Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

Phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay

Ngay từ những ngày đào tạo, bồi dưỡng các hạt giống cán bộ đầu tiên, Bác Hồ đã sớm nhận ra những biểu hiện, tính nguy hại của bệnh “kiêu ngạo cộng sản”. Nhận diện và đấu tranh phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” cũng là vấn đề rất cần thiết hiện nay. Ngay từ rất sớm, trong những bài giảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức ở Quảng Châu (Trung Quốc) từ năm 1925 đến năm 1927 được tập hợp lại và xuất bản thành sách Đường Kách mệnh năm 1927, khi bàn về “Tư cách của người cách mạng” đã chỉ rõ: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo” [1]. Như vậy, theo Người, tư cách của người cách mạng chân chính không có chỗ ngự trị cho bệnh “kiêu ngạo cộng sản”. Nguyễn Ái Quốc đã nhận diện rõ những biểu hiện của bệnh kiêu ngạo của cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và tính nguy hại khôn lường của nó. Trong tác phẩm Người cách mạng mẫu mực, Người viết: “Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình” [2]. Người giải thích rõ hơn: “Kiêu ngạo-Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, nói phô, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ” [3]. Quan điểm này là sự cụ thể hóa và phát triển quan điểm của V.I.Lênin về “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”. Trong bài viết Chính sách kinh tế mới và Những nhiệm vụ của các ban giáo dục chính trị để báo cáo tại Đại hội II toàn Nga các ban giáo dục chính trị ngày 17-10-1921, V.I.Lênin đã vạch ra ba thứ kẻ thù chính-kẻ thù “nội xâm” mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt chúng. Một trong ba thứ kẻ thù ấy, kẻ thù mà V.I.Lênin nói đến đầu tiên, chính là “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”, tức “tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình”. V.I.Lênin cảnh báo, rằng “Không có gì nguy hại và tai hại đối với chủ nghĩa cộng sản bằng thói lên mặt ta đây là cộng sản” [4]; rằng “nếu một người cộng sản cứ tưởng rằng ta biết tất cả rồi… thì chính cái tâm trạng ngự trị trong chúng ta đó làm cho chúng ta thất bại” [5]. Trong tác phẩm Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn, Hồ Chí Minh một lần nữa cắt nghĩa bệnh kiêu ngạo và chỉ ra hậu quả khôn lường của nó: “Kiêu ngạo là: Khi công tác có ít nhiều thành tích, ít nhiều thắng lợi, thì lên mặt anh chị, lên mặt công thần. Rồi đối với việc học tập thì lười biếng, không ra sức nâng cao trình độ của mình. Trong công tác thì xem thường nhân dân, xa rời quần chúng. Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt kỷ luật và chính sách của Đảng và của Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới. Xem thường chỉ thị của cấp trên. Không muốn chịu kiểm tra, không muốn nghe phê bình. Thân với những kẻ xu nịnh tâng bốc mình. Xa tránh những người tính trực nói thẳng... Kết quả của bệnh kiêu ngạo là: Thoái bộ, xuống dốc, rồi đi đến bất mãn, hủ hóa” [6]. Đó là những CB, ĐV mà “số người ấy không hiểu sức mạnh của Đảng chính là ở sự tập trung thống nhất, ở kỷ luật sắt của Đảng. Họ ít gắn bó với tổ chức, không tin ở lực lượng và trí tuệ của tập thể. Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác. Hễ có đôi chút hiểu biết, đôi chút thành công thì tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người. Ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hơn hết thảy, định đoạt mọi việc; ở ngành nào, địa phương nào thì coi đó như một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích toàn cục. Họ coi thường những quyết định của tổ chức, họ là những "ông quan liêu", chỉ thích dùng mệnh lệnh đối với đồng chí và nhân dân” [7]. Nguồn gốc bệnh “kiêu ngạo” từ đâu? Theo Hồ Chí Minh, bệnh “kiêu ngạo” của CB, ĐV không tự nhiên sinh ra, không thuộc về bản chất vốn có của họ, lại càng không phải bản chất của Đảng ta, nó do nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại. Về nguyên khách quan, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người cho rằng, “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa v.v.. Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái? Vì lội bùn thì nhất định có hơi bùn. Cần phải tắm rửa lâu mới sạch. Trái lại, nếu lội bùn mà không có hơi bùn, mới thật là kỳ quái. Nếu trong Đảng ta, một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra, nếu nó hoàn toàn không có những người xấu, việc xấu như thế mới là kỳ quái chứ! Cố nhiên nói thế không phải là để tự bào chữa” [8]. Những tư tưởng “thâm căn cố đế” của xã hội cũ vẫn còn ăn sâu, bám chặt vào nhận thức, tư tưởng, hành vi của họ: “Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng: Ảnh hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) hủ hóa. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: Kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân” [9]. Về nguyên nhân chủ quan, Người cho rằng, nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân mà ra: “Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức” [10]. Theo Người, nguyên nhân chủ yếu là “Đảng ta là một đảng có tính chất quần chúng, có hàng chục vạn đảng viên. Vì hoàn cảnh nước ta mà số đông đảng viên thuộc thành phần tiểu tư sản. Điều đó không có gì lạ. Dù vì ảnh hưởng của tư tưởng tư sản mà lúc đầu có đảng viên lập trường thiếu vững chắc, quan điểm còn mơ hồ, tư tưởng thiếu đúng đắn, nhưng được rèn luyện trong cách mạng và trong kháng chiến, nói chung đảng viên ta là tốt, trung thành với Đảng, với cách mạng…". Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng , Người một lần nữa nhắc lại: “Nhưng vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. Họ không biết rằng: Có hoạt động thì khó mà hoàn toàn tránh khỏi sai lầm” [11]. Phương thức khắc phục bệnh “kiêu ngạo” Hồ Chí Minh đã chỉ ra những phương thức khắc phục bệnh này. Theo Người, để thủ tiêu được kẻ thù nguy hại và tai hại này, trước hết, CB, ĐV phải nhận thức rõ rằng không thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản bằng việc chỉ dựa vào những kết luận cộng sản và chỉ thuộc lòng những khẩu hiệu cộng sản. Người yêu cầu: “Chúng ta phải cố gắng làm, cố gắng học, cố gắng tiến bộ mãi… Chúng ta phải tuyệt đối chống bệnh kiêu ngạo, phải luôn luôn khiêm tốn. Mọi công tác phải dựa hẳn vào quần chúng, hoan nghênh quần chúng đôn đốc và kiểm tra. Trong đoàn thể thì phải giữ vững dân chủ tập trung, tập thể lãnh đạo, phải mở rộng tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên trên… Khiêm tốn là một đạo đức mà mọi người cách mạng phải luôn luôn trau dồi” [12]. Theo Người, phải biết gạt bỏ thái độ huênh hoang cộng sản, tính tự phụ kiểu trí thức, “tính tự cao tự đại của người cộng sản”. Người đã từng cảnh báo thái độ tự cao tự đại cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến các đảng cách mạng đi đến chỗ tiêu vong. Người nhấn mạnh: “Phải khiêm tốn, thật thà… Không ai có thể tự xưng mình là giỏi lý luận. Do đó phải nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà. Đào sâu suy nghĩ khi nghiên cứu các tác phẩm của Mác-Lênin, các bài giảng của các đồng chí giáo sư bạn, khiêm tốn học tập các đồng chí giáo sư bạn, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [13]. Phê phán thái độ tự cao tự đại, trong tác phẩm “Anh hùng” giả, anh hùng thật, Người chỉ ra: “Anh hùng giả là những người có độ lượng nhỏ bé, như cái vỏ hến, một giọt nước cũng đủ đầy tràn. Khi có chút ít thành tích, thì họ liền ra mặt “anh hùng”. Họ không hiểu rằng: Có thành tích đó là nhờ lực lượng của quần chúng, nhờ chính sách của đoàn thể. Họ tự cao tự đại, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, không cầu tiến bộ nữa” [14]. Phải tăng cường mối liên hệ của Đảng, của CB, ĐV đối với quần chúng được Hồ Chí Minh coi là rất cần thiết. Trong tác phẩm Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội, Người yêu cầu: “Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai… Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư”, và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản” [15]. Đồng thời, phải ra sức học tập ở nhân dân: “Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”. Câu đó nghĩa là gì? Nghĩa là: Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình… Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”[16]. Những lời căn dặn của Bác Hồ về phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Chúng ta cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” trong quán triệt và thực hiện triệt để Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng và nhất là thực hiện Quy định “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương” theo tinh thần Hội nghị lần thứ 8, khóa XII; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây là các nghị quyết, chỉ thị căn bản của Đảng ta, nếu được quán triệt và thực hiện tốt, thì chẳng những khắc phục có hiệu quả bệnh “kiêu ngạo cộng sản” của CB, ĐV, mà còn giúp xây dựng đội ngũ CB, ĐV “vừa hồng, vừa chuyên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới.

Không thể xuyên tạc, bôi đen hình ảnh đất nước trong đổi mới, hội nhập quốc tế

Lợi dụng internet, mạng xã hội và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. Hơn 30 năm qua kể từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (từ năm 1986 đến nay), nhìn tổng thể, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội-nhất là sau cuộc khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu (1985-1991). Từ tình trạng một quốc gia kém phát triển, lương thực không đủ… đến nay Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên: Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Thế nhưng lợi dụng internet, mạng xã hội (MXH) và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. Về tình hình trong nước, họ cường điệu những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, rằng “nền kinh tế Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm”. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng họ viết: Đó chỉ là “cuộc đấu đá giữa nhóm tham nhũng mới với nhóm tham nhũng cũ”. Về chế độ xã hội họ viết: Ở Việt Nam “các quyền của người, nhất là quyền tự do ngôn luận, quyền “tự do internet, MXH” bị xâm phạm bởi Luật An ninh mạng…". Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn có thể thấy, từ khi được hoàn toàn giải phóng đến nay, Việt Nam đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời kỳ trước đổi mới (1975-1985), dân tộc Việt Nam đã phải đấu tranh với cuộc bao vây cấm vận nghiệt ngã của Mỹ (từ năm 1975 đến năm 1994). Trong thời kỳ này, Mỹ đã cản trở các tổ chức tài chính quốc tế và các nước cho Việt Nam vay tín dụng… Đến năm 1994, Mỹ mới tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào tháng 7/1995. Cũng trong thời kỳ 1975-1985, những sai lầm của mô hình xây dựng xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu cũ khiến nền kinh tế đất nước trì trệ, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Là một quốc gia nông nghiệp, đất đai phì nhiêu, người dân cần cù, sáng tạo thế nhưng ở nhiều nơi đã xuất hiện tình trạng thiếu đói. Còn nhớ thời kỳ này, trong khi vết thương chiến tranh chưa được hàn gắn, thì dân tộc Việt Nam lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bước sang thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), mở đầu là Đại hội VI (năm 1986), dựa trên đổi mới tư duy lý luận-chính trị và kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối chính sách xây dựng xã hội theo mô hình mới của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong mô hình này, các quyền bình đẳng về dân sự và chính trị được bảo đảm (về phương diện pháp lý). Về kinh tế đó là nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần, cạnh tranh bình đẳng… theo định hướng XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Như vậy có thể nói, trong mô hình mới của CNXH các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được bảo đảm. Nét đặc sắc trong xây dựng xã hội theo mô hình mới của CHXH, đó là các quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật cũng như trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 dành một chương (Chương II) quy định về đầy đủ về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Những quy định về quyền con người tại chương này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có những quyền được xem là “nhạy cảm” cũng đã được đưa vào văn kiện này. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết, Quốc hội Việt Nam vừa qua đã sửa và xây dựng nhiều đạo luật mới. Đó là Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2013), Luật An ninh mạng (năm 2018)... Các quy định của những bộ luật trên đều nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và quyền con người. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm so với nhiều quốc gia trong khu vực-từ ngày 1-12-1997. Theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc tế-Next Web, hiện nay Việt Nam nằm trong “Top 10 quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới” với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu. Trên lĩnh vực kinh tế, hình ảnh đất nước, cuộc sống của nhân dân đã được nâng cao đáng kể. Triển khai Chương trình 135 về phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa… cho đến nay các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: Điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu Thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm… Giai đoạn 1992-1998, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm 2-3%. Đến hết năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mục tiêu đề ra là 10%. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng Định hướng giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu giảm số hộ nghèo còn 4-5% vào năm 2020. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ và là một trong những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, có thể nói chưa nhiệm kỳ nào Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai một chiến lược bài bản, quy mô như hiện nay. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh này là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” và “phải làm đến cùng”; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong quan hệ quốc tế, vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao vượt bậc. Cho đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia; Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ, Nga, Trung Quốc. Với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Trong thời kỳ đổi mới Việt Nam tham gia vào nhiều cơ quan quan trọng của tổ chức quốc tế rộng lớn: 1) Là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009; 2) thành viên Hội đồng Kinh tế-xã hội nhiệm kỳ 2016-2018; 3) Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014-2016)… Ngày 25-5-2018 vừa qua, trong cuộc họp của Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc, các nước trong khu vực đã nhất trí thông qua đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của nhóm vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020-2021-tại cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 6-2019). Là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã và đang tham gia vào lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. "Từ năm 2014, Việt Nam đã cử các sĩ quan tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình ở Cộng hòa Trung Phi và ở Nam Sudan. Mới đây, ngày 25-6-2018, Cục Hỗ trợ thực địa Liên hợp quốc đã công bố kết quả thanh sát địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các nước thuộc ASEAN, theo đó Việt Nam cùng với 3 nước là Campuchia, Indonesia, Thái Lan được chọn làm địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình quốc tế luân phiên. Việt Nam cũng đang nỗ lực để triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 tại Nam Sudan”(1). Đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam không chỉ đã giành được quyền con người mà còn có những đóng góp to lớn trên lĩnh vực này từ tư tưởng lý luận cho đến thực tiễn. Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế là một thời kỳ phát triển vượt bậc của Việt Nam về các phương diện, trong đó có quyền con người. Các quyền con người đều có những bước bảo đảm cao hơn, vị thế của dân tộc, đất nước được nâng cao hơn; được cộng đồng quốc tế trân trọng ghi nhận./.

Công bố quyết định thành lập Hải đội dân Thường trực tỉnh Kiên Giang

 

Công bố quyết định thành lập Hải đội dân Thường trực tỉnh Kiên Giang

Sáng 9/6, tại Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang đã tổ chức Lễ công bố quyết định của Tư lệnh Quân khu 9 về việc thành lập Hải đội dân quân Thường trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang. 

Trước khi chính thức thành lập, các chiến sĩ thuộc hải đội dân quân đã được đưa đi đào tạo bài bản tại Học viện Hải quân và Trường Cao đẳng Kỹ thuật hải quân.

Ngoài tổ chức thành lực lượng tương đương với lực lượng dân quân tự vệ ở các địa phương, hải đội dân quân thường trực của Kiên Giang được trang bị 9 tàu làm nhiệm vụ, trong đó có nhiều tàu công suất lớn đảm bảo đáp ứng hoạt động làm nhiệm vụ kinh tế quốc phòng ở các vùng biển xa bờ, trong điều kiện thời tiết biển động mạnh.

Tại buổi lễ, Thiếu tướng Trương Minh Khải, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 9 trao quyết định thành lập Hải đội dân quân Thường trực tỉnh Kiên Giang. Ông Lâm Minh Thành, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang trao các quyết định về biên chế cán bộ cho Hải đội dân quân thường trực.

Theo đề án của Bộ Quốc phòng, Hải đội dân quân thường trực tỉnh Kiên Giang có nhiệm vụ: Phối hợp với các lực lượng chức năng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tuần tra, thu thập, xử lý thông tin trên không, trên biển; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; cứu hộ, cứu nạn, vận tải, tiếp tế trên biển.

Phát biểu tại buổi lễ, Thiếu tướng Trương Minh Khải, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 9 yêu cầu Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kiên Giang nhanh chóng ổn định tổ chức, biên chế, thành lập chi bộ, chi đoàn Hải đội, tổ chức huấn luyện cho cán bộ chiến sĩ; đồng thời đảm bảo tốt các chế độ, chính sách, phối hợp đẩy nhanh tiến độ khởi công, xây dựng doanh trại, bảo đảm cho cán bộ chiến sĩ hải đội yên tâm huấn luyện, bám biển làm nhiệm vụ.

Ông Lâm Minh Thành, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang yêu cầu Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang tiếp tục làm tốt công tác tham mưu, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành có liên quan hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý cho lực lượng hải đội dân quân; bố trí nơi ở, tập huấn, huấn luyện cho lực lượng; nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo.

Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang cũng yêu cầu cán bộ, chiến sĩ hải đội dân quân không ngừng học tập, huấn luyện nâng cao kỹ năng, trình độ chuyên môn, làm chủ vũ khí, phương tiện được trang bị, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Kiên Giang là tỉnh ở cực Tây Nam của Tổ quốc, có vùng biển rộng 63.000km2, có đội tàu đánh bắt xa bờ lớn nhất cả nước với khoảng 8.000 tàu. Vùng biển Tây Nam có vị trí chiến lược cả về kinh tế lẫn an ninh, quốc phòng. Sau khi thành lập, hải đội dân quân thường trực tỉnh Kiên Giang sẽ triển khai xây dựng doanh trại, sẵn sàng tiếp nhận tàu, phương tiện để đi vào hoạt động.

Trước đó, các tàu hải đội dân quân thường trực đợt 1 của giai đoạn 1 (2019-2022) đã được Bộ Quốc phòng giao cho Nhà máy Z189 cùng 6 đơn vị khác thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và Quân chủng Hải quân thi công.

Tàu trang bị cho hải đội dân quân thường trực là những gam tàu được thiết kế thỏa mãn quy phạm phân cấp tàu biển vỏ thép, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, được trang bị hệ thống động lực, khí tài hàng hải, thông tin liên lạc, trang thiết bị khai thác,... thế hệ mới, hiện đại. Tàu có nhiệm vụ tham gia tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, đảm bảo hậu cần, hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển; kết hợp khai thác thủy sản....

 

Giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn để không tự “đánh mất mình”

Đảng, Nhà nước ta luôn phát huy dân chủ, tiếp thu, lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các cán bộ hưu trí-những người có kinh nghiệm thực tiễn, đóng góp tích cực, hiệu quả vào nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước. Tuy nhiên, thời gian qua, lợi dụng dân chủ, một số đảng viên, cán bộ hưu trí đã có những phát ngôn đi ngược lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam. Trước hết phải khẳng định rằng, đại đa số cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác luôn giữ vững chí khí cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Nhiều cán bộ không những đóng góp tích cực khi còn công tác mà khi nghỉ hưu cũng luôn gương mẫu, đi đầu trong vận động, hướng dẫn, tổ chức nhân dân chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, trở thành tấm gương mẫu mực cho thế hệ trẻ học tập, noi theo. Đã có rất nhiều cán bộ dành những đồng lương hưu ít ỏi để giúp đỡ, hỗ trợ người nghèo khó; có những cựu chiến binh tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất để mở đường, xây dựng các công trình góp sức cùng nhân dân trong xây dựng nông thôn mới... Tuy nhiên, cũng thật đáng tiếc, vẫn còn một số cán bộ nghỉ hưu do những bức xúc cá nhân, hoặc không giữ được chí khí người cộng sản, nói, viết trái đường lối, quan điểm của Đảng, đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân. Có người thậm chí còn phủ nhận tất cả những nỗ lực, cố gắng không chỉ của dòng họ, gia đình mà còn là sự hy sinh xương máu của cả dân tộc. Thực tế, một số cán bộ khi đương chức thì không có ý kiến đóng góp thẳng thắn cho Đảng, cho đất nước, cho cơ quan nơi mình công tác, nhưng khi nghỉ hưu thì có biểu hiện phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng, thậm chí sử dụng những thông tin không chính thống để “đưa chuyện”… Một số đảng viên, cán bộ nghỉ hưu, một phần do thiếu thông tin, nên khi tham gia mạng xã hội đã có biểu hiện xa rời tổ chức, “luận bàn thế sự” một cách thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức chính trị, thậm chí bị lôi kéo, kích động. Đáng lẽ, trước những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, với nền tảng lý luận và thực tiễn của mình, được tích lũy trong nhiều năm công tác, những cán bộ đó phải có lập luận sắc bén, phản biện quyết liệt với những thông tin xuyên tạc, sai lệch, kiểu “đánh bùn sang ao”, “vơ đũa cả nắm” nhằm kích động, chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, không những không làm được điều đó, một số cá nhân còn nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất; dẫn đến bình luận chủ quan, hoặc chia sẻ thông tin sai lệch, phiến diện, thiếu tin cậy và không được kiểm chứng. Khi một số cán bộ nghỉ hưu không giữ được khí tiết của người cộng sản, phẩm chất cách mạng của người đảng viên, không giữ được “lòng trong, tâm sáng”, họ bị sa đà và đánh mất mình với những phát ngôn sai lệch. Họ là những người “khi rời tập thể… dễ tan vào đám đông”, “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong chính nội tại bản thân. Đáng buồn hơn, có những cán bộ sắp nghỉ hưu đã có biểu hiện “chợ chiều cuối khóa” cả trong thực hiện nhiệm vụ và chấp hành kỷ luật phát ngôn. Trong khi hầu hết cán bộ, đảng viên khi nghỉ hưu luôn kiên định với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; tự giác, gương mẫu chấp hành cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xác định dù nghỉ hưu vẫn tiếp tục đóng góp cho cách mạng, cho quê hương, xóm, phố… thực hiện “sống vui, sống khỏe, sống có ích”… thì vẫn còn một số cán bộ, đảng viên hưu trí đã có những phát ngôn không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng. Điều này đã được Đại hội XII của Đảng cảnh báo và chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cũng chỉ rõ: “Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu”... Đặc biệt, lợi dụng tự do ngôn luận, một số cán bộ, đảng viên nghỉ hưu còn đăng đàn lôi kéo, hoặc bị lôi kéo kích động nói xấu Đảng, Nhà nước, làm những điều đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc. Họ vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân đáng chê trách trong thời đại công nghệ số. Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân, tổ chức; trong đó có quyền bày tỏ chính kiến, ý kiến, thậm chí cả những ý kiến chưa đồng thuận, trái chiều, nhưng phải bảo đảm tôn trọng sự thật, khách quan; đóng góp mang tính xây dựng và tuân thủ pháp luật. Đặc biệt với cán bộ, đảng viên dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu, đều phải nói và làm theo đúng nghị quyết của Đảng; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; góp ý, kiến nghị đúng nơi, đúng chỗ, đúng quy định; trên cơ sở biện chứng, khoa học; tránh tình trạng sự việc, sự kiện đã qua, không còn phù hợp với hiện tại vẫn được một số người cố tình “xới lên”, thêu dệt, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân. Đó cũng chính là những biểu hiện không giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng của người cộng sản, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc, lôi kéo, kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Đảng, Nhà nước ta luôn trân trọng, ghi nhận những đóng góp to lớn, tích cực của đội ngũ cán bộ nghỉ hưu trong xã hội. Những năm qua, hằng năm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều tổ chức hội nghị gặp mặt cán bộ lão thành, nguyên cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, để báo cáo kết quả phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng; kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cung cấp thông tin chính thống liên quan đến các vụ việc, vấn đề dư luận quan tâm. Các ban, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương… trong cả nước cũng định kỳ và thường xuyên tổ chức gặp mặt, đối thoại, cung cấp thông tin chính thống cho các cán bộ hưu trí đang sinh sống tại địa bàn. Thông qua các kênh khác nhau, việc lấy ý kiến cán bộ, công chức đã nghỉ hưu được Đảng, Nhà nước và các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc… thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, cầu thị, trân trọng những đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm, trên tinh thần xây dựng của các đồng chí nguyên lãnh đạo các cấp và đội ngũ cán bộ hưu trí, coi đây là một kênh quan trọng để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên hưu trí cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong đóng góp, hiến kế tham gia xây dựng đất nước. Cần nắm chắc và thực hiện đúng các quy trình, thủ tục, cách thức tham gia đóng góp ý kiến, phát biểu trước diễn đàn; trong mọi tình huống phải phát biểu chính danh, đúng cách, nhìn nhận sự việc khách quan, đa chiều, tôn trọng sự thật; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết. Mỗi ý kiến phát biểu, phát ngôn cần được cân nhắc thận trọng, thấy rõ cả tác động tích cực và tiêu cực; tác dụng và tác hại; khi phân tích, xem xét phải được đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể... Cùng với phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ hưu trí, công tác tuyên truyền, vận động cần được tiếp tục quan tâm hơn nữa; trong đó, việc cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính thống cho cán bộ hưu trí là hết sức cần thiết. Bởi thực tế, một số cán bộ nghỉ hưu phát ngôn chưa đúng là do thiếu thông tin, hoặc chưa tỉnh táo thanh lọc thông tin; bị lợi dụng… Nhiều cán bộ hưu trí, tuy đã “hưu” nhưng với “trí” sáng, “tâm” trong vẫn luôn nhiệt huyết đóng góp cho cách mạng và cộng đồng. Tiếng nói của các đồng chí có uy tín, có sức thuyết phục nhờ kiến thức, vị thế xã hội, kinh nghiệm và uy tín tích lũy sau nhiều năm công tác. Khi nghỉ hưu cũng là dịp để mỗi cán bộ có điều kiện, thời gian chiêm nghiệm, đúc kết thực tiễn và tiếp tục hiến kế cho Đảng, Nhà nước, đóng góp cho xã hội và cộng đồng. Điều đó rất đáng trân trọng. Tuy vậy, chúng ta không đồng tình khi có một số ít cán bộ hưu trí, do tác động của tuổi tác, sức khỏe, tâm lý; do thông tin, sự tiếp xúc xã hội hạn chế, nên đã có những hành động, lời nói thiếu nhất quán, không đúng đường lối, quan điểm của Đảng; đánh mất vai trò “cây cao bóng cả”; dễ bị đối tượng xấu lợi dụng, kích động, thậm chí phản bội lý tưởng, đi chệch con đường mà chính họ đã suốt cuộc đời cống hiến, hy sinh. Với mỗi người, niềm tin, lý tưởng, nhân sinh quan, lẽ sống là hết sức quan trọng. Đó cũng là bản lĩnh chính trị, là lời thề trước Đảng, là sự trung thành, kiên định với con đường đã chọn của mỗi cán bộ, đảng viên khi đang công tác cũng như khi nghỉ hưu./.

VIỆT NAM TIẾP TỤC PHÁT HUY DÂN CHỦ, THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

 


Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mở rộng dân chủ và bảo đảm quyền con người luôn là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên và cấp bách đối với Việt Nam.

Trong thời kỳ đổi mới, cùng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền được giải quyết ngày càng tốt hơn. Những kết quả đó đã góp phần thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

 Việt Nam là một nước dân chủ, Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên Việt Nam cũng kiên quyết trừng trị nghiêm khắc đối với việc lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam.

 

Nâng cao năng lực nhận thức, thực hiện quyền con người của công dân ở nước ta hiện nay

 


+ Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ công dân. Nâng cao dân trí, chú trọng tuyên truyền phổ biến pháp luật, quy chế, quy định cho nhân dân.

+ Tạo môi trường thuận lợi, nhất là thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của hệ thống chính trị để mọi người dân thực sự phát huy quyền làm chủ và quyền con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

+ Đẩy mạnh phát triển kinh tế nâng cao đời sống nhân dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

+ Kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội.

+ Thực hiện tốt các chính sách xã hội: xóa đói, giảm nghèo; giảm thất nghiệp; thực hiện bình đẳng giới.

          - Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các vấn đề cụ thể.

+ Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về quyền con người phù hợp với điều kiện của Việt Nam và các tiêu chuẩn về quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế nhân quyền tạo hành lang pháp lý để bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn với tăng cường hiệu lực pháp luật ở nước ta hiện nay

 


+ Thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ, Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốt “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

+ Tăng cường kỷ cương, pháp luật, kỷ luật, nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền con người, các hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền để gây rối chống phá nền dân chủ của Việt Nam.

- Hoàn thiện thiết chế dân chủ, trong đó tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

+ Phát huy vai trò và hiệu lực của Nhà nước pháp quyền với một hệ thống pháp luật đầy đủ đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện đại.

+ Nội dung cốt lõi là đổi mới, hoàn thiện cơ chế để người dân kiểm soát được quyền lực nhà nước, ngăn chặn có hiệu quả các hành vi “tiếm quyền”.

Kết hợp tính phổ biến, tính đặc thù trong thực hiện nhân quyền ở Việt Nam

 


Đảng ta khẳng định:

- Quyền con người là giá trị chung của nhân loại

Mỗi quốc gia khi tham gia các công ước quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất định về nghĩa vụ và trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người mang tính toàn cầu.

- Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất

Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được trong độc lập dân tộc. Vì vậy, không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ quyền", chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.

- Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các vấn đề cụ thể

Quyền con người là một giá trị phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng nhưng mang tính đặc thù với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo và những đặc điểm riêng khác.

Đảng và Nhà nước Việt Nam thừa nhận và tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng trong việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

- Trong xã hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc.

Con người sinh ra vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp luật thiết định. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu giai cấp.

- Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật bảo hộ

Đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện.Quyền con người, quyền công dân khi được hiến pháp, pháp luật ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước cao nhất.

- Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đối thoại về vấn đề nhân quyền

Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đón tiếp, đối thoại và hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm tìm hiểu tình hình thực tế và trao đổi ý kiến về các lĩnh vực liên quan đến các quyền con người trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Những thành tựu thực hiện nhân quyền ở Việt Nam thời gian qua

 


+ Nhận thức về nhân quyền của Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng phát triển.

Trong các cương lĩnh chính trị, các văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền con người, quyền công dân và luôn đổi mới để tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các điều ước quốc tế.Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa quyền con người trong hiến pháp và pháp luật và các thể chế.  Đặc biệt là đã tăng cường kiểm soát yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ luật trước và trong quá trình soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự, thủ tục.

+ Quyền con người được bảo đảm trên thực tế

Chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, trú trọng quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hiện nay, theo báo cáo của Uỷ ban dân tộc, ở các tỉnh miền núi, mức sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân 3% năm[1],  98,6% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% số xã có trạm y tế, trong đó 100% đồng bào DTTS có bảo hiểm y tế; 98% số 95,5% số thôn đã được sử dụng điện lưới quốc gia; 81% số xã có loa truyền thanh; 92% người dân được nghe đài phát thanh. Các xã miền núi được trang bị các thiết bị thông tin khá hiện đại, đời sống văn hóa không ngừng được nâng lên.

Quyền tham gia và quản lý công việc Nhà nước và xã hội được tăng cường, (được thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm khóa sau chất lượng hơn khóa trước).

Quyền khiếu nại tố cáo được thực hiện chất lượng. Ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ quan phải công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động; kê khai tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn vị…

Các quyền tự do dân chủ được thực hiện tốt. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo.  Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau.

Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...

Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và  thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc.



[1] Báo cáo của Ủy ban dân tộc  năm 2018.

Nhân quyền được hiểu như thế nào

 


Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế

+ Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con người

 Nhân quyền là tổng hợp các quyền tự do của con người. Phản ánh nguyện vọng toàn nhân loại muốn có tất cả điều kiện, tiền đề cho cuộc sống đầy đủ của con người; đó còn là nhân phẩm, giá trị làm người.

Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền (Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày10/12/48) công nhận 26 quyền cơ bản của con người gồm 3 nhóm:

* Các quyền dân sự: là những quyền tự do cơ bản của cá nhân như quyền sống, quyền tự do thân thể và quyền không bị xâm phạm cá nhân, quyền bảo vệ danh dự, bí mật cá nhân và gia đình, bí mật về thư tín, trao đổi thông tin, tự do di chuyển chỗ ở, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền có quốc tịch và thay đổi quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, quyền sở hữu, quyền được xét xử công khai, độc lập và công bằng khi bị ra tòa.

* Các quyền về chính trị: đó là quyền tự do khẳng định nhân cách của mình trong đời sống chính trị; quyền tham gia vào công việc quản lý Nhà nước và đời sống xã hội nói chung. Quyền được bầu cử, ứng cử; quyền được lập hội và gia nhập hội; quyền tự do ngôn luận và phát biểu chính kiến của mình; quyền được thông tin và xuất bản, quyền tự do tín ngưỡng.

* Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: đó là các quyền về sở hữu tài sản, quyền trao đổi, quyền lao động và tự do thể hiện năng lực của mình trong lao động, quyền được bảo vệ về mặt xã hội, được sống đầy đủ, được chăm sóc sức khỏe, được học tập và sử dụng các giá trị văn hóa.

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

+ Quyền con người bao gồm quyền tự nhiên và quyền xã hội

+ Là quan hệ giữa cá nhân với nhà nước, con người với quyền lực xã hội

+ Mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính giai cấp

+ Là công cụ để tự bảo vệ quyền của mình trước bạo lực, cường quyền

Quan niệm về quyền con người của lịch sử xã hội loài người

 


Quyền con người (Human rights) là những giá trị thiêng liêng cao quý kết tinh từ nhiều nền văn hoá, văn minh của các dân tộc trên thế giới

+ Dưới góc độ tôn giáo, đạo đức khái niệm về quyền con người được hiểu không chỉ bắt đầu từ  bản tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR, 1948), mà ý thức tư tưởng về quyền con người đã xuát hiện sớm trong lịch sử, nó thuộc nhiều truyền thống văn hoá, tôn giáo khác nhau.

+ Dưới góc độ pháp lý, xét về mặt lịch sử, quyền con người đã được công nhận trong nhiều văn bản pháp lý quan trọng như: Bộ luật Hammủabi (khoảng năm 1700 Tr.CN), Hiến chương MagnaCarta (1215), Bộ luật về các quyền của Anh (1689), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789) và Hiến pháp của Mỹ năm 1791…, Hiến chương Liên Hiệp quốc 1945 và 3 năm sau đó là UDHR.

+ Trong Tuyên bố Viên và chương trình hành động (1993) định nghĩa “quyền con người và tự do cơ bản là quyền bẩm sinh của mọi người được hưởng; việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền đó là trách nhiệm trước tiên của chính phủ”.

+ Tài liệu hỏi đáp về quyền con người của LHQ quan niệm: “Quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người”

+ Theo văn phòng cao uỷ LHQ về quyền con người (OHCHR) “quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phảm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.

+ Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, viết “ quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế”

Các định nghĩa trên mặc dù có điểm khác nhau về nội dung và phương pháp tiếp cận, song đã phản ánh một số đặc điểm chung của khái niệm quyền con người như sau:

Một là, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ.

Hai là, trung tâm của khái niệm quyền con người là khái niệm về phẩm giá vốn có của mọi thành viên trong gia đình nhân loại.

Ba là, quyền con người là các quyền được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc địa vị xã hội…

Bốn là, quyền con người là các quỳen được bảo đảm minh bạch về pháp lý nhằm giúp các nhân, các nhóm xã hội đạt được nhu cầu, lợi ích một cách độc lập trên các lĩnh vực.

Năm là, quyền con người xác lập nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm của nhà nước và xã hội.

Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đi liền với việc đề cao trách nhiệm công dân và bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội, không được tách rời, đối lập giữa thực hành dân chủ và kỷ cương, pháp luật.

 


 Mở rộng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân phải gắn với quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Điều đó đòi hỏi mỗi công dân phải biết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở pháp luật. Phát huy dân chủ đối lập với dân chủ vô chính phủ, dân chủ cực đoan. Nếu cá nhân nào có hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, lợi dụng dân chủ để gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì có thể bị truy cứu trách nhiệm theo pháp luật.

Phát huy hơn nữa dân chủ trong Đảng, bảo đảm là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội.

 


Đảng ta là đảng cầm quyền và sự cầm quyền đó luôn được đặt trong mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Vì vậy, thực hành, phát huy dân chủ trong Đảng phải luôn đi trước, tạo khuôn mẫu, mực thước cho nhân dân noi theo. Trong giai đoạn hiện nay, việc phát huy dân chủ trong Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì có một bộ phận cán bộ, đảng viên tuy có nhận thức đúng, đầy đủ về thực hành, phát huy dân chủ nhưng trên thực tế, nhận thức đó chưa biến thành hành động thực tế, nói không đi đôi với làm.

Cần tiếp tục thực hiện tốt các quy định trong sinh hoạt đảng, như sinh hoạt hai chiều, lấy phiếu tín nhiệm, điều tra, thăm dò dư luận xã hội trong nhân dân - đó chính là những yếu tố cần thiết phục vụ cho công tác xây dựng Đảng hiện nay. Dựa vào dân, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân cũng là nền tảng giúp Đảng tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức ngày càng trong sạch, vững mạnh. Khi dân chủ trong Đảng thực sự được phát huy thì đó cũng là nền tảng để “Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân”, như văn kiện Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra.

Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” trong phát huy dân chủ ở nước ta

 


Muốn để “dân biết”, điều cốt yếu đầu tiên là phải cung cấp thông tin cho nhân dân; việc cung cấp thông tin phải chân thực, kịp thời và công khai. Có công khai thì mới có dân chủ, vì công khai là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hành dân chủ. Bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, nên công khai là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, là một biểu hiện quan trọng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Dân bàn” là xu hướng tất yếu sau khi nhân dân đã được cung cấp thông tin đầy đủ, công khai. Với tinh thần “lấy dân làm gốc”, các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp phải biết lắng nghe các ý kiến của quần chúng nhân dân, nắm bắt dư luận xã hội trong nhân dân một cách nghiêm túc, phân tích nội dung các ý kiến của nhân dân một cách khoa học để nắm bắt chính xác, kịp thời tâm trạng, tình cảm, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Muốn thực hiện tốt phương châm “dân bàn”, phải tạo các điều kiện thuận lợi (phương tiện, diễn đàn, cơ chế) để nhân dân có thể nói lên suy nghĩ thật của mình, được bày tỏ quan điểm, chính kiến về những vấn đề mà mình đang quan tâm, vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ và vì sự phát triển chung của mỗi địa phương, của đất nước. Chính quyền các cấp không được phép thờ ơ trước những sáng kiến của quần chúng nhân dân để tránh tình trạng sáng kiến của người dân trong chế độ dân chủ trở thành đặc quyền của một thiểu số người với mục tiêu vụ lợi.

Dân làm” cần được hiểu chủ yếu theo nghĩa của sự chuyển hóa từ nhận thức thành những hành động, việc làm cụ thể của nhân dân. Từ chỗ được cung cấp thông tin một cách công khai, trung thực, kịp thời, thông qua bàn bạc, trao đổi ý kiến để tìm ra tiếng nói chung, người dân sẽ tự giác tuân thủ, thực hành các quyền dân chủ theo quy định của pháp luật.

Để “dân kiểm tra”, Nhà nước phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước được trao những quyền hạn nhất định để quản lý, điều hành một số công việc của Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế “dân kiểm tra” đòi hỏi Nhà nước phải tiếp tục xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách phù hợp để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với các mặt hoạt động của chính quyền cấp xã ở tất cả các địa phương, của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã; chất vấn những cán bộ, công chức có thẩm quyền về những vấn đề người dân quan tâm và quyền nghe trả lời những chất vấn đó, đặc biệt là những vấn đề về đất đai, xây dựng, quy hoạch và quản lý đô thị, nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng,...



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.112

Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện ở Việt Nam


Dân chủ trực tiếp là hình thức mọi công dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình một cách bình đẳng, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, thành phần xuất thân, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo... Đây là hình thức để phát huy dân chủ một cách có hiệu quả nhất, bảo đảm cho nhân dân với tính cách là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước, có khả năng tham gia một cách tích cực và chủ động vào các hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Theo quy định của Hiến pháp hiện hành, hình thức dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng các phương thức: chế độ bầu, bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân; chế độ gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân; quyền công dân tham gia thảo luận các vấn đề chung, quan trọng của đất nước và của địa phương; biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân thực hiện quyền dân chủ thông qua các cơ quan đại diện của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội - tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, đại diện cho nhân dân. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đều là hình thức của chế độ dân chủ, có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Đại hội XII của Đảng khẳng định: Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa phải luôn đặt trong mối liên hệ và gắn liền với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. 

Không ngừng nâng cao nhận thức cho nhân dân, cán bộ, công chức nhà nước về dân chủ.

 


Không ngừng nâng cao nhận thức cho toàn dân, hệ thống chính trị về vị trí, vai trò, bản chất, nội dung dân chủ; nhiệm vụ, giải pháp thực hiện dân chủ hiện nay.

Đa dạng hoá các hình thức, biện pháp giáo dục, bảo đảm mọi người dân nhận thức sâu sắc về dân chủ (quyền lợi và trách nhiệm phát huy dân chủ).

Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân, nhất là trình độ, năng lực về hoạch định, tổ chức thực hiện quản lý xã hội; các chính sách xã hội; quản lý phát triển xã hội…để nhân dân ngày càng đóng góp trí tuệ của mình trong xây dựng, tổ chức, quản lý xã hội.

Nhiệm vụ phát huy dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay

 


- Tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sang kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật lien quan trực tiếp đến quyền làm chgủ của nhân dân

- Thể chế hoá và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

- Thể chế hoá và thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

- Bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội.

Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải đảm bảo phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Đẩy mạnh dân chủ hoá xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sang tạo của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội; quy định về việc MTTQ, các tổ chức CT-XH và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các quy định, quy chế khác nhau.

- Phát huy dân chủ đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội.

Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.