Trong các cuộc làm việc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường nhắc nhở mỗi cơ quan, đơn vị, các cá nhân, trên cương vị công tác, lĩnh vực phụ trách của mình khi thực hiện nhiệm vụ cần chú ý sao cho “đúng vai, thuộc bài”. Câu nói khái quát ấy được người lãnh đạo cao nhất của Đảng dùng trong mỗi hoàn cảnh, với các đối tượng khác nhau, có ý nghĩa đúc kết, hướng dẫn mỗi người trong suy nghĩ và hành động để thực hiện nhiệm vụ tốt hơn. Tư tưởng ấy đang được lan tỏa, nhân rộng và trở thành điều nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên khi thực hiện nhiệm vụ của mình.
Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021
"ĐÚNG VAI, THUỘC BÀI" VÀ "ĐÚNG VAI, NHƯNG KHÔNG THUỘC BÀI"
Tinh thần đoàn kết và sức dân là vũ khí tối tân nhất, sắc bén nhất
Để có thể ngăn chặn dịch bệnh một cách lâu dài, bền vững thì chúng ta phải miễn nhiễm với virus SARS-CoV-2 và vaccine chính là “tấm khiên mạnh mẽ nhất” chống lại virus SARS-CoV-2 với những biến thể ngày càng khó lường.
Hiện Việt Nam mới chỉ tiêm được cho hơn 1% dân số. Chúng ta đang cần rất nhiều vaccine và nhu cầu được tiêm vaccine để phòng dịch thực tế đang rất lớn. Việc tiêm vaccine không chỉ là nhu cầu mà còn là trách nhiệm của mỗi người, để giữ cho mình an toàn, từ đó giúp người khác an toàn trước đại dịch Covid-19.
Hiểu được vaccine chính là cánh cửa an toàn trước đại dịch, trong những ngày qua, kể từ khi Quỹ vaccine phòng chống Covid-19 được Thủ tướng ký thành lập, không chỉ doanh nghiệp, địa phương mà rất nhiều cá nhân, từ thành thị tới nông thôn, đồng bằng đến miền núi, từ doanh nhân đến những người buôn bán nhỏ, cựu chiến binh, người già về hưu, các em nhỏ, học sinh, sinh viên… kể cả nhiều người cuộc sống vẫn còn khó khăn … đã nhiệt tình hưởng ứng và ủng hộ, đóng góp vào Quỹ.
Phong trào góp Quỹ mua vaccine đang được loan tỏa khắp làng xóm, khu phố, và nhà nhà. Em bé dành tiền ăn sáng, người cao tuổi sẵn sàng dành tiền lương hưu, người lao động và sinh viên đóng góp những phần tiền bỏ ống, công nhân cũng có cách đóng góp riêng dù đang trong giai đoạn thắt ngặt, chi tiêu chắt bóp.
Hàng trăm doanh nghiệp mặc dù phải đối mặt với khó khăn do tác động dịch bệnh nhưng vẫn tích cực đóng góp cho Quỹ. Xúc động vô cùng khi nhiều doanh nghiệp đã nói rằng muốn được thể hiện tấm lòng với Nhân dân, với Nhà nước, đóng góp cho Quỹ để lo cho nhân dân, còn việc tiêm cho nhân viên của mình sẵn sàng trả phí để đơn giản là có nhiều tiền hơn để Nhà nước lo cho Nhân dân.
Kiều bào đang sinh sống tại các nước phương Tây và Châu Âu cũng chung tay, góp sức cùng quê hương, chuyền khoản và nhờ người thân ủng hộ góp vào Quỹ vaccine cho người dân của mình. Mùa dịch, nhiều người khó khăn nhưng vẫn gửi tiền về ủng hộ – đó là cả tấm lòng, thậm chí là mỗi ngày “tiết kiệm” bỏ bớt một bữa ăn để gửi tấm lòng về quê hương, đất nước.
Bỏ qua những khó khăn của cá nhân, tất cả mọi người góp vào Quỹ vaccin đều cùng có chung nguyện vọng, gửi gắm ước mong: để người dân cả nước, người dân vùng sâu, vùng xa, người dân có hoàn cảnh khó khăn đều được tiêm vaccine, để Việt Nam sớm chiến thắng Covid-19.
Độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế
Một là, độc lập, tự chủ không phải là biệt lập, cô lập với thế giới bên ngoài, không đứng ngoài hôi nhập quốc tế. Độc lập, tự chủ thể hiện chủ quyền, quyền tự quyết, tự lựa chọn con đường phát triển, tự quyết định mô hình phát triển của quốc gia, dân tộc. Tự chủ là năng lực thực hiện chủ quyền, tức là thực hiện quyền tự quyết dân tộc trên thực tế. Độc lập, tự chủ bao gồm độc lập, tự chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,v.v.. Do đó, không có độc lập, tự chủ thì không thể nói tới hội nhập quốc tế chứ chưa nói tới chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Hai là, độc lập, tự chủ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ với hội nhập quốc tế. Có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong việc tự quyết định lộ trình, bước đi, cách thức, nội dung, biện pháp, đối tác, lĩnh vực,v.v.. hội nhập quốc tế. Qua hơn 30 năm đổi mới cho thấy, đường lối độc lập, tự chủ của Đảng đã định hướng đúng cho tiến trình hội nhập từ việc lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, xác định lộ trình hội nhập phù hợp... Ban đầu, chúng ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, sau đó cùng với hội nhập kinh tế, đã từng bước hội nhập toàn diện vào khu vực và quốc tế. Do vậy, quan hệ đối ngoại của nước ta được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần tạo ra thế và lực mới của đất nước. Quan điểm và chính sách kiên trì độc lập, tựchủ của Đảng ta luôn luôn được cụ thể hóa, bổ sung và phát triển theo sự chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế. Điều đó đã mở đường cho quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, phục vụ thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Ba là, có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong lựa chọn, đề xuất các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu. hạn chế tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực trong quá trình hội nhập quốc tế. Có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong phân tích, xử lý thông tin để có những giải pháp thiết thực, đồng bộ, hữu hiệu trước sự thay đổi mau lẹ của tình hình thế giới và khu vực, mới chủ động, tích cực trong hội nhập quốc tế.
Bốn là, độc lập, tự chủ là cơ sở để tận dụng nhiều cơ hội to lớn, đồng thời hạn chế tối đa những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước vừa, nhỏ, đang phát triển như Việt Nam do quá trình trình toàn cầu hóa gây ra. Để thích ứng với tiến trình toàn cầu hóa, tận dụng được những cơ hội vàng do toàn cầu hóa đem lại, ngăn ngừa và khắc phục những thách thức do toàn cầu hóa gây ra thì các quốc gia phải chủ động, độc lập, tự chủ và nỗ lực cùng nhau hợp tác không phân biệt giàu nghèo, to nhỏ. Nhưng sự hợp tác đó phải trên tinh thần bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng luật pháp quốc tế. Do vậy, các quốc gia, dân tộc chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ thì mới có hiệu quả.
Năm là, độc lập, tự chủ sẽ là cơ sở, điều kiện để nước ta chủ động phát huy được lợi thế so sánh của mình trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm từng bước phát triển. Chẳng hạn, chúng ta có lợi thế về các sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, may mặc, giày da,v.v.. Chúng ta chỉ có thể xuất khẩu được những mặt hàng có lợi thế so sánh này khi hội nhập đầy đủ và sâu rộng vào kinh tế quốc tế. Nhưng nếu không độc lập, tự chủ thì lợi thế so sánh trong hội nhập sẽ bị các nước lớn mạnh lái theo ý họ. Có độc lập, tự chủ thì mới cân đối được, làm chủ được quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu, tránh nhập siêu quá giới hạn cho phép của nền kinh tế. Có độc lập, tự chủ chúng ta mới thúc đẩy cho kinh tế du lịch phát triển, lôi cuốn, kêu gọi được khách quốc tế đến tham quan, du lịch, làm ăn tại nước ta. Đây cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển.
Tác phẩm “Đường Kách mệnh” được phát hành ở Italy
Theo
phóng viên TTXVN tại Rome, tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh mới đây đã được dịch sang tiếng Italy và lưu hành rộng rãi ở đất nước
“hình chiếc ủng” xinh đẹp.
Tác phẩm Đường Kách mệnh bằng tiếng Italy.
Bản dịch tác phẩm “Đường Kách mệnh” (La Via Della
Rivoluzione) do nhà xuất bản Anteo Edizioni phối hợp với Lãnh sự danh dự Việt
Nam tại Turin, bà Sandra Scagliotti cùng Hội Hữu nghị Italy-Việt Nam thực hiện
và phát hành.
Trong phần lời tựa, bà Scagliotti, người đảm nhận công việc biên tập tiếng
Italy, đánh giá tác phẩm "Đường Kách mệnh" đóng một vai trò
nền tảng trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin ở Việt Nam và có giá trị rất
lớn cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.
Cũng theo bà Scagliotti, việc phát hành tác phẩm “Đường
Kách mệnh” bằng tiếng Italy sẽ giúp người dân Italy hiểu hơn về đất nước
cũng như lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, tác phẩm còn giúp thu hẹp khoảng cách giữa
Italy so với các nước châu Âu khác trong lĩnh vực nghiên cứu và tìm hiểu về Việt
Nam.
Trong phần giới thiệu cuốn sách, Chủ tịch Hội Hữu nghị Italy-Việt Nam, ông
Fausto Cò nhấn mạnh tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí
Minh được viết bằng ngôn ngữ rất súc tích, ngắn gọn và dễ hiểu.
Sách "Đường kách mệnh" được công
nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012,
hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn cuốn sách của Người phải trở nên “dễ
hiểu và dễ nhớ” để “đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh
rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh". Văn chương và hy vọng
của sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!”
Theo ông Fausto Cò, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm căn bản cho
công cuộc biến đổi xã hội, đó là: tính quần chúng, sự đoàn kết hành động và ý
thức tập thể.
Trao đổi với phóng viên TTXVN thường trú tại Italy, Giám đốc nhà xuất bản Anteo
Edizioni, ông Stefano Bonilauri đánh giá cuốn “Đường Kách mệnh” của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm quý giá xét trên quan điểm lịch sử và văn
hóa, chắc chắn sẽ thu hút được sự quan tâm rộng rãi của công chúng Italy. Ông
Stefano cho biết trong thời gian tới, Anteo Edizioni sẽ tiếp tục cho ra đời
nhiều ấn phẩm khác về Việt Nam nhằm giới thiệu, quảng bá đất nước “Việt Nam
tươi đẹp” đến với người dân Italy.
Mai Năm Mới (Theo TTXVN)
Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021
Sự thật của kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đập tan luận điệu xấu của địch
Hiện nay, cả nước đã hoàn thành cuộc bỏ phiếu bầu ra người đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của mình. Tỷ lệ đi bầu cử rất cao đã
tạo nên sự thành công của kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân
dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Điều đó cho thấy sự đồng lòng, nhất trí của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị hướng về ngày hội non
sông.
Kết quả trên đã đập tan mưu đồ chống phá của những kẻ phản động, bất mãn,
trước ngày bầu cử đã liên tục tung tin bịa đặt “việc bầu cử là hình thức”,
“kết quả đã được dàn xếp”, "nhiều cử tri không quan tâm bầu cử và sẽ không
đi bầu", rồi xuyên tạc, nói xấu các ứng cử viên, kêu gọi, kích
động cử tri “không biết, không bầu”, “bỏ hết, lấy cả”... Chúng đã tạo nên một
“chiến dịch truyền thông bẩn" trên internet và mạng xã hội nhằm phá hoại
cuộc bầu cử của nước ta.
Nhưng kết quả là: Những luận điệu thù địch, phản động đó đã được tuyệt đại
đa số cử tri và nhân dân Việt Nam nhận rõ. Cử tri cả nước thuộc đủ các thành
phần, vùng miền, dân tộc, tôn giáo đã đề cao trách nhiệm tham gia bỏ phiếu để
bầu những người tiêu biểu nhất đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình. Với tỷ
lệ cử tri đi bỏ phiếu rất cao dù trong điều kiện phòng, chống dịch
Covid-19, không khí ngày hội bầu cử vui tươi, sôi nổi, bảo đảm an toàn... đã một
lần nữa vạch mặt những kẻ chống phá và các thế lực thù địch. Qua đó, nhân dân
càng hiểu bộ mặt thật và âm mưu xấu bẩn của chúng hòng chống phá Việt Nam, làm
nhiễu loạn xã hội và cuộc sống bình yên của nhân dân.
Một số luận điệu phản động về bản chất giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam
Các thế lực thù địch, phản động cho
rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đúng đắn nhưng chỉ đúng trong điều kiện Cách
mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên
máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big
data)…, nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin không còn phù hợp nữa; trong nền sản xuất
hiện đại, việc sử dụng rô-bốt (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây
chuyền tự động hóa, việc sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học
thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa; theo đó,
nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, mà đó là sự
thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; giai cấp công nhân
không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà tầng lớp trí thức mới là người
quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại (?!)…
Đồng thời các thế lực thù địch ra sức chứng minh rằng,
giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ
chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong
thời đại khoa học phát triển hiện nay. Họ xảo biện rằng, nếu như giai cấp công
nhân có sứ mệnh lịch sử là “Người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một
xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân
rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình?...
Từ đó cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công
nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh
hưởng nặng nề của xã hội phong kiến,…, nên giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng
Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam (?!).
Họ ngụy biện rằng, giai cấp công nhân đã hoàn thành sứ
mệnh của mình trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày nay, trong điều
kiện hòa bình, hội nhập quốc tế, thời kỳ của các cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ, vai trò đó phải thuộc về đội ngũ trí thức, những nhà khoa học, nhà tư
tưởng. Chỉ có những nhà khoa học, trí thức mới có thể đưa đất nước phát triển
nhanh được. Rằng, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, nhà nước tư bản
đã là “nhà nước phúc lợi chung” và theo tự nhiên, nhà nước tư bản sẽ dần “tiệm
tiến” lên nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động
làm thuê nữa; công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột, địa vị của họ
đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa (?!)…
Đó là một số trong vô vàn những luận điệu xuyên tạc,
mị dân, phản động của “chủ nghĩa chống cộng” và các thế lực thù địch về sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân.
Vậy hiển nhiên, sự thật là, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do điều kiện
khách quan quy định, không phải do bất kỳ lý do nào khác. Giai cấp công nhân
chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số
lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến
trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và
đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã
hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc
lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt
hơn.
Mưu đồ của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội
là ra sức tấn công vào nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản, nhằm thay thế
bằng tư tưởng của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Những luận điệu
trên là hết sức phản động, phục vụ cho ý đồ đen tối đó và chúng cố tình không
nhận ra rằng, dưới tác động của hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam
đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu thành
phần và ngành, nghề, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện.
Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề
nghiệp, hình thành tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại, vì thế,
họ có nhiều cơ hội việc làm và đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải
thiện.
Sự điều chỉnh, thích nghi đã làm cho chủ nghĩa tư bản
tạm thời chiếm ưu thế; giai cấp công nhân ở các nước tư bản đã có mức sống tốt
hơn do năng suất lao động ngày càng cao và bởi sự đấu tranh của tổ chức công
đoàn những nơi này đã mang lại lợi ích cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ
là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới, hoàn toàn không phải là sự
thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản và càng không làm thay đổi bản chất cách
mạng của giai cấp công nhân. Những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản không hề
giảm đi, mà ngày càng trầm trọng, gay gắt thêm. Trong xã hội tư bản, số người
giàu “chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất,
kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại
chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”(9). Điển hình là phong
trào chiếm phố Wall ở Mỹ năm 2017; biểu tình chống phân biệt chủng tộc cuối
tháng 5, đầu tháng 6-2020 ở Mỹ… Những điều đó là hệ quả của sự phân cực giàu
nghèo, phân biệt đối xử… do sự thống trị của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa.
Về vai trò của tổ chức công đoàn, các thế lực phản động xuyên tạc trắng
trợn rằng, công đoàn hiện nay không còn phát huy vai trò là tổ chức bảo vệ
quyền lợi cho người lao động; hoạt động của tổ chức công đoàn ở các doanh
nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mang tính hình thức,
không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông chủ; họ cũng chỉ là
người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và thậm chí, có
thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp (?!)...
Sự thật là, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật
Công đoàn Việt Nam. Luật Công đoàn Việt Nam chỉ rõ: “Công đoàn là tổ
chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động,
được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của
xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán
bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi
chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao
động…; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra,
kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh
nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ
năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa”.
Hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức công đoàn ở
các doanh nghiệp thực sự hiệu quả; các tổ chức này luôn đóng vai trò là điểm
tựa, động viên, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp, khuyến khích người lao
động hăng say lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và là lực lượng
nòng cốt trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”. Thông qua nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, tổ chức công đoàn giúp cho
công nhân hiểu biết về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng
cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm
trong sản xuất và công tác; thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng
tạo; đồng thời, tuyên truyền trong công nhân, viên chức, người lao động về
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt
tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, người lao
động để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết;
đồng thời, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức
công đoàn trong công nhân, viên chức, người lao động và người sử dụng lao động
thuộc các thành phần kinh tế, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có
vốn đầu tư nước ngoài…
Do đó, những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực
thù địch là hòng che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản hoặc tìm cách xóa
nhòa ranh giới giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, thủ tiêu đấu tranh
giai cấp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học và thực tiễn.
Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và xã hội.
Tuyệt đại đa số nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm là đội tiên phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải pháp thư tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Quan điểm cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước" là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán, thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh", xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân./.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp.
Trên thế giới, việc quy định về đảng chính trị trong Hiến pháp mang tính phổ biến. Chẳng hạn: Hiến pháp của các nước: Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc có 01 điều; Hiến pháp của các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Ba Lan có 02 điều; Hiến pháp Udơbêkixtan có 03 điều,… quy định về đảng chính trị[7].
Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 01 điều quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội"[8], là phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay, không phải là cá biệt.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam"[9]. Điều lệ Đảng quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy".
Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng "đơn phương" quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác ở Việt Nam.
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là cần thiết, tất yếu, khách quan.
Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản. Nhưng muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có "đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong" để lãnh đạo. Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản, - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. Các ông đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph. Ăngghen cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu giai cấp.
Kết thừa tư tưởng trên đây của Mác - Ăngghen, V.I. Lênin khẳng định: "Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa"[2]. Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới. V.I. Lênin cũng chỉ rõ: "Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội"[3]. Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại"[4].
Sự ra đời của một Đảng Cách mạng chân chính là hết sức cần thiết. Giải đáp vấn đề "Cách mệnh trước hết phải có cái gì?",Hồ Chí Minh chỉ rõ "trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy"[5].Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930) là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. "Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng".
Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Ở Hồ Chí
Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn đấu của Người là
một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao
cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó cũng chính là mục tiêu tổng
quát theo cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
cũng chính là khát vọng, mong muốn cháy bỏng mà Hồ Chí Minh hy sinh cả cuộc đời
mình để phấn đấu vươn tới: xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của thế
giới.
Mai Năm Mới
Nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.
Thực tiễn cho thấy, cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và dân tộc trên mặt trận tư tưởng- chính trị và cả ngay trong nội bộ Đảng diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp, nhạy cảm, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hệ tư tưởng - lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng luôn gắn liền với việc bảo vệ các giá trị lợi ích chân chính của quốc gia, dân tộc. Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn, phương thức, hình thức rất tinh vi xảo quyệt, lúc công khai trắng trợn, lúc ngấm ngầm, âm thầm, thậm chí cũng được che đậy dưới nhiều hình thức, núp dưới những vỏ bọc, danh nghĩa, chiêu bài tinh vi. Vì vậy, phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm chính trị, bản lĩnh và lập trường giai cấp; kiên định cuộc đấu tranh, gắn việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Kịp thời phát hiện và khắc phục những yếu kém, lạc hậu trong công tác tư tưởng- lý luận. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu đặt ra đối với mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng.
Trên mặt trận tư tưởng - chính trị, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức những đợt tấn công với quy mô lớn, cường độ cao, có tổ chức chặt chẽ, câu kết trong ngoài nhằm chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hòng thực ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị, tác động thay đổi tư tưởng, tâm lý, làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành “lực lượng chính trị đối lập ở bên trong”, làm ngòi nổ lật đổ, xóa bỏ chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam…Do đó, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn liền với việc không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội, đề cao trách nhiệm và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI và khóa XII để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong nội bộ, hạn chế đến mức thấp những nhân tố bất ổn từ bên trong.
KHÁT VỌNG VIỆT NAM
Đại hội XIII cuả Đảng thành công rất tốt đẹp và Đại hội đã xác định những nhiệm vụ, những khâu đột phá, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, hướng tầm nhìn tới giữa thế kỷ XXI (2045), đưa nước ta trở thành một nước phát triển, thực hiện khát vọng Việt Nam - một Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, dân tộc Việt Nam cường thịnh, sánh vai cùng các nước năm châu như Hồ Chí Minh hằng mong muốn từ những ngày đầu xây dựng chính thể cộng hòa dân chủ ở nước ta, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Khát vọng Việt Nam của Hồ Chí Minh là: Khát vọng giải phóng, giải phóng
dân tộc ta ra khỏi tình cảnh bị áp bức, bóc lột, đọa đầy bởi đế quốc thực dân,
làm cho Tổ quốc độc lập và thống nhất, có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân
ta từ nô lệ tới tự do, ở địa vị người làm chủ và làm chủ, tự quyết định vận mệnh
cuộc sống và tương lai phát triển của mình. Khát vọng đó của Người là mãnh liệt,
phải “độc lập thực sự”, “tự do thực sự”, do đó, “thà hy sinh tất cả quyết không
chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó còn là khát vọng phát
triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, lựa chọn con đường phát triển: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tuy
nhiên, để thực hiện khát vọng đó, mấu chốt là vấn đề con người, bởi nhân tố con
người là quyết định. Mắt khâu xung yếu trong xây dựng và phát triển văn hóa,
con người Việt Nam là phải có đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, thực đức, thực tài, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Họ phải đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt và thúc đẩy cả cộng
đồng dân tộc tiếp tục đổi mới sáng tạo, tận dụng thời cơ và vượt qua thách thức
trên con đường phát triển, thực sự tiêu biểu cho tinh hoa của Đảng, của dân tộc
để thực hiện khát vọng Việt Nam.
Như vậy, khát vọng Việt Nam trong đổi mới, hội nhập quốc tế là khát vọng
của Đất nước - Dân tộc và Con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Khát vọng
ấy hòa hợp Ý Đảng - Lòng Dân, trở thành phép nước, thống nhất lý tưởng, mục
tiêu, đồng tâm nhất trí trong hành động để thực hiện.
Mai Năm Mới
