Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

Không thể xuyên tạc, bóp méo hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam

Pháp luật Việt Nam ngày nay không chỉ kế thừa truyền thống pháp lý, phong tục tập quán nhân đạo, khoan dung của dân tộc, mà còn tham khảo học hỏi, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia, đặc biệt là nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết. Thế nhưng, vì những lý do nào đó vẫn còn một số kẻ vốn kỳ thị với chế độ XHCN, với Đảng và Nhà nước ta đã viện dẫn một công ước quốc tế về quyền con người và số điểm khác biệt nào đó giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia khác rồi nói rằng: “Pháp luật Việt Nam lạc hậu”, nhiều điều luật của Việt Nam (trong Bộ luật Hình sự, năm 1999) “mơ hồ”. Có kẻ còn nói: "Pháp luật Việt Nam vi phạm chuẩn mực pháp luật quốc tế về quyền con người”… Vậy phải chăng pháp luật Việt Nam "lạc hậu" so với các nước, pháp luật Việt Nam “mơ hồ” và trái với chuẩn mực pháp luật quốc tế về quyền con người? Trước hết, không phủ nhận rằng cho đến nay, nhiều vấn đề xã hội phức tạp, tế nhị như: “Quyền kết hôn giữa những người đồng giới”; “Mại dâm có phải là một nghề không?”; “Quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet có nên giới hạn không?”; Vì sao “Việt Nam không xóa bỏ án tử hình như quy định pháp luật của châu Âu”?… đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu khảo sát, cân nhắc. Quốc hội cũng chưa có tiếng nói cuối cùng. Tuy nhiên, có những vấn đề không thể thay đổi bởi vì điều đó liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Nhất là những tội phạm về “An ninh quốc gia” (Bộ luật Hình sự, năm 1999). Cho đến nay (năm 2017) đã có 25 quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính (trong đó có Hà Lan, Bỉ, Canada, Tây Ban Nha, Na Uy, Nam Phi…), trong khi vẫn có 72 quốc gia (trong đó có Singapore, Malaysia, Myanmar, Brunei và Indonesia…) nghiêm cấm-hình sự hóa về quyền này.Thực tế cho thấy sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia là điều tất nhiên, là điều bình thường. Không phải chỉ có pháp luật Việt Nam mới có sự khác biệt với pháp luật nước khác, mà pháp luật các nước khác cũng không giống nhau. Chẳng hạn như pháp luật giữa các nước về quyền kết hôn của người đồng giới. Về mại dâm, pháp luật của nhiều quốc gia đã quy định rất tỷ mỉ và khác nhau. Chẳng hạn, Australia, một số bang đã hợp pháp hóa mại dâm nhưng vấn đề này vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Ở Áo và Thụy Sĩ, tuy mại dâm được xem là hợp pháp nhưng có nhiều quy định chặt chẽ, như gái mại dâm phải qua 3 vòng kiểm tra sức khỏe, tuổi từ 19 trở lên …; Bỉ xem mại dâm là một nghề như giải trí; Canada xem mại dâm là ngành giải trí nhưng việc mua dâm đã bị coi là bất hợp pháp; Đan Mạch, không chỉ hợp pháp hóa mại dâm mà còn quy định các mức giá khác biệt (có lợi) dành cho những cô gái khuyết tật hay có hoàn cảnh khó khăn. Thứ hai, pháp luật Việt Nam, hoàn toàn không phải sự “lạc hậu” như có kẻ nói. Thước đo sự lạc hậu hay tiên tiến không phải ở nội dung cụ thể những quy định trong một bộ luật nào đó, mà là nhà nước đó đã gia nhập, ký kết và nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người như thế nào. Cho đến nay, Việt Nam đã gia nhập đầy đủ và nội luật hóa các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc gia. Đó là, “Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc”; “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”; “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội” và “Công ước quốc tề về các quyền dân sự chính trị”; “Công ước về quyền trẻ em; “Công ước về chống tra tấn” và “Công ước về quyền của người khuyết tật”. Nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng, Việt Nam đã ký kết gia nhập nhiều công ước mà những quốc gia phát triển chưa ký kết, phê chuẩn. Chẳng hạn như Trung Quốc chưa tham gia “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị”; Hoa Kỳ (đã ký kết) “Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội”, nhưng nghị viện chưa phê chuẩn. Liên quan đến quyền con người là các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế, cho đến nay Việt Nam đã tham gia nhiều công ước của tổ chức này, như Công ước số 5 về tuổi tối thiểu của trẻ em được tham gia lao động công nghiệp; Công ước số 6 về làm việc ban đêm của trẻ em trong công nghiệp; Công ước số 14 về quy định nghỉ hằng tuần cho lao động công nghiệp… Việt Nam không chỉ chủ động tham gia ký kết các công ước, mà còn là một thành viên tích cực của Liên hợp quốc trên lĩnh vực quyền con người. Còn nhớ ngày 12-11-2013, trong phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc (Khóa 68) bỏ phiếu bầu 14 nước thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất. Hiện nay, đại diện của Việt Nam-Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao- trúng cử thành viên Ủy ban Luật pháp quốc tế (nhiệm kỳ 2017-2021). Thứ ba, quan điểm cho rằng, Việt Nam “vi phạm chuẩn mực nhân quyền”, đó chỉ là một sự xuyên tạc thực tế. Nói cho đúng, đó chỉ là một thủ đoạn chính trị xấu xa mà thôi. Theo Hiến chương Liên hợp quốc, năm 1945; Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, năm 1948 và các công ước quốc tế về quyền con người-tất cả các quốc gia, dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết. Điều 1 (Phần I) Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, năm 1966 quy định như sau: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa; 2. Vì lợi ích của mình, mọi dân tộc đều có thể tự do định đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình, miễn là không làm phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ hợp tác kinh tế quốc tế mà dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế…; 3. Các quốc gia thành viên công ước này… phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc”. Với quy định của Điều I nói trên, Việt Nam cũng như các quốc gia, dân tộc khác hoàn toàn có quyền quyết định về xây dựng chế độ chính trị của mình. Việt Nam xây dựng chế độ xã hội XHCN, với một đảng duy nhất cầm quyền; nhiều quốc gia Tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hoàn toàn có quyền của các dân tộc. Tương tự như vậy, các quốc gia cũng hoàn toàn có quyền xây dựng hệ thống pháp luật theo chế độ xã hội mà quốc gia đó đã đi theo. Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã dành cả một chương-Chương II, quy định một cách đầy đủ và tương thích với hai công ước quốc tế cơ bản về quyền con người. Những nguyên tắc chủ yếu về quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 bao gồm: 1) Xác định rõ mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân; 2) Nguyên tắc hạn chế quyền và 3) Nguyên tắc “suy luận vô tội”. Điều 14, Hiến pháp năm 2013, ghi: “1. Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Như vậy, thay vì qua hệ “xin-cho” (trong nhận thức cũ, mà báo chí từng phê phán) trong đó Nhà nước là người “cho”, còn người dân là người “xin” thì nay dường như quan hệ đó đã được đảo ngược, theo công thức “quyền-nghĩa vụ”. Điều 31, Chương II quy định: “1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Hơn nữa Khoản 5 cũng tại Điều 31, quy định rõ về quyền được bồi thường của người dân và trách nhiệm phải xử lý người vi phạm pháp luật. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận Thông tin năm 2013, Nghị định của Chính phủ năm 2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng đều có đầy đủ các quy định bảo vệ, bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet, đồng thời cũng có những quy định về hạn chế quyền cá nhân theo công ước quốc tế nhằm bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ sức khỏe, đạo đức xã hội và các quyền, lợi ích của người khác. Luật Báo chí năm 2016 quy định, công dân có những quyền: “Quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”… “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”. Có thể nói quy định trên là hết sức cởi mở, thể hiện Đảng, Nhà nước ta tôn trọng quyền con người của công dân. Về quyền tự do sử dụng internet, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP (ngày 15-7-2013 về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”) có các quy định: Mọi người “Được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật”; “Được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm”; “Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin"… Đặc biệt phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội…”. Như vậy có thể nói, hệ thống pháp luật Việt Nam cho đến nay, cơ bản đã đầy đủ và tương thích với Hiến chương Liên hợp quốc và các công ước quốc tế về quyền con người. Những quy định cụ thể nào đó về hạn chế quyền của cá nhân cũng theo thông lệ quốc tế và đều nhằm bảo vệ chế độ chính trị, trật tự xã hội, các quyền và lợi ích của người khác. Những kẻ nói rằng pháp luật Việt Nam "lạc hậu”, “mơ hồ”, “vi phạm chuẩn mực pháp luật quốc tế về quyền con người”... không phải họ thiếu hiểu biết về pháp luật ở Việt Nam. Nghe qua giọng điệu ấy đã hiểu mưu đồ của họ vẫn là xuyên tạc, bóp méo quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để làm giảm sút lòng tin vào Đảng, Nhà nước, kích động người dân bất mãn với chế độ xã hội.

Lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để bịa đặt, vu cáo

Được tận mắt chứng kiến hằng ngày hàng triệu người dân vẫn đến các cơ sở tôn giáo để thực hành đức tin, tôi càng nhận ra rõ hơn về thói "đạo đức giả" của những người đang nấp dưới chiêu bài tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vu cáo Nhà nước Việt Nam. Sau chuyến về thăm quê hương vừa qua, tận mắt chứng kiến sự phát triển của đất nước, được tiếp xúc với sự phong phú, đa dạng trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, từ CHLB Ðức, tác giả Hồ Ngọc Thắng có bài viết gửi Báo Nhân Dân. Bài viết thông qua sự cảm nhận và tìm hiểu của chính tác giả đã phê phán luận điệu của các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đã lợi dụng vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhằm bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Những năm qua, mỗi lần về thăm quê hương tôi đều cố gắng dành thời gian đến thăm nhiều vùng miền từ thành thị đến nông thôn, kể cả vùng hẻo lánh, xa xôi. Ði như vậy, tôi biết thêm nhiều điều về quê hương mình, tận mắt chứng kiến mọi người dân được hưởng quyền tự do, dân chủ như Hiến pháp quy định, nhất là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Qua chuyện trò, tâm sự của người thân, của bà con họ hàng, bạn bè và những người tôi đã gặp trên đường hoặc khi dừng nghỉ ở đâu đó, tôi hiểu ở Việt Nam, mọi người đều được tạo điều kiện thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không ai bị cản trở hay gặp khó khăn. Là người làm nghề luật, tôi quan niệm để có đánh giá khách quan về thực trạng tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở một quốc gia phải nhìn nhận cả hai mặt: cơ sở pháp lý, thực tế đời sống tôn giáo của người dân. Về cơ sở pháp lý, ở Việt Nam, Ðiều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Quy định này được thể chế hóa qua sự kiện ngày 18-11-2016, kỳ họp thứ hai Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước tiến lớn trong chính sách tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Và để luật đi vào cuộc sống, giúp người dân, hiểu rõ hơn về quyền, nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 30-12-2017, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 162/2017/NÐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Cũng như những lần về nước trước đây, không chỉ nắm bắt qua tin tức trên báo chí, vì muốn trực tiếp tìm hiểu đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của bà con quê nhà, tháng 5-2018, tôi đến thăm Vương cung Thánh đường La Vang, nơi được coi là Thánh địa và là một trong ba trung tâm hành hương quan trọng của người Công giáo ở Việt Nam. Vương cung Thánh đường La Vang tọa lạc tại Hải Lăng - Quảng Trị, năm 1972 từng bị bom Mỹ phá hủy hoàn toàn, hiện còn một phần là di tích tháp chuông. Tôi thật sự ấn tượng với Thánh đường có sức chứa 5.000 người đang trong quá trình xây dựng, được thiết kế theo phong cách kiến trúc Việt Nam truyền thống. Nắng nóng oi bức, song từng đoàn xe vẫn nối đuôi đưa những đoàn người Công giáo cũng như du khách từ mọi miền đất nước hành hương, thăm viếng nơi này. Tìm hiểu trên internet (in-tơ-nét) và tiếp xúc với người Công giáo ở địa phương, tôi được biết tại đây: năm 1995 tháp chuông, Nhà nguyện Ðức Mẹ đã được tu sửa; năm 2002 khánh thành Nhà nguyện Thánh thể; năm 2004 khánh thành Công trường Mân Côi, Lễ đài, Nhà hành hương. Năm 1998, tượng Ðức Mẹ La Vang mới đã thay thế cho pho tượng cũ. Pho tượng mới được Giáo hoàng Gioan Phaolô II làm phép ngày 1-7-1998 tại Roma, chuyển về Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ La Vang. Năm 2008, chính quyền tỉnh Quảng Trị đã cấp lại cho Thánh địa 21 ha đất nhằm "phục vụ hoạt động tín ngưỡng của giáo dân" và Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định xây lại nhà thờ La Vang cho tương xứng một trung tâm hành hương. Ngày 6-1-2011, nghi thức đặt viên đá đầu do Hồng y Ivan Dias (I-van Ði-át) - Ðặc sứ của Giáo hoàng Benedicto XVI, và các Giám mục Việt Nam được tiến hành nhân dịp bế mạc Năm Thánh nhân 50 năm hàng giáo phẩm Việt Nam (1960 - 2010). Ngày 15-8-2012 đã diễn ra lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Vương cung Thánh đường dự kiến xây dựng trên mặt bằng có diện tích 13.464 m2. Khung cảnh sinh hoạt nhộn nhịp mà tôi chứng kiến hoàn toàn đối lập với đánh giá về vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam của một số thế lực, tổ chức ở phương Tây. Không nói đâu xa, từ sân bay quốc tế Nội Bài theo quốc lộ 1A đi về phía nam hoặc phía bắc, người đi đường đều có thể quan sát, nhận thấy hai bên đường thi thoảng có nhà thờ Công giáo khang trang với tháp chuông cao vút giữa nền trời. Cảnh quan đó giúp nhận biết mật độ nhà thờ Công giáo ở thành thị và nông thôn Việt Nam như thế nào. Nếu so sánh với châu Âu, nơi hằng năm hàng loạt nhà thờ bị phá dỡ do không còn nhu cầu sử dụng vì lượng giáo dân đã giảm trong các thập kỷ qua, thì không thể kết luận ở Việt Nam "không có tự do tôn giáo". Ngược lại điều đó đã phần nào cho thấy sự phát triển của đời sống tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay cũng như quyền tự do tín ngưỡng của người dân tại Việt Nam được công nhận và tạo điều kiện như thế nào. Không chỉ ở La Vang, không chỉ đối với Công giáo Việt Nam, mà ở nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam với các bộ phận khác nhau của cộng đồng tôn giáo, những năm qua rất nhiều công trình hoành tráng như thế đã được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của hàng chục triệu người dân. Một nơi không xa La Vang mà tôi đến thăm lần này là TP Huế, nơi tôi có nhiều người họ hàng sinh sống. Thừa Thiên - Huế là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của cả nước. Hơn 60% số người dân của TP Huế theo đạo Phật, Phật giáo ở Thừa Thiên - Huế hiện có hơn 1.000 tu sĩ, gần 600 tu viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường. Có thể nói, mọi nơi của thành phố, dù ban ngày hay ban đêm, khách từ phương xa tới đều có thể chứng kiến khung cảnh hoạt động của tín đồ Phật giáo trong không khí an lành, hướng thiện. Cũng cần nhắc đến quần thể chùa Bái Ðính ở Ninh Bình, với khu chùa mới được xây dựng năm 2003, nơi tổ chức Ðại lễ Phật đản Liên hợp quốc - Vesak 2014 vào tháng 3-2014. Và như báo chí đã đưa tin, năm nào cũng vậy, đến dịp đầu năm, không quản mưa gió, hàng chục nghìn người lại hành hương về đất Phật Yên Tử (Quảng Ninh)… Phải khẳng định đó là những minh chứng hết sức sống động, phản ánh chân thực sự phát triển đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở Việt Nam, đặc biệt cho thấy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được tôn trọng, được tạo điều kiện để phát triển, không có người dân nào bị gây phiền hà, sách nhiễu. Từ những gì đã thấy, đã đọc, đã nghe, tôi rút ra kết luận rằng một số chính phủ ở phương Tây, một số tổ chức nhân danh dân chủ, nhân quyền không muốn xem xét, đánh giá vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam một cách khách quan. Vì các lý do khác nhau, trong đó chắc chắn có động cơ chính trị, họ muốn áp đặt cái gọi là "giá trị phương Tây" lên Việt Nam, cản trở sự phát triển của đất nước tôi, dung túng và o bế một số cá nhân có thái độ chống đối chính quyền… Từ đó gây sức ép đối với Nhà nước Việt Nam. Ðể thực hiện mưu đồ, họ sử dụng phương pháp cũ là khai thác luận điệu bịa đăt, vu khống của nhóm nhỏ cá nhân bất mãn, người có thái độ thiếu thiện chí hay thù địch với chính quyền để xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cuối những năm 90 của thế kỷ 20, phương pháp này được áp dụng tại các nước ở Ðông Âu. Tại đó, nhiều cuộc biểu tình, phản đối được khơi mào bởi các phần tử nấp dưới cái gọi là "tự do tôn giáo", nhà thờ bị lạm dụng làm nơi quy tụ lực lượng chống đối, muốn lật đổ chính quyền. Trước khi vào Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, tôi dừng chân ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nơi thời gian gần đây đã có một số người hoạt động gây rối. Các phần tử quá khích trong Công giáo lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển liên quan Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa (Hà Tĩnh), để gây ùn tắc giao thông, phá hoại trụ sở chính quyền, gây thiệt hại về tài sản, thương tích cho nhiều người. Báo chí Việt Nam nhiều lần đưa tin về các vụ án, trong đó người bị tuyên án không phải vì theo một tôn giáo hay hoạt động cho tổ chức tôn giáo nào, mà là lợi dụng danh nghĩa giáo dân để vi phạm những điều luật ghi cụ thể trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam, và những quy định pháp luật khác. Rõ ràng, đây là hoạt động đội lốt tôn giáo để phá vỡ cuộc sống bình yên, cản trở hoạt động chung của toàn xã hội. Khi chính quyền thực thi các biện pháp trong khuôn khổ pháp luật để duy trì kỷ cương xã hội thì họ lu loa "chính quyền vi phạm tự do tôn giáo". Ở một vài giáo phận, một số vụ tranh chấp đất đai thuần túy mang tính dân sự đã bị người quá khích thổi phồng nhằm gây sức ép với chính quyền, đưa ra yêu cầu phi lý, gây rối tại cơ quan tư pháp, hành pháp ở địa phương. Báo chí cũng đã cho biết một sự thật không thể bỏ qua là thủ đoạn chống phá của các tổ chức thù địch ở nước ngoài. Họ không chỉ sử dụng internet để bịa đặt, dựng chuyện vu cáo mà còn chuyển tiền và tài liệu từ nước ngoài vào Việt Nam, lôi kéo người nhẹ dạ tham gia hoạt động lật đổ chính quyền, một số người được đưa ra nước ngoài để bồi dưỡng kỹ năng chống phá… Sống ở phương Tây nhiều năm, tôi khẳng định đó là việc làm mà bất cứ chính quyền ở một nước phương Tây nào cũng không bao giờ chấp nhận, luôn có biện pháp xử lý công khai, nghiêm khắc. Được tận mắt chứng kiến hằng ngày hàng triệu người dân vẫn đến các cơ sở tôn giáo để thực hành đức tin, tôi càng nhận ra rõ hơn về thói "đạo đức giả" của những người đang nấp dưới chiêu bài tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vu cáo Nhà nước Việt Nam. Và khi đứng trước tháp chuông là di tích của một Vương cung Thánh đường tại Thánh địa La Vang đã bị bom tàn phá, tôi nghĩ đến câu hỏi: Một số tổ chức, chính quyền, thậm chí là ở quốc gia từng ném bom phá hoại nhà thờ đã thực lòng đấu tranh cho tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam như thế nào? Cũng như họ suy nghĩ gì khi tự cho mình có tư cách để phê phán một quốc gia đã cấp đất để xây nhà thờ?

Nêu cao tính gương mẫu thực hiện chính sách, pháp luật của đảng viên

Xây dựng Đảng về đạo đức, đồng thời đề cao ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Mối quan hệ này càng thể hiện rõ tính chất tuy hai mà là một trong bối cảnh toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Kể từ khi ra đời tới nay, nhờ giữ vững tư cách của đảng cách mạng chân chính, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhân dân làm nên những thắng lợi vĩ đại, hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc, tiến hành thành công công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đổi mới, bên cạnh những thành công, trong Đảng xuất hiện tình trạng “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng”. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng tuy đã đạt được những kết quả quan trọng bước đầu, nhưng vẫn còn rất nhiều việc, nhiều vấn đề rất đáng quan tâm. Thực tế qua một số vụ việc vi phạm pháp luật vừa qua có liên quan tới CB, ĐV có thể thấy hai biểu hiện: Thứ nhất, CB, ĐV không chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thậm chí trực tiếp vi phạm pháp luật. Thứ hai, vợ, con, người nhà, người thân của CB, ĐV không thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, ỷ thế là người nhà cán bộ mà coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật hòng trục lợi. Cả hai biểu hiện nói trên đều gây bức xúc trong xã hội, tác hại đối với uy tín của Đảng, hình ảnh của Đảng trước nhân dân. Mỗi CB, ĐV với sức ảnh hưởng của mình trong xã hội, khi gương mẫu chấp hành pháp luật thì sẽ là những tấm gương tốt lan tỏa lối sống thượng tôn pháp luật trong xã hội và ngược lại. Bởi vì, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo những trật tự xác định, nhằm duy trì trật tự và ổn định xã hội. Trong xã hội ta, pháp luật là sản phẩm phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng. Trong hầu hết các trường hợp, quy định của pháp luật đều là sự kết tinh của ý Đảng và lòng dân. Vì vậy, tuân thủ, thượng tôn pháp luật chính là tuân thủ, thượng tôn ý chí của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân và lợi ích của đất nước. Đây là một trong những yêu cầu đạo đức hàng đầu của CB, ĐV trong xã hội hiện đại. Theo đồng chí Lê Thành Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thì Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ, công chức có nghĩa vụ phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Mỗi cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ. CB, ĐV, nhất là CB, ĐV giữ vị trí lãnh đạo, quản lý là nhóm chủ thể đặc biệt, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, họ là “những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Thực tế chỉ ra rằng, trong điều kiện Đảng cầm quyền, CB, ĐV dễ lợi dụng chức quyền của mình và uy tín của Đảng để lộng quyền, đặc quyền, đặc lợi, ức hiếp quần chúng và dễ bị tha hóa. Vì vậy, nếu thiếu sự kiểm soát của pháp luật, xem nhẹ việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với CB, ĐV thì càng làm cho họ dễ bị tha hóa hơn. Song song với đó, nếu thiếu tư cách đạo đức thì CB, ĐV không thể nhận thức đúng và vận dụng đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí còn cố ý bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu lợi cho cá nhân, gia đình hoặc thân hữu; qua đó, làm cho người dân hiểu sai về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hoặc mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Thiếu tư cách đạo đức, CB, ĐV cũng không có năng lực để phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của người dân với Đảng và Nhà nước; từ đó, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước khó sát hợp với yêu cầu phát triển. Việc chủ động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho CB, ĐV bằng cách cung cấp đầy đủ thông tin về pháp luật, giúp mỗi người nhận thức đúng về các quyền, nghĩa vụ của mình, các chuẩn mực pháp luật, giới hạn hành vi được thực hiện hay không được thực hiện để từ đó tự giác tuân thủ, chấp hành và tổ chức thi hành pháp luật là yêu cầu hết sức quan trọng. Thực hiện tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho CB, ĐV để hình thành lớp CB, ĐV gương mẫu tuân thủ, chấp hành pháp luật cũng là một trong những biện pháp nhằm góp phần xây dựng Đảng về đạo đức, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, bảo đảm mọi người dân đều tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, phát huy đầy đủ nhất vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, trong quản lý đất nước và kiến tạo sự phát triển xã hội. Để thể hiện rõ vai trò tiên phong, gương mẫu của CB, ĐV trong chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thời gian tới rất cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau: Một là, cần phát huy vai trò chủ động, tích cực và tính tự giác, gương mẫu của mỗi CB, ĐV. Mỗi CB, ĐV cần tích cực, chủ động học tập, tìm hiểu, nắm vững và am hiểu sâu sắc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thấm nhuần đạo đức cách mạng để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Mỗi người cần nêu gương sáng trong tuân thủ và chấp hành pháp luật; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; am hiểu pháp luật để thi hành nghiêm chỉnh pháp luật. Hai là, mỗi tổ chức đảng cần đưa việc quán triệt, phổ biến nội dung chính sách, pháp luật, nhất là các quy định mới ban hành thành nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ; phát huy đầy đủ nhất vai trò tiên phong, gương mẫu đi đầu trong học tập, tìm hiểu, phổ biến pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành Hiến pháp và pháp luật của từng tổ chức đảng và đảng viên, coi đây là tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các tổ chức đảng và từng đảng viên. Ba là, CB, ĐV cần tham gia tích cực giải thích, vận động, thuyết phục, cảm hóa, tập hợp nhân dân để mỗi người dân đều có hiểu biết pháp luật, tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật, đồng thời tuân thủ và chấp hành Hiến pháp và pháp luật khi tham gia các quan hệ xã hội. Trước tiên, CB, ĐV cần tuyên truyền, thuyết phục để người thân trong gia đình thực hiện nghiêm pháp luật. Vừa qua, trong Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm (Quy định số 102-QĐ/TW) của Bộ Chính trị đã có điều khoản về kỷ luật đảng viên nếu như vợ (chồng), con vi phạm pháp luật. Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 13 quy định đảng viên sẽ bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách nếu thiếu trách nhiệm trong quản lý, giáo dục dẫn đến có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội. Khoản 2, Điều 13 còn quy định đảng viên sẽ bị cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ) nếu để vợ (chồng), con lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình tổ chức, thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật nghiêm trọng, để cấp dưới trực tiếp phạm tội nghiêm trọng, hoặc bản thân bao che các vụ việc vi phạm pháp luật xảy ra trong tổ chức, đơn vị, lĩnh vực, địa bàn phụ trách. Có thể thấy quy định kỷ luật nói trên thể hiện rất rõ sự nghiêm khắc của Đảng trong việc xử lý các vi phạm pháp luật liên quan đến đảng viên. Đối với nguyên tắc của pháp luật thì ai vi phạm pháp luật thì người đó bị xử lý. Nhưng với quy định kỷ luật Đảng thì trách nhiệm của đảng viên phải được thể hiện ở mức cao hơn. Điều này cũng sẽ giúp các tổ chức đảng, đảng viên phải luôn nỗ lực thể hiện rõ tính tiên phong, gương mẫu trong chấp hành luật pháp, từ đó nâng cao uy tín của đảng viên, góp phần củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trách nhiệm, tính tiền phong của cán bộ, đảng viên trước các vấn đề hệ trọng của đất nước

Vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên luôn có một vị trí rất quan trọng. Trong kháng chiến, trước những tình thế khó khăn đòi hỏi cả sự hy sinh xương máu, ý chí cách mạng, tinh thần trách nhiệm, nhuệ khí của người cộng sản không bao giờ lung lay. Trong hòa bình, những lúc gian khó, phức tạp, trước những vấn đề nhạy cảm của đất nước, đại đa số cán bộ, đảng viên đã thể hiện rõ ý chí, quyết tâm, tính tiền phong gương mẫu... Thế nhưng thực tế cũng cho thấy, trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, nhất là trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, ở những thời điểm khó khăn của đất nước, vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của một bộ phận đảng viên không phải không có vấn đề. Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên đó chính là sự “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ rằng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến"(2). Thực tế lịch sử đã chứng minh, quần chúng chỉ thực sự yêu mến, tin tưởng và nghe theo những cán bộ, đảng viên có tư cách, đạo đức, có trách nhiệm với nhân dân, với sự nghiệp chung của đất nước. Trả lời phỏng vấn báo chí nhân kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh: “Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gương mẫu đi đầu, nói đi đôi với làm… thì dân mới tin”. Tổng Bí thư cũng khẳng định: “Bất kỳ đường lối, chủ trương nào của Đảng muốn được thực hiện thành công, thì trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu”. Những thành tựu có ý nghĩa rất quan trọng ấy không ai có thể phủ nhận. Nhưng bên cạnh đó một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém. Đúng như Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đánh giá. “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước". Cùng với đó, vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trước những vấn đề, ở những thời điểm khó khăn, phức tạp của đất nước có biểu hiện suy giảm... Thực tế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Mặt khác, đó còn là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên đối với sự nghiệp cách mạng, trong gần 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên quan tâm, chăm lo giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng phát huy vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các đảng bộ, chi bộ đã có nhiều chủ trương, biện pháp quản lý, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu để đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng kịp thời với yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng. Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, mặc dù số lượng đảng viên chưa nhiều nhưng do phát huy tốt vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của các đảng viên nên Đảng ta đã đoàn kết, động viên, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Sau giải phóng, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhờ phát huy tốt vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.... Đặc biệt, qua một số vụ việc nảy sinh trong đời sống xã hội những năm gần đây cho thấy, việc phát huy vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên đang có những diễn biến mới đáng lưu tâm. Rõ nhất là tại một số cơ quan công quyền, do trình độ, năng lực hạn chế, do thiếu trách nhiệm, thiếu tính tiền phong gương mẫu nên không ít cán bộ, đảng viên chưa làm tròn chức trách, nhiệm vụ. Trong công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, nhiều tổ chức Đảng, đảng viên do thiếu trách nhiệm nên đã đưa ra những nội dung chưa đúng, chưa trúng và không phù hợp với tình hình thực tế đất nước, nhất là những nội dung, nhiệm vụ, vấn đề hệ trọng, nhạy cảm. Đây là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh những vấn đề bức xúc, phức tạp trong xã hội. Tại các cơ sở, không ít cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, thiếu tính tiền phong gương mẫu trước quần chúng nhân dân. Không chỉ thiếu trách nhiệm trong công việc, thiếu tính tiền phong gương mẫu trước quần chúng, bản thân những cán bộ, đảng viên này còn vi phạm nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. Chẳng những không gương mẫu thực hiện, không tham gia tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng nhân dân mà nhiều đảng viên còn a dua, vào hùa, theo đuôi quần chúng, phát ngôn trái với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Bộ Chính trị đã có Quy định 102-QĐ/TW và UBKT Trung ương đã có hướng dẫn thực hiện rất cụ thể về việc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trong đó có nội dung xác định trách nhiệm của đảng viên trong tuyên truyền, giáo dục, quản lý vợ (chồng), con, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Mặc dù vậy nhưng nhiều đảng viên đã không làm tròn trách nhiệm, vẫn để vợ (chồng), con, có hành vi vi phạm pháp luật hoặc tham gia vào các hoạt động trái pháp luật. Và thực tế đã có những cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật do liên đới trách nhiệm. Nội dung, yêu cầu của tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong của đảng viên có những điểm chung cơ bản, nhưng trong mỗi thời kỳ, do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, mà tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên có những nội dung, yêu cầu cụ thể. Đặc biệt, trước tình hình và nhiệm vụ mới hiện nay, nói đến tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên không thể là hô hào một cách chung chung mà cần phải được thể hiện bằng những tiêu chuẩn rất cụ thể về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong và trình độ, năng lực. Mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên phải đối chiếu theo các tiêu chuẩn để tự nhìn nhận, soi xét lại mình, tự điều chỉnh suy nghĩ, hành động của bản thân. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhớ, quần chúng luôn soi xét, lắng nghe xem cán bộ, đảng viên nói gì, làm gì, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, tình huống phức tạp của đất nước. Mỗi lời nói, mỗi hành động của cán bộ, đảng viên, mỗi quyết sách của Đảng, của chính quyền đưa ra đều ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng, tới lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Hành động nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ vững niềm tin, không hoang mang, dao động, đi đầu trong công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các giải pháp và tiền phong gương mẫu trong tổ chức thực hiện giải quyết những khó khăn, thử thách ngay tại cơ sở của mỗi cán bộ, đảng viên có tác động rất tích cực đến quần chúng nhân dân. Việc đưa ra những quyết sách kịp thời, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, điều hành đất nước đi đúng hướng của Đảng, của chính quyền sẽ góp phần rất quan trọng củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN. Ngược lại, nếu trước những vấn đề hệ trọng của đất nước mà cán bộ, đảng viên không phát huy được vai trò trách nhiệm, thiếu tính tiền phong gương mẫu, hoang mang, dao động thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân. Do đó, hơn lúc nào hết, càng trong gian khó, hiểm nguy, phức tạp thì càng đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ ý chí, quyết tâm, vai trò trách nhiệm và tính tiền phong gương mẫu của mình.

Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, luận điểm xuyên tạc là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng nhằm tăng cường hơn nữa sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong nhân dân, nâng cao ý chí đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản, thường xuyên, lâu dài Trong những năm gần đây, trên thế giới xuất hiện nhiều vấn đề mới hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là sự chuyển giao quyền lực, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, xu hướng bảo hộ đang nổi lên tác động tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở trong nước, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những diễn biến phức tạp, tinh vi... Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, dồn dập tung ra các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta mất phương hướng về chính trị, tư tưởng để chúng dễ dàng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Đại hội XII của Đảng khẳng định: Trong những năm qua chúng ta đã “tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(1). Bên cạnh đó, “Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao”(2). Từ đó, Đại hội XII chỉ rõ: “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”(3). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, luận điểm xuyên tạc là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Xác định rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng phải kịp thời, kiên quyết, kiên trì, sắc bén, có căn cứ khoa học, có sức thuyết phục; không áp đặt, võ đoán, quy kết, định kiến. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Để cuộc đấu tranh này có hiệu quả, cần nắm vững và thực hiện tốt các quan điểm sau: Một là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng phải đi đôi với phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Hai là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch với đấu tranh chống suy thoái và tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phòng, chống tham nhũng, nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là của người đứng đầu. Ba là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc với đấu tranh chống bảo thủ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí với khắc phục hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Bốn là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, báo chí là nòng cốt, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Năm là, giữ vững trận địa tư tưởng, nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Triển khai tích cực, kiên quyết, thường xuyên, liên tục với quyết tâm chính trị cao, phương pháp khoa học, có sức thuyết phục cao, sức lan tỏa sâu rộng.

Một số giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng

Một là, phải luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng, thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Tại Đại hội VII, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đến Đại hội IX, Đảng ta xác định khái niệm, nguồn gốc, nội dung, vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(4). Đảng ta luôn nhấn mạnh yêu cầu phải vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng; là cách tốt nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Hiện nay, công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, bên cạnh những cơ hội, ngày càng xuất hiện những vấn đề mới, những khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân phải chủ động, không ngừng sáng tạo. Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh ngày nay là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng đó là con đường hợp quy luật để có một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự nghiệp cách mạng đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải kiên định, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Một lần nữa, cần khẳng định lại: Đổi mới không phải là xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là nhận thức đúng, vận dụng và không ngừng phát triển sáng tạo học thuyết, tư tưởng đó, lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, làm cơ sở cho phương pháp luận quan trọng nhất để phân tích tình hình, hoạch định và hoàn thiện đường lối đổi mới. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện nào cũng phải luôn luôn kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng, thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Đây là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên tắc, là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định “sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(5). Càng đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, càng phải giữ vững, tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng, càng “Phải chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”(6). Các văn kiện Đại hội VII đến Đại hội XII và nhiều nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng luôn khẳng định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta rút ra bài học “phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ”(7). Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng cách mạng chân chính - một Đảng không chủ quan tự mãn với những thành tích, không né tránh những khuyết điểm, sai lầm. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn: Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí và vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Đó là sự tự phê bình và phê bình chân thành và nghiêm khắc trong cuộc Hội nghị hợp nhất các nhóm cộng sản năm 1930; sự tự chỉ trích chuyển hướng phong trào dân chủ 1936 - 1939; những cuộc học tập nâng cao giác ngộ và dân tộc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; sự tự phê bình và phê bình những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc sau khi được giải phóng; các đợt chỉnh Đảng, sự tự phê bình và phê bình nghiêm khắc tại các đại hội Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, tại các Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém, và đề ra giải pháp khắc phục. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Năm 2017 cuộc đấu tranh, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực được đẩy mạnh hơn và bước đầu đạt nhiều kết quả cụ thể, tích cực, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các vụ án tham nhũng kinh tế nghiêm trọng, phức tạp đã được xử lý kiên quyết, nghiêm minh, theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kể cả đối với cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu. Hai là, nhận thức sâu sắc và kịp thời âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và thường xuyên đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc. Các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc, tôn giáo” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Các thế lực thù địch sử dụng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc, thông qua hàng trăm cơ quan báo chí, xuất bản ở nước ngoài, móc nối với các phần tử cơ hội chính trị ở trong nước; thông qua con đường ngoại giao, hợp tác kinh tế, đầu tư... hòng chuyển hóa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội, tạo điều kiện can thiệp sâu hơn chống phá cách mạng Việt Nam. Các thế lực thù địch lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót, yếu kém trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí của một số cán bộ, đảng viên để gây ra những dao động về tư tưởng, mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, lập các tổ chức phản động trong nước. Chúng dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp, còn bây giờ sang thế kỷ XXI, thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua; cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam; cho rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chứng tỏ “chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai”(!). Đồng thời chúng còn xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng, đạo đức, phong cách, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng viết sách, báo, sản xuất băng hình nhằm “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”. Chúng đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, coi Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản; cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chúng xuyên tạc, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trước hết lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, là sai lầm và đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng cũng bôi nhọ, vu khống các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trên thực tế, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tấn công vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là một sai lầm, bảo thủ, giáo điều; chủ nghĩa xã hội đang khủng hoảng và thoái trào; sự tan rã của Liên Xô, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và hệ thống xã hội chủ nghĩa là bằng chứng về sự bế tắc, vô vọng của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn. Chúng còn cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt dân tộc làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đã làm tròn sứ mệnh lịch sử; trong quá trình đổi mới, Đảng có nhiều sai lầm, vậy nên cần có lực lượng khác lãnh đạo đất nước; Việt Nam cần thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cần xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp. Hiện nay, chúng tiếp tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng ta, như cần phải tam quyền phân lập; cần phải đẩy mạnh phát triển “xã hội dân sự” theo nghĩa đối lập với Nhà nước; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ... Ý đồ lâu dài không thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thay đổi chế độ ta. Thông qua việc truyền bá những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, lối sống lai căng vào xã hội, vào cán bộ, đảng viên, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các văn kiện đại hội ở thời kỳ đổi mới, Đảng đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một trong bốn nguy cơ. Đại hội VIII của Đảng đề ra nhiệm vụ “Uốn nắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng. Phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch”(8). Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một chủ trương kiên quyết và nhất quán của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Để thực hiện chủ trương đó, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, nhiều chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới đã nêu lên 6 nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, trong đó nhiệm vụ thứ tư là “chủ động tiến công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới đã yêu cầu triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến” ở cả Trung ương và các ngành, các cấp. Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Ba là, có phương thức đấu tranh phù hợp chống quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc phù hợp. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ quan trọng bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, vì vậy, cần huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; việc tổ chức đấu tranh cần được chuẩn bị kỹ, chặt chẽ, khoa học và quyết tâm cao. Tất cả các cơ quan tư tưởng, thông tin, tuyên truyền, báo chí là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ này. Người đứng đầu cấp ủy phải là người tổ chức cuộc đấu tranh. Cần huy động một đội ngũ chuyên gia giỏi, tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh. Cần thường xuyên sơ kết, rút kinh nghiệm, biểu dương những cơ quan, những người làm tốt nhiệm vụ. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là một mặt trận lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Cần thực hiện đúng theo phương châm cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn phương châm “thêm bạn, bớt thù”, phải có sách lược đúng đắn, xem xét từng đối tượng cụ thể trong đấu tranh. Biết cách đấu tranh cho phù hợp với từng đối tượng để cuộc đấu tranh có hiệu quả. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng phải theo định hướng, chỉ đạo thống nhất, đồng thời mỗi ngành, cơ quan, đoàn thể, địa phương phải xây dựng lực lượng, hệ thống tuyên truyền, kế hoạch hoạt động. Tăng cường công tác thông tin, nhất là thông tin đại chúng thông qua báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh, in-tơ-nét... Các báo, đài cần tìm ra những hình thức tuyên truyền phù hợp, sát với từng đối tượng. Phát huy vai trò tuyên truyền miệng, thông báo nội bộ, ấn phẩm báo chí, lý luận, diễn đàn trao đổi, đối thoại... Tăng cường hơn nữa thông tin đối ngoại; tiến hành thường xuyên việc nghiên cứu dư luận xã hội để nắm bắt nhanh, nhạy, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh tư tưởng, lý luận sát hợp. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; đổi mới tư duy, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thành công các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định. Bốn là, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Điều có ý nghĩa quyết định để phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là Đảng, Nhà nước phải lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm; chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Tổ chức thực hiện thắng lợi, có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước là vũ khí mạnh mẽ nhất, có tính thuyết phục nhất để bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc. Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đại hội XII khẳng định: Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Sau Đại hội XII, 2 năm qua, nhất là năm 2017, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới tiếp tục đạt được thành tựu khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Lần đầu tiên sau nhiều năm, chúng ta đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ 13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tăng trưởng GDP đạt 6,81%, vượt kế hoạch đề ra, là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu đạt 485 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Mặc dù chịu tác động nặng nề của thiên tai, bão lũ, nông nghiệp vẫn tăng 2,9%, gấp 4 lần so với năm 2016; kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 36 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Năng lực đổi mới sáng tạo khoa học - công nghệ được nâng lên. An sinh xã hội và phúc lợi xã hội được quan tâm chăm lo, bảo đảm; thực hiện tốt hơn chế độ, chính sách đối với người có công, người nghèo, nhất là những khi xảy ra thiên tai, bão lũ. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần củng cố an ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Năm 2017 là một trong những năm thành công nhất trong công tác đối ngoại, đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Quan hệ với các nước, nhất là với các đối tác quan trọng ngày càng toàn diện và hiệu quả hơn. Đặc biệt, chúng ta đã tổ chức rất thành công tuần lễ cấp cao APEC 2017 ở thành phố Đà Nẵng. Việt Nam cũng lần đầu tiên đón lãnh đạo cao nhất hai cường quốc hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Mỹ tới thăm cấp nhà nước trong hai ngày liên tiếp. Các hợp tác song phương với Mỹ trị giá 12 tỷ USD và một loạt thỏa thuận, ghi nhớ trong nhiều lĩnh vực với Trung Quốc đã được ký kết. Với vai trò chủ nhà, chúng ta đã thực sự tạo nên dấu ấn Việt Nam trong tiến trình hợp tác của APEC nói riêng và liên kết kinh tế và chính trị tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung. Chúng ta đã kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những thành tựu mà đất nước ta đạt được là không thể phủ nhận. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm đưa đất nước trở thành “con hổ mới”./.

Ngăn chặn và cảnh giác trước nguy cơ từ internet

Những hệ lụy từ việc để lộ bí mật cá nhân qua việc sử dụng những tiện ích mà một số công ty, tổ chức thu thập và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) đem lại là cái giá phải trả không hề rẻ mà không ít người dùng internet phải gánh chịu. Ðã đến lúc người sử dụng internet nói chung và tham gia mạng xã hội nói riêng, cần cảnh giác, có ý thức hơn nữa trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình trong bối cảnh các dữ liệu này có thể dễ dàng bị khai thác, lạm dụng. Ngày nay, khi mà mỗi năm, các quốc gia phải đối mặt với vô số cuộc tiến công mạng thì an ninh mạng đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu. Theo khảo sát các chuyên gia thuộc Thales (một hãng chuyên cung cấp các giải pháp bảo mật của Pháp), tỷ lệ vi phạm an ninh mạng toàn cầu hiện nay là 67% và tình trạng này đang ngày càng gia tăng. Trong đó, vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân của người sử dụng đang đặt ra nhiều thách thức, bởi nguy cơ rò rỉ thông tin không chỉ gây thiệt hại cho người sử dụng mà còn ảnh hưởng tới an ninh quốc gia. Theo số liệu thống kê từ trang Internetworldstats (website chuyên thống kê lượng người dùng internet của các quốc gia trên toàn thế giới) thì hiện Việt Nam có 64 triệu người dùng internet, đứng thứ 12 trên thế giới, đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực châu Á, trong đó tỷ lệ người sử dụng hai nền tảng Facebook và Google là rất lớn. Thậm chí, nhiều người không thể "rời xa" các nền tảng này dù chỉ trong một ngày. Tuy nhiên, họ có thể hoặc không nhận ra nguy cơ bị lạm dụng các dữ liệu cá nhân diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều hình thức. Ðơn giản nhất là khi một người sử dụng thao tác tìm kiếm một mặt hàng gì thì chỉ vài phút sau hoặc liên tiếp trong những ngày tiếp theo, các quảng cáo về các sản phẩm đó liên tục hiện lên màn hình các trang web họ truy cập. Ðiều đó có nghĩa là dữ liệu về việc tìm kiếm của người này đã bị rò rỉ và đang bị khai thác. Tuy nhiên, đây chỉ là những dữ liệu khá đơn giản. Người sử dụng mạng internet còn phải đối diện với nguy cơ các dữ liệu quan trọng về sức khỏe, về tài chính cá nhân… bị rò rỉ và lạm dụng vào nhiều mục đích xấu. Theo ước tính của hãng nghiên cứu thị trường Statista (Ðức), đến tháng 1-2018, đã có 55 triệu người Việt Nam sử dụng Facebook, trong đó có khoảng 0,77% người dùng bị khai thác và sử dụng thông tin cá nhân một cách trái phép, trong khi mỗi năm hai công ty này lại đã thu về nhiều món lợi khổng lồ từ thị trường Việt Nam. Cụ thể: Facebook đang đứng số một về doanh thu trực tuyến tại Việt Nam với khoảng 3.000 tỷ đồng, tiếp theo là Google với 2.200 tỷ đồng. Với con số khổng lồ thu được từ thị trường Việt Nam kể trên, rất nhiều khả năng một phần doanh thu là có nguồn gốc chính từ việc "tìm hiểu" dữ liệu cá nhân của người sử dụng. Trước sự phát triển mạnh mẽ của internet và các tiện ích phát triển trên nền tảng internet, yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, sự riêng tư của người sử dụng đã được nhiều nước trên thế giới đặt ra. Vấn đề này ngày càng trở nên cấp thiết sau khá nhiều vụ việc dữ liệu cá nhân bị rò rỉ trong thời gian qua. Vì thế, ngay khi Quy định bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) của Liên minh châu Âu EU có hiệu lực vào ngày 25-5 vừa qua, Google và Facebook đã phải đối diện với những đơn kiện chỉ ra rằng, dữ liệu mà họ thu thập từ người dùng không chỉ được sử dụng trong phạm vi các dịch vụ của họ mà được sử dụng cho cả các quảng cáo mục tiêu. Ðây chính là lý do giúp hai công ty này thu về hàng tỷ đô-la Mỹ mỗi năm từ việc có được thông tin của người dùng mạng. GDPR có hiệu lực được đánh giá là một bước đi mạnh mẽ của EU với mục tiêu sẽ mang lại cho người sử dụng những quyền lợi bảo mật tối đa. Quy định này yêu cầu các công ty phải thay đổi cách họ thu thập, lưu trữ và sử dụng thông tin cá nhân người dùng ở EU. Theo đó, các công ty phải xin phép và được sự đồng ý của người dùng cho mỗi lần sử dụng dữ liệu của họ. Các tổ chức và doanh nghiệp có thu thập thông tin cá nhân bắt buộc phải giữ bí mật thông tin khách hàng, phải công khai việc dùng thông tin đó để làm gì hay chuyển cho ai khác. Người dùng có quyền điều chỉnh cũng như xóa bỏ dữ liệu của họ bằng quyền truy cập những dữ liệu mà các công ty đã lưu trữ về họ. Khi xảy ra vi phạm, số tiền phạt tương ứng với mức độ vi phạm, có thể lên đến 20 triệu euro (ơ-rô) hoặc 4% doanh thu toàn cầu của công ty vi phạm. Trong bê bối Facebook để rò rỉ thông tin của 50 triệu tài khoản xảy ra gần đây, Việt Nam đứng thứ 9 trong 10 quốc gia có số người dùng Facebook bị Cambridge Analytica khai thác và sử dụng thông tin trái phép với 427.446 người dùng bị rò rỉ thông tin. Có thể thấy, bên những nguyên nhân khách quan đã được nhắc đến nhiều, một trong các nguyên nhân chủ quan khiến người dùng Facebook tại Việt Nam dễ dàng bị lấy cắp thông tin cá nhân là do ý thức bảo vệ dữ liệu cá nhân của người sử dụng chưa cao, thậm chí với một số người là rất kém. Theo TS Vũ Quốc Khánh, chuyên gia về an ninh mạng, thì nhận thức về bảo mật an ninh mạng tại Việt Nam còn thấp. Phần lớn người sử dụng chưa quan tâm đúng mức, thậm chí là không quan tâm đến an ninh thông tin cá nhân. Thói quen chia sẻ thông tin của nhiều người dùng Việt Nam thường ở chế độ công khai, thay vì đặt ở chế độ riêng tư, hoặc chỉ dành cho bạn bè. Ðồng thời, nhiều người dùng mạng chủ quan không kiểm tra kỹ những dữ liệu riêng tư nào của mình được chia sẻ mỗi khi đăng ký tài khoản hoặc cài đặt các ứng dụng. Trên thực tế, hiện có khá nhiều ứng dụng liên kết với các mạng xã hội tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn vì có tính năng thu thập thông tin của người sử dụng. Có trường hợp, dù chỉ là một trò chơi nhưng lại yêu cầu người tham gia phải truy cập vào nhiều dữ liệu cá nhân như: ảnh, video và cả quan điểm tôn giáo, chính trị... Một số quảng cáo cũng có thể bao gồm các phần mềm độc hại, thu thập dữ liệu của người dùng. Chưa kể, nhận thức về quyền được bảo vệ các dữ liệu riêng tư của phần lớn người sử dụng cũng rất yếu, hầu như không có phản ứng hoặc khiếu nại khi có nghi ngờ lộ thông tin. Theo Trung tướng Hoàng Phước Thuận, Cục trưởng Cục An ninh mạng (Bộ Công an), cơ sở dữ liệu người dùng Việt Nam là tài sản quốc gia rất lớn, cần kiểm soát chặt chẽ, tránh bị sử dụng để tiến công vào các mục tiêu khác, nhất là nguy cơ chiếm đoạt bí mật cá nhân rồi bắc cầu tiến công vào hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia. Vì thế, việc bảo vệ hệ thống cơ sở dữ liệu người dùng là rất cần thiết. Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIV của Việt Nam đã thảo luận nhiều vấn đề của Dự thảo Luật An ninh mạng. Ngày 12-6, với 86,86% tổng số đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng (có hiệu lực từ ngày 1-1-2019). Thực tiễn công tác an ninh mạng những năm gần đây có nhiều thay đổi cùng với tốc độ phát triển từng ngày của kỹ thuật số. Luật An ninh mạng là cần thiết bởi cần có sự quản lý và xử phạt về luật pháp đối với các đối tượng sử dụng không gian mạng với mục đích xấu, góp phần mang lại sự an toàn cho người sử dụng mạng. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã ban hành luật về an ninh mạng như: Nga, Ðức, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Anh… Tại Ðức, ngày 17-12-2014, Luật An ninh mạng được thông qua nhằm bảo vệ tốt hơn cho công dân và doanh nghiệp. Trong số nhiều quy định mới, Luật An ninh mạng của Ðức cũng yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông phải nâng cao năng lực bảo đảm an ninh, an toàn thông tin đối với các công nghệ và dịch vụ ứng dụng cho người dùng. Ðồng thời, các doanh nghiệp này phải có trách nhiệm thông báo cho khách hàng khi phát hiện nguy cơ mất an toàn thông tin. Luật này còn quy định cụ thể những gì người sử dụng được phép chia sẻ trên facebook và những gì bị cấm viết trên mạng xã hội. Tháng 9-2015, Ðạo luật lưu trữ dữ liệu của Nga chính thức có hiệu lực. Theo đạo luật này, nhiều công ty công nghệ nước ngoài hoạt động tại nước này, gồm cả ba công ty lớn là: Facebook, LinkedIn và Google đều phải "địa phương hóa" dữ liệu nhằm bảo vệ tối đa thông tin cá nhân của người sử dụng cũng như bảo đảm an ninh mạng quốc gia. Luật An ninh mạng của Trung Quốc cũng chính thức có hiệu lực từ ngày 1-6-2017, quy định chặt chẽ việc giám sát và lưu trữ dữ liệu của các công ty hoạt động tại nước này. Theo đó, các công ty cung cấp dịch vụ trực tuyến sẽ không được phép tự thu thập thông tin của người dùng hay bán các thông tin đó cho một bên khác; người dùng mạng có quyền yêu cầu xóa thông tin cá nhân, nếu cảm thấy những thông tin đó bị sử dụng sai mục đích. Trên thực tế, các giải pháp từ phía các nhà quản lý hay nhà cung cấp dịch vụ là cần thiết. Song bên cạnh việc sử dụng dịch vụ, mỗi người cũng cần tỉnh táo, sáng suốt khi sử dụng các tiện ích, cần cẩn trọng hơn trong các thói quen chia sẻ thông tin hoặc cài đặt ứng dụng. Người dùng nên hạn chế việc chia sẻ những thông tin ở chế độ công khai, thường xuyên kiểm tra cài đặt cũng như cập nhật các biện pháp bảo mật. Ðồng thời, mỗi người dùng cần nâng cao ý thức về quyền được bảo vệ dữ liệu của mình, nâng cao hiểu biết về cơ chế hoạt động, tính năng của các dịch vụ, các công cụ mà mình đang sử dụng, nhất là các dịch vụ miễn phí. Ðó là việc làm thiết thực để góp phần bảo vệ bản thân cũng như bảo vệ cộng đồng.

Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản nhìn từ lý luận về hình thái kinh tế - xã hội


Chủ nghĩa tư bản là (CNTB) một hình thái kinh tế - xã hội kìm hãm, cản trở, làm tha hóa con người, giải phóng con người trong CNTB là nhiệm vụ của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản trong tương lai. Thời C.Mác, quá trình biến đổi từ CNTB sang chủ nghĩa cộng sản (CNCS) chưa diễn ra, nhưng những phong trào đấu tranh để thay đổi CNTB đã khá sôi động: “từ hàng chục năm nay... là lịch sử cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại quan hệ sản xuất hiện đại...”

Trong điều kiện ấy, thật khó để chỉ ra đầy đủ và chi tiết về quá trình chuyển đổi cũng như những điều kiện và tiêu chuẩn để có sự chuyển đổi. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”.

Mô hình CNTB đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống (cuộc khủng hoảng mang tính đặc trưng, bản chất của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa), một số cuộc khủng hoảng được giai cấp tư sản chủ động can thiệt giải quyết, và cũng có một số cuộc khủng hoảng nằm ngoài tầm kiểm soát, can dự và điều chỉnh của CNTB. Sau mỗi lần khủng hoảng, mô hình CNTB lại có sự thay đổi: Từ CNTB cạnh tranh tự do sang CNTB độc quyền, từ CNTB độc quyền thành CNTB độc quyền nhà nước.

Trong tác phẩm Cấu trúc của các cuộc cách mạng, trình bày về các cuộc cách mạng khoa học và những mối liên hệ của nó với thực tiễn, Thomas S.Kuhn (1922-1996) đã đưa ra quan niệm về mối liên hệ này. Ông cho rằng khoa học phát triển là sự đan xen giữa: giai đoạn khoa học bình thường (normal science) với lý thuyết đã định hình phản ánh thực tiễn chưa có những thay đổi bước ngoặt. Giai đoạn khoa học bất thường (abnormal science) đi kèm với sự xuất hiện lý thuyết đột phá cũng là những sự biến động lớn lao trong thực tiễn. Cuộc sống bình thường thì khoa học bình thường là chủ đạo, còn khoa học bất thường là giai đoạn cách mạng của cuộc sống. Đây là vấn đề được C.Mác nêu ra trước đó khá lâu. Chính C.Mác đã dự báo về những cuộc cách mạng khoa học bình thường diễn ra thường xuyên trong CNTB: “Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội”. C.Mác cho rằng, lý luận khoa học có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động thực tiễn. Ông nói đại ý: lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng. Như vậy, ông là người đã chỉ ra vai trò rất quan trọng của các cuộc cách mạng khoa học đối với sự phát triển của xã hội thông qua hình tượng của lý luận khoa học. Trong CNTB bình thường, có các chu kỳ kinh doanh, khủng hoảng thành phần như: khủng hoảng thừa, cuộc khủng hoảng sản xuất, tài chính,v.v.. thường xuyên diễn ra và giải quyết khủng hoảng đó đã thúc đẩy CNTB biến đổi và phát triển. Những cuộc khủng hoảng có thể gây đau đớn, thậm chí rất đau đớn, nhưng không đe doạ sự tồn tại của CNTB “Mỗi cuộc khủng hoảng đều phá hoại không những một số lớn sản phẩm đã được tạo ra, mà cả một phần lớn chính ngay những lực lượng sản xuất đã có".

Gần đây cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị ở EU do nợ công ở Hy Lạp và Síp năm 2015, sự kiện Brexit của nước Anh đã không gây ra sự đổ vỡ và biến mất của EU như người ta lo ngại. Các cuộc khủng hoảng kinh tế bất thường, cho đến thời điểm này chưa xảy ra (Cuộc khủng hoảng kinh tế 1933 và kết quả của nó là sự ra đời hệ thống XHCN Liên Xô và Đông Âu nhưng kết cục lại vẫn chưa phải là cuộc khủng hoảng dẫn đến CNTB bị xóa sổ và ra đời CNCS và như vậy nó vẫn là cuộc khủng hoảng bình thường, CNTB vẫn có thể điều chỉnh để thay đổi mô hình của CNTB). Như vậy, điều C.Mác muốn nói đến chính là cuộc khủng hoảng của “Chủ nghĩa tư bản bất bình thường”, đó là cuộc khủng hoảng nhiều mặt, dẫn đến kết quả là một cuộc khủng hoảng khổng lồ mà giai cấp tư sản không thể kiểm soát được mới là cuộc khủng hoảng cho ra đời CNCS./.

ĐỘNG LỰC THỰC HIỆN THẮNG LỢI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

 

   Sau Chiến thắng Việt Bắc (Thu Đông 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra sáng kiến tổ chức, lãnh đạo phong trào thi đua ái quốc để giành thắng lợi to lớn hơn. Chấp thuận đề nghị của Người, ngày 27-3-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc. Thực hiện chỉ thị này, nhân kỷ niệm 1.000 ngày, Ngày Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 23-9-1945, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”.

   Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiệu triệu, lôi cuốn, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều phong trào thi đua yêu nước mang lại hiệu quả thiết thực, như: Tuần lễ vàng, Bình dân học vụ, vận động “Đời sống mới”, Quỹ Độc lập, Quỹ đảm phụ Quốc phòng... thu hút được sự tham gia, hưởng ứng của mọi người, mọi nhà, mọi ngành, mọi lứa tuổi, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào: Sóng Duyên hải, Gió Đại Phong, Cờ Ba nhất, Trống Bắc Lý, Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang, Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt, Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược... được các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị phát động, đạt hiệu quả thiết thực tạo nên động lực to lớn, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.


   Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách về thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng (TĐKT), triển khai thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua và công tác TĐKT, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Đặc biệt là, trong 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác TĐKT, về tổ chức các phong trào thi đua yêu nước đã được Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành ban hành và không ngừng bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước trong tình hình mới, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Công tác phát hiện, tôn vinh, bồi dưỡng và nhân rộng các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, các anh hùng, chiến sĩ thi đua được chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả, tạo sức lan tỏa rộng lớn trong toàn xã hội. Qua đó, động viên được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, trở thành động lực to lớn, góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của đất nước.

   Trong 5 năm trở lại đây, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, quan điểm của Đảng, Nhà nước về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của phong trào thi đua yêu nước và công tác TĐKT, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động, gắn kết chặt chẽ giữa thực hiện các phong trào thi đua với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Kịp thời biểu dương, tôn vinh các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc, gương điển hình tiên tiến ở các ngành, các cấp, các lĩnh vực; cổ vũ tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN).

   Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị nỗ lực phấn đấu, thi đua vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, các nhiệm vụ, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực, tạo những dấu ấn nổi bật. Thông qua công tác TĐKT góp phần đưa kinh tế đất nước ổn định, tăng trưởng cao; sức cạnh tranh, tiềm lực và quy mô của nền kinh tế được nâng lên. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả rõ rệt. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu. Chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đặc biệt, trước tác động của đại dịch Covid-19, gây ra nhiều thiệt hại về KT-XH và sự phát triển của đất nước; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đồng sức, đồng lòng, quyết tâm thi đua, từng bước kiểm soát dịch bệnh, từng bước phục hồi sản xuất, kinh doanh; ổn định đời sống, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

   Thời gian tới, để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác TĐKT; đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong chỉ đạo tổ chức công tác TĐKT, nhất là người đứng đầu cấp ủy, thủ trưởng, chỉ huy các cơ quan, đơn vị. Công tác TĐKT phải hướng đến, làm cho mỗi tổ chức, cá nhân phải luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Cùng với đó, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện những điển hình tiên tiến; khắc phục bệnh thành tích, tính hình thức trong TĐKT./.

Tự giác nêu gương - điểm nổi bật trong xây dựng Đảng về đạo đức

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, “nêu gương” luôn là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó cán bộ, đảng viên “tự giác nêu gương” là điểm nổi bật. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương trao thưởng cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW. Những thành tựu vĩ đại, to lớn, có ý nghĩa lịch sử từ khi có Đảng lãnh đạo tới nay đã khẳng định một trong những phương thức lãnh đạo đúng đắn của Đảng là “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Đảng nêu rõ: “Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(1) và coi đó là một trong những nội dung phương thức lãnh đạo quan trọng. Trong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có gần 500 lần viết và luận giải về vấn đề “gương mẫu” ở những khía cạnh khác nhau. Người luôn “đòi hỏi mỗi cán bộ phải làm gương mẫu”(2) và chỉ ra những nội hàm của “gương mẫu”. Người chỉ rõ: “Người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị nào và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn: Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải gần gũi dân chúng, thương yêu, giúp đỡ dân chúng, tổ chức và lãnh đạo dân chúng. Phải giữ vững đạo đức cách mệnh, là chí công vô tư”(3). Đảng viên tự giác nêu gương chính là làm gương thấm nhuần và thực hiện nghiêm đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên luôn là những chuẩn mực đạo đức để quần chúng soi rọi, noi theo. Nếu đảng viên không gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống, thì chủ trương, chính sách của Đảng khó có thể trở thành hiện thực, thậm chí bị thực hiện sai, nhân dân thiếu tin tưởng vào chủ trương, chính sách, công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động của Đảng sẽ mất đi ý nghĩa thực tiễn. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên luôn là những chuẩn mực đạo đức để quần chúng soi rọi, noi theo. Đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay chính là nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, sự hy sinh quên mình và những tấm gương mẫu mực, trong sáng về tinh thần tận trung với nước, với Đảng, tận hiếu với dân của lớp lớp thế hệ cán bộ, đảng viên. “Thực hiện đồng bộ với các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(4) là một trong những nội dung phương pháp quan trọng để Đảng phát huy vai trò, xứ mệnh của mình. Vì vậy, một số lãnh đạo chủ chốt các cấp đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ do tổ chức phân công được quần chúng yêu mến, tín nhiệm. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên công chức, viên chức chưa gương mẫu”(5), chưa thể hiện vai trò tiên phong trước quần chúng nhân dân. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đặc biệt, có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương chức và đã nghỉ hưu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. Điều đó đã gây ra dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, tổn hại đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, hạ thấp sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tăng cường phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên tạo sự lan tỏa, thúc đẩy phong trào cách mạng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, cần thực hiện nghiêm túc, thực chất một số nội dung, giải pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp về việc “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên không tự nhiên mà có, mà phải do quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có. Cho nên, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng như: Quy định 101-QÐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016, của Bộ Chính trị về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018, của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Đặc biệt là Chỉ thị 01-CT/TW ngày 9/3/2021 của Bộ Chính trị về việc “Nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Việc nêu gương của cán bộ, đảng viên đã thể hiện rõ phương thức lãnh đạo của Đảng. Trên cơ sở các quy định của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quán triệt, cụ thể hóa, xây dựng thành những quy định cụ thể về “tự giác nêu gương” sao cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, chức trách của cán bộ, đảng viên. Từ đó, cán bộ, đảng viên phải dựa vào các quy định ấy mà cam kết, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của bản thân về mọi mặt; đồng thời, “tự soi, tự sửa” bản thân mình trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện chức trách, nhiệm vụ trên cương vị, được giao. Hai là, “tự giác nêu gương” tạo sự lan toả, thúc đẩy các phong trào cách mạng tiến lên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người chiến sĩ gương mẫu thì không bao giờ tự mãn tự túc, mà cố gắng tiến bộ mãi”(6). Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò lãnh đạo, cầm quyền, luôn coi trọng việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, trong đó sự tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu có ý nghĩa quyết định đến sự thành, bại của sự nghiệp cách mạng. Đảng viên tự giác nêu gương không chỉ là một yêu cầu đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn được đặt ra như là một chuẩn mực đạo đức của người đảng viên - “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”(7). Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên chính là để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng, tạo sự lan toả, thúc đẩy các phong trào cách mạng tiến lên. Nhất là cán bộ, đảng viên “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(8). Cán bộ, đảng viên là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, vì thế cán bộ, đảng viên phải đi trước, lo trước thiên hạ và vui sau thiên hạ để dẫn dắt quần chúng, tạo ra phong trào cách mạng rộng lớn. Tự giác nêu gương không chỉ ở lời nói mà còn ở chính việc làm của cán bộ, đảng viên. Bởi vì, cán bộ, đảng viên là người dẫn dắt quần chúng, muốn quần chúng làm theo thì bản thân phải là tấm gương, phải “cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc”(9); phải tự giác nêu gương toàn diện, không chỉ về tư tưởng, chính trị mà còn phải nêu gương về đạo đức, lối sống; không chỉ nêu gương trong lời nói mà còn nêu gương cả trong việc làm trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh một cách tự giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”(10). Nếu cán bộ, đảng viên không có uy tín với xóm làng, khối phố, khu dân cư thì không thể nói họ gương mẫu được; cũng không thể nói là nêu gương, nếu cán bộ, đảng viên chỉ “thuyết giáo” - yêu cầu mọi người chấp hành pháp luật, còn mình thì “đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật”. Đại hội XIII của Đảng xác định: “tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa thúc đẩy các phong trào cách mạng”(11). Theo đó, cán bộ, đảng viên “tự giác nêu gương” không chỉ nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, mà còn thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu tạo sự lan tỏa trong xã hội, thúc đẩy các hoạt động thực tiễn, phong trào cách mạng liến lên. Ba là, “tự giác nêu gương” học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tự học tập, rèn luyện của cán bộ, đảng viên cũng phải tuân theo các vấn đề có tính nguyên tắc như: Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn; nâng cao kiến thức, kỹ năng gắn liền với phát triển, củng cố bản lĩnh chính trị vững vàng. Chính vì vậy, cán bộ, đảng viên không chỉ tự rèn luyện về trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác mà còn tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ với tinh thần “tự giác gương mẫu” nhất. Để việc tự giác gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có hiệu quả, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng, đầy đủ những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cụ thể hóa việc học tập và làm theo bằng những việc làm cụ thể hằng ngày, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Qua đó nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, trách nhiệm của mỗi người trong hệ thống chính trị, tự giác nêu gương về mọi mặt, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ mọi mặt; quan tâm giúp đỡ, động viên cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, xây dựng kế hoạch phấn đấu vươn lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố”(12). Cán bộ, đảng viên không chỉ tự học qua sách, báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, mà phải tự học tập lẫn nhau và thông qua hoạt động thực tiễn để thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần chúng, làm cho phong trào đó phát triển đúng định hướng chính trị và qua đó tự rèn luyện mình. Phải thực sự sâu sát với quần chúng, quý trọng nhân dân, gương mẫu về mọi mặt, thì mới tổ chức, tuyên truyền và vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Bốn là, “tự giác nêu gương” đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Cán bộ, đảng viên phải “tự giác nêu gương” trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách gương mẫu nhất. Phải nhận thức rõ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên. Trước những thông tin xuyên tạc, các quan điểm sai trái, từng cán bộ, đảng viên cần khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; không ngừng trau dồi để có trình độ lý luận sắc bén trong quá trình đấu tranh... Với phương châm “mỗi đảng viên là một tuyên truyền viên của Đảng”, bằng kiến thức của mình, cán bộ, đảng viên phải là những người đi đầu trong tuyên truyền, giải thích cho quần chúng ở địa phương, đơn vị hiểu rõ bản chất sai trái, không nghe, không tin theo các thông tin xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng ta khẳng định: “Kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”(13). Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thường xuyên cung cấp thông tin chính thống, vạch rõ tính chất sai trái, xuyên tạc; cung cấp luận cứ khoa học, chứng cứ thực tiễn để cán bộ, đảng viên có cơ sở đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị. Năm là, “tự giác nêu gương” ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cán bộ, đảng viên “tự giác nêu gương” chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, luật pháp Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống. Kiên quyết đấu tranh với “lợi ích nhóm” và những tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm về phẩm chất đạo đức, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để phát hiện, uốn nắn và “xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm”(14). Cần xây dựng quy chế, quy định cụ thể để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, chi bộ nơi công tác, nơi cư trú; ngăn chặn việc tự đặt bản thân lên trên tổ chức, lên trên tập thể; kiên quyết khắc phục tình trạng e dè, nể nang, bao che, lảng tránh trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát. Dựa vào nhân dân và đề cao trách nhiệm của nhân dân trong kiểm tra, giám sát, đánh giá, nhận xét năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống, các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên./.

Chuyện chửi, xưa và nay

Chửi, từ xưa đến nay vẫn là... chửi. Đó là hiện tượng "thốt ra những lời thô tục, cay độc để xúc phạm, làm nhục người khác" (Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2020). Rõ ràng, chửi là một hành động ngôn từ không bình thường. Mọi nhà ngôn ngữ đều xếp chửi vào nhóm những ngôn từ "phản chuẩn", "kém văn hoá". Nhưng thử hỏi, có ai trên đời này lại không bao giờ thốt ra lời chửi rủa? Nguyễn Thị Tuyết Ngân, trong bài "Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong các lối chửi của người Việt" (Việt Nam: Những vấn đề Ngôn ngữ và Văn hoá, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, 1993) có nói: "Chửi là hiện tượng mà, có lẽ, dân tộc nào cũng có và có từ rất lâu đời. Trong một số loại hình văn hoá dân gian (truyện cổ tích, thành ngữ) đã thấy có những yếu tố của hiện tượng này". Trần Thị Hoàng Yến (trong luận án tiến sĩ với đề tài Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam, bảo vệ tại Trường Đại học Vinh, 2014) cũng cho rằng: "Trên thực tế, hành động chửi vẫn tồn tại và phát triển trong lời nói ở những giai tầng xã hội khác nhau, cả những người có trình độ văn hoá thấp đến những người có trình độ văn hoá cao, cả nam lẫn nữ, cả người cao tuổi lẫn người ít tuổi". Theo Nguyễn Thị Tuyết Ngân (1993), "Chửi là một hiện tượng văn hoá ngôn từ phản chuẩn, bày tỏ một cách chủ động phản ứng bất bình nhằm làm giảm căng thẳng tinh thần của người chửi và hạ uy tín người bị chửi". Như vậy, chửi xuất phát từ một nhu cầu tự thân của người chửi. Ai đó cảm thấy bất bình trước hiện thực, nhất là khi quá bức xúc khi chính mình bị xúc phạm hay bị tổn thương mất mát về vật chất (mất gà, mất chó, mất của... chẳng hạn) thì sẽ tìm cách "xả cơn giận" bằng việc chửi. Tất nhiên, không phải cứ "quá bức xúc, quá bực bội" đều thốt ra câu chửi. Và cũng không phải mọi lời chửi đều giống nhau. Tiếng Việt có khá nhiều từ ngữ phản ánh sự đa dạng, phong phú và sinh động của hành động chửi: chửi bới, chửi bới móc, chửi doạ, chửi đổng, chửi mắng, chửi rủa, chửi thề, chửi trách. Nhưng chửi gì thì chửi, mục đích của người chửi là dùng lời lẽ thô tục để làm nhục, làm mất thể diện người khác. Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ xung đột vì người bị chửi có thể phản ứng lại. Cũng có thể họ chửi lại. Cũng có thể sẽ xảy ra bạo lực (đánh nhau, thậm chí dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, như gây thương tích, chết người). Người chửi thường dùng những lời lẽ xấu xa, cay độc nhất để miệt thị làm mất mặt đối tượng. Ngôn từ đưa ra, theo Nguyễn Thị Tuyết Ngân, chia thành 4 nhóm lớn: 1) Những từ thuần Việt chỉ các bộ phận sinh dục nam và nữ (riêng những từ Hán Việt tương ứng không có chức năng này); 2) Những từ chỉ tên những súc vật có đặc tính xấu: chó, lợn, bò, khỉ (khỉ đột, tiều/tườu, nỡm, bú dù), dê (dê cụ), rắn, rết, giòi bọ...; 3) Những từ chỉ một thứ "giả người", chưa đủ tiêu chuẩn người: bất nhân, giả nhân giả nghĩa, ngợm, mãnh, ranh, ma, quái, quỷ, yêu tinh...; 4) Những từ chỉ người với sắc thái đánh giá âm tính, vi phạm chuẩn mực xã hội (a. về nghề nghiệp: mỏ, cu li, ba gác, xích lô...; b. về sinh lí: chột, què, gù, tuyệt tự,...; c. về trí tuệ: ngu, ngốc, dốt, điên, khùng, hâm...; d. về tín ngưỡng: vô đạo, phản chúa...; e. về đạo lí: đểu cáng, độc ác, ác ôn...; g. về pháp luật: phản động, lừa đảo, ăn cắp...). Ngoài ra, "trong tiếng Việt còn có nhóm từ chửi đặc biệt, đó là lớp các tên riêng liên quan đến tục chửi "tên cái": tên bố mẹ, ông bà, v.v. (cho đến các từ thay thế như tam đại, tứ đại)". Tức là tất cả những gì có thể làm ảnh hưởng tới tư cách và nhân cách với người bị chửi, với mục đích hạ uy tín "ngay và luôn", tới mức cao nhất với người bị chửi. Như vậy, qua từ ngữ chửi, cách chửi, lối chửi, người ta đã cố tình vi phạm các quy cách chuẩn mực trong giao tiếp thường gặp, bỏ qua mọi yếu tố nghi thức lịch sự tối thiểu. Bình thường là "xưng khiêm hô tôn" (xưng khiêm nhường, gọi tôn kính) nhưng khi "xắn quần, tốc váy" lên để chửi thì sẽ là "xưng tôn hô khiêm" (xưng thì tự đề cao mình, nhưng gọi lại hạ thấp người khác). Họ sẵn sàng xưng là tao, bố mày, ông nội mày... và gọi đối tượng bằng những cái tên thấp hèn như mày, đồ chó, thằng ngu, thằng mặt mẹt, thằng mặt l. (và sau đó, có thể sẽ cho "cái quân khốn nạn" đó ăn đủ mọi thứ cặn bã trên đời này). Đó là lối chửi đời thường. Trong văn học, người ta cũng đưa hành vi chửi vào các văn bản mang tính nghệ thuật (Nguyễn Khuyến từng viết: Khốn nạn thân ông/ Đéo mẹ cha nó; Tố Hữu cũng viết: Mả bố nhà nó/ Nịnh Tây hết thời...). Tuy nhiên, trong thơ văn nói chung, người ta sử dụng một cách hạn chế và mức độ cũng nhẹ hơn nhiều.

Tự do và tùy tiện

Cuối tuần, thấy con trai suy tư tỏ vẻ mệt mỏi, ông K vỗ vai ôn tồn: - Gớm, mới lên trưởng phòng được gần 3 tháng mà trông con có vẻ “xuống phong độ” thế. Cần bố “quân sư” gì không? Anh con trai thẽ thọt: - Dạ, cũng đau đầu chút bố ạ. Chuyện nhỏ lại thành to mới buồn! - Tóm lại là thế nào? Anh nói rõ bố nghe xem nào. - Bên con hôm rồi họp sơ kết đợt thi đua ba tháng đầu năm mà “mổ trâu, mổ bò” mệt. Từ khi con về phòng tới giờ hơn 15 năm chưa thấy thế bao giờ, hay tại con mới “lên”, mọi người muốn thử trình độ quản lý, cách xử lý của con hả bố? Ai lại vào cuộc họp, sau khi con trình bày gợi ý vài nội dung để sơ kết, nhận xét, một số anh “cứng”, vốn có thâm niên lâu năm, từ nhẹ nhàng, sau “tăng âm lượng”, rồi đứng lên đập bàn, to tiếng với nhau. Từ tranh luận hai bên, để xem ai làm tốt hơn, nhiều hơn, rồi chuyển sang không khác gì cãi nhau tay đôi, xúc phạm lẫn nhau. Thấy tình hình căng, con lên tiếng để giữ nhịp cuộc họp, thì mấy anh chị lại cho rằng, con ngăn cản quyền tự do phát biểu, thiếu dân chủ, áp đặt. Con buộc phải dừng họp giữa chừng, hoãn sang hôm khác, lấy lý do để mọi người bình tĩnh lại… - À ra thế. Thế giờ trưởng phòng định như thế nào nói bố nghe! - Con chắc sẽ gặp riêng từng anh chị làm “tư tưởng”, đả thông, phân tích. Con nghe lời bố từng nói trước đây, có những vấn đề cần nói riêng, có lý lẽ, tình cảm, để họ hiểu, có những việc lại phải nói chung, bàn chung để tìm sự đồng thuận. Nhưng nói như thế nào thì con đang nghĩ. Các anh chị ấy cũng lâu năm rồi, sẵn sàng “choang” luôn chứ không nể nang đâu. Ông K vừa nhâm nhi chén trà vừa rủ rỉ vỗ vai con trai: - Bố nói thế này con thấy được không nhé. Trước hết, con cần xem nội dung cuộc tranh luận đó đúng hay sai? Nếu đúng thì ghi nhận, xem xét. Nếu sai, phải chấn chỉnh, vạch rõ, mà cái này cần phân tích chung ở cuộc họp để tập thể đồng thuận, phân tích với cá nhân để họ thực sự thuyết phục, hiểu thấu. Sau đến, thái độ khi phát biểu. Con đang lăn tăn cái mà họ ngụy biện, họ chất vấn lại anh về quyền tự do ý kiến phải không? Anh con trai gật gật đầu: - Vâng ạ, đúng rồi bố! Ông K chậm rãi: “Tự do là một trạng thái mà bất kỳ ai cũng mong muốn và hướng tới. Tuy nhiên, tự do luôn mang tính nhân văn sâu sắc, phải đặt trong mối quan hệ với các cá nhân khác, với tập thể, với xã hội. Tự do phải xây dựng trên cơ sở của sự tôn trọng. Xã hội, tập thể tôn trọng cá nhân, nhưng ngược lại cá nhân này phải tôn trọng cá nhân khác cũng như tập thể. Con công nhận như thế không?” - Quay lại trường hợp của phòng con, bố thấy thế này. Ai cũng có quyền tự do phát ngôn, tự do đánh giá, nhận định, nhưng phải trong khuôn khổ. Tự do đó phải tuân thủ quy định, quy chế, quy ước của cơ quan, tập thể. Tự do phát ngôn trên cơ sở tôn trọng nhau, tôn trọng tập thể, nói cách khác, tự do được thể hiện một cách có văn hóa. Ở đây, trong khuôn khổ cuộc họp, có sự chủ tọa của con là trưởng phòng, mà hai, ba hay hơn số người đó đứng lên to tiếng, cãi vã không trên tinh thần xây dụng, lợi dụng “tự do phát ngôn”, lợi dụng quy chế dân chủ để vượt lên trên cả tự do, dân chủ, thì phải chăng “tự do” đã trở thành “tùy tiện”. Mà đã là “tùy tiện” thì ranh giới của sự tôn trọng, của văn minh, của văn hóa không còn nữa. Trên thực tế, từ “tự do” tới “tùy tiện” rất gần! Nhân danh “tự do” để “tùy tiện” trong tranh luận, trong trao đổi, trong đánh giá, để “lớn tiếng”, gây gổ, thậm chí văng tục trong cuộc họp như con nói là “điểm trừ”. Cần phải phê bình, uốn nắn nghiêm túc, cho dù đó là những cá nhân có thâm niên công tác. Đối với riêng con, còn trẻ, giữ vị trí lãnh đạo, cần thể hiện rõ vai trò đầu tàu, vai trò “cầm chịch”, giữ nhịp cho phòng, góp phần xây dựng văn hóa cho tập thể. Dứt khoát cần loại bỏ những biểu hiện tùy tiện, lấy danh nghĩa “tự do” vì sự tự mãn, nóng nảy của bản thân mà xâm phạm sự tự do, xâm phạm trạng thái văn hóa, văn minh của tập thể. Con nên bàn bạc với tập thể lãnh đạo, với chi ủy, với công đoàn của phòng để thống nhất hướng xử lý tình huống vừa rồi. - Bố làm con “sáng” ra bao nhiêu! Con hiểu rồi bố ạ! - Hiểu, hiểu thì tập trung phân tích, đánh giá, suy nghĩ lại mà điều hành hôm tới cho ra ngô, ra khoai, ông trưởng phòng ạ!