Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

Nhận diện những phương thức mới trong thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội

Phi chính trị hoá” quân đội là âm mưu cơ bản, xuyên suốt của các thế lực thù địch trong quá trình chống phá QĐND Việt Nam. Tuy nhiên, trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các thế lực thù địch thực hiện những phương thức khác nhau, phù hợp với những đặc điểm của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch dùng mọi phương thức trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để chống phá cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là một trong những mũi tấn công chủ yếu nhằm tìm cách thủ tiêu, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; làm cho quân đội không phải là “phi chính trị”, mà là từ “phi chính trị” cách mạng-chính trị vô sản chuyển sang một thứ chính trị khác-chính trị tư sản! 'Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là Cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình toàn cầu hóa không chỉ tiếp tục được khẳng định như một xu hướng tất yếu mà còn có xu hướng phát triển ngày càng nhanh cả về quy mô, tốc độ, tính chất và phạm vi ảnh hưởng. Những khái niệm như “biên giới mềm”, “thế giới phẳng” đang được người ta sử dụng để biện hộ cho một quan niệm phi lý rằng, thế giới ngày nay không còn có các chế độ chính trị-xã hội khác nhau, đối lập nhau, để đi tới một thế giới “phi chính trị”, mà thực chất là đem hệ tư tưởng chính trị tư­ sản áp đặt lên tất cả các quốc gia dân tộc! Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trước sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, bên cạnh những mặt tác động tích cực, thì quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế không thể không chịu sự tác động từ mặt tiêu cực, không chỉ về kinh tế, mà còn về văn hóa, xã hội, thậm chí cả về chính trị tư tưởng. Đối với Quân đội ta, quá trình thực hiện phương hướng xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhất là quá trình từng bước hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong mọi tình huống, chúng ta không thể không thực hiện quá trình mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Dưới tác động của những đặc điểm mới trên đây, trong thực hiện phương thức “phi chính trị hóa” Quân đội ta hiện nay, đi đôi với những phương thức quen thuộc, các thế lực thù địch đang và sẽ triệt để tận dụng những đặc điểm của bối cảnh tình hình mới đó để tấn công phá hoại trận địa tư tưởng trong Quân đội ta. Thông qua việc triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, nhất là thông qua mạng internet toàn cầu, thông qua các trang mạng xã hội; thông qua những “đoàn ra”, “đoàn vào” của Việt Nam và của các nước, các tổ chức có quan hệ với Việt Nam; thông qua việc gửi cán bộ, nhân viên đi nghiên cứu, tham quan, học tập ở nước ngoài và việc người nước ngoài đến Việt Nam ngày càng nhiều với nhiều mục đích khác nhau, các thế lực thù địch đang và sẽ tiếp tục tấn công toàn diện vào nền tảng tư tưởng của Quân đội ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Làm cho cán bộ, chiến sĩ quân đội dần dần phai nhạt niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng XHCN, dần dần xa rời hệ tư tưởng cách mạng, khoa học, từng bước tạo ra một “khoảng trống” về ý thức hệ, pha loãng, làm nhạt dần ý thức hệ vô sản để trượt dần sang ý thức hệ tư­ sản! Công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta trong những năm qua, đặc biệt là qua hơn 30 năm đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH), dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự phấn đấu phi thường của toàn dân, toàn quân ta, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chúng ta vẫn còn những hạn chế, bất cập. Hiện nay, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi mới tạo điều kiện cho chúng ta xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, thì chúng ta vẫn đang và sẽ phải tiếp tục đối mặt với những nguy cơ, khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch đang và sẽ tiếp tục lợi dụng những đặc điểm mới của tình hình để chống phá Quân đội ta, đẩy mạnh thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội bằng những phương thức mới ngày càng tinh vi hơn, xảo quyệt hơn, khó nhận biết hơn. Đáng chú ý là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, bên cạnh mặt tác động tích cực đến quá trình cách mạng nước ta, thì mặt tiêu cực của nó cũng ngày càng tác động mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến việc xây dựng quân đội cách mạng, cả về chính trị, đạo đức, lối sống, đoàn kết, dân chủ, kỷ luật. Những tiêu cực của xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí… đang có chiều hướng gia tăng; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; những yếu kém, bất cập trong quản lý đất nước, quản lý xã hội của một bộ phận cán bộ, công chức Nhà nước; những rạn nứt, những mâu thuẫn xã hội trong các tầng lớp nhân dân… đang và sẽ từng ngày, từng giờ tác động đến tư tưởng, tình cảm, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, đối với tính ưu việt của CNXH… Quá trình mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế, bên cạnh mặt tích cực thúc đẩy quá trình phát triển thì mặt tiêu cực cũng tác động không nhỏ đến nước ta, nhất là sự du nhập của các giá trị phản văn hoá, sự du nhập của đạo đức, lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất, coi trọng đồng tiền, đang từng ngày tác động làm băng hoại những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp trong mỗi người dân Việt Nam yêu nước, yêu CNXH. Trong những điều kiện đó, để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội ta, các thế lực thù địch đang và sẽ tiếp tục thực hiện phương thức tấn công mới. Nhận thấy việc tấn công trực tiếp vào chính trị, làm cho Quân đội ta suy yếu về chính trị khó có thể thực hiện được đối với một quân đội đã có bề dày truyền thống đấu tranh cách mạng, được tôi luyện trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, các thế lực thù địch đang và sẽ chuyển sang triển khai mạnh mẽ mũi tấn công vào đạo đức, lối sống. Đây là mũi tấn công cực kỳ thâm độc và nguy hiểm. Tính chất nguy hiểm của mũi tấn công này là ở chỗ: Chúng sẽ làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ thiếu bản lĩnh, không tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng… sẽ dần dần bị sa đọa về đạo đức, lối sống, quen dần với cuộc sống hưởng thụ, đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích vật chất, sao nhãng, xem nhẹ việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng; từ chỗ loãng dần, nhạt dần về chính trị cách mạng, chính trị vô sản để trượt dần sang chính trị tư­ sản! Để thực hiện mũi tấn công thâm độc, nguy hiểm này, các thế lực thù địch đang và sẽ triệt để lợi dụng, khai thác những mặt tiêu cực, yếu kém trong tổ chức và con người, nhất là lợi dụng những tổ chức yếu kém; những người có quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái, những phần tử bất mãn, thoái hóa, biến chất; những sai lầm, khuyết điểm trong xử lý các “điểm nóng”, các vụ việc tiêu cực xã hội… để tuyên truyền, kích động, lôi kéo, mua chuộc… làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội mơ hồ, suy giảm niềm tin, lung lay tư tưởng, hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên… dẫn đến suy giảm về chính trị vô sản, tr­ượt dần sang chính trị tư­ sản, bắt đầu từ sự sa đọa về đạo đức, lối sống! Những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để tận dụng những đặc điểm mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội ta với những phương thức mới, nhưng chúng đã không thể thực hiện được mục tiêu đề ra. Sức mạnh chiến đấu tổng hợp của QĐND Việt Nam nói chung, nhất là sức mạnh chính trị-tinh thần của QĐND Việt Nam ngày càng được củng cố vững chắc và từng bước được nâng cao. Quân đội ta vẫn rất xứng đáng là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với Tổ quốc và chế độ XHCN thông qua việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Quân đội ta đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, mọi tình huống. Quân đội ta không hề bị các thế lực thù địch làm suy giảm chính trị vô sản, mà ngược lại, trận địa chính trị tư tưởng vô sản trong Quân đội ta ngày càng được củng cố, giữ vững và phát triển vững chắc. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, trước sự tác động của những đặc điểm mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, trước yêu cầu ngày càng có sự phát triển mới của nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của QĐND, trước hết là sức mạnh chính trị-tinh thần, trong điều kiện các thế lực thù địch đang và sẽ tích cực triển khai những phương thức mới trong thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội ta, chúng ta cần quân tâm làm tốt những vấn đề sau đây: Tăng cường bản chất cách mạng của quân đội, đặc biệt phải chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường “sức đề kháng” của cán bộ, chiến sĩ để tích cực, chủ động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch. Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về những đặc điểm mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, mà các thế lực thù địch đang và sẽ lợi dụng để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội bằng những phương thức mới để chủ động ngăn chặn, phòng ngừa. Nhận thức rõ hơn bản chất, âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá mới của các thế lực thù địch, nhất là đấu tranh vạch trần tính chất phản khoa học của luận điểm “quân đội đứng ngoài chính trị”, thực chất của quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch để có biện pháp đấu tranh, phòng, chống có hiệu quả.

Đâu phải "sùng bái cá nhân"!

Trong mỗi dịp cả nước tổ chức kỷ niệm những sự kiện lịch sử trọng đại, tưởng nhớ những người con ưu tú của dân tộc, các thế lực thù địch lại đẩy mạnh hoạt động chống phá trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Đặc biệt, là việc họ rêu rao về khái niệm “sùng bái cá nhân” ở Việt Nam. Theo cách hiểu thông thường thì “sùng bái cá nhân” là một hiện tượng thiếu tính tích cực. Người sùng bái bắt chước một cách mù quáng người được sùng bái, bất kể tốt-xấu, hay-dở. Trong khi đó, “biết ơn tiền nhân” là một đức tính tốt đẹp của loài người trên toàn thế giới. Việc đó thể hiện sự biết ơn người có công, biết học tập điều tốt đẹp của những người đi trước. Truyền thống biết ơn là một nét văn hóa của người Việt Nam, được đúc kết bằng những câu thành ngữ, tục ngữ: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Con người có tổ có tông/ Như cây có cội như sông có nguồn”... Với những bậc tiền nhân đã góp công lớn gây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước... từ ngàn đời qua, người Việt luôn cung kính thờ phụng, tôn làm đức Tổ (Vua Hùng), đức thánh (Đức thánh Trần)... Ở phạm vi hẹp hơn, trong một làng, người Việt suy tôn người có công lớn đối với dân làng thành đức Thành hoàng. Trong phạm vi một nghề hay một dòng tộc, đều có đền thờ tổ nghề hay nhà thờ họ. Hầu hết các gia đình người Việt đều có bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Diển hình, một hình thức truyền thống biết ơn tổ tiên của người Việt đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có truyền thống biết ơn với những hình thức thể hiện khác nhau. Đơn cử tại Hoa Kỳ, để tôn vinh những người có công với đất nước, người ta tạc lên núi Rushmore chân dung 4 vị tổng thống, với chiều cao khuôn mặt mỗi vị tới 18 mét. Truyền thống biết ơn luôn chảy trong huyết quản người Việt. Nguyễn Ái Quốc vô cùng biết ơn Các Mác, F.Ăng-ghen, V.I.Lênin-những người đã chỉ ra con đường cứu nước bằng cách mạng vô sản và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, nhưng Người không áp dụng cứng nhắc Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người đã vận dụng linh hoạt Chủ nghĩa Mác-Lênin vào tình hình thực tế ở Việt Nam để mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc mình.Đó chính là cách biết ơn trong tỉnh thức, hoàn toàn khác xa với khái niệm “sùng bái cá nhân”.Đảng ta, nhân dân ta luôn biết ơn và nguyện học tập, làm theo những nhà cách mạng tài đức song toàn, có công lớn đối với đất nước, điển hình là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc biết ơn và học tập, noi gương đó không chỉ có giá trị, ý nghĩa thiết thực đối với đất nước, mà còn thiết thực đối với mỗi người, mỗi gia đình. Thực tế đã chứng minh rất rõ điều đó và không ai có thể phủ nhận. Như thế, khác hẳn với “sùng bái cá nhân”!

Phát huy vai trò của chi bộ trong ngăn chặn, đẩy lùi mọi biểu hiện “Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" từ cơ sở

“Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" là biểu hiện hết sức nguy hiểm đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. “Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" đang diễn ra từng ngày, từng giờ ở mọi cấp, mọi ngành, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến những biến động xã hội, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, sự an nguy của chế độ. Một trong các biện pháp đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đó là, phát huy vai trò của chi bộ cơ sở. Chi bộ là tế bào của Đảng, là cơ quan lãnh đạo trực tiếp, gần gũi với nhân dân, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Mọi đảng viên đều tham gia sinh hoạt, chịu sự quản lý về mọi mặt của tập thể chi bộ. Điều đó cho thấy, chi bộ có vai trò, tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng nói chung và công cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" nói riêng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, vai trò của chi bộ chưa được phát huy đầy đủ, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ: “Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu”. 'Phân tích tình trạng tham nhũng, những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" những năm qua cho chúng ta thấy: Một trong những nguyên nhân dẫn đến hàng loạt cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), trong đó nhiều đồng chí là cán bộ chủ trì vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước là do vai trò của chi bộ cơ sở chưa được phát huy. Việc tổ chức quán triệt, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nhiều chi bộ chưa tốt. Đặc biệt, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi bị buông lỏng. Các vi phạm của những CB, ĐV bị xử lý thời gian vừa qua không phải tức thì, bột phát mà đều có quá trình, từ những biểu hiện manh nha vi phạm nhỏ, đến vi phạm lớn, sai phạm nghiêm trọng và chắc chắn cấp ủy, chi bộ đều biết. Nếu như công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương của Đảng được tiến hành một cách thường xuyên, ráo riết ngay từ chi bộ; việc đấu tranh với những vi phạm không “dĩ hòa vi quý” nể nang, né tránh... thì chắc chắn sẽ ngăn chặn được những biểu hiện vi phạm và các vụ việc nghiêm trọng sẽ không xảy ra... Vì vậy, muốn ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả cao, cần có những biện pháp cụ thể, hữu hiệu ngay từ cấp chi bộ. Để phát huy vai trò của chi bộ trong phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ cơ sở cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, cần nhấn mạnh những giải pháp cơ bản sau đây: Thứ nhất, cấp ủy chi bộ cần tích cực, chủ động tổ chức tốt hoạt động học tập, nghiên cứu nâng cao nhận thức của đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Cần coi đây là giải pháp hàng đầu, bởi lẽ, nhận thức của đảng viên về mục tiêu, lý tưởng cách mạng có sâu sắc triệt để hay không phụ thuộc vào sự hiểu biết của từng người về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, cùng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thông tin đa chiều đang tác động từng ngày, từng giờ đến mọi người, nên không tránh khỏi sự lệch lạc về nhận thức, tư tưởng. Bởi vậy, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng hiện nay, chỉ giành được thắng lợi, khi toàn Đảng thống nhất cả về nhận thức và hành động. Theo đó, trước hết từng cấp ủy, chi bộ cần tổ chức tốt việc tự học tập, tự bồi dưỡng cho CB, ĐV để nâng cao trình độ lý luận, trình độ về mọi mặt, đáp ứng với nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng, trong thời kỳ mới. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu, bởi lẽ, khi Đảng ta đang hoạt động bí mật, tự học tập, tự bồi dưỡng là biện pháp quan trọng nhất, được thực hiện rất nghiêm túc, công phu. Chính lao tù của thực dân, đế quốc đã trở thành trường học lớn để những chiến sĩ cộng sản bồi dưỡng cho nhau các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng của Đảng. Ngày nay, chúng ta có điều kiện tốt hơn rất nhiều, nhưng chưa được các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng, chủ yếu vẫn trông chờ, ỷ lại sự tổ chức bồi dưỡng của cấp trên. Cùng với đó, cần tổ chức tốt các buổi học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật pháp của Nhà nước cho CB, ĐV. Biện pháp này hết sức quan trọng, bởi vì, nghị quyết, chị thị của Đảng sẽ được thể chế hóa, luật pháp hóa, tùy theo từng thời kỳ khác nhau, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nắm vững nghị quyết, chỉ thị của Đảng là tiền đề để từng đảng viên hiểu rõ và tự giác thực hiện luật pháp của Nhà nước đề ra. Làm tốt điều này, lẽ đương nhiên sẽ ngăn chặn có hiệu quả mầm mống của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”. Mặt khác, duy trì và thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nội dung này cần được cấp ủy, chi bộ duy trì một cách thường xuyên, tránh tình trạng, khi có chỉ thị, nghị quyết của cấp trên thì triển khai rầm rộ, sau đó rơi vào trầm lắng. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phải được tổ chức chặt chẽ, đi vào hoạt động thực tiễn một cách cụ thể, thiết thực. Thứ hai, cấp ủy, chi bộ cần thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, phát huy mạnh mẽ tự phê bình và phê bình của mọi CB, ĐV ngăn chặn mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Giải pháp này rất có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay, bởi lẽ, một tổ chức đảng muốn vững mạnh phải có sự gắn kết của các thành viên. Nội dung, hình thức sinh hoạt đơn điệu, thiếu tính chiến đấu sẽ làm cho mọi thành viên không còn mặn mà hăng hái tham gia sinh hoạt chi bộ, chưa nói là tham gia các hoạt động lãnh đạo với tư cách là một đảng viên của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII cũng đã chỉ ra, đây là một trong những nguyên nhân mang tính chủ quan dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng. Bởi vậy, cần đổi mới nội dung ra nghị quyết hằng tháng, hằng quý của chi bộ cơ sở, tránh tình trạng lặp đi, lặp lại các vấn đề đã được đưa ra mang tính rập khuôn, đơn điệu. Điều này, đòi hỏi cấp ủy phải bám sát chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, tình hình nhiệm vụ của địa phương, đơn vị. Trong mỗi lần ra nghị quyết, nên cập nhật thông tin mới về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng, an ninh... của từng địa phương, đơn vị thuộc phạm vi lãnh đạo của chi bộ. Làm tốt điều này, vừa phong phú hóa nội dung sinh hoạt, vừa nâng cao nhận thức về mọi mặt và làm tăng sự gắn bó của CB, ĐV đối với chi bộ. Cùng với sinh hoạt thường kỳ, nên tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt, như: Sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt học tập, đúc rút kinh nghiệm về những điển hình tiên tiến, mô hình hoạt động kinh tế, quốc phòng, an ninh hiệu quả... Tổ chức tham quan thực tế các mô hình kinh tế tốt, nông thôn mới, khu vực có môi trương sinh thái đẹp... để mở rộng tầm nhìn cho CB, ĐV. Phát huy cao độ tinh thần dân chủ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng lệch lạc, thoái hóa, biến chất của đảng viên trong chi bộ. Tránh tình trạng dĩ hòa vi quý, nhất là những chi bộ có sự tham gia sinh hoạt của đảng viên là cán bộ chủ trì về Đảng, chính quyền cấp trên. Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên, kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch lạc, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và những sai trái, tiêu cực trong hoạt động kinh tế-xã hội của từng đảng viên trong chi bộ để sớm uốn nắn, xử lý. Giải pháp này có ý nghĩa rất thiết thực đối với quá trình chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng hiện nay. Bởi, thông qua công tác kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ, nghiêm túc, mọi biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, đạo đức và lối sống của CB, ĐV sẽ sớm được phát hiện để uốn nắn kịp thời, nhất là ở cấp chi bộ. Trong thời gian qua, công tác này vẫn được các cấp ủy đảng tiến hành một cách thường xuyên, nhưng nặng về hình thức, chưa đi vào thực chất, nên vẫn còn một bộ phận CB, ĐV có các biểu hiện nhận thức lệch lạc, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống. Theo đó, trong từng nhiệm kỳ, từng năm, quý và tháng, chi bộ cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát đảng viên theo định kỳ và đột xuất một cách cụ thể, thiết thực. Căn cứ vào tình hình nhiệm vụ của từng đảng viên để xác định nội dung kiểm tra, giám sát, không nên xây dựng kế hoạch mang tính hình thức. Đối với những CB, ĐV giữ vị trí chủ trì các cơ quan, đơn vị, nếu thấy có những biểu hiện sai phạm, thì phải tìm mọi cách để thực hiện công tác kiểm tra, giám sát một cách nghiêm túc, không vị nể, né tránh. Làm tốt điều này, vừa ngăn chặn từ xa, vừa bảo vệ được đội ngũ CB, ĐV dù người đó nắm bất kỳ cương vị nào của Đảng, Nhà nước. Quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát đảng viên, cấp ủy, chi bộ cần nhắc nhở, kiểm tra chi tiết, cụ thể việc chuẩn bị của đảng viên; tránh tình trạng chuẩn bị không chu đáo, tỉ mỉ, còn kiểm tra, giám sát, thì tiến hành một cách qua loa, đại khái để báo cáo lên trên. Chi bộ cần kết luận rõ ràng, chính xác những nội dung được kiểm tra, giám sát, nhất là những đảng viên có biểu hiện vi phạm kỷ luật, lệch lạc về nhận thức tư tưởng, suy đồi về đạo đức, lối sống. Rút kinh nghiệm nghiêm túc trong chi bộ, báo cáo kịp thời với cấp ủy cấp trên để uốn nắn, xử lý thích đáng và rút ra bài học chung cho đảng bộ... Nếu từng chi bộ làm tốt công tác kiểm tra, giám sát đảng viên, thì mọi biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ không có đất để phát sinh và phát triển. Các giải pháp trên có mối quan hệ nhân quả, nếu được thực hiện đồng bộ thống nhất trong toàn Đảng, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách thiết thực.

Tỉnh táo, kiên định về nguyên tắc, chiến lược

Chiến lược “diễn biến hòa bình” là một cuộc tiến công phản cách mạng toàn diện, rất thâm độc và xảo quyệt. Đó là sự can thiệp vừa tinh vi, thâm hiểm, vừa trắng trợn, ngạo mạn của CNĐQ và các TLTĐ vào các nước XHCN. Nó được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn, trên các lĩnh vực khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch (TLTĐ) luôn xác định Việt Nam là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và độc lập dân tộc. CNĐQ đối với nước ta cũng mang tính chất hai mặt. Một mặt, buộc phải cùng tồn tại hòa bình với nước Cộng hòa XHCN Việt Nam vì những lợi ích kinh tế, chính trị và chiến lược trong chiến lược toàn cầu mới của CNĐQ hiện nay. Mặt khác, xuất phát từ bản chất giai cấp, từ tính đối kháng giữa chủ nghĩa tư bản (CNTB) và chủ nghĩa xã hội (CNXH), CNĐQ đã và đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. "Diễn biến hòa bình" là chiến lược tiến công trên quy mô toàn cầu của CNĐQ và các TLTĐ, đứng đầu là đế quốc Mỹ nhằm chống, phá CNXH, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm chuyển hóa chế độ chính trị - xã hội theo quỹ đạo của CNTB do Mỹ điều khiển và thao túng”. Chiến lược “diễn biến hòa bình” được thực hiện thông qua việc sử dụng tổng hợp các phương thức, thủ đoạn hoạt động, phá hoại thâm độc, tinh vi với tính chất, phạm vi và mức độ khác nhau, kể cả biện pháp răn đe quân sự, diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, kinh tế, chính trị, tư tưởng và nội bộ là mặt trận nóng bỏng, dân tộc và tôn giáo là “ngòi nổ”. Mục tiêu chiến lược của CNĐQ là: Thúc đẩy tự do hóa về chính trị và kinh tế, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB, khôi phục vai trò thống trị của CNĐQ ở Việt Nam và Đông Dương. Chủ trương, biện pháp chiến lược của CNĐQ và các TLTĐ đối với Việt Nam có sự điều chỉnh trong tình hình mới. Đó là, đẩy mạnh thực hiện kết hợp chặt chẽ ba nội dung chiến lược then chốt: “diễn biến hòa bình”; kết hợp bạo loạn lật đổ; răn đe quân sự và sẵn sàng chiến tranh khi cần thiết và khi có thời cơ, điều kiện. Ba nội dung chiến lược đó quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau, tác động sâu sắc đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của chúng ta. “Diễn biến hòa bình” của CNĐQ và các TLTĐ đối với xã hội Việt Nam nhằm mục tiêu duy nhất là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam, thiết lập chính quyền thân CNĐQ, đi theo quỹ đạo của CNTB. Để thực hiện mục tiêu đó, CNĐQ và các TLTĐ thực hiện “diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên lĩnh vực kinh tế, bằng mọi thủ đoạn và biện pháp, chúng tác động thúc đẩy kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế phi XHCN khác để lấn át và tiến tới vô hiệu hóa vai trò của kinh tế Nhà nước, làm cho kinh tế Nhà nước mất vai trò chủ đạo, không còn là “là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế”; chuyển hóa nền kinh tế nước ta đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Trên lĩnh vực chính trị, chúng tìm mọi cách nhằm xóa bỏ sức ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tầng lớp nhân dân; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ định chân lý “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, chúng dùng mọi thủ đoạn để xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam; đặc biệt là văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống XHCN; truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây: lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, kích thích chủ nghĩa hưởng lạc, lối sống trụy lạc, phi nhân tính. Chúng ráo riết đẩy mạnh đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị, các phương tiện thông tin, truyền thông, sử dụng in-tơ-nét và địa chỉ truyền thông nước ngoài để phát tán tài liệu, xuyên tạc, vu cáo, gieo rắc thông tin xấu, độc hại. Nhiều thông tin xấu trên mạng xã hội đã gây hoang mang, làm nhiễu loạn thông tin, tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội. Trên lĩnh vực xã hội, chúng triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ sự đoàn kết, cố kết dân tộc. Chúng khai thác, khoét sâu những mặt trái của cơ chế thị trường; những khiếm khuyết của Đảng và Nhà nước ta trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các vấn đề xã hội trong quá trình đổi mới; triệt để lợi dụng mâu thuẫn xã hội và sự thoái hóa, tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên để kích động chống phá, gây biến động chính trị, kinh tế - xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” tạo cớ can thiệp, lật độ chế độ XHCN. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chúng hết sức tranh thủ lợi dụng những hoạt động công khai, hợp pháp để thu thập thông tin tình báo, thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để thực hiện “diễn biến hòa bình”, phá hoại về quốc phòng, an ninh. Trong đó, chúng chĩa mũi nhọn chống phá vào lực lượng vũ trang; tìm mọi cách để “phi chính trị hóa” và “vô hiệu hóa” lực lượng vũ trang, trước hết là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; chia rẽ lực lượng vũ trang với Đảng, Nhà nước và nhân dân, chia rẽ trong nội bộ lực lượng vũ trang; lôi kéo lực lượng vũ trang ngả theo các lực lượng phản cách mạng, chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ XHCN. Trên lĩnh vực đối ngoại, chúng kết hợp hoạt động ngoại giao với các hoạt động kinh tế, quân sự để gây sức ép buộc Việt Nam phải nhân nhượng trong các vấn đề nội bộ, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây; chia rẽ Việt Nam với các nước láng giềng; dùng mọi thủ đoạn ngoại giao để truyền bá quan điểm tư sản của phương Tây vào đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng và Nhà nước ta. Tất cả những hoạt động chống phá nêu trên đều nhằm một mục đích duy nhất là: “Thúc đẩy tự do, xóa bỏ CNXH ở Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của CNTB, lệ thuộc vào CNĐQ”. Các TLTĐ vừa tiến công trực diện, trực tiếp về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vừa thông qua các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, thông qua các mối quan hệ đối ngoại, giao lưu quốc tế để tác động chống phá. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay khi chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các Nghị quyết T.Ư 4 (Khóa XI và XII) và các nghị quyết khác, các TLTĐ triệt để khai thác, lợi dụng sự thiếu đồng bộ, chưa hoàn chỉnh trong chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, nhất là những thiếu sót trong công tác quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện để kích động chống phá, tác động làm chệch hướng XHCN, đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chúng sử dụng và kết hợp hết sức linh hoạt các thủ đoạn tác động, chống phá giữa bí mật với công khai; nửa hợp pháp, bất hợp pháp với hợp pháp; khi tinh vi, tế nhị, khi thô bạo, trịch thượng; kết hợp chặt chẽ các biện pháp kinh tế, ngoại giao với kiềm chế và răn đe quân sự; giữa bên trong với bên ngoài để tiến hành các hoạt động chống phá: từ tuyên truyền xuyên tạc, vu khống làm mất uy tín, tạo ra sự nghi kỵ, phân hóa, chia rẽ đến tác động cả bên trong và bên ngoài gây sức ép, khống chế, bao vây, phong tỏa, cô lập, đến các hoạt động phá hoại trực tiếp, kích động gây rối, chống đối, bạo loạn, ly khai, lật đổ với các phương thức: bạo loạn chính trị, bạo loạn bán vũ trang và vũ trang; kết hợp bạo loạn chính trị với bạo loạn vũ trang; hoặc vận dụng tổng hợp các phương thức, biện pháp, thủ đoạn để lật đổ chính quyền Nhà nước XHCN. Chúng kết hợp tiến công, chống phá toàn diện với tập trung vào những điểm yếu nhất để đánh đòn quyết định. Hiện nay, CNĐQ và các TLTĐ đang triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền. Chúng tìm mọi cách quốc tế hóa sự xung đột về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo,... để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Trong những năm qua, nhất là trong hai năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi nhiều chính sách, biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo được Quốc hội thông qua tháng 11-2016 (có hiệu lực vào tháng 1-2018). Thế nhưng, rất đáng tiếc các TLTĐ vẫn thường xuyên đưa ra những thông tin bịa đặt, thiếu khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam. Mượn chiêu bài về dân tộc, tôn giáo, chúng tạo điều kiện, tiếp tay, trực tiếp chỉ đạo các hoạt động chống đối, phá hoại để thay đổi, chuyển hóa chính quyền nhà nước XHCN đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chúng đặc biệt chú ý phương thức, thủ đoạn chuyển hóa chế độ nhà nước XHCN sang chế độ nhà nước tư bản chủ nghĩa một cách “êm thấm”, thông qua quá trình làm tha hóa, biến chất cả con người lẫn cơ cấu tổ chức, cơ chế lãnh đạo, quản lý điều hành từ trung ương đến các địa phương, cơ sở. Vấn đề then chốt nhất của phương thức này là làm biến chất cả ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có thể, tên Đảng Cộng sản, tên Nhà nước XHCN vẫn còn; nhưng về bản chất thì thay đổi, đó không còn là Đảng Cộng sản được tổ chức, xây dựng và hoạt động theo những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác-Lê-nin; không còn là nhà nước XHCN dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, không còn là nhà nước của dân, do dân, vì dân; mà đó là nhà nước đã biến đổi về chất - nhà nước tư bản chủ nghĩa, xét về bản chất. Phương thức này diễn ra từ từ, không dễ nhận biết. Nhận biết rõ âm mưu, thủ đoạn để chủ động phòng chống, chúng ta phải hết sức cảnh giác, không thể xem nhẹ phương thức “diễn biến hòa bình” vô cùng nguy hiểm này; phải đặc biệt coi trọng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, từ trên. Và, vấn đề có ý nghĩa quyết định là ở chỗ, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải hết sức kiên định về nguyên tắc, về chiến lược; giữ vững bản chất cách mạng triệt để của Đảng Cộng sản trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững bản chất cách mạng của Nhà nước XHCN. Song chúng ta phải hết sức mềm dẻo về sách lược, khôn khéo và linh hoạt xử lý những vấn đề nảy sinh trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, cũng như trong các mối quan hệ quốc tế theo phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, sao cho “trong ấm ngoài êm”. Đó là thượng sách giữ nước.

Phòng chống "diễn biến hòa bình" trong tình hình mới

Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta, do vậy, việc phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới cần nhận diện và lưu ý một số vấn đề. Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Đảng luôn diễn ra trong bối cảnh phức tạp, khó khăn. Trong từng thời điểm cụ thể, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh để tăng cường, quyết liệt chống phá ta bằng hàng loạt các luận điệu, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và xã hội, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách để bóp méo, bịa đặt với mục đích cản trở sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới; xuyên tạc chủ nghĩa' Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại Đảng và chế độ, làm tan rã mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm: 1) Phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; 2) Gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; 3) Làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để, xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng… Qua đó, tác động “dương Đông kích Tây” làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và kích động xã hội nảy sinh quan điểm tùy tiện, phản biện vô nguyên tắc, phản đối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội... Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Từ đó, chú trọng một số vấn đề cụ thể là: Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, cơ học, bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Trên cơ sở ấy mới có thể quy tụ được lòng người, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, thúc đẩy phát triển cái tốt, cái đẹp, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cơ sở quan trọng nhất để tạo nên tư tưởng xã hội tốt chính là người dân được tiếp nhận thông tin nhanh nhất, phản ánh chân thực, khách quan nhất. Từ đó, thống nhất nhận thức làm cơ sở cho thống nhất ý chí và hành động. Việc định hướng thông tin đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân phải được thực hiện thống nhất giữa mục tiêu đặt ra của hệ thống chính trị, của nhà lãnh đạo, quản lý các cấp với nhu cầu cần cung cấp thông tin chính thống của quần chúng nhân dân. Để bảo đảm được tính thống nhất này, liên quan đến các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm nảy sinh trong đời sống xã hội, các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương theo phân cấp quản lý cần cung cấp thông tin kịp thời để định hướng xử lý, đề xuất phương án chỉ đạo và thực hiện một cách chủ động và khoa học. Cơ chế thực hiện công tác thông tin về những vấn đề phức tạp, nhạy cảm cần được xây dựng thành văn bản, quy định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của tập thể, cá nhân. Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề. Về bản chất, đó mới chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan thông tin, truyền thông trước Đảng và Nhà nước, trước công chúng và lịch sử. Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá. Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo. Mọi trách nhiệm trên các phương diện này chỉ có thể được thực hiện khi báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, mang hơi thở chân thực của cuộc sống. Qua đó, thu hút được đông đảo người đọc, người nghe, người xem quan tâm. Bốn là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Nhân dân có nhu cầu được cung cấp thông tin về quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề như vậy. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan có trách nhiệm cũng thể hiện rõ trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, nếu được thực hiện tốt sẽ là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội. Công tác thông tin cần nhận diện, phát hiện và dự báo sớm một số vấn đề có thể gây bức xúc về tư tưởng và phải luôn đi trước, đi cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Cơ quan có trách nhiệm thực hiện công tác định hướng thông tin tuyên truyền các cấp cần được tham gia ngay từ khâu hoạch định chính sách, dự án đến quá trình triển khai thực hiện. Phải có sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo ban tuyên giáo các cấp kịp thời bám sát thực tiễn, bảo đảm tính chính xác, có chiều sâu trí tuệ, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới hạn chế tối đa những tác động của thông tin xấu, độc trên internet hiện nay. Năm là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử. Cần nắm vững quyền chủ động trong công tác định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trên không gian mạng, cụ thể là: 1) Chủ động thiết kế xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; việc lựa chọn chủ đề cần tăng tính tương tác, tạo sự gần gũi, sử dụng nhiều ngôn ngữ và hình thức được cư dân mạng ưa thích, thông tin một cách sinh động, cụ thể, gắn với cuộc sống, cần “phân loại” công chúng trên cộng đồng mạng để xác định, lựa chọn cách thức, phương pháp dẫn dắt chuẩn xác theo kiểu “mỗi cái chìa chỉ mở được một cái ổ khóa”. 2) Nắm vững quy luật truyền tải thông tin. Internet có quy luật riêng, chỉ khi nắm chắc quy luật, nghiên cứu chắc tâm lý của cư dân mạng, thích ứng với các kỹ thuật mới, ứng dụng mới trong vận dụng quy luật truyền tải trên mạng, thì công tác định hướng tư tưởng, dư luận trên mạng mới có kết quả. Việc truyền tải thông tin tuyên truyền dẫn dắt dư luận trên mạng không chỉ cần coi trọng nguồn gốc thông tin, mà còn phải coi trọng việc dẫn dắt và bảo vệ quá trình truyền tải, lưu thông thông tin. 3) Sự thống nhất thông tin trong truyền thông không phải là sự chắp nối đơn giản, mà là sự sắp xếp thống nhất trong hệ thống, giữa thông tin phản ánh trên báo chí, truyền hình và thông tin trên báo chí điện tử, trang tin điện tử... tạo thành chuỗi dòng chảy thông tin tích cực, lan tỏa nhanh trong cộng đồng, góp phần định hướng nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Không làm tròn chức trách, nhiệm vụ - một biểu hiện của suy thoái

Ban chấp hành Trung ương nhấn mạnh và chỉ rõ, đó là biểu hiện suy thoái rất nguy hại không chỉ làm mất uy tín, giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, mà còn gây lãng phí thời gian, tiền bạc, tài sản, tổn hại đến kinh tế đất nước. 'Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đánh giá và chỉ rõ tình trạng cán bộ, đảng viên: “Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”. Ban chấp hành Trung ương nhấn mạnh và chỉ rõ, đó là biểu hiện suy thoái rất nguy hại không chỉ làm mất uy tín, giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, mà còn gây lãng phí thời gian, tiền bạc, tài sản, tổn hại đến kinh tế đất nước. Chưa có một nghiên cứu, khảo sát mang tính định lượng đầy đủ, cụ thể về thực trạng trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức (CB, ĐV, CC) trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, nhưng qua đánh giá của Trung ương và báo cáo của các cơ quan chức năng cho thấy, về cơ bản đội ngũ CB, ĐV, CC nước ta luôn đề cao trách nhiệm, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được phân công. CB, ĐV, CC không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỷ lệ không nhiều. Thế nhưng, đúng như đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương, tình trạng CB, ĐV, CC né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao có những diễn biến đáng lo ngại. Số lượng CB, ĐV, CC bị xử lý kỷ luật do thiếu trách nhiệm ngày càng tăng. Đặc biệt, dư luận gần đây xôn xao trước việc ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên giữ các vị trí chủ trì, chủ chốt vi phạm các nguyên tắc của Đảng, buông lỏng quản lý, làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây hậu quả nghiêm trọng bị xử lý kỷ luật, bị khởi tố, truy tố, xét xử. Điển hình như vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm gây thất thoát hơn 9.000 tỷ đồng, ông Đặng Thanh Bình, nguyên Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng 4 cán bộ dưới quyền bị truy tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Gần đây nhất, liên quan đến những sai phạm ở Tổng công ty Thái Sơn (Bộ Quốc phòng), ông Phùng Danh Thắm, Tổng giám đốc Tổng công ty Thái Sơn, bị khởi tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.... Không ít cán bộ, đảng viên giữ vị trí chủ trì, chủ chốt phải đưa ra xem xét, kiểm điểm, xử lý kỷ luật bằng các hình thức. Điển hình như ông Phạm Văn Vọng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2010-2015, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Phúc; ông Phùng Quang Hùng, nguyên Phó bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2011-2016 vì thiếu trách nhiệm trong việc quyết định giao chủ đầu tư dự án không có năng lực; phê duyệt đầu tư, phê duyệt kế hoạch đấu thầu, giao chỉ định thầu một số dự án trọng điểm trái quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư.... Ngoài những sự việc, vụ án lớn, tình trạng một bộ phận không nhỏ CB, ĐV, CC thiếu trách nhiệm, không làm tròn chức trách được giao, lợi dụng chức quyền sách nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp vẫn diễn ra phức tạp, gây bức xúc trong dư luận. Những biểu hiện làm trái các quy định của Nhà nước, thiếu trách nhiệm; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; quản lý, sử dụng đất đai; quản lý, khai thác tài nguyên, khoáng sản và đầu tư công.... Việc khởi tố, bắt tạm giam, truy tố đối với một số cán bộ trong thời gian qua thể hiện rõ nét quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta làm trong sạch bộ máy công quyền nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Để khắc phục tình trạng CB, ĐV, CC thiếu ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ chung, với công việc của tập thể; thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách nhiệm vụ, công việc được phân công, chúng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, nhưng trước hết phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm trước Đảng, trước dân, trước nhiệm vụ chung của cách mạng và trách nhiệm của từng CB, ĐV, CC đối với chức trách, nhiệm vụ, công việc mà mình được giao đảm đương, phụ trách. Chúng ta phải đặt nội dung này lên hàng đầu bởi lẽ, ý thức trách nhiệm có vai trò quyết định đến tinh thần, thái độ làm việc của từng CB, ĐV, CC. Thành tích, hiệu quả thực hiện công vụ của CB, ĐV, CC cũng do ý thức trách nhiệm quyết định. Do đó, cần phải làm cho mọi CB, ĐV, CC hiểu ý thức trách nhiệm được thể hiện ở tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Trước nhiệm vụ chung, nhiệm vụ của tập thể, người cán bộ, đảng viên có ý thức trách nhiệm luôn nêu cao tinh thần dám nhận trách nhiệm về mình, thường xuyên nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, đổi mới, sáng tạo và nỗ lực hết mình để vượt lên mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Người cán bộ, đảng viên có ý thức trách nhiệm còn thể hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ họ luôn biết kết hợp hài hòa giữa tư tưởng chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc với thực hành tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí. Với những CB, ĐV có ý thức trách nhiệm, họ không thể đánh giá một nhiệm vụ, một công việc là hoàn thành nếu để xảy ra tiêu cực, thất thoát, gây tốn kém, lãng phí tài sản của tập thể, của Nhà nước. Khi thành công, người CB, ĐV có ý thức trách nhiệm, có tinh thần tập thể không vơ cả thành tích về mình và khi thất bại cũng không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể, cho người khác, hay đổ lỗi cho khách quan. Người CB, ĐV có ý thức trách nhiệm cao luôn biết nhận lỗi và sẵn sàng gánh chịu hậu quả để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm mà phấn đấu trưởng thành. Người CB, ĐV có ý thức trách nhiệm cao còn thể hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn tuân thủ theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành của cấp trên, với tinh thần chủ động, linh hoạt và sáng tạo, nhưng không vượt quá chức trách, phạm vi quyền hạn mà mình được giao đảm nhiệm. Khen thưởng, động viên, khích lệ, nêu gương những CB, ĐV, CC có ý thức trách nhiệm cao với nhiệm vụ là việc làm cần thiết. Nhưng cùng với đó, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức cần phải thường xuyên cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến chất lượng, nhất là tinh thần, ý thức trách nhiệm của đội ngũ CB, ĐV, CC. Đặc biệt, trước những vụ việc, những sai phạm của CB, phải tổ chức kiểm điểm, xử lý nghiên minh và rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc, kịp thời. Đi đôi với việc giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ CB, ĐV, CC có ý thức trách nhiệm, chúng ta cần phải đấu tranh để loại bỏ những biểu hiện trách nhiệm hình thức, theo kiểu bên ngoài tỏ ra ta là người có ý thức trách nhiệm, nhưng thực tế trong lòng lại không nhận trách nhiệm về mình, nhận trách nhiệm kiểu nửa vời. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần phải kiên quyết lên án, đấu tranh với những biểu hiện vô trách nhiệm trong công việc; bỏ bê nhiệm vụ được phân công, hoặc thực hiện theo kiểu hời hợt, qua loa, đại khái, không quan tâm đến những ảnh hưởng tiêu cực từ thái độ, hành vi sai trái của mình. Cùng với tuyên truyền, giáo dục cần tăng cường công tác quản lý, giám sát chặt chẽ, phát hiện mọi biểu hiện thiếu trách nhiệm CB, ĐV ngay từ ban đầu, ngay từ cơ sở để có các biện pháp đấu tranh ngăn chặn kịp thời, phù hợp và hiệu quả.

Việt Nam ủng hộ vai trò của các tổ chức khu vực đối với công việc của Liên hợp quốc

 

Việt Nam ủng hộ vai trò của các tổ chức khu vực đối với công việc của Liên hợp quốc

Baoquocte.vn. Ngày 10/6, Hội đồng Bảo an (HĐBA) đã họp về tình hình hợp tác giữa Liên hợp quốc (LHQ) và Liên minh châu Âu (EU). Cao ủy Đối ngoại và Chính sách an ninh EU kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu Josep Borrell đã tham dự và báo cáo tại cuộc họp.

Cao ủy Đối ngoại và Chính sách an ninh EU khẳng định chính sách của EU ủng hộ các hoạt động của LHQ, chủ nghĩa đa phương dựa trên luật lệ, bảo vệ quyền con người, ứng dụng công nghệ một cách phù hợp, vai trò của phụ nữ, thanh niên.

Sự ủng hộ của EU không chỉ thể hiện về mặt chính trị mà còn thông qua đóng góp tài chính, lực lượng gìn giữ hòa bình. Cao ủy Đối ngoại và Chính sách an ninh EU cũng cho rằng dịch bệnh Covid-19 đã làm bộc lộ sự mong manh của thế giới, đòi hỏi tăng cường hợp tác giữa các quốc gia, đồng thời thông tin về đóng góp vaccine của EU dành cho các nước có thu nhập thấp và trung bình.

Cao Ủy Josep Borrell cũng nhận định các thách thức toàn cầu hiện nay đòi hỏi HĐBA hành động nhằm bảo đảm hòa bình và an ninh quốc tế, tăng cường bảo vệ và hỗ trợ người dân trong các khu vực xung đột, phòng ngừa và giải quyết xung đột.

Các nước thành viên HĐBA LHQ bày tỏ ủng hộ hợp tác giữa LHQ và các tổ chức khu vực, ghi nhận vai trò của các tổ chức khu vực đối với việc giải quyết thách thức toàn cầu, thúc đẩy và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế.

Các nước hoan nghênh ưu tiên chính sách của EU đối với thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, hợp tác LHQ-EU trên nhiều lĩnh vực như bảo vệ thường dân, gìn giữ hòa bình, chống khủng bố, hỗ trợ tiến trình hòa giải, thương lượng, thực thi thỏa thuận hòa bình tại một số khu vực, bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái, hỗ trợ nạn nhân của bạo lực tình dục trong xung đột, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Các nước cũng hoan nghênh hợp tác giữa EU và các tổ chức khu vực khác như Liên minh châu Phi (AU), ASEAN và các thành tựu đã đạt được, đặc biệt tại khu vực châu Phi.Phát biểu tại cuộc họp, Đại sứ Đặng Đình Quý, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ, nhận định không một quốc gia nào có thể tự giải quyết thách thức toàn cầu phức tạp hiện nay, thay vào đó cần tìm kiếm giải pháp thông qua chủ nghĩa đa phương và quan hệ đối tác, trong đó LHQ đóng vai trò trung tâm điều phối nỗ lực quốc tế, cùng với sự hỗ trợ quan trọng của các tổ chức khu vực.

Đại sứ Đặng Đình Quý đã tái khẳng định sự ủng hộ của Việt Nam đối với vai trò của các tổ chức khu vực đối với công việc của LHQ, trong đó có HĐBA LHQ, thể hiện việc tổ chức thảo luận mở cấp cao về “Hợp tác giữa LHQ và các tổ chức khu vực trong tăng cường xây dựng lòng tin và đối thoại nhằm phòng ngừa và giải quyết xung đột” cùng Tuyên bố Chủ tịch HĐBA vào tháng 4/2021.

Đại sứ Đặng Đình Quý đồng thời ghi nhận quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa LHQ và EU, trong đó có gìn giữ hòa bình, và kêu gọi hai tổ chức tiếp tục thắt chặt quan hệ hợp tác. Bên cạnh đó, Đại sứ thông tin về vai trò xây dựng của ASEAN thúc đẩy khu vực hòa bình, ổn định phát triển và khẳng định cam kết của Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa ASEAN và LHQ, EU.

 

Chống tham nhũng ở Việt nam không có vùng cấm

Thực tế ở Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt, trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tác hại của tệ tham ô, tham nhũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được xác định rất phức tạp và lâu dài. Đảng Cộng sản Việt Nam trong các Đại hội từ VI đến XII đã khẳng định quyết tâm tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng và đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chuyên đề, như Nghị quyết 04-NQ/TW khóa VI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII về “Lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng”. Trong đó, đã xác định rõ đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Đảng và bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân... Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” đã xác định rõ mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhằm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chú trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đề ra 6 giải pháp, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội để phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ để phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Gần đây, Chỉ thị số 50-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng trong tình hình hiện nay”, Nghị quyết số 126/NQ-CP của Chính phủ về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng đến năm 2020”,v.v.. nhất là, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mạnh mẽ phê phán tham ô, tham nhũng, coi đó là một trong 27 biểu hiện sự suy thoái của cán bộ, đảng viên và đưa ra cảnh báo: Tham nhũng đang làm xói mòn uy tín của Đảng cầm quyền, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Thể hiện rõ quyết tâm phòng, chống tham nhũng, thể chế hóa quan điểm của Đảng, Luật Phòng, chống tham nhũng ra đời có hiệu lực thi hành từ ngày 1-6-2006; Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban được thành lập năm 2013 cùng hàng loạt các đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng được thành lập tại các bộ, ban, ngành đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta không bao che cho các hành vi tham ô, tham nhũng, các hành vi làm trái với pháp luật và làm tổn hại đến tài sản của đất nước, niềm tin của nhân dân. Những vụ việc liên quan đến tham ô, tham nhũng, làm trái quy định, gây tổn hại đến tài sản quốc gia, đến uy tín của Đảng đều được xem xét, xử lý công khai và khẳng định không có vùng cấm. Một số kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, một số vụ “đại án” gần đây cho thấy, các dấu hiệu của tham ô, tham nhũng, liên quan đến tham ô, tham nhũng đều được chỉ đạo điều tra, giải quyết kịp thời và minh bạch thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đây là những hoạt động thể hiện sự phát huy tối đa những thuộc tính dân chủ xã hội ở Việt Nam theo phương châm “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” - thường gọi là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy nên, cả về lý luận và thực tiễn đều đã chứng minh rằng: vấn đề tham ô, tham nhũng là vấn nạn nhiều quốc gia phải đối mặt trong nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều bối cảnh chính trị khác nhau. Việc quy chụp, xiên xẹo thể chế chính trị là nguyên nhân gây ra tham ô, tham nhũng là luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc hòng đánh tráo khái niệm, làm sai lệch bản chất trong tranh luận, cần phải được nhận thức và phản bác quyết liệt

Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan hủy bỏ diễn tập trái phép ở đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa

 

Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan hủy bỏ diễn tập trái phép ở đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa

Ngày 11/6, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc Đài Loan diễn tập bắn đạn thật ở đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:

"Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế. Việc Đài Loan tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở vùng biển xung quanh Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo này, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải; gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông. Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan hủy bỏ hoạt động diễn tập trái phép nêu trên và không tái diễn trong tương lai".

 

“Vạch mặt, chỉ tên” biểu hiện mới của cá nhân chủ nghĩa

Con ng­ười phát triển toàn diện và hài hoà trong chế độ XHCN là con người biết kết hợp đầy đủ và hài hoà ba lợi ích là cá nhân- tập thể- xã hội (cộng đồng). Từ khi khởi x­ướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng ta đã xác định lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp cho sự phát triển. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân hay coi lợi ích cá nhân là động lực duy nhất thì đó là tư­ tưởng cực đoan, dễ sa ngã vào chủ nghĩa cá nhân. Cá nhân chủ nghĩa” là biểu hiện đầu tiên trong 9 biểu hiện về suy thoái về đạo đức, lối sống đã được chỉ ra tại Nghị quyết 04-NQ/TW (khóa XII) của Đảng “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa" trong nội bộ”. Vì vậy, đã đến lúc phải nhận diện, “vạch mặt, chỉ tên” những biểu hiện mới nổi cộm của căn bệnh “cá nhân chủ nghĩa” hiện nay để loại nó ra khỏi con người mỗi cán bộ, đảng viên. Con ng­ười phát triển toàn diện và hài hoà trong chế độ XHCN là con người biết kết hợp đầy đủ và hài hoà ba lợi ích là cá nhân- tập thể- xã hội (cộng đồng). Từ khi khởi x­ướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng ta đã xác định lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp cho sự phát triển. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân hay coi lợi ích cá nhân là động lực duy nhất thì đó là tư­ tưởng cực đoan, dễ sa ngã vào chủ nghĩa cá nhân. Nói về tác hại, hậu quả của bệnh cá nhân chủ nghĩa, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, nó “là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”, “là thứ gian giảo, xảo quyệt”, “là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư, nết xấu”, “kéo người ta xuống dốc không phanh”, cho nên phải kiên quyết gột rửa, tẩy trừ nó ra khỏi mỗi con người đảng viên, cán bộ để góp phần làm trong sạch tổ chức đảng. Có nhiều “triệu chứng” liên quan đến bệnh cá nhân chủ nghĩa như tham lam, ích kỷ, tư lợi, chuyên quyền, độc đoán, lên mặt quan cách mạng… Mấy năm trở lại đây, bệnh cá nhân chủ nghĩa còn xuất hiện một số biểu hiện mới ngày càng tinh vi hơn. Vì vậy, việc nhận diện kịp thời một số biểu hiện “điển hình” của bệnh cá nhân chủ nghĩa hiện nay là góp phần “chẩn đoán” bệnh một cách chính xác để tìm biện pháp “chữa trị” căn cơ, hiệu quả. 1. Cơ hội, thực dụng. Chưa bao giờ người ta lại nói nhiều về các từ “cơ hội”, “thực dụng” như trong thời gian qua. Theo quan niệm thông thường, “cơ hội” thường được hiểu là biết tận dụng thời cơ để hành động đạt mục đích, kết quả cao nhất. Còn “thực dụng” vốn có nghĩa là coi trọng tính ứng dụng thực tế. Bản thân các từ đó không có lỗi, nhưng nó đã bị biến dạng bởi chính những suy nghĩ, hành vi lệch lạc của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tận dụng cơ hội tốt để làm việc nghĩa, việc thiện, việc ích là cử chỉ, hành động đáng biểu dương và tôn vinh. Nhưng hiện nay, không ít người cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống luật pháp và những sơ hở trong công tác quản lý, điều hành của bộ máy công quyền để làm những việc sai pháp luật, trái đạo đức lương tâm. Có những người triệt để lạm dụng lúc “tranh tối, tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân, bất chấp điều hay lẽ phải và lương tâm, chính nghĩa ở đời. “Thực dụng” là nấc thang kế tiếp của tư tưởng cơ hội. Lấy lợi ích vật chất là cao nhất, coi đồng tiền là chiếc “chìa khoá vạn năng” trong việc giải quyết mọi mối quan hệ xã hội, lúc nào cũng muốn “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham” là những biểu hiện của những kẻ thực dụng. Thiếu coi trọng giá trị nhân phẩm, không đề cao ý nghĩa tinh thần và những nét đẹp văn hoá, đạo đức nên những kẻ thực dụng sẵn sàng “hạ thấp nhân cách” bản thân, bằng “mọi cách, mọi giá” để mưu cầu, trục lợi cho mình càng nhiều càng... tốt! Thực tế cho thấy, tư tưởng cơ hội gây chia rẽ mất đoàn kết, làm cho các mối quan hệ tốt đẹp của con người bị tổn thương. Còn chủ nghĩa thực dụng tạo nên những hành vi sùng bái đồng tiền, đặt lợi ích vật chất lên trước hết và cao nhất, khiến cho các chuẩn mực xã hội bị đảo lộn. Ở đâu còn có tư tưởng cơ hội và chủ nghĩa thực dụng là ở đó còn những hành động, việc làm thiếu trong sáng, lành mạnh và thiếu tình thương yêu cao đẹp của con người. Vì vậy, đấu tranh ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa cơ hội, thực dụng chính là trực tiếp rèn luyện, tạo dựng nhân cách cán bộ, đảng viên lành mạnh và góp phần xây dựng Đảng ta xứng đáng là “Đảng của đạo đức, văn minh”. 2. “Năng lực... nịnh”. Phẩm chất và năng lực là hai yếu tố quan trọng nhất trong nhân cách một con người. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, thiếu một trong hai yếu tố đó đều khó có thể thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ. Trong khi phần lớn cán bộ, đảng viên hiện nay đang miệt mài rèn luyện, tu dưỡng, tích cực học tập, nghiên cứu, làm việc để không ngừng nâng cao nhận thức, trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao, thì vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức phấn đấu tiến thân bằng “con đường vòng vèo”, tức là họ vươn lên không phải bằng chính khả năng, trình độ thực tế của mình, mà thông qua năng lực... nịnh! “Năng lực nịnh” xuất phát từ động cơ và mục đích cá nhân hẹp hòi. Đó là biểu hiện cao nhất của lối sống ích kỷ. Người có “năng lực nịnh” là những kẻ “hai mặt” rất nguy hiểm. Nó nguy hiểm ở chỗ: Cái sai họ có thể nói đúng, cái đúng họ có thể biến thành sai, người xấu có thể “tô hồng, nói vống” là người tốt, điều phải có thể chuyển sang điều trái... Không những vậy, dưới cái “môi mỏng lưỡi mềm” của họ, chuyện “con kiến biến thành con bò” và “ít suýt ra nhiều” là những điều rất dễ xảy ra. Vì thế, những ai không đủ tỉnh táo, sáng suốt và “thích được khen” thì rất dễ “sa vào cạm bẫy” của những người có “năng lực nịnh”. “Năng lực nịnh” không phải tự nhiên sinh ra, nó là “con đẻ” của những mối quan hệ xã hội thiếu trong sáng, lành mạnh, tư tưởng bè phái, cục bộ. Sự tồn tại của nó có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến bầu không khí dân chủ của tổ chức, làm biến dạng tình cảm đồng chí, đồng nghiệp và xói mòn phẩm chất đạo đức của người đảng viên, cán bộ. Trong một cơ quan, đơn vị, nếu còn những người “đi nịnh” và những người “thích nịnh” thì còn sự gian dối, tạo điều kiện thuận lợi cho lối sống ích kỷ tồn tại và phát triển. Do đó, phòng chống, loại trừ những biểu hiện của “năng lực nịnh” là góp phần làm trong sạch hoá các mối quan hệ xã hội, giữ vững kỷ cương, nền nếp tổ chức Đảng và nâng cao phẩm chất chính trị- đạo đức cách mạng của đảng viên, cán bộ. 3. “Mũ ni che tai”. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chúng ta, rất nhiều người có bản lĩnh, phong cách và tư cách sống đàng hoàng, chững chạc, thư thái, ung dung. Họ luôn lấy cái tâm, cái đạo làm đầu trong đối nhân xử thế. Quan hệ với con người, dù làm gì, ở đâu, trên cương vị nào, họ cũng luôn giao tiếp đúng mực, nói năng nhã nhặn, niềm nở, không phân biệt địa vị cao thấp, sang hèn. Sống nhân nghĩa, trung thực, không cầu cạnh, bon chen, ích kỷ, vụ lợi- đó là những nét đẹp thường thấy ở những người cán bộ, đảng viên “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Cách ứng xử của họ rất tương xứng với phẩm chất, tư cách của những người cộng sản chân chính và được xã hội nể trọng, noi theo. Tuy nhiên, xuất phát từ động cơ, lợi ích kinh tế và chính trị, có một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay đang tự biến mình thành một “diễn viên có hạng” trong cách đối xử với người khác. Có nghĩa là họ không sống trung thực với chính bản thân mình. Thấy cái đúng không biết bảo vệ, thấy cái sai không dám đấu tranh, thực hiện phương châm “im lặng là vàng” và “gió chiều nào theo chiều ấy”, họ khư khư giữ mình mà thực chất là “ngậm miệng ăn tiền”. Trong cuộc sống, họ rất ít tham gia đóng góp vào các cuộc trao đổi, thảo luận nào, cho dù đó là việc chung. Trong sinh hoạt Đảng, họ hiếm khi tự giác, xung phong phát biểu ý kiến, nếu có nói thì cũng chỉ ngắn gọn và thường là nhắc lại “gần như y nguyên” lời của những người đã nói trước. Trước một vấn đề nhạy cảm cần có sự quyết đoán, nhưng khi cơ quan lấy ý kiến và biểu quyết, họ thường “ngó ngang, nhìn dọc” rồi mới giơ tay sau cùng. Số người này cho rằng: “Chẳng quyền cao chức trọng gì, nên cách sống tốt nhất là yên phận giữ mình”! Cuộc sống vốn bao mối quan hệ tế nhị và phức tạp. Giữ được cái đạo khiêm nhường, khôn khéo trong ứng xử cũng là một điều đáng quý. Nhưng, giữ mình đến mức cái sai, cái xấu không biết phê bình; cái dở, cái ác không dám đấu tranh; cái đúng không đủ dũng khí để bảo vệ; cái đẹp không biết nâng niu; cái tốt không biết trân trọng, ngợi khen, lại là điều đáng trách. Thực chất, đó là một cách sống bàng quan, mũ ni che tai, thiếu tinh thần vươn lên và tự “thiêu trụi” bản lĩnh, lập trường của mình. Để nguyên tắc tự phê bình và phê bình của tổ chức Đảng được củng cố, phát huy và mối quan hệ nội bộ tổ chức được gắn kết chặt chẽ, trong sáng, lành mạnh, chúng ta phải ngăn ngừa cho được tư tưởng, thái độ “mũ ni che tai” - một lối sống vị kỷ rất trái với lương tâm của người cán bộ, đảng viên chân chính.