Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021
Không thể xuyên tạc, bóp méo hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam
Lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để bịa đặt, vu cáo
Nêu cao tính gương mẫu thực hiện chính sách, pháp luật của đảng viên
Trách nhiệm, tính tiền phong của cán bộ, đảng viên trước các vấn đề hệ trọng của đất nước
Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng
Một số giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng
Ngăn chặn và cảnh giác trước nguy cơ từ internet
Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản nhìn từ lý luận về hình thái kinh tế - xã hội
Chủ nghĩa tư bản là (CNTB) một hình thái kinh tế - xã hội kìm hãm, cản trở, làm tha hóa con người, giải phóng con người trong CNTB là nhiệm vụ của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản trong tương lai. Thời C.Mác, quá trình biến đổi từ CNTB sang chủ nghĩa cộng sản (CNCS) chưa diễn ra, nhưng những phong trào đấu tranh để thay đổi CNTB đã khá sôi động: “từ hàng chục năm nay... là lịch sử cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại quan hệ sản xuất hiện đại...”
Trong điều kiện ấy, thật khó để chỉ ra đầy đủ và chi tiết về quá trình chuyển đổi cũng như những điều kiện và tiêu chuẩn để có sự chuyển đổi. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”.
Mô hình CNTB đã trải qua nhiều cuộc khủng
hoảng mang tính hệ thống (cuộc khủng hoảng mang tính đặc trưng, bản chất của
hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa), một số cuộc khủng hoảng được giai
cấp tư sản chủ động can thiệt giải quyết, và cũng có một số cuộc khủng hoảng nằm
ngoài tầm kiểm soát, can dự và điều chỉnh của CNTB. Sau mỗi lần khủng hoảng, mô
hình CNTB lại có sự thay đổi: Từ CNTB cạnh tranh tự do sang CNTB độc quyền, từ
CNTB độc quyền thành CNTB độc quyền nhà nước.
Trong tác phẩm Cấu trúc của các cuộc
cách mạng, trình bày về các cuộc cách mạng khoa học và những mối liên hệ của nó
với thực tiễn, Thomas S.Kuhn (1922-1996) đã đưa ra quan niệm về mối liên hệ
này. Ông cho rằng khoa học phát triển là sự đan xen giữa: giai đoạn khoa học
bình thường (normal science) với lý thuyết đã định hình phản ánh thực tiễn chưa
có những thay đổi bước ngoặt. Giai đoạn khoa học bất thường (abnormal science)
đi kèm với sự xuất hiện lý thuyết đột phá cũng là những sự biến động lớn lao
trong thực tiễn. Cuộc sống bình thường thì khoa học bình thường là chủ đạo, còn
khoa học bất thường là giai đoạn cách mạng của cuộc sống. Đây là vấn đề được
C.Mác nêu ra trước đó khá lâu. Chính C.Mác đã dự báo về những cuộc cách mạng
khoa học bình thường diễn ra thường xuyên trong CNTB: “Giai cấp tư sản không thể
tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng
hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội”.
C.Mác cho rằng, lý luận khoa học có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động
thực tiễn. Ông nói đại ý: lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng
vật chất, nhưng lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó
thâm nhập vào quần chúng. Như vậy, ông là người đã chỉ ra vai trò rất quan trọng
của các cuộc cách mạng khoa học đối với sự phát triển của xã hội thông qua hình
tượng của lý luận khoa học. Trong CNTB bình thường, có các chu kỳ kinh doanh,
khủng hoảng thành phần như: khủng hoảng thừa, cuộc khủng hoảng sản xuất, tài
chính,v.v.. thường xuyên diễn ra và giải quyết khủng hoảng đó đã thúc đẩy CNTB
biến đổi và phát triển. Những cuộc khủng hoảng có thể gây đau đớn, thậm chí rất
đau đớn, nhưng không đe doạ sự tồn tại của CNTB “Mỗi cuộc khủng hoảng đều phá
hoại không những một số lớn sản phẩm đã được tạo ra, mà cả một phần lớn chính
ngay những lực lượng sản xuất đã có".
Gần đây cuộc khủng hoảng kinh tế và
chính trị ở EU do nợ công ở Hy Lạp và Síp năm 2015, sự kiện Brexit của nước Anh
đã không gây ra sự đổ vỡ và biến mất của EU như người ta lo ngại. Các cuộc khủng
hoảng kinh tế bất thường, cho đến thời điểm này chưa xảy ra (Cuộc khủng hoảng
kinh tế 1933 và kết quả của nó là sự ra đời hệ thống XHCN Liên Xô và Đông Âu
nhưng kết cục lại vẫn chưa phải là cuộc khủng hoảng dẫn đến CNTB bị xóa sổ và
ra đời CNCS và như vậy nó vẫn là cuộc khủng hoảng bình thường, CNTB vẫn có thể
điều chỉnh để thay đổi mô hình của CNTB). Như vậy, điều C.Mác muốn nói đến
chính là cuộc khủng hoảng của “Chủ nghĩa tư bản bất bình thường”, đó là cuộc khủng
hoảng nhiều mặt, dẫn đến kết quả là một cuộc khủng hoảng khổng lồ mà giai cấp
tư sản không thể kiểm soát được mới là cuộc khủng hoảng cho ra đời CNCS./.
ĐỘNG LỰC THỰC HIỆN THẮNG LỢI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
Sau Chiến thắng Việt Bắc (Thu Đông 1947), Chủ
tịch Hồ Chí Minh đề ra sáng kiến tổ chức, lãnh đạo phong trào thi đua ái quốc để
giành thắng lợi to lớn hơn. Chấp thuận đề nghị của Người, ngày 27-3-1948, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc. Thực
hiện chỉ thị này, nhân kỷ niệm 1.000 ngày, Ngày Nam Bộ kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược 23-9-1945, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi
thi đua ái quốc”.
Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiệu triệu, lôi cuốn, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều phong trào thi đua yêu nước mang lại hiệu quả thiết thực, như: Tuần lễ vàng, Bình dân học vụ, vận động “Đời sống mới”, Quỹ Độc lập, Quỹ đảm phụ Quốc phòng... thu hút được sự tham gia, hưởng ứng của mọi người, mọi nhà, mọi ngành, mọi lứa tuổi, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào: Sóng Duyên hải, Gió Đại Phong, Cờ Ba nhất, Trống Bắc Lý, Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang, Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt, Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược... được các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị phát động, đạt hiệu quả thiết thực tạo nên động lực to lớn, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.
Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống
nhất, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Đảng, Nhà nước ta đã
xây dựng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách về thi đua yêu nước và công tác
thi đua, khen thưởng (TĐKT), triển khai thực hiện có hiệu quả các phong trào
thi đua và công tác TĐKT, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.
Đặc biệt là, trong 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, nhiều chủ
trương, chính sách, pháp luật về công tác TĐKT, về tổ chức các phong trào thi
đua yêu nước đã được Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành ban hành và không ngừng bổ
sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước trong tình hình
mới, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Công tác phát
hiện, tôn vinh, bồi dưỡng và nhân rộng các gương “người tốt, việc tốt”, các mô
hình, các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, các anh hùng, chiến sĩ thi đua
được chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả, tạo sức lan tỏa rộng lớn trong
toàn xã hội. Qua đó, động viên được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
của cả hệ thống chính trị, trở thành động lực to lớn, góp phần tích cực vào thực
hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
(KT-XH) của đất nước.
Trong 5 năm trở lại đây, quán triệt sâu sắc
tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, quan điểm của Đảng, Nhà nước về vị
trí, vai trò, tầm quan trọng của phong trào thi đua yêu nước và công tác TĐKT,
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước,
phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động, gắn kết chặt chẽ giữa thực
hiện các phong trào thi đua với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh. Kịp thời biểu dương, tôn vinh các tập thể, cá nhân
đạt thành tích xuất sắc, gương điển hình tiên tiến ở các ngành, các cấp, các
lĩnh vực; cổ vũ tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường,
quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị nỗ
lực phấn đấu, thi đua vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi
các mục tiêu, các nhiệm vụ, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh
vực, tạo những dấu ấn nổi bật. Thông qua công tác TĐKT góp phần đưa kinh tế đất
nước ổn định, tăng trưởng cao; sức cạnh tranh, tiềm lực và quy mô của nền kinh
tế được nâng lên. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt
nhiều kết quả rõ rệt. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá hiệu quả, ngày càng đi vào chiều
sâu. Chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố;
quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế,
uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đặc biệt, trước tác động
của đại dịch Covid-19, gây ra nhiều thiệt hại về KT-XH và sự phát triển của đất
nước; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đồng sức, đồng lòng, quyết tâm thi đua,
từng bước kiểm soát dịch bệnh, từng bước phục hồi sản xuất, kinh doanh; ổn định
đời sống, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế
độ XHCN.
Thời gian tới, để khơi dậy khát vọng phát
triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta
trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
XIII của Đảng, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị cần tiếp tục quán triệt
sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, đường lối, chủ trương của Ðảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác TĐKT; đề cao trách nhiệm của các
cấp ủy, tổ chức đảng trong chỉ đạo tổ chức công tác TĐKT, nhất là người đứng đầu
cấp ủy, thủ trưởng, chỉ huy các cơ quan, đơn vị. Công tác TĐKT phải hướng đến,
làm cho mỗi tổ chức, cá nhân phải luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định
đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; khơi dậy
mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất
là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới
cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực
cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xây
dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm
vụ. Cùng với đó, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát
hiện những điển hình tiên tiến; khắc phục bệnh thành tích, tính hình thức trong
TĐKT./.

