Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

"ĐÚNG VAI, THUỘC BÀI" VÀ "ĐÚNG VAI, NHƯNG KHÔNG THUỘC BÀI"

     Trong các cuộc làm việc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường nhắc nhở mỗi cơ quan, đơn vị, các cá nhân, trên cương vị công tác, lĩnh vực phụ trách của mình khi thực hiện nhiệm vụ cần chú ý sao cho “đúng vai, thuộc bài”. Câu nói khái quát ấy được người lãnh đạo cao nhất của Đảng dùng trong mỗi hoàn cảnh, với các đối tượng khác nhau, có ý nghĩa đúc kết, hướng dẫn mỗi người trong suy nghĩ và hành động để thực hiện nhiệm vụ tốt hơn. Tư tưởng ấy đang được lan tỏa, nhân rộng và trở thành điều nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên khi thực hiện nhiệm vụ của mình.

“Đúng vai, thuộc bài” chính là mỗi cá nhân, tập thể khi thực hiện nhiệm vụ chính trị cần làm đúng chức năng và nhiệm vụ của mình; nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc, quy chế hoạt động thuộc lĩnh vực của mình; không làm việc “lấn sang sân” của người khác, trong khi việc chính của mình lại không làm hoặc làm chưa tốt. Trong thực tế, đâu đó có những cơ quan, đơn vị chưa quan tâm thực hiện tốt điều này; từ đó, dẫn đến một số tình huống làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị.
“Diễn đúng vai nhưng không thuộc bài” - được chăng hay chớ, buông bỏ nhiệm vụ. Trong trường hợp này, người đảm nhận sẽ rơi vào tình trạng thực hiện không đúng, không đầy đủ chức trách, nhiệm vụ được giao, vì thế kết quả, hiệu quả công việc sẽ không đáp ứng được yêu cầu đề ra. Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, về khách quan, xuất phát từ trách nhiệm của cơ quan quản lý, có thể sự phân công nhiệm vụ cho cá nhân đó không chính xác, không căn cứ vào năng lực, sở trường của cá nhân để giao việc, khiến cho cá nhân đó không thể nào hoàn thành yêu cầu nhiệm vụ; về chủ quan, điều này xuất phát từ thái độ trách nhiệm của cá nhân với nhiệm vụ được giao, mặc dù có đầy đủ mọi yếu tố cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ, nhưng vì suy nghĩ cá nhân, bởi những đắn đo, cân nhắc thiệt hơn nên đã không thực hiện đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ đề ra hoặc thực hiện nhiệm vụ với thái độ hời hợt, mang tính đối phó, thể hiện sự qua loa, tắc trách trong công việc.
Trong thực tế, nguyên nhân chủ quan của việc “Diễn đúng vai nhưng không thuộc bài” hay gặp hơn, bởi sự chi phối của chủ nghĩa cá nhân trong bản thân mỗi con người - điều rất dễ nảy sinh nếu không có sự nghiêm khắc của bản thân mỗi người trong rèn luyện, tu dưỡng cũng như thiếu sự theo dõi, phê phán, giúp đỡ của tập thể. Chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người gây nguy hại rất lớn cho kết quả thực hiện nhiệm vụ chung, bởi nó tác động tiêu cực tới thái độ, trách nhiệm của cá nhân đó trong thực hiện nhiệm vụ. Xét đến cùng, đây cũng là một trong những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong suy nghĩ và hành động của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
    Không thuộc bài nhưng vẫn vào vai” - trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Trong trường hợp này, cá nhân mặc dù rất nhiệt tình thực hiện nhiệm vụ, nhưng bởi không được đào tạo phù hợp, chuẩn bị cho vị trí công tác đó, nên thực hiện nhiệm vụ theo cách mà V.I. Lê-nin nói, đó là lòng nhiệt tình cộng với sự ngu dốt sẽ dẫn đến kết quả là sự phá hoại. Trên thực tế, trường hợp “Không thuộc bài nhưng vẫn vào vai” có thể coi là hãn hữu, bởi hiện nay những quy định về tuyển dụng, bổ nhiệm đã tương đối đầy đủ, chặt chẽ. Do đó, trường hợp này chỉ có thể xảy ra với khả năng là, năng lực, chất lượng và hình thức đào tạo của bằng cấp không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, nhưng vẫn được bố trí, sắp xếp công việc; hoặc bởi những tiêu cực nào đó trong công tác cán bộ.
“Đúng vai, thuộc bài” là yếu tố quyết định chất lượng, hiệu quả công việc của mỗi cá nhân, tập thể. Muốn vậy, các bộ phận, cá nhân có trách nhiệm cần làm tốt việc đào tạo, bố trí, giúp đỡ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, các bộ phận chức năng, cấp ủy, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị cần quan tâm thực hiện việc đánh giá chất lượng, hiệu quả công việc của mỗi cá nhân một cách thực chất gắn với vị trí việc làm; phát huy tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình trong cơ quan, đơn vị, ở đội ngũ đảng viên để giúp đỡ mỗi cá nhân nâng cao thái độ trách nhiệm với công việc; cùng với sự tự giác rèn luyện của mỗi cá nhân, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị./.

Tinh thần đoàn kết và sức dân là vũ khí tối tân nhất, sắc bén nhất

 Để có thể ngăn chặn dịch bệnh một cách lâu dài, bền vững thì chúng ta phải miễn nhiễm với virus SARS-CoV-2 và vaccine chính là “tấm khiên mạnh mẽ nhất” chống lại virus SARS-CoV-2 với những biến thể ngày càng khó lường.

Hiện Việt Nam mới chỉ tiêm được cho hơn 1% dân số. Chúng ta đang cần rất nhiều vaccine và nhu cầu được tiêm vaccine để phòng dịch thực tế đang rất lớn. Việc tiêm vaccine không chỉ là nhu cầu mà còn là trách nhiệm của mỗi người, để giữ cho mình an toàn, từ đó giúp người khác an toàn trước đại dịch Covid-19.

Hiểu được vaccine chính là cánh cửa an toàn trước đại dịch, trong những ngày qua, kể từ khi Quỹ vaccine phòng chống Covid-19 được Thủ tướng ký thành lập, không chỉ doanh nghiệp, địa phương mà rất nhiều cá nhân, từ thành thị tới nông thôn, đồng bằng đến miền núi, từ doanh nhân đến những người buôn bán nhỏ, cựu chiến binh, người già về hưu, các em nhỏ, học sinh, sinh viên… kể cả nhiều người cuộc sống vẫn còn khó khăn … đã nhiệt tình hưởng ứng và ủng hộ, đóng góp vào Quỹ.

Phong trào góp Quỹ mua vaccine đang được loan tỏa khắp làng xóm, khu phố, và nhà nhà. Em bé dành tiền ăn sáng, người cao tuổi sẵn sàng dành tiền lương hưu, người lao động và sinh viên đóng góp những phần tiền bỏ ống, công nhân cũng có cách đóng góp riêng dù đang trong giai đoạn thắt ngặt, chi tiêu chắt bóp.

Hàng trăm doanh nghiệp mặc dù phải đối mặt với khó khăn do tác động dịch bệnh nhưng vẫn tích cực đóng góp cho Quỹ. Xúc động vô cùng khi nhiều doanh nghiệp đã nói rằng muốn được thể hiện tấm lòng với Nhân dân, với Nhà nước, đóng góp cho Quỹ để lo cho nhân dân, còn việc tiêm cho nhân viên của mình sẵn sàng trả phí để đơn giản là có nhiều tiền hơn để Nhà nước lo cho Nhân dân.

Kiều bào đang sinh sống tại các nước phương Tây và Châu Âu cũng chung tay, góp sức cùng quê hương, chuyền khoản và nhờ người thân ủng hộ góp vào Quỹ vaccine cho người dân của mình. Mùa dịch, nhiều người khó khăn nhưng vẫn gửi tiền về ủng hộ – đó là cả tấm lòng, thậm chí là mỗi ngày “tiết kiệm” bỏ bớt một bữa ăn để gửi tấm lòng về quê hương, đất nước.

Bỏ qua những khó khăn của cá nhân, tất cả mọi người góp vào Quỹ vaccin đều cùng có chung nguyện vọng, gửi gắm ước mong: để người dân cả nước, người dân vùng sâu, vùng xa, người dân có hoàn cảnh khó khăn đều được tiêm vaccine, để Việt Nam sớm chiến thắng Covid-19.


Độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế

     Một là, độc lập, tự chủ không phải là biệt lập, cô lập với thế giới bên ngoài, không đứng ngoài hôi nhập quốc tế. Độc lập, tự chủ thể hiện chủ quyền, quyền tự quyết, tự lựa chọn con đường phát triển, tự quyết định mô hình phát triển của quốc gia, dân tộc. Tự chủ là năng lực thực hiện chủ quyền, tức là thực hiện quyền tự quyết dân tộc trên thực tế. Độc lập, tự chủ bao gồm độc lập, tự chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,v.v.. Do đó, không có độc lập, tự chủ thì không thể nói tới hội nhập quốc tế chứ chưa nói tới chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

    Hai là, độc lập, tự chủ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ với hội nhập quốc tế. Có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong việc tự quyết định lộ trình, bước đi, cách thức, nội dung, biện pháp, đối tác, lĩnh vực,v.v.. hội nhập quốc tế. Qua hơn 30 năm đổi mới cho thấy, đường lối độc lập, tự chủ của Đảng đã định hướng đúng cho tiến trình hội nhập từ việc lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, xác định lộ trình hội nhập phù hợp... Ban đầu, chúng ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, sau đó cùng với hội nhập kinh tế, đã từng bước hội nhập toàn diện vào khu vực và quốc tế. Do vậy, quan hệ đối ngoại của nước ta được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần tạo ra thế và lực mới của đất nước. Quan điểm và chính sách kiên trì độc lập, tựchủ của Đảng ta luôn luôn được cụ thể hóa, bổ sung và phát triển theo sự chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế. Điều đó đã mở đường cho quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, phục vụ thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

     Ba là, có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong lựa chọn, đề xuất các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu. hạn chế tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực trong quá trình hội nhập quốc tế. Có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong phân tích, xử lý thông tin để có những giải pháp thiết thực, đồng bộ, hữu hiệu trước sự thay đổi mau lẹ của tình hình thế giới và khu vực, mới chủ động, tích cực trong hội nhập quốc tế.

    Bốn là, độc lập, tự chủ là cơ sở để tận dụng nhiều cơ hội to lớn, đồng thời hạn chế tối đa những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước vừa, nhỏ, đang phát triển như Việt Nam do quá trình trình toàn cầu hóa gây ra. Để thích ứng với tiến trình toàn cầu hóa, tận dụng được những cơ hội vàng do toàn cầu hóa đem lại, ngăn ngừa và khắc phục những thách thức do toàn cầu hóa gây ra thì các quốc gia phải chủ động, độc lập, tự chủ và nỗ lực cùng nhau hợp tác không phân biệt giàu nghèo, to nhỏ. Nhưng sự hợp tác đó phải trên tinh thần bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng luật pháp quốc tế. Do vậy, các quốc gia, dân tộc chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ thì mới có hiệu quả. 

      Năm là, độc lập, tự chủ sẽ là cơ sở, điều kiện để nước ta chủ động phát huy được lợi thế so sánh của mình trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm từng bước phát triển. Chẳng hạn, chúng ta có lợi thế về các sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, may mặc, giày da,v.v.. Chúng ta chỉ có thể xuất khẩu được những mặt hàng có lợi thế so sánh này khi hội nhập đầy đủ và sâu rộng vào kinh tế quốc tế. Nhưng nếu không độc lập, tự chủ thì lợi thế so sánh trong hội nhập sẽ bị các nước lớn mạnh lái theo ý họ. Có độc lập, tự chủ thì mới cân đối được, làm chủ được quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu, tránh nhập siêu quá giới hạn cho phép của nền kinh tế. Có độc lập, tự chủ chúng ta mới thúc đẩy cho kinh tế du lịch phát triển, lôi cuốn, kêu gọi được khách quốc tế đến tham quan, du lịch, làm ăn tại nước ta. Đây cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển.

Tác phẩm “Đường Kách mệnh” được phát hành ở Italy

 

Theo phóng viên TTXVN tại Rome, tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đây đã được dịch sang tiếng Italy và lưu hành rộng rãi ở đất nước “hình chiếc ủng” xinh đẹp.


Tác phẩm Đường Kách mệnh bằng tiếng Italy.

Bản dịch tác phẩm “Đường Kách mệnh” (La Via Della Rivoluzione) do nhà xuất bản Anteo Edizioni phối hợp với Lãnh sự danh dự Việt Nam tại Turin, bà Sandra Scagliotti cùng Hội Hữu nghị Italy-Việt Nam thực hiện và phát hành. 

Trong phần lời tựa, bà Scagliotti, người đảm nhận công việc biên tập tiếng Italy, đánh giá tác phẩm "Đường Kách mệnh" đóng một vai trò nền tảng trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin ở Việt Nam và có giá trị rất lớn cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.

Cũng theo bà Scagliotti, việc phát hành tác phẩm “Đường Kách mệnh” bằng tiếng Italy sẽ giúp người dân Italy hiểu hơn về đất nước cũng như lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, tác phẩm còn giúp thu hẹp khoảng cách giữa Italy so với các nước châu Âu khác trong lĩnh vực nghiên cứu và tìm hiểu về Việt Nam.

Trong phần giới thiệu cuốn sách, Chủ tịch Hội Hữu nghị Italy-Việt Nam, ông Fausto Cò nhấn mạnh tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết bằng ngôn ngữ rất súc tích, ngắn gọn và dễ hiểu. 

Sách "Đường kách mệnh" được công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012,
hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn cuốn sách của Người phải trở nên “dễ hiểu và dễ nhớ” để “đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh". Văn chương và hy vọng của sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!”

Theo ông Fausto Cò, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm căn bản cho công cuộc biến đổi xã hội, đó là: tính quần chúng, sự đoàn kết hành động và ý thức tập thể.

Trao đổi với phóng viên TTXVN thường trú tại Italy, Giám đốc nhà xuất bản Anteo Edizioni, ông Stefano Bonilauri đánh giá cuốn “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm quý giá xét trên quan điểm lịch sử và văn hóa, chắc chắn sẽ thu hút được sự quan tâm rộng rãi của công chúng Italy. Ông Stefano cho biết trong thời gian tới, Anteo Edizioni sẽ tiếp tục cho ra đời nhiều ấn phẩm khác về Việt Nam nhằm giới thiệu, quảng bá đất nước “Việt Nam tươi đẹp” đến với người dân Italy.

 Anteo Edizioni chuyên xuất bản và phát hành các ấn phẩm về lịch sử, địa chính trị, địa kinh tế, địa lý nhân văn cũng như khoa học chiến lược nói chung, nhằm khuyến khích, thúc đẩy những chủ đề tiến bộ nhất trên thế giới.

Mai Năm Mới (Theo TTXVN)

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

Sự thật của kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đập tan luận điệu xấu của địch

 


Hiện nay, cả nước đã hoàn thành cuộc bỏ phiếu bầu ra người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của mình. Tỷ lệ đi bầu cử rất cao đã tạo nên sự thành công của kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Điều đó cho thấy sự đồng lòng, nhất trí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị hướng về ngày hội non sông.

Kết quả trên đã đập tan mưu đồ chống phá của những kẻ phản động, bất mãn, trước ngày bầu cử đã liên tục tung tin bịa đặt “việc bầu cử là hình thức”, “kết quả đã được dàn xếp”, "nhiều cử tri không quan tâm bầu cử và sẽ không đi bầu", rồi xuyên tạc, nói xấu các ứng cử viên, kêu gọi, kích động cử tri “không biết, không bầu”, “bỏ hết, lấy cả”... Chúng đã tạo nên một “chiến dịch truyền thông bẩn" trên internet và mạng xã hội nhằm phá hoại cuộc bầu cử của nước ta.

Nhưng kết quả là: Những luận điệu thù địch, phản động đó đã được tuyệt đại đa số cử tri và nhân dân Việt Nam nhận rõ. Cử tri cả nước thuộc đủ các thành phần, vùng miền, dân tộc, tôn giáo đã đề cao trách nhiệm tham gia bỏ phiếu để bầu những người tiêu biểu nhất đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình. Với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu rất cao dù trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19, không khí ngày hội bầu cử vui tươi, sôi nổi, bảo đảm an toàn... đã một lần nữa vạch mặt những kẻ chống phá và các thế lực thù địch. Qua đó, nhân dân càng hiểu bộ mặt thật và âm mưu xấu bẩn của chúng hòng chống phá Việt Nam, làm nhiễu loạn xã hội và cuộc sống bình yên của nhân dân.

 

Một số luận điệu phản động về bản chất giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam

 


Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đúng đắn nhưng chỉ đúng trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)…, nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin không còn phù hợp nữa; trong nền sản xuất hiện đại, việc sử dụng rô-bốt (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự động hóa, việc sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa; theo đó, nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, mà đó là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại (?!)…

Đồng thời  các thế lực thù địch ra sức chứng minh rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển hiện nay. Họ xảo biện rằng, nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “Người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình?... Từ đó cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến,…, nên giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (?!).

Họ ngụy biện rằng, giai cấp công nhân đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc tế, thời kỳ của các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, vai trò đó phải thuộc về đội ngũ trí thức, những nhà khoa học, nhà tư tưởng. Chỉ có những nhà khoa học, trí thức mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh được. Rằng, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung” và theo tự nhiên, nhà nước tư bản sẽ dần “tiệm tiến” lên nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa (?!)…

Đó là một số trong vô vàn những luận điệu xuyên tạc, mị dân, phản động của “chủ nghĩa chống cộng” và các thế lực thù địch về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Vậy hiển nhiên, sự thật là, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do điều kiện khách quan quy định, không phải do bất kỳ lý do nào khác. Giai cấp công nhân chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

Mưu đồ của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội là ra sức tấn công vào nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản, nhằm thay thế bằng tư tưởng của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Những luận điệu trên là hết sức phản động, phục vụ cho ý đồ đen tối đó và chúng cố tình không nhận ra rằng, dưới tác động của hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu thành phần và ngành, nghề, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, hình thành tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại, vì thế, họ có nhiều cơ hội việc làm và đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện.

Sự điều chỉnh, thích nghi đã làm cho chủ nghĩa tư bản tạm thời chiếm ưu thế; giai cấp công nhân ở các nước tư bản đã có mức sống tốt hơn do năng suất lao động ngày càng cao và bởi sự đấu tranh của tổ chức công đoàn những nơi này đã mang lại lợi ích cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới, hoàn toàn không phải là sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản và càng không làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản không hề giảm đi, mà ngày càng trầm trọng, gay gắt thêm. Trong xã hội tư bản, số người giàu “chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”(9). Điển hình là phong trào chiếm phố Wall ở Mỹ năm 2017; biểu tình chống phân biệt chủng tộc cuối tháng 5, đầu tháng 6-2020 ở Mỹ… Những điều đó là hệ quả của sự phân cực giàu nghèo, phân biệt đối xử… do sự thống trị của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.

Về vai trò của tổ chức công đoàn, các thế lực phản động xuyên tạc trắng trợn rằng, công đoàn hiện nay không còn phát huy vai trò là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động; hoạt động của tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mang tính hình thức, không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông chủ; họ cũng chỉ là người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và thậm chí, có thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp (?!)...

Sự thật là, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật Công đoàn Việt Nam. Luật Công đoàn Việt Nam chỉ rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp thực sự hiệu quả; các tổ chức này luôn đóng vai trò là điểm tựa, động viên, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp, khuyến khích người lao động hăng say lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và là lực lượng nòng cốt trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thông qua nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, tổ chức công đoàn giúp cho công nhân hiểu biết về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất và công tác; thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng tạo; đồng thời, tuyên truyền trong công nhân, viên chức, người lao động về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, người lao động để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết; đồng thời, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức công đoàn trong công nhân, viên chức, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài…

Do đó, những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch là hòng che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản hoặc tìm cách xóa nhòa ranh giới giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học và thực tiễn.

 

Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và xã hội.

     Tuyệt đại đa số nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm là đội tiên phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải pháp thư tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

     Quan điểm cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước" là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán, thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh", xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân./.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp.

     Trên thế giới, việc quy định về đảng chính trị trong Hiến pháp mang tính phổ biến. Chẳng hạn: Hiến pháp của các nước: Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc có 01 điều; Hiến pháp của các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Ba Lan có 02 điều; Hiến pháp Udơbêkixtan có 03 điều,… quy định về đảng chính trị[7].

    Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 01 điều quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội"[8], là phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay, không phải là cá biệt.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam"[9]. Điều lệ Đảng quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy".

    Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng "đơn phương" quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác ở Việt Nam.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là cần thiết, tất yếu, khách quan.

     Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản. Nhưng muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có "đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong" để lãnh đạo. Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản, - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. Các ông đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph. Ăngghen cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu giai cấp.

    Kết thừa tư tưởng trên đây của Mác - Ăngghen, V.I. Lênin khẳng định: "Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa"[2]. Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới. V.I. Lênin cũng chỉ rõ: "Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội"[3]. Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại"[4].

    Sự ra đời của một Đảng Cách mạng chân chính là hết sức cần thiết. Giải đáp vấn đề "Cách mệnh trước hết phải có cái gì?",Hồ Chí Minh chỉ rõ "trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy"[5].Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930) là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. "Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng".

Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn đấu của Người là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó cũng chính là mục tiêu tổng quát theo cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng chính là khát vọng, mong muốn cháy bỏng mà Hồ Chí Minh hy sinh cả cuộc đời mình để phấn đấu vươn tới: xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của thế giới.

Mai Năm Mới

Nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.

     Thực tiễn cho thấy, cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và dân tộc trên mặt trận tư tưởng- chính trị và cả ngay trong nội bộ Đảng diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp, nhạy cảm, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hệ tư tưởng - lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng luôn gắn liền với việc bảo vệ các giá trị lợi ích chân chính của quốc gia, dân tộc. Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn, phương thức, hình thức rất tinh vi xảo quyệt, lúc công khai trắng trợn, lúc ngấm ngầm, âm thầm, thậm chí cũng được che đậy dưới nhiều hình thức, núp dưới những vỏ bọc, danh nghĩa, chiêu bài tinh vi. Vì vậy, phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm chính trị, bản lĩnh và lập trường giai cấp; kiên định cuộc đấu tranh, gắn việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Kịp thời phát hiện và khắc phục những yếu kém, lạc hậu trong công tác tư tưởng- lý luận. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu đặt ra đối với mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng.

    Trên mặt trận tư tưởng - chính trị, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức những đợt tấn công với quy mô lớn, cường độ cao, có tổ chức chặt chẽ, câu kết trong ngoài nhằm chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hòng thực ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị, tác động thay đổi tư tưởng, tâm lý, làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành “lực lượng chính trị đối lập ở bên trong”, làm ngòi nổ lật đổ, xóa bỏ chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam…Do đó, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn liền với việc không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội, đề cao trách nhiệm và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI và khóa XII để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong nội bộ, hạn chế đến mức thấp những nhân tố bất ổn từ bên trong.

KHÁT VỌNG VIỆT NAM

Đại hội XIII cuả Đảng thành công rất tốt đẹp và Đại hội đã xác định những nhiệm vụ, những khâu đột phá, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, hướng tầm nhìn tới giữa thế kỷ XXI (2045), đưa nước ta trở thành một nước phát triển, thực hiện khát vọng Việt Nam - một Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, dân tộc Việt Nam cường thịnh, sánh vai cùng các nước năm châu như Hồ Chí Minh hằng mong muốn từ những ngày đầu xây dựng chính thể cộng hòa dân chủ ở nước ta, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Khát vọng Việt Nam của Hồ Chí Minh là: Khát vọng giải phóng, giải phóng dân tộc ta ra khỏi tình cảnh bị áp bức, bóc lột, đọa đầy bởi đế quốc thực dân, làm cho Tổ quốc độc lập và thống nhất, có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân ta từ nô lệ tới tự do, ở địa vị người làm chủ và làm chủ, tự quyết định vận mệnh cuộc sống và tương lai phát triển của mình. Khát vọng đó của Người là mãnh liệt, phải “độc lập thực sự”, “tự do thực sự”, do đó, “thà hy sinh tất cả quyết không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó còn là khát vọng phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, lựa chọn con đường phát triển: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, để thực hiện khát vọng đó, mấu chốt là vấn đề con người, bởi nhân tố con người là quyết định. Mắt khâu xung yếu trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam là phải có đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, thực đức, thực tài, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Họ phải đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt và thúc đẩy cả cộng đồng dân tộc tiếp tục đổi mới sáng tạo, tận dụng thời cơ và vượt qua thách thức trên con đường phát triển, thực sự tiêu biểu cho tinh hoa của Đảng, của dân tộc để thực hiện khát vọng Việt Nam.

Như vậy, khát vọng Việt Nam trong đổi mới, hội nhập quốc tế là khát vọng của Đất nước - Dân tộc và Con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Khát vọng ấy hòa hợp Ý Đảng - Lòng Dân, trở thành phép nước, thống nhất lý tưởng, mục tiêu, đồng tâm nhất trí trong hành động để thực hiện.

Mai Năm Mới

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (KTNN) là vấn đề căn cốt quy định bản chất chủ nghĩa xã hội (CNXH) của nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là điều không thể xuyên tạc, phủ nhận. Quan niệm phát triển nền KTTT định hướng XHCN là “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(1). Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó KTNN giữ vai trò chủ đạo, v.v.. Thực tiễn 35 năm đổi mới đã chứng minh, phát huy vai trò chủ đạo của KTNN góp phần quan trọng thúc đẩy “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện”(2). Không thừa nhận thành tựu trên, các thế lực thù phản động, cơ hội chính trị ra sức truyên truyền xuyên tạc vai trò chủ đạo của KTNN, nhằm phủ nhận bản chất của nền KTTT định hướng XHCN và coi đây là trọng điểm chống phá đường lối đổi mới kinh tế của Đảng nói chung và thành công của Đại hội XIII nói riêng. Núp bóng danh nghĩa “chuyên gia kinh tế”, “doanh nhân thành đạt”, “đại diện hợp pháp”… của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và triệt để lợi dụng hạn chế, yếu kém của một số doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong sản xuất kinh doanh, chúng đưa ra những luận điệu, như: KTNN giữ vai trò chủ đạo sẽ thủ tiêu cạnh tranh, phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế khác; sự thể hiện vai trò chủ đạo của KTNN đối với nền kinh tế là mơ hồ, thiếu thực tế; cần giải thể các doanh nghiệp, tập đoàn KTNN vì sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí lớn, v.v.. Qua đó, tạo tâm lý hoài nghi, gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, cùng mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc ta.

Chăm lo “cái gốc” cho Đảng

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII đó là: Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém". Thực tiễn cách mạng đã minh chứng, trong bất cứ thời kỳ nào, ở bất kỳ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ cũng đóng vai trò quyết định. Cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng nước ta. Trong tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng cán bộ và công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử. Qua các kỳ đại hội và hội nghị Trung ương, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ luôn được Đảng ta đề cập. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyết định, quy định, kết luận, báo cáo... liên quan đến vấn đề cán bộ nói chung và vấn đề cán bộ của một số ngành, cơ quan, lĩnh vực cụ thể nói riêng. Có thể khẳng định: Chính nhờ sự đóng góp của đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực mà chúng ta đã đạt được thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới trong 35 năm qua... Đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức tự chủ, tự lực tự cường, năng động và sáng tạo; có kiến thức, trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn, trưởng thành trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, thích nghi dần với cơ chế mới... Trong những năm gần đây, trước những biến chuyển nhanh chóng của thời cuộc, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ được Đảng ta tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XII: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được Đảng ta tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ các cấp, gắn với tiêu chuẩn chức danh và quy hoạch cán bộ được quan tâm, chú trọng và đầu tư tương xứng. Công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” về xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ thời gian qua còn những hạn chế, báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa đủ uy tín. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp. Nhiều nơi còn tình trạng nể nang, chưa chỉ rõ những cán bộ có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực. HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG CỦA DÂN TỘC Mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Thực hiện mục tiêu trên, Đảng ta đề ra những chủ trương, giải pháp mang tính toàn diện, đồng bộ nhưng mắt xích quan trọng là phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Liên quan đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cố gắng xem xét một cách tổng thể, sắp xếp hợp lý nhất trong điều kiện có thể; căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ; cần chú trọng năng lực, sở trường, chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm công tác và chiều hướng phát triển; kết hợp yêu cầu trước mắt với bước chuẩn bị cho các khóa tiếp theo, bảo đảm tính kế thừa và phát triển”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nêu rõ: “Công tác nhân sự cần được tiến hành theo đúng các quy định của Đảng, quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, đúng với nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; đồng thời phù hợp với các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước”. Trước đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, hơn lúc nào hết, Đảng ta cần: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp. Coi trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả, sản phẩm thực tế theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đề cao trách nhiệm người đứng đầu... Có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung; kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chống chạy chức, chạy quyền. Không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài... Để những giải pháp trên phát huy hiệu quả, sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, Đảng ta cần làm thật tốt công tác kiểm tra, giám sát cán bộ ở bất kể vị trí nào. Nếu mỗi cấp ủy các cấp mà buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát thì cán bộ có chức, có quyền dễ rơi vào phóng túng, tự tung tự tác, lạm dụng quyền lực, làm những điều có hại cho Đảng. Thực tiễn thời gian qua, số vụ việc tham nhũng do nội bộ các cơ quan công quyền tự phát hiện thông qua tự kiểm tra, tự phê bình và phê bình hầu như không có. Hầu hết các vụ tham nhũng là do người dân và báo chí phản ánh, tố giác. Do vậy, chúng ta cần sớm khắc phục tình trạng này, nếu để kéo dài và phát triển thì sẽ dẫn tới nguy cơ không lường hết được. Mặt khác, phải thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nếu không rèn giũa, không chú ý bảo vệ chính trị nội bộ thì sẽ là cơ hội để những phần tử phản động, cơ hội chính trị leo cao, luồn sâu vào tổ chức Đảng. Điều quan trọng là mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu cần nêu cao tính trung thực; thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện, có trách nhiệm nêu gương trước Đảng, trước dân. Như đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ trong buổi làm việc với lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải mới đây đã khẳng định: Cán bộ phải quán triệt tốt nguyên tắc “3 không”: Không nói không, không nói khó và không nói có nhưng không làm và tinh thần “nghĩ phải chín, phải kỹ; tư tưởng phải thông; quyết tâm phải cao; nỗ lực phải lớn; hành động phải quyết liệt, hiệu quả; làm có trọng tâm, trọng điểm; làm việc nào thì dứt điểm việc đó”./.

NHỮNG THÔNG TIN LỆCH LẠC, XUYÊN TẠC

Lý do thành lập Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 đã được Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rất rõ trong bài phát biểu của mình và người Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế hiểu về Việt Nam đều nắm rõ. Vậy mà một số tờ báo nước ngoài lại đăng tin khiến người đọc có thể nghĩ sai về một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Tờ The Korea Times ở Hàn Quốc viện dẫn nguồn tin giấu tên nói rằng quỹ vaccine đẩy một số tập đoàn, công ty của nước này đang hoạt động ở Việt Nam vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Trong khi đó, với ngôn từ chua ngoa, thiếu hiểu biết, tờ The Sun ở Anh thì lu loa rằng Việt Nam gửi tin nhắn “xin” người dân góp tiền mua vaccine. Đó là những thông tin hoàn toàn lệch lạc, xúc phạm tới nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến chống COVID-19. Người Việt Nam có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe”. Việt Nam có gây khó cho doanh nghiệp nước ngoài khi thành lập Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 hay không? Xin khẳng định là không! Chẳng những thế, Việt Nam còn thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ để các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), vượt qua khó khăn. Nên nhớ rằng, theo Quyết định số 1210/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 9/2/2021, có 11 nhóm đối tượng được ưu tiên tiêm vaccine COVID-19 ngay khi vaccine về Việt Nam thì các công nhân thuộc nhóm đối tượng ở cuối (thứ 11 - người tại vùng dịch theo chỉ định dịch tễ). Trong khi nhiều đối tượng ở nhóm cao hơn như cán bộ quản lý, phóng viên, bộ đội, công an... rất nhiều người còn chưa được tiêm vaccine, song với quan điểm “bảo vệ thành trì của sản xuất”, ngay cả các doanh nghiệp không (hay chưa) tham gia quỹ vaccine, Việt Nam vẫn rất quan tâm, chủ động tiêm vaccine cho công nhân trong vùng dịch nguy hiểm. Từ ngày 28/5, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Giang đã tổ chức tiêm vaccine cho 600 công nhân trong tổng số hơn 3.000 cán bộ, công nhân Tập đoàn Khoa học kỹ thuật Hồng Hải (Foxconn) được ưu tiên tiêm vaccine đợt đầu. Ngay sau đó, từ ngày 1/6, Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh đã triển khai tiêm vaccine phòng COVID-19 cho 15.000 công nhân, người lao động tại Công ty Samsung Electronics Việt Nam - một công ty FDI của Hàn Quốc. Các báo Việt Nam cũng đăng tin rộng rãi rằng, theo kế hoạch ban đầu, tỉnh Bắc Ninh được phân cấp 28.000 liều vaccine, nhưng trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, đồng thời để bảo đảm thực hiện mục tiêu kép, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo tiêm vaccine cho công nhân và người lao động của các khu công nghiệp. Riêng Bắc Ninh đã được Bộ Y tế cấp bổ sung lên thành 150.000 liều vaccine, trong đó có 90.000 liều dành cho công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Như vậy, chưa cần nhờ đến sự đóng góp của các tập đoàn nước ngoài, Việt Nam đã sớm chủ động điều chỉnh chiến lược tiêm vaccine cho đối tượng là công nhân và người lao động ở các khu công nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp FDI cũng chẳng cần phải băn khoăn “tiến thoái lưỡng nan” nghĩ rằng nếu không đóng góp thì công nhân của họ không được tiêm vaccine hoặc họ bị gây khó dễ. Việc chủ động tiêm cho công nhân và người lao động trước khi Lễ phát động Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 diễn ra (5/6) là minh chứng rõ ràng.

TRUYỀN THỐNG CAO ĐẸP CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Việc thành lập Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị để huy động nguồn lực xã hội thực hiện công tác phòng, chống dịch. Ngay từ những ngày đầu, Việt Nam đã chủ trương “chống dịch như chống giặc”. Nói đến “đánh giặc” hay “chống giặc” ở đất nước đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh như Việt Nam thì ai cũng hiểu tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” hay “xe chưa qua, nhà không tiếc”... Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tổng kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn...”. Trong các cuộc kháng chiến, người dân Việt Nam đồng lòng, tự nguyện đóng góp vào “hũ gạo kháng chiến”, "tuần lễ vàng"... thì thời bình ngày nay, tinh thần ấy vẫn tiếp tục được phát huy. Hằng năm, rất nhiều loại quỹ được mọi tầng lớp nhân dân tự nguyện đóng góp, ủng hộ. Mỗi khi có thiên tai, tinh thần “nhường cơm sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách” lại được nhân lên gấp bội. Trở lại chuyện tờ báo của Anh đăng tin thất thiệt. Trong thời đại công nghệ thông tin, truyền thông phát triển như hiện nay, việc một chính phủ hay các tổ chức gửi tin nhắn tới người dân đã trở nên quá bình thường. Việt Nam có mô hình chống dịch COVID-19 thành công và được nhiều cơ quan báo chí quốc tế lớn đăng tin cũng một phần nhờ người dân được nhắc nhở chấp hành khuyến cáo “5K” qua tin nhắn và nhạc chờ điện thoại. Các tin nhắn nhắc công dân đi bầu cử, thực hiện dân chủ, quyền công dân hay các tin nhắn cảnh báo đề phòng lừa đảo trên mạng... vẫn được gửi tới mọi người dân khi cần. Do vậy, việc gửi thông điệp “5K + vaccine + công nghệ” hay kêu gọi đồng bào tự nguyện đóng góp cho Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 dịp này vừa có ý nghĩa nhắc nhở người dân về cuộc chiến "chống giặc" COVID-19 để tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng ngừa, vừa nhấn mạnh tầm quan trọng của vaccine, đồng thời thể hiện sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc Việt Nam. Có lẽ, nếu xem trực tiếp hình ảnh những học sinh tiết kiệm tiền ăn sáng, các cụ già dành dụm lương hưu, những phụ nữ tiết kiệm tiền chi tiêu... để đóng góp vào Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 trong ngày ra mắt quỹ sẽ khiến các phóng viên nước ngoài hiểu đúng về Việt Nam.

Thao tác lập dàn ý bài giới thiệu nghị quyết Đảng

Việc học nghị quyết chưa thu hút được sự quan tâm của cán bộ, đảng viên là một thực tế phổ biến ở nhiều nơi. Bài viết giới thiệu những lý thuyết cơ bản về nghị quyết Đảng, bài giới thiệu nghị quyết Đảng và những thao tác cốt lõi nhằm xây dựng dàn ý bài giới thiệu nghị quyết sao cho thu hút được sự chú ý của người nghe. Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng NGHỊ QUYẾT ĐẢNG VÀ BÀI GIỚI THIỆU NGHỊ QUYẾT ĐẢNG Nghị quyết là văn bản của một tổ chức, được thông qua trong đại hội hay hội nghị, sau khi thảo luận và quyết nghị về một hay nhiều vấn đề. Nội dung nghị quyết là xác định quan điểm, chủ trương, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp để giải quyết vấn đề đó trong thực tế. Nghị quyết của Đảng bao gồm Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương, Nghị quyết của Bộ Chính trị; gắn với các nghị quyết đó là các nghị quyết của Đại hội hoặc của cấp uỷ các cấp. Giới thiệu nghị quyết Đảng là một thể loại tuyên truyền miệng, thuộc phong cách chính luận, được viết ra để phổ biến nội dung và kết quả làm việc của một hội nghị trung ương nào đó của Đảng đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Giới thiệu nghị quyết là bài trình bày nghị quyết nhằm giải thích, phân tích nội dung, cơ sở lý luận, thực tiễn của các quan điểm lớn trong các nghị quyết của các cấp ủy Đảng, những giải pháp thực hiện các nhiệm vụ mà nghị quyết đề ra. Căn cứ vào đối tượng được phổ biến nghị quyết, bài giới thệu nghị quyết Đảng có thể chia thành các loại như sau: Bài giới thiệu nghị quyết dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên; Bài giới thiệu nghị quyết dành cho cán bộ, đảng viên cơ sở. Căn cứ vào cách thức tổ chức, việc giới thiệu nghị quyết của Đảng, nhất là các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng có hai hình thức: Thông báo nhanh kết quả của đại hội hay hội nghị; Học tập, nghiên cứu nội dung nghị quyết (quán triệt sâu). Đặc biệt với những nghị quyết có tính nhạy cảm thì chỉ có một loại tài liệu lưu ở văn phòng Trung ương Đảng và không phổ biến. Ví dụ như Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết này không in để phát hành. Để có được dàn ý tốt làm cơ sở vững chắc cho khâu trình bày, người giới thiệu nghị quyết cần tiến hành 5 thao tác: Nghiên cứu đặc điểm đối tượng; Xác định mục đích, nội dung; Sưu tầm, nghiên cứu, xử lý tài liệu; Lập dàn ý và Lựa chọn ngôn ngữ, văn phong. CHUẨN BỊ DÀN Ý BÀI GIỚI THIỆU NGHỊ QUYẾT ĐẢNG Thứ nhất, nghiên cứu đối tượng Để công tác tuyên truyền miệng hoạt động hiệu quả, báo cáo viên phải căn cứ vào người nghe thực tế mà xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, phương tiện tác động. Đối tượng khác nhau, nội dung, phương pháp, hình thức trình bày phải khác nhau. Do vậy, nghiên cứu đối tượng là công việc đầu tiên người nói phải tiến hành. Nghiên cứu đối tượng gồm những nội dung: Nghiên cứu đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu: các đặc điểm về thành phần xã hội, giai cấp, nghề nghiệp, học vấn, giới tính, tuổi tác,... của đối tượng; Nghiên cứu các đặc điểm về tư tưởng và tâm lý - xã hội: hệ thống các quan điểm, chính kiến, động cơ, khuôn mẫu tư duy, tâm trạng và trạng thái thể chất... của họ; Nghiên cứu về nhu cầu, thị hiếu thông tin; thái độ của người nghe đối với nguồn thông tin và nội dung thông tin; con đường, cách thức thỏa mãn nhu cầu thông tin của đối tượng. Trên cơ sở nghiên cứu về các đặc điểm này mà xác định mục đích, nội dung, phương pháp nói phù hợp. Đối tượng học Nghị quyết Đảng gồm cán bộ chủ chốt, báo cáo viên, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Mỗi nhóm khác nhau sẽ có nhu cầu thông tin khác nhau. Phải tìm hiểu kỹ để có căn cứ xây dựng dàn ý phù hợp. Nếu đối tượng học Nghị quyết là cán bộ chủ chốt thì đề cuơng cần xoáy sâu vào ‘quan điểm mục tiêu’, phân tích kỹ các căn cứ để xây dựng quan điểm. Nếu người nghe là báo cáo viên đòi hỏi dàn ý phải chi tiết các phần vì họ là những người nghe để đi truyền đạt lại, phổ biến sâu rộng Nghị quyết. Thứ hai, xác định mục đích, nội dung bài nói Hoạt động tuyên truyền có mục đích thông tin, cung cấp kiến thức mới, hình thành, củng cố niềm tin và cổ vũ tính tích cực xã hội của người nghe. Bài giới thiệu nghị quyết cũng đặt ra mục đích chung bao quát đó. Nhưng tùy theo đối tượng và nghị quyết cụ thể mà mức độ đạt mục đích chung cũng như từng mặt của mục đích đó có khác nhau. Căn cứ vào các nguồn lực thực tế như nguồn lực thời gian, nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất kỹ thuật để đặt ra mục đích phù hợp. Xác định mục đích có ý nghĩa định hướng đối với nội dung của bài phát biểu. Về nguyên tắc, nghị quyết có thể đề cập đến các lĩnh vực của đời sống xã hội: từ những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa đến những vấn đề khoa học, kỹ thuật, an ninh, quốc phòng, đối ngoại; từ những vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến các sự kiện đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội... Nhưng để tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, đạt mục đích tuyên truyền đặt ra, nội dung bài giới thiệu nghị quyết, phải đạt tới các yêu cầu sau: Một là, phải đảm bảo tính tư tưởng và tính chiến đấu. Hai là, phải mang đến cho người nghe những thông tin mới. Ba là, phải thiết thực, đáp ứng nhu cầu thông tin của một loại công chúng cụ thể. Bốn là, phải mang tính thời sự, tính cấp thiết, phản ánh những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống. Bài nói có thể chỉ đạt một trong ba hoặc cả ba mục đích nhưng nhất thiết phải đảm bảo đủ bốn yêu cầu về nội dung. Thứ ba, lựa chọn, nghiên cứu, sử dụng tài liệu Lựa chọn, thu thập tài liệu là một nhiệm vụ quan trọng vì nó là căn cứ để lựa chọn nội dung bài phát biểu và là yếu tố tạo ra chất lượng cho một buổi nói chuyện. Nguồn tài liệu quan trọng nhất mà báo cáo viên sử dụng để xây dựng dàn ý bài giới thiệu nghị quyết được lấy từ hội nghị báo cáo viên cấp trên, từ các tài liệu học tập nghị quyết do Ban Tuyên giáo Trung ương phát hành, từ phương tiện truyền thông đại chúng. Người làm công tác tuyên truyền miệng phải có kiến thức vững chắc và hệ thống về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, để trên cơ sở đó đánh giá, phân tích các sự kiện, hiện tượng được đề cập đến trong bài nói. Khi sử dụng các tài liệu mật, thông tin nội bộ cần xác định rõ vấn đề nào không được nói, hoặc chỉ được nói đến đối tượng nào. Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, cần thiết phải định hướng thông tin theo quan điểm của Đảng. Sử dụng tài liệu là một nghệ thuật. Nghệ thuật đó phụ thuộc vào năng lực, bản lĩnh nghề nghiệp của báo cáo viên. Cùng một lượng tài liệu như nhau, ai có phương pháp làm việc khoa học, đầu tư công phu và sáng tạo hơn sẽ có bài nói chất lượng cao hơn. Thứ tư, lập dàn ý bài giới thiệu nghị quyết Dàn ý bài giới thiệu nghị quyết là văn bản mà dựa vào đó báo cáo viên tiến hành buổi truyền đạt nghị quyết đến người nghe. Cần xây dựng nhiều phương án cho dàn ý, từ đó chọn phương án tối ưu. Phương án tối ưu là phương án phù hợp với một đối tượng công chúng cụ thể, xác định. Quá trình lập dàn ý có thể thay đổi, bổ sung, hoàn thiện dần từ thấp lên cao, từ dàn ý sơ bộ đến dàn ý chi tiết. Đối với những nghị quyết quan trọng, có phạm vi tác động lớn, phát biểu trước những đối tượng có trình độ cao, dàn ý được chuẩn bị càng chi tiết càng tốt. Dàn ý được kết cấu bởi ba phần: Phần mở đầu, phần chính và phần kết luận. Mỗi phần có chức năng riêng, yêu cầu riêng, phương pháp riêng. Phần mở đầu Phần mở đầu là phần nhập đề cho nghị quyết cần giới thiệu, là phương tiện giao tiếp ban đầu với người nghe, kích thích sự hứng thú của người nghe đối với nội dung bài nói. Phần này tuy ngắn, nhưng rất quan trọng đối với các nội dung trừu tượng, tưởng chừng như khô khan, đối với đối tượng mới tiếp xúc lần đầu, đối tượng là người có trình độ học vấn cao, thanh niên, sinh viên. Phần mở đầu phải tự nhiên và gắn với các phần khác trong bố cục toàn bài cả về nội dung và phong cách ngôn ngữ; Phải ngắn gọn, độc đáo và tạo hấp dẫn đối với người nghe. Cách mở đầu rất đa dạng, phong phú nhưng có thể khái quát thành hai cách mở đầu chủ yếu: Mở đầu trực tiếp và mở đầu gián tiếp. Mở đầu trực tiếp: Là cách mở đầu bằng việc giới thiệu thẳng nghị quyết sẽ trình bày để người nghe tiếp cận ngay. Mở đầu trực tiếp được cấu trúc bởi hai phần: nêu tên nghị quyết và các nội dung chính có trong nghị quyết. Mở đầu gián tiếp: Là cách mở đầu không giới thiệu thẳng tên nghị quyết mà chỉ nêu vấn đề sau khi đã dẫn ra một ý kiến khác có liên quan, gần gũi với nghị quyết nhằm chuẩn bị bối cảnh, dọn đường cho nghị quyết xuất hiện. Cách mở đầu này dễ tạo cho bài nói sự sinh động, hấp dẫn đối với người nghe, có thể giúp người nghe thay đổi quan điểm vốn có, chấp nhận quan điểm của báo cáo viên. Mở đầu gián tiếp được cấu trúc bởi ba phần: dẫn dắt vấn đề, nêu tên nghị quyết và các nội dung chính của nghị quyết. Phần thân của bài giới thiệu nghị quyết Phần thân là phần quan trọng nhất của bài giới thiệu nghị quyết. Nhiệm vụ trọng tâm nhất của phần này là người giới thiệu phải nêu bật được nội dung cốt lõi của nghị quyết. Trên cơ sở những nội dung chính của nghị quyết, có hai phương án để các báo cáo viên lựa chọn cho dàn ý phần chính bài giới thiệu nghị quyết: Phương án một: Sự cần thiết ban hành nghị quyết + Những nội dung căn bản của nghị quyết. Phương án hai: Sự cần thiết ban hành nghị quyết + Những nội dung căn bản và mới của nghị quyết. Phương án hai chỉ có thể dùng cho những nghị quyết phát triển, bổ sung, đòi hỏi báo cáo viên đầu tư thời gian, công sức và trí tuệ cao hơn phương án một. Phương án một nên dùng đại trà, phương án hai nên dùng cho cán bộ chủ chốt, nhóm đối tượng có trình độ học vấn cao. Phần kết luận Kết luận là phần không thể thiếu trong cấu trúc một bài nói. Nó làm cho bố cục bài nói trở nên cân đối, lôgic, có tác dụng khái quát và nhấn mạnh điều đã nói. Phần kết luận có các chức năng đặc trưng sau: Tổng kết những nội dung chính của nghị quyết đã nói; Củng cố và làm tăng ấn tượng về nội dung nghị quyết; Đặt ra trước người nghe những nhiệm vụ nhất định và kêu gọi họ đi đến hành động. Kết luận phải ngắn gọn, giàu cảm xúc nhưng tự nhiên, không giả tạo và được sử dụng để kết thúc bài nói. Kết cấu của phần kết luận: Kết luận được cấu trúc bởi hai phần: Phần đầu gọi là phần tóm tắt, phần tiếp theo là phần mở rộng và mang đặc trưng của phương pháp. Vào đề và kết luận cho bài giới thiệu nghị quyết là một công việc khó khăn, đòi hỏi sự đầu tư công phu ở báo cáo viên. Mở bài và kết luận hấp dẫn, lôi cuốn, gây ấn tượng đối với người nghe sẽ giúp họ ghi nhớ nội dung nghị quyết tốt hơn, cơ sở cho việc thực hiện nghị quyết. Thứ năm, lựa chọn ngôn ngữ, văn phong Bài giới thiệu nghị quyết là một thể loại của phát biểu miệng, thuộc phong cách chính luận nên nó phải đảm bảo một số đặc điểm về mặt ngôn ngữ của thể loại như sau: tính chuẩn xác, tính thuật ngữ, tính bình giá công khai, tính phổ thông, tính biểu cảm. Giới thiệu nghị quyết Đảng đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là bước khởi đầu căn bản để đưa nghị quyết vào cuộc sống. Công việc này muốn thực hiện tốt, mang lại hiệu quả cao đòi hỏi báo cáo viên phải có các năng lực cần thiết như năng lực nói, năng lực giao tiếp, năng lực ngôn ngữ, năng lực làm việc với con người, năng lực xây dựng dàn ý bài phát biểu.