Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

Chiến lược mới đối phó tàu ngầm Trung Quốc ở Biển Đông của Mỹ

 

Chiến lược mới đối phó tàu ngầm Trung Quốc ở Biển Đông của Mỹ

TPO - Hải quân Trung Quốc có rất nhiều tàu ngầm. Ngăn chặn những tàu ngầm này ra vùng biển Philippines (một phần của Biển Đông) là mục tiêu chính trong kế hoạch của Mỹ và đồng minh trong trường hợp một cuộc chiến có thể xảy ra với Trung Quốc.

Biển Philippines là nơi Hải quân Mỹ có khả năng đồn trú các tàu sân bay như một sự bổ sung cho mạng lưới các sân bay nhỏ của Không quân Mỹ trong khu vực.

Toàn bộ chiến lược thời chiến của hải quân Nhật Bản xoay quanh việc giữ vững đầu phía bắc, trải dài từ phía bắc Đài Loan (Trung Quốc) đến các hòn đảo của Nhật Bản.

Nếu không có sự tham gia của một số đồng minh, Hải quân Mỹ có thể sẽ phải bao phủ đầu phía nam. Để đạt được mục tiêu đó, hạm đội Mỹ đang kết hợp một khái niệm cũ với một khái niệm mới ... và hy vọng chúng phát huy tác dụng

Theo Văn phòng Tình báo Hải quân Mỹ, hải quân Trung Quốc trong năm 2015 đã vận hành 57 tàu ngầm diesel-điện và 5 tàu ngầm tấn công hạt nhân. Hạm đội dưới đáy biển của Bắc Kinh đến năm 2030 có thể mở rộng bao gồm 60 tàu điện-diesel và ít nhất 16 tàu ngầm tấn công hạt nhân.

Trong khi đó, hải quân Nhật Bản đang vận hành 20 tàu ngầm diesel-điện và không có kế hoạch phát triển lực lượng này trong thời gian tới. Tàu ngầm của Nhật Bản là nằm trong số những tàu ngầm hiện đại và tinh vi nhất trên thế giới, nhưng không thể phủ nhận rằng chúng ít hơn nhiều nếu so với các đối thủ Trung Quốc.

Hạm đội Mỹ sở hữu 56 tàu ngầm tấn công lớp Los Angeles, Seawolf, Virginia và tàu ngầm tên lửa hành trình lớp Ohio. Theo kế hoạch mới nhất, con số đó sẽ giảm xuống mức 52 tàu vào năm 2026 trước khi mở rộng trở lại mức hiện tại vào những năm 2030.

Tệ hơn cho phía Mỹ, chỉ hơn một nửa số tàu ngầm này thuộc Hạm đội Thái Bình Dương. Nói tóm lại, Trung Quốc có nhiều tàu tấn công hơn những kẻ thù tiềm tàng có thể có, ngay cả khi Mỹ có bên cạnh một số ít tàu của Đài Loan (Trung Quốc) và Australia.

Hải quân Mỹ đặt mục tiêu giảm thiểu bất lợi bằng cách mua một số lượng lớn các tàu ngầm không người lái. Vào năm 2019, hải quân Mỹ đã thanh toán cho hãng Boeing khoản đầu tiên trong đơn đặt hàng trị giá 275 triệu đô la cho 5 chiếc tàu ngầm Echo Voyager không có thủy thủ đoàn.

Quảng Cáo

Hải quân Mỹ gọi phiên bản Echo Voyager của mình là “phương tiện dưới biển không người lái cực lớn”, hay XLUUV. Chiếc đầu tiên trong số các XLUUV tự hành có thể đi vào hoạt động sớm nhất là vào năm 2022.

Hải quân Mỹ có kế hoạch mua ít nhất 24 XLUUV trong những thập kỷ tới. Các tàu robot cuối cùng có thể thực hiện một loạt các nhiệm vụ, nhưng rà phá bom mìn là ưu tiên hàng đầu, theo Phó đô đốc James Kilby, Phó chủ nhiệm tác chiến Hải quân phụ trách các yêu cầu và khả năng chiến đấu.

"Chúng tôi đang theo đuổi phương tiện đó vì chúng tôi có nhu cầu giải quyết một vấn đề cụ thể", ông Kilby nói với Ủy ban quân vụ Hạ viện Mỹ hồi tháng Ba. “XLUUV ... là một sự chuyển đổi từ phiên bản ban đầu Echo Voyager của Boeing với một mô-đun nhiệm vụ được đặt ở giữa tàu để mang mìn trong thời kỳ đầu”.

Tấn công bằng mìn không phải là thế mạnh của Mỹ. Hạm đội Mỹ hiện không vận hành các tàu rà phá bom mìn chuyên dụng. Các phi đội Hải quân và Không quân Mỹ chỉ gần đây mới bắt đầu hồi sinh hoạt động thả mìn bằng đường không.

Nhưng mối đe dọa từ hải quân Trung Quốc và sự ra đời của tàu XLUUV có thể đẩy nhanh quá trình khôi phục phương thức tác chiến hải quân đã có từ nhiều thế kỷ trước. Rõ ràng, kế hoạch của hải quân Mỹ là trang bị cho các tàu không người lái dài 17m một loại vũ khí được gọi là “mìn ngư lôi đóng gói” có tên Hammerhead

 

 BÁC HỒ “TIẾT KIỆM” ĐI NGỰA


Những năm kháng chiến chống Pháp từ 12/1946 – 10/1954, Bác Hồ hoạt động ở chiến khu Việt Bắc, chủ yếu là hai tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang. Trong những chuyến đi công tác xa, ngoài đi bộ, Bác thường đi ngựa. Những năm tháng ấy, nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định được giao nhiệm vụ chụp ảnh Bác, nên thường hễ Bác đi công tác đâu là ông được đi theo. Với nhà nhiếp ảnh kiêm nhà báo Đinh Đăng Định, ông coi đó không những là một vinh dự lớn, mà còn là trách nhiệm nặng nề. Ống kính của nghệ sĩ Đinh Đăng Định đã ghi lại rất nhiều tấm ảnh Bác về mọi mặt cuộc sống. Trong đó có mấy chục tấm ảnh Bác đi ngựa, chăm sóc ngựa… Trong một bài hồi ký in trên Báo Lao động xã hội số Tết Ất Hợi năm 1995, ông Đinh Đăng Định cho biết ngay việc đi ngựa là phương tiện vận chuyển thô sơ mà Bác của chúng ta cũng đắn đo khi dùng. Bác chỉ đi ngựa khi đi xa, và thật cần thiết. Ông Đinh Đăng Định kể rằng: “Hồi đầu kháng chiến, ngoài Bác chỉ có đồng chí Tạ Quang Chiến làm bảo vệ và tôi được ưu tiên cưỡi ngựa để tập làm nhiệm vụ trên đường, còn các anh em khác đều đi bộ. Dừng chân ở chỗ cơ quan hậu cần quân đội, anh em mang thóc ra cho ngựa ăn. Bác trông thấy liền hỏi:
- Thóc ở đâu ra nhiều thế? Chúng ta phải để dành gửi ra tiền tuyến chứ.
Làm việc xong trở về nơi ở, Bác bảo đồng chí Chiến:
- Lần sau các chú chiều Bác thì dành cho Bác một con ngựa thôi, còn đi bộ hết. Chú nào mệt, Bác cho cưỡi một lúc, sau lại đến Bác. Bớt được 2 con ngựa là mỗi ngày ta tiết kiệm được hơn chục cân thóc cho tiền tuyến rồi.
Từ đó mỗi lần đi công tác xa, Bác chỉ cho mang theo một con ngựa. Trên đường Người luôn kìm cương cho ngựa đi chậm để anh em theo kịp và thỉnh thoảng Người xuống ngựa đi bộ, để cho những đồng chí mệt cưỡi.
Sau ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954, Bác trở về Hà Nội. Nhớ lại những ngày ở chiến khu, hình ảnh Bác Hồ cưỡi ngựa đi công tác đã được nhà thơ Tố Hữu viết:
“Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lưng đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người”.

BẮC GIANG QUYẾT TÂM DẬP DỊCH TRONG THÁNG 6

 Bắc Giang phấn đấu trong vòng 7-10 ngày tới kiểm soát số ca F0 phát sinh ở các khu cách ly, từ 10-14 ngày nữa sẽ cơ bản dập xong dịch bệnh.

Báo cáo trực tuyến tại cuộc họp cuộc họp trực tuyến giữa Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 với lãnh đạo hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang vào chiều 7/6, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang Dương Văn Thái cho biết, đến nay, tình hình dịch bệnh tại Bắc Giang cơ bản được khống chế, khoanh vùng, thu hẹp được các nguồn lây, tập trung phòng, chống dịch cơ bản ở các khu cách ly tập trung.
Từ 12h ngày 7/6, Bắc Giang điều chỉnh áp dụng biện pháp cách ly xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg tại 2 huyện Lục Nam và Yên Thế, sang thực hiện giãn cách xã hội theo tinh thần Chỉ thị số 15/CT-TTg, dỡ một số chốt phong tỏa. Bắc Giang phấn đấu trong vòng 7-10 ngày tới kiểm soát số ca F0 phát sinh ở các khu cách ly, từ 10-14 ngày nữa sẽ cơ bản dập xong dịch bệnh.
Về vấn đề này, trong cuộc trao đổi với phóng viên VTV, PGS.TS Nguyễn Trường Sơn, Thứ trưởng Bộ Y tế, đồng thời là Trưởng Bộ phận thường trực đặc biệt của Bộ Y tế tại Bắc Giang cho biết: "Về cơ bản, chúng tôi đồng ý với ý kiến của Bắc Giang. 20 ngày qua, bước đầu có kết quả tích cực khi Bắc Giang cơ bản kiểm soát được dịch trên địa bàn. Các ổ dịch đã được khoanh vùng, khống chế. Quy mô của ổ dịch cũng như số lượng công nhân ở một số "rốn" dịch như Núi Hiểu, Trung Đồng đã được di tản ra ngoài để giảm bớt nguy cơ lây nhiễm trong các ổ dịch. Hiện nay, chúng tôi chủ yếu tập trung về huyện Việt Yên, nơi liên quan nhiều đến công nhân các khu công nghiệp.
Tỉnh Bắc Giang cũng đang tổng lực thực hiện các biện pháp chống dịch ở mức cao nhất và quyết tâm dập dịch trong thời gian sớm nhất. Tất cả chúng ta cũng như nhân dân cả nước đều mong muốn tình hình dịch ở Bắc Giang sớm được khống chế hoàn toàn như quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Giang đang nỗ lực thực hiện".

“NGƯỜI CÁCH MẠNG PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀM NỀN TẢNG”

Trong những năm cuối thập niên 1950, miền Bắc đang tiến hành công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hành trình đấu tranh cách mạng đầy gian khó đó đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đặc biệt đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, tâm trạng thời bình, biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên đã không còn là hiện tượng đơn lẻ, đó đã là căn bệnh, trở thành nguy cơ “suy thoái” của một Đảng cầm quyền. Nhận thức rõ những gian nan, trắc trở, những khó khăn phức tạp của chặng đường trước mắt, và sớm tiên liệu được tình hình, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Ðạo đức cách mạng”. Là một cuốn sách mỏng, dày chưa đầy 20 trang, nhưng “Ðạo đức cách mạng” có nội dung phong phú; cách viết súc tích, văn phong giản dị, dễ hiểu, chứa đựng những tư tưởng lớn về đạo đức cách mạng. Trong đó, Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của đạo đức cách mạng, chỉ rõ kẻ thù, những nguy cơ rời xa đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn nêu rõ những biện pháp để ngăn ngừa và sửa chữa căn bệnh đó. 60 năm sau khi Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (12/1958 - 12/2018), những chỉ dẫn của Người vẫn vẹn nguyên ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc, thiết thực góp phần phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong tác phẩm, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, sự phát triển của các phương thức sản xuất, sự tiến bộ của xã hội loài người từ công xã nguyên thuỷ đến cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Trong hành trình đó, đã xuất hiện giai cấp và cũng như một tất yếu khách quan: cuộc đấu tranh giai cấp giữa những người bị bóc lột và những kẻ bóc lột, giữa “bọn phong kiến địa chủ, bọn tư bản và đế quốc” và “những tầng lớp người khác, nhất là công nhân và nông dân” ngày càng quyết liệt. Vì vậy, để giành lấy thắng lợi trong cuộc đấu tranh đó, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo, bởi đó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất. Điều này đã được lịch sử chứng minh và đó là xu thế tất yếu của thời đại. Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc rằng, dù là tập thể của những con người tiên phong nhất, song Đảng cũng là một thực thể xã hội và mỗi cán bộ, đảng viên cũng là những con người cụ thể. Đặc biệt, là một Đảng macxit được xây dựng, trưởng thành ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đội ngũ cán bộ, đảng viên vốn sinh trưởng trong chế độ xã hội cũ, nên vẫn mang trong mình, hoặc nhiều hoặc ít “vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ” về tư tưởng, về thói quen, tâm trạng thời bình, v.v.. Tất cả những biểu hiện đó chính là “chủ nghĩa cá nhân”, là “trái ngược với chủ nghĩa tập thể”, “là trái ngược với đạo đức cách mạng” và nếu còn lại trong mình, “dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”[1]. Vì vậy, để giành thắng lợi trong công cuộc cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới - “cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ”, “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[2]. Lời nói và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên có tác động lớn đến quần chúng; do đó, trong bất kỳ tình huống khó khăn nào, mỗi người cũng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, để trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm đều là những người tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, mà “- Giàu sang không thể quyến rũ, - Nghèo khó không thể chuyển lay, - Uy lực không thể khuất phục”[3]. Đề cao vai trò của đạo đức cách mạng, Người nhấn mạnh: người có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước, vì lợi ích chung mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình không tiếc,v.v.. “Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”. Có đạo đức cách mạng, thấm nhuần đạo đức cách mạng sẽ giúp mỗi người khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không lo kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá,v,v.. Nhấn mạnh tầm quan trọng, vai trò của đạo đức cách mạng, Người cũng đồng thời chỉ rõ nội hàm đạo đức cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện thường xuyên, liên tục, mỗi ngày là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” “là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, “là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng” ; “là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, “là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”, “là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, “ là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng”[4]… Đồng thời, Người cũng khẳng định, trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân ta, trong Đảng đã có rất nhiều những người con ưu tú như Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai, v.v.. đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng, chí công vô tư, thực sự “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”; luôn “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình... Cũng theo Hồ Chí Minh, mỗi người cách mạng phải hiểu sâu sắc rằng: Đảng ta là một đội ngũ tiên tiến nhất và tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và dân tộc, đồng thời là người lãnh đạo cách mạng. Do đó, mỗi người không chỉ phải nhận thức rõ sứ mệnh lịch sử vừa cải tạo thế giới mà còn phải luôn hiểu rõ nhiệm vụ tự cải tạo bản thân mình, rèn luyện đạo đức cách mạng để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

“CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN NHẤT ĐỊNH PHẢI TIÊU DIỆT”

Để xây dựng Đảng, giúp cán bộ, đảng viên nhận diện rõ kẻ thù, có biện pháp phòng và chống hiệu quả, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tên của từng kẻ địch, chỉ rõ mối quan hệ, liên minh giữa chúng khi nhấn mạnh: “Kẻ địch gồm có ba loại. Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm. Thói quen và truyền thống lạc hậu, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ… Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản thường xuyên ẩn nấp trong mỗi con người”[5], nên chủ nghĩa cá nhân là đồng minh của hai kẻ địch kia, luôn sẵn sàng “chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu dậy”, đè bẹp ý chí cách mạng của mỗi người. Cũng theo Người, đạo đức cách mạng trái ngược với chủ nghĩa cá nhân, vì “chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”[6]. Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, nhận thức rõ sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên do sa vào chủ nghĩa cá nhân nên “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết”; “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem kinh quần chúng, đọc đoán, chuyên quyền”; “họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, v.v.. khiến quần chúng nhân dân bất bình, thất vọng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: 1) Chủ nghĩa cá nhân “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”[7]. 2) Đó là thứ vi trùng mẹ, đẻ ra nhiều bệnh khác, trái với đạo đức cách mạng và chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn lại trong mình, dù thật ít, thì chừng đó vẫn sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên nỗ lực đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, làm mất lòng tin cậy của nhân dân với Đảng và Chính phủ. 3) Chừng nào chủ nghĩa cá nhân vẫn còn ẩn náu trong mỗi cán bộ, đảng viên, dẫn đến sự suy thoái về đạo đức, lối sống, “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vẫn xâm nhập vào “cơ thể Đảng”, làm giảm nguồn sức mạnh nội lực, sự đoàn kết thống nhất của Đảng, biến Đảng thành xa lạ, đối lập với nhân dân vẫn còn, thì chừng đó nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ vẫn còn hiện hữu. Theo lời Người, những người sa vào chủ nghĩa cá nhân, mang nặng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa là những người chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Đó là những người “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, ngại gian khó, kiêu ngạo, hiếu danh, tự ái, thiếu kỷ luật; đã “luôn đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc” luôn “tự tư tự lợi”, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ Đảng, làm mất dân chủ trong Đảng. Họ luôn “tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi mình”, “ưa sai khiến người khác”, “không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn làm thế nào thì làm thế ấy”, “tỏ ra khinh thường kỷ luật của Đoàn thể, làm rối loạn hàng ngũ của Đoàn thể”,v.v.. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu quý họ, rời xa họ và “chung quy là họ không làm nên trò trống gì”[8]. Những biểu hiện của căn bệnh cá nhân chủ nghĩa này rất nguy hiểm, “rất tai hại cho Đảng, làm hại cho sự thống nhất”, “làm cho Đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc” và “không thể phát triển”, vì làm mất sự thân ái, đoàn kết, gây mối nghi ngờ giữa những người đồng chí. Cũng theo Hồ Chí Minh, những cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc chỉ muốn “phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh”; coi thường và không lắng nghe ý kiến của quần chúng, “xem khinh những người cán bộ ngoài Đảng”, “xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ, v.v.. nên sẽ lạc hậu, thoái bộ, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Trong khi đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là quá trình “tự diễn biến” theo chiều hướng suy thoái, biểu hiện cả trong nhận thức chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng, niềm tin và ý chí…; diễn ra trước hết trong mỗi con người, với các mức độ và biểu hiện khác nhau về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Nếu không phòng và chống, “tự diễn biến” sẽ lan rộng trong nội bộ theo nhiều chiều hướng: từ một số cán bộ, đảng viên đến số đông, cán bộ, đảng viên, đến tổ chức mà cá nhân cán bộ, đảng viên đó công tác, sinh hoạt; từ cán bộ cấp thấp đến cán bộ cấp cao và chiều ngược lại - từ cán bộ cấp cao xuống cán bộ cấp thấp. Hơn thế nữa, “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, dẫn đến lan rộng trong nội bộ, trong cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị; gây nguy cơ, làm rạn nứt khối đoàn kết, thống nhất từ tư tưởng, nhận thức đến hành động trong Đảng, làm suy giảm nguồn sức mạnh của Đảng, tính tiền phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn trực tiếp đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền, của chế độ Vì vậy, để phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mỗi cán bộ, đảng viên phải chủ động, tự giác phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân để nâng cao đạo đức cách mạng. Đó vừa là yêu cầu tất yếu, thường xuyên, liên tục đối với quá trình rèn luyện, phấn đấu của mỗi cán bộ, đảng viên, vừa thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa xây và chống, trong xây có chống, trong chống có xây, nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

PHÒNG VÀ CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Hồ Chí Minh không chỉ là người đầu tiên nêu ra và thực hiện một cách sinh động trong thực tiễn những chuẩn mực đạo đức cách mạng; không ngừng tuyên truyền, vận động mọi người cùng rèn luyện mà trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã cùng Đảng ta lựa chọn, lãnh đạo nhân dân Việt Nam theo lý tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cở sở xác định đạo đức cách mạng đúng đắn. Quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của Người cũng chính sự kế thừa đạo đức truyền thống dân tộc, tiếp thu những tinh hoa tư tưởng đạo đức của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản của học thuyết Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã không chỉ hướng đến mà còn dành cả cuộc đời mình, gắn bó chặt chẽ cuộc đời mình với lý tưởng cao đẹp: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, không màng đến vòng danh lợi. Cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức cách mạng và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cộng sản hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Với Người, dù còn hoạt động bí mật, bị giam cầm trong nhà tù đế quốc hay khi đã trở thành một nguyên thủ quốc gia, một Chủ tịch Đảng cũng vẫn luôn là một là vị lãnh tụ thường xuyên quan tâm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải thường xuyên, liên tục chống chủ nghĩa cá nhân, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân để rèn luyện đạo đức cách mạng. Người đã không chỉ tiên liệu, đưa ra những cảnh báo về sự suy thoái đạo đức, lối sống, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cán bộ, đảng viên khi họ “thoái bộ”, rời xa nhân dân; chỉ rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cùng những phương thuốc đặc trị chúng mà chính Người còn là một tấm gương mẫu mực trong rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư... Hồ Chí Minh là Người mà “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc. Bởi lẽ đó, tất thảy điều gì Hồ Chí Minh dạy và làm, thì mọi người đều ngưỡng mộ và làm theo không chút đắn đo”[9]. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, những nguy cơ dấn đến thoái hoá biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Hồ Chí Minh đã không chỉ nêu ra những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, chỉ rõ tên kẻ địch nội xâm nguy hiểm này mà còn đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ: 1) “Phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng”. 2) Chú trọng các nguyên tắc xây dựng Đảng; theo đó “chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”. 3) Mỗi cán bộ, đảng viên phải “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”. 4) Trong mọi mặt công tác, “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”. 5) Luôn cầu thị, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ” [10]… Theo đó, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, củng cố khối đoàn kết, kỷ luật của Đảng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, gương mẫu trước quần chúng, nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng và nhất là phải rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết phòng và chống chủ nghĩa cá nhân; phải thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình trên cơ sở có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, chứ không phải là đấu nhau, là “bới lông tìm vết”, “là ba phải”, “là trước mặt nói một đằng, phía sau làm một nẻo”… Chỉ có nêu cao tinh thần rèn luyện đạo đức cách mạng, quét sạch và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân của người cộng sản mới giúp nhau sửa chữa tốt khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi. Như vậy, thì đoàn kết và thống nhất nội bộ trong Đảng mới được củng cố, tăng cường, góp phần nhân nguồn sức mạnh nội lực của Đảng. Cũng theo lời Người, chỉ có làm được như vậy, mỗi người cán bộ, đảng viên mới tự cải tạo mình, tự tiến bộ, “để khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”; để họ thực sự là những người cộng sản gương mẫu đi đầu, luôn vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh cả lợi ích của cá nhân mình. Cùng với thời gian, luận điểm Hồ Chí Minh nêu ra: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[11], đã không chỉ phản ánh đúng thực tiễn mà còn luôn là lời cảnh tỉnh có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi cán bộ, đảng viên, với mỗi tổ chức cơ sở Đảng trong hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ theo lời dặn và những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu theo những yêu cầu sau: Một là, trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường, phải tự giác thực hiện Chỉ Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, với các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”… Qua đó, mỗi người hằng ngày đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”,v.v. như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ. Hai là, mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng phải nêu cao trách nhiệm gương mẫu, đi đầu của trên các mặt tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong, tự phê bình và phê bình, trong quan hệ với nhân dân, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ. Nội dung rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu gương đạo đức cách mạng của mỗi người, tùy vị trí công tác và trách nhiệm được giao phải thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tận tụy, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; làm việc có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình, không lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm; chống các hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy thi đua, tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm” và các biểu hiện tiêu cực khác trên tinh thần tất cả vì dân. Ba là, để phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng phải khắc phục tình trạng “các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát… Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ; chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém”. Phải lựa chọn và đưa vào quy hoạch những cán bộ có đức, có tài, luôn tận tâm tận lực vì nhân dân phục vụ. Đồng thời, phòng chống sự suy thoái đạo đức, lối sống với 27 biểu hiện (trong đó có 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống, 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ) theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng; từng bước đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, của nhân dân vào Đảng và chế độ./.

Xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ - căn nguyên dẫn đến suy thoái

Tập trung dân chủ (TTDC) là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là cơ sở bảo đảm hàng đầu để giữ vững bản chất cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Việc xem nhẹ, hạ thấp cũng như nhận thức không thấu đáo, thực hiện không đến nơi đến chốn nguyên tắc này không chỉ làm tổn hại đến vị thế, sức mạnh của Đảng, mà còn là một trong những căn nguyên dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. TTDC là một trong những nguyên tắc cơ bản của các tổ chức cộng sản và là một trong những đặc trưng cốt lõi để phân biệt chính đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các đảng phái chính trị khác. Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định TTDC là nguyên tắc cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong mọi tổ chức và hoạt động của Đảng. Vấn đề căn cốt này đã trang bị cho học viên tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức về Đảng và chuẩn bị đứng trong hàng ngũ của Đảng. Đối với tổ chức đảng các cấp, việc tuân thủ, thực hiện TTDC không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, hoạt động và sinh hoạt Đảng, mà còn là điều kiện bảo đảm để phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Nhận thức chung là như vậy, nhưng thời gian qua, vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng đã “vi phạm nguyên tắc TTDC, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”, một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra. Sự vi phạm nguyên tắc TTDC biểu hiện ở nhiều khía cạnh, nhưng dễ thấy nhất là hiện tượng tách rời giữa tập trung và dân chủ; lợi dụng sự tập trung để lấy tập thể làm “bình phong” che chắn, lấp liếm nhằm “ý chí hóa cá nhân lãnh đạo” dẫn tới các hành vi độc đoán, gia trưởng của người lãnh đạo. Trong khi đó, phần vì nể nang, xuê xoa, dễ dãi; phần khác do ngại va chạm, lại đoàn kết theo kiểu hình thức, xuôi chiều và không loại trừ cả tư tưởng “lợi ích nhóm” mà các thành viên trong ban thường vụ, cấp ủy ở một số nơi đã bị “định hướng, lèo lái” theo ý chí của người lãnh đạo. Thực tế cho thấy, không ít chủ trương, nghị quyết của ban thường vụ, cấp ủy đã không được bàn bạc, thảo luận thấu đáo ở mọi khía cạnh, nên khi ban hành và đi vào cuộc sống hoặc chưa phát huy tác dụng và mang lại hiệu quả như mong muốn, hoặc đã bị “nhóm lợi ích” chi phối dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Đáng báo động hơn, sự vi phạm nguyên tắc TTDC không chỉ xảy ra ở những tổ chức đảng cơ sở thường có một bộ phận cán bộ, đảng viên trình độ, hiểu biết hạn chế, mà xảy ra ở cả ban thường vụ, cấp ủy cấp huyện, cấp tỉnh, cấp ngành Trung ương. Thời gian gần đây, dư luận xã hội không khỏi quan ngại trước những vụ sai phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng liên quan đến nhiều cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ cao cấp của Đảng đều có một nguyên nhân chủ yếu là xa rời, thậm chí làm biến dạng, méo mó bản chất của nguyên tắc TTDC. Trung ương đã kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015; Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020; Ban cán sự đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016; Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… vì các tổ chức đảng này đã có biểu hiện vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy. Ngoài ra, nhiều cấp ủy cũng bị đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật vì lý do vi phạm nguyên tắc TTDC, như: Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an); Ban Thường vụ Huyện ủy Hướng Hóa (Quảng Trị) nhiệm kỳ 2015-2020. Đáng nói hơn, không ít cán bộ cao cấp, nguyên cán bộ cao cấp của Đảng đã bị cách chức, xóa chức như các ông: Nguyễn Xuân Anh, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng; Phạm Văn Vọng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc; Lê Phước Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam; Vũ Huy Hoàng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương; Nguyễn Bắc Son, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Nguyễn Phong Quang, nguyên Phó trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trần Văn Minh, nguyên Phó bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng… Những cán bộ cao cấp này đều có chung một vi phạm, khuyết điểm đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ ra là: “Vi phạm nguyên tắc TTDC” và có biểu hiện thiếu dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Mới đây, một trong những vi phạm rất nghiêm trọng đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Tất Thành Cang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận, cũng liên quan đến khuyết điểm “Vi phạm nguyên tắc TTDC”

Tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ để giữ vững sức mạnh lãnh đạo của Đảng

Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng bao trùm, cơ bản và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân phải tuân theo. Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc TTDC thì bắt buộc mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải chấp hành, thực hiện đến nơi đến chốn. Nguyên tắc này được ví như “la bàn” có vai trò định hướng cho đội ngũ đảng viên khép mình vào khuôn khổ tổ chức, tự giác chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và quy định của Đảng. Nếu xem nhẹ, xa rời hoặc nhận thức không đúng, thực hiện không thấu đáo, hành xử thiếu nhất quán nguyên tắc này sẽ khiến cán bộ, đảng viên “đi chệch" quỹ đạo, từ đó có thể dẫn đến nhiều khuyết điểm, vi phạm trong công tác và trong sinh hoạt Đảng. Hàng loạt tổ chức đảng, đảng viên, nhất là những cán bộ cao cấp của Đảng bị cách chức, bị kỷ luật nêu trên, là minh chứng sinh động, rõ ràng nhất về việc xa rời nguyên tắc TTDC. V.I. Lênin, một trong những lãnh tụ của giai cấp công nhân trên toàn thế giới, người đầu tiên nhắc tới khái niệm “tập trung dân chủ” đã giải thích rằng, một trong những nội dung chính của nguyên tắc này là mọi đảng viên được tự do trong thảo luận nhưng phải thống nhất trong hành động. Là người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”. Chỉ có sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, ý chí và hành động mới bảo đảm cho Đảng thể hiện và thực hiện sứ mệnh cầm quyền của mình trong xã hội. Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao một nguyên tắc tổ chức cao nhất của Đảng lại không được tuân thủ, thực hiện nghiêm túc ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng? Có nhiều lý do dẫn đến thực trạng này, nhưng lý do chủ yếu là không ít cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy vừa không bám sát vào các nội dung nguyên tắc, quy chế làm việc của cấp ủy, thiếu bàn bạc dân chủ trong nội bộ, vừa lợi dụng vị trí, chức trách, quyền hạn được giao để có những biểu hiện áp đặt ý kiến chủ quan cá nhân khiến nguyên tắc bị vi phạm, méo mó. Một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc TTDC là thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nhưng một số cán bộ chủ chốt của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan, ban, ngành vì động cơ, mục đích vụ lợi mà không thực sự tôn trọng, phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể, né tránh sự giám sát của tập thể và đề cao quá mức vai trò cá nhân dẫn đến hiện tượng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền. Vì vậy, vấn đề cấp bách, mấu chốt hiện nay để đưa nguyên tắc TTDC vào đúng quỹ đạo của nó, cũng như bảo đảm cho nguyên tắc này được thực hiện triệt để, hiệu quả ở mọi cấp ủy, tổ chức đảng là phải sớm ban hành và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Không có cơ chế kiểm soát quyền lực, nguyên tắc TTDC của Đảng vẫn rất dễ bị nhiều nơi, nhiều cán bộ lãnh đạo làm biến dạng, méo mó quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước, biến quyền lực công thành quyền lực tư, từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy khôn lường cho tổ chức đảng và dễ làm tổn thất cán bộ. Lịch sử của các đảng cộng sản và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, cũng như bài học đổ vỡ, tan rã, biến chất của nhiều đảng cộng sản ở châu Âu cho chúng ta bài học “xương máu”: Ở đâu, khi nào mà các lãnh tụ, người lãnh đạo, người đứng đầu của các đảng cộng sản và tổ chức đảng luôn tuyệt đối tuân thủ, coi trọng chấp hành và thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả nguyên tắc TTDC, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thì ở đó, lúc đó, đảng cộng sản giữ được vị thế, vai trò, sức mạnh lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xã hội. TTDC là nguyên tắc sống còn của đảng cộng sản. Vi phạm nguyên tắc này là vi phạm một trong những vấn đề cốt lõi thuộc về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ những bài học kỷ luật liên quan đến nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cao cấp của Đảng thời gian qua cho thấy, đã đến lúc các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn Đảng phải quan tâm hơn nữa việc tuyên truyền, phổ biến, học tập nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ, đảng viên về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung của nguyên tắc TTDC; đồng thời vừa chú trọng mở rộng, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường siết chặt kỷ cương, kỷ luật Đảng; kiên quyết ngăn chặn, xử lý kịp thời những biểu hiện manh nha vi phạm nguyên tắc này. Bên cạnh đó, cần phải phòng, chống, đấu tranh với mọi biểu hiện tập trung hà khắc, độc đoán, chuyên quyền, cũng như các biểu hiện dân chủ tùy tiện, vô tổ chức, vô chính phủ. Chỉ có như vậy mới góp phần củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, bảo đảm cho vai trò lãnh đạo và sức mạnh của Đảng được thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến chi bộ.

Không để các thế lực thù địch tạo "khoảng trống" về tư tưởng, văn hóa

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, cả trước đây cũng như hiện nay, các thế lực thù địch luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TTVH) là một “mũi đột phá” và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Trong cuốn sách “1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, R.Nixon đã xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!". Thực hiện mũi tiến công trên lĩnh vực TTVH hiện nay, cùng với việc thực hiện những phương thức, thủ đoạn quen thuộc, các thế lực thù địch luôn quan tâm đổi mới cách thức, thủ đoạn tiến công để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, làm nhụt ý chí, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện để cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của xã hội ta, nhằm đạt tới mục tiêu là xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong đó, chúng tập trung tiến công vào một số nội dung chủ yếu như: Một là, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm giảm niềm tin của nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự “lỗi thời” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu, tham vọng: “Giải thể ý thức hệ cộng sản!". Chúng coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là sản phẩm chủ quan của Mác, đồng thời cho rằng, những người cộng sản kế tục Mác nhưng không hiểu thực chất các luận điểm của Mác, nên đã vận dụng một cách giáo điều, dẫn đến sai lầm cả trong đường lối và cả trong tổ chức thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)! Chúng trắng trợn vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm!". Chúng ra sức ca tụng mô hình phát triển và thích ứng “vạn năng” của chủ nghĩa tư bản. Bằng nhiều thủ đoạn mới hết sức thâm độc, các thế lực thù địch tìm cách tạo ra sự phân hóa, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với CNXH, từng bước rơi vào vòng xoáy của tư tưởng, giá trị tư sản. Mặt khác, chúng còn hướng nhận thức của nhân dân tin theo con đường “CNXH dân chủ”, “CNXH nhân văn”, “nhân bản”, mà thực chất là từ bỏ CNXH khoa học. Hai là, tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong khi toàn thể dân tộc và nhân loại đều khẳng định công lao và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thế lực thù địch lại lớn tiếng xuyên tạc: Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm! Rằng “Con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải CNXH!". Chúng xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”, trong đó, dựng chuyện bôi nhọ thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng còn dùng thủ đoạn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin! Ba là, xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN; đồng thời, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản. Nhận rõ vai trò to lớn của văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay, nhất là trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, dưới sự tác động của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng ra sức xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay; đồng thời, ra sức tuyên truyền, quảng bá, tìm cách du nhập văn hóa, lối sống phương Tây vào nước ta. Coi đây là một vấn đề then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa hiện nay. Chúng luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ (VHVN) hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước, đối với VHVN, tìm cách lôi kéo các văn nghệ sĩ sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị “dân chủ”, “tự do” tư sản; làm tha hóa thế hệ trẻ bằng “văn hóa, tư tưởng, lối sống Mỹ”, nhằm tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển. Thông qua các quan hệ giao lưu văn hóa, chúng tìm mọi cách để tuyên truyền xuyên tạc làm cho tư tưởng, lối sống tư sản xâm nhập vào đời sống xã hội ta, lấn át các giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp. Các lực lượng phản động bên trong và bên ngoài phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa một số lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc, tán phát trên internet có nội dung phản động, đồi trụy. Chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, độc hại lên internet, qua đó tác động xấu tới nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa, lối sống của nhân dân ta. Bốn là, sử dụng các cách thức, biện pháp, phương tiện để đưa TTVH, lối sống tư sản xâm nhập vào Việt Nam. Để thực hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền phản động, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, như: Sách, báo, phim ảnh, internet, mạng xã hội… để phá hoại trận địa tư tưởng của ta. Chúng sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các tờ báo và tạp chí tiếng Việt, các nhà xuất bản ở nước ngoài để tuyên truyền chống phá ta trên mặt trận TTVH. Chúng triệt để lợi dụng các con đường hợp tác văn hóa để tiếp xúc, mời các nhà văn, các đoàn nghệ thuật sang thăm, học tập, “trao đổi” văn hóa; đặc biệt quan tâm tìm cách tiếp cận giới trẻ, văn nghệ sĩ để tác động, làm cho họ nhanh chóng quên đi lý tưởng xây dựng XHCN và say mê với lối sống, văn hóa phương Tây. Thúc đẩy việc truyền bá văn hóa phương Tây đối với học sinh, sinh viên, cán bộ đi học tập, công tác ở nước ngoài. Chúng coi đây là biện pháp tốt nhất để chuyển hóa TTVH, thực hành “diễn biến hòa bình” đối với lớp trẻ theo con đường tư bản chủ nghĩa với “giá rẻ”, mà hiệu quả đạt được lại cao, “một đô la cho tuyên truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi cho quốc phòng". Để góp phần bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững trận địa tư tưởng vô sản; xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới, cần phải thực hiện tốt một số nội dung và biện pháp chủ yếu sau: Một là, nâng cao chất lượng giáo dục, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta. Sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trước hết và trên hết là do Đảng ta nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trước hết cần tập trung: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng trong các văn kiện Đại hội XII và các nghị quyết Trung ương khóa XII, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX, khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; thống nhất chương trình, nội dung học tập cho các đối tượng trong toàn xã hội; chống làm theo kiểu phong trào, hình thức, phô trương. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ, phát triển và làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội ta. Giáo dục sâu rộng chủ nghĩa yêu nước XHCN, lý tưởng cách mạng; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo ra sự “miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước các đòn tiến công về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch và sự xâm nhập của tư tưởng tư sản. Hai là, đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, văn hóa. Đấu tranh TTVH là đòn trực diện tấn công vào các quan điểm phản động, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính, như: Chủ động tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận sâu rộng, củng cố nhận thức, quan điểm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, làm thất bại các quan điểm, tư tưởng chống đối từ nhiều phía. Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, cần có kế hoạch ngăn chặn ý đồ của các thế lực thù địch trong việc tác động, từng bước làm chuyển hóa tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta theo quan điểm tư tưởng tư sản phương Tây. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng; vô hiệu hóa các luận điệu, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ thành công trận địa tư tưởng, quan điểm của Đảng trong quá trình đổi mới. Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên CNXH trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ba là, bảo đảm định hướng chính trị trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng. Các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng phải hướng vào phục vụ, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chống mọi biểu hiện “thương mại hóa”, “phi chính trị” trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, VHVN; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chính trị các hoạt động văn hóa, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị” văn hóa tư sản; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.

Những vấn đề quyền con người đang đặt ra trong xã hội ta hiện nay

Quyền con người (QCN) là một mục tiêu nhất quán, xuyên suốt các cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời năm 1930 đến nay. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, mục tiêu QCN được cụ thể trong chiến lược cách mạng. Trước khi giành được độc lập, QCN là khẩu hiệu để tập hợp quần chúng đi theo Đảng, làm cách mạng giành độc lập dân tộc. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, QCN được công khai tuyên bố. Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định QCN gắn liền với độc lập dân tộc. Người viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Các hiến pháp Việt Nam từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 đều nhất quán quy định các QCN và quyền công dân (QCD). Hiến pháp năm 2013 dành một chương (Chương II) quy định đầy đủ về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Những quy định về QCN tại chương này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế, trong đó có những quyền được xem là “nhạy cảm” cũng đã được đưa vào văn kiện này. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 (Điều 25) và nội luật hóa các công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết, Quốc hội Việt Nam vừa qua đã sửa đổi và xây dựng nhiều đạo luật mới, như: Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2013), Luật An ninh mạng (năm 2018)... Các quy định của những bộ luật trên đều nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và QCN. Trên thực tế QCN trên lĩnh vực báo chí nói chung, internet, mạng xã hội (MXH) nói riêng đã được bảo đảm đầy đủ, nhanh nhất có thể. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm so với nhiều quốc gia trong khu vực (từ ngày 1-12-1997). Tuy nhiên, trong bối cảnh internet, MXH hiện nay, việc tôn trọng, bảo đảm QCN cũng có những khác biệt nhất định so với các giai đoạn lịch sử đã qua. Nội dung QCN ngày nay mở rộng hơn trước, bao gồm quyền sử dụng internet, MXH. Tất nhiên, kèm theo với quyền đó, người sử dụng cũng phải có nghĩa vụ tương ứng. Nếu như trước đây, quyền tự do ngôn luận, báo chí chỉ có quyền tiếp cận với báo in, báo nói, báo hình, thì ngày nay quyền này còn bao gồm cả quyền tiếp cận, sử dụng internet, MXH. 2. Cho đến nay, nhiều vấn đề QCN, từ tình trạng vi phạm của một bộ phận cán bộ, công chức, tình trạng vi phạm của công dân và những hành vi lợi dụng QCN để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội đang là một vấn đề cần ứng phó, giải quyết, nhất là những vấn đề lớn, những vấn đề gây nhức nhối xã hội. Theo nhiều đại biểu Quốc hội, trước mỗi kỳ họp, các đại biểu đều nhận được rất nhiều đơn thư khiếu kiện về đất đai, về đền bù giải tỏa thiếu minh bạch, không công bằng, nhất là đền bù giải tỏa, giao đất cho các doanh nghiệp. Cùng với đó là vấn đề bạo lực trên lĩnh vực giới và quyền trẻ em… Vi phạm QCN về chính trị, dưới hình thức “Hội chứng đám đông” đang là vấn đề xã hội cần sớm có những giải pháp hữu hiệu. Trong vài năm lại đây, đã xuất hiện hành vi tụ tập đông người, biểu tình gây rối. Chẳng hạn, những cuộc biểu tình gây rối viện cớ ô nhiễm môi trường biển; hoặc gần đây là những hành động vi phạm pháp luật sau sự kiện Quốc hội bàn thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và thông qua Luật An ninh mạng. Hành vi của những người biểu tình có nhiều nguyên nhân song có thể nói đã vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng… trái với nguyên tắc QCN. Quyền được sống trong một môi trường trong sạch là một loại quyền mới. Những nhóm xã hội dễ bị tổn thương và nhóm người nghèo thường chịu tác động nhiều hơn, trong đó đáng kể nhất là ô nhiễm chất thải, khói bụi; ô nhiễm không khí, nguồn nước, tiếng ồn và ánh sáng... Đây đang là vấn đề lớn, cấp bách về QCN ở nước ta. Một trong những vấn đề QCN hiện nay trong bối cảnh internet, MXH là bảo đảm QCN trong tiếp cận, phản hồi thông tin và ngăn chặn việc lợi dụng QCN để vi phạm pháp luật. Internet, MXH là một hệ thống thông tin mạng lan tỏa gần như tức thì trên tất cả lĩnh vực. Đồng thời, những thông tin này được lưu giữ, dễ dàng tìm kiếm và có những hoạt động tương tác trực tuyến. Thế nhưng thế giới ảo lại đặt ra nhiều thách thức đối với QCN, nhất là quyền tiếp cận thông tin một cách chân thực. Quyền này thường bị vi phạm từ những việc đơn giản, như mua, bán hàng (hàng giả, kém chất lượng trên mạng) cho đến những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền riêng tư của cá nhân... Khác với thế giới thực, những thông tin mà người ta có được trên thế giới ảo khó kiểm chứng. Điều này, dẫn đến việc kẻ xấu có thể lợi dụng internet, MXH vì những mục tiêu xấu độc, như: Đưa thông tin giật gân, câu view, câu like; đưa thông tin về đời tư do hẹp hòi, ích kỷ, định kiến cá nhân... Thông tin sai sự thật không những ảnh hưởng đến xã hội, mà còn tác động xấu đối với cá nhân, vi phạm QCN, thậm chí có người do tác động của thông tin mạng đã tìm đến cái chết… Vụ Nguyễn Ngọc Như Quỳnh-“Mẹ Nấm"-vi phạm pháp luật là một ví dụ về lợi dụng QCN trên internet, MXH. Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh thừa nhận toàn bộ hành vi mà cáo trạng nêu. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã sử dụng facebook cá nhân để đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết có nội dung sai sự thật, không có căn cứ, tuyên truyền xuyên tạc, đả kích, nói xấu đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Như vậy, xét về chủ thể của các hành vi vi phạm QCN bao gồm: (1) Các cá nhân (thường là cán bộ, công chức thiếu hiểu biết về QCN); (2) Nhóm công tác vi phạm (cùng nguyên nhân như trên); (3) Nhóm dân cư (do ngộ nhận về QCN hoặc bị kẻ, kích động, xấu xúi giục…diễn ra trên một số địa bàn). Những QCN bị vi phạm bao gồm: (1) Quyền tập thể, quyền quốc gia dân tộc. Đó là an ninh quốc gia, trật tự công cộng… Những hành vi vi phạm quyền này thường là xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, hoặc tụ tập đông người, biểu tình gây rối…; (2) Quyền của nhóm xã hội, nhất là quyền không bị phân biệt đối xử của nữ giới và quyền trẻ em; (3) Quyền của cá nhân, trong đó có quyền không bị tra tấn và bị các hình thức nhục hình, xúc phạm nhân phẩm, danh dự (kể cả khi họ vi phạm pháp luật-theo Công ước Chống tra tấn). Để khắc phục tình trạng QCN bị vi phạm đòi hỏi chúng ta phải có hệ thống các giải pháp: (1) Trước hết là nâng cao nhận thức về QCN. Do QCN vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù, nên công tác tuyên truyền, giáo dục về QCN phải dựa trên quan điểm của Đảng ta. Đối tượng cần nâng cao nhận thức về QCN, trước hết là cán bộ, đảng viên, công chức… Đây là những người có trách nhiệm bảo vệ và bảo đảm QCN cho nhân dân. Chủ trương đưa giáo dục về QCN trong cả hệ thống giáo dục, từ cơ sở đến giáo dục chuyên nghiệp và đại học là cần thiết. (2) Tiếp tục hoàn thiện pháp luật liên quan đến QCN theo Điều 25 Hiến pháp năm 2013. (3) Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, nhất là chính sách về đền bù giải tỏa… nhằm bảo đảm việc làm của người bị thu hồi đất; bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch giá đền bù… trước mắt có giải pháp giảm số lượng khiếu kiện về đất đai ở các địa phương. (4) Nhanh chóng có biện pháp ngăn chặn, giảm tình trạng ô nhiễm môi trường, bảo đảm QCN cho cả xã hội được sống trong môi trường trong lành. (5) Tăng cường thông tin truyền thông về QCN. QCN là bản chất của chế độ ta. Bởi vậy trong bất cứ thời kỳ nào, hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên, công chức, cán bộ, chiến sĩ LLVT luôn phải nâng cao nhận thức về QCN, luôn tôn trọng, bảo đảm QCN trong phạm vi công tác của mình.

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị là nguy cơ liên quan đến tồn vong của Đảng, của chế độ

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, do tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị cùng với suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn biến phức tạp. Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) tiếp tục nhận định tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên, bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc, đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ rõ chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Cùng với đó, Nghị quyết cũng chỉ ra chín biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và chín biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó là bước phát triển về nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Cái mới của lần này là Trung ương thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong đó nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lợi; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân. Suy thoái về tư tưởng chính trị và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ biện chứng với nhau: suy thoái về tư tưởng chính trị trong đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Tự diễn biến” xảy ra ở hai phạm vi: đối với cá nhân và tổ chức. "Tự diễn biến" đối với cá nhân là sự thay đổi về nhận thức chính trị - xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực, xấu đi, nhận thức và hành động xa rời, nhận thức, đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. "Tự diễn biến" đối với tổ chức là những thay đổi ở tầm vĩ mô về đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị, thậm chí làm suy yếu và tan rã tổ chức đó. "Tự diễn biến" của cá nhân có thể dẫn đến sự thay đổi của tập thể, tổ chức. "Tự diễn biến" của tổ chức chi phối, áp đặt, điều khiển đối với các cá nhân trong tổ chức đó. "Tự chuyển hóa" là hậu quả tất yếu của các quá trình "tự diễn biến", nếu không được ngăn chặn kịp thời. "Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có mối quan hệ không tách rời với "diễn biến hòa bình". Đó là mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, giữa nhân tố bên ngoài và bên trong. "Diễn biến hòa bình" thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đến lượt nó, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thúc đẩy "diễn biến hòa bình", trong đó "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là nhân tố bên trong nguy hiểm nhất. Như vậy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị sẽ dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và quá trình này chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đe dọa sự sống còn của Đảng, của chế độ. Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã cho thấy điều đó.

Đảng Cộng sản Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài của Đảng. Trong hơn 30 năm đổi mới, bám sát thực tế trong mỗi giai đoạn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thường xuyên, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị; đề ra các chủ trương, giải pháp nhằm đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong những năm gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện các giải pháp chủ yếu sau: Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng đã coi trọng hơn việc đề cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là việc đấu tranh với những biểu hiện nói và làm trái với Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Coi trọng xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở. Coi trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần tăng cường đoàn kết trong Đảng. Kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Đấu tranh với những phần tử suy thoái về tư tưởng chính trị ngay từ chi bộ, khu dân cư. Hai là, thành lập các ban chỉ đạo đấu tranh chống "diễn biến hòa bình", chống suy thoái về tư tưởng chính trị. Ban Bí thư và Chính phủ đã thành lập một số ban chỉ đạo như: Ban Chỉ đạo đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của Trung ương (gọi tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương 94); Ban Chỉ đạo 609 đấu tranh trên mặt trận lý luận; Ban Chỉ đạo Đề án 213 đấu tranh trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại; Ban Chỉ đạo Nhân quyền của Chính phủ. Các địa phương, ban, ngành thành lập Ban Chỉ đạo 94 của địa phương, ban, ngành mình. Mới đây, Bộ Quốc phòng đã thành lập Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng. Ba là, tổ chức các hoạt động đấu tranh cụ thể, phong phú, đa dạng. Các ban chỉ đạo địa phương, ban, ngành định kỳ giao ban, định hướng thông tin, phối hợp với các lực lượng, tập trung đấu tranh theo các nội dung, lĩnh vực và nhóm đối tượng được phân công. Ban Chỉ đạo Trung ương 94 hàng tuần xây dựng kế hoạch đấu tranh, phân công viết các bài đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, quyết liệt chặn, lọc các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội và internet. Chủ động làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước yêu cầu hợp tác ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam; ngăn chặn, gỡ bỏ những nội dung đưa thông tin chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương có chuyên trang, chuyên mục, kịp thời định hướng thông tin và đấu tranh phê phán, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị. Bốn là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao sức đề kháng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời phê phán các quan điểm sai trái, phản động một cách kịp thời, thường xuyên bằng nhiều hình thức, phương pháp. Trên thực tế, các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, từng bước ngăn chặn được tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Bên cạnh những kết quả bước đầu, việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị cũng như suy thoái về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn có những hạn chế, bất cập. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không những chưa bị đẩy lùi mà còn có mặt, có bộ phận diễn biến phức tạp hơn. Xét về tính chất là nghiêm trọng, kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, chậm được khắc phục. Về phạm vi là tương đối phổ biến ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực. Về xu hướng là còn diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Về hậu quả là giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tổn hại đến uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước, thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Trong khi đó, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế trong nhận thức, lúng túng trong đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Việc đấu tranh, phản bác những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Xử lý các đối tượng vi phạm đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời…

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC!

 CHÚNG TÔI SẼ ĐÁNH BẠI CẢ CÁC ÔNG NỮA, NẾU CÁC ÔNG ĐEM QUÂN SANG XÂM LƯỢC ĐẤT NƯỚC TÔI.

   Năm 1963, Tổng Bí thư Lê Duẩn sang gặp một số nhà lãnh đạo Trung Quốc, thời điểm mà Trung Quốc đang viện trợ cho Việt Nam rất nhiều. Họ đã có một cuộc đối thoại vô cùng đặc biệt.

Ông ta hỏi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?

Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Ông ta: Dân số của họ bao nhiêu?

Tôi: Khoảng 3 triệu!

Ông ta: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật đấy!

Ông ta lại hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?

Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.

 Nhà lãnh đạo Trung Quốc: Có bao nhiêu người?

Tôi: Khoảng 40 triệu!

Ông ta: Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!

Ông ta hỏi: Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?

Tôi trả lời: Đúng.

Ông ta hỏi tiếp: Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?

Tôi trả lời: Đúng.

Ông ta: Và quân Minh nữa, phải không?

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta mà nói: Đúng, và cả các ông nữa, nếu các ông đem quân sang xâm lược đất nước tôi, các ông có biết điều đó không?

Yêu nước ST.

Tăng cường đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị

Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị cần thực hiện tốt những giải pháp nổi bật sau: Một là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (1). Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị. Hai là, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng (2). Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả. Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất (3). Bốn là, chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc . Năm là, hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái. Tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sáu là, hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, lao động và công tác ở nước ngoài. Bảy là, xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nghiêm trọng (4). Tám là, các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NĂM XƯA

“Muốn tiến bộ mãi thì phải học tập. Học trong sách báo, học trong công tác, học với anh em, học hỏi quần chúng. Học để phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm”.


Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại buổi bế mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan Trung ương, ngày 09 tháng 6 năm 1953. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn có tính chất quyết định. Lời dạy trên của Bác đã nêu rõ vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa của công tác chỉnh huấn đối với các cơ quan Trung ương; nhắc nhở đội ngũ cán bộ các cơ quan Đảng, dân, chính muốn tiến bộ hơn nữa thì cần phải tích cực học tập, không những học trong sách vở mà còn phải học trong công tác, học ở đồng chí, đồng đội và đặc biệt phải học hỏi quần chúng nhân dân để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm của bản thân. Muốn đạt được mục đích như Bác hồ dạy, đội ngũ cán bộ phải nghiêm túc, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình trong cơ quan và trước quần chúng nhân dân.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lời dạy của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xây dựng một xã hội học tập, thực hiện có hiệu quả việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển toàn diện con người Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, không những học trong nhà trường, học sách vở mà còn phải học hỏi ở quần chúng nhân dân để nâng cao trình độ mọi mặt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ phải thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, nêu cao ý thức tự phê bình, phê bình; tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực công tác, chất lượng huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu; làm chủ vũ khí trang bị, tinh thông về kỹ, chiến thuật sẵn sàng nhận; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa./.

Chống diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng - nhìn từ công tác xây dựng Đảng ở cơ sở

Công tác tư tưởng nói chung và cuộc đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng nói riêng ở phường, xã thường gắn liền với công tác vận động quần chúng. Làm dân vận ở phường, xã chính là làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân địa phương thông suốt về tư tưởng, từ đó có sự đồng thuận cần thiết với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều này cho phép khẳng định công tác tư tưởng và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng ở phường, xã thời gian vừa qua đã có một số kết quả nhất định, thể hiện qua thái độ nhiệt tình hưởng ứng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nhiều phong trào hành động cách mạng ở địa phương; như phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phong trào đền ơn đáp nghĩa..., hay trong việc thực hiện các cuộc vận động và các chủ trương của đảng bộ và chính quyền. Cũng có thể thấy đối tượng tác động của công tác tư tưởng và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng ở phường, xã khá ổn định, hiểu theo nghĩa chỉ bó hẹp trong phạm vi những người vốn đã tích cực: Tích cực tham gia nghiên cứu quán triệt, hoặc nghe phổ biến chỉ thị, nghị quyết trong Đảng và trong các đoàn thể; tích cực tham gia sinh hoạt tổ dân phố, thôn và các cuộc tiếp xúc cử tri; tích cực đọc báo, nghe đài, xem truyền hình... thực tế cho thấy đại biểu HĐND phường xã, và cả các cấp trên - đại bộ phận là kiêm nhiệm; còn số đông cử tri tham gia tiếp xúc cử tri ở các phường xã, các khu dân cư thì lại là chuyên trách, tức chỉ quanh đi quẩn lại một số gương mặt đến nghe và chất vấn kiến nghị. Trong khi đó, những người vốn thiếu tích cực tham gia, thậm chí chưa bao giờ tham gia nghiên cứu quán triệt, hoặc nghe phổ biến chỉ thị, nghị quyết trong Đảng và trong các đoàn thể; thiếu tích cực tham gia, thậm chí chưa bao giờ tham gia sinh hoạt thôn, tổ dân phố và các cuộc tiếp xúc cử tri; ít đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, thậm chí còn phát tán tài liệu ngoài luồng... thì vẫn chưa được những người làm công tác tư tưởng và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng ở phường, xã quan tâm “phủ sóng”. Đáng chú ý là trong những người “ngoài cuộc” này, có không ít thanh niên chưa được tập hợp vào tổ chức Đoàn, Hội và đang phải đối diện với nhiều cám dỗ, cạm bẫy rất dễ sa ngã… Chính vì vậy, muốn làm tốt công tác tư tưởng và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng, cần phải tăng cường khả năng theo dõi nắm bắt, nắm chắc và quan trọng hơn là phân tích, đánh giá cho được diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ở từng thời điểm, trên từng địa bàn dân cư. Tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ở phường xã thường xuyên chịu ảnh hưởng của các biến động chính trị-xã hội theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Kinh nghiệm cho thấy trước một sự kiện chính trị-xã hội, bao giờ cũng có sự phân hoá hai cực - tích cực và tiêu cực; lạc quan và bi quan; ủng hộ và chống đối; tin tưởng và hoài nghi...; nhưng cần phải tỉnh táo nhận định cực nào là chủ đạo để có sự phân tích, đánh giá sát với thực tế tình hình và đúng với thực chất vấn đề. Đó là chưa kể tuy cùng một cực nhưng do động cơ khác nhau, thực tế tình hình và thực chất vấn đề cũng không hoàn toàn giống nhau. Trên cơ sở phân tích, đánh giá diễn biến tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân mà tiến hành việc định hướng dư luận. Giải pháp tối ưu nhất để định hướng dư luận theo cực tích cực, lạc quan, ủng hộ, tin tưởng... chính là tuyên truyền miệng. Bên cạnh việc tổ chức nắm bắt, nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, một hình thức công tác tư tưởng và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng cũng thường gặp ở phường xã là chuyển tải chỉ thị, nghị quyết của Đảng - tức là cung cấp những thông tin chính thống. Kinh nghiệm cho thấy để có một hệ thống giải pháp tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả chuyển tải chỉ thị, nghị quyết của Đảng, cần phải tính toán những vấn đề sau đây: Một là, lựa chọn hình thức triển khai thích hợp nhất với đối tượng đi đôi với việc tìm cách phối hợp các hình thức triển khai khác nhau để cùng tác động thuận chiều đến đối tượng đó. Hai là, cân nhắc liều lượng triển khai - cả nội dung và thời gian. Ba là, tăng cường đầu tư về điều kiện triển khai - địa điểm, tài liệu, đối tượng truyền đạt...; và quan trọng hơn là các vấn đề nằm ngoài ba yếu tố trên - ý thức của đối tượng tiếp nhận - chẳng hạn quan tâm hay thờ ơ với chính sự; tính thiết thực của bản thân chỉ thị, nghị quyết - sát hay không sát đòi hỏi bức xúc của cuộc sống, phù hợp hay không phù hợp với nguyện vọng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, khả thi hay không khả thi trong thực tiễn. Nói khác đi, muốn nâng cao hiệu quả chuyển tải, phải chú ý đầy đủ ba cạnh của cùng một tam giác đều: Đối tượng truyền đạt chỉ thị, nghị quyết - Đối tượng tiếp nhận chỉ thị, nghị quyết - Bản thân chỉ thị, nghị quyết. Về đối tượng tiếp nhận chỉ thị, nghị quyết của Đảng, có thể chia thành ba nhóm: một là, cán bộ chủ chốt và cấp uỷ viên - với tư cách là đối tượng tiếp nhận chứ không phải với tư cách người định hướng, lãnh đạo; hai là, cán bộ và đảng viên bình thường; ba là, nhân viên trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, công nhân trong doanh nghiệp, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, nhân dân ở khu dân cư. Còn đối tượng truyền đạt chỉ thị, nghị quyết, ngoài đội ngũ báo cáo viên chuyển tải một cách hệ thống, bài bản, thì cả ba nhóm đối tượng tiếp nhận nêu trên đều có thể trở thành đối tượng truyền đạt thông qua hình thức tuyên truyền miệng, phổ biến đến một số đối tượng tiếp nhận khác những thu hoạch về chỉ thị, nghị quyết của bản thân mình. Cũng cần hết sức chú ý tới phương pháp nêu gương bằng hành động thực tế - kinh nghiệm cho thấy nhiều khi một hành động thực tế có ý nghĩa hơn một bài giảng đơn thuần lý thuyết dẫu cho hùng hồn, sinh động đến mấy, trước hết thông qua sự tiên phong gương mẫu trong hành động thực tế - chứ không chỉ trong nhận thức - của đội ngũ đảng viên, của tập thể cấp uỷ mà trước hết là của đồng chí bí thư cấp uỷ. Thật vậy, không một cá nhân người đứng đầu nào, dẫu xuất chúng đến mấy, có thể tự mình thấu hiểu mọi việc, sáng suốt mọi lẽ, đúng đắn trong mọi quyết định. Cá nhân người đứng đầu tổ chức Đảng chỉ có thể có được sự thấu hiểu ấy, sự sáng suốt ấy, sự đúng đắn ấy khi bản thân thực sự cầu thị, khiêm tốn học tập, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và quan trọng hơn là tập hợp được trí tuệ của tập thể cấp uỷ, của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhưng dẫu sao thì người bí thư vẫn có vai trò hết sức quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất. Đó là ngọn cờ đoàn kết tập hợp, là linh hồn của cả tổ chức Đảng, cũng là tấm gương sáng mẫu mực nhất trong công tác tư tưởng nói riêng và trong sự lãnh đạo toàn diện của tổ chức Đảng nói chung. Nhân đây cần nói thêm là tập thể cấp uỷ và cá nhân đồng chí bí thư cấp uỷ phường xã phải có kiến thức về tình huống học, có năng lực xử lý tình huống chính trị một cách thông minh sáng suốt. Đời sống chính trị càng được dân chủ hoá thì tình huống chính trị càng trở nên phức tạp, thiên hình vạn trạng, đòi hỏi những người lãnh đạo cao nhất của hệ thống chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở phải điềm tĩnh, khôn khéo, biết đánh giá bản chất và mức độ nghiêm trọng của từng vụ việc. Cần thấy đối tượng chủ yếu tạo ra những điểm nóng chính trị là người dân - có thể do tự phát hoặc bột phát theo áp lực của đám đông mà cũng có thể do bị kẻ xấu kích động, và những đòi hỏi của họ nhìn chung là chính đáng, vì thế có khi chỉ cần các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở địa phương trực tiếp gặp gỡ, đối thoại, giải thích làm rõ nếu do thiếu thông tin mà có sự hiểu nhầm về bản chất và về mức độ của sự việc, nhận khuyết điểm và hứa khắc phục nếu quả tình là có khuyết điểm, qua đó mà động viên đồng bào tự giải tán một cách êm thấm trật tự.

CÂU CHUYỆN VỀ CON NGƯỜI HAY VŨ KHÍ LÀ QUAN TRỌNG? CỦA ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH

            Trong việc xây dựng quân đội và chỉ đạo tác chiến, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh coi trọng yếu tố con người và yếu tố tinh thần. Đồng chí khẳng định con người và tinh thần vẫn giữ vai trò quyết định.


          Nói chuyện với Đại hội anh hùng và chiến sỹ thi đua miền Nam Việt Nam (5-1965) Đại tướng có nói : Mỹ và tay sai không những không thiếu mà còn thừa vũ khí nhưng vì sao chúng không thắng nổi chúng ta? Nếu như giờ đây có người nào cho rằng thời đại nguyên tử ngày nay, luận điểm yếu tố con người, yếu tố tinh thần là yếu tố quyết định trong chiến tranh đã lỗi thời rồi thì thực tiễn chiến tranh của chúng ta hoàn toàn bác bỏ lý luận đó. Vì vậy, có thể nói rằng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta là một sự phát huy cao độ yếu tố của con người, của tinh thần trong cách mạng, trong chiến tranh cách mạng để áp đảo, đè bẹp và chiến thắng quân thù.

          Chính vì vậy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Mỹ, một đế quốc sừng sỏ, một tên sen đầm quốc tế, với các loại vũ khí hiện đại, vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tổng số bom mà máy bay Mỹ ném xuống Việt Nam là 15,35 triệu tấn (trong đó 7,85 triệu tấn thả từ trên không, 7,5 triệu tấn tấn công trên mặt đất), gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước và tương đương với sức công phá của 250 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima. Nhưng chúng đã phải chịu bó tay, khuất phục trước khí phách anh hùng hiếm thấy, với ý chí kiên cường bền bỉ và lòng dũng cảm vô song của dân tộc ta để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

                                                                                                HB: 06