Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

Chuyến công du đầu tiên thử thách chiến lược ngoại giao của Tổng thống Mỹ Biden

 

Chuyến công du đầu tiên thử thách chiến lược ngoại giao của Tổng thống Mỹ Biden

Biden là người rất giàu kinh nghiệm ngoại giao, nhưng trong 4 năm ông vắng mặt thời Trump, thế giới đã thay đổi rất nhiều.

Tổng thống Mỹ Joe Biden lâu nay cho thấy ông là người luôn muốn xây dựng các mối quan hệ, không chỉ với những thành viên đảng Dân chủ hay Cộng hòa ở trong nước, mà còn với các đồng minh và đối tác trên toàn cầu, những người đã mệt mỏi và kiệt sức sau 4 năm nhiệm kỳ của Donald Trump.

Các mối quan hệ trong nước vẫn được duy trì. Nhưng khi Biden có chuyến công du quốc tế đầu tiên trên cương vị tổng thống vào tuần này, nó sẽ giúp trả lời câu hỏi liệu thương hiệu ngoại giao cá nhân và sự quen thuộc của ông với những lãnh đạo nước ngoài có thể tạo ra kết quả tốt đẹp cho Mỹ hay không.

Chuyến công du bắt đầu bằng cuộc gặp đầu tiên vào ngày 9/6 với Thủ tướng Anh Boris Johnson, một trong những đồng minh thân cận nhất với Mỹ, và kết thúc sau 6 ngày nữa bằng cuộc gặp Tổng thống Nga Vladimir Putin, một trong những đối thủ "khó nhằn" nhất.

"Xuyên suốt hành trình, chúng ta sẽ làm rõ rằng nước Mỹ đã trở lại", Biden nói với các binh sĩ Mỹ đang đồn trú tại RAF Mildenhall, một căn cứ quân sự của Anh, không lâu sau khi ông hạ cánh xuống nước này ngày 9/6. "Các nền dân chủ trên thế giới đang sát cánh cùng nhau để giải quyết những thách thức khó khăn nhất cũng như những vấn đề quan trọng nhất đối với tương lai chúng ta".

Biden là một trong những tổng thống Mỹ dày dạn kinh nghiệm nhất về đối ngoại. Ông trở thành thượng nghị sĩ từ năm 1973, từng giữ chức chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, đồng thời đóng vai trò quyết định hàng loạt vấn đề toàn cầu then chốt khi giữ chức phó tổng thống Mỹ dưới thời Barack Obama.

Tại mỗi điểm dừng chân trong chuyến công du tuần này, từ Vịnh Carbis của Anh đến Brussels hay Geneva, Tổng thống Biden sẽ tìm cách tận dụng mối quan hệ cá nhân của mình với các lãnh đạo thế giới nhằm tái thiết lập vị thế Mỹ trên trường quốc tế.

"Ông ấy luôn sẵn sàng trong 50 năm qua", thư ký báo chí Nhà Trắng Jen Psaki cho hay. "Ông ấy đã bước lên sân khấu quốc tế từ lâu. Ông ấy quen biết một số nhà lãnh đạo suốt nhiều thập kỷ.... và không gì hiệu quả bằng ngoại giao trực diện".

Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ cũng có thể phải đối mặt với những hạn chế của hoạt động ngoại giao cá nhân. Kể từ thời điểm Biden rời ghế phó tổng thống đến khi ông trở lại Nhà Trắng, thế giới trong 4 năm qua đã nghiêng về phía dân túy và một số gương mặt lãnh đạo mới đã xuất hiện, như Tổng thống Pháp Emmanuel Macron hay Thủ tướng Anh Johnson.

Ngoài ra, các nhà ngoại giao cho rằng sự hấp dẫn cá nhân của Tổng thống Biden là chưa đủ để lay động những lãnh đạo khác. Dù có mối quan hệ lâu dài với Biden, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã không nhượng bộ khi Biden lặng lẽ gây áp lực, yêu cầu ông ngừng các cuộc tấn công nhằm vào lực lượng Hamas ở Dải Gaza trong cuộc xung đột mới đây nhất. Biden sau đó phải thay đổi chiến thuật bằng việc gây áp lực trực tiếp với Israel.

Hầu hết các lãnh đạo mà Tổng thống Biden gặp ở châu Âu có lẽ đều sẽ cảm thấy biết ơn khi Mỹ quay trở lại chính sách đối ngoại dễ đoán hơn so với thời Trump, ngoại trừ Tổng thống Nga Putin.

Trong lúc Biden phát biểu trước các binh sĩ ở Mildenhall hôm 9/6, Nga đã ra lệnh cấm phong trào đối lập do chính trị gia đối lập Alexei Navalny dẫn đầu. Hành động này dường như là thông điệp gửi tới Tổng thống Mỹ rằng Điện Kremlin sẽ không cúi đầu trước áp lực từ nước ngoài.

Ngoài việc dự các phiên họp G7 trong chuyến thăm 4 ngày tới Anh, Biden sẽ gặp riêng Thủ tướng Johnson, tới thăm Nữ hoàng Elizabeth II ở Lâu đài Windsor. Ông dự kiến có các cuộc hội đàm với những đồng minh khác, như Tổng thống Pháp Macron và Thủ tướng Nhật Yoshihide Suga bên lề hội nghị G7. Ngày 14/6, Biden được cho là sẽ gặp mặt Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan.

Dù vậy, cuộc gặp ngày 16/6 với Tổng thống Nga Putin ở Thụy Sĩ mới được nhiều nhà ngoại giao coi là sự kiện chính. Biden dự kiến thách thức người đồng cấp Nga về các vấn đề như tấn công mạng, vi phạm nhân quyền, song vẫn tìm kiếm hợp tác sâu rộng hơn trong nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là kiểm soát vũ khí.

Mục tiêu chính của cuộc gặp là thể hiện sự khác biệt rõ nét trong cách tiếp cận của Mỹ với Nga, giới chuyên gia nhận định. Các cố vấn của Biden tuần qua đã nỗ lực giải thích rằng dù Tổng thống Mỹ là người đề xuất cuộc gặp, đây không phải phần thưởng dành cho lãnh đạo nước Nga, như một số thành viên đảng Cộng hòa chỉ trích.

"Joe Biden không gặp Vladimir Putin bất chấp khác biệt giữa hai nước. Ông ấy gặp vì hai nước có sự khác biệt", cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan nói. "Chúng tôi tin rằng nghe trực tiếp từ Tổng thống Putin là cách hiệu quả nhất để hiểu các mục đích và kế hoạch của Nga".

Theo giới quan sát, chuyến công du còn là cơ hội để Tổng thống Biden tự mình kiểm tra tác động của khẩu hiệu "Nước Mỹ đã trở lại".

Biden đã đưa Mỹ tái gia nhập hiệp định khí hậu Paris và tiến hành các cuộc đàm phán để khôi phục thỏa thuận hạt nhân Iran. Những nỗ lực này được các lãnh đạo châu Âu đánh giá cao, nhưng họ đồng thời cũng đang trong tâm lý cảnh giác trước cuộc bạo động Đồi Capitol ngày 6/1 và lo ngại rằng chính trị Mỹ có thể lại quay sang chủ nghĩa dân tộc.

Với bối cảnh chính trị Mỹ như hiện nay, một số nhà ngoại giao đánh giá Tổng thống Biden sẽ không thể tự do hành động trong một số lĩnh vực.

"Ông ấy biết vấn đề, biết tất cả mọi người và ông ấy rất nhiệt huyết. Nhưng mặt khác, ông ấy có những ưu tiên nội bộ riêng. Ông ấy là tổng thống Mỹ, vừa chứng kiến vụ bạo động ngày 6/1 và rõ ràng ông ấy cũng cần hoàn thành chương trình nghị sự nội bộ. Cuộc bầu cử giữa kỳ chỉ còn cách một năm nữa. Áp lực rất lớn, chúng ta đều hiểu điều đó", một nhà ngoại giao cấp cao châu Âu nhận xét.

Cuộc họp của G7 sẽ tập trung vào khôi phục kinh tế và áp lực ngày càng tăng đối với các quốc gia giàu có như Mỹ và Anh trong việc cung cấp vaccine Covid-19 cho những nước nghèo hơn.

Vì đại dịch nên phiên họp G7 với Anh, Canada, Pháp, Nhật, Đức và Italy sẽ là cơ hội đầu tiên để Tổng thống Biden gặp mặt trực tiếp những đồng minh thân cận nhất của Mỹ.

Trong nhiệm kỳ của mình, Trump đã gây náo động hai hội nghị của G7 ở Canada và Pháp vì chương trình nghị sự thương mại "Nước Mỹ trước tiên" cùng thái độ thù địch của ông với ngay cả với các đồng minh.

Phiên họp này được dự đoán bình lặng hơn, thậm chí buồn tẻ, khi Biden đến tham dự với mục tiêu trọng tâm là tái thiết lập bầu không khí hợp tác và cách tiếp cận dễ đoán.

"4 năm qua thực sự không dễ dàng", một quan chức châu Âu nói, thêm rằng chính phủ của ông hiện tại "không thể tìm thấy bất kỳ vấn đề nào mà họ bất đồng" với Mỹ, điều thậm chí khó xảy ra ngay cả dưới chính quyền Obama. Với G7 và NATO, đây là "một khoảnh khắc hiếm có", ông nhấn mạnh.

Trong khi vẫn còn một số lo lắng về các vấn đề như thuế quan và việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan, quan chức này cho rằng cảm quan chung hiện nay là "chúng tôi (Mỹ và châu Âu) thực sự có thể xây dựng nền tảng vững chắc" về hợp tác kinh tế, công nghệ, môi trường cũng như thống nhất cách tiếp cận trước Trung Quốc.

Trump trước đây thường thể hiện thái độ coi thường rõ ràng NATO, nói rằng các thành viên liên minh đã lợi dụng Mỹ và không đóng góp ngân sách quốc phòng cho khối tương xứng với Washington. Tại một cuộc họp của NATO vào năm 2018, Trump đe dọa sẽ rút Mỹ khỏi khối nếu các thành viên khác không tăng đóng góp.

Các lãnh đạo NATO giờ đây hy vọng nước Mỹ dưới thời Biden sẽ thay đổi.

"Điều quan trọng là Tổng thống Biden có một cam kết cá nhân mạnh mẽ với NATO, tôi cảm nhận được điều đó", Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg cho biết trong một cuộc phỏng vấn. "Ông ấy đã đến trụ sở NATO không ít lần. Tất nhiên, kiến thức cá nhân của ông ấy về NATO và châu Âu cũng quan trọng không kém".

Biden và Stoltenberg hôm 7/6 gặp mặt ở Washington. Tổng thư ký NATO và Tổng thống Mỹ đã truyền đi "một thông điệp rất mạnh mẽ" về ủng hộ lẫn nhau.

Dù vậy, Biden vẫn cần xoa dịu những tổn thương của các đối tác trong NATO, những người cảm thấy bị qua mặt bởi việc Mỹ quyết định rút quân khỏi Afghanistan.

"Các đồng minh châu Âu đã hiểu nhầm về thông báo rút quân của chính quyền Biden", Constanze Stelzenmuller, học giả tại Trung tâm Mỹ và châu Âu thuộc Viện Brookings, bình luận. "Họ đồng tình với quyết định đó, nhưng họ cảm thấy không được tham vấn đầy đủ về kế hoạch".

Biden cũng sẽ gặp các lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU) tại Brussels. Đại sứ EU tại Mỹ Stavros Lambrinidis cho biết cuộc gặp này sẽ có hai khán giả chính.

"Một khán giả chính là người của chúng tôi, người dân châu Âu và Mỹ", ông nói. "Với khán giả này, điều quan trọng nhất là chúng tôi phải chứng minh được liên minh xuyên Đại Tây Dương sẽ mang lại an ninh và thịnh vượng cho người dân theo cách mà nếu đứng một mình, chúng ta không thể làm nổi", ông nhấn mạnh.

Khán giả thứ hai, theo Lambrinidis, là tất cả những lãnh đạo "chuyên chế" trên thế giới. "Những lãnh đạo như vậy nên cẩn thận và cảnh giác, bởi liên minh này sẽ làm mọi thứ trong khả năng để ngăn chặn điều đó xảy ra".

 

Từ "xã hội dân sự" thúc đẩy đa nguyên, đa đảng - Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch

Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) được thực hiện bằng nhiều phương thức, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt hướng tới một mục đích cuối cùng là làm sụp đổ chế độ XHCN, làm tan rã các Đảng Cộng sản, thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng. Trong quá trình này, “xã hội dân sự” được họ sử dụng như một công cụ quan trọng. Thực tiễn sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trước đây là diễn ra theo kịch bản này. Tuy có nhiều cách tiếp cận nhìn nhận, đánh giá và quan niệm khác nhau về “xã hội dân sự” (civil society) tùy thuộc và mỗi giai đoạn lịch sử và những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của từng giai đoạn lịch sử đó, nhưng các quan điểm của các học giả phương Tây đều gặp nhau ở những điểm cốt lõi, đó là: Về tổ chức, xã hội dân sự là một tổ hợp của các thiết chế chính trị - xã hội phù hợp với hệ thống dân chủ, tự do và kinh tế thị trường, bao gồm: các tổ chức cộng đồng, các tổ chức quần chúng, các hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ. Trong một không gian công cộng, các thiết chế này được hình thành một cách tự nguyện, độc lập, có thể thảo luận, tranh luận với nhau; độc lập hoặc cùng nhau thảo luận, tranh luận với nhà nước về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội để tạo ra sự đồng thuận trong những vấn đề của đời sống xã hội đặt ra. Về bản chất, xã hội dân sự là xã hội tự lập phi nhà nước, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước. Đó là sự khác biệt giữa “xã hội dân sự” với “xã hội quân sự” hay “xã hội chính trị” (nhà nước), nhưng xã hội dân sự có thể được nhà nước hậu thuẫn. Những vấn đề xã hội dân sự không tự giải quyết được thì thuộc chức năng của nhà nước. Là những nhà triết học duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm “Xã hội dân sự theo đúng nghĩa của nó được sinh ra từ xã hội tư sản. Nó được hình thành bởi những chế định lịch sử - xã hội, bởi những hình thức quan hệ sản xuất đặc biệt, bởi những hình thức quan hệ và đấu tranh giai cấp và được bảo vệ bởi những cơ chế chính trị - pháp lý tương ứng”… Về bản chất của xã hội dân sự, theo C.Mác, chủ quyền của nhân dân phải trở thành vấn đề trung tâm trong một xã hội dân sự đích thực, làm cơ sở cho một chế độ dân chủ và một nhà nước dân chủ chân chính. Đó là tư tưởng cách mạng sâu sắc có tính định hướng cho việc nhìn nhận, đánh giá và xác định tính đúng đắn của một số tổ chức được coi là xã hội dân sự và cơ sở, tiêu chí để khẳng định những thiết chế chính trị xã hội lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để chống đối chính quyền nhân dân. Xã hội dân sự ở Việt Nam phát triển từ đầu thế kỷ XX, khi người Pháp đưa khái niệm dân chủ và quyền công dân vào nước ta. Quá trình phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam cùng trải qua một chặng đường dài thăng trầm do sự biến động của thời cuộc và sự lạm dụng vai trò, chức năng của một số tổ chức xã hội dân sự cũng như âm mưu của các thế lực đế quốc, phản động lợi dụng xã hội dân sự xâm phạm an ninh và lợi ích quốc gia. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập một tổ chức xã hội dân sự, đó là phải xác định rõ tôn chỉ, mục đích, điều lệ của tổ chức; thành phần ban sáng lập, hội viên, nguồn tài chính để hoạt động và phương thức hoạt động… Hiện nay ở nước ta, bên cạnh các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân hoạt động công khai hợp pháp. Hiện có khoảng gần 400 hội đang hoạt động trên phạm vi cả nước, trên 600 tổ chức hội, đoàn đang hoạt động trên phạm vi các địa phương; hàng ngàn hiệp hội, câu lạc bộ hoạt đông trên các lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó còn có khoảng trên 600 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ với Việt Nam, trong đó gần 400 tổ chức có các chương trình, dự án đang triển khai tại nước ta. Về cơ bản, các tổ chức xã hội dân sự đồng thuận với xã hội, đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế văn hóa - xã hội. 2. "Xã hội dân sự" và âm mưu của các thế lực thù địch Những năm qua, âm mưu, hoạt động lợi dụng một số tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với Việt Nam tập trung vào các hướng sau đây: Thứ nhất là, đề cao và nhấn mạnh vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức “xã hội dân sự”, triệt để khai thác tính đa dạng về thành phần, mục tiêu thành lập. lợi ích của tổ chức và các thành viên, đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hướng lái hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự” đã hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau, từ đa nguyên về tư tưởng, dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Vì vậy, do tác động, hướng lái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, bản chất đích thực của một số tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam mất dần, thay thế vào đó là cho ra đời các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây như ở Đông Âu và Liên Xô trước đây. Thứ hai là, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Một số tổ chức “xã hội dân sự” mang tính giai cấp rõ rệt, những người sáng lập không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thay vì đặt mục tiêu hoạt động nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã hướng lái tổ chức phục vụ lợi ích của một số tầng lớp, một nhóm người, đối lập với lợi ích của dân tộc, quốc gia. Vì vậy, họ luôn tìm cách tách hoạt động của tổ chức khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và các cơ quan chức năng. Tổ chức “xã hội dân sự” của họ chỉ là vỏ bọc, thực chất đó là những tổ chức mang màu sắc chính trị, ẩn chứa trong mục đích thành lập và hoạt động là động cơ và mục đích chính trị. Về lâu dài, đây sẽ là diễn đàn đấu tranh giai cấp trên mọi phương diện: chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế… Những người sáng lập một số tổ chức “xã hội dân sự” thường là những người các thế lực thù địch gọi là “bất đồng chính kiến”; những người cơ hội chính trị, có quan điểm trái chiều, đối lập với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công khai yêu cầu Đảng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp; đòi đổi tên Đảng, tên nước, từ bỏ con đường xây dựng CNXH mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn. Thứ ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để hướng lái xã hội dân sự vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích. Một số tổ chức “xã hội dân sự” có khuynh hướng đi theo mục tiêu chính trị, đề cao các “giá trị” tự do, dân chủ, nhân quyền của chủ nghĩa tư bản. Những người sáng lập tìm cách tuyên truyền, tác động, lôi kéo một số trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên, luật sư tham gia, mở rộng phạm vi, không gian hoạt động trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, phụ họa và tiếp tay cho các thế lực bên ngoài chống phá Việt Nam. Một số người công khai viết, tán phát tài liệu, sách, sử dụng các trang mạng truyền bá những quan điểm, tư tưởng trái chiều, tạo diễn đàn đối lập với Đảng, Nhà nước. Họ triệt để lợi dụng những sai sót, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội, những chủ trương, chính sách chưa hợp lòng dân, các vấn đề phức tạp nổi lên về an ninh, trật tự để phê phán đường lối của Đảng, đổ lỗi, quy kết trách nhiệm cho Đảng ta trong các vấn đề hạn chế, tồn tại của đất nước, nhất là trong phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế trong bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo… Nhiều bài viết, tài liệu công khai cổ vũ, đề cao mô hình “xã hội dân sự” kiểu phương Tây và yêu cầu, hô hào, tác động áp dụng mô hình này vào xã hội Việt Nam để mở rộng diễn đàn dân chủ, phát huy đa nguyên… Từ đa nguyên chính kiến trong “phản biện chính sách”, “phản biện xã hội” dưới danh nghĩa ủng hộ quan điểm mở rộng dân chủ ở cơ sở, đảm bảo quyền con người để tuyên truyền, vận động có thêm lực lượng, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi chính phủ tham gia, từng bước hình thành các “phong trào”, “mặt trận” dân chủ, trở thành lực lượng đối trọng, đối lập với Đảng và Nhà nước ta trong tương lai. Thứ tư là, các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước, những người bất mãn trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư… hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” đối lập theo mô hình của phương Tây, các nước Đông Âu và Liên Xô trước khi sụp đổ, tan rã. Trong các nhóm đã được thành lập, có những hội, nhóm, câu lạc bộ, viện nghiên cứu thành phần tham gia khá phức tạp. Được sự cổ vũ, khích lệ của các thế lực chống CNXH ở bên ngoài, họ thường xuyên gặp gỡ bàn bạc, biên soạn, phát tán tài liệu có nội dung phê phán đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Một số tổ chức thông qua hoạt động nghiên cứu, phản biện, tư vấn để truyền bá quan điểm, tư tưởng sai trái, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cổ súy cho một phong trào “xã hội dân sự” độc lập. Họ còn tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo, trả lời phỏng vấn, đăng tải trên trang mạng các bài viết phủ nhận thành quả cách mạng, yêu cầu Đảng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo; tổ chức dịch, phát hành hàng chục đầu sách của các tác giả nước ngoài có nội dung nhạy cảm về chính trị, đề cập đến sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu như những tài liệu phổ biến kinh nghiệm biểu tình, lật đổ, tiến hành “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”, cổ vũ cho “xã hội dân sự” đối lập… 3. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập - Mục tiêu hướng tới của "xã hội dân sự" kiểu phương Tây: Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền cổ vũ cho chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tại Việt Nam. Luận điệu của họ là trong nền chính trị Việt Nam phải tồn tại các nhóm chính trị, các chính đảng khác nhau để đa dạng hóa đường lối cho nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử tự do thì mới đảm bảo cho một nền dân chủ. Vì vậy, những năm qua các phần tử chống CNXH luôn tìm mọi cách tập hợp lực lượng, cho ra đời tổ chức, đảng phái chính trị đối lập trong nước. Thời gian tới, hoạt động của các thế lực thù địch đối với vấn đề “xã hội dân sự” ở Việt Nam sẽ được đẩy mạnh theo các hướng sau: Một là, gia tăng hoạt động truyền bá tư tưởng “xã hội dân sự” của phương Tây, đề cao và tuyệt đối hóa để gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của “xã hội dân sự” Việt Nam - mầm mống của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Hai là, tập trung tuyên truyền tác động phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm tạo dựng, phát triển lực lượng chống đối, bổ sung nhân sự cho việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị, đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba là, gia tăng các hoạt động móc nối, tác động chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây, làm mất dần bản chất đích thực, vai trò quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự hiện nay. Từ đó sẽ trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống đối chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở nước ta. Đây là bước chuẩn bị điều kiện nhân sự, tổ chức cho sự ra đời của đảng chính trị đối lập, từng bước công khai hóa, hợp thức hóa, quốc tế hóa trở thành đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua đấu tranh chính trường, từng bước gạt Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi vũ đài chính trị, chiếm đoạt quyền lực, đưa nước ta theo quỹ đạo của phương Tây. Bốn là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị làm công cụ tuyên truyền tác động tư tưởng, lôi kéo quần chúng, những người có tâm tư bất mãn trong các giai tầng xã hội, các phần tử chống chủ nghĩa xã hội để tập hợp lực lượng quần chúng, chuẩn bị điều kiện kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội để phát động một cuộc “cách mạng đường phố”, thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam. Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “xã hội dân sự” chống phá Việt Nam trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trước hết, phải xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các ngành, các cấp, các lực lượng vũ trang. Vấn đề đầu tiên đặt ra là phải thống nhất và nâng cao nhận thức về xã hội dân sự, phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực để tập trung lãnh đạo, định hướng cho các tổ chức này tuân thủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, cảnh giác trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo vào các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Không đánh đồng các tổ chức xã hội dân sự đích thực với các tổ chức “xã hội dân sự” theo mô thức của phương Tây. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân các giai tầng xã hội để thấy rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong việc cổ súy và sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước. Kiên quyết giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ đất nước ổn định và phát triển đúng định hướng./.

Nhận diện rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá Việt Nam

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Không phải đến bây giờ mà cuộc đấu tranh PCTN đã được tiến hành ở Việt Nam kể từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam năm 1930 cho đến nay... Có thể nói, chưa bao giờ công tác đấu tranh PCTN lại được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt như thời gian gần đây. Giữa lúc quyết tâm chính trị, tinh thần đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang lên cao thì các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội lại ra sức lợi dụng vấn đề này để tiến hành các hoạt động chống phá. Hơn lúc nào hết, trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải nhận thức rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn đó. Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng. Cả thế giới đã thừa nhận, tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, các nước dù đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) hay tư bản chủ nghĩa đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái nào nắm quyền lãnh đạo đất nước... Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại ra sức rêu rao rằng: “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra...”; “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”... Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: Tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo con đường XHCN, “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN ở Việt Nam”... Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Khi mà chúng ta chưa đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng hoặc đã làm nhưng kết quả chưa rõ nét thì họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”... Khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì chúng lại tung ra những giọng điệu lạc lõng, dựng chuyện, xuyên tạc rằng thực chất cuộc đấu tranh PCTN ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, "là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam". Đề cập đến câu hỏi làm thế nào để dẹp bỏ nạn tham nhũng ở Việt Nam, họ cho rằng: “Chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ được”... Từ những thông tin cóp nhặt trên mạng xã hội, họ còn vẽ ra, dựng nên những câu chuyện nói rằng các phe nhóm nội bộ ở Trung ương và địa phương đang đấu đá nhau... Đặc biệt, họ thường suy diễn, chụp mũ, xuyên tạc những ý kiến chỉ đạo chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là xuyên tạc mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của cuộc đấu tranh này; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ ta, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm PCTN và lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Cần khẳng định rõ rằng những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt lạc lõng ấy không thể phủ nhận được sự cố gắng, quyết tâm chính trị và những thành quả trong cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong 5 năm gần đây, đặc biệt là những năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, công tác PCTN được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo rất quyết liệt, tạo được một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng và cố ý làm trái. Tòa án nhân dân các cấp cũng đã xét xử sơ thẩm 436 vụ án, với 1.118 bị cáo về các tội tham nhũng. Các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng đã được Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, kiểm tra. Qua đó, đã chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 188 vụ với 335 đối tượng. Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiểm toán 434 đơn vị đầu mối, kiến nghị thu hồi về cho ngân sách Nhà nước hơn 65.000 tỷ đồng. Các cơ quan chức năng đã chủ động, công khai cung cấp thông tin, định hướng dư luận trong hoạt động PCTN, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông, báo chí trong PCTN. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và người dân trong PCTN ngày càng được phát huy tốt hơn... Hoạt động hợp tác quốc tế về PCTN được mở rộng. Kết quả công tác PCTN của Việt Nam những năm gần đây đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam tăng liên tiếp trong hai năm sau nhiều năm giữ nguyên, từ 31 điểm năm 2015 tăng lên 35 điểm trong năm 2017. Ngoài việc góp phần tạo ra bước phát triển về kinh tế-xã hội, công tác đấu tranh PCTN góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN. Kết quả của công tác PCTN đã tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Những kết quả ấy càng khẳng định rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về PCTN. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định rõ việc đẩy mạnh PCTN, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng, với động cơ trong sáng, lành mạnh, không “làm chậm” sự phát triển, mà ngược lại làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Những kết quả đó càng chứng tỏ những luận điệu của các thế lực phản động về cuộc đấu tranh PCTN của Việt Nam là xuyên tạc, bịa đặt, vô căn cứ. Thực tế đã khẳng định cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là trong sáng, công khai, minh bạch, khách quan, tôn trọng nhân dân và coi trọng dư luận; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Những kết quả bước đầu đã để lại cho chúng ta những bài học quan trọng. Nhưng cần đặc biệt nhấn mạnh, đó là sự thống nhất một ý chí, một quyết tâm chống tham nhũng trong toàn Đảng. Chính quyết tâm chính trị của Đảng là lời hiệu triệu lòng dân và những cán bộ, đảng viên đồng lòng trong cuộc chiến này. Kết quả của cuộc đấu tranh PCTN thời gian qua cho thấy quần chúng nhân dân và toàn xã hội đã đặt trọn niềm tin, tích cực ủng hộ ý chí quyết tâm, nỗ lực đấu tranh PCTN của Đảng... Nhưng cũng cần phải thấy ngay rằng những kết quả quan trọng đạt được mới chỉ là bước đầu. Tình hình tham nhũng, tiêu cực và tệ quan liêu, lãng phí vẫn còn nhiều, phổ biến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cơ quan, tổ chức, lực lượng, đơn vị, địa phương thì ở đâu đó vẫn còn những biểu hiện thiếu kiên quyết, né tránh, tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", "trên vội vã, dưới thư thả". Thực tế ấy đòi hỏi muốn làm sạch đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng, trong sạch đội ngũ cán bộ trong toàn bộ máy, Đảng ta phải có bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao. Thời gian tới, khi mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực càng được đẩy mạnh thì các thế lực thù địch, phản động cũng sẽ gia tăng sự chống phá. Dù cam go, phức tạp, dù khó khăn đến mấy cũng không ai có thể phủ nhận, xóa nhòa những thành công của chúng ta, không ai có thể làm nhụt ý chí, quyết tâm của chúng ta. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải đề cao cảnh giác, nhận diện rõ ràng về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội để từ đó kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại, ngăn cản cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.

Cán bộ, đảng viên không chỉ thượng tôn pháp luật, mà còn phải đi đầu đưa pháp luật đến với nhân dân

Một “vùng trống” để kẻ xấu và các thế lực thù địch lợi dụng, kích động trong các vụ tụ tập, tuần hành, gây rối thời gian vừa qua chính là một bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) chưa nêu cao trách nhiệm học tập, nghiên cứu, nắm vững pháp luật, nên công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chưa hiệu quả. Thậm chí, một số người vì thế còn dẫn đến nói, viết không đúng pháp luật, vô hình trung “nối giáo” cho các thế lực thù địch. Không phải ngẫu nhiên mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng coi nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của học tập, lười học tập pháp luật Nhà nước cũng là một biểu hiện suy thoái. Khi Quốc hội chuẩn bị bàn thảo về dự án Luật An ninh mạng, vị viện trưởng một viện nghiên cứu đưa ra bài viết với nhiều ý kiến chủ quan, một chiều, thổi phồng những tác động tiêu cực của Luật An ninh mạng như làm giảm 1,7% tăng trưởng GDP, giảm 3,1% đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đáng tiếc nữa, bài viết này được nhiều người, trong đó có cả CB, ĐV chia sẻ, khi mà chính họ cũng chưa tìm hiểu sâu về dự thảo luật. Trước đó, chính vị viện trưởng này cũng từng có phát ngôn không đúng về hoạt động của lực lượng đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", các quan điểm sai trái trong quân đội… nhưng một số người thiếu hiểu biết vẫn “hồn nhiên” chia sẻ thông tin. Khi xảy ra sự cố tụ tập, biểu tình, TP Cần Thơ là một trong những địa phương rất sớm có tờ rơi, tài liệu tuyên truyền, định hướng nhân dân. Nhưng ở nhiều địa phương khác khá bị động, thậm chí một bộ phận CB, ĐV có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân còn chưa hề đọc, nghiên cứu hai dự thảo luật. Tại Bình Thuận, khi xảy ra sự cố, Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong đã ra hiện trường vận động đám đông thì xảy ra hiện tượng hàng loạt thanh thiếu niên nhao nhao hỏi “đặc khu” là gì? Thực tế đó nói lên hiện tượng rất nhiều thanh niên, thiếu niên bị kích động đi biểu tình trong khi chưa hề hiểu, nắm được gì về hai dự án luật. Lỗ hổng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho thanh niên vẫn còn đó, trong khi không ít cán bộ Đoàn cũng chưa nắm vững, hiểu sâu luật, nói gì đến tìm phương thức tuyên truyền như thế nào cho hấp dẫn đối với thế hệ trẻ? Lại có một số CB, ĐV vẫn tham gia “luận bàn thế sự” trên mạng xã hội, theo kiểu “thầy bói xem voi” thiếu trách nhiệm, vô hình trung tạo ra những luồng dư luận xã hội tiêu cực. Sau khi xảy ra việc tụ tập, gây rối, TP Hồ Chí Minh đã có cách làm hay là rút gọn, phô tô những nội dung cần thiết về dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và Luật An ninh mạng gửi tới người dân ở từng tổ dân phố thì lại có nhiều người, trong đó có cả CB, ĐV “phán xét” trên mạng xã hội: Giờ là thời đại nào rồi còn phát tờ rơi? Họ đâu biết rằng với một bộ phận đồng bào nghèo ở vùng sâu, vùng xa hoặc những người già không sử dụng internet, điện thoại thông minh, thì tờ rơi vẫn là kênh truyền thông cần thiết. Đó chỉ là những ví dụ đáng tiếc về hiện tượng một bộ phận CB, ĐV vừa thiếu trách nhiệm, lười học tập, nghiên cứu pháp luật, vừa thiếu trách nhiệm trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới nhân dân. Một nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” Không phải ngẫu nhiên mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã xác định một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của CB, ĐV hiện nay là “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” (biểu hiện thứ 3). Phát biểu tại hội nghị truyền hình trực tuyến toàn quốc học tập các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII mới đây, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cũng nhấn mạnh vấn đề này và phân tích: Chính sai phạm ở việc lười học tập này dẫn đến một sai phạm khác được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng chỉ ra. Đó là biểu hiện thứ 6: “Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu…”. Ngoài ra, nó còn là nguyên nhân dẫn đến một trong 9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ (biểu hiện thứ 3): “Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước…”. Nói chuyện tại Đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội về thắng lợi của Kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa I (13-1-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh vai trò của CB, ĐV phải “phổ biến Hiến pháp, pháp luật một cách kỹ lưỡng và rộng khắp trong nhân dân” và “gương mẫu trong việc thi hành Hiến pháp và các luật lệ”. Sau này, Người cũng khẳng định: CB, ĐV là “những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Chúng ta nhận thức rõ rằng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là hết sức cần thiết nhưng để có Nhà nước pháp quyền thì trước hết mỗi người dân phải hiểu luật và thực thi đúng pháp luật. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội”; “Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội”. Những yêu cầu đó không tự nhiên mà có được. Pháp luật cần được đi vào cuộc sống thông qua các kênh rộng khắp, trong đó có vai trò CB, ĐV phải là những người đi đầu “chở luật”. Cha ông ta có câu “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” phần nào đã nói lên tinh thần ấy. Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ, công chức có nghĩa vụ phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước (Điều 8). Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định mỗi cán bộ, công chức đều có trách nhiệm “tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật; tham gia các khóa học, lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về pháp luật; gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật; chủ động, tích cực kết hợp thực hiện việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động chuyên môn, thực thi nhiệm vụ” (Điều 34). CB, ĐV không chỉ gương mẫu trong học tập, nắm bắt, hiểu đúng và thực hiện đúng pháp luật mà còn phải đi đầu trong tuyên truyền, vận động nhân dân, nhất là đối với những đạo luật mới ra đời hoặc đang được triển khai xây dựng nhưng được dư luận xã hội quan tâm, còn nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh càng cần thiết vai trò CB, ĐV “giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Như đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc hiện nay, công tác tuyên truyền, vận động phải hướng vào những vấn đề dư luận còn băn khoăn, thắc mắc; làm rõ, bác bỏ những vấn đề bị xuyên tạc; đồng thời kịp thời phản ánh những ý kiến góp ý của nhân dân để tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật. Với Luật An ninh mạng, Chủ tịch nước đã ký quyết định ban hành nhưng vẫn còn không ít những luận điệu xuyên tạc, chống phá. Vì thế, phải tuyên truyền khẳng định các nội dung đúng đắn, bác bỏ thông tin sai trái. Hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân phải thiết thực, phong phú, phù hợp với từng đối tượng, đặc biệt chú trọng tuyên truyền trên không gian mạng và tuyên truyền với thế hệ trẻ. Không dừng lại ở đó, CB, ĐV phải là những chiến sĩ vững vàng nhất trên trận địa chính trị, tư tưởng và là một tuyên truyền viên pháp luật tích cực nhất. Không chỉ bản thân mỗi người gương mẫu trong chấp hành pháp luật mà phải tuyên truyền và vận động để gia đình, người thân cũng gương mẫu, vững vàng, không mắc mưu kẻ xấu. Phải thực hiện thật tốt hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện Quy định 102 của Bộ Chính trị về việc xử lý đảng viên vi phạm, trường hợp để con cái phạm tội thì phải chịu trách nhiệm liên đới. Đây là quy định giúp nâng cao vai trò của đảng viên trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, góp phần ngăn chặn tình trạng đảng viên bảo kê, làm ngơ, dung túng cho con cái, người thân trong gia đình vi phạm pháp luật.

Hội đồng Bầu cử quốc gia thông qua nghị quyết công bố kết quả bầu cử, danh sách đại biểu Quốc hội khóa XV

 

Hội đồng Bầu cử quốc gia thông qua nghị quyết công bố kết quả bầu cử, danh sách đại biểu Quốc hội khóa XV

 (Chinhphu.vn) - Sáng 10/6, tại phiên họp thứ 7 Hội đồng Bầu cử quốc gia (Hội đồng), với 100% thành viên có mặt, Hội đồng đã biểu quyết thông qua biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV.

Tham dự và chủ trì phiên họp có Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia; các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến và các thành viên Hội đồng.

Tại phiên họp, 100% thành viên Hội đồng có mặt tại phiên họp đã biểu quyết thông qua Nghị quyết công bố kết quả và danh sách những người trúng cử ĐBQH khóa XV bằng hình thức bỏ phiếu kín.

Phát biểu bế mạc phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, trong phiên họp này, các thành viên Hội đồng đã thảo luận dân chủ, cho ý kiến và biểu quyết thông qua báo cáo, biên bản tổng kết bầu cử và nghị quyết công bố kết quả bầu cử.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chánh Văn phòng Hội đồng tiếp thu ý kiến thành viên của Hội đồng để hoàn thiện các báo cáo và nghị quyết trình Chủ tịch Hội đồng ký ban hành.

Chiều 10/6, Hội đồng sẽ tổ chức họp báo để công bố kết quả bầu cử ĐBQH khóa XV và danh sách những người trúng cử ĐBQH theo quy định của pháp luật. Hội đồng phân công Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì cuộc họp báo này. Tham dự họp báo còn có Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, đại diện lãnh đạo Chính phủ, Chánh văn phòng Hội đồng Bùi Văn Cường và Ủy viên Hội đồng, Trưởng Ban công tác đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, cùng lãnh đạo một số các bộ, ngành, tiểu ban của Hội đồng.

Chủ tịch Quốc hội cho biết, theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp, sau khi công bố kết quả bầu cử, Hội đồng, ủy ban bầu cử các cấp tiếp tục tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo về kết quả bầu cử và phải giải quyết trong vòng 30 ngày để có cơ sở trước khi công bố xác nhận tư cách ĐBQH trúng cử.

Hội đồng sẽ họp phiên thứ 8 dự kiến ngày 12/7 tới để xem xét kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), đồng thời xem xét thông qua Nghị quyết về xác nhận tư cách ĐBQH khóa XV, làm thủ tục cấp thẻ ĐBQH và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất (dự kiến khai mạc ngày 20/7). Do vậy, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu Tiểu ban giải quyết khiếu nại tố cáo cần tập trung tích cực thực hiện ngay nhiệm vụ này, phối hợp với Tiểu ban nhân sự để giúp Hội đồng tiếp tục thẩm tra tư cách đại biểu.

Về việc tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác bầu cử, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Hội đồng cho phép vừa tổ chức theo hình thức trực tuyến đến 63 tỉnh, thành phố, vừa theo hình thức trực tiếp. Điểm cầu trực tiếp ở Trung ương dự kiến tổ chức tại Nhà Quốc hội. Hội nghị dự kiến được tổ chức ngày 15/7 với hình thức trực tuyến toàn quốc, dự kiến có sự tham dự của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư,…

Trước đó, đánh giá về công tác bầu cử, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 được tổ chức vào ngày 23/5 vừa qua đã thành công rất tốt đẹp. Một số vấn đề cần được rút kinh nghiệm, nhất là có một số vấn đề cần hoàn thiện, như nghiên cứu để tiếp tục sửa đổi, bổ sung pháp luật về bầu cử, nhất là nhiều hình thức rất sáng tạo có thể áp dụng cho kỳ sau, không phải chỉ áp dụng khi có đại dịch. Cuộc bầu cử đã được tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn tuyệt đối, rất thành công và thực sự là ngày hội non sông và ngày hội của toàn dân.

Hội đồng đã nghiêm túc, bài bản, trách nhiệm, linh hoạt, kịp thời, sáng tạo, theo đúng quy định của pháp luật, đã rất tích cực, chủ động của các tiểu ban giúp việc hội đồng, Văn phòng Hội đồng và các cơ quan tham mưu, giúp việc góp phần vào thành công chung của cuộc bầu cử, bảo đảm tiến độ đề ra theo đúng quy định và lịch trình về công tác bầu cử.

Từ nay đến kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV, Hội đồng phải tiếp tục hoàn thiện báo cáo tổng kết cuộc bầu cử, thực hiện một số nhiệm vụ còn lại cho đến khi bàn giao biên bản tổng kết và các hồ sơ, tài liệu về bầu cử cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV theo quy định của pháp luật./.

 

Tự do internet ở Việt Nam: Một thực tế không thể phủ nhận

Thời gian vừa qua, một số cá nhân, tổ chức quốc tế đã phát tán trên nhiều trang mạng các bài viết rêu rao rằng, ở Việt Nam không có tự do thông tin, tự do internet, chính quyền Việt Nam dùng nhiều biện pháp, trong đó có ban hành văn bản pháp luật để kiểm duyệt việc truy cập internet, đàn áp, bắt giữ các blogger… Đó là những luận điệu xuyên tạc “cũ rích” về tình hình tự do thông tin, tự do internet ở Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do thông tin, tự do internet. Đảng ta đã khẳng định, tôn trọng và bảo đảm quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước. Mọi công dân Việt Nam được thực hiện các quyền tự do cá nhân trên cơ sở pháp luật. Bảo đảm quyền và nghĩa vụ cá nhân luôn gắn chặt với bảo đảm quyền, nghĩa vụ của cộng đồng. Cách nay hơn 20 năm, ngày 19-11-1997, Việt Nam chính thức kết nối với internet toàn cầu, đánh dấu cột mốc quan trọng trong lịch sử của ngành thông tin, truyền thông Việt Nam. Những năm qua, nước ta đã tận dụng được tối đa tính năng ưu việt của internet trong xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực xã hội. Nếu những ngày đầu Việt Nam kết nối internet, số người sử dụng chỉ hơn 200.000 người, thì đến năm 2012, con số này đã tăng lên hơn 31 triệu người và đến năm 2017, con số này đã tăng lên hơn 50 triệu người. Điều đó cho thấy được sự phát triển như vũ bão của internet ở Việt Nam. Theo Tổ chức quản lý tên miền và địa chỉ internet quốc tế (ICANN) và công ty DAMMIO - We Are Social (Anh), tính đến năm 2017, Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 17 thế giới về số lượng người dùng Internet, chiếm gần 53% dân số, tăng khoảng 6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, có 46 triệu người Việt Nam dùng mạng xã hội (Facebook, Twitter, Zalo…), hiện được xếp trong nhóm đứng đầu thế giới về số người sử dụng. Theo kết quả nghiên cứu của Báo Nikkei (Nhật Bản) về tốc độ internet của các nước Châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2017, đã khẳng định: “Ấn Độ và Việt Nam vượt xa các nước phát triển”; tốc độ sẽ tiếp tục tăng khi Chính phủ Việt Nam đang tập trung phát triển kinh tế số. Còn theo báo cáo về tốc độ internet trên toàn cầu năm 2017 của Amakai, công ty chuyên cung cấp dịch vụ mạng phân phối nội dung (CDN) và điện toán đám mây của Hoa Kỳ, Việt Nam hiện đang xếp thứ 58/193 nước trên thế giới, tăng tới 89% so với cùng kỳ năm 2016, mức tăng cao nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hiện nay, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao nhất châu Á, đứng thứ 12/20 quốc gia dẫn đầu thế giới về số người dùng internet. Đặc biệt, ngày 14-5-2018 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo các bộ, ngành chức năng khẩn trương triển khai xây dựng Chính phủ điện tử gần và thuận lợi với công dân hơn bằng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại, mọi hoạt động của nhà nước được “điện tử hóa”, “mạng hóa”. Đó là cơ sở quan trọng cải cách, đổi mới hoạt động của bộ máy Chính phủ đặc biệt là cải cách hành chính, góp phần chống tham nhũng, tiêu cực, phiền hà cho nhân dân; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng cho các nhà đầu tư vào Việt Nam; thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của internet ở nước ta trong thời gian tới. Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam Pereric Högberg khẳng định, Việt Nam đang tận dụng tốt cơ hội từ internet, là một trong những nước đi đầu ở Đông Nam Á về kết nối và phát triển internet. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam liên tục đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng Internet lớn nhất thế giới. Điều đó thể hiện nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc tận dụng thế mạnh của internet trong xây dựng và phát triển đất nước. Ông Denis Brunetti, Tổng Giám đốc công ty Ericsson Việt Nam, Myanmar, Lào và Campuchia đã khẳng định, hiện nay việc tiếp cận internet ở Việt Nam rất dễ dàng và giá cả phù hợp, Chính phủ và các doanh nghiệp viễn thông đang có những hướng đi đúng đắn và bền vững. Có thể khẳng định rằng, internet, mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước; đã trở thành công cụ rất quen thuộc và là “một phần tất yếu” của các tầng lớp xã hội. Người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua internet, nhất là qua các trang web, mạng xã hội; nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương sử dụng internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân… Tất cả những điều đó cho thấy bảo đảm tự do internet luôn là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước và được bảo đảm thực hiện trên mọi lĩnh vực xã hội ở nước ta. Thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy, việc thực hiện quyền tự do internet luôn được đặt trong khuôn khổ pháp luật. Điển hình như: Ủy ban châu Âu đã ban hành luật về bảo vệ sự riêng tư toàn cầu nhằm hạn chế hoạt động của internet, mạng xã hội vi phạm quyền riêng tư của công dân của các nước thành viên. Nhằm thực hiện những quy tắc về bảo vệ quyền riêng tư của công dân; tháng 10-2016, 28 cơ quan bảo vệ dữ liệu quốc gia ở châu Âu đã yêu cầu Facebook chấm dứt ngay việc chia sẻ dữ liệu thông tin cá nhân của các công dân ở các quốc gia này trên ứng dụng WhatsApp, buộc Facebook phải dừng ngay dịch vụ này tại châu Âu. Năm 2017, Ủy ban châu Âu (EU) cũng đã yêu cầu Facebook, Google, Twitter phải điều chỉnh ngay các điều khoản sử dụng dịch vụ, truy quét thông tin xấu, gồm cả tin xuyên tạc, sai sự thật, nếu không sẽ phải chịu chế tài xử lý nghiêm khắc. Không chỉ ở châu Âu, nhiều nước châu Phi và Trung Quốc đã nghiêm cấm Facebook triển khai dịch vụ ở các nước này. Riêng ở Trung Quốc, Chính phủ nước này đã chặn toàn bộ các mạng xã hội, trong đó có Facebook, Google nhằm ngăn chặn người dùng truy cập các trang web đồi trụy hoặc có nội dung nhằm mục đích chính trị. Chính phủ Hàn Quốc tuyên bố chặn các trang web có nội dung vi phạm luật an ninh, hoặc có nội dung khiêu dâm. Ở Thái Lan, Chính phủ nước này đã yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ internet phải kiểm duyệt, ngăn chặn các tài khoản, clip có “nội dung không phù hợp” trên các mạng xã hội như Youtube, Facebook, Line và Twitter. Ngay ở Mỹ, quốc gia tự cho mình là “đất nước tự do”, Quốc hội nước này đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm xử lý, ngăn chặn việc lợi dụng internet, mạng xã hội để khủng bố, kích động bạo lực hay là vi phạm sở hữu trí tuệ... Là nước có tốc độ phát triển internet mạnh mẽ, đồng thời, Việt Nam cũng là quốc gia xảy ra các hành vi tội phạm mạng cao trên thế giới. Nguyên nhân cơ bản là do hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ; lực lượng chuyên trách làm công tác bảo vệ an ninh mạng còn thiếu, trình độ chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ bảo vệ an toàn thông tin, an ninh mạng còn lạc hậu, chưa theo kịp với trình độ phát triển của thế giới… Theo đánh giá của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) công bố báo cáo về tình hình an ninh mạng của các nước thành viên năm 2017, khả năng bảo đảm an ninh mạng của Việt Nam đứng vị trí 101/193 nước, thấp hơn cả Lào, Campuchia. Đó chính là lý do giải thích tại sao Việt Nam là một trong những nước bị tội phạm tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới. Lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội, các loại tội phạm đã triệt để thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật, như vi phạm sở hữu trí tuệ, đánh cắp công nghệ, bản quyền, tán phát thông tin bịa đặt nhằm vu khống, bôi nhọ cá nhân; kích động, lôi kéo khủng bố; lấy cắp bí mật nhà nước; chia sẻ cách thức, thủ đoạn phạm tội hoặc làm lây nhiễm virus, phần mềm gián điệp... nhằm phá hoại kinh tế, cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế của nước ta. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, trong năm 2016, các cơ quan chức năng đã phát hiện 135.000 cuộc tấn công vào hệ thống thông tin của Việt Nam. Năm 2017, đã phát hiện và xử lý gần 10.000 cuộc tấn công các website của Việt Nam. Nhằm bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội, internet để vi phạm pháp luật Việt Nam, trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Bộ luật Hình sự năm 2017, Luật Công nghệ thông tin, Luật an toàn thông tin mạng; Chỉ thị số 15-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng, Nghị định 101/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định các biện pháp ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng để khủng bố, Nghị định số 38/2016/TT-BTTTT ngày 26-12-2016 quy định chi tiết về cung cấp thông tin công cộng qua biên giới và mới đây là Nghị định số 27/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, bổ sung điều kiện về quản lý nội dung các trang thông tin điện tử, mạng xã hội. Trong đó, Nghị định số 27/2018/NĐ-CP đã quy định rõ cơ chế phối hợp loại bỏ nội dung vi phạm khoản 1, Điều 5, Nghị định 72/2013/NĐ-CP như: Chống lại nhà nước, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm; tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh; phát tán thông tin giả mạo, sai sự thật… chậm nhất sau 3 giờ kể từ khi tự phát hiện hoặc có yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc cơ quan cấp phép. Việc ban hành các văn bản pháp luật trên đây, trong đó có Nghị định số 27/2018/NĐ-CP là hết sức cần thiết nhằm phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các đối tượng lợi dụng internet vi phạm quyền và lợi ích của nhà nước và công dân. Điều này không chỉ phù hợp với luật pháp quốc tế và pháp luật các quốc gia khác quy định trên lĩnh vực này mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của internet và nền kinh tế số tại Việt Nam; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và của công dân. Ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật, các bộ, ngành chức năng đã tăng cường mở rộng hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế có trình độ phát triển cao về an ninh mạng để học tập, tiếp thu công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; đẩy mạnh đầu tư hạ tầng kỹ thuật, công nghệ…; yêu cầu các tập đoàn truyền thông như: Google, Facebook… gỡ bỏ các clip, tài khoản có nội dung xấu, độc hại, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc và xâm phạm an ninh quốc gia nước ta, cam kết chấp hành pháp luật trong quá trình hoạt động ở Việt Nam. Các bộ, ban, ngành chức năng cũng đã triển khai công tác phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng có hoạt động lợi dụng internet, mạng xã hội vi phạm pháp luật nước ta, như sử dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xâm phạm an ninh chính trị. Không hề có chuyện “đàn áp”,“tra tấn” trái pháp luật bất kỳ blogger nào như các tổ chức quốc tế đã rêu rao, xuyên tạc. Cũng như các quyền tự do cơ bản khác, việc thực hiện quyền tự do thông tin, tự do internet cũng phải được thực hiện trên cơ sở pháp luật, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người khác, của xã hội; sẽ là vi phạm pháp luật nếu lợi dụng tự do internet, mạng xã hội để vi phạm pháp luật Việt Nam; xâm hại quyền và lợi ích chính đáng của người dân và của xã hội. Quan điểm nhất quán của Việt Nam không cấm sự phát triển của mạng internet, mà chỉ nghiêm cấm mặt trái do internet gây ra, trái với bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, cản trở sự phát triển xã hội, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước. Với chính sách nhất quán Việt Nam muốn là bạn của tất cả các quốc gia trên thế giới, nhằm mục tiêu mở rộng quan hệ hợp tác, thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, Nhà nước Việt Nam mong muốn các cá nhân và tổ chức quốc tế vào thăm, tìm hiểu tình hình thực tế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, trong đó quyền tự do thông tin, tự do internet để chấm dứt việc đưa thông tin lệch lạc, sai sự thật về vấn đề này, ảnh hưởng đến uy thế, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế./.

Công nghệ “cắt ghép”…

Vấn nạn cố tình cắt ghép có chủ đích, cắt ghép ác ý các phát biểu của những nhân vật có uy tín trong xã hội đã tồn tại từ rất lâu rồi. Nạn nhân của nó ở tất cả các giới, từ chính trị gia cho tới doanh nhân, từ văn nghệ sỹ nổi tiếng cho tới các học giả, trí thức... Mấy ngày vừa qua, trên mạng xã hội lan truyền một câu nói được cho là của Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân, đại ý rằng "tôi tuy nói giọng Bắc nhưng là người Nam". Kèm theo là những bình luận ác ý, theo hướng kỳ thị vùng miền. Thực chất, trong buổi tiếp xúc đồng bào Thủ Thiêm, quận 2, cùng với các lãnh đạo Thành ủy, Bí thư Nguyễn Thiện Nhân đã nói rất gần gũi, chân thành rằng: "Chúng tôi mỗi người một góc trời, tôi nói tiếng Bắc nhưng sinh ở trong này, đi tập kết ngoài Bắc, đi bộ đội ngoài Bắc nhưng mà dân miền Nam, mấy anh chị này cũng người trong này nên dù ở đâu làm gì, bây giờ về với thành phố, mình chỉ vui khi mà bà con vui, khi bà con khổ, bà con buồn chúng tôi không vui". Tâm sự ấy của Bí thư Nguyễn Thiện Nhân trong bối cảnh cuộc gặp những bà con vốn bức xúc lâu ngày về chuyện đất đai thực tế như một sự chia sẻ với mong muốn gây dựng niềm tin trong đồng bào, cho thấy quyết tâm của Thành ủy TP Hồ Chí Minh trong việc giải quyết dứt điểm khiếu kiện. Trong bối cảnh bà con đang băn khoăn, trăn trở, thậm chí còn nghi ngại, việc tạo một sợi dây đồng cảm, thấu hiểu là vô cùng quý giá và quan trọng. Nhưng khi bị cắt ra khỏi bối cảnh ấy, khỏi văn cảnh của toàn văn bài nói chuyện của Bí thư Nguyễn Thiện Nhân, bị dàn dựng trong những bài viết đậm màu sắc chống phá tiêu cực, nó đã mang một ngữ nghĩa vô cùng khác. Đó là một trong những ví dụ điển hình nhất, mới nhất, nóng hổi nhất về vấn nạn cố tình cắt ghép có chủ đích, cắt ghép ác ý các phát biểu của những nhân vật có uy tín trong xã hội. Vấn nạn này đã tồn tại từ rất lâu rồi. Nạn nhân của nó ở tất cả các giới, từ chính trị gia cho tới doanh nhân, từ văn nghệ sỹ nổi tiếng cho tới các học giả, trí thức. Và tất nhiên, một nạn nhân khác không thể không kể đến chính là cộng đồng, những người đọc vốn dĩ cả tin. Khốn khổ thay, chính những độc giả cả tin đến hồn nhiên kia lại thiếu suy nghĩ khi tiếp tục lan truyền những thông tin độc hại kể trên để thứ dối trá được lặp lại nhiều lần, bỗng dưng được khoác áo "sự thật". Cắt ghép ác ý, có chủ đích thực sự phải bị liệt vào loại tung tin giả, tin vịt, tin thất thiệt gây hỗn loạn xã hội. Cần phải xác định rất rõ rằng, khi một ai đó tung tin thất thiệt được cắt ghép dàn dựng lại có chủ đích, người ấy luôn xác định rất cụ thể đối tượng bị hại mà họ nhắm tới là ai. Cần nhận thức rằng việc cắt ghép ác ý này thậm chí còn nguy hiểm hơn việc tung 1 tin vịt đơn thuần. Dễ hiểu, khi đã có bàn tay dàn dựng với dã tâm, tức là khi đó đã tồn tại một âm mưu thôi thúc. Một ví dụ khác, câu chuyện liên quan đến World Cup. Gõ từ khóa "MC mặc bikini trên sóng truyền hình", chúng ta sẽ thấy một loạt kết quả công kích một kênh truyền hình về việc đưa MC mặc bikini lên sóng. Nhưng thực chất, đó là một show dự đoán kết quả bóng đá mang tính giải trí mà "nhà tiên tri" là những chú cá heo hoặc hải cẩu. Nữ MC, khi tương tác với "nhân vật chính", buộc phải xuống hồ bơi. Không lẽ MC mặc áo dài truyền thống và xuống bơi với hải cẩu, cá heo sao? Không thể trách cứ hình ảnh ấy nếu xem trọn vẹn cả show. Nhưng ta sẽ thấy nó phản cảm nếu chỉ nhìn ảnh cắt lại được đưa lên mạng. Tách rời câu nói, hình ảnh khỏi văn cảnh toàn diện của nó, người làm việc ấy đủ có một phương tiện để chuyển tải thông điệp khác. Thực tế, chương trình này nếu đáng trách thì chỉ nên trách người sáng tạo nội dung. Tại sao lại phải là cá heo và hải cẩu trong khi có thể chọn phương án là voi, chó hay mèo? Tất nhiên, lựa chọn một "diễn viên" nào đó, người làm chương trình đã có sẵn dụng ý. Nhưng việc cắt lại hình ảnh để công kích thì lại là việc làm không thể chấp nhận được. Lựa chọn sai có thể bị chỉ trích, nhưng là theo cách khác chứ không thể bị dàn dựng để làm to chuyện lên thành kênh truyền hình vi phạm thuần phong mỹ tục hay xúc phạm khán giả. Thời đại thông tin mạng xã hội bùng nổ như hiện nay, thận trọng tiếp nhận, kiểm chứng thông tin là việc rất cần mỗi cá nhân phải tự có ý thức. Mỗi người đều cần xây dựng cơ chế kiểm duyệt tự thân cho riêng mình. Bởi đơn giản, trong cơn hỗn loạn thông tin chưa thể kiểm soát nổi kia, mỗi một mắt xích thiếu tỉnh táo hoàn toàn có thể trở thành một công cụ truyền tin độc hại một cách đắc lực.

Tư duy mới về An ninh quốc gia trong tình hình mới

Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần phải có quan niệm mới, tư duy mới về an ninh quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII. Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc góp phần tạo vị thế, vai trò của Việt Nam đối với an ninh, hòa bình, ổn định của thế giới_Ảnh: TTXVN Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, khi đề cập tới các nhiệm vụ tăng cường quốc phòng an ninh đã nhấn mạnh: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(1) Nghị quyết Đại hội XIII cũng nêu rõ “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”(2); “sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống”(3). Trong 6 nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII có nhiệm vụ “thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”(4). Bảo vệ an ninh quốc gia có vai trò đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Luật An ninh quốc gia định nghĩa: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...(5). Chiến lược An ninh quốc gia đầu tiên của Việt Nam được xây dựng và ban hành năm 1998. Ngày 5/9/2019 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ An ninh quốc gia. Trước đó, Bộ Chính trị cũng đã ban hành một số nghị quyết, kết luận như: Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng; Kết luận số 31-KL/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược quân sự Việt Nam; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia... Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến Chiến lược An ninh quốc gia cũng như Luật An ninh quốc gia còn chủ yếu nhấn mạnh vào an ninh chính trị, an ninh quân sự; chưa tương đồng với quan niệm và tư duy An ninh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và của quốc tế hiện nay; chưa đề cập sâu tới các yếu tố đặc biệt quan trọng là an ninh phi truyền thống nói chung, an ninh xã hội và an ninh con người nói riêng. Thực tế cho thấy, Bộ Công an hiện nay chỉ đảm nhận các công tác Công an chủ yếu trong nội địa. Công tác chủ trì bảo vệ an ninh, trật tự tại địa bàn biên giới, trên biển do Bộ Quốc phòng đảm nhận. Nhiều chức năng Công an như điều tra hình sự, an ninh hàng không, cơ yếu, phòng chống buôn lậu, bảo vệ rừng... do các bộ, ngành khác đảm nhận. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia chưa tập trung, thống nhất. Công tác an ninh đối ngoại còn nhiều “chồng chéo”. Bố trí lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia chưa hợp lý, chủ yếu ở cấp Bộ Công an và cấp tỉnh, cấp huyện và cấp phường còn mỏng. Việt Nam là một trong số rất ít các nước lớn trên thế giới chậm bố trí Công an chính quy ở nông thôn. Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần phải có quan niệm mới, tư duy mới về an ninh quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII với các giải pháp sau: Thứ nhất, hình thành tư duy và quan niệm mới về An ninh quốc gia và triển khai tư duy này trong thực tiễn. Đảng, Nhà nước cần bổ sung, sửa đổi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Về lâu dài cần thống nhất các Chiến lược an ninh, quốc phòng Việt Nam thành một Chiến lược An ninh quốc gia mới của Việt Nam đến 2030 và tầm nhìn đến 2045. An ninh quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới là an ninh toàn diện, bao gồm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. An ninh truyền thống được hiểu là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam có liên quan đến các yếu tố quân sự đe dọa quốc gia, dân tộc. An ninh truyền thống có cốt lõi là an ninh chính trị, an ninh quân sự, lấy Nhà nước làm trung tâm của an ninh. An ninh phi truyền thống - đã được nêu ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, XII và XIII - là một loại hình an ninh mới do những yếu tố phi chính trị và phi quân sự gây ra, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển và an ninh của Việt Nam, cả khu vực và cả toàn cầu. An ninh phi truyền thống có các đặc điểm chủ yếu: 1) Các vấn đề an ninh phi truyền thống diễn ra ảnh hưởng trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu, mang tính xuyên quốc gia. Nó có thể phát sinh từ một quốc gia này nhưng có khả năng lan tỏa với tốc độ nhanh, phạm vi rộng đến quốc gia khác (biến đổi khí hậu, tội phạm mạng, dịch bệnh,...). 2) Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống thường do các tác nhân tự nhiên hoặc do các tổ chức ngoài nhà nước, nhóm người hoặc cá nhân tiến hành, uy hiếp trực tiếp đến cá nhân con người hoặc cộng đồng, quốc gia - dân tộc; bao gồm cả những vấn đề mang tính phi bạo lực (kinh tế, văn hóa, môi trường, an ninh mạng, dịch bệnh...) và những vấn đề mang tính bạo lực, nhưng đó là bạo lực phi quân đội (khủng bố, tội phạm có tổ chức...). 3) Giải quyết an ninh phi truyền thống nhấn mạnh đến hợp tác ứng phó, sử dụng biện pháp ngoại giao, kể cả ngoại giao giữa quân đội, công an các nước. 4) Về mặt thời gian, mặc dù an ninh phi truyền thống xuất hiện từ rất sớm nhưng về mặt khoa học vấn đề an ninh phi truyền thống được quan tâm, chú trọng “muộn hơn” an ninh truyền thống. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử (dịch bệnh, khan hiếm lương thực, khủng bố, ô nhiễm môi trường, thảm họa cháy nổ,...) nhưng do diễn ra ở phạm vi nhỏ hẹp, quy mô chưa lớn, truyền thông chưa phát triển hoặc vấn đề quyền con người chưa được quan tâm, nên ít hoặc không được quan tâm. 5) Các nguy cơ, thách thức, mối đe dọa an ninh phi truyền thống hủy hoại an ninh quốc gia dần dần và lâu dài, vì nó tác động đến các yếu tố mang tính hạt nhân hoặc bệ đỡ cho ổn định và phát triển (cá nhân con người, cộng đồng xã hội, hệ thống thể chế, hạ tầng kỹ thuật chiến lược và môi trường sống). Dưới góc độ khoa học Xã hội học thì cốt lõi của An ninh phi truyền thống gồm 2 nhóm: An ninh xã hội và An ninh con người; lấy xã hội, doanh nghiệp, con người làm trung tâm của an ninh. Dưới góc độ khoa học Tội phạm học, An ninh phi truyền thống gồm nhóm an ninh phi truyền thống có yếu tố bạo lực cao (tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, các mối đe dọa dẫn tới tình trạng khẩn cấp và nhóm an ninh phi truyền thống có yếu tố bạo lực thấp (an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh môi trường, an ninh y tế, an ninh du lịch, an ninh giao thông...). Ngày nay, do tác động của toàn cầu hóa, mặt trái của sử dụng thành tựu cách mạng khoa học - công nghệ... những vấn đề an ninh phi truyền thống(điển hình là dịch bệnh COVID-19) là một nguy cơ, thách thức, mối đe dọa điển hình, lan tỏa nhanh, rộng, ảnh hưởng lớn, trở thành mối quan tâm của toàn nhân loại. An ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện; cùng tác động đến xây dựng chiến lược an ninh quốc gia. Theo đó, tư duy mới về An ninh quốc gia là tổng hòa của an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Mục tiêu của an ninh truyền thống là ổn định và phát triển bền vững của Nhà nước, chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Còn mục tiêu của an ninh phi truyền thống là ổn định và phát triển bền vững xã hội (cộng đồng), doanh nghiệp, con người. Nếu như chủ thể đảm bảo an ninh truyền thống chủ yếu là Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thì chủ thể bảo đảm an ninh phi truyền thống là các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Công cụ đảm bảo an ninh phi truyền thống chủ yếu dựa vào sức mạnh Quân đội, Công an, lực lượng bán vũ trang và nhân dân. Còn công cụ đảm bảo an ninh phi truyền thống chủ yếu dựa vào nguồn lực Nhà nước, doanh nghiệp. con người, quốc tế. An ninh quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bao gồm 3 bộ phận cấu thành chủ yếu: an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh con người. Theo nghĩa rộng, an ninh xã hội được hiểu là sự ổn định, sự bình yên, của một chế độ, một quốc gia, là trạng thái trật tự, kỷ cương, thịnh vượng, phát triển của mỗi công dân và cộng đồng xã hội trong lãnh thổ quốc gia dân tộc. Khái niệm rộng về an ninh xã hội còn được sử dụng trong khi so sánh, đánh giá mối quan hệ của vấn đề an ninh trong một đất nước với an ninh trong khu vực và toàn cầu. Theo nghĩa hẹp, việc đảm bảo an ninh xã hội có các nội dung: đồng thuận xã hội, ít xung đột xã hội; an ninh, an toàn xã hội (ít tội phạm, ít tệ nạn xã hội, trật tự an toàn giao thông đảm bảo); an ninh môi trường sống (an ninh môi trường, an toàn thực phẩm); an sinh xã hội (giảm nghèo đói, có việc làm, chăm sóc sức khỏe tốt). An ninh xã hội là mục tiêu quan trọng trong định hướng phát triển của mỗi Nhà nước. An ninh xã hội là bộ mặt của mỗi quốc gia, là biểu hiện bên ngoài phản ánh sự vững mạnh về chế độ chính trị, về tiềm lực kinh tế, cũng như trình độ dân trí và mức độ văn minh của quốc gia. An ninh xã hội mang tính lịch sử, có xu hướng vận động theo những tiêu chí văn minh, tiến bộ của nhân loại Điểm trung tâm của an ninh xã hội là an ninh con người. Khái niệm “an ninh con người” lầu đầu tiên được nêu lên trong Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 1994. “Báo cáo phát triển con người” năm 1994 của Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về an ninh con người là “sự an toàn của con người trước những mối đe doạ kinh niên như nghèo đói, bệnh tật và đàn áp, và những sự cố bất ngờ, bất lợi trong đời sống hàng ngày”. Ngày nay, những mối đe doạ đối với con người (thất nghiệp, ma tuý, tội phạm, ô nhiễm môi trường, vi phạm nhân quyền, xung đột vũ trang, khủng bố, tai nạn giao thông,...) không còn mang tính chất riêng lẻ đối với một quốc gia, một dân tộc nhất định mà đã trở thành vấn đề phổ biến đòi hỏi phải có sự phối hợp giải quyết của nhiều quốc gia, thậm chí là tất cả các quốc gia. An ninh xã hội, an ninh con người vì vậy đã trở thành tâm điểm của sự hợp tác quốc tế, trong đó, yếu tố con người được coi là nền tảng, là mục đích hướng tới để bảo vệ, là cấu thành quan trọng của an ninh quốc gia. An ninh xã hội, an ninh con người cũng bao hàm mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển bền vững và vấn đề bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Có thể nói chính sự ra đời của khái niệm an ninh con người đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nhận thức của nhiều quốc gia về khái niệm an ninh và an ninh quốc gia. Nếu như theo cách hiểu truyền thống, an ninh đồng nghĩa với an ninh quốc gia, trong đó quốc gia là chủ thể cần được bảo vệ về mặt an ninh, thì theo cách hiểu mới, con người và xã hội nổi lên trở thành chủ thể chính của an ninh quốc gia và cần được ưu tiên bảo vệ. Bên cạnh đó, nếu như an ninh truyền thống (hay an ninh quốc gia truyền thống) đề cao mối đe dọa đến từ ngoại xâm đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia thì an ninh con người, an ninh xã hội (hay thường được gọi là an ninh phi truyền thống) tập trung vào các mối đe dọa thuộc “chính trị cấp thấp”, như nghèo đói, kém phát triển, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch, tội phạm, khủng bố...(6). Hiện nay, những vấn đề an ninh xã hội, an ninh con người đã vượt qua khỏi phạm vi lợi ích an ninh quốc gia của một nước, trở thành những thách thức mang tính toàn cầu, bởi hoạt động của tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế nhất là khủng bố bằng vũ khí sinh, hóa học, bệnh dịch, thảm họa thiên nhiên là "không biên giới". Chính vì vậy, việc giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học - kỹ thuật và các mặt khác. An ninh quốc gia Việt Nam là tổng hòa của an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh con người. Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Luật An ninh quốc gia. Xây dựng quan niệm mới về an ninh quốc gia. Bổ sung Điều 3 khoản 1 Luật An ninh quốc gia: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự bình yên của xã hội, sự an toàn của con người trong xã hội. Bổ sung Điều 3 khoản 2 Luật An ninh quốc gia: Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo đảm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Bổ sung Điều 5 Luật An ninh quốc gia (Nguyên tắc bảo vệ An ninh quốc gia): Thiết lập thế trận bảo vệ an ninh quốc gia thống nhất, xuyên suốt từ bên ngoài biên giới quốc gia, tại biên giới quốc gia và bên trong nội địa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng”(7); “chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”(8) . Bổ sung Điều 14 Luật An ninh quốc gia (Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia): Bảo vệ an ninh xã hội, an ninh con người. Thứ ba, Tiếp tục đổi mới tổ chức lực lượng Công an nhân dân trong tình hình mới. Quán triệt nguyên tắc: Quản lý Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội là lĩnh vực quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực nhưng do Bộ Công an đảm nhiệm là chính. Tiếp tục thực hiện có chất lượng, hiệu quả Nghị quyết 22-NQ-TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bố trí lực lượng Công an nhân dân theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”. Về lâu dài, chuyển các chức năng Công an do các Bộ, ngành khác đang đảm nhiệm về Bộ Công an để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII “thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng”(9). Tăng cường năng lực Bộ Công an theo tinh thần “...phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, hiện đại”(10). Trước những nguy cơ, thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong tình hình mới, đòi hỏi phải có quan điểm và cách tiếp cận mới; hợp tác đa phương và sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế; những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa hợp tác quốc phòng - an ninh với kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học - kỹ thuật. Hợp tác quốc tế phải được xác định là một trong những lĩnh vực ưu tiên giữa các nước trong khu vực và trên thế giới./.

Đề xuất đưa việc chia sẻ vaccine vào chương trình nghị sự AIPA-42

Việt Nam đề xuất đưa việc chia sẻ và tiếp cận công bằng nguồn vaccine phòng COVID-19 vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng AIPA lần thứ 42 (AIPA-42) dự kiến diễn ra vào tháng 8/2021 tại Brunei. Việt Nam đề xuất đưa việc chia sẻ và tiếp cận công bằng nguồn vaccine phòng COVID-19 vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng AIPA lần thứ 42 (AIPA-42) dự kiến diễn ra vào tháng 8/2021 tại Brunei Darussalam. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đưa ra đề xuất này tại buổi hội đàm trực tuyến với Ngài Abdul Rahman Taib, Chủ tịch Hội đồng Lập pháp Brunei Darussalam, Chủ tịch Hội đồng Liên nghị viện các quốc gia Đông Nam Á 2021 (Chủ tịch AIPA 2021), diễn ra sáng 9/6. Buổi hội đàm nhằm thảo luận các biện pháp tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan lập pháp hai nước và thúc đẩy hợp tác trong AIPA, góp phần tích cực cho quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước và sự phát triển của ASEAN, AIPA. Hai nhà lãnh đạo thống nhất đánh giá quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Brunei Darussalam đang phát triển tích cực. Hai nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ hơn nữa, tích cực chuẩn bị tốt các hoạt động hướng tới kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (29/9/1992- 29/9/2022). Về trọng tâm hợp tác song phương trong thời gian tới, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị hai nước triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương, trước mắt là tổ chức tốt Kỳ họp lần thứ 2 Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật cấp Bộ trưởng ngoại giao để trao đổi về phương hướng thúc đẩy hợp tác thực chất trong thời gian tới. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị khai thác hiệu quả hơn nữa tiềm năng hợp tác to lớn giữa hai nước, nhất là trên các lĩnh vực hai bên có tiềm năng và nhu cầu như nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, khai thác dầu khí…, phấn đấu đưa kim ngạch thương mại song phương sớm đạt 500 triệu USD; mong muốn Brunei hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đạt chứng chỉ thực phẩm Halal (phục vụ người theo đạo Hồi) xuất khẩu sang thị trường Brunei. Hai bên chuẩn bị tốt các hoạt động hướng tới kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước trong năm 2022. Chúc mừng Hội đồng Lập pháp Brunei đảm nhiệm vai trò Chủ tịch AIPA 2021, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định Quốc hội Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Lập pháp Brunei, góp phần thiết thực vào sự phát triển một Cộng đồng ASEAN hòa hợp, tự cường, đặt người dân vào vị trí trung tâm, thích ứng và chủ động, phát triển thịnh vượng, bền vững như chủ đề Năm Chủ tịch ASEAN 2021 do Brunei đã đề xuất "Cùng quan tâm, cùng chuẩn bị, cùng thịnh vượng." Chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh nghị viện các nước cần tiếp tục đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào hoạt động của AIPA, có những sáng kiến hợp tác nghị viện thiết thực để ủng hộ ASEAN trên mọi lĩnh vực. Về chính trị an ninh, bảo đảm hòa bình, ổn định, đề cao các nguyên tắc, giá trị và chuẩn mực chung, củng cố đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN, thượng tôn pháp luật, Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc 1982 (UNCLOS), hướng tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông - COC thực chất, hiệu quả, thúc đẩy hợp tác xây dựng lòng tin, thực hiện ngoại giao phòng ngừa; nâng cao năng lực ứng phó các tình huống khẩn cấp, thảm họa thiên tai, dịch bệnh và các nguy cơ an ninh phi truyền thống. Về kinh tế, chú trọng xây dựng nền kinh tế ASEAN tăng trưởng bền vững, sớm thực hiện chiến lược số hóa, xây dựng hệ thống thương mại đa phương rộng mở trên cơ sở luật lệ và bình đẳng cho tất cả các quốc gia. Về văn hóa xã hội, cần đặt người dân ở vị trí trung tâm trong hoạch định chính sách và phát huy bản sắc của ASEAN. Về đối ngoại, tiếp tục phát huy vai trò trung tâm của ASEAN, củng cố cấu trúc khu vực dựa trên luật lệ, đề cao luật pháp quốc tế, trong đó nhấn mạnh hợp tác đa phương. Bày tỏ nhất trí với các đánh giá và đề xuất của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Chủ tịch Hội đồng Lập pháp Abdul Rahman Taib cho biết đây là những nội dung hết sức quan trọng để tăng cường hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới. Việt Nam là một trong các quốc gia mà Brunei luôn hướng tới để nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp thiết yếu phục vụ cho nhu cầu của người dân, nhất là mặt hàng gạo, rau quả… Chủ tịch Hội đồng Lập pháp Brunei chúc mừng Quốc hội Việt Nam đã tổ chức thành công Năm Chủ tịch AIPA 2020 và Đại hội đồng AIPA-41; đánh giá cao việc Quốc hội Việt Nam đã thúc đẩy được rất nhiều vấn đề quan trọng của khu vực trên cương vị Chủ tịch AIPA 41 và hy vọng Hội đồng Lập pháp Brunei cũng sẽ tiếp nối được các vấn đề này trên cương vị Chủ tịch AIPA 2021. Trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2021 và Chủ tịch AIPA 2021, Brunei đặt trọng tâm vào tăng cường quan hệ hợp tác nội khối, trong đó có sự hợp tác giữa Quốc hội các nước và sự bao trùm về số trong Cộng đồng ASEAN. Nhấn mạnh đây là chủ đề có tính thời sự, Chủ tịch Abdul Rahman Taib mong muốn hai nước có thể hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ ASEAN, AIPA để cùng hướng tới tương lai. Tại hội đàm, Chủ tịch Quốc hội nêu vấn đề hiện nay tình hình dịch bệnh trên thế giới đang diễn ra khác biệt so với năm 2020. Trong năm 2020, các nước trong khu vực châu Á nói chung và ASEAN đã kiểm soát thành công dịch COVID-19 trong khi tại Hoa Kỳ, các nước châu Âu, dịch bệnh diễn ra rất phức tạp. Tuy nhiên, do đi đầu trong sản xuất và tiêm chủng vaccine phòng COVID-19, nhiều nước trong khu vực châu Âu và Hoa Kỳ nói chung sắp đạt miễn dịch cộng đồng, sẵn sàng mở cửa đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, tại châu Á nói chung, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á (ngoại trừ những nước như Brunei), tình hình dịch bệnh hiện nay ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đang có diễn biến hết sức phức tạp, nguy cơ lỗi nhịp với thế giới trong mở cửa và khôi phục lại nền kinh tế vì không có đủ nguồn cung vaccine và có được công nghệ sản xuất vaccine. "Do đó, việc chia sẻ và tiếp cận công bằng nguồn vaccine trên phạm vi toàn cầu có ý nghĩa hết sức quan trọng, đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan hành pháp và sự hỗ trợ của các cơ quan lập pháp trong bố trí nguồn lực, tạo điều kiện về khuôn khổ pháp lý để thực hiện được Chiến lược vaccine cho từng nước, cũng như thúc đẩy quan hệ nội khối ASEAN, quan hệ giữa ASEAN với khu vực và thế giới. Ngoài ra, việc ứng dụng số hóa, công nghệ thông tin trong phòng, chống dịch hết sức quan trọng. Đây cũng là nội dung cần trao đổi, thúc đẩy," Chủ tịch Quốc hội đặt ra đề nghị này cho phiên họp Đại hội đồng AIPA lần thứ 42 dự kiến tổ chức vào tháng Tám tới với Ngài Abdul Rahman Taib, Chủ tịch AIPA 2021. Chủ tịch Quốc hội cũng chia sẻ hiện nay Việt Nam đang có những bước tiến triển quan trọng trong việc nghiên cứu, phát triển vaccine phòng COVID-19 NanoCovax, nhưng việc đạt được miễn dịch cộng đồng cho 100 triệu người dân cũng hết sức khó khăn. Chủ tịch Abdul Rahman Taib khẳng định Brunei ủng hộ việc phân phối vaccine công bằng, bình đẳng giữa các quốc gia. Đánh giá cao việc Việt Nam có năng lực sản xuất được vaccine phòng COVID-19, Chủ tịch Hội đồng Lập pháp Brunei nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các nước nhằm bảo đảm nguồn cung vaccine công bằng cho mọi quốc gia, mọi người dân. Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao nghĩa cử và trân trọng cảm ơn Brunei hỗ trợ công dân Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc tại Brunei được tiếp cận vaccine phòng COVID-19 như người dân sở tại./.