sự khác biệt về hiệu quả của vaccine. Nghiên cứu chỉ xét các trường hợp tiêm Pfizer hoặc AstraZeneca. Khi tiêm một mũi đầu, mức hiệu quả của vaccine đối với biến chủng Ấn Độ thấp hơn 17% so với nhiễm biến chủng Anh. Tuy nhiên, hiệu quả vaccine giảm không đáng kể khi tiêm đầy đủ hai liều. Deborah Dunn-Walters, chuyên gia về miễn dịch tại Đại học Surrey ở Anh, nhận định vaccine vẫn đảm bảo mức độ bảo vệ nhất định đối với biến chủng mới, và "liều tiêm thứ hai có ý nghĩa rất quan trọng trong khắc chế biến chủng Ấn Độ". Tuy nhiên, độ hiệu quả giảm 17% sau mũi tiêm thứ nhất vẫn khiến giới chuyên gia lo ngại. Nghiên cứu do Bộ Y tế Anh công bố không nêu rõ tỷ lệ triệu chứng nghiêm trọng ở người nhiễm nCoV. Yếu tố này cần được làm rõ vì tỷ lệ bệnh chuyển biến nặng mang hàm ý quan trọng đối với khả năng chống chọi trước làn sóng dịch bệnh của toàn bộ hệ thống y tế. Nếu vaccine thất bại trong ngăn ngừa ca nhập viện, gánh nặng đối với hệ thống y tế sẽ lớn hơn khi số ca nhiễm biến chủng tăng cao. Một nghiên cứu khác của Viện Pasteur Pháp cũng phát hiện vaccine Pfizer và AstraZeneca giảm hiệu quả trước biến chủng Ấn Độ, nhưng lượng kháng thể sinh ra vẫn đủ bảo vệ người bệnh. Giám đốc viện Pasteur Pháp Olivier Schwartz cho biết đối với người tiêm đủ hai liều Pfizer, lượng kháng thể khắc chế biến chủng Ấn Độ thấp hơn khoảng ba lần. Tình nguyện viên tiêm một liều AstraZeneca có lượng kháng thể khắc chế biến chủng Ấn Độ rất thấp. "Biến chủng đã đạt khả năng đề kháng một phần với kháng thể Covid-19", ông cảnh báo. Theo Adam Finn, giáo sư Đại học Bristol đồng thời là thành viên Ủy ban Tiêm ngừa và Miễn dịch của chính phủ Anh, giới nghiên cứu vẫn chưa nắm rõ tác động từ biến chủng mới lên độ hiệu quả của vaccine, "đặc biệt về khả năng bảo vệ người tiêm khỏi diễn tiến bệnh nghiêm trọng sau liều tiêm thứ nhất và khi tiêm đủ hai liều". Họ cũng chưa rõ biến chủng Ấn Độ có mức độ lây nhiễm cao hơn như thế nào. Nhìn chung, hiệu quả vaccine chỉ thể hiện rõ nhất trên phương diện ngăn ngừa ca tử vong. Đối với những hình thái khác kém nghiêm trọng hơn như người nhiễm không xuất hiện triệu chứng hay có triệu chứng nhẹ, vaccine đạt hiệu quả thấp hơn. Giới chuyên gia thời gian qua nhận định biến chủng Delta dễ lây nhiễm hơn Alpha khoảng 50-70%. Bằng thuật toán mô hình hóa, các nhà khoa học dự đoán trong kịch bản biến chủng nCoV có mức lây nhiễm cao hơn biến chủng Alpha khoảng 40% và Anh vẫn mở cửa vào ngày 21/6 theo kế hoạch, số ca nhập viện mỗi ngày vì Covid-19 dễ dàng vượt giai đoạn đỉnh dịch tại nước này vào mùa đông vừa qua. "Với biến chủng gây bệnh nặng hơn ở người nhiễm, đồng thời có khả năng qua mặt miễn dịch cộng đồng bằng vaccine, chúng ta sẽ thấy số ca dương tính tăng nhanh hơn trước vì tiếp xúc xã hội. Tuy nhiên, chỉ cần vaccine duy trì được khả năng phòng ngừa triệu chứng bệnh nghiêm trọng, số ca nhập viện sẽ không tăng vọt như những giai đoạn vừa qua". Vì vậy, mỗi công dân Việt Nam hãy tin tưởng và tham gia tiêm vaccine để tạo miễn dịch cộng đồng vào cuối 2021 đầu 2022./. NTM.

 

Từ “Quỹ Độc lập” đến “Quỹ Vaccine”: Nơi hội tụ ý Đảng lòng dân

“Quỹ Độc lập” và “Quỹ Vaccine” đều là những Quỹ được Chính phủ thành lập trong hoàn cảnh đất nước rơi vào tình thế khó khăn để huy động sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Hai Quỹ ấy tuy ra đời trong bối cảnh khác nhau nhưng cùng là điểm hội tụ của ý Đảng - lòng dân. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trao chứng nhận, hoa cảm ơn bác Nguyễn Mạnh Tường 82 tuổi, cán bộ hưu trí ngành đường sắt ủng hộ Quỹ Vaccine. QUỸ ĐỘC LẬP TRONG TÌNH THẾ “NGÀN CÂN TREO SỢI TÓC” Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, đặc biệt là những khó khăn về kinh tế, tài chính: Quốc khố gần như trống rỗng, kinh tế kiệt quệ, Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp, ngân quỹ Chính phủ chỉ vẻn vẹn có 1,25 triệu đồng Đông Dương, nhưng trong đó có tới 580 nghìn đồng rách nát đang chờ tiêu huỷ, các khoản nợ của chính phủ bù nhìn, tay sai để lại lên đến 564 triệu đồng… Những khó khăn tài chính càng thêm chất chồng khi quân Tưởng ép chúng ta sử dụng tiền Quan kim, Quốc tệ. Tình hình đó đòi hỏi chính quyền cách mạng cần nhanh chóng có biện pháp bảo đảm tài chính tạo cơ sở vững chắc để có thể tiến hành các nhiệm vụ cách mạng quan trọng tiếp theo. Đáp ứng đòi hỏi cấp bách của lịch sử, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra chủ trương tổ chức “Tuần lễ Vàng” động viên nhân dân tình nguyện ủng hộ xây dựng “ Quỹ Độc Lập”. Đây là một chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng trong vận động mọi người dân yêu nước, tha thiết với nền độc lập của dân tộc tự nguyện đóng góp cho Tổ quốc, đưa cách mạng vượt qua khó khăn thử thách và tiếp tục giành thắng lợi to lớn. Trong thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp “Tuần lễ Vàng”, Hồ Chủ Tịch nhấn mạnh: “Muốn củng cố nền tự do độc lập, chúng ta cần sức hy sinh, phấn đấu của toàn quốc đồng bào, cần sức quyên góp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có”[1]. Từ đó có thể thấy đối tượng hướng tới của Đảng và Chính phủ cách mạng trong “Tuần lễ Vàng” là “toàn quốc đồng bào”, những người thực sự có trách nhiệm với vận mệnh dân tộc, trong đó trước nhất là những người giàu có, các nhà tư sản dân tộc yêu nước, những điền chủ có tinh thần cách mạng… Đây là sự cụ thể hoá quan điểm về lực lượng cách mạng của Đảng ta trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khó khăn. Đồng thời, chủ trương này cũng có ý nghĩa quan trọng trong khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của nhân dân lao động, chung sức đoàn kết cùng chính quyền cách mạng non trẻ khắc phục khó khăn. Với chủ trương nói trên, Đảng ta cũng đã tạo điều kiện để các nhà tư sản dân tộc yêu nước và những người giàu có trong xã hội có thể ủng hộ, giúp đỡ cách mạng; qua đó, vừa tạo cho họ niềm tin vào chính quyền mới, đồng thời đập tan những luận điệu chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực phản động, tay sai. Đông đảo các tầng lớp nhân dân thủ đô mít tinh ủng hộ Tuần lễ Vàng. (Ảnh tư liệu). Đông đảo các tầng lớp nhân dân thủ đô mít tinh ủng hộ Tuần lễ Vàng. (Ảnh tư liệu). Thực tế lịch sử cho thấy, “Tuần Lễ Vàng” đã thu được nhiều kết quả to lớn. Chỉ trong 1 tuần, từ ngày 17-24/9/1945, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước đã ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” khá nhiều vàng, bạc, tiền Đông Dương: “chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được 20 triệu tiền đồng và 370 kilôgam vàng”[2]. Lượng tiền, vàng mà nhân dân cả nước ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” là tiền đề tài chính quan trọng giúp Đảng và Chính quyền cách mạng tháo gỡ tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”, tạo thế và lực để giải quyết từng bước các nhiệm vụ cách mạng tiếp theo. Quỹ Độc lập là một minh chứng cho thấy khi ý Đảng và lòng dân hội tụ, hòa làm một, mọi khó khăn sẽ được giải quyết, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” sẽ từng bước được tháo gỡ. QUỸ VACCINE TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19 NGÀY CÀNG PHỨC TẠP, KHÓ LƯỜNG Cho đến nay, Việt Nam đã bước vào đợt bùng phát Covid-19 lần thứ 4 với mức độ phức tạp hơn, quy mô lớn hơn nhiều so với các đợt dịch trước. Giải pháp quan trọng được Chính phủ đưa ra trong công tác phòng dịch đợt này ngoài việc tiếp tục áp dụng biện pháp 5K còn có vaccine. Trước tình hình đó, Ngày 26/5/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 779/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ Vaccine phòng Covid-19. Mục đích của Quỹ là để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ, hỗ trợ, đóng tự nguyện bằng tiền, vaccine của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước và các nguồn vốn hợp pháp khác cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine, nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước và sử dụng vaccine phòng Covid-19 cho người dân. Quỹ Vaccine là sự tiếp tục huy động sự đóng góp của nhân dân chung tay cùng Đảng, Nhà nước, Chính phủ trong cuộc chiến chống đại dịch. Khi đại dịch Covid-19 bùng nổ trên phạm vi toàn cầu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đã kêu gọi nhân dân đồng sức, đồng lòng chung tay chống dịch. Ngoài việc thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch theo khuyến cáo của Bộ Y tế, nhân dân cả nước cùng đông đảo kiều bào Việt Nam ở nước ngoài đã đóng góp công sức, tiền bạc, hiện vật cho công tác phòng, chống dịch. Với tấm lòng tương thân tương ái, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, ở nhiều nơi trên khắp cả nước đã xuất hiện những ATM gạo, ATM mì, ATM khẩu trang... Không chỉ các cơ quan, tổ chức tích cực đóng góp mà cảm động hơn có những bà mẹ Việt Nam anh hùng đóng góp từng đồng trợ cấp chắt chiu, những em nhỏ đóng góp số tiền tiết kiệm từ tiền ăn sáng... Sự đóng góp ấy đã tỏa sáng tinh thần đoàn kết, đùm bọc, sẻ chia của nhân dân Việt Nam trong khó khăn, hoạn nạn, giúp cho Việt Nam trở thành điểm sáng trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 trong ba lần trước đây. Khác với ba lần trước, đợt bùng phát dịch lần thứ tư diễn ra nhanh hơn, trên phạm vi rộng hơn, với mức độ nguy hiểm hơn và khó kiểm soát hơn. Nhận thấy điều đó, Chính phủ đã xác định cùng với áp dụng biện pháp 5K, tiêm vaccine cho người dân trở thành yêu cầu cấp bách trong công tác phòng dịch. Với mục tiêu bao phủ vaccine cho 75% dân số cả nước, Chính phủ đã thành lập Quỹ vaccine. Đây là một sáng kiến cần thiết, thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ trong việc sớm ngăn chặn dịch bênh Covid-19 để mang lại cuộc sống bình thường cho nhân dân. Ngày khi vừa thành lập, Quỹ vaccine đã nhanh chóng nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân trong cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Chỉ trong một thời gian ngắn, Quỹ đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn không chỉ của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tập đoàn... mà còn của các tầng lớp nhân dân, từ những em học sinh đến các cụ già, từ các cựu chiến binh đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, từ những người nông dân đến các cán bộ hưu trí... Đặc biệt, đông đảo kiều bào ta ở nước ngoài tuy gặp nhiều khó khăn do đại dịch nhưng vẫn hướng về Tổ quốc, cùng chung tay đóng góp cho Quỹ Vaccine. Đặc biệt, trong tối ngày 05/6/2021, chỉ trong 2 giờ phát động Quỹ vaccine trên Đài Truyền hình Việt Nam, Quỹ không chỉ nhận được sự đóng góp to lớn của rất nhiều cơ quan, doanh nghiệp mà còn tiếp nhận được hơn 17,7 tỉ đồng qua tổng đài 1408. Đó là một minh chứng cho thấy Quỹ vaccine đã thật sự trở thành nơi hội tụ của ý Đảng, lòng dân, làm tỏa sáng tinh thần đoàn kết, trách nhiệm xã hội của toàn thể nhân dân Việt Nam. Quỹ vaccine phòng Covid-19 là sự chắt chiu, cộng đồng trách nhiệm của cả dân tộc trong thời khắc cam go. Cũng giống như thành công của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh khi huy động nhân dân đóng góp cho Quỹ Độc lập, chúng ta tin tưởng rằng Quỹ Vaccine sẽ tiếp tục nhận được sự đóng góp to lớn hơn nữa của đông đảo quần chúng nhân dân. Mỗi đồng tiền được đóng góp vào Quỹ không chỉ là sự đóng góp công sức, giá trị vật chất mà còn là sự sẻ chia, cộng đồng trách nhiệm, đồng tâm hiệp lực của nhân dân với Đảng, Nhà nước, Chính phủ trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19. Tuy cuộc chiến phía trước còn nhiều cam go, khốc liệt nhưng Quỹ Vaccine không chỉ là quyết sách đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc huy động sức dân mà còn là một minh chứng không gì thuyết phục hơn cho sự chung tay, góp sức của nhân dân đối với Đảng, Chính phủ trong những thời khắc cam go, thử thách. Đó cũng chính là cội nguồn sức mạnh để nhân dân Việt Nam đã từng chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược và sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19. Quỹ Độc lập và Quỹ Vaccine là những quyết sách đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc huy động sức mạnh của nhân dân, làm tỏa sáng giá trị Việt Nam. Ý Đảng - lòng dân đã hòa làm một và trở thành động lực quan trọng giúp dân tộc ta đã và sẽ vượt qua những khó khăn, thử thách.

Động lực tinh thần đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước đã mở đầu cho huyền thoại về một vĩ nhân trong lịch sử dân tộc Việt Nam - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - Hồ Chí Minh. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người đã gắn liền với thắng lợi vẻ vang nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX; sau 110 năm, kể từ ngày Bác Hồ rời bến Nhà Rồng, tìm hiểu động cơ đi tìm đường cứu nước của Người chúng ta lại càng thấy rõ trí tuệ mẫn tiệp, tính nhân văn sâu sắc và tầm nhìn vượt thời đại của một vĩ nhân. Động lực đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh được hội tụ ở lòng yêu nước, ý thức dân tộc, tình yêu thương con người, sự khát khao giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động thoát khỏi áp bức bóc lột, bất công, đưa con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Cụ thể, động lực ấy xuất phát từ những nội dung chủ yếu sau: Một là, chủ nghĩa yêu nước chân chính động cơ bao trùm, định hướng thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu lòng nhân ái, có tinh thần yêu nước sâu đậm. Từ lúc thiếu thời đến tuổi trưởng thành, Nguyễn Tất Thành đã nhận được sự giáo dục và nuôi dưỡng lòng yêu nước, truyền thống nhân ái của dân tộc: thương người, thương dân, khát vọng có cuộc sống tự do, no ấm, hạnh phúc. Chính lòng yêu nước, ý thức dân tộc đã đưa Nguyễn Tất Thành đi sang Pháp và các nước phương Tây để tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, bị áp bức, bóc lột. Ngay từ ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước và quá trình bôn ba ở nước ngoài, từ khi là Nguyễn Tất Thành rồi đến Nguyễn Ái Quốc và trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn luôn hướng về Tổ quốc, day dứt nỗi đau mất nước; luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, lấy đó làm động lực vượt qua mọi khó khăn thử thách để tìm ra con đường cách mạng đúng đắn. Người có một nỗi khát khao tột bậc, làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được sống tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, cũng được học hành. Nỗi khát khao đó chính là động lực tinh thần thôi thúc Người quyết chí ra đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc. Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, rời bến cảng Nhà Rồng đi sang nước Pháp cho đến lúc đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin; từ việc đi ra nước ngoài học hỏi kinh nghiệm cách mạng Mỹ, Pháp, Trung Hoa,… đến việc tin theo V.I.Lênin, tin theo Quốc tế III đều xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước. Chính chủ nghĩa yêu nước đã giúp Nguyễn Ái Quốc đến với Quốc tế III, ủng hộ nước Nga Xô-viết. Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, Người đã sáng tỏ nhiều điều về con đường để giải phóng dân tộc Việt Nam. Người cho rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản; vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”! Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(1). Từ bản khi nghiên cứu Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.LLênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy phương hướng và đường lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới theo lập trường của giai cấp công nhân, trong đó có cách mạng Việt Nam. Niềm tin ấy là ngọn cờ tư tưởng để Nguyễn Ái Quốc vững bước đi theo con đường cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin. Quyết tâm đi theo con đường của V.I.Lênin đã vạch, Nguyễn Ái Quốc xin gia nhập Uỷ ban Quốc tế III. Sau này, hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đặc biệt là những năm ở Mát-xcơ-va, trong Quốc tế III, chủ nghĩa yêu nước chân chính vẫn là mục tiêu là động lực xuyên suốt trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Vì vậy, gần 40 năm sau, trong bài viết Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, đăng trên Báo Nhân dân, số 2226, ngày 22-4-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(2). Như vậy, từ năm 1911 đến năm 1920, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc khảo sát, nghiên cứu để lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Như vậy, sau năm 1920 đã đánh dấu một bước chuyển biến quyết định, bước nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người: Từ lòng yêu nước nồng nàn, ý thức dân tộc sâu sắc, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhắc lại sự kiện này, Hồ Chí Minh đã viết: “Cá nhân tôi, từ lúc đầu nhờ được học tập truyền thống cách mạng oanh liệt và được rèn luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp, mà tôi đã tìm thấy chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”(3). Thứ hai, tìm hiểu thực chất “tự do, bình đẳng, bác ái” của các nước phương Tây, là động lực tinh thần trực tiếp thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Sự thất bại của các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở các tỉnh Trung Kỳ đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành hướng về các nước phương Tây, mong muốn được đến tìm hiểu xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”? Trả lời câu hỏi đó, trong tác phẩm Chính sách thuộc địa (Theo báo cáo của mật thám Pháp ngày 13-12-1920, đây là bài báo Nguyễn Ái Quốc viết cho báo Nhân đạo (L’ Humanité)) Người đã sớm đưa ra câu trả lời “Nước Pháp thì, núp sau lá cờ ba sắc tự do, bình đẳng, bác ái, đang đưa vào các thuộc địa của nó rượu, thuốc phiện, mại dâm và gieo rắc nghèo đói, lụn bại và chết chóc cho dân bản xứ bên cạnh sự giàu sang kiếm được bằng cách bất lương của nó”(4). Quyết tâm đi ra nước ngoài để “xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào” nhằm mục đích cao cả là tìm con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, khắc phục sự hạn chế của các phong trào yêu nước bị thất bại của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã khẳng định tư duy “vượt thời đại” của Người so với nhân sĩ, trí thức yêu nước ở Việt Nam lúc bấy giờ. Mặc dù sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho, sớm thông tuệ đạo Thánh hiền, “lấy đức trị quốc”, nhưng Nguyễn Tất Thành đã vượt qua phương thức chống giặc ngoại xâm theo lập trường của phong kiến, không đi theo con đường cứu nước của Nho giáo. Vượt qua tư tưởng Tôn Quân, Nguyễn Tất Thành phê phán tất cả các phong trào yêu nước “nặng cốt cách phong kiến” dù cốt cách đó có chiều dày hàng ngàn năm lịch sử. Người cũng đã vượt qua lập trường dân chủ tư sản và tiểu tư sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam; đồng thời phê phán tính không triệt để của nó; thấy được lập trường dân chủ tư sản, tiểu tư sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến chưa đủ sức tập hợp lực lượng để chống lại chủ nghĩa thực dân, tất yếu sẽ bị thất bại, bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Nguyễn Tất Thành luôn khát khao vươn tới đỉnh cao văn minh, trí tuệ nhân loại, không muốn tìm câu trả lời có sẵn, mặc dù những điều đã có là truyền thống dân tộc. Nói về mục đích ra đi của Nguyễn Tất Thành, trong bài viết Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam, đã dẫn lại lời của Người rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”(5). Một lần khác trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(6). Từ những động lực tinh thần mạnh mẽ, lý tưởng khát khao vươn tới đỉnh cao văn minh, trí tuệ của nhân loại, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc để đi đến các nước: Pháp, Anh, Mỹ, I-ta-li-a, Thụy Sĩ, Đức, Toà thánh Vaticăng, Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan và các nước châu Phi... Người đi nhiều nơi trên thế giới, chiêm nghiệm nhiều và chứng kiến biết bao cảnh người dân lao động bị áp bức, bóc lột trên thế giới; Người tự lao động để sống, để học tập, để hoạt động cách mạng, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã tích lũy được rất nhiều bài học kinh nghiệm để lãnh đạo cách mạng sau này. Từ bản lĩnh vượt lên chính mình cho thấy, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một con người vừa có tâm, vừa có tầm và vừa trí, nặng lòng lòng yêu nước, thương dân. Người biết nhìn xa, trông rộng, thấy được xu thế phát triển của thời đại, thấu suốt tình hình thế giới, trong nước; thấy được lợi ích căn bản của dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam. Người là hiện thân của nghị lực vượt mọi khó khăn để vươn lên, tinh thần học hỏi cầu tiến bộ, biết vứt bỏ các thiên kiến cũ để có được sự chỉ dẫn bởi tri thức của Nhân dân, học hỏi được tinh hoa văn hoá nhân loại, nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng tầm bản thân, đưa dân tộc ta vươn tầm thời đại. Ba là, khát vọng giải phóng dân tộc, vì ấm no, tự do và hạnh phúc thực sự của Nhân dân là động lực tinh thần trực tiếp thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Đi từ miền Trung đến miền Nam, Nguyễn Tất Thành hiểu rõ: dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ, cũng chẳng khác gì dưới chế độ bảo hộ ở Trung Kỳ và dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ ở Bắc Kỳ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức, bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Nguyễn Tất Thành đi sang các nước phương Tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp. Động lực tinh thần ấy đã dẫn Người từng bước đi tìm một phương hướng mới để cứu nước, cứu nhân dân ta thoát khỏi cảnh bị áp bức, lầm than. Quá trình tìm đường cứu nước, văn minh phương Tây đã đem lại những giá trị mới mang tính cách mạng và khoa học trong tư tưởng cứu nước của Nguyễn Tất Thành mà ở phương Đông lúc bấy giờ chưa có. Đó là những khái niệm: tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, dân quyền, pháp quyền, dân chủ, cách mạng xã hội, đặc biệt là chủ nghĩa cộng sản và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo Luận cương của V.I.Lênin. Từ thực tiễn tìm hiểu con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã học được rất nhiều về các mô hình tổ chức đời sống nhà nước và đời sống xã hội theo hình thức chính thể cộng hoà, dân chủ. Những giá trị tiến bộ của phương Tây đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến tư tưởng của Người. Những tư tưởng tiến bộ và cách mạng của thế giới được Nguyễn Áí Quốc áp dụng vào quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội mới ở Việt Nam sau này. Trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(7) Những giá trị mà theo Hồ Chí Minh là quý nhất như “độc lập”, “tự do” là “quyền tự nhiên”, không có trong các chế độ phong kiến chuyên chế phương Đông và ở các nước thuộc địa. Đây là những giá trị của văn minh nhân loại, phản ánh những quyền cơ bản của con người, của các dân tộc. Bất kỳ một lực lượng cách mạng nào, một nhà nước nào muốn tập hợp nhân dân, muốn đoàn kết nhân dân, trước hết phải thực hiện những quyền cơ bản đó. Như vậy, nhờ có động lực tinh thần đúng đắn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc cho dân tộc ta. Thay cho lời kết, chúng tôi xin nhắc lại bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Báo Dranma, Cu Ba: “Một con người đã tập trung vào mình tất cả những đặc điểm cao nhất không những của một dân tộc đặc biệt mà của cả một lớp nhân loại khác thường: đó là lớp nhân loại biết sống mãi mãi một cuộc sống tươi trẻ và không vụ lợi, một lớp nhân loại biết nuôi dưỡng và thúc đẩy trí tuệ của cách mạng, làm cho cách mạng phát triển một cách chắc chắn,…”(8)./.

Tìm đường cứu nước, cứu dân – Bản lĩnh nhà ái quốc vĩ đại Hồ Chí Minh

Bản lĩnh Hồ Chí Minh là sự thể hiện tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, ý chí quyết tâm cao độ, sự kiên định và năng lực hoạt động thực tiễn xuất sắc của Người nhằm thực hiện thành công khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, để thực sự mang lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc ra nước ngoài tìm đường cứu nước, cứu dân là sự kiện thể hiện rất sinh động bản lĩnh của Người. Đó làm tấm gương mẫu mực về bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng, của tinh thần yêu nước, thương dân nồng nàn. Điều này được thể hiện tập trung ở mấy điểm cơ bản sau: Thứ nhất, đặt vấn đề tìm đường cứu nước bằng tư duy độc lập, phản biện. Trong một lần trò chuyện với nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông về việc đi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh bộc bạch: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(1). Chủ nghĩa yêu nước là mạch nguồn vô tận, là giá trị xếp cao nhất trong hệ các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Giá trị này được thể hiện và phát huy đặc biệt mạnh mẽ khi đất nước đứng trước họa ngoại xâm. Trong một xã hội bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng “lão quyền”, “sống lâu lên lão làng”, Hồ Chí Minh đã không bị lệ thuộc vào quan điểm của các thế hệ tiền bối, mà vượt lên những định kiến, đưa ra quan điểm riêng của Người: phải đi ra nước ngoài, xem cho rõ, sau khi đã xem rõ, trở về giúp đồng bào. Hồ Chí Minh đã ý thức được tư duy cứu nước truyền thống không thể giúp chiến thắng được thực dân Pháp - một kẻ thù hoàn toàn mới của dân tộc, không chỉ đến từ một hướng khác (hướng Tây) so với truyền thống lịch sử, mà còn hơn hẳn dân tộc Việt Nam trình độ phát triển của phương thức sản xuất (phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất phong kiến). Do đó, cần phải đi ra thế giới để học hỏi tư duy mới, cách thức mới và trở về giúp đồng bào. Học hỏi để tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, chứ không phải là cầu viện, trông chờ, lệ thuộc vào sự giúp đỡ của bên ngoài. Tinh thần thực chứng và độc lập tự chủ như trên giúp Người tránh được các căn bệnh chủ quan duy ý chí, hoặc tâm lý chạy theo đám đông, tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm không phải là hiếm gặp trong xã hội. Thứ hai, chọn hướng đi ra nước ngoài khác với hướng đi phổ biến đương thời. Trước khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cụ Phan Bội Châu - một người bạn thân với thân sinh Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc, đã từng mời Người - khi đó còn là anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, tham gia phong trào Đông Du, nhưng anh đã từ chối. Mặc dù khi đó chưa có điều kiện hiểu rõ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, nhưng bằng sự nhạy cảm bản thân, anh Thành không tán đồng với chủ trương của cụ Phan Bội Châu, với nhận xét tinh tế: “Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”(2). Đây là điều không phải người Việt Nam nào thời đó cũng nhận ra được. Bởi sau chiến thắng của nước Nhật trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905), Nhật nổi lên như là một trong những điển hình tiêu biểu và là tấm gương sinh động cho sự chiến thắng của người châu Á trước người châu Âu, được coi là “anh cả da vàng” và vì “đồng văn, đồng chủng” nên dựa vào người Nhật để đánh đuổi Pháp là điều có sức thuyết phục. Nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh, khi chính quyền Pháp và chính quyền Nhật bắt tay với nhau vì có chung lợi ích về vấn đề thuộc địa, phong trào Đông Du từng sôi nổi một thời đã thất bại. Trong khi đó, chọn hướng đi sang phương Tây, tìm hiểu thực chất những điều ẩn giấu sau khẩu hiệu mỹ miều “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để quan sát một chân trời mới, từ đó, đưa lại cho Người những tư duy rất mới: “cũng có những người Pháp tốt”(3), “Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta”(4)... Chính nhờ chọn hướng đi đúng đắn sang phương Tây, Hồ Chí Minh được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa mới, tư tưởng mới. Bằng tư duy độc lập, tự chủ, óc phê phán tinh tường, Người đã gạn lọc và tiếp thu những hạt nhân hợp lý, làm giàu thêm vốn văn hóa của bản thân, để vươn lên đến đỉnh cao của văn hóa nhân loại, trở thành nhà văn hóa vừa mang đậm chất Á Đông, vừa hết sức cởi mở, hòa hợp với văn hóa phương Tây. Đặc biệt, nhờ chọn hướng đi sang phương Tây, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để gặp gỡ, nghiên cứu và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lêni, thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giúp giải phóng triệt để dân tộc Việt Nam. Thứ ba, vượt mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết thực hiện mục tiêu đã định. Mục tiêu của Hồ Chí Minh khi đi ra nước ngoài là nhằm cứu nước, cứu dân khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Hướng đi là sang phương Tây, nhưng có một thực tế đầy thách thức đặt ra với Người là không có bất kỳ một khoản tài chính bản thân, hoặc sự tài trợ của một tổ chức, cá nhân nào cho chuyến đi. Người chỉ có hai bàn tay trắng. Mặt khác, khi đi ra nước ngoài, Người chỉ có một mình, sau khi người bạn dự định đi cùng đã bỏ cuộc. Một người dân thuộc địa đi ra nước ngoài không có nguồn tài chính, không có bạn bè, người thân đi cùng, đó thực sự là một điều mạo hiểm và có thể làm chùn bước nhiều người. Nhưng đối với Hồ Chí Minh, thách thức này càng làm nổi rõ hơn bản lĩnh của Người. Một người dân thuộc địa đi ra nước ngoài không có nguồn tài chính, không có bạn bè, người thân đi cùng, đó thực sự là một điều mạo hiểm và có thể làm chùn bước nhiều người. Nhưng đối với Hồ Chí Minh, thách thức này càng làm nổi rõ hơn bản lĩnh của Người. Với tấm lòng yêu nước nhiệt thành, với ý chí “sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”(5), từ một thanh niên trí thức xuất thân trong một gia đình trí thức phong kiến, có chỗ đứng nhất định trong xã hội đương thời, Người đã chọn con đường “vô sản hóa” và trở thành một người lao động làm thuê - một thân phận bình thường, thậm chí là thấp kém trong xã hội. Nhưng ở người lao động này, luôn luôn nung nấu hoài bão cứu nước, cứu dân - một hoài bão phi thường. Làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, công việc luôn vất vả, cực nhọc suốt từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, nhưng mỗi khi xong việc, Người lại tiếp tục đọc hoặc ghi chép đến nửa đêm mới đi nằm. Mục đích không gì khác hơn là để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, từ đó sẽ giúp ích cho đất nước, dân tộc. Kiên định hành trình thực hiện khát vọng cứu nước, cứu dân, thời gian ở Anh (1913 - 1917), để có thể sinh sống, Hồ Chí Minh phải làm nhiều công việc lao động vất vả: quét tuyết cho một trường học, đốt lò ở trung tâm sưởi ấm của Luân Đôn, rửa nồi chảo, bát đĩa ở nhà bếp khách sạn Cáclơtơn .... Thời gian ở Pháp (1917 - 1923), Người làm nhiều nghề khác nhau để có thể tồn tại và tuy phải sống trong những điều kiện hết sức khó khăn, thiếu thốn về vật chất, nhưng vẫn luôn luôn đặt niềm tin vào một tương lai tươi sáng của dân tộc. Kiên định mục tiêu cứu nước, cứu dân, nên khi các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị Vécxây (Pháp), với những lời hứa hẹn mở ra hy vọng mới cho các dân tộc thuộc địa về quyền dân tộc tự quyết, Người đã đề xướng việc gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ - một cử chỉ thiện chí, một cách ứng xử hoà bình, “là một kịch bản chấm dứt tình trạng thuộc địa trước công thức: dân chủ về chính trị, rồi độc lập”(6). Để tranh thủ sự ủng hộ của dư luận, Hồ Chí Minh dù đang sống rất khó khăn đã phải tiết kiệm chi tiêu để dành tiền thuê in Yêu sách ra hàng nghìn bản, đem phân phát rộng rãi trong nhân dân Pháp và gửi về Việt Nam. Bản yêu sách đã không được các nước tham dự hội nghị chấp nhận. Song, nó giúp Người “hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”(7). Dù bị mật thám Pháp theo dõi ráo riết, thậm chí bị Bộ trưởng thuộc địa Anbe Xarô gọi đến gặp, vừa dụ dỗ, vừa đe dọa, nhưng Người không hề bị khuất phục, mà vẫn kiên định với mục tiêu cứu nước, cứu dân đã chọn. Thứ tư, lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của dân tộc. “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là con đường giải phóng duy nhất mà Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra cho nhân dân lao động và tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới”. - (Tổng Bí thư Lê Duẩn) Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam, từ ngọn cờ Cần Vương đến những chủ trương cứu nước theo con đường dân chủ tư sản, dù từng có lúc diễn ra sôi nổi ở nơi này hay nơi khác, nhưng cuối cùng đều bị thất bại. Những sự thất bại này khiến phong trào yêu nước Việt Nam chìm trong khủng hoảng, bế tắc về cả đường lối cứu nước và lực lượng lãnh đạo. Ngày 5/6/1911, khi bắt đầu chuyến hành trình đi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh chắc chắn chưa thể hình dung được việc giành lại độc lập của dân tộc Việt Nam sẽ diễn ra theo cách thức như thế nào, nhưng có một điều Người biết chắc chắn là ước muốn cháy bỏng của bản thân giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Đó chính là động lực vô cùng to lớn, đồng thời cũng là hành trang đặc biệt quý giá của Người trong hành trình bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia vì lý tưởng hết sức cao đẹp, nhân văn, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy hiểm và đầy gian nan, vất vả. Trong hành trình tìm đường cứu nước, nhất là những năm tháng sống ở châu Âu, Hồ Chí Minh đã có điều kiện tiếp xúc với nhiều trào lưu tư tưởng trên thế giới. Trên cơ sở lấy tự do, hạnh phúc cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc làm lẽ sống và làm thước đo giá trị để khảo nghiệm các trào lưu tư tưởng thế giới, Người đã gạn lọc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chọn lựa con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với dân tộc Việt Nam. Điều cần nhấn mạnh là chặng đường mà Người đã đi là “chặng đường chiến thắng biết bao khó khăn với sự lựa chọn vững chắc, tránh được những sai lầm dẫn tới ngõ cụt”(8). Hồ Chí Minh khâm phục cách mạng Mỹ với cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (1776) giành được thắng lợi và lập ra Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; khâm phục cuộc cách mạng Pháp (1789) làm rung chuyển châu Âu đang bị thống trị bởi chế độ chuyên chế trung cổ. Nhưng, Hồ Chí Minh cũng phát hiện ra rằng, đây là “những cuộc cách mạng không đến nơi”, bởi những khẩu hiệu mỹ miều, những thành quả của các cuộc cách mạng này chỉ nhằm phục vụ lợi ích của một thiểu số những người giàu - giai cấp tư sản, còn giai cấp công nhân và những người lao động khác vẫn phải sống trong cảnh nghèo khổ. Về bản chất, các cuộc cách mạng này chỉ thay đổi chế độ bóc lột cũ bằng chế độ bóc lột mới tinh vi hơn, hiện đại hơn. Điều quan trọng hơn là bằng năng lực quan sát và phân tích rất tinh tế, Hồ Chí Minh nhận thấy rằng giai cấp tư sản ở Mỹ và Pháp đã vứt bỏ những tư tưởng tốt đẹp của các cuộc cách mạng và quay sang áp bức những người lao động chính quốc, từng một thời là đồng minh cách mạng và tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm nô dịch, cướp đoạt, vơ vét sức người, sức của ở các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh. Người thấy đó không phải là con đường Người lựa chọn và cũng không thể là con đường dân tộc sẽ đi. Mặt khác, thời điểm Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, trong phong trào công nhân thế giới cũng tồn tại những trào lưu tư tưởng khác nhau trong giai cấp công nhân, trong đó đặc biệt là tư tưởng của tầng lớp “công nhân quý tộc” và các “nghiệp đoàn vàng”. Đó thực chất là tư tưởng của những phần tử cơ hội, nhân danh giai cấp công nhân để xét lại học thuyết Mác, thậm chí cổ vũ, hối thúc giai cấp công nhân mỗi nước tham gia ủng hộ cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa 1914 - 1918. Có thể nói, nếu không được trang bị một vốn văn hóa nhất định, không có sự tỉnh táo xem xét và hiểu đúng các trào lưu tư tưởng, hay nói cách khác là nếu không có bản lĩnh, trước hết là bản lĩnh văn hóa, chắc chắn không dễ phân biệt thật giả. Giữa nhiều trào lưu tư tưởng của thế giới khi đó, Hồ Chí Minh đã biết phát hiện ra và tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (tháng 7/1920), Người đã “vui mừng đến phát khóc lên” và nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(9). Từ đó, Người quyết định bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Trong khi đó, những người Việt Nam khác, dù cũng rất giàu lòng yêu nước, thương dân và từng sống nhiều năm ở Pari - thủ đô nước Pháp, như nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, nhưng chưa nhìn ra được giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhân tố cơ bản tạo nên sự khác biệt này chính là trí tuệ mẫn tiệp, tầm nhìn xa thấy rộng của Hồ Chí Minh, một tầm nhìn vượt trước thời đại, hơn hẳn rất nhiều người cùng thời. Với trí tuệ và tầm nhìn đó, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường đúng cho bản thân và cũng là con đường đúng cho toàn thể dân tộc. Đó là con đường dựa chủ yếu vào sức mạnh yêu nước và đoàn kết của đồng bào, đồng thời tích cực tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, để đánh đuổi giặc ngoại xâm, rồi đi tới xây dựng một xã hội mới mang lại hạnh phúc, ấm no thực sự cho mọi người dân, một xã hội không còn áp bức, bất công, thực hiện giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Như Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chỉ rõ "Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là con đường giải phóng duy nhất mà Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra cho nhân dân lao động và tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới"(10). Nhìn lại 110 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, càng thấm nhuần tầm vóc vô cùng lớn lao và ý nghĩa trọng đại của sự kiện này đối với sự nghiệp giải phóng và phát triển của dân tộc, càng cảm phục, tri ân sâu sắc công lao vĩ đại của Người. Với lòng yêu nước nhiệt thành và bản lĩnh phi thường, vượt lên những khó khăn, thách thức của hoàn cảnh và những định kiến đương thời, Hồ Chí Minh đã quyết chí đi tìm và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với dân tộc - con đường cách mạng vô sản, thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giành lại độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Bản lĩnh của Người chính là sự kết tinh và nâng tầm bản lĩnh của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh lịch sử mới để đáp ứng yêu cầu lịch sử dân tộc đặt ra. Đó là minh chứng sinh động, là biểu tượng cho sức mạnh vô cùng to lớn của truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, của ý chí độc lập, tự do, tinh thần nhân ái và trí tuệ Việt Nam để đương đầu và vượt lên những thách thức hiểm nghèo của lịch sử. Bản lĩnh của Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước là bài học mẫu mực cho các cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về tấm lòng son sắt vì nước, vì dân, sẵn sàng cống hiến, không quản gian khổ, hy sinh, đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên hết và trước hết “lấy độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm lý tưởng phấn đấu của cuộc đời”. Bản lĩnh của Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước là bài học mẫu mực cho các cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về tấm lòng son sắt vì nước, vì dân, sẵn sàng cống hiến, không quản gian khổ, hy sinh, đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên hết và trước hết “lấy độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm lý tưởng phấn đấu của cuộc đời”. Đó cũng là bài học sâu sắc về tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, biết bỏ qua những lối mòn, những yếu tố không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tế; đồng thời chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa giá trị của dân tộc và nhân loại, từ đó vận dụng và bổ sung, phát triển trong điều kiện cụ thể, lấy kết quả thực tiễn phục vụ cho lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm, đánh giá. Đây là những bài học vẫn mang giá trị thời sự sâu sắc trong công cuộc đổi mới hiện nay./.

Phản bác luận điệu xuyên tạc mục đích và ý nghĩa hành trình đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh

Vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. 110 năm (5/6/1911 - 5/6/2021) là độ lùi lịch sử đã đủ độ tin cậy để có thể khẳng định rằng ngày 5/6/1911 là một trong những sự kiện trọng đại trong cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự lựa chọn, khởi đầu và quyết định chính xác từ ngày đó đã góp phần quan trọng làm nên nhà cách mạng Hồ Chí Minh và Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta khi "không chỉ đấu tranh cho một lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài, Người muốn tiến hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới"(1). Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đã đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nền độc lập của dân tộc bị xâm phạm, quyền được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người dân ở xứ An Nam thuộc địa đều bị chà đạp, tước bỏ. Không cam chịu làm nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam liên tiếp nổ ra: Từ phong trào Cần Vương, Văn Thân đến cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế; từ phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến phong trào chống thuế ở Trung Kỳ…, song cuối cùng đều bị dìm trong bể máu. Cũng trong những năm tháng đó, không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách Tân thư, Tân văn bằng tiếng Hán; được nghe các thầy giảng giải về nền dân chủ và văn minh phương Tây mà khi theo học lớp dự bị (préparatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh trước đó, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789. Sau này, Người kể lại với nhà văn Liên Xô Ôxíp Manđenxtam rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cùng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy” (2). Truyền thống của quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt của thời cuộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành. Vì vậy mà, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân theo tư tưởng phong kiến hoặc dân chủ tư sản, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới - Đó chính là làm cách mạng và nó khác hẳn những con đường đấu tranh yêu nước đã từng diễn ra. Vì thế mà, Nguyễn Tất Thành đã quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn giấu đằng sau những mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của cách mạng Pháp. Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình đang có, dân tộc mình đang có, để không chỉ làm giàu tri thức cho mình mà chính là hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc mình. Từ xuất phát điểm này, từ sự vượt lên chính mình này đã quyết định sự lựa chọn, con đường đi sau đó của Người - đó là rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc. Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ (Amiran Latusơ Tơrêvin), rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”. Có thể nói, đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại. Theo hành trình của tàu, Người đã đến Marseille, Le Havre, Dunkerque, Manche của Pháp… Ngày 15/9/1911, Người viết đơn gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc địa Pháp trình bày nguyện vọng muốn được xin vào học tại Trường Thuộc địa. Đơn của Người được gửi từ Marseille; trong đó có đoạn viết: “Tôi vinh hạnh, xin một đặc ân với lòng nhân từ cao cả của ông được thu nhận vào học Trường Thuộc địa như một học sinh nội trú. Hiện tại tôi là nhân viên của Hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) tàu Amiran Latusơ Tơrêvin”(3), với mong muốn "trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức"(4). Tuy nhiên yêu cầu này đã bị từ chối vào tháng 10/1911 và theo hành trình của tàu, Người trở lại Sài Gòn. Sau đó, Người quay lại Pháp và theo hành trình của hãng tàu Người bắt đầu hành trình lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức, khảo nghiệm và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục… Vậy là, trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu; thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Paris của nước Pháp hoa lệ; làm người cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh; học tập, nghiên cứu ở nước Nga; hoạt động ở Trung Quốc, v.v.. Nguyễn Ái Quốc đã có một hành trình dài với biết bao điều lớn lao: Thứ nhất, sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi, thực sự hòa mình vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới và đi đến lựa chọn đúng, đó là đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin/Quốc tế Cộng sản - trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào tháng 12/1920 (tại Đại hội Tua) khi hiểu rõ rằng: "Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới"(5). Vì thế, “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(6) và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(7)… Thứ hai, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân - Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Đồng thời, được chứng kiến những diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791, để rồi đi tới khẳng định: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(8). Vì thế, theo Người, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của tất cả các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới. Thứ ba, đi từ dân tộc đến nhân loại, Người đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin với thế giới quan khoa học và cách mạng, để phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển tất yếu của thời đại khi khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(9). Với ý nghĩa đó, có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp yêu cầu của đất nước và quy luật của thời đại mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho dân tộc Việt Nam khi nhấn mạnh rằng, ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc”(10). Đây là quá trình khảo nghiệm, thâu thái tinh hoa, tri thức các nền văn minh nhân loại theo cách "tiếp biến và vượt gộp" của Hồ Chí Minh, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam khi quyết định trở về Quảng Châu, Trung Quốc (11/11/1924) chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó. Thứ tư, trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, bằng những việc làm cụ thể như mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về Cách mạng Tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927.v.v, Nguyễn Ái Quốc đã ngày mỗi ngày góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, thúc đẩy sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, Người đã tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, trong đó khẳng định: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; "a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. b) Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập"(11). Thứ năm, dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn, với sức mạnh đoàn kết muôn người như một của các tầng lớp nhân dân yêu nước, kiên cường, đồng lòng ủng hộ, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á; đồng thời, đưa những thân dân/người dân nô lệ An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do. Tiếp đó, kiên định con đường đã lựa chọn, nhân dân Việt Nam kiên trì tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một đất nước Việt Nam đổi mới từng ngày đã khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng các quốc gia, đóng góp vào sự phát triển bền vững, phồn vinh của nhân loại; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài người tiến lên trong một thế giới đầy biến động. Sự thật hành trình ra đi tìm đường cứu nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là như vậy. Từng chặng đường Người đã trải qua, những hoạt động của Người từ năm 1890-1969 đều được cập nhật khá đầy đủ trong các bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập 15 tập, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 10 tập, trong các cuốn sách Hồ Chí Minh tiểu sử chi tiết và tóm tắt; trong các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả ở trong và ngoài nước… Tuy nhiên, bất chấp các thông tin chính xác đã có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không chỉ thường bịa đặt, bẻ cong sự thật, xuyên tạc về động cơ sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người mà còn hồ đồ suy diễn để bôi đen nội dung lá đơn xin học ở Trường Thuộc địa của Người. Đối với sự kiện lá đơn xin học và động cơ ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, có thể khẳng định rằng: Một là, không thể xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Nguyễn Tất Thành, bởi nơi đây chỉ dạy ngôn ngữ và văn minh Pháp cho những thanh niên Việt Nam do Toàn quyền Đông Dương gửi sang học. Trong đó, học viên của Trường Thuộc địa không nhất thiết phải trở thành quan chức (mà Bùi Kỷ, Lê Văn Miến và nhiều người khác là những ví dụ thực tế). Hơn nữa, từ năm 1896 trở đi, cùng với việc đào tạo học viên trở thành nhà cai trị thuộc địa tương lai thì Trường Thuộc địa còn có những lớp dạy cho những người bản xứ các nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, công xưởng… Đồng thời, cũng không thể suy luận và xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Người khi cho rằng: Nguyễn Tất Thành ban đầu học tập là vì theo ý muốn của cha để sau này sẽ làm quan triều đình nhà Nguyễn. Tuy nhiên, vì cha đã bị mất chức, nên việc làm quan triều đình nhà Nguyễn không thành, do đó mới tìm cơ hội sang Pháp, xin học ở Trường Thuộc địa, với “mộng làm quan cho thực dân Pháp". Thực chất, Người chưa bao giờ có ý định làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, lại càng không bao giờ muốn trở thành quan cai trị thuộc địa tương lai, vì Người không chỉ thấu hiểu rất rõ tâm tư của người cha: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ”/nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn” mà còn có khát vọng lớn lao là "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu!”(12). Hơn nữa, luận bàn về lá đơn xin học ở ở Trường Thuộc địa này, nhà sử học Pháp khá nổi tiếng D.Hémery từng nhấn mạnh rằng: "Lá đơn trước hết thể hiện ý muốn tạm thời được học, nhưng đơn xin học còn bao hàm một ý nghĩa khác, tóm tắt trong khẩu hiệu lưu hành lúc đó trong các thanh niên học sinh "xuất dương du học rồi về nhà cứu nước"…, để phổ biến tri thức hiện đại trong các dân tộc thuộc địa"(13). Vì thế, có thể thấy, thực chất của việc xin học ở Trường Thuộc địa là Người muốn được học tập để làm giàu tri thức của mình, với "ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức" như đã trình bày trong lá đơn. Hai là, sau khi bị Trường Thuộc địa từ chối, với mong muốn tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Người đã quyết định làm thuê cho một hãng tàu biển, tiếp tục hành trình lao động kiếm sống, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục. Trong những năm tháng đó, Người có thời gian khám phá, chiêm nghiệm để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin, để rồi sau khi đã “trưng cất” được những tinh hoa của nền văn minh phương Đông và phương Tây, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Người quyết định trở về "giúp ích cho đồng bào mình", lãnh đạo đồng bào mình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, chứ không phải giống như các luận điệu phản động, bịa đặt là: khi “bị từ chối thì bất đắc phiêu lưu kiếm sống, không có thời giờ suy nghĩ chuyện đất nước” và Nguyễn Ái Quốc “đến Liên Xô học tập là hy vọng có việc làm kiếm lương hằng tháng, chứ không phải vì cách mạng Việt Nam”… Thực tế là từ những tri thức tích luỹ được; từ sự thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” và với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người”, Người đã không chỉ tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng đường lối chính trị đúng đắn phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà còn cùng Đảng xúc tiến xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng, căn cứ địa cách mạng, xây dựng và củng cố, mở rộng các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi… thiết thực, hiệu quả để chuẩn bị cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam mà còn phát triển học thuyết đó lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại - đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình. Ba là, thời gian càng lùi xa, càng khẳng định rằng, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây hơn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự lựa chọn đúng và khởi đầu một hướng đi đúng, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm 1911 đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển bền vững. Đồng thời, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và kiên định con đường cách mạng do Người cùng Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, 110 năm sau - một nước Việt Nam "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội "đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" (14) như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định. Vì vậy, vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, thì vẫn có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đi theo con đường Người đã chọn, đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân loại; đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế, về lực, về thời để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh và phồn vinh, từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, sánh vai cùng bạn bè quốc tế./.

Hãy cảnh giác với những thủ đoạn thông tin sai sự thật về quỹ phòng chống Covid ở Việt Nam

 

Trong những ngày qua các thế lực thù địch đã đăng tải trên các kênh truyền thông, nhất là truyền thông xã hội hàng trăm bài viết, tin nhắn chứa đựng những thông tin sai sự thật về quỹ phòng chống Covid ở Việt Nam như “Việc mua vắc xin phòng chống dịch Covid 19 là việc của Chính phủ phải lo cho người dân 1 cách miễn phí” và nhiều bình luận khác…  nhằm bôi xấu Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài hãy cảnh giác với thủ đoạn của các thế lực thù địch. Quỹ phòng chống Covid ở Việt Nam là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam nhằm huy động sức mạnh tổng hợp mọi nguồn lực trong phòng, chống Covid19, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa quỹ phòng, chống Covid ở Việt Nam trên tinh thần tự nguyện của người dân, doanh nghiệp, Chính phủ không bắt ép bất cứ người dân nào. Kết quả của quỹ phòng chống dịch Covid 19 đã được tất cả mọi người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong nước và người nước ngoài hưởng ứng và đồng tình ủng hộ. Thông tin từ Bộ Tài chính, tổng số tiền mà Quỹ vắc xin phòng chống COVID-19 đã tiếp nhận được tính đến 17 giờ /6/6/2021 là 1.299 tỉ đồng. Ngoài ra, có hơn 4.367 tỉ đồng được nhà tài trợ đã cam kết nhưng chưa chuyển tiền. Đó là một minh chứng về chủ trương đi vào lòng người của Chính phủ Việt Nam mà bất cứ luận điệu xuyên tạc nào cũng không thể chóng phá nổi. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam cần tích cực thực hiện các biện pháp phòng chống và tham gia một cách thiện nguyện vào quỹ phòng chống Covid ở Việt Nam./. NTM.

 

Quế Ngọc Hải: 'Chưa chắc Indonesia dễ chơi hơn Malaysia hay UAE'

UAETrung vệ đội trưởng Quế Ngọc Hải cảnh giác với tinh thần đang lên của Indonesia dù đối thủ đã hết cơ hội đi tiếp ở vòng loại World Cup 2022. *Việt Nam - Indonesia: 23h45 thứ Hai 7/6, trên VnExpress. "Bảng đấu rất khó lường vì ngoại trừ Indonesia, bốn đội tuyển đều còn cơ hội đi tiếp", Quế Ngọc Hải trả lời họp báo tối 6/6. "Tuy nhiên, Indonesia đã thay đổi nhiều so với lượt đi. Các cầu thủ trẻ của họ muốn thể hiện với HLV mới. Trận đấu này chưa chắc dễ dàng hơn với Việt Nam, so với hai trận gặp Malaysia và UAE. Do đó, đội cần nỗ lực không kém các trận đấu khác". Đứng đầu bảng với 11 điểm, nhiều hơn hai điểm so với ba đội là UAE, Malaysia và Thái Lan, Việt Nam nắm quyền tự quyết trong ba trận còn lại ở bảng G vòng loại World Cup 2022. Một chiến thắng trước Indonesia sẽ giúp thầy trò Park Hang-seo đến gần vé vào vòng loại cuối cùng. Tuy nhiên, khác với bộ mặt bạc nhược và thua toàn bộ năm trận ở giai đoạn trước Covid-19, Indonesia thể hiện sự tươi mới dưới sự dẫn dắt của HLV Shin Tae-yong - người từng dẫn dắt Hàn Quốc đá World Cup 2018. Ở lượt trận ngày 3/6, Indonesia hai lần bị dẫn trước nhưng vẫn cầm hòa Thái Lan 2-2. Việt Nam từng thắng 3-1 trên sân Indonesia ngày 15/10/2019. Khi ấy, Quế Ngọc Hải góp một bàn phạt đền. Nhưng trung vệ 28 tuổi cho rằng đội tuyển cần thận trọng bởi Indonesia đã "thay máu" rất nhiều. "Chắc chắn sẽ khó khăn hơn nhiều so với lượt đi", Quế Ngọc Hải nhận định. "Indonesia đã thay đổi nhiều. Họ có HLV mới và một dàn cầu thủ trẻ với tinh thần cao, đầy khao khát thể hiện bản thân để hướng tới SEA Games. Chúng tôi đã xem họ đá với Thái Lan. Indonesia đã thể hiện tinh thần chiến đấu cao khi bị dẫn bàn. Chúng tôi phải chuẩn bị tốt về chiến thuật lẫn tinh thần. Mục tiêu của Việt Nam chắc chắn là ba điểm". Việt Nam không đá ở lượt trận hôm 3/6 nên có nhiều thời gian chuẩn bị hơn các đối thủ. Tuy nhiên Quế Ngọc Hải cho rằng điều đó sẽ không ảnh hưởng nhiều đến kết quả của các trận đấu. Anh nói: "Có thể xem là lợi thế khi chúng tôi được theo dõi các đối thủ thi đấu trước, qua đó có thể nhìn nhận và đánh giá nhiều hơn về họ. Tuy nhiên, đó chỉ là lợi thế nhỏ".

Xử trí khi bị say nắng, say nóng

Khi phát hiện say nắng, cần chuyển người bệnh đến nơi thoáng mát, cởi bớt quần áo, dùng khắn mát chườm, bổ sung nước, sau đó chuyển ngay đến cơ sở y tế. Bác sĩ Nguyễn Thị Mai Phương, Khoa Y học Cổ truyền, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cho biết thời tiết cả nước hiện nay nắng nóng diện rộng, nắng gay gắt, có nơi nhiệt độ lên tới 40 độ C. Đây là điều kiện dễ xảy ra các trường hợp nguy hiểm đến tính mạng như say nắng, say nóng, ngất, sốc nhiệt... Tình trạng say nắng, say nóng thường gặp ở người già, trẻ em, những người thể chất suy nhược, mắc bệnh mạn tính như tim mạch, ung thư...; những người làm việc ngoài trời như nông dân, bộ đội huấn luyện ngoài thao trường, lao động trong điều kiện thiếu không khí lưu thông như trong hầm lò, công nhân trong các khu công nghiệp, chiến sĩ, y bác sĩ trong đồ bảo hộ làm việc ở cường độ cao... Theo y học cổ truyền, chứng say nắng, say nóng thuộc phạm trù "trúng thử", tức là trúng nắng, trúng nóng. Hiện tượng này có các biểu hiện như sốt, tăng thân nhiệt, da nóng, không ra mồ hôi hoặc vã mồ hôi nhiều, mồ hôi lạnh, tăng nhịp tim, nhịp thở, hồi hộp trống ngực, người mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, đau đầu, khát nhiều, miệng họng khô, niêm mạc mắt đỏ, lưỡi đỏ, mặt đỏ, mạch nhanh và nhỏ, nước tiểu vàng sẫm, ít nước tiểu. Một số trường hợp nặng, có thể ngất, hôn mê, trụy tim mạch, sốc nhiệt dẫn đến tử vong. Việc nhanh chóng phát hiện, tiến hành sơ cứu ngay lập tức khi chưa có sự hỗ trợ từ nhân viên y tế là điều rất quan trọng. Bác sĩ Phương cho biết, với xử trí tại chỗ, cần nhanh chóng hạ thân nhiệt cho người bệnh, chuyển người bệnh đến nơi thoáng mát, có bóng râm, nới lỏng, cởi bỏ bớt quần áo, sau đó sử dụng khăn mát vắt ráo, chườm, đắp vào những nơi như trán, mặt, cổ, hõm nách, bẹn. Người bệnh cần được bổ sung nước khi còn tỉnh táo và không nôn nhiều. Cuối cùng, gọi hỗ trợ y tế và vận chuyển người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất. Trong trường hợp người bệnh ngất, ngoài các xử trí trên, có thể day, ấn một số huyệt có tác dụng tỉnh thần trong lúc chờ hỗ trợ từ nhân viên y tế. Huyệt Nhân trung: 1/3 phía trên rãnh nhân trung; huyệt Thừa tương: Hõm dưới môi dưới; huyệt Hợp cốc: Hõm giữa ngón trỏ và ngón cái; huyệt Ấn đường: Giao điểm giữa 2 đầu lông mày. Để phòng tránh chứng "trúng thử", việc dự phòng là điều rất cần thiết. Bác sĩ cho biết, nên uống đủ nước, đặc biệt là những ngày nhiệt độ cao; hạn chế ra ngoài đường, khi đi ra ngoài, phải có quần áo bảo hộ, mũ, ô che nắng, kính râm... Ngoài ra, không làm việc quá lâu ngoài trời nắng, trong môi trường nóng bức hoặc hoạt động thể lực quá sức ngoài trời. Khi mới từ ngoài trời nắng về còn nóng và ra nhiều mồ hôi, không được tắm lạnh, gội đầu, đổ nước từ đỉnh đầu xuống, để điều hoà lạnh, quạt gió hướng thẳng người. Cần tăng cường dinh dưỡng cho cơ thể với một số loại rau củ có tính mát như bí đao, cà chua, đỗ xanh, mướp, dưa chuột, mồng tơi, rau đay, rau muống... Uống một số vị thuốc có tác dụng giải thử, giải nhiệt, sinh tân, chỉ khát. Rau má tươi rửa sạch, ngâm rửa nước muối, sau đó đem giã, xay lấy nước cốt uống. Lá sen tươi rửa sạch, xay hoặc giã với ít muối, lấy nước cốt uống. Lá hương nhu tươi rửa sạch, giã nát với ít muối, đun sôi để nguội, lọc bỏ bã, lấy nước uống. Quả dưa hấu: vỏ quả rửa sạch, đun nước để nguội uống hoặc lấy ruột dưa hấu ép nước uống. Quả mướp đắng (khổ qua): bỏ ruột, thái mỏng, đun sôi để nguội uống...

Ông giám đốc trốn vợ đi tình nguyện

BẮC GIANGBiết đơn tình nguyện của mình đã được duyệt, 2 giờ đêm, ông Mẫn, 67 tuổi, dậy thu dọn vài bộ quần áo và khẩu trang mang xuống ôtô, tránh để vợ con phát hiện. 7h sáng 3/6, ông Phạm Văn Mẫn xách theo chiếc túi đi làm thường ngày ra xe. "Ông đi đâu đấy?", bà Nguyễn Như Hoa, vợ ông hỏi. "Tôi đi làm chứ còn đi đâu", ông chồng là giám đốc một công ty công nghệ ở Hà Nội nói rồi lên xe nổ máy. Hai tiếng sau khi lên đường, ông Mẫn đã có mặt ở Bắc Giang và nhận lệnh đưa đón các nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân F0 tại bệnh viện dã chiến và các bác sĩ tại Trung tâm xét nghiệm thuộc Bệnh viện Tâm thần Bắc Giang. Số điện thoại của ông lập tức trở thành số hotline của mọi đoàn nhân viên y tế đang hoạt động trong vùng dịch. Ngày đầu ở đây, người đàn ông 67 tuổi đã phải chạy vài chục "cuốc", chẳng kể giờ giấc. Chưa quen đường sá ở Bắc Giang, ông mở bản đồ Google hay hỏi thăm dân để tìm đường đi "đón khách". Chiều tối cùng ngày ông Mẫn mới gọi về nhà, báo tin vùng dịch đang cần hỗ trợ về dịch vụ viễn thông nên lên đó vài ngày. Bà Hoa vẫn thấy nghi ngờ nên đến công ty hỏi và "lặng người" khi biết chồng không có lịch công tác ở Bắc Giang. "Bố về đi, bố nhiều tuổi rồi đi thế này các con không yên tâm. Mẹ con ghê lắm", cô con gái "dọa" ông qua điện thoại. Ông Mẫn cười bảo: "Con biết tính bố rồi còn gì. Ở nhà bố còn day dứt, khó chịu hơn, đi thế này bố khỏe hẳn ra. Mấy đứa ở nhà cố động viên mẹ cho bố". Tối ngày thứ hai, ông Mẫn đón bác sĩ Nguyễn Lâm Oanh từ Trung tâm xét nghiệm Bắc Giang về khách sạn. Cô gái 23 tuổi ngồi ghế sau bắt chuyện: "Chú có số điện thoại đẹp quá. Chú làm công việc gì vậy ạ?". Oanh bất ngờ khi biết "chú tài xế riêng" cho mình hai hôm nay là người sáng lập một công ty công nghệ viễn thông. Ông Mẫn cũng kể chuyện giấu vợ vào tâm dịch rồi bật điện thoại, nhờ Oanh nói chuyện với bà Hoa: "Cháu động viên cô giúp chú". Khi dịch bùng phát tại Bắc Giang, bà Hoa đã nghe chồng nói xa xôi đến chuyện đi tình nguyện nhưng không nghĩ ông đã viết đơn vào tâm dịch từ hôm 28/5. Khi chuyện đi Bắc Giang đã bị vợ đã biết, hôm 5/6, ông công khai lá đơn tình nguyện của mình lên mạng xã hội. "Hình ảnh các cháu nhỏ mới một tuổi chưa biết tự ăn đã phải xa bố mẹ đi cách ly, cảnh người già, cựu chiến binh ngày đêm trực chốt tại điểm nóng của tâm dịch, cảnh bộ đội, công an tổ chức cứu trợ, bác sĩ không ngại hiểm nguy cứu người khiến người đàn ông đủ sức khỏe, tinh thần chiến đấu như tôi rất băn khoăn. Tôi viết đơn này xin ban chỉ đạo phòng chống dịch của Bộ Y tế và tỉnh Bắc Giang phê duyệt để tôi vào tham gia chống dịch Covid-19 tại Bắc Giang...", ông Mẫn viết trong đơn. Ông Nguyễn Trọng Khoa, Bộ phận thường trực của Bộ Y tế tại Bắc Giang xúc động khi nhận được đơn của ông Mẫn. "Trong thời điểm dịch bệnh căng thẳng như vậy, tinh thần của một người lớn tuổi như bác là rất đáng quý, đáng trân trọng. Ngay khi tiếp nhận đơn, tôi đã chuyển cho Sở Y tế Bắc Giang xem xét", ông Khoa nói. Trước lúc viết đơn tình nguyện, ông Mẫn dành hai tuần để rèn thể lực. "Tôi đi bộ giữa trưa để chuẩn bị cho những ngày làm việc trong thời tiết nắng nóng ở tâm dịch", ông kể. Hai người bạn nghe ông Mẫn nói muốn đi tình nguyện cũng định đồng hành cùng ông. Họ cùng nhau sắm ba chiếc ôtô hơn hai tỷ đồng đi vào tâm dịch nhưng phút cuối, hai người bạn không thể đi được vì người nhà ngăn cản. Rút kinh nghiệm, ông chỉ nói thật với vợ khi "sự đã rồi". Vì lén đi tình nguyện, ông Mẫn chỉ kịp chuẩn bị ít khẩu trang và vật bất ly thân là mấy lọ thuốc nhỏ mắt. Viết trong đơn sức khỏe tốt, nhưng ông bị khô mắt, cứ vài tiếng phải nhỏ mắt một lần. Chạy xe liên tục nên ông đặt một lọ thuốc trong xe, một lọ trong ví và một lọ ở đầu giường. Cứ được gọi là đi, những bữa ăn của ông Mẫn thất thường. Hệ tiêu hóa lại kém nên thức ăn lạ khiến ông khó tiêu, mấy lần bị "tào tháo đuổi". "Gọi về cho tôi, giọng ông ấy lúc nào cũng sang sảng. Ông ấy khoe cả đoàn hơn 20 người tiêm vaccine ai cũng sốt mà ông ấy không sao", bà Hoa kể mà không biết chồng nói dối. "Vào đến tâm dịch rồi mới biết thế nào là cuộc chiến. Ở Hà Nội tôi sẽ chẳng được sống những ngày ý nghĩa như vậy. Các cháu bác sĩ, có đứa chỉ hơn 40 kg mà vẫn đi tình nguyện, hăng hái, ý thức chẳng kém ai. Tôi học được lớp trẻ nhiều điều", người đàn ông nói. Lâm Oanh cho biết, khi xông pha vào tâm dịch mới thấy mọi người ai cũng giản dị, nhiệt huyết và chân thành. "Nếu tôi không chủ động hỏi sẽ chẳng thể biết người lái xe này là một doanh nhân. Chú thương chúng như con vậy, hỏi han, quan tâm từng chút một. Thấy chúng tôi tiêm vaccine xong sốt cao vẫn phải đi làm, chú mua nước cam cho uống, động viên từng đứa", nữ bác sĩ kể. Đã đi hết nửa đời người, điều ông Mẫn hối tiếc là không thể góp sức cho cộng đồng, chứ không phải gặp điều không may giữa cuộc chiến không tiếng súng này. "Chừng nào hết dịch tôi mới về", giọng ông hào sảng. Còn bà Hoa vợ ông luôn tin "người làm việc thiện sẽ luôn được may mắn".

Vaccine hiệu quả thế nào trước biến chủng nCoV?

Giới chuyên gia lo biến chủng Delta, được phát hiện ở Ấn Độ, lọt lưới miễn dịch cộng đồng và gây ra làn sóng mới, nhưng áp lực lên hệ thống y tế không quá lớn. Những nước tiến hành chương trình tiêm chủng Covid-19 quy mô lớn đang dần nới lỏng các biện pháp hạn chế, điển hình là Mỹ và Anh. Thủ tướng Anh Boris Johnson tuần qua khẳng định vẫn giữ nguyên ý định khôi phục trạng thái bình thường trên toàn quốc từ ngày 21/6, khi nước này đã tiêm đầy đủ hai liều vaccine cho hơn 40% dân số. Tuy nhiên, chính phủ Anh vẫn băn khoăn về khả năng bảo vệ toàn dân của vaccine trước biến chủng nCoV mới, đặc biệt là biến chủng Delta B.1.617.2 được phát hiện lần đầu ở Ấn Độ và đang tăng tốc lây nhiễm tại nước này. Đây được cho là lý do khiến Bộ trưởng Y tế Anh Matt Hancock hôm nay cho rằng vẫn còn quá sớm để khẳng định sẽ dỡ bỏ mọi biện pháp hạn chế vào ngày 21/6. Mức độ hiệu quả của vaccine được tính bằng tỷ lệ phần trăm, thể hiện vaccine khắc chế virus gây bệnh tốt đến mức nào trên thực tế. Khái niệm này khác với "hiệu suất" của vaccine, chỉ tỷ lệ kháng bệnh trong thử nghiệm. Nếu một loại vaccine "hiệu quả 90%" với bệnh có triệu chứng, nguy cơ người tiêm vaccine đó mắc bệnh thấp hơn 90% so với người không tiêm. Một số nghiên cứu thời gian qua, bao gồm nghiên cứu phòng thí nghiệm lẫn phân tích dữ liệu thực tế trên thế giới, cho thấy danh sách vaccine Covid-19 hiện hành khó khắc chế biến chủng Delta hơn biến chủng Alpha B.1.1.7, được phát hiện đầu tiên tại Anh vào cuối năm 2020. Theo báo cáo của Bộ Y tế Anh, phân tích trên 7.673 ca nhiễm biến chủng Anh có triệu chứng và 2.934 ca nhiễm biến chủng Ấn Độ cho thấy có sự khác biệt về hiệu quả của vaccine. Nghiên cứu chỉ xét các trường hợp tiêm Pfizer hoặc AstraZeneca. Khi tiêm một mũi đầu, mức hiệu quả của vaccine đối với biến chủng Ấn Độ thấp hơn 17% so với nhiễm biến chủng Anh. Tuy nhiên, hiệu quả vaccine giảm không đáng kể khi tiêm đầy đủ hai liều. Deborah Dunn-Walters, chuyên gia về miễn dịch tại Đại học Surrey ở Anh, nhận định vaccine vẫn đảm bảo mức độ bảo vệ nhất định đối với biến chủng mới, và "liều tiêm thứ hai có ý nghĩa rất quan trọng trong khắc chế biến chủng Ấn Độ". Tuy nhiên, độ hiệu quả giảm 17% sau mũi tiêm thứ nhất vẫn khiến giới chuyên gia lo ngại. Nghiên cứu do Bộ Y tế Anh công bố không nêu rõ tỷ lệ triệu chứng nghiêm trọng ở người nhiễm nCoV. Yếu tố này cần được làm rõ vì tỷ lệ bệnh chuyển biến nặng mang hàm ý quan trọng đối với khả năng chống chọi trước làn sóng dịch bệnh của toàn bộ hệ thống y tế. Nếu vaccine thất bại trong ngăn ngừa ca nhập viện, gánh nặng đối với hệ thống y tế sẽ lớn hơn khi số ca nhiễm biến chủng tăng cao. Một nghiên cứu khác của Viện Pasteur Pháp cũng phát hiện vaccine Pfizer và AstraZeneca giảm hiệu quả trước biến chủng Ấn Độ, nhưng lượng kháng thể sinh ra vẫn đủ bảo vệ người bệnh. Giám đốc viện Pasteur Pháp Olivier Schwartz cho biết đối với người tiêm đủ hai liều Pfizer, lượng kháng thể khắc chế biến chủng Ấn Độ thấp hơn khoảng ba lần. Tình nguyện viên tiêm một liều AstraZeneca có lượng kháng thể khắc chế biến chủng Ấn Độ rất thấp. "Biến chủng đã đạt khả năng đề kháng một phần với kháng thể Covid-19", ông cảnh báo. Theo Adam Finn, giáo sư Đại học Bristol đồng thời là thành viên Ủy ban Tiêm ngừa và Miễn dịch của chính phủ Anh, giới nghiên cứu vẫn chưa nắm rõ tác động từ biến chủng mới lên độ hiệu quả của vaccine, "đặc biệt về khả năng bảo vệ người tiêm khỏi diễn tiến bệnh nghiêm trọng sau liều tiêm thứ nhất và khi tiêm đủ hai liều". Họ cũng chưa rõ biến chủng Ấn Độ có mức độ lây nhiễm cao hơn như thế nào. Nhìn chung, hiệu quả vaccine chỉ thể hiện rõ nhất trên phương diện ngăn ngừa ca tử vong. Đối với những hình thái khác kém nghiêm trọng hơn như người nhiễm không xuất hiện triệu chứng hay có triệu chứng nhẹ, vaccine đạt hiệu quả thấp hơn. Giới chuyên gia thời gian qua nhận định biến chủng Delta dễ lây nhiễm hơn Alpha khoảng 50-70%. Bằng thuật toán mô hình hóa, các nhà khoa học dự đoán trong kịch bản biến chủng nCoV có mức lây nhiễm cao hơn biến chủng Alpha khoảng 40% và Anh vẫn mở cửa vào ngày 21/6 theo kế hoạch, số ca nhập viện mỗi ngày vì Covid-19 dễ dàng vượt giai đoạn đỉnh dịch tại nước này vào mùa đông vừa qua. "Với biến chủng gây bệnh nặng hơn ở người nhiễm, đồng thời có khả năng qua mặt miễn dịch cộng đồng bằng vaccine, chúng ta sẽ thấy số ca dương tính tăng nhanh hơn trước vì tiếp xúc xã hội. Tuy nhiên, chỉ cần vaccine duy trì được khả năng phòng ngừa triệu chứng bệnh nghiêm trọng, số ca nhập viện sẽ không tăng vọt như những giai đoạn vừa qua", Adam Finn nhận định.

Bóng ma nguồn gốc Covid-19 tiếp tục ám ảnh Trung Quốc

Giả thuyết nCoV lọt từ phòng thí nghiệm Vũ Hán tăng nhiệt trở lại, có thể hủy hoại nỗ lực xây dựng hình ảnh giữa đại dịch của Trung Quốc. Tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 26/5 cho biết ông đã chỉ đạo cộng đồng tình báo tăng cường nỗ lực điều tra nguồn gốc Covid-19 và báo cáo lại trong vòng 90 ngày. Động thái này được đưa ra sau khi truyền thông Mỹ tiết lộ tin tình báo cho thấy vài nhà nghiên cứu tại Viện Virus học Vũ Hán (WIV) từng bị ốm với "triệu chứng giống Covid-19" và nhập viện hồi tháng 11/2019, ngay trước khi đại dịch bùng phát ở thành phố của Trung Quốc này. Diễn biến mới này đã làm giả thuyết nCoV lọt ra từ phòng thí nghiệm ở Trung Quốc tăng nhiệt trở lại. Thái độ của Trung Quốc trước những suy đoán về nguồn gốc Covid-19 càng khiến nhiều người nghi ngờ. "Càng can thiệp nhiều vào nỗ lực điều tra nguồn gốc đại dịch, Trung Quốc càng khó cải thiện hình ảnh của họ", Yan Bennett, chuyên gia từ Trung tâm Paul và Marcia Wythes về Trung Quốc đương đại, thuộc Đại học Princeton, Mỹ, nói với VnExpress. Cuối tháng trước, các quan chức Mỹ tại Đại Hội đồng Y tế Thế giới (WHA), cuộc họp cấp bộ trưởng kéo dài một tuần nhằm đặt ra chương trình nghị sự trong năm của WHO, đã kêu gọi tổ chức một cuộc điều tra quốc tế mới về nguồn gốc virus. Tuy nhiên, giới chức Trung Quốc cho rằng họ đã hoàn thành "phần việc" của mình trong cuộc điều tra của WHO và nỗ lực tìm hiểu nguồn gốc virus giờ đây nên tập trung vào nơi khác, ám chỉ giả thuyết được Bắc Kinh đưa ra là nCoV được "nhập khẩu" vào Trung Quốc, có thể qua thực phẩm đông lạnh. Bắc Kinh được cho là đã hạn chế đáng kể phạm vi cuộc điều tra của WHO ở Vũ Hán hồi đầu năm. Nhóm chuyên gia bị từ chối tiếp cận những thông tin và nhân sự quan trọng. Do không có bằng chứng phủ định giả thuyết, họ kết luận việc rò rỉ virus từ WIV "cực kỳ khó xảy ra". Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus, người thường bị cáo buộc thiên vị Trung Quốc, cho rằng kết quả nghiên cứu "không đủ bao quát" và nói rằng vẫn cần điều tra thêm khả năng virus thoát ra từ phòng thí nghiệm. Giả thuyết nCoV lọt ra từ phòng thí nghiệm nóng lên vào thời điểm Trung Quốc đang thể hiện mình là quốc gia đã chiến thắng virus. Trung Quốc được cho là đã phạm một số sai lầm trong giai đoạn đầu dịch bùng phát, nhưng nước này hiện kiểm soát được dịch ở trong nước và đang thực hiện chiến lược "ngoại giao vaccine". Yanzhong Huang, chuyên gia về y tế toàn cầu tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, tổ chức nghiên cứu tại Mỹ, cho biết Bắc Kinh đối mặt những rủi ro chính trị rất lớn nếu họ không thể kiểm soát câu chuyện về nguồn gốc nCoV. "Họ muốn miêu tả Trung Quốc đã thành công trong việc ngăn chặn virus lây lan, rất hợp tác và sẵn sàng chia sẻ thông tin", ông nói. "Giả thuyết nCoV lọt ra phòng thí nghiệm chỉ ra rằng Trung Quốc là nguyên nhân vấn đề, làm cho câu chuyện mà họ muốn truyền bá trở nên không đáng tin cậy". John Garrick, chuyên gia từ Đại học Charles Darwin, Australia, cho rằng các chuyên gia quốc tế của WHO khó có thể điều tra đầy đủ tất cả giả thuyết về nguồn gốc nCoV, vì Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp mạnh mẽ để kiểm soát câu chuyện về vấn đề này. Ông chỉ ra Trung Quốc đã tuyên án tù 4 năm với nhà báo Zhang Zhan, người đến Vũ Hán hồi tháng hai để đưa tin tình hình dịch bệnh cũng như cuộc sống của người dân trong thời gian bị phong tỏa bằng các tài khoản mạng xã hội trong và ngoài nước, khác với những phản ánh hay số liệu chính thức của giới chức địa phương. AP hồi tháng một công bố các tài liệu chính phủ Trung Quốc bị rò rỉ, cho thấy chính quyền Trung Quốc yêu cầu các nhà khoa học trước khi công bố bất kỳ nghiên cứu nào cũng phải được một tổ công tác chính phủ phê duyệt. "Trung Quốc không thể trở thành 'người hùng chiến thắng đại dịch toàn cầu' khi họ có các biện pháp kiểm soát mạnh mẽ câu chuyện về nguồn gốc Covid-19", Garrick nói. Bennett nhấn mạnh rằng thời điểm khởi phát đại dịch đã trôi qua quá lâu và sẽ ít khả năng xác định được nguồn gốc nCoV, trừ khi tìm thấy bằng chứng tài liệu hoặc nhận được lời khai nhân chứng. Bà cho rằng hầu hết các quốc gia đều nhận thức được rằng xác suất xác định nguồn gốc Covid-19 hiện rất thấp nên Trung Quốc lẽ ra không cần có phản ứng gay gắt. "Việc Trung Quốc tiếp tục chính sách ngoại giao chiến lang chỉ càng làm hoen ố danh tiếng quốc tế của họ", bà đánh giá. Trung Quốc đã phản bác rằng Mỹ đang chính trị hóa nghiên cứu về nguồn gốc nCoV, nói rằng Bắc Kinh "đã chứng kiến những lời lẽ và hành động bêu xấu, dùng vấn đề nghiên cứu nguồn gốc nCoV để đổ trách nhiệm cho người khác". Quan hệ Mỹ - Trung đang ở mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ, không chỉ căng thẳng về vấn đề Covid-19 mà còn về Biển Đông, Tân Cương, Đài Loan và Hong Kong. Trước câu hỏi liệu cáo buộc của Trung Quốc có hợp lý hay không, Bennett nhấn mạnh việc có hay không vấn đề chính trị hóa không ảnh hưởng đến sự cần thiết của việc xác định nguồn gốc Covid-19. "Xác định nguồn gốc là hoàn toàn cần thiết để ngăn chặn một đợt bùng phát trong tương lai hoặc một đại dịch toàn cầu khác", bà nói. "Thực tế, chúng ta đã phải điều tra nguồn gốc Covid-19 ngay từ khi nó mới được phát hiện. Tuy nhiên, thế giới đã bị phân tâm nên không chú ý đến vấn đề này, điều đó cho thấy các động thái thể hiện quyền lực mềm của Trung Quốc trong giai đoạn đầu dịch bùng phát đã thành công". "Nhưng khi chúng ta giờ đã ở năm thứ hai của đại dịch và virus vẫn hoành hành trên khắp thế giới, chúng ta phải nhân cơ hội cộng đồng quốc tế đang quan tâm để tìm hiểu nguồn gốc đại dịch và cố gắng xác định chúng ta cần biết những gì để ngăn chặn các đại dịch trong tương lai", Bennett nói thêm. Nghị sĩ Cộng hòa Michael McCaul, thành viên cấp cao Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, cuối tuần trước nói rằng các thông tin liên lạc của Trung Quốc mà tình báo Mỹ đã nghe lén được cung cấp manh mối cho giả thuyết nCoV thoát ra từ phòng thí nghiệm. Ông đánh giá yêu cầu điều tra của Biden có thể thúc đẩy các nhà khoa học ở Trung Quốc lên tiếng, bất chấp nguy cơ khiến Bắc Kinh tức giận. Trong khi đó, báo Trung Quốc Global Times cuối tuần trước đăng bài xã luận chế nhạo nỗ lực thúc đẩy tình báo điều tra của Biden, nhấn mạnh rằng tình báo Mỹ "không có khả năng nghiên cứu vượt trội" hoặc nắm nhiều thông tin hơn so với WHO. "Cuối cùng những gì họ nhận được sẽ không có gì ngoài chính trị", bài xã luận có đoạn viết. Bennett nhận định rằng nếu tình báo Mỹ cuối cùng kết luận nCoV rò rỉ từ phòng thí nghiệm, Trung Quốc chắc chắn sẽ phản đối, trong khi đó, chưa rõ các nước khác sẽ phản ứng thế nào. "Việc cộng đồng quốc tế sẽ phản ứng như thế nào tùy thuộc vào hoạt động ngoại giao của Trung Quốc có hiệu quả thế nào", bà nói. "Tình hình sẽ rất thú vị".