Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Tạo mọi điều kiện để nhanh chóng sản xuất bằng được vaccine phòng CVOID-19 ở trong nước

Sáng 7/6, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có buổi làm việc với các nhà khoa học, đại diện các đơn vị nghiên cứu, sản xuất vaccine về công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine phòng COVID-19. Sáng kiến lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam được đánh giá cao Cùng dự buổi làm việc có Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 Vũ Đức Đam; Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, Bộ trưởng Bộ Khoa khọc và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt. Tại buổi làm việc, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, trong thời gian qua, với sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng, đồng tình, trách nhiệm của toàn thể nhân dân, Việt Nam đã được ghi nhận là điểm sáng trên thế giới về thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, dịch COVID-19 ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp chống dịch theo phương châm mới “5K+vaccine” và ứng dụng công nghệ. Trong đó, “chiến lược vaccine” là giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính quyết định để thoát khỏi đại dịch COVID-19. Theo Thủ tướng, với nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe người dân là trước hết, trên hết, trong năm nay Việt Nam phải có đủ vaccine phòng COVID-19 để tiêm cho 75 triệu người dân; những năm tiếp theo vẫn cần lượng lớn vaccine để tiếp tục tiêm phòng cho nhân dân. Thời gian qua, Chính phủ, các bộ, ngành, đơn vị liên quan đã nỗ lực bằng nhiều hình thức để mua được nhanh nhất, nhiều nhất vaccine phòng COVID-19 để tiêm cho nhân dân. Tuy nhiên, việc tiếp cận vaccine phòng COVID-19 trên thế giới không phải là dễ dàng, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh lây lan nhiều trên thế giới, năng lực sản xuất vaccine có hạn. Do đó, việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine phòng COVID-19 ở trong nước có tính chất chiến lược, phải thực hiện bằng được để chủ động nguồn vaccine phòng COVID-19 tiêm phòng cho nhân dân và tiết kiệm kinh phí. Thủ tướng đề nghị các nhà khoa học, nghiên cứu, sản xuất vaccine phát huy tinh thần tự lực, tự cường, trí tuệ, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, chung sức tìm giải pháp, khẩn trương nghiên cứu, sản xuất vaccine phòng COVID-19 để tiêm đại trà cho nhân dân. Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các đại biểu trao đổi thẳng thắn, nghiêm túc, khoa học về cơ chế, chính sách, nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, năng lực nghiên cứu, công nghệ, quy trình sản xuất, nhằm đề xuất các giải pháp nghiên cứu nhanh nhất, sản xuất nhanh nhất, hiệu quả nhất, để có vaccine ngừa COVID-19 tiêm cho người dân, trên tinh thần 3 không, 5 thật: “không nói không, không nói khó, không nói có mà không làm”; “nghĩ thật, nói thật, làm thật, hiệu quả thật, người dân, doanh nghiệp được hưởng thành quả thật”. Theo chỉ đạo của Thủ tướng, tại cuộc làm việc, các nhà khoa học, nghiên cứu, sản xuất vaccine cũng trao đổi về khả năng, tiềm lực, tình hình nghiên cứu, sản xuất vaccine phòng COVID-19, khó khăn, vướng mắc, yêu cầu, nhiệm vụ và đề xuất giải pháp trong sản xuất, bảo quản, tổ chức tiêm vaccine phòng COVID-19 cho người dân trong thời gian tiếp theo. Theo Bộ Y tế, đến nay, cả nước có 02 nhà sản xuất đang nghiên cứu vaccine phòng COVID-19, trong đó, 01 ứng viên vaccine đang thử nghiệm lâm sàng (TNLS) giai đoạn 2, đang chuẩn bị triển khai TNLS giai đoạn 3 (vaccine Nanocovax của Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Dược Nanogen); 01 ứng viên vaccine đang TNLS giai đoạn 1 (vaccine COVIVAC của Viện Vắc xin và sinh phẩm Nha Trang). Về quy mô sản xuất của 02 cơ sở trên đạt từ 30-40 triệu liều/năm, có thể nâng công suất khi được đầu tư. Hiện, cũng có 02 doanh nghiệp khác ở trong nước đã tiếp cận, đang đàm phán với đối tác nước ngoài để chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine COVID-19, với quy mô sản xuất từ 200 đến 300 triệu liều/năm. Kết luận tại buổi làm việc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, vaccine có tính chất chiến lược, quyết định, lâu dài trong phòng, chống dịch nói chung và trong phòng, chống dịch COVID-19 nói riêng. Do đó chúng ta phải thực hiện thành công “chiến lược vaccine”. Các ngành, đơn vị phải coi vaccine phòng COVID-19 là sản phẩm xã hội chứ không chỉ là sản phẩm thương mại. Việc sản xuất được vaccine trong nước vừa góp phần vào phát triển công nghiệp dược của Việt Nam vừa bảo vệ sức khỏe cho người dân. Thủ tướng cho rằng, việc nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine phòng COVID-19 là việc khó khăn, song phải thực hiện, vì chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Do đó, yêu cầu các ngành, đơn vị, các nhà khoa học cần có quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn, thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, dứt điểm và hiệu quả từng công việc, giải pháp. Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, đơn vị liên quan thực hiện ngay các giải pháp, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bằng được chương trình nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine trong nước. Trong đó: kịp thời phát hiện, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế pháp lý để việc nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine không bị chậm trễ; huy động tối đa các nguồn lực tài chính vào nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine, trong đó cơ chế công-tư là chủ đạo, trên nguyên tắc hài hòa, hợp lý, hiệu quả lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân; có ngay cơ chế, chính sách đãi ngộ tương xứng và truyền cảm hứng, khơi dậy tinh thần say mê nghiên cứu khoa học để huy động trí tuệ của các nhà khoa học, chuyên gia cả ở trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, sản xuất vaccine; các bộ, ngành giải quyết nhanh các quy trình, thủ tục liên quan, với tinh tần “chống dịch như chống giặc”, song đảm báo tính khoa học, công khai, hiệu quả, chống tiêu cực; phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, nhà sản xuất, quản lý và người dân để nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine kịp thời, hiệu quả; tuyên truyền, truyền cảm hứng để người dân hiểu, ủng hộ chương trình, trên tin thần “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”... Thủ tướng Phạm Minh Chính giao Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 chỉ đạo chung về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine phòng COVD-19 và xây dựng chương trình quốc gia về sản xuất vaccine nói chung; giao Bộ Y tế thực hiện quản lý Nhà nước về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine, dự báo tình hình cung cầu để điều tiết về mặt vĩ mô trong công tác sản xuất, cung ứng, tiêm vaccine theo thứ tự ưu tiên, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành xây dựng dự thảo báo cáo, đề xuất của Chính phủ với Bộ Chính trị, Quốc hội về cơ chế tài chính, nguồn lực con người, quy trình chuyển giao, sản xuất vaccine; giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì nghiên cứu, soạn thảo đề xuất chính sách ưu đãi đối với các nhà khoa học, chuyên gia, lập trung tâm nghiên cứu vaccine, đảm bảo bản quyền vaccine; giao Bộ Tài chính chủ trì rà soát, xây dựng cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, điều kiện chi tiêu và giá cả vaccine phòng COVID-19... Thủ tướng Chính phủ thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước gửi lời cảm ơn tới các tầng lớp nhân dân, các nhà khoa học, các cấp, các ngành đã nỗ lực trong suốt thời gian qua, góp phần vào thành quả chung của cả nước là vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa duy trì, phát triển kinh tế. Đặc biệt là sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tích cực tham gia và tiếp tục đóng góp cho Quỹ vaccine phòng COVID-19./.

“Chúng tôi chiến đấu với đại dịch bằng niềm tin chiến thắng!”

Hằng ngày phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, vất vả, dịch bệnh bủa vây nhưng điều dưỡng trưởng, Khoa Hồi sức tích cực Nguyễn Thị Thường (Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương) luôn lạc quan, tin tưởng vào ngày mai, dịch bệnh sẽ chấm dứt, cuộc sống trở lại bình thường. Từ trong tâm dịch, chị đã ghi lại những dòng tâm sự đầy xúc cảm gửi gắm cho mọi người dân Việt Nam. Quỹ vaccine phòng COVID-19 là quỹ của sự nhân ái, tinh thần đoàn kết Chị Nguyễn Thị Thường, điều dưỡng trưởng, Khoa Hồi sức tích cực (Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương). Thời gian trôi đi thật nhanh. Thấm thoát vậy mà đã gần 40 ngày tôi phải rời xa gia đình, chồng con để đến với những bệnh nhân bị nhiễm Covid-19 đang được điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Cả ngày lẫn đêm, nơi đây lúc nào cũng trong tình trạng “căng như dây đàn”. Có những niềm vui, nhưng cũng không ít nỗi buồn đã diễn ra từng ngày, từng phút tại tuyến đầu của dịch bệnh. Đây có lẽ là khoảng thời gian đáng nhớ nhất, để lại những dấu ấn khó quên trong cuộc đời của tôi. Dẫu rằng, trong môi trường luôn phải đối mặt với dịch bệnh, bộ quần áo bảo hộ kín mít mặc trên người cả ngày khiến cả bác sĩ và y tá, điều dưỡng đều cảm thấy khó chịu, bức bối. Nhưng rồi, tình đồng nghiệp, tình đồng chí, tình thương, tình người đều chan chứa đã khiến tôi cảm thấy mọi khó khăn, mệt mỏi tan biến. Mệt tôi không nói, nóng tôi chịu đựng được và có cả những lúc bản thân cảm thấy đang bị stress tôi cũng không than thở. Bởi vì tôi nghĩ rằng, những gian truân của chúng tôi chỉ là một góc nhỏ trong sự khốc liệt của đại dịch mà cả thế giới đang phải đối mặt. Tôi cũng như các đồng nghiệp của mình, khi nhận nhiệm vụ đến nơi đây là chỉ biết làm hết sức, hết lòng để cứu những bệnh nhân nhiễm Covid-19 đang bị nguy kịch. Trong hơn một tháng qua, hằng ngày chúng tôi tiếp nhận nhiều ca bệnh trong tình trạng nguy kịch. Chúng tôi đã làm được điều mà chúng tôi thấy thật có ý nghĩa cho cuộc đời này. Trong quãng thời gian hơn một tháng qua, tôi chắc chắn một điều rằng, những đồng nghiệp nữ của tôi đều ít nhất một vài lần rơi nước mắt. Bởi họ không phải “mình đồng da sắt”, họ là phụ nữ mà, cũng chân yếu tay mềm. Các chị em có cân nặng trung bình chỉ khoảng 50 kg và chiều cao dưới 160 cm. Nhỏ bé là thế, nhưng họ không yếu đuối đâu, họ có sức mạnh phi thường và sức mạnh đó được tiếp sức từ tình yêu mãnh liệt của gia đình, đồng nghiệp và cả những bệnh nhân mà họ đang điều trị. Họ yêu nghề, yêu người, yêu tất cả cuộc đời này. Chúng tôi đến đây để chiến đấu với đại dịch bằng tình yêu nghề nghiệp, bằng nghĩa vụ và trách nhiệm với bệnh nhân chứ không phải chiến đấu bằng sức của người chân yếu tay mềm. Chúng tôi chiến đấu với đại dịch bằng niềm tin, chứ không chiến đấu trong lo âu nhiễm bệnh. Tôi yêu những cô gái đó, những “cô gái vàng” trong trong cuộc chiến chống Covid-19. Bé nhỏ mà kiên cường, yếu mềm mà bất khuất. Các bác sĩ Khoa Hồi sức tích cực đang cấp cứu một bệnh nhân. Các bác sĩ Khoa Hồi sức tích cực đang cấp cứu một bệnh nhân. Đại dịch quá khốc liệt, chúng tôi chỉ là một góc nhỏ bé. Không dám khoa trương. Nhưng tất cả những gì chúng tôi đang làm hằng ngày là những trải nghiệm đều khó diễn tả thành lời. Giữa đêm khuya, một bạn nữ điều dưỡng có thể òa lên khóc vì nhớ con thơ, cha mẹ già; ai có thể cầm lòng khi nghĩ về đứa con thơ đang gào khóc suốt đêm vì khát sữa, giọt nước mắt này, không thể nuốt vào trong; ai có thể an lòng khi cả nhà đi chống dịch, bỏ lại mẹ già bệnh tật cô quạnh trong căn nhà trọ chừng 12m2; ai có thể an lòng khi cả bố và mẹ đều là bác sĩ xông pha nơi tuyến đầu chống dịch, bỏ lại con thơ ngơ ngác suốt đêm thâu. Chúng tôi đã lựa chọn hy sinh nhiều thứ để cống hiến một phần cuộc đời mình cho nghĩa lớn. Ở đây, tại nơi dich bệnh bủa vây, chúng tôi còn chứng kiến cảnh một người nam giới giữa đêm khuya, chạy xuống sân bệnh viện gào hét lên giống như 1 người bị mất kiểm soát. Anh ấy nói gì mọi người biết không!? "50 bệnh nhân! 50 bệnh nhân! chiến đấu đến cùng! chiến đấu đến cùng!". Trời ơi!, nhìn cảnh đó, tôi thấy mắt mình nhòa lệ và muốn ôm anh ấy để khóc thật to. Người đàn ông đó là người luôn tình nguyện khâm niệm cho những bệnh nhân Covid-19 xấu số, không có người thân lúc họ lâm trung. Lá rụng về cội, những con người xấu số đó, họ ra đi không gia đình, nhưng luôn có chúng tôi, những bác sĩ, những điều dưỡng, luôn bên họ, nắm tay họ suốt một chặng đường chiến đấu với bệnh tật. Với tỷ lệ tử vong trên dưới 3%. Nếu bắt buộc phải lựa chọn để đủ số lượng 3% đó. Tôi tin chắc những con người đó, những người đã đến tuổi xưa nay hiếm, những người đã nếm trải hết những đắng cay của cuộc đời, những người đã vật vã vì căn bệnh ung thư. Họ sẽ sẵn sàng nhận là người ra đi để nhường lại sự sống cho em bé mới 25 tuần tuổi; nhường lại hạnh phúc tình yêu đôi lứa cho chàng trai 27 tuổi; nhường lại sự cống hiến cho khoa học của những bác sĩ, hay đơn giản nhường lại nụ cười cho những em thơ. Họ ra đi vẫn sẽ nở 1 nụ cười rạng rỡ. Bởi họ biết rằng chúng tôi đã mang hết khả năng và tâm huyết để kéo họ khỏi “quỷ môn quan”. Họ biết rằng chúng tôi gần 40 ngày qua đã thức thâu đêm suốt sáng; họ biết rằng đôi mắt của bác sĩ đã héo hon vì thiếu ngủ. Vậy nên, ở nơi tuyến đầu của dịch bệnh, tôi muốn gửi gắm đến tất cả người dân, mọi người hãy yêu thương và trân trọng cuộc đời này nhiều hơn nhé! Hãy sống một cuộc đời hạnh phúc và có ý nghĩa nhé!. Hãy tuân thủ 5k, hãy biết trân trọng những liều vaccine! Hãy tiêm vaccine và ủng hộ Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19. Hãy chung tay chống đại dịch và lan toả những yêu thương. Tôi và những người bạn của tôi tự hào là chiến sĩ áo trắng nơi tâm dịch.

Hà Nội: Nghiêm túc phòng, chống dịch COVID-19 để tổ chức tốt Kỳ thi vào lớp 10 Trung học phổ thông

Sáng 7/6, Đoàn công tác số 1 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội do Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh làm Trưởng đoàn đã đi kiểm tra công tác phòng, chống dịch COVID-19; công tác tổ chức Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông và Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm học 2021-2022 tại quận Đống Đa. Các cán bộ y tế đã phun khử khuẩn bề mặt toàn bộ khu vực trường THCS Thanh Liệt bằng dung dịch khử khuẩn có chứa 0.05 % Clo hoạt tính. Báo cáo với đoàn công tác, Bí thư Quận ủy Đống Đa Đinh Trường Thọ cho biết, chuẩn bị cho Kỳ thi vào lớp 10 Trung học phổ thông, quận đã chỉ đạo các trường rà soát, phân loại, lập danh sách thí sinh đang dương tính, các trường hợp F1, F2 và các thí sinh đang trong khu cách ly, phong tỏa. Tính đến chiều 4/6, toàn quận không có học sinh dương tính, F1, F2, chỉ có 1 học sinh Trường Trung học cơ sở Lý Thường Kiệt đang trong khu vực phong tỏa, cách ly y tế. Toàn bộ các điểm thi trên địa bàn quận Đống Đa đều đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất và các yêu cầu về công tác phòng, chống dịch. Trung tâm Y tế quận sẽ tổ chức khử khuẩn tại các điểm tổ chức thi trước khi diễn ra kỳ thi 1 ngày và phun khử khuẩn ngay sau mỗi buổi thi theo đúng hướng dẫn của liên ngành Sở Y tế - Sở Giáo dục và Đào tạo. Toàn quận có 7 điểm thi với 160 phòng thi chính thức, 16 phòng thi dự phòng. Các phòng thi đều được trang bị đầy đủ quạt trần, quạt treo trường đảm bảo thông thoáng. Các thí sinh được bố trí chỗ ngồi đảm bảo giãn cách an toàn, đúng quy định. Đến nay, các đơn vị tổ chức đã xây dựng xong kịch bản, phương án xử lý khi phát hiện có trường hợp là cán bộ coi thi, nhân viên, học sinh có biểu hiện về sốt, ho, khó thở và sẽ tổ chức diễn tập theo kịch bản vào ngày 8/6 để rút kinh nghiệm, hoàn thiện kịch bản. Về công tác phòng, chống dịch COVID-19, từ ngày 25/5, quận đã tổ chức cách ly các địa điểm liên quan các ca mắc mới ghi nhận tại 4 phường (Kim Liên, Ngã Tư Sở, Trung Tự, Thịnh Quang) với tổng số 134 hộ dân/361 nhân khẩu; tổ chức triển khai, quán triệt, ký cam kết dừng hoạt động tới tất cả các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, quán bar, vũ trường, game trên địa bàn. Từ ngày 27/4 đến nay, Công an quận Đống Đa đã phối hợp với các đơn vị chức năng tiến hành xử phạt vi phạm hành chính 612 trường hợp không đeo khẩu trang, 1 trường hợp không thực hiện các biện pháp hạn chế tập trung đông người, 2 trường hợp không đảm bảo giãn cách 2m cho khách hàng, 2 trường hợp đăng tin sai sự thật và 819 trường hợp bán hàng rong. Ngoài ra, quận kiện toàn và duy trì hoạt động của 228 tổ COVID cộng đồng với 1.876 nhóm và 4.623 thành viên. Quận đã tổ chức 2 đợt tiêm được 3.239 mũi vaccine phòng COVID-19, trong đó có 226 người đã tiêm đủ 2 mũi. Sau khi đến kiểm tra trực tiếp công tác phòng, chống dịch COVID-19 và tham gia diễn tập phân luồng, đảm bảo an toàn cho kỳ thi tại Trường Trung học phổ thông Kim Liên, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh yêu cầu các lực lượng làm nhiệm vụ tại điểm thi lưu ý tăng thêm số làn tại khu vực ngoài cổng trường để phát hiện sớm những thí sinh có thân nhiệt cao, có phương án xử lý kịp thời, không để ảnh hưởng đến các thí sinh khác. Khi thí sinh đã ổn định tại phòng thi, giám thị phải tăng cường nhắc nhở, bảo đảm thí sinh giữ khoảng cách trong phòng thi. Quận cần tăng cường lực lượng tình nguyện viên, có phương án giãn cách vòng ngoài, tuyên truyền cho thí sinh và người nhà thí sinh tại cổng trường thời điểm trước, sau giờ thi. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh cũng đề nghị Quận ủy Đống Đa tăng cường sự lãnh đạo, gắn trách nhiệm của các ủy viên vào công tác đảm bảo an toàn cho kỳ thi. Quận cũng cần phối hợp với các cơ quan chức năng chủ động thông tin, tuyên truyền trước cho gia đình thí sinh về việc phân luồng tại các điểm thi và các biện pháp bảo đảm phòng, chống dịch cho thí sinh trong thời điểm thi. Đánh giá cao về công tác phòng, chống dịch COVID-19 của quận Đống Đa, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh đề nghị quận cần phát huy tinh thần trách nhiệm, kinh nghiệm phòng, chống dịch bệnh trong đợt bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 để làm tốt nhiệm vụ đảm bảo an toàn trong Kỳ thi vào lớp 10 Trung học phổ thông sắp tới. Chủ tịch UBND thành phố đề nghị, quận tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch, không chủ quan lơ là và các biện pháp phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn còn những nguy cơ khó lường, chỉ còn hơn 1 tuần nữa, Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông công lập năm học 2021-2022 ở Hà Nội sẽ diễn ra. Để đảm bảo an toàn cho thí sinh và những người tham gia kỳ thi, UBND thành phố Hà Nội đã kịp thời điều chỉnh một số nội dung quan trọng về lịch thi và thời gian làm bài của mỗi môn thi. Cụ thể, thời gian tổ chức kỳ thi được điều chỉnh vào ngày 12 và 13/6. Sáng 12/6, thí sinh làm bài thi môn Ngữ văn và Ngoại ngữ; sáng 13/6, thí sinh thi Toán, Lịch sử. Lịch thi vào các lớp chuyên, trường chuyên bắt đầu từ ngày 14/6. Thời gian làm bài thi các môn thi được điều chỉnh giảm, trong đó, môn Ngữ văn và Toán có thời gian làm bài là 90 phút/môn. Môn Ngoại ngữ và Lịch sử có thời gian làm bài là 45 phút/môn. Năm học 2021-2022, toàn thành phố có hơn 93.000 thí sinh đăng ký tham dự Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông công lập. Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã thành lập 184 điểm thi với các điều kiện bảo đảm an ninh, an toàn và phòng, chống dịch COVID-19; huy động khoảng 14.500 cán bộ, giáo viên, nhân viên làm nhiệm vụ./.

HỒ CHÍ MINH CHÂN DUNG MỘT CON NGƯỜI

💗 Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng khẳng định: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không choáng ngợp, mới gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu”.

💗 Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, theo cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – một học trò xuất sắc, một cộng sự thân thiết, gần gũi của Người đã viết, đó là “cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”

- Quan điểm về nhân dân của chủ tịch Hồ Chí Minh rất ngắn gọn xúc tích

" Dễ mười lần không dân cũng chịu;

Khó trăm lần dân liệu cũng xong”

💗Trên quan điểm đó, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh một tư tưởng chính trị lớn, đồng thời là một đạo đức lớn.

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công” 

Tư tưởng và đạo đức ấy coi đoàn kết là lẽ sinh tồn của dân tộc ta từ ngàn xưa, là sức mạnh vô địch của cách mạng nước ta hiện nay và sau này. Tư tưởng và đạo đức ấy thể hiện tinh thần hòa hợp dân tộc, tình tương thân tương ái của con người, sự độ lượng, bao dung và lòng quý trọng từng nhân cách, tập hợp được đông đảo nhân dân, động viên được công sức, tài năng của mọi người, không bỏ rơi, không để sót một ai.

MINH TIẾN 

Phòng, chống sự tha hóa quyền lực

Quyền lực càng cao, càng tuyệt đối, sẽ tha hóa càng lớn nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Sự tha hóa quyền lực, dù lớn hay nhỏ đều gây tác hại cho xã hội và ảnh hưởng xấu đến uy tín, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của đảng cầm quyền và sự quản lý của Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở nước ta thời gian qua diễn ra bằng nhiều phương thức rất đa dạng, tinh vi, phức tạp, từ việc dùng quyền hạn của mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh vực nhằm trục lợi cho mình và nhóm lợi ích… Hầu hết sai phạm đều có liên quan đến cán bộ, đảng viên có chức vụ, quyền hạn trong việc quyết định chủ trương, chính sách, cấp phép, cấp vốn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ… Không chỉ có cán bộ lãnh đạo, quản lý tha hóa quyền lực mà cả những công chức, viên chức trong đó có cán bộ tham mưu, giúp việc, trợ lý, thư ký riêng… cũng lợi dụng vị trí công tác được phân công để trục lợi cá nhân, phe nhóm, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, sự tha hóa quyền lực vừa trắng trợn vừa tinh vi, câu kết chặt chẽ “trên - dưới”, “trong - ngoài” bằng “luật ngầm” đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều ngành. Thậm chí, trong chừng mực nhất định, đã xuất hiện dấu hiệu tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên gắn với tội phạm có tổ chức. Điều đáng lưu tâm là, sự tha hóa quyền lực đã có nhiều dư luận, nhiều người biết, nhưng để phòng, chống được các biểu hiện của sự tha hóa quyền lực lại không hề dễ dàng, vì sự đan xen trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ gắn với người có chức vụ, có quyền hạn ở các cấp, các lĩnh vực. Ranh giới giữa khuôn khổ quyền hạn được giao và sự năng động, sáng tạo rất mong manh và những tình huống trong thực tiễn rất đa dạng, phong phú. Nếu không làm rõ được vấn đề này cộng với “cách nhìn” phiến diện rất dễ dẫn đến “chụp mũ” cho cán bộ, đảng viên năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, làm lợi cho Đảng, cho dân nhưng nhiều khi lại bị cho là lạm quyền, lộng quyền hoặc cố ý làm trái, dẫn đến làm thui chột động lực phát triển. Mặt khác, việc phát hiện và xử lý các vụ việc có liên quan đến tha hóa quyền lực thường rất khó khăn, phức tạp, vì nó gắn với người có chức vụ, có quyền hạn nên có mối quan hệ chằng chịt, đa dạng, có trường hợp bao che, phản kích quyết liệt lại lực lượng kiểm tra. Thực tế, chủ yếu các vụ việc tha hóa quyền lực đều nhằm trục lợi - tức là tham nhũng, nên nảy sinh sự cấu kết rất chặt chẽ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ, bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bất chấp cả đạo lý. Những vụ việc tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là của cán bộ lãnh đạo, quản lý biểu hiện rất đa dạng, tinh vi, theo từng vụ, việc và thường “vây quanh” một số cá nhân nhất định. Lợi dụng tính thiếu công khai, minh bạch, thiếu cơ chế và chế tài kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức lợi dụng kẽ hở trong các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước để trục lợi. Sự tha hóa quyền lực có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa đã và đang tác động làm nảy sinh, phát triển sự tha hóa quyền lực của cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng với diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, gây khó khăn cho việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý. Chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đủ rõ, chưa phù hợp, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp còn đan xen, nhiều kẽ hở, dễ bị lợi dụng... Nội dung các quy định của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực, nhất là những nội dung về tính chất, mức độ và mối quan hệ giữa các biểu hiện của sự tha hóa quyền lực của cán bộ chưa được phân tích, làm rõ một cách đầy đủ, sâu sắc. Tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ”, “nể nang, né tránh, ngại va chạm”, “dễ người dễ ta”, “dĩ hòa vi quý”, tâm lý làng, xã, đồng hương cộng với tư duy tiểu nông đã ăn sâu trong nhiều người Việt, tạo ra một tâm lý xã hội ngại đấu tranh, ngại nói thẳng, hoặc có việc dính dáng đến bản thân, gia đình là đi “nhờ vả”,… đã tạo điều kiện để một số cán bộ, đảng viên thực thi công vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để trục lợi. Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu về phòng, chống sự tha hóa quyền lực chưa sâu sắc, toàn diện hoặc chưa đủ rõ. Chủ nghĩa cá nhân, tham vọng danh lợi, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức. Không ít cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, tinh thần hy sinh cống hiến vì sự nghiệp của Đảng, lười học tập, xem nhẹ việc học tập lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nghiêm, thiếu công tâm, khách quan; vẫn còn mang nặng tư duy nhiệm kỳ, “lợi ích nhóm”, né tránh, thoả hiệp hoặc áp đặt độc đoán, mất dân chủ, chưa gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, sợ trách nhiệm, lấy tập thể làm bình phong cho những ý đồ cá nhân. Công tác cán bộ, quản lý đội ngũ cán bộ chậm đổi mới, một số khâu chưa được chuẩn hóa, còn sơ hở và thiếu tính khoa học, quá nhiều tiêu chuẩn kiểu định tính mà ít tiêu chuẩn mang tính định lượng; phương pháp, quy trình tuyển chọn, quy hoạch, bố trí, sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, nhất là việc thay thế cán bộ có biểu hiện tha hóa quyền lực, yếu kém, miễn nhiệm, cho từ chức đối với cán bộ không đủ tiêu chuẩn chậm được thực hiện. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn lúng túng trong xác định mô hình tổ chức, bố trí cán bộ, nhất là chưa chuyển trọng tâm từ xử lý vấn đề lịch sử chính trị sang nắm bắt, giải quyết và xử lý những vấn đề chính trị hiện nay. Vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên ở không ít nơi chưa được phát huy, chưa có cơ chế nêu cao vai trò, trách nhiệm của báo chí, các cơ quan truyền thông trong kiểm soát quyền lực. Chưa coi trọng việc sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, phát triển lý luận về kiểm soát quyền lực nói chung, phòng, chống sự tha hóa quyền lực nói riêng, đến Đại hội XII của Đảng, vấn đề này mới được đặt ra một cách quyết liệt. Công tác kiểm tra, giám sát còn chưa bảo đảm hiệu lực, liệu quả, còn biểu hiện trên nóng, dưới lạnh. Việc xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên tha hóa quyền lực trong không ít trường hợp chưa kịp thời, nghiêm minh, đồng bộ, triệt để, dứt điểm nên tính phòng ngừa, răn đe và giáo dục chưa cao.

PHẢI KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ ĐƯỢC QUYỀN LỰC

Để phòng, chống sự tha hóa quyền lực, tức là phải kiểm soát chặt chẽ được quyền lực, trước hết là quyền lực của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi. Trong phạm vi bài viết, xin nêu một số giải pháp chính sau đây: Một là, cụ thể hóa các biểu hiện tha hóa quyền lực đối với từng vị trí, lĩnh vực công tác, trước hết là của cán bộ lãnh đạo, quản lý để biết và thực hiện, tự phòng tránh không mắc phải sự tha hóa quyền lực dù là nhỏ nhất là cách tốt nhất để phòng ngừa với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Hai là, thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát. Xây dựng quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân, bảo đảm phải rõ quyền, đủ quyền, đúng quyền và thực quyền. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phản biện, chất vấn, giải trình để bảo đảm công khai, minh bạch; xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm hoặc đùn đẩy, né tránh, trả thù, trù dập. Nghiên cứu xây dựng quy định phát huy vai trò, trách nhiệm, quyền của các đại biểu dự đại hội đảng các cấp trong suốt cả nhiệm kỳ, trước hết là quyền chất vấn, kiểm tra, giám sát đối với các cấp ủy viên do mình bầu ra. Xây dựng các quy định về báo cáo công việc liên quan đến công tác cán bộ (tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng....) của cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền các cấp. Hoàn thiện và đổi mới các quy định của Đảng, trước mắt cần làm rõ, cụ thể hóa nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng ta. Nâng cao nhận thức để mọi tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ về nội dung, phương thức cầm quyền giống và khác gì nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng để áp dụng thực hiện đúng có hiệu quả. Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mẫu mực, trình độ, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về công tác cán bộ. Khi xem xét về sự tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên đều phải xét từ góc độ hai phía, người có quyền lực và đối tượng chịu sự tác động của quyền lực đó. Trong thực tế, sự tha hóa quyền lực thường xảy ra giữa cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống chính trị, nhất là của người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nước với cán bộ, đảng viên dưới quyền thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý mà thường qua đó các bên đều có lợi ích nhất định. Do đó, việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền... từ cấp Trung ương đến cơ sở là cực kỳ quan trọng, quyết định tới kết quả hoạt động của cả hệ thống chính trị theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Bốn là, đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII. Đặc biệt, cần quy định hạn chế cấp hàm và cấp phó tối đa của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là cấp phó trong nội bộ các cơ quan đảng. Nếu quá nhiều cấp hàm và cấp phó sẽ khó cho việc kiểm soát quyền lực mà hiệu lực, hiệu quả công tác sẽ không cao. Đồng thời, rà soát và sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, trong đó cần quy định rõ ràng nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể, của người đứng đầu và từng cấp phó, công chức, viên chức, nhân viên để mọi người thực hiện đúng với vị trí công việc của mình, nhất là ở những nơi “nhất thể hóa” bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc kiểm soát quyền lực. Trong đó, cần đẩy mạnh kiểm tra, giám sát công tác cán bộ và cán bộ theo hướng đồng bộ hóa các quy định của Nhà nước theo chủ trương, quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm. Thực hiện đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân. Tổ chức tốt việc thu thập và giải quyết đơn thư tố cáo hành vi tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là của cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là người đứng đầu. Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng trong phát hiện dấu hiệu tha hóa quyền lực để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp đối với việc phòng, chống tha hóa quyền lực, tham nhũng, tập trung thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành kiểm tra Đảng là kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm. Xử lý “công minh, chính xác, kịp thời”, đồng bộ, “không có vùng cấm, không có vùng trống, không có vùng trắng, không có ngoại lệ, không có nhân nhượng, không có điểm dừng” đối với những cán bộ, đảng viên, dù bất kể là ai, giữ cương vị gì có các hành vi tha hóa quyền lực, tham nhũng. Sáu là, tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm về phương thức cầm quyền và việc kiểm soát quyền lực với các đảng cầm quyền trên thế giới. Đảng phải chú trọng xây dựng bộ máy rất tinh gọn, không bao biện, làm thay chính quyền; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy tư tưởng dân chủ chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động của đảng; bảo đảm hoạt động cầm quyền và hiệu quả cầm quyền của đảng phản ánh lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuần tự thúc đẩy dân chủ trong các khâu bầu cử, ra quyết sách, quản lý và giám sát. Lấy phát triển dân chủ trong đảng để dẫn dắt dân chủ trong chính quyền và xã hội. Ngay từ những ngày đầu thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực. Trong bài “Sao cho được lòng dân” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 12-10-1945, với bút danh Chiến Thắng, Người đã viết: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng…”; “Người ta còn bửu môi nói đến bà “thủ trưởng” nọ bận quần áo chẽn, tóc cắt ngắn cưỡi ngựa đi rong khắp chỗ mà chẳng có việc gì, người ta còn thì thào chỉ trỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều”...

Thái độ nhận lỗi và văn hóa nêu gương

 

Từ ngàn xưa, ông bà ta đã đúc kết “nhân vô thập toàn”, nghĩa là con người ta không ai hoàn hảo về mọi mặt. Ai cũng có những lúc mắc khuyết điểm, sai lầm.

Thông tin giả và mối đe dọa thật đối với an ninh quốc gia

Thông tin giả luôn được lan truyền với tốc độ nhanh hơn và được phát tán rộng rãi hơn rất nhiều so với thông tin thật. Tin giả xuất hiện ngày càng nhiều, đe dọa trực tiếp đến an ninh, trật tự xã hội. (Ảnh minh họa: KT) Vấn nạn tin giả với dụng ý bóp méo sự thật đang ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị-xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, thậm chí nó còn đe dọa trực tiếp tới an ninh quốc gia. Trong cuộc đảo chính bất thành của phe đối lập tại Venezuela ngày 30/4 vừa qua, Tổng thống Nicolas Maduro đã bác bỏ thông tin của Mỹ rằng, ông có kế hoạch chạy sang Cuba nhưng được Nga thuyết phục ở lại Venezuela. Theo người phát ngôn Bộ ngoại giao Nga, bà Maria Zakharova, thông tin này là giả mạo. Trả lời CNN, bà Zakharova nhấn mạnh: "Washington đã cố gắng hết sức để hạ bệ quân đội Venezuela và hiện sử dụng tin giả như một phần của cuộc chiến thông tin". Cũng trong tháng 4 này, sau các vụ khủng bố đẫm máu làm hàng trăm người thiệt mạng, các quan chức chính phủ Sri Lanka đã ra thông báo, chặn các trang mạng xã hội lớn, các ứng dụng tin nhắn, bao gồm Facebook và Whatsapp. Quyết định được thực hiện trên toàn lãnh thổ Sri Lanka để ngăn chặn việc lan truyền những thông tin sai lệch và các tin đồn gây hoang mang về loạt vụ đánh bom. Tin giả trên Internet, cách đây khoảng 10 năm thường chỉ là những sáng tác mang tính hài hước hay giả tưởng thì giờ đây đã là một ứng cử viên nặng ký cho danh hiệu những "yếu tố gây ảnh hưởng lớn nhất" trong xã hội. Với 64 triệu người sử dụng Internet, chiếm 67% dân số, đến cuối năm 2018, Việt Nam đứng trong nhóm 10 quốc gia có nhiều người dùng mạng xã hội nhất thế giới. Các thiết bị thông minh đã trở nên phổ biến và quen thuộc, gắn với sinh hoạt, học tập, lao động của của hầu hết người dân. Bên cạnh những lợi ích to lớn, chúng ta cũng đang đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức không nhỏ từ không gian mạng, thậm chí đe dọa đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Trong đó, phải kể đến những ảnh hưởng tiêu cực từ các thông tin xấu, độc được lan truyền trên mạng cũng như vấn nạn tin giả - Fake News. Tại một hội thảo gần đây ở Hà Nội, đại diện Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao – Bộ Công an nhận định, vấn nạn tin giả hiện nay đang gây “nhức nhối”, phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp tới người dân. Trên thực tế, hàng loạt vụ việc đăng tải thông tin giả mạo thời gian qua đã làm ảnh hưởng xấu tới dư luận xã hội, gây tâm lý hoang mang, bức xúc như: thông tin “máy bay rơi tại sân bay Nội Bài năm 2017”, “Hàng loạt trẻ em nhập viện vì ngộ độc thịt lợn có chứa thuốc an thần”, thông tin về trường mầm non sử dụng thịt lợn nhiễm sán lợn ở Bắc Ninh… Gần đây nhất (sau Tết âm lịch), trên địa bàn thành phố Đà Nẵng xuất hiện tình trạng một số đối tượng tung tin giả, thậm chí làm giả văn bản của lãnh đạo TP. Đà Nẵng nhằm tạo cơn "sốt" đất. Những hành động trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự, khiến dư luận bất an. Trước đó, trên mạng xã hội facebook còn xuất hiện tài khoản giả mạo mang tên “Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam” nhằm đánh lạc hướng dư luận, gây nhiễu loạn thông tin, khiến cư dân mạng không phân biệt đâu là thật, đâu là giả. Nguy hiểm hơn, tại thời điểm tháng 6/2018, để hà hơi, tiếp sức cho các vụ bạo động tại Bình Thuận nhằm phản đối Dự luật đặc khu và An ninh mạng, một số người đã lợi dụng triệt để mạng xã hội để tuyên truyền, kích động người dân bằng những thông tin, hình ảnh làm giả, cắt ghép. Theo Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Đức Chung, trong sáng 10/6/2018, một số người tuyên truyền trên mạng rằng, ở khu vực hồ Hoàn Kiếm có đông người biểu tình nhưng thực tế không có việc đó. Trước mối đe dọa “thật” của nạn “tin giả”, Luật An ninh mạng của Việt Nam cũng như các điều luật tương tự của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra những chế tài nghiêm khắc. Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua vào tháng 6 năm 2018 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2019, trong đó quy định cấm các “thông tin sai sự thật, gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế, xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”. Trong Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 3/2019 vừa qua, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ TT&TT nghiên cứu, có biện pháp xử lý thông tin giả trên mạng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước tháng 8/2019. Hàng loạt các quốc gia trên thế giới cũng coi “tin giả” là một vấn nạn. Ngay tại quốc gia Đông Nam Á là Singapore, Chính phủ nước này vừa đề xuất một Dự luật, trong đó quy định “những ai có hành vi phát tán các thông tin sai sự thật có chứa nội dung cố ý gây hại tới lợi ích của công chúng sẽ phải đối mặt với án tù giam lên tới 10 năm”. Malaysia, Campuchia cũng thông qua đạo luật riêng về “tin tức giả”. Theo luật của Campuchia, bất cứ ai đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội hoặc trên các trang web có thể bị phạt tù lên tới hai năm và bị phạt tới 1.000 USD. Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 18/3/2019 cũng ký ban hành và công bố hai đạo luật, theo đó sẽ phạt nặng các hành vi phổ biến tin giả mạo và xúc phạm biểu tượng Nhà nước trên mạng (online). Kết quả nghiên cứu của MIT (Viện công nghệ Massachusetts - Mỹ) cho thấy, tin "giả" luôn được lan truyền với tốc độ nhanh hơn và được phát tán rộng rãi hơn rất nhiều so với tin thật. Hệ lụy của việc lan truyền “tin giả” không chỉ dừng lại ở những cá nhân đơn lẻ, những nhóm người ở từng địa phương nhất định mà còn có tác động rộng lớn hơn rất nhiều, đe dọa trực tiếp tới an ninh quốc gia. Bởi vậy, tăng cường kiểm soát thông tin trên không gian mạng là trách nhiệm của Chính phủ nhiều nước trên thế giới, không riêng gì Việt Nam. Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo đảm an ninh mạng quốc gia, việc nâng cao hiểu biết, kiến thức pháp luật trên lĩnh vực an ninh mạng cho mọi tầng lớp trong xã hội là việc làm hết sức cần thiết./.

Quyết tâm chính trị kiên định, kiên trì, vì sự phồn vinh của đất nước, sự trường tồn của dân tộc

Vì thế, giờ là lúc không phải bàn thêm về quyết tâm chính trị của Đảng hay của Nhà nước nữa. Vấn đề cần nói quyết liệt là, làm gì và thế nào để chuyển quyết tâm ấy thành quyết tâm và hành động của toàn thể cán bộ, đảng viên và đồng bào(1). Và, cũng phải hỏi, còn có ai trong đội ngũ ấy nghểnh ngảng, thờ ơ, chiếu lệ cho phải phép, rồi “nghe ngóng tùy thời”, “chọc gậy xuống nước” hoặc “a dua chiếu lệ”, “hò voi bắn súng sậy” không?! Đấy chính là sự đồng lõa với sai trái, với tội phạm! Điều trước hết, tất cả mỗi người trong bộ máy, dù ở cấp nào, cần đối diện với chính mình, tỉnh ngộ và tự răn mình về nạn tham nhũng. Sự giác ngộ không phải chỉ nơi lời nói, mà ở kết quả của việc mình làm. Lại chẳng phải chỉ ở nơi thuộc hiểu dù trăm câu kinh câu kệ mà cốt yếu là buộc ở nơi hành xử của mình. Cái khó khăn của nó chẳng phải tại nơi giảng dạy mà cốt ở chốn thực hành. Càng chẳng phải tất cả tại nơi yếu lý của tư tưởng tẩy trừ tham nhũng, mà ở hành động sống của người giáo truyền về tham nhũng và người tự chống tham nhũng và tham gia chống tham nhũng. Đó là một phương châm dẫn lối muôn người ra khỏi hắc đạo, tự mình tỉnh ngộ. Đức Phật dạy: Kẻ thù lớn nhất của đời người chính là mình! Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng từng nói: “Thường xuyên tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ, để tay nhúng chàm và nếu đã trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác gột rửa”. Xin nói gọn ở đây về hành động để thực thi quyết tâm chính trị kiên định, kiên trì chống tham nhũng. Rằng, đã sợ tham nhũng và hệ lụy của nó thì không chống; và, khi đã chống tham nhũng thì quyết không sợ, tất nhiên tất cả những gì thuộc về nó. Không bàn thêm. Vấn đề không chỉ ở quyết tâm chống: không sợ sệt; đối tượng chống: rõ ràng, đúng, trúng; phương châm chống: kiên định, không dao động, nửa vời mà còn là ở nghệ thuật chống: bước đi phù hợp, hiệu quả và lực lượng chống: mạnh mẽ, kiên quyết, kiên tâm và đông đảo!... Không có sự lựa chọn nào khác, nếu không muốn rước họa đất nước bạc nhược và chuốc lấy thất bại của quốc gia trong phát triển. Sinh tử thì phải tử sinh. Không do dự, cầu toàn. Đó là tất yếu! Nên chăng bắt đầu từ đó để tất cả không trừ một ai đều cùng nhau thấu rằng, (bất liêm sinh ra) trộm cắp tức tham nhũng là điều thậm xấu hổ, là mắc tội với Dân, với Nước, là báng bổ nòi giống tổ tiên, là tạo ra nguy cơ mất nước! Đó là liêm sỉ, cũng là quốc sỉ, quốc thể! Vấn đề hiện nay là, phải phân loại, để có biện pháp giải quyết sao cho phù hợp. Mổ trâu thì dùng dao bài, nhưng mổ chim sẻ thì phải dùng dao kim. Song hãy coi chừng, bởi chưa chắc mổ trâu đã quan trọng hơn mổ chim sẻ. Một con chim sẻ (các cụ xưa gọi là bọn tiểu tước) mà “đậu cành cao”, mà tham nhũng quyền lực chính trị, thì tác họa còn nguy hiểm hơn cả đàn trâu nằm ở vũng bùn. Một “con ruồi đậu trên đầu hổ”, ngồi ở cơ quan hoạch định chính sách, mà tham nhũng chính sách thì còn nguy hiểm hơn cả những nơi thực thi chính sách với chức vụ còn to hơn gấp mười. Mỗi loại một đối sách phù hợp, cố nhiên là sức mạnh tổng hợp. Cho nên, ở đây cần phải căn cứ vào tính chất của đối tượng, của vụ việc để từ đó có đối sách cho phù hợp. Tham nhũng tiền bạc là tham nhũng ít. Tham nhũng về chức vụ, về chính sách thì mới là tham nhũng khủng khiếp. Nhưng, tham nhũng về lòng tin sẽ đưa đất nước đến chỗ sụp đổ, thực sự là trọng tội, là thảm họa. Lâu nay, một trong những vấn đề cấp bách nhất là, làm thế nào để có cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu. Kỳ thực rường cột của nó, nói cụ thể, đó chính là vấn đề quyền lực và trách nhiệm được thực thi và vận hành với bảo bối: công khai, dân chủ và pháp trị như thế nào?. Kiểm soát từ bên trong tới toàn dân kiểm soát; kiểm soát từ trên xuống và giám sát từ dưới lên, kiểm tra, giám sát từ bên cạnh một cách công khai, minh bạch. Suy cho cùng là, quyền lực phải gắn với trách nhiệm một cách dân chủ và kỷ luật, theo kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, vấn đề đặt ra là càng phát triển cơ chế thị trường, càng hội nhập quốc tế, càng phải kiểm soát quyền lực, càng phải đề cao và thượng tôn pháp luật. Không thể làm khác, nếu không muốn thất bại. Từ cơ chế kiểm soát thì sẽ có cơ chế phát hiện, cơ chế khắc trị... và trị thật nghiêm, không có ngoại lệ, không có vùng cấm. Nghĩa là công khai, dân chủ và pháp trị phải được thượng tôn! Công khai là con đường ngắn nhất để nhận diện và phòng, chống tham nhũng hiệu quả. Những vụ đại án về tham nhũng và khởi sự từ tham nhũng trong mấy năm 2017, 2018 đã xử lý vừa qua kỳ thực đã tích tụ từ lâu, bằng cơ chế kiểm tra, kiểm soát dân chủ và minh bạch trong nhiều năm qua, bây giờ mới bộc lộ ra. Vì thế, có thể nói, để chống tham nhũng lúc này, cần tập trung làm tốt trước mắt, hai lĩnh vực rất căn bản, đó là gắn chặt đức trị và pháp trị. Đại hội XII của Đảng quyết định rất quan trọng, lấy vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức là một trong bốn bộ phận cấu thành toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Đây là một trong những vấn đề trong quy luật xây dựng Đảng, vì sự sinh tồn của thể chế nước ta. Trở đi trở lại, khi lời răn đạo lý chưa đủ mạnh, khi đạo đức chưa đủ lay chuyển thì ắt pháp lý phải ra tay, nhất định các đạo luật phải được toàn dụng một cách công khai, dân chủ, bình đẳng và nghiêm khắc. Ngày xưa, tiền nhân nói: Sát nhất nhân vạn nhân kỵ. Đó là hạ sách. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng nói: “Bất cứ ai nếu có suy thoái chúng ta phải giáo dục chứ, phải uốn nắn chứ. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người cơ mà...”. Chống tham nhũng không khác gì đứng giữa bầy sói. Khi những “con sói đói khát quyền lực”, “đói khát tiền bạc” lũng đoạn, hoành hành, mà đạo đức chưa đủ thấu, đạo lý chưa đủ răn, liêm sỉ chưa đủ chuyển, thì dứt khoát tử hình phải tất được dụng. Hợp với nhẽ thường. Đấy là nhân văn nhất, đấy là đạo đức nhất. Đấy cũng là dân chủ và kỷ cương nhất. Tất nhiên là, người lãnh đạo Đảng ở các cấp cố nhiên là nhìn xa, trông rộng, tiên liệu và có đối sách sao cho phù hợp đã đành mà còn hành xử dứt khoát với tinh thần “quốc pháp bất vị thân” một cách dân chủ, minh bạch và đầy tính nhân văn. Lâu nay, có một thực tế ở không ít người, mà kỳ thực cũng không thể hiểu được hiện nay, tại sao có ý kiến lại đặt ra cái gọi là “liều lượng” với tham nhũng và chống tham nhũng? Rồi thế nào là “tầm mức”, thế nào là “mạnh tay”, thế nào là đủ, thế nào là “đến cùng”... khi nói về chống tham nhũng, với những nỗi sợ tự mình dựng lên về cái gọi “bảo vệ” sự “ổn định” vu vơ nào đó, để thoái bộ, né tránh, cầm canh chống tham nhũng? Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gửi: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy... Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được...”. “Tôi đã nói rồi, ai nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”. Đó là sự kết tinh ý chí chính trị, tầm nhìn, sự kiên định và cả tâm huyết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, là tiếng Lòng của Nhân dân hiện nay! Vì, “Dân ta đã nói là hành. Đã đốn quyết đốn cả cành lẫn cây”. Thực tế, từ sự kiên quyết trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực vừa qua, với việc nhiều vị lãnh đạo, kể cả lãnh đạo cấp cao vướng vòng lao lý đang làm cho nhiều người lo lắng và nói rằng, sợ “đang làm chậm lại tiến trình phát triển kinh tế”(!), khiến cho nhiều lãnh đạo, nhiều quan chức đang “sợ sai, không dám làm gì”(!). Có đúng như thế không? Đó chỉ là cách biện hộ, thậm chí bào chữa cho thái độ nửa vời. Nhân dân đang thất vọng trước tâm lý ấy và không đồng ý với các quan điểm đó. Thử nhìn lại năm 2018, kinh tế nước ta chẳng tăng trưởng ở mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, với tốc độ 7,08% đó sao? Tình hình chính trị tiếp tục ổn định, an ninh xã hội nước nhà được bạn bè quốc tế đánh giá là quốc gia yên ổn, một điểm đến tin cậy... đó sao? Lòng tin của Nhân dân và bạn bè quốc tế bắt đầu từ đó và nằm ở đó chứ ở đâu, sao lại nói vì... này, vì... kia mà sợ chậm phát triển, sợ không ổn định? Nếu vì “sợ sai mà không dám làm gì”(!) thì nên ra khỏi bộ máy. Chúng ta công minh chính đại, có Đảng cương rõ ràng, Quốc pháp minh bạch, nên với những người ít hoặc nhiều đã nhúng chàm thì không bàn, cứ theo đó mà định luận, nhưng với những người không đủ bản lĩnh, thì thôi, cũng nên rời khỏi vị trí đang đảm nhiệm, dù đó là ai. Nếu chúng ta ngập ngừng, nửa vời phòng, chống tham nhũng, thì Lòng Dân xôn xao, bất ổn; xã hội sẽ phức tạp, rối ren; bạn bè quốc tế sẽ ngại ngần, xa lánh... thì còn đâu là thế nước, còn đâu là lòng Dân tin vào thể chế nữa, theo đó lòng tin chiến lược của bạn bè quốc tế, vì đó, cũng bị bào mòn! Bởi thế, nếu sự tự răn của đạo lý chưa đủ thấu, sự tỉnh ngộ của bản thân chưa đủ độ, tai mắt của Nhân dân chưa đủ rộng, sâu, thì Đảng cương không vùng cấm, “Quốc pháp bất vị thân” phải kiềm tỏa và toàn dụng. Nghĩa là, phải lấy đạo luật mà “thẳng tay trừng trị” những kẻ trộm cắp ấy, “bất kể kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì... từ trên xuống, từ dưới lên trên”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói! Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta không chỉ chống mà lâu dài cần phải xây. Chống tham nhũng tiêu cực phải làm quyết liệt, xảy ra thì phải chống, nhưng không phải cứ nhăm nhăm chống, mà quan trọng là phải xây để ngăn ngừa, răn đe. Như tôi đã từng nói, ai trót nhúng chàm rồi thì tự gột rửa đi. Như thế là tốt nhất. Không phải cứ xử tử, hay chung thân mới là kết quả tốt. Cái chính là người đó phải nhận ra sai lầm, phải thu hồi được tài sản, không để thất thoát. Bất đắc dĩ lắm mới sử dụng đến biện pháp không ai mong muốn là tử hình...” Chưa thấy những con đường tự giáo hóa, tự phòng ngừa, cũng chửa thấy phương cách phòng ngừa, ngăn chặn, gột rửa và tẩy trừ tham nhũng nào khác khả dụng hơn! Ai ai cũng đang trăn trở: Chúng ta phải làm gì để trị cho bằng được cái gốc đã đẻ ra tham nhũng? Không ít người đang rắp mưu đổ cho thể chế của chúng ta. Phải khẳng định ngay là, từ xưa tới nay, ở nước ta và các quốc gia, dân tộc trên khắp hoàn cầu, không có thời nào chính tín, không một thể chế chính danh nào dung nạp hay nhân nhượng với tham nhũng. Không phải là thể chế đẻ ra tham nhũng. Xin cam kết lại là, không có thể chế chính danh nào, chính thể chính đáng nào dung túng hay dung tha tham nhũng. Cái gì họ cũng đổ lỗi là do thể chế, tham nhũng cũng là do thể chế của ta, nói và hiểu như thế, rõ ràng nguyên vẹn là cách nhìn của những người thiển cận hoặc bị nhiễm chứng bệnh hoang tưởng, nhằm phủ nhận thể chế chúng ta. Vậy thì cái gì? Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, không thể sửa sai những lỗi lầm bằng thứ tư duy đã đẻ ra nó. Chống tham nhũng cũng vậy. Phải gắn chống tham nhũng với chống lãng phí, nếu không mới chống tham nhũng “một nửa”. Lãng phí là cái “ô” để tham nhũng núp bóng và là “lô cốt” để tham nhũng cố thủ và hoành hành. Đó chính là khâu đột phá đổi mới tư duy, tầm nhìn, và cụ thể là hệ thống chính sách phòng, chống tham nhũng. Cấp bách là, tiếp tục đổi mới tư duy về tham nhũng và chống tham nhũng gắn với chống lãng phí. Vì tham nhũng giờ đây không chỉ có tham nhũng kinh tế, vật chất hữu hình, chức vụ và danh vị cụ thể, chính sách cụ thể mà xâm hại cả tới những lãnh địa thiêng liêng vô hình: tham nhũng lòng tin, tham nhũng chính trị... biến ảo khôn lường... song hành với lãng phí. Nếu không nhìn như thế, sẽ rất khó phân định và định luận hai lĩnh vực này trong cuộc chống tham nhũng hiện nay. Cấp bách đổi mới tổ chức bộ máy sao cho tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả để thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực; và thông qua cơ chế này để kiểm soát bộ máy của toàn hệ thống chính trị từ Đảng tới mỗi thành viên, kiểm soát từng người theo hướng không sót, không lọt một ai. Đó là cái gốc, cái động lực của đổi mới thể chế hiện nay. Người đứng đầu ở tất cả các cấp trong hệ thống chính trị, trước hết là các Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Bí thư và Ủy viên Bộ Chính trị, phải thật sự nêu gương trên phương diện này. Vì thế, trước mắt, việc cần kíp là, thiết lập vòng cương tỏa với thể chế tổng hợp từ Đức trị tới Pháp trị, được thực thi một cách Dân chủ hóa, gồm 7 mặt chỉnh thể: Không nên tham nhũng - Không được tham nhũng - Không thể tham nhũng - Không cần tham nhũng - Không vùng cấm, không ngoại lệ xử lý tham nhũng - Không thể thoát khi tham nhũng - Không thể lợi dụng trong chống tham nhũng để tham nhũng. Bảy phương diện thể chế trên phải giữ nghiêm, không có ngoại lệ, không có vùng cấm và thực thi đồng bộ, triệt để. Nói khái lược, đổi mới thể chế chống tham nhũng quốc nội và quốc tế theo hướng đó. Đó là lý luận, là quyết sách hành động chính trị quyết định không thể đứng hàng thứ hai. Về lực lượng chính trị chống tham nhũng? Ai chống tham nhũng? Chả nhẽ là những kẻ tham nhũng bòn rút xương máu Nhân dân, đục khoét cốt tủy quốc gia? Vì thế, cố nhiên, cả dân tộc, trước hết là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới ngọn cờ của Đảng, tất cả không trừ một ai, hễ có lương tri và cả bạn bè quốc tế. Thành bại là ở đây. Tham nhũng đã lan rộng, leo cao, chui sâu... và tác họa khôn lường. Nên vấn đề rường cột cốt tử chỗ này là, làm tốt yếu tố cán bộ và công tác cán bộ đồng bộ với công tác kiểm tra, thanh tra và bảo vệ pháp luật. Thực tế cho thấy, do chính những cán bộ lợi dụng thể chế, tìm khe hở của thể chế để thực hiện mưu đồ của mình, nhằm tham nhũng, nên đột phá vào chỗ tung thâm này, mà tiếp tục đổi mới bộ máy nói chung và bộ máy phòng, chống tham nhũng nói riêng. Lựa chọn cán bộ có quyết tâm, có năng lực, có đạo đức là điều cực kỳ quan trọng, nếu không muốn nói đó là yếu tố quyết định việc thành bại. Người đứng đầu các cấp ủy, chính quyền... phải Gương mẫu - Trung thực - Liêm sỉ và Kỷ luật trong đấu tranh chống tham nhũng. Ai không được tối thiểu như thế, thì nên chủ động từ chức, từ nhiệm. Đó không chỉ là liêm sỉ mà là trách nhiệm. Kinh nghiệm cốt tử vừa qua cho thấy, không thể dùng những người tham nhũng để đi chống tham nhũng. Bộ máy chống tham nhũng phải được trao đủ quyền năng và được kiểm soát chặt chẽ và toàn diện quyền lực. Tất cả phải sống trong lòng Nhân dân và chịu sự giám sát, kiểm soát của Nhân dân! Lưới trời Nhân dân lồng lộng! Đặc biệt, công cuộc chống tham nhũng hiện nay đã và đang nhận được sự ủng hộ của cả hệ thống chính trị, của toàn thể đồng bào ta và sự hợp tác chặt chẽ từ quốc tế. Đó là sức mạnh của cơ chế phòng, chống tham nhũng. Nhưng, phải cổ vũ, giữ niềm tin của Nhân dân và bảo vệ vô điều kiện Nhân dân. Và, Nhân dân cần được và phải biết đâu là quyền hạn của mình, phải được mở mang toàn diện, để cùng Đảng và Nhà nước kiểm soát tình hình thời cuộc, mà ở đây là đại cuộc phòng, chống tham nhũng. Khi được Lòng Dân tin tưởng, khi Nhân dân ủng hộ và tham gia thì vạn sự tất thành./.

Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng luôn là đại sự sinh tử, thành bại

Vấn đề tham nhũng và chống tham nhũng luôn là đại cuộc sinh tử, thành bại của muôn thời, của mọi quốc gia, dân tộc trên hoàn cầu, tự cổ chí kim. Sử sách chép rằng, ở thành cổ đại Athen, khoảng 2500 năm về trước, nếu bất kỳ chính khách nào phạm vào một trong hai tội sau đây thì sẽ bị đuổi khỏi thành 10 năm; và cố nhiên, trong 10 năm đó, kẻ ấy không được tham gia chính sự. Đó là hai tội tham nhũng và tội hủ hóa nam nữ. Điều đó cho thấy, phẩm hạnh một nhà chính trị, ngay từ thời cổ đại, rất được coi trọng; nó quyết định danh dự, uy tín của những chính trị gia và uy tín, sức mạnh của chế độ. Và, vì thế, đã đặt vấn đề chống tham nhũng quan trọng đến nhường nào, trong các đại sự chính trị. Nhìn sang phía Đông, vấn đề tham nhũng và chống tham nhũng, được xem trọng đặc biệt. Từ Trung Quốc, Ấn Độ tới Nhật Bản, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a... không quốc gia nào dám khinh suất trọng sự chết người này. Với chúng ta, việc nước nhà thịnh vượng hay suy vong, dân tộc hùng cường hay bạc nhược... luôn là nỗi bận tâm lớn nhất trong các việc chính sự của muôn triều đại, sự liêm sỉ của ức triệu lòng dân xã tắc. Bảy trăm năm trước, bàn về việc chọn tướng, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn nói: Lấy của mà thử xem có giữ được sự trong sạch không. Ngay từ thế kỷ XV, nhà vua Lê Thánh Tông, một ông vua rất sáng suốt và tạo nên sự thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, đã có một câu nói, đúng hơn đó là lời cảnh báo xương máu, ngay giữa buổi thịnh trị, rằng: Nếu có cái gì đó làm cho triều đình đổ vỡ, làm cho muôn dân bại hoại, thì đó chính là nạn quan tham lại nhũng. Năm, sáu thế kỷ qua, điều đó, tôi nghĩ, không bao giờ cũ. Bỗng nhớ đến “ngũ họa” quốc vong mà tiền nhân tổng kết, cảnh báo khuyên răn có 5 nguy cơ làm mất nước: Một là, trẻ không kính già; hai là, trò không trọng thày; ba là, binh kiêu tướng thoái; bốn là, tham nhũng tràn lan; năm là, sĩ phu ngoảnh mặt. Lời tiên báo ấy của bảng nhãn Lê Quý Đôn, cách nay hơn 250 năm. Chỉ phạm vào một trong năm điều họa ấy thôi cũng đủ quốc sỉ bị tổn thương, liêm sỉ khó mà giữ trọn. Năm họa ấy hội lại, thì quốc sỉ mất, liêm sỉ cũng tan, thì đất nước tiêu vong, mà thân phận mỗi người tự do, cũng theo đó, mà mất! Vì thế, từ kinh nghiệm lịch sử có thể nói, phòng, chống tham nhũng là quyết sách chiến lược mang ý nghĩa sinh tử, mất còn của thể chế, của quốc gia - dân tộc chúng ta! Đặc biệt vấn đề này càng trở nên cấp bách trong bảy chục năm qua, kể từ khi Đảng ta cầm quyền, nhất là cực kỳ sinh tử nóng bỏng trong ba chục năm nay.

QUYỀN LỰC VÀ CÁCH THỨC ĐỂ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay- dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”[1]; còn kiểm soát quyền lực là “kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định” và đặt quyền lực “trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm”[2] của những người đã được giao/phân công/ủy nhiệm thực thi quyền lực. Với một chính đảng đã cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên ưu tú được giao/phân công/ủy nhiệm các chức vụ trong Đảng, các cơ quan Nhà nước, hệ thống chính trị. Vì thế, để ngăn ngừa, phòng và chống sự lạm dụng, tha hóa, trục lợi vì quyền lực dẫn đến làm mất đi tính tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của Đảng cách mạng, rất cần phải kiểm soát quyền lực trong Đảng. Việc kiểm soát quyền lực của các tổ chức, các cán bộ, đảng viên có chức vụ trong các tổ chức Đảng, bộ máy Nhà nước, hệ thống chính trị không chỉ nhằm ngăn chặn, phòng và chống sự tha hóa quyền lực mà còn để thực hiện dân chủ, phát huy dân chủ, làm cho nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng được thực thi nghiêm túc. Để kiểm soát quyền lực trong Đảng, cả V.I.Lênin và Hồ Chí Minh cùng yêu cầu thực hiện theo hai cách thức chủ yếu: 1) Thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình; 2) Chú trọng thực hiện công tác kiểm tra và giám sát. Theo V.I.Lênin, “chỉ có kẻ nào không làm một công việc thực tiễn nào mới không bị sai lầm”, “những sai lầm thường khi lại bổ ích, nếu người ta học tập được về những sai lầm đó, nếu những sai lầm đó tôi luyện con người” và “sai lầm cũng dạy chúng ta nhiều bài học…, chúng ta sẽ học tập bằng tự phê bình”[3]. Nhấn mạnh nguyên tắc: “Tự phê bình là một việc tuyệt đối cần thiết cho hết thảy mọi chính đảng sống và đầy sức sống. Không gì tầm thường bằng chủ nghĩa lạc quan tự mãn”[4], V.I. Lênin chỉ rõ: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho đến nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình. Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta, và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục”[5]. Vì thế, phải “công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm”[6], để kịp thời sửa chữa, khắc phục khuyết điểm Đồng thời, nhấn mạnh vai trò kiểm soát quyền lực nội bộ Đảng, đặc biệt là kiểm soát quyền lực của các cơ quan Ban Chấp hành, V.I.Lênin đề xuất thành lập Ủy ban Kiểm tra của Đảng và các cơ quan này phải có vị trí tương đương như các Ban Chấp hành, để có thể kiểm soát được quyền lực tối cao của Đảng; góp phần thực thi việc chất vấn trong Đảng, đảm bảo cho dân chủ trong Đảng được thực thi và phát huy tác dụng thực chất. Để kiểm soát quyền lực, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[7]. Ở đây, sự “tự cao tự đại”, “không dám nói lên những nhược điểm”, “giấu giếm khuyết điểm của mình” theo V.I. Lênin và Hồ Chí Minh cũng chính là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của tổ chức Đảng và những người có chức quyền trong Đảng. Vì vậy, để trong sạch, vững mạnh, Đảng và mỗi cán bộ đảng viên cần phải tự giác thừa nhận sai lầm, “nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình”[8]. Tổ chức “kiểm thảo phải khởi đầu từ cấp trên, dần dần đến cấp dưới. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu thật thà tự phê bình, phải hoan nghênh khuyến khích mọi người phê bình mình, tức là phải thực hiện dân chủ rộng rãi. Từ trên xuống, rồi từ dưới lên. Cán bộ cấp trên phải trực tiếp lãnh đạo từ lúc chuẩn bị cho đến lúc kết thúc cuộc kiểm thảo. Trong kiểm thảo, phải nêu rõ ưu điểm và khuyết điểm, làm cho việc phải trái rõ ràng, làm cho mọi người hiểu rõ và vui vẻ thừa nhận”[9]. Trong thực thi quyền lực, cán bộ, đảng viên nói chung, người lãnh đạo, quản lý, đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng phải công tâm, kỷ luật, tự giác, thẳng thắn, triệt để trong tự phê bình và phê bình theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Đồng thời, phải hết sức chú trọng công tác kiểm tra, giám sát; phải coi kiểm tra và giám sát là điểm xuất phát, là khâu trung tâm trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh cùng cho rằng: “Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy”[10], cho nên phải thường xuyên “kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”[11]. Thực tế cho thấy, “kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo, mà phải đi đến tận nơi”[12]… do đó, phải kiểm tra tại cơ sở, phải thông qua công tác kiểm tra để xem "những nghị quyết đó đã thực hành được đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không", để vừa phát huy ưu điểm, phát hiện cái mới, cái tốt hơn nhằm điều chỉnh phương thức lãnh đạo sát hợp hơn; đồng thời, ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện quan liêu, xa dân, không sâu sát thực tiễn trong phong cách công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của người đúng đầu. Để công tác kiểm tra và giám sát góp phần làm cho việc kiểm soát quyền lực được thực thi hiệu quả, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Các ủy ban và cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối, quan điểm của Đảng, phải luôn luôn chú ý nâng cao khả năng chuyên môn, phải cố gắng công tác, phải trau dồi đạo đức cách mạng. Đặc biệt là phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, phải thật thà phê bình và tự phê bình để làm gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật. Phải chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến. Như thế thì mới làm tốt được công tác kiểm tra”[13]. Trong đó, tự người lãnh đạo phải tiến hành việc kiểm tra; phải tổ chức một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm, giàu năng lực để giúp người lãnh đạo đi kiểm tra; đồng thời người đi kiểm tra phải nâng cao trách nhiệm công tác, “ai đi kiểm tra việc gì, nơi nào nếu có sơ suất thì người ấy phải chịu trách nhiệm”. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát hiệu quả, góp phần ngăn ngừa những biểu hiện hách dịch, cửa quyền, lạm quyền, lộng quyền, tham nhũng, tiêu cực, v.v.. gây bức xúc trong nhân dân, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ của đội ngũ cán bộ, đảng viên tại các cơ quan công quyền. Cả V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đều khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân đối với việc kiểm soát quyền lực trong Đảng. Cụ thể, V.I.Lênin yêu cầu cần phải “không chỉ thường xuyên triệu tập các cuộc họp toàn thể cho quần chúng công nông, mà còn phải thường xuyên tổ chức những cuộc báo cáo công tác của tất cả các cán bộ đảm nhiệm mọi chức vụ trước quần chúng công nông. Những cuộc báo cáo này phải tiến hành ít nhất mỗi tháng một lần để quần chúng công nhân và nông dân ngoài đảng có điều kiện phê bình các cơ quan Xôviết và công tác của các cơ quan đó. Không phải chỉ có các đảng viên cộng sản mà tất cả những người có chức trách ở mọi cương vị quan trọng…, đều phải tiến hành những báo cáo như vậy”[14]. Còn Hồ Chí Minh thì nhấn mạnh, các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội cần phải phối hợp, kết hợp trong kiểm tra, giám sát, để thông qua quá trình phối hợp đó “ra sức làm cho mọi người tăng thêm lòng tự tin (tin chắc mình phát triển được ưu điểm, sửa đổi được khuyết điểm) khiến mọi người khoan khoái, vui vẻ, hăng hái, để tiếp tục công tác và tiến bộ mãi”[15].

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG SỰ SUY THOÁI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các Nghị quyết Trưng ương 4 khóa XI, XII về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, việc nhận diện đúng về quyền lực, tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực để ngăn chặn, phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đến đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp đã được triển khai từ Trung ương đến cơ sở. Có thể nói, cùng với việc "tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương”[16] theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, “các cấp ủy, tổ chức Đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm”[17]; đồng thời “xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm”[18] theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, 7 khóa XII đã cho thấy vấn đề kiểm soát quyền lực được chú trọng thực hiện, từng bước đem lại kết quả rõ rệt. Trong đó, dấu ấn đậm nét nhất chính là tại các cấp ủy Đảng: thông qua tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát đã kịp thời phát hiện và tiến hành đúng trình tự để xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm pháp luật về tham ô, tham nhũng, v.v.. Công tác kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý được thực thi nghiêm túc. Việc xây dựng, ban hành nhiều văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng đã từng bước khắc phục những sơ hở, bất cập trong các quy định của pháp luật… Công tác phòng, chống sự tha hóa quyền lực, suy thoái về đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng đã và đang cho thấy, việc xây dựng cơ chế và quá trình kiểm soát quyền lực được đẩy mạnh. Cùng với đó, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã mở rộng phạm vi, đối tượng kiểm tra xuống đến cấp ủy cấp huyện và cơ sở, đã phát hiện và xử lý nhiều vụ án tham nhũng, từng bước khắc phục tình trạng “trên nóng dưới lạnh”. Đồng thời, các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tập trung kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; xử lý nghiêm cả cán bộ đương chức, nghỉ hưu và cán bộ cấp cao; kỷ luật từ trên xuống dưới "không có vùng cấm", "không có trường hợp ngoại lệ"... góp phần củng cố niềm tin của nhân dân như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh. Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, kết luận về kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm của một số tổ chức và cá nhân Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật về thực trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức quyền, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ: Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái…Trong khi đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ. Việc đăng ký, tự soi theo 27 biểu hiện suy thoái (9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ) theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII ở các cấp ủy (thông qua công tác tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát) vẫn cho thấy: ở đâu đó, với quyền lực được giao phó, sự suy thoái của bộ phận cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ cao cấp vẫn đang diễn ra, không chỉ gây bức xúc trong nhân dân mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Đảng cầm quyền. Trong thực tế: 1) Sự suy thoái ở bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền này là coi thường kỷ luật, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng; coi thường nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” với các biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, sử dụng đặc quyền, đặc lợi để lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm tham ô, tham nhũng, mưu cầu cho cá nhân và nhóm lợi ích; ngày càng quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân; trục lợi từ chức quyền để chạy dự án, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy chức cho mình và người thân… 2) Sự suy thoái ở bộ phận đảng viên chưa hoặc không được giao các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong Đảng và chính quyền mà chỉ chịu trách nhiệm cá nhân khi thực hiện các nhiệm vụ đảng viên thì thường là các biểu hiện thiếu niềm tin và nghi ngờ vai trò lãnh đạo của Đảng; phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; bàng quan, thiếu tinh thần và quyết tâm phấn đấu, vượt gian khổ, khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không gương mẫu giữa nói và làm, v.v.. Từ chỉ dẫn của V.I Lênin và Hồ Chí Minh về yêu cầu và biện pháp để thực hiện kiểm soát quyền lực trong Đảng và hệ thống chính trị hiệu quả, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định phải tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực. Cụ thể, “phải thiết lập cho được một cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực đối với người có chức vụ, quyền hạn theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn phải được ràng buộc với trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao, trách nhiệm càng lớn”[19]; phải đồng thời tiến hành kiểm tra ngang và kiểm tra dọc, từ trên xuống và từ dưới lên; phải phát huy vai trò của nhân dân trong công tác kiểm tra và giám sát; từng đoàn thể phải xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát, chống lạm quyền, trục lợi từ quyền lực đảm bảo hiệu quả... Trên tinh thần đó, trong thời gian tới, cấp ủy các cấp cần tập trung thực hiện những giải pháp sau: Một là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng, coi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo chương trình toàn khóa và chủ đề hằng năm là giải pháp căn cốt để thực hiện kiểm soát quyền lực trong Đảng, trong cả hệ thống chính trị. Hai là, chú trọng và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo chuyên đề; trong đó, căn cứ theo bản đăng ký của mỗi cấp ủy và cá nhân về phòng và chống các biểu hiện suy thoái theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp về tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát theo nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa “xây và chống, lấy xây là chính”. Cụ thể, "thường xuyên và nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình" theo Di chúc đi liền với tăng cường giám sát và kiểm tra, thực hiện kỷ luật trong Đảng theo phương châm “trên trước, dưới sau”, “từ trong ra, từ ngoài vào”, “từ trên xuống, từ dưới lên”. Nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát theo nguyên tắc dân chủ, khách quan, trung thực, đầy đủ gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác lãnh đạo, quản lý nói chung và kiểm tra, kiểm soát đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền nói riêng theo định kỳ và đột xuất, với sự giám sát của quần chúng nhân dân và đảng viên ở nơi công tác và địa bàn cư trú. Ba là, “phải nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế, luật pháp”, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, giữa các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở từng cấp và giữa các cấp, từ trên xuống và từ dưới lên, bảo đảm sự kiểm soát nhiều chiều. Tăng cường giám sát và kiểm tra đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với việc thực hiện quyền lực trong Đảng thông qua những quy định, quy chế nghiêm ngặt. Phải coi kiểm soát quyền lực là kỷ luật của Đảng; đảm bảo quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp ủy, cá nhân trong cấp ủy và từng vị trí lãnh đạo; công khai các quy định, quy chế về kiểm soát quyền lực để mọi cán bộ, đảng viên đều phải nghiêm túc thực hiện, không có ngoại lệ. Theo đó, mỗi cơ quan, tổ chức Đảng, mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên được trao quyền đều phải gương mẫu đi đầu trong việc kiểm soát quyền lực được giao theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ Đảng. Đồng thời, Đảng phải tăng cường cơ chế “tự kiểm soát” thông qua các sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình, qua hoạt động kiểm tra, giám sát, chất vấn, giải trình từ các tổ chức cơ sở Đảng đến Ban Chấp hành Trung ương; tăng cường giám sát việc thực hiện quyền lực của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; tạo cơ chế để các tổ chức trong hệ thống chính trị giám sát trở lại việc thực thi quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên và của Đảng gắn với khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh, để thông qua đó củng cố và tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong mỗi tổ chức, cơ quan, địa phương, đơn vị. Bốn là, cùng với việc thực hiện nghiêm theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ và kỷ luật Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải “tự kiểm soát mình”, xây dựng và rèn luyện cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng để: 1) Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; 2) Kiên tâm tự đề kháng và miễn dịch trước “bả vinh hoa của quyền lực, chức quyền”; trước những tác động tiêu cực từ những thông tin xấu độc, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phòng và chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; 3) Kiên trì tu dưỡng để "thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư", phòng và chống chủ nghĩa cá nhân gắn liền với nỗ lực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ để bồi đắp, hoàn thiện mình, xứng đáng là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân” như Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc. Thông qua đó, không chỉ nhận diện rõ những biểu hiện lạm dụng, trục lợi từ quyền lực, tha hóa bởi quyền lực dẫn tới sự suy thoái của cán bộ, đảng viên để đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả với các việc làm sai trái mà còn kịp thời xử lý và đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, bất kể đó là ai, ở vị trí công tác nào; đồng thời, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị trên tinh thần chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, tiền phong trong thực thi quyền lực./.

Biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống

1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. 2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. 3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực. 4) Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; "chạy thành tích", "chạy khen thưởng", "chạy danh hiệu". 5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân. 6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động. 7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. 8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. 9) Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội. (Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ")

Một số giải pháp nâng cao ý thức làm chủ và bảo vệ không gian mạng

Với khả năng kết nối vô hạn của mạng thông tin toàn cầu, đặc biệt với các thiết bị Internet vạn vật (IoT) sẽ tiếp tục đặt ra các thách thức hết sức to lớn đối với công tác bảo đảm an ninh, an toàn mạng thông tin quốc gia, phòng, chống khủng bố và tội phạm mạng. Để chủ động ứng phó các thách thức này, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng, cần làm tốt một số mặt công tác sau: Một là, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về bảo vệ chủ quyền quốc gia, các lợi ích và sự nguy hại đến từ không gian mạng. Ngày nay, quan niệm về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của một quốc gia không chỉ là đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, mà cả lãnh thổ không gian mạng, chủ quyền không gian mạng. Theo đó, lãnh thổ không gian mạng là một bộ phận hợp thành lãnh thổ quốc gia, nơi xác định biên giới mạng và thực thi chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Bảo vệ chủ quyền quốc gia còn là bảo vệ không gian mạng của quốc gia, bao gồm, bảo vệ các hệ thống thông tin; các chủ thể hoạt động trên không gian mạng; hệ thống dữ liệu, tài nguyên mạng; các quy tắc xử lý và truyền số liệu. Đảm bảo quyền bình đẳng trong tham dự quản lý mạng Internet quốc tế; độc lập trong vận hành hạ tầng cơ sở thông tin thuộc lãnh thổ quốc gia; bảo vệ không gian mạng quốc gia không bị xâm phạm và quyền quản trị truyền tải cũng như xử lý số liệu của quốc gia. Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần nhận thức rõ các nguy cơ đến từ không gian mạng như: tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, tội phạm mạng, đặc biệt là nguy cơ chiến tranh mạng đang là thách thức gay gắt về an ninh, và bảo đảm an ninh mạng đang trở thành trọng tâm ưu tiên của quốc gia. Vì vậy, cần quán triệt các quan điểm của Đảng về phát triển khoa học công nghệ và chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các định hướng hành động của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên không gian mạng và nhận thức rõ rằng, đe dọa trên không gian mạng là một trong những mối đe dọa thực tế và nguy hiểm nhất đối với an ninh quốc gia hiện nay. Hai là, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng. Phổ biến các điều khoản của Bộ luật Hình sự 2015 (Mục 2, Điều 285-294) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ và Thông tư số 09/2014/BTTTT ngày 19-8-2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng mạng xã hội. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật An ninh mạng năm 2018. Luật An ninh mạng được xây dựng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên mạng của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật An ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi. Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin; góp ý xây dựng chương trình giáo dục an toàn thông tin mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến an toàn thông tin mạng. Ba là, bồi dưỡng kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái phát sinh trên không gian mạng. Hoạt động tấn công không gian mạng rất đa dạng và tinh vi như: làm mất kết nối Internet, đánh sập các website của chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo; cài gắm vào máy tính cá nhân hoặc lấy tài khoản và mật khẩu; đánh cắp dữ liệu cá nhân (hình ảnh, file, video); tấn công bằng mã độc (theo tệp đính kèm trong email hoặc ẩn trong quảng cáo Skype); tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại (phần mềm diệt virus, các trình duyệt); tấn công qua usb, đĩa CD, địa chỉ IP, server… Ở mức độ cao hơn, các thế lực thù địch có thể thông qua block cá nhân lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, Thanh Niên Dân Chủ,… núp dưới vỏ bọc các tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ” để xuyên tạc cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch còn lợi dụng báo điện tử, các website, dịch vụ thư điện tử, mạng xã hội facebook, Zalo, Twitter, diễn đàn,... để phát tán các tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ mối đoàn kết giữa Đảng và Nhân dân hoặc sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới để chống phá. Các trang mạng có nhiều nội dung thông tin xấu, độc như Dân Làm Báo, Quan Làm Báo; Boxit, Dân Luận, Chân Dung Quyền Lực… Bốn là, nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ và sử biện pháp kỹ thuật để khắc phục hậu quả trong trường hợp bị tấn công trên không gian mạng. Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; giúp đỡ, tạo điều kiện cho người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp bảo vệ an ninh mạng. Mỗi người cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng trên ổ cứng ngoài, mạng nội bộ hoặc trên các dịch vụ lưu trữ đám mây (Google Drive, OneDrive); kiểm tra lộ lọt thông tin tài khoản cá nhân qua Trung tâm xử lý tấn công mạng Việt Nam(3). Người dùng không nên vào những trang web lạ (hoặc trang web đen), những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm. Khi phát hiện bị tấn công trên không gian mạng, nhanh chóng ngắt kết nối mạng; sử dụng các công cụ giải mã độc; báo cho người có trách nhiệm qua đường dây nóng. Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chuyên trách an ninh mạng, lãnh đạo, quản lý các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà trường trong giáo dục nâng cao ý thức làm chủ và bảo vệ không gian mạng. Các cơ quan chuyên trách an ninh mạng (Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an; Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Bộ Quốc phòng; lực lượng bảo vệ an ninh mạng tại bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia) cung cấp đầy đủ thông tin về xu hướng phát triển, các nguy cơ từ không gian mạng; các biện pháp phòng, chống tấn công trên không gian mạng. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tăng cường cảnh báo khả năng mất an ninh mạng do đơn vị mình cung cấp và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng các phương án xử lý với sự cố an ninh mạng; phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách trong hoạt động bảo vệ an ninh mạng. Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học. Lãnh đạo, quản lý các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà trường cần nắm vững mọi hoạt động và tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên, quần chúng, có nội dung giáo dục, định hướng, điều chỉnh nhận thức đúng đắn, kịp thời; có trách nhiệm trong quản lý thông tin có liên quan tới cán bộ, đảng viên và quần chúng, có kế hoạch bảo vệ chính trị nội bộ trên không gian mạng./.

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Lợi ích và các mối đe dọa an ninh trên không gian mạng

Cùng với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ Internet, đặc biệt là sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của các kết nối không dây 3G, 4G, 5G, mạng xã hội, các thiết bị di động thông minh và dịch vụ điện toán đám mây, con người tương tác đa chiều hơn, phản ánh sinh động, tức thời hơn với mọi mặt đời sống và các mối quan hệ xã hội. Chính điều này đã biến Internet trở thành không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội của mình, như giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Không gian xã hội đó được gọi là “không gian mạng” hay “không gian ảo”. Không gian mạng rất rộng lớn, gồm cả các trình duyệt web (Google, Chrome, Mozilla Firefox , Opera, Safari...); các trang web tin tức (VnExpress, Yahoo! Tin tức, Zing news, VTC New...); các mạng xã hội (Facebook, Twitter, YuMe, Instagram, Zing me, Youtube, Skype, WeChat, Google Plus, Go.vn...); các tìm kiếm, tra cứu (Google map, Bing, Google Docs...); các tiện ích (chuyển tiền, việc làm, email, thiệp điện tử...); các trang mạng mua bán, kinh doanh, học tập, âm nhạc, giải trí... Trên không gian mạng, các cá nhân có thể tương tác, trải nghiệm, trao đổi ý kiến, trò chuyện nhóm, chia sẻ thông tin, tổ chức diễn đàn, cung cấp hỗ trợ xã hội, tìm kiếm việc làm, kinh doanh, sáng tạo phương tiện truyền thông nghệ thuật, chơi trò chơi,... Không gian mạng thật sự trở thành không gian sinh tồn mở rộng, không gian kiến tạo và gia tăng sức mạnh quốc gia với nguồn tài nguyên số vô tận. Hoạt động trên không gian mạng tác động tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là con người. Cùng với những lợi ích to lớn, các đe dọa từ không gian mạng đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật nhà nước sẽ bị lộ, lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy; hệ thống tài chính, ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác bị đình trệ hoặc rối loạn hoạt động. Không gian mạng có thể thành môi trường để các tổ chức khủng bố quốc tế tuyên truyền, tuyển lựa, huấn luyện và chỉ đạo hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội. Một cuộc chạy đua vũ trang trên không gian mạng và chiến tranh mạng đang trở thành hình thái chiến tranh mới, nguy cơ về một cuộc chiến tranh không khói súng, không chiến tuyến, không biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia đang hiện hữu. Những điều này tạo ra vô số mối nguy lớn về an ninh và chủ quyền quốc gia. Không những thế, không gian mạng còn có thể gây nguy hại cho cơ quan, tổ chức, trường học, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp, gia đình và cá nhân. Khi công tác bảo mật hệ thống mạng không được coi trọng đúng mức, không gian mạng sẽ bị phát tán mã độc, bị tấn công, gây thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người (bắt cóc, tống tiền, sát hại,...). Ngay cả những trò chơi, nếu không được kiểm soát cũng gây nguy hiểm đến tính mạng con người, chẳng hạn như trò chơi “Thử thách Momo” trong thời gian gần đây. Theo số liệu từ Kaspersky Security Network, Việt Nam nằm trong top 3 quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất năm 2018. Kaspersky Lab nhận định: “Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, những mối đe dọa về vấn đề an ninh mạng ngày càng tinh vi hơn. Đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0 bùng nổ, Việt Nam sẽ phải đối mặt và chịu nhiều ảnh hưởng bởi những thay đổi phức tạp của an ninh mạng” (1). Một thống kê khác cho thấy, hai năm 2017 và 2018, số lượng lỗ hổng an ninh tăng đột biến với hơn 15.700 lỗ hổng, gấp khoảng 2,5 lần những năm trước đó; năm 2018, hơn 9.300 cuộc tấn công vào mạng Việt Nam, hơn 1,6 triệu lượt máy tính bị mất dữ liệu (2). Các chuyên gia bảo mật cũng đưa ra cảnh báo về xu hướng tấn công mạng năm 2019, đó là tấn công lừa đảo trực tuyến sẽ thay thế bằng tấn công phần mềm, hacker chuyển mục tiêu dài hạn sang các chiến dịch ngắn hạn, phạm vi mục tiêu nhỏ với bộ công cụ khai thác phần mềm hay “thả lưới” toàn bộ thị trường. Sử dụng công cụ phần mềm mở rộng kết nối với các ứng dụng nhắn tin chat bot (như Facebook Messenger) để tấn công. Đặc biệt, mã độc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể cũng xuất hiện trong năm nay. Trong khi đó, nhận thức của người dân về an ninh mạng còn rất hạn chế, tầm quan trọng của an ninh mạng đối với kinh doanh, tài chính và an ninh quốc gia chưa được đánh giá đúng. Các giải pháp an ninh mạng hoặc chưa đủ tốt, hoặc giá thành quá đắt đỏ để tiếp cận, gây nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ không gian mạng.

ĐẾN BÔI ĐEN CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ KỶ LUẬT ĐẢNG

Xung quanh sự việc này, một số đối tượng lại cố tình xuyên tạc, bóp méo Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm kỷ luật, cho rằng đảng viên quấy rối tình dục chỉ bị khiển trách. Đài Á châu tự do đã có bài viết xuyên tạc “Đảng viên quấy rối tình dục dưới mọi hình thức chỉ bị khiển trách?". Đài này viện dẫn Điểm c, Khoản 1, Điều 33 Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm nếu đảng viên "có hành vi quấy rối tình dục dưới mọi hình thức" mà "gây hậu quả ít nghiêm trọng" thì bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách. Từ đó suy diễn rằng đảng viên dù vi phạm quấy rối tình dục ở hình thức nào thì cũng chỉ bị khiển trách. Họ cố tình quên rằng, ở Khoản 2, Khoản 3 của Điều 33 còn có thêm các quy định xử lý kỷ luật ở mức cảnh cáo hoặc cách chức, khai trừ khỏi Đảng đối với những trường hợp tái phạm, vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Mặt khác, quan điểm xử lý của Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự, không "xử lý nội bộ"; bị tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì phải khai trừ. Kỷ luật Đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử lý của pháp luật. Với tinh thần đó, đảng viên vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh hơn cả công dân bình thường. Song những người thiếu thiện chí đã cố tình cắt ghép các văn bản, xuyên tạc kỷ luật của Đảng. Tương tự, với vụ án nâng điểm tại kỳ thi THPT quốc gia xảy ra ở một địa phương, như: Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang, Lạng Sơn. Đây là những vụ án phức tạp đã và đang được các cơ quan pháp luật điều tra, khởi tố, xử lý nghiêm minh. Việc công bố danh tính các đối tượng liên quan một phần phụ thuộc quan trọng vào kết quả quá trình điều tra và tuân thủ các quy định của pháp luật. Thế nhưng, lợi dụng sự bức xúc của xã hội, nhiều đối tượng xuyên tạc, bóp méo và cho rằng có sự bao che cho tội phạm. Nhạc sĩ T.K, người gần đây có nhiều bài viết với quan điểm lệch lạc trên một số đài báo hải ngoại đã trắng trợn suy diễn rằng việc nâng điểm chủ yếu xảy ra đối với các đối tượng thi vào ngành công an. T.K hồ đồ lập luận rằng đó là việc “tìm kiếm sự an toàn và bảo đảm sống còn trong một xã hội ngày càng lộ rõ hình thức công an trị” rồi lái sang vấn đề nhân quyền, cho rằng vừa qua Hoa Kỳ chính thức cáo buộc Việt Nam duy trì chế độ “công an trị”. Đây là lập luận bóp méo, xuyên tạc hết sức nguy hiểm.

KHÔNG ĐỂ BỊ ĐÁNH LỪA

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin là người đưa ra định nghĩa pháp chế vô sản, là nền tảng lý luận cho chúng ta xây dựng nền pháp chế XHCN ngày nay. V.I.Lênin viết: “Tính nghiêm minh của pháp luật hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng, mà ở chỗ phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt”. Kế thừa tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chú trọng xây dựng nền pháp chế XHCN ở nước ta. Đó là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị-xã hội, trong đó tất cả cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang, nhân viên Nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích của tập thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. Trong bài viết về đạo đức công dân, tiêu chuẩn đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra là: “Tuân thủ pháp luật của nhà nước”. Điều đó vẫn còn nguyên tính thời sự khi chúng ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền, đòi hỏi mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh và thượng tôn pháp luật. Trong nền pháp chế ấy, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự của chúng ta cũng ngày càng hoàn thiện, mọi vụ án hình sự đều phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật. Vì vậy, việc xuyên tạc, bóp méo, bẻ lái các vụ việc đơn lẻ thành những vấn đề chính trị, đao to búa lớn để chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ chế độ XHCN thực chất chính là hành vi sai trái cả về pháp lý và đạo lý, cần phải được ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Đây là những thủ đoạn nham hiểm mà chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, làm thất bại. Đối với chính quyền và các cơ quan pháp luật, việc xử lý nghiêm minh, công khai và thông tin đầy đủ, kịp thời về các vụ án hình sự, nhất là các vụ án tham nhũng, tiêu cực được dư luận quan tâm sẽ là vũ khí mạnh mẽ đẩy lùi mọi thông tin xuyên tạc. Đối với mỗi người dân, sự quan tâm đến tình hình thời cuộc, đến các vụ án hình sự là chính đáng nhưng phải dựa trên cơ sở thông tin chính xác, khoa học, đồng thời phải tỉnh táo, tránh bị lôi kéo, kích động, đánh lừa bởi thông tin giả, bởi những âm mưu đen tối.

TỪ ĐỔ CHO GEN HỆ THỐNG, LỖI THỂ CHẾ

Mới đây, nhân việc cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án hình sự một doanh nghiệp tư nhân, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam, khám xét với một chủ doanh nghiệp để điều tra về tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015, đã xuất hiện khá nhiều thông tin suy diễn, đồn đoán theo kiểu “thầy bói xem voi” về sự việc. Dù đây chỉ là một vụ án hình sự được thông tin khá rõ ràng, đầy đủ trên báo chí nhưng “lại được” một số phần tử đơm đặt thành vấn đề chính trị. Họ gán ghép vụ án bị khởi tố với nhiều thông tin mang tính cóp nhặt rồi đồn đoán rằng: Đây là những dấu hiệu của việc thanh trừng nội bộ trước Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; và sẽ có nhiều “củi vào lò”. Một số trang báo hải ngoại, vẫn với cái nhìn lệch lạc về Việt Nam đã có bài viết xuyên tạc bản chất nền kinh tế thị trường định hướng XHCN khi cho rằng, ở Việt Nam, muốn làm giàu phải được “bảo kê” và khi sinh mệnh chính trị của người bảo kê bị lung lay thì số phận của doanh nghiệp cũng rất mong manh. Nhiều bài viết trên mạng xã hội chuyển sang suy diễn, xuyên tạc rằng nhiều doanh nghiệp được “nuôi béo đã tới lúc làm thịt”, do ăn chia với các quan chức bảo kê không sòng phẳng, nên bị trả đũa, rồi đây là “cạnh tranh giữa các nhóm quan chức đang bảo kê với nhau…”. Đó chỉ là những suy diễn lung tung, hoàn toàn trái ngược với thực tế xử lý các vụ án hình sự luôn hết sức chặt chẽ, đúng người đúng tội. Một vụ án hình sự khác được dư luận quan tâm là vụ Nguyễn Hữu Linh (61 tuổi) luật sư Đoàn luật sư Đà Nẵng, nguyên Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân TP Đà Nẵng đã bị khởi tố về hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015. Đây là sự việc gây bức xúc dư luận xã hội và đã được cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố theo các quy định tố tụng hình sự. Song lợi dụng vụ việc này, nhiều đối tượng cực đoan đã bẻ lái vấn đề sang xuyên tạc hệ thống tư pháp và chế độ XHCN ở Việt Nam. Trang facebook mang tên Phạm Hưng Ngọc, xưng là người hoạt động tại doanh nghiệp bán sản phẩm Trà Xuân cùng một số facebooker đã có nhiều bài viết thổi phồng sự việc khi đòi tẩy chay không ít thương hiệu vì dùng hình ảnh ca sĩ quảng cáo đã từng chụp ảnh chung với nghi phạm dâm ô. Chưa dừng ở đó, họ còn chính trị hóa vụ án, cho rằng, lực cản chống xâm hại tình dục đã trở thành một nguyên do chính trị, xếp ngang hàng với Formosa là do lỗi hệ thống chế độ, “mềm trên biển” là vì ràng buộc xuất phát từ liên hệ giữa hai đảng, bất công xã hội là hệ quả của đặc quyền dành cho đảng viên. Từ đó, facebook mang tên Phạm Hưng Ngọc kêu gọi phải có một thể chế dân chủ, để “gọi điện cho dân biểu, rồi kêu gọi người khác cùng làm như thế và đưa sự việc ra… Quốc hội, v.v và v.v... Từ kiểu suy diễn này, họ chuyển sang công kích Quốc hội chỉ là “chiếc áo choàng dân chủ”...