Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021
Phòng, chống bệnh “kiêu ngạo cộng sản” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay
Không thể xuyên tạc, bôi đen hình ảnh đất nước trong đổi mới, hội nhập quốc tế
Công bố quyết định thành lập Hải đội dân Thường trực tỉnh Kiên Giang
Công bố quyết định thành lập Hải đội dân Thường trực tỉnh Kiên Giang
Sáng 9/6, tại Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang đã tổ chức Lễ công bố quyết định của Tư lệnh Quân khu 9 về việc thành lập Hải đội dân quân Thường trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang.
Trước khi chính thức thành lập, các chiến sĩ thuộc hải đội dân quân đã được đưa đi đào tạo bài bản tại Học viện Hải quân và Trường Cao đẳng Kỹ thuật hải quân.
Ngoài tổ chức thành lực lượng tương đương với lực lượng dân quân tự vệ ở các địa phương, hải đội dân quân thường trực của Kiên Giang được trang bị 9 tàu làm nhiệm vụ, trong đó có nhiều tàu công suất lớn đảm bảo đáp ứng hoạt động làm nhiệm vụ kinh tế quốc phòng ở các vùng biển xa bờ, trong điều kiện thời tiết biển động mạnh.
Tại buổi lễ, Thiếu tướng Trương Minh Khải, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 9 trao quyết định thành lập Hải đội dân quân Thường trực tỉnh Kiên Giang. Ông Lâm Minh Thành, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang trao các quyết định về biên chế cán bộ cho Hải đội dân quân thường trực.
Theo đề án của Bộ Quốc phòng, Hải đội dân quân thường trực tỉnh Kiên Giang có nhiệm vụ: Phối hợp với các lực lượng chức năng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tuần tra, thu thập, xử lý thông tin trên không, trên biển; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; cứu hộ, cứu nạn, vận tải, tiếp tế trên biển.
Phát biểu tại buổi lễ, Thiếu tướng Trương Minh Khải, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 9 yêu cầu Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kiên Giang nhanh chóng ổn định tổ chức, biên chế, thành lập chi bộ, chi đoàn Hải đội, tổ chức huấn luyện cho cán bộ chiến sĩ; đồng thời đảm bảo tốt các chế độ, chính sách, phối hợp đẩy nhanh tiến độ khởi công, xây dựng doanh trại, bảo đảm cho cán bộ chiến sĩ hải đội yên tâm huấn luyện, bám biển làm nhiệm vụ.
Ông Lâm Minh Thành, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang yêu cầu Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang tiếp tục làm tốt công tác tham mưu, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành có liên quan hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý cho lực lượng hải đội dân quân; bố trí nơi ở, tập huấn, huấn luyện cho lực lượng; nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo.
Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang cũng yêu cầu cán bộ, chiến sĩ hải đội dân quân không ngừng học tập, huấn luyện nâng cao kỹ năng, trình độ chuyên môn, làm chủ vũ khí, phương tiện được trang bị, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Kiên Giang là tỉnh ở cực Tây Nam của Tổ quốc, có vùng biển rộng 63.000km2, có đội tàu đánh bắt xa bờ lớn nhất cả nước với khoảng 8.000 tàu. Vùng biển Tây Nam có vị trí chiến lược cả về kinh tế lẫn an ninh, quốc phòng. Sau khi thành lập, hải đội dân quân thường trực tỉnh Kiên Giang sẽ triển khai xây dựng doanh trại, sẵn sàng tiếp nhận tàu, phương tiện để đi vào hoạt động.
Trước đó, các tàu hải đội dân quân thường trực đợt 1 của giai đoạn 1 (2019-2022) đã được Bộ Quốc phòng giao cho Nhà máy Z189 cùng 6 đơn vị khác thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và Quân chủng Hải quân thi công.
Tàu trang bị cho hải đội dân quân thường trực là những gam tàu được thiết kế thỏa mãn quy phạm phân cấp tàu biển vỏ thép, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, được trang bị hệ thống động lực, khí tài hàng hải, thông tin liên lạc, trang thiết bị khai thác,... thế hệ mới, hiện đại. Tàu có nhiệm vụ tham gia tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, đảm bảo hậu cần, hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển; kết hợp khai thác thủy sản....
Giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn để không tự “đánh mất mình”
VIỆT NAM TIẾP TỤC PHÁT HUY DÂN CHỦ, THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, theo chế độ xã
hội chủ nghĩa. Thực hiện mở rộng dân
chủ và bảo đảm quyền con người luôn là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên và cấp
bách đối với Việt Nam.
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với những thành tựu
phát triển kinh tế - xã hội, các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền được
giải quyết ngày càng tốt hơn. Những kết quả đó đã
góp phần thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực
hiện thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Việt Nam là
một nước dân chủ, Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Tuy
nhiên Việt
Nam cũng kiên quyết trừng trị nghiêm khắc đối với việc lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo,
dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam.
Nâng cao năng lực nhận thức, thực hiện quyền con người của công dân ở nước ta hiện nay
+ Bồi dưỡng nâng cao nhận thức
về quyền và nghĩa vụ công dân. Nâng cao dân trí, chú trọng tuyên truyền phổ
biến pháp luật, quy chế, quy định cho nhân dân.
+ Tạo môi trường thuận lợi,
nhất là thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của hệ thống chính trị để mọi
người dân thực sự phát huy quyền làm chủ và quyền con người trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế
và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
+ Đẩy mạnh phát triển kinh tế
nâng cao đời sống nhân dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
+ Kết hợp phát triển kinh tế
với thực hiện công bằng xã hội.
+ Thực hiện tốt các chính sách
xã hội: xóa đói, giảm nghèo; giảm thất nghiệp; thực hiện bình đẳng giới.
- Kết hợp tính
phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các
vấn đề cụ thể.
+ Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật về quyền con người phù hợp với điều kiện
của Việt Nam và các tiêu chuẩn về quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa
nhận.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế nhân quyền tạo hành lang pháp lý để bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn với tăng cường hiệu lực pháp luật ở nước ta hiện nay
+ Thực hiện tốt Pháp
lệnh dân chủ, Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốt “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”…
+ Tăng cường kỷ
cương, pháp luật, kỷ luật, nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền dân chủ và
quyền con người, các hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền để gây rối chống phá
nền dân chủ của Việt Nam.
- Hoàn thiện thiết chế
dân chủ, trong đó tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân.
+ Phát huy vai trò và hiệu lực
của Nhà nước pháp quyền với một hệ thống pháp luật đầy đủ đáp ứng được nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội hiện đại.
+ Nội dung cốt lõi là đổi mới,
hoàn thiện cơ chế để người dân kiểm soát được quyền lực nhà nước, ngăn chặn có
hiệu quả các hành vi “tiếm quyền”.
Kết hợp tính phổ biến, tính đặc thù trong thực hiện nhân quyền ở Việt Nam
Đảng ta
khẳng định:
- Quyền
con người là giá trị chung của nhân loại
Mỗi quốc gia khi
tham gia các công ước quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất
định về nghĩa vụ và trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề
liên quan đến quyền con người mang tính toàn cầu.
- Quyền
con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất
Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được
trong độc lập dân tộc. Vì vậy, không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn
chủ quyền", chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.
- Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận
thức và giải quyết các vấn đề cụ thể
Quyền con người là
một giá trị phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng nhưng mang
tính đặc thù với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã
hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, vùng lãnh
thổ, dân tộc, tôn giáo và những đặc điểm riêng khác.
Đảng và Nhà nước Việt Nam thừa nhận và tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của
quyền con người. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát
triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng
trong việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.
- Trong
xã hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính
giai cấp sâu sắc.
Con người sinh ra
vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những
yêu sách hợp lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến
yếu tố pháp luật thiết định. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế
độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm
trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang
tính giai cấp sâu sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu
giai cấp.
- Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và
được pháp luật bảo hộ
Đảm bảo bằng pháp
luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền
công dân được thực hiện.Quyền con người, quyền công dân khi được hiến pháp,
pháp luật ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ
quan, viên chức nhà nước cao nhất.
- Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đối thoại về vấn đề nhân
quyền
Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đón tiếp, đối thoại và hợp tác với các nước và các tổ
chức quốc tế nhằm tìm hiểu tình hình thực tế và trao đổi ý kiến về các lĩnh vực
liên quan đến các quyền con người trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Những thành tựu thực hiện nhân quyền ở Việt Nam thời gian qua
+ Nhận thức về nhân quyền
của Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng phát triển.
Trong các cương lĩnh chính trị, các văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng
sản Việt Nam luôn xác định quyền con người, quyền công dân và luôn đổi mới để
tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các
điều ước quốc tế.Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế
hóa quyền con người trong hiến pháp và pháp luật và các thể chế. Đặc biệt là đã tăng cường kiểm soát yêu cầu
bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ luật trước và trong quá trình
soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự, thủ tục.
+ Quyền con
người được bảo đảm trên thực tế
Chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn
kết, trú trọng quan tâm đến đồng bào
dân tộc ít người, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hiện nay,
theo báo cáo của Uỷ ban dân tộc, ở
các tỉnh miền núi, mức sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, đã hạn
chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc,
các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân 3% năm[1], 98,6% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã;
100% số xã có trạm y tế, trong đó 100% đồng bào DTTS có bảo hiểm y tế; 98% số xã và 95,5% số thôn đã được sử dụng điện lưới quốc gia; 81% số
xã có loa truyền thanh; 92% người dân được nghe đài phát thanh. Các xã miền núi được trang bị các thiết bị thông
tin khá hiện đại, đời sống văn hóa không ngừng được nâng lên.
Quyền tham gia và quản lý công
việc Nhà nước và xã hội được tăng cường, (được thể hiện rõ ở các
cuộc bầu cử Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp, bảo đảm khóa sau chất lượng hơn
khóa trước).
Quyền khiếu nại tố cáo
được thực hiện chất lượng. Ban hành
và hướng dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ
quan phải công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động;
kê khai tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn
vị…
Các quyền tự do dân chủ
được thực hiện tốt. Đến nay, Việt
Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với
hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn
đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo. Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện
thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau.
Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng,
thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân
phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống
còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách
mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an
sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ
trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp
cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...
Trên
lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ
quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông
tin; quyền được sáng tạo
và thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn
hóa dân tộc.
Nhân quyền được hiểu như thế nào
Quyền
con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi
người được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế
+ Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con người
Nhân quyền là tổng hợp các quyền
tự do của con người. Phản ánh nguyện vọng toàn nhân loại muốn có tất cả điều
kiện, tiền đề cho cuộc sống đầy đủ của con người; đó còn là nhân phẩm, giá trị
làm người.
Tuyên ngôn toàn thế giới về
Nhân quyền (Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày10/12/48) công nhận 26 quyền cơ bản
của con người gồm 3 nhóm:
* Các
quyền dân sự: là những quyền tự do cơ bản của cá
nhân như quyền sống, quyền tự do thân thể và quyền không bị xâm phạm cá nhân,
quyền bảo vệ danh dự, bí mật cá nhân và gia đình, bí mật về thư tín, trao đổi
thông tin, tự do di chuyển chỗ ở, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền có quốc
tịch và thay đổi quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, quyền sở hữu, quyền
được xét xử công khai, độc lập và công bằng khi bị ra tòa.
*
Các quyền về chính trị: đó là quyền tự do khẳng định nhân cách của mình trong
đời sống chính trị; quyền tham gia vào công việc quản lý Nhà nước và đời sống
xã hội nói chung. Quyền được bầu cử, ứng cử; quyền được lập hội và gia nhập
hội; quyền tự do ngôn luận và phát biểu chính kiến của mình; quyền được thông
tin và xuất bản, quyền tự do tín ngưỡng.
*
Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa:
đó là các
quyền về sở hữu tài sản, quyền trao đổi, quyền lao động và tự do thể hiện năng
lực của mình trong lao động, quyền được bảo vệ về mặt xã hội, được sống đầy đủ,
được chăm sóc sức khỏe, được học tập và sử dụng các giá trị văn hóa.
Hiến pháp
Việt Nam năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy
định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
+ Quyền con người bao gồm
quyền tự nhiên và quyền xã hội
+ Là quan hệ giữa cá nhân với
nhà nước, con người với quyền lực xã hội
+ Mang tính nhân loại, tính
lịch sử và tính giai cấp
+ Là công cụ để tự bảo vệ quyền của mình trước bạo lực, cường quyền
Quan niệm về quyền con người của lịch sử xã hội loài người
Quyền
con người (Human rights) là những giá trị thiêng liêng cao quý kết tinh từ nhiều
nền văn hoá, văn minh của các dân tộc trên thế giới
+ Dưới góc độ tôn
giáo, đạo đức khái niệm về quyền con người được hiểu không chỉ bắt đầu từ bản tuyên ngôn thế giới về quyền con người
(UDHR, 1948), mà ý thức tư tưởng về quyền con người đã xuát hiện sớm trong lịch
sử, nó thuộc nhiều truyền thống văn hoá, tôn giáo khác nhau.
+ Dưới góc độ pháp
lý, xét về mặt lịch sử, quyền con người đã được công nhận trong nhiều văn bản
pháp lý quan trọng như: Bộ luật Hammủabi (khoảng năm 1700 Tr.CN), Hiến chương
MagnaCarta (1215), Bộ luật về các quyền của Anh (1689), Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của Pháp (1789) và Hiến pháp của Mỹ năm 1791…, Hiến chương Liên Hiệp
quốc 1945 và 3 năm sau đó là UDHR.
+ Trong Tuyên bố
Viên và chương trình hành động (1993) định nghĩa “quyền con người và tự do cơ bản
là quyền bẩm sinh của mọi người được hưởng; việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền đó
là trách nhiệm trước tiên của chính phủ”.
+ Tài liệu hỏi đáp
về quyền con người của LHQ quan niệm: “Quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn
có của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một
con người”
+ Theo văn phòng
cao uỷ LHQ về quyền con người (OHCHR) “quyền con người là những bảo đảm pháp lý
toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động
hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phảm, những sự được phép và tự do cơ bản
của con người.
+ Giáo trình lý
luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, viết
“ quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của
con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp
lý quốc tế”
Các định nghĩa
trên mặc dù có điểm khác nhau về nội dung và phương pháp tiếp cận, song đã phản
ánh một số đặc điểm chung của khái niệm quyền con người như sau:
Một
là,
quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn
liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay
tước đoạt vô cớ.
Hai
là,
trung tâm của khái niệm quyền con người là khái niệm về phẩm giá vốn có của mọi
thành viên trong gia đình nhân loại.
Ba
là,
quyền con người là các quyền được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người mà không
có sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính
kiến, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc địa vị xã hội…
Bốn
là, quyền con người là các quỳen được bảo đảm minh bạch về pháp lý nhằm giúp
các nhân, các nhóm xã hội đạt được nhu cầu, lợi ích một cách độc lập trên các lĩnh
vực.
Năm
là,
quyền con người xác lập nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm của nhà nước và xã hội.
Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đi liền với việc đề cao trách nhiệm công dân và bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội, không được tách rời, đối lập giữa thực hành dân chủ và kỷ cương, pháp luật.
Mở rộng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
phải gắn với quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân trên cơ sở Hiến pháp,
pháp luật của Nhà nước. Điều đó đòi hỏi mỗi công dân phải biết bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở pháp luật. Phát huy dân chủ đối lập với
dân chủ vô chính phủ, dân chủ cực đoan. Nếu cá nhân nào có hành vi vi phạm
quyền làm chủ của nhân dân, lợi dụng dân chủ để gây mất an ninh, trật tự, an
toàn xã hội thì có thể bị truy cứu trách nhiệm theo pháp luật.
Phát huy hơn nữa dân chủ trong Đảng, bảo đảm là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội.
Đảng ta là đảng
cầm quyền và sự cầm quyền đó luôn được đặt trong mối liên hệ mật thiết với nhân
dân. Vì vậy, thực hành, phát huy dân chủ trong Đảng phải luôn đi trước, tạo
khuôn mẫu, mực thước cho nhân dân noi theo. Trong giai đoạn hiện nay, việc phát
huy dân chủ trong Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì có một bộ phận
cán bộ, đảng viên tuy có nhận thức đúng, đầy đủ về thực hành, phát huy dân chủ
nhưng trên thực tế, nhận thức đó chưa biến thành hành động thực tế, nói không
đi đôi với làm.
Cần tiếp tục thực
hiện tốt các quy định trong sinh hoạt đảng, như sinh hoạt hai chiều, lấy phiếu
tín nhiệm, điều tra, thăm dò dư luận xã hội trong nhân dân - đó chính là những
yếu tố cần thiết phục vụ cho công tác xây dựng Đảng hiện nay. Dựa vào dân, giữ
mối liên hệ mật thiết với nhân dân cũng là nền tảng giúp Đảng tự chỉnh đốn, xây
dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức ngày càng trong sạch, vững
mạnh. Khi dân chủ trong Đảng thực sự được phát huy thì đó cũng là nền tảng để
“Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò
chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân”, như văn kiện
Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra.
Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” trong phát huy dân chủ ở nước ta
Muốn để “dân biết”,
điều cốt yếu đầu tiên là phải cung cấp thông tin cho nhân dân; việc cung cấp
thông tin phải chân thực, kịp thời và công khai. Có công khai thì mới có dân
chủ, vì công khai là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hành dân chủ.
Bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, nên công khai là một đòi hỏi tất
yếu, khách quan, là một biểu hiện quan trọng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
“Dân bàn”
là xu hướng tất yếu sau khi nhân dân đã được cung cấp thông tin đầy đủ, công
khai. Với tinh thần “lấy dân làm gốc”, các cơ quan nhà nước và chính quyền các
cấp phải biết lắng nghe các ý kiến của quần chúng nhân dân, nắm bắt dư luận xã
hội trong nhân dân một cách nghiêm túc, phân tích nội dung các ý kiến của nhân
dân một cách khoa học để nắm bắt chính xác, kịp thời tâm trạng, tình cảm,
nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Muốn thực hiện tốt phương châm “dân bàn”,
phải tạo các điều kiện thuận lợi (phương tiện, diễn đàn, cơ chế) để nhân dân có
thể nói lên suy nghĩ thật của mình, được bày tỏ quan điểm, chính kiến về những
vấn đề mà mình đang quan tâm, vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ và vì sự
phát triển chung của mỗi địa phương, của đất nước. Chính quyền các cấp không
được phép thờ ơ trước những sáng kiến của quần chúng nhân dân để tránh tình
trạng sáng kiến của người dân trong chế độ dân chủ trở thành đặc quyền của một
thiểu số người với mục tiêu vụ lợi.
“Dân làm”
cần được hiểu chủ yếu theo nghĩa của sự chuyển hóa từ nhận thức thành những
hành động, việc làm cụ thể của nhân dân. Từ chỗ được cung cấp thông tin một
cách công khai, trung thực, kịp thời, thông qua bàn bạc, trao đổi ý kiến để tìm
ra tiếng nói chung, người dân sẽ tự giác tuân thủ, thực hành các quyền dân chủ
theo quy định của pháp luật.
Để “dân kiểm tra”, Nhà nước phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra,
giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và của cán bộ, công chức,
viên chức nhà nước được trao những quyền hạn nhất định để quản lý, điều hành
một số công việc của Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế “dân kiểm tra” đòi hỏi Nhà nước phải tiếp tục xây dựng và thực thi các cơ chế, chính
sách phù hợp để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với các mặt
hoạt động của chính quyền cấp xã ở tất cả các địa phương, của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã;
chất vấn những cán bộ, công chức có thẩm quyền về những vấn đề người dân quan
tâm và quyền nghe trả lời những chất vấn đó, đặc biệt là những vấn đề về đất
đai, xây dựng, quy hoạch và quản lý đô thị, nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi
trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng,...
Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện ở Việt Nam
Dân chủ trực tiếp
là hình thức mọi công dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình một
cách bình đẳng, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, thành phần xuất thân, địa
vị xã hội, dân tộc, tôn giáo... Đây là hình thức để phát huy dân chủ một cách
có hiệu quả nhất, bảo đảm cho nhân dân với tính cách là chủ thể tối cao và duy
nhất của quyền lực nhà nước, có khả năng tham gia một cách tích cực và chủ động
vào các hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội.
Theo quy định của
Hiến pháp hiện hành, hình thức dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng các phương
thức: chế độ bầu, bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân; chế
độ gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân
dân; quyền công dân tham gia thảo luận các vấn đề chung, quan trọng của đất
nước và của địa phương; biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.
Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân thực hiện quyền dân chủ thông qua các cơ quan đại diện của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội - tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, đại diện cho nhân dân. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đều là hình thức của chế độ dân chủ, có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Đại hội XII của Đảng khẳng định: Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa phải luôn đặt trong mối liên hệ và gắn liền với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội.
Không ngừng nâng cao nhận thức cho nhân dân, cán bộ, công chức nhà nước về dân chủ.
Không ngừng nâng cao nhận thức cho toàn dân, hệ thống chính trị về vị trí,
vai trò, bản chất, nội dung dân chủ; nhiệm vụ, giải pháp thực hiện dân chủ hiện
nay.
Đa dạng hoá các hình thức, biện pháp giáo dục, bảo đảm mọi người dân nhận
thức sâu sắc về dân chủ (quyền lợi và trách nhiệm phát huy dân chủ).
Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của
nhân dân, nhất là trình độ, năng lực về hoạch định, tổ chức thực hiện quản lý
xã hội; các chính sách xã hội; quản lý phát triển xã hội…để nhân dân ngày càng
đóng góp trí tuệ của mình trong xây dựng, tổ chức, quản lý xã hội.
Nhiệm vụ phát huy dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay
- Tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân.
Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phải
xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân
tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của
quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân,
từ nêu sang kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện.
Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật lien quan trực tiếp đến quyền làm
chgủ của nhân dân
- Thể chế hoá và nâng cao chất lượng các hình thức thực
hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo
tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo
đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật,
tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.
- Thể chế hoá và thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”
- Bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ
dân chủ trong xã hội.
Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải đảm bảo phát huy dân chủ
trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Đẩy mạnh dân chủ
hoá xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sang tạo của
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội; quy định về việc MTTQ, các tổ
chức CT-XH và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; quy định về
giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các
quy định, quy chế khác nhau.
- Phát huy dân chủ đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm
công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội.
Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, Xử lý nghiêm
những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.