Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

YAKOVLEV - KẺ LẬT SỬ VỀ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

Với vai trò là một trong những “kiến trúc sư” công cuộc cải tổ ở Liên Xô trên cương vị Trưởng ban Tuyên huấn của Đảng Cộng sản, A.Yakovlev tuyên bố rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm của lịch sử”. Tuyên bố này của A.Yakovlev là một trong những vũ khí tư tưởng trong chiến lược làm tan rã Liên Xô theo kịch bản của phương Tây.

A.Yakovlev sinh năm 1923 trong một gia đình nông dân tại làng Korolevo, tỉnh Yaroslavl của nước Nga. Sau khi phát xít Đức tấn công Liên Xô tháng 6-1941, cũng như hàng triệu thanh niên Xô viết, A.Yakovlev gia nhập quân đội và trở thành chiến sĩ của một lữ đoàn pháo binh. Sau đó, A.Yakovlev nhập học Trường Cao đẳng vũ khí bộ binh Leningrad số 2. Tháng 8-1942, A.Yakovlev bị thương nặng trong chiến đấu và giải ngũ vì lý do sức khỏe.
Năm 1944, A.Yakovlev gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô ở cương vị giảng viên và Trưởng bộ môn huấn luyện quân sự và thể dục thể thao của Đại học Sư phạm Ushinskji, đồng thời học đại học tại chức về khoa học lịch sử. Sau chiến tranh, tháng 10-1945, A.Yakovlev nhập học Trường Đảng cao cấp trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô (sau đây gọi tắt là BCHTƯ). Từ năm 1946 đến 1956, A.Yakovlev trải qua nhiều cương vị khác nhau như Phó trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Yaroslav, chuyên viên về công tác tuyên huấn của Ban Giáo dục trực thuộc BCHTƯ. Từ năm 1956 đến 1959, A.Yakovlev theo học chương trình nghiên cứu sinh tại Bộ môn Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội trực thuộc BCHTƯ.
Trong hai năm 1958-1959, theo chương trình trao đổi giáo dục giữa Mỹ và Liên Xô, A.Yakovlev theo học chương trình thực tập sinh tại Đại học Columbia (Mỹ) dưới sự hướng dẫn khoa học của giáo sư chính trị học Mỹ David Truman, một trong những người sáng lập học thuyết đa nguyên chính trị và là một chuyên gia chống cộng nổi tiếng. Trở về Liên Xô vào năm 1960, A.Yakovlev theo học chương trình nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và bảo vệ luận án phó tiến sĩ về đề tài “Phê bình văn học tư sản Mỹ về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1953-1957”. Năm 1967, A.Yakovlev bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài “Khoa học chính trị Hoa Kỳ và các chính sách đối ngoại của đế quốc Mỹ giai đoạn 1945-1966”.
Trong những năm 1960-1973, A.Yakovlev giữ các chức vụ Phó trưởng ban và sau đó là Trưởng ban Tuyên huấn của BCHTƯ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của M.Suslov, Bí thư BCHTƯ về tư tưởng. Từ cương vị cực kỳ quan trọng này, năm 1973, A.Yakovlev được điều chuyển làm Đại sứ Liên Xô tại Canada trong thời gian 10 năm. Trong thời gian làm Đại sứ tại đây, A.Yakovlev có dịp tiếp xúc gần gũi và thân mật với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư BCHTƯ M.Gorbachev khi ông này thăm chính thức Canada. Theo hồi ký của Trung tướng KGB Y.Pitovranov, Phòng Thương mại và Công nghiệp Liên Xô (một tổ chức được thành lập vào năm 1969 với nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo thông qua các doanh nhân phương Tây quan tâm đến hoạt động kinh tế ở Liên Xô) đã từng báo cáo rằng, trong thời gian làm Đại sứ Liên Xô ở Canada, A.Yakovlev đã bị cơ quan tình báo nước ngoài tuyển mộ bằng những quà tặng có giá trị vượt quá xa tiền lương và cả kinh phí được chính phủ phân bổ cho đại sứ quán. Đáng chú ý là, do tiết lộ của A.Yakovlev trong thời gian ông làm Đại sứ tại Canada, có tới 17 nhân viên Đại sứ quán Liên Xô bị Chính phủ Canada trục xuất với cáo cuộc hoạt động gián điệp dưới vỏ bọc ngoại giao. Chủ tịch KGB Y.Andropov đã phê chuẩn bản báo cáo về A.Yakovlev và gửi tới Tổng Bí thư L.Brezhnev. Tuy nhiên, sau khi đọc xong báo cáo, L.Brezhnev nói: “Là Ủy viên BCHTƯ, A.Yakovlev không thể là kẻ phản bội”. Mặc dù vậy, Y.Andropov vẫn đề nghị bãi miễn chức đại sứ của ông ta. Tuy nhiên, Trưởng ban Tổ chức Trung ương M.Suslov đã bác bỏ đề nghị này. Sau khi trở về Liên Xô, A.Yakovlev được M.S.Gorbachev tiến cử vào chức Viện trưởng Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế và được chấp thuận.
Kể từ khi M.Gorbachev lên làm Tổng bí thư thực hiện chính sách “cải tổ” Liên Xô vào năm 1985, A.Yakovlev được bổ nhiệm Trưởng ban Tuyên huấn BCHTƯ chuyên trách về công tác tư tưởng, thông tin và văn hóa và được bầu vào Bộ Chính trị. Năm 1989, A.Yakovlev được giao nhiệm vụ Trưởng ban soạn thảo Cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong thời gian này, A.Yakovlev cấp phép lưu hành và phổ biến 30 bộ phim từng bị cấm trình chiếu trước đây và cho xuất bản trên Báo Sự Thật-cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô, những công trình của các nhà triết học Nga từng bị cấm lưu hành. A.Yakovlev còn được giao đảm nhiệm Trưởng ban chuẩn bị nghị quyết “Về công khai hóa” (Glasnost) và phụ trách chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 10-1988, A.Yakovlev được giao Trưởng ban của Bộ Chính trị chuyên trách nghiên cứu các tài liệu liên quan tới “chiến dịch thanh trừng” trong những năm 1930-1940 và đầu thập niên 1950. Dưới sự lãnh đạo của A.Yakovlev, bộ máy truyền thông Liên Xô tiến hành chiến dịch xuyên tạc vai trò của J.Stalin.
Năm 1989, tại Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô, A.Yakovlev trình bày bản báo cáo về những hậu quả của Hiệp ước Xô-Đức về không tấn công lẫn nhau năm 1939 (còn gọi là Hiệp ước Molotov-Ribbentrov). Trên cơ sở nghị quyết này, một chiến dịch rộng lớn được triển khai nhằm xuyên tạc lịch sử Chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít. Dựa vào chiến dịch này, báo chí phương Tây ra sức tuyên truyền nhằm cáo buộc J.Stalin và Hitler đều có tội gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai.
Trong những năm “cải tổ” ở Liên Xô, A.Yakovlev hiện nguyên hình là kẻ chống chủ nghĩa xã hội, chống Chủ nghĩa Mác-Lênin với tuyên bố Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”. Theo lập luận của A.Yakovlev, vì Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử” nên cần phải xóa bỏ mọi sản phẩm ra đời từ “sai lầm” đó, bao gồm tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà nước Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Liên Xô và toàn bộ lịch sử Liên Xô kể từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có lịch sử Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Báo Nước Nga Xô Viết số ra ngày 7-5-1991 đăng bức thư ngỏ của Gennady Zyuganov (về sau là Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga) gửi A.Yakovlev với tiêu đề “Kiến trúc sư trưởng bên đống đổ nát”. Sau khi bức thư này được công bố, báo chí Nga gọi A.Yakovlev là “kiến trúc trưởng công cuộc cải tổ” dẫn tới sự sụp đổ Liên Xô. Gần đây, ở Nga xuất bản nhiều công trình nghiên cứu khẳng định tập đoàn lãnh đạo Liên Xô do M.Gorbachev và A.Yakovlev đứng đầu là những kẻ phản bội lý tưởng của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, phản bội Liên Xô.
Cựu Chủ tịch KGB V.Kryuchkov từng viết trong cuốn “Hồ sơ cá nhân” xuất bản năm 1994: “Tôi chưa bao giờ nghe thấy A.Yakovlev nói một lời ấm áp nào hay thể hiện niềm tự hào về tổ quốc, chí ít là về chiến thắng của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Điều này khiến tôi đặc biệt ngạc nhiên vì chính A.Yakovlev là người đã từng tham gia cuộc chiến tranh này. Tôi cũng chưa bao giờ nghe A.Yakovlev nói một lời tử tế nào về nhân dân Nga. Đối với A.Yakovlev, khái niệm “nhân dân” hoàn toàn không hề tồn tại”.
Trong hồi ký của mình, A.Yakovlev tiết lộ: “Bằng cách nào đó, chúng tôi sẽ phải kết liễu hệ thống chính trị Xô viết. Có nhiều cách khác nhau như ủng hộ và tôn vinh những người bất đồng chính kiến. Nhưng biện pháp này không có hiệu quả. Cần phải phá hoại Liên Xô từ bên trong và cách duy nhất đúng để đạt mục tiêu đó là phá bỏ cơ chế quản lý toàn trị của hệ thống đó. Và chúng tôi đã thành công”. Năm 2001, trong Lời giới thiệu của cuốn “Sách đen về chủ nghĩa cộng sản”, A.Yakovlev thừa nhận: “Vào thời kỳ đầu của cải tổ, chúng tôi buộc phải nói dối, phải tuyên truyền theo kiểu đạo đức giả. Không còn cách nào khác”. Trong thời kỳ này, M.Gorbachev thường hô hào “hoàn thiện chủ nghĩa xã hội”, “xây dựng chủ nghĩa xã hội nhân đạo”. Theo A.Yakovlev, mục tiêu của “cải tổ” là tái cấu trúc hệ thống toàn trị, tiến tới phá bỏ hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản. A.Yakovlev cho rằng, chế độ toàn trị ở Liên Xô chỉ có thể bị phá hủy bằng cách kết hợp công khai hóa với cơ chế kỷ luật toàn trị của Đảng.
Tại Hội nghị lần thứ 27 (năm 1986) của BCHTƯ, M.Gorbachev tuyên bố: “Cần mở rộng công khai. Không có công khai thì không có dân chủ, không có sáng tạo chính trị”. Tuyên bố này mở đường cho các phương tiện thông tin đại chúng xuyên tạc lịch sử Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa, công kích Đảng Cộng sản và quân đội Liên Xô. Theo đề xuất của A.Yakovlev, nhiều tổng biên tập các báo chủ chốt của Liên Xô như Báo Sự thật-Cơ quan trung ương của đảng, Báo Tin tức, Tạp chí Thế giới mới, Ngọn cờ, v.v.. được thay thế bằng các tổng biên tập ủng hộ chủ trương “cải tổ”.
Mặt khác, sử dụng cơ chế kỷ luật của Đảng, M.Gorbachev và A.Yakovlev đã ngăn cấm những tư duy lành mạnh và dân chủ trong Đảng và trong toàn xã hội, ngăn chặn mọi động thái chống “cải tổ”. A.Yakovlev chia sẻ trong hồi ký của mình: “Nhìn lại, tôi có thể tự hào mà nói rằng đó là chiến thuật thông minh nhưng rất đơn giản để hủy diệt hệ thống toàn trị của chủ nghĩa cộng sản”.
Nhận định về sự sụp đổ Liên Xô, Tổng thống Nga V.Putin cho rằng, lẽ ra Liên bang Xô viết có thể tiếp tục tồn tại và phát triển bằng cách cải cách hệ thống chính trị và chế độ kinh tế mà không cần phải làm một cuộc cách mạng. Tổng bí thư Y.Andropov đã từng có kế hoạch cải cách kinh tế theo hướng thị trường và hợp tác với phương Tây, đồng thời duy trì sức mạnh quân sự vượt trội, trên cơ sở đó từng bước cải cách hệ thống chính trị. Theo Y.Andropov, phải đưa Liên Xô hội nhập với phương Tây trên thế mạnh. Do đột ngột qua đời vào năm 1984, Y.Andropov đã không thể thực hiện đến cùng kế hoạch đề ra. Chính vì thế, cái chết của Y.Andropov đến nay vẫn là một bí ẩn của lịch sử.

Chống phá Quân đội - âm mưu cũ, thủ đoạn mới

Chống phá Quân đội là âm mưu xuyên suốt trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Gần đây, mưu đồ này được chúng thực hiện một cách ráo riết và trực diện hơn, với những thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt. Chúng ta cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác và chủ động đấu tranh. Cùng với thủ đoạn đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, gần đây, các thế lực thù địch sử dụng một số thủ đoạn mới để chống phá Quân đội, hòng làm mất chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời gây hoang mang dư luận, hạ thấp uy tín, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Nổi lên, một số thủ đoạn chống phá mới như sau: 1. Mượn danh, mạo danh cán bộ cấp cao của Quân đội đã nghỉ hưu để nói xấu lãnh đạo Bộ Quốc phòng. Trò “gắp lửa bỏ tay người” này trước đây họ đã sử dụng, gần đây càng ráo riết hơn. Qua thẩm tra của các cơ quan chức năng trong Quân đội thấy rằng, một số đồng chí cán bộ cao cấp của Quân đội đã nghỉ hưu, trong đó có cả cán bộ cấp tướng hoàn toàn bất ngờ trước việc mạo danh, mượn danh mình để nói xấu, gây hại Quân đội và các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng. Có đồng chí cán bộ quân đội khi bị mạo danh đã rất phẫn nộ, đòi nghiêm trị kẻ phi nhân tính, lừa đảo. Mặc dù vậy, cũng phải nói rằng, trong xã hội không phải ai cũng có thông tin chính xác và đầy đủ để nhận biết rõ sự thật, “trắng đen”. Vì thế, thủ đoạn này của họ tuy không thật mới nhưng ở mức độ nào đó cũng gây những hiệu ứng tiêu cực, đòi hỏi chúng ta phải nêu cao cảnh giác để phòng ngừa, chủ động đấu tranh. 2. Họ tuyên truyền Quân đội chỉ có chức năng chiến đấu, không có và không nên lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Đây là một thủ đoạn mới, chống phá trực diện Quân đội ta. Vừa qua, lợi dụng một số vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, như: sân golf, quản lý và sử dụng đất quốc phòng; sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội; họ tuyên truyền trên in-tơ-nét và một số trang mạng xã hội nhiều tin, bài, comment, video clip,... xuyên tạc, trong đó tập trung phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất” của Quân đội, bản chất, truyền thống tốt đẹp và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là những ý kiến phiến diện, một chiều, không có cơ sở. Xét về bản chất, Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Ngay từ ngày đầu thành lập (22-12-1944) đến nay, Quân đội ta luôn thể hiện rõ bản chất cách mạng, phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng với truyền thống đáng tự hào của Quân đội anh hùng: trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Xét về chức năng, Quân đội có ba chức năng cơ bản, trong đó có chức năng “đội quân lao động sản xuất”. Hiến pháp năm 2013, Điều 65 đã ghi: “Lực lượng vũ trang nhân dân... cùng với toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Như vậy, về mặt pháp lý, cùng với chức năng, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, Quân đội còn tham gia sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội xây dựng đất nước và đó là truyền thống, bản chất của Quân đội ta - “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực tiễn quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, phát triển 73 năm qua, Quân đội đã thực hiện và hoàn thành tốt chức năng cơ bản này. Trong kháng chiến, bộ đội vừa trực tiếp huấn luyện, chiến đấu trên các chiến trường, vừa tích cực tăng gia sản xuất, tạo nguồn hậu cần tại chỗ, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo sức khỏe cho bộ đội chiến đấu thắng lợi. Trong thời bình, với bản chất, truyền thống của Quân đội ta, việc tiếp tục tăng gia sản xuất là rất cần thiết. Vẫn biết rằng, Quân đội là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhưng không có nghĩa là không tham gia xây dựng đất nước. Thông qua thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, Quân đội đã và đang góp phần vào việc tăng cường tiềm lực quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cải thiện đời sống bộ đội. Đi đến đâu, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” hăng say trên mặt trận lao động sản xuất, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng cũng để lại những dấu ấn đẹp trong lòng nhân dân. Hiến pháp năm 2013, Điều 68 quy định: “... xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”. Theo đó, các doanh nghiệp quân đội được trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang trong hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người và cơ sở vật chất, trang thiết bị của các doanh nghiệp quân đội là việc làm cần thiết để Quân đội tham gia cùng với toàn dân xây dựng đất nước và làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Quân đội không tận dụng được nguồn lực này, trước hết là lãng phí, tiếp đó là không thực hiện tốt chức năng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Vì thế, hà cớ gì mà các doanh nghiệp quân đội lại không được tham gia sản xuất, phát triển kinh tế đất nước? Hiện nay, trong Quân đội không có loại hình doanh nghiệp kinh tế thuần túy, ngay cả các doanh nghiệp kinh tế, thương mại cũng góp phần nhất định vào việc xây dựng Quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, thực hiện các chính sách xã hội, hậu phương Quân đội. Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp này phải chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, nhất là Luật Doanh nghiệp, bình đẳng như các doanh nghiệp dân sinh khác. Đối với loại hình doanh nghiệp quốc phòng, trước hết phải hoàn thành nhiệm vụ chính trị là sản xuất hàng quốc phòng theo chỉ tiêu được giao, tiếp đó mới tận dung công năng dôi dư để sản xuất các mặt hàng phục vụ dân sinh. Nhưng cần thấy, dây chuyền, công nghệ sản xuất các sản phẩm này có tính lưỡng dụng để có thể sẵn sàng chuyển sang sản xuất quốc phòng khi đất nước có chiến tranh. Như vậy, có thể thấy, các doanh nghiệp quốc phòng cũng đóng góp tích cực vào sự nghiệp hiện đại hóa Quân đội. Các doanh nghiệp quân đội có mặt trên mọi miền Tổ quốc, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo và đây cũng là những lĩnh vực, địa bàn mà các doanh nghiệp khác khó hoặc không làm được. Cho nên, các doanh nghiệp Quân đội đã và đang tham gia tích cực, hiệu quả vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới. Trong đó, các doanh nghiệp quân đội đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Theo Nghị quyết thì nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng là “chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Y tế và các địa phương liên quan tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho y, bác sĩ, cán bộ y tế cơ sở cho các xã thuộc huyện nghèo, xây dựng trạm xá quân dân y kết hợp; phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vận động thanh niên, trí thức trẻ tình nguyện đến công tác tại các xã thuộc huyện nghèo, các khu kinh tế - quốc phòng, để tạo nguồn cán bộ cho địa phương; chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng, các đoàn kinh tế - quốc phòng, các lực lượng an ninh tham gia xây dựng các công trình hạ tầng; xây dựng trường nghề để đào tạo nghề đối với bộ đội xuất ngũ và lao động của địa phương; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giúp dân xây dựng nếp sống mới, bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn”. Với nhiệm vụ được giao như vậy, đã tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp quân đội khẳng định vị thế của mình trong tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng đất nước, chứ không như những ý kiến lạc lõng, thiếu căn cứ của một số người chuyên đi “thọc gậy bánh xe” để chống phá Quân đội. Với việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng1 trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng - an ninh, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, tổ chức quy hoạch, bố trí lại dân cư, tạo việc làm, điều kiện cần thiết cho các hộ dân định cư lâu dài, hình thành các điểm, cụm dân cư tập trung trên vành đai biên giới, địa bàn xung yếu, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược. Với tinh thần đó, từ năm 2000 đến nay, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã đỡ đầu, đón nhận trên 101.000 hộ dân vào sinh sống, lập nghiệp trong các khu kinh tế - quốc phòng; xây dựng mới 536 điểm dân cư tập trung với trên 32.000 hộ dân; xóa 344 thôn, bản “trắng” đảng viên; củng cố, giúp hàng nghìn chi bộ, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở đi vào hoạt động nền nếp có hiệu quả, v.v. Điều đó tạo ra nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ, công nhân, người lao động các binh đoàn 15, 16 làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng trên biên giới Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ đã sát cánh cùng cấp ủy, chính quyền địa phương, phát huy tiềm năng, thế mạnh trên từng địa bàn, vừa sản xuất, phát triển kinh tế, vừa tham gia tích cực vào sự nghiệp tăng cường quốc phòng, ổn định dân cư, tạo việc làm cho đồng bào, khắc phục được tình trạng di dịch cư tự do, chống buôn lậu, buôn bán người, ma túy, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Đó là một minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. 3. Họ cho rằng, Quân đội sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích. Lợi dụng một số công trình, dự án liên quan đến đất quốc phòng, như: sân bay Tây Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh và sân bay Miếu Môn thuộc xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội, họ lớn tiếng cho rằng, Quân đội sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích, phục vụ “lợi ích nhóm” và để hoang hóa, không hiệu quả. Đó là cách nhìn thiển cận chỉ thấy hiện tượng mà không hiểu bản chất của sự việc. Quân đội được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao quản lý đất quốc phòng, nhằm phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng luôn được các cấp trong Quân đội quán triệt, thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy định. Tuyệt nhiên không có việc sử dụng vào “lợi ích nhóm” như ai đó xuyên tạc hoặc cố tình “hiểu nhầm”. Trong quá trình quản lý, sử dụng đất quốc phòng có thể có nơi này, nơi khác chưa có nhu cầu sử dụng cho nhiệm vụ quốc phòng nhưng luôn phải sẵn sàng đáp ứng yêu cầu đó, chứ không phải đất hoang hóa. Thừa nhận rằng, trong quá trình quản lý, sử dụng đất quốc phòng có trường hợp cá nhân, đơn vị cơ sở thực hiện chưa tốt, thậm chí chưa đúng mục đích. Những cá nhân, tập thể đó được cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo đúng quy định của pháp luật và kỷ luật Quân đội đảm bảo đúng người, đúng sai phạm, tuyệt nhiên không có vùng cấm. Nếu chỉ vì một vài trường hợp cụ thể để suy diễn, kết luận Quân đội quản lý, sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích là cách xem xét thiếu khách quan, không loại trừ nhằm dụng ý xấu. Trước những hành động chống phá chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng nói trên, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mưu đồ đó.

Đừng đánh mất phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản

Giản dị trong lối sống không chỉ là một đặc trưng làm nên nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam, mà còn là một giá trị đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, những năm gần đây, do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, một bộ phận cán bộ, đảng viên đang tự mình đánh mất tính giản dị vốn là phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản. Một trong những nét đặc trưng làm nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã được Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng chỉ ra: “Sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”. Tính giản dị trong lối sống của con người Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của một dân tộc sinh ra, lớn lên và gắn bó với nền văn minh lúa nước, gắn kết với cộng đồng làng xã. Thời xa xưa, do nghề trồng lúa nước phải phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên, nên người Việt luôn có ý thức tích cốc phòng cơ, chi tiêu tiết kiệm, sinh sống đạm bạc, giản dị, phòng khi mùa màng thất bát hay thời kỳ giáp hạt khó khăn vẫn có của ăn của để nhằm tránh rơi vào tình cảnh đói khát. Theo quan niệm của ông cha ta, tính giản dị trong lối sống không phải là “gò” mình vào cuộc sống kham khổ, cũng không phải là thói keo kiệt bủn xỉn đến mức giống anh chàng “đến chết vẫn hà tiện” như một câu chuyện ngụ ngôn, mà đó chính là một phương châm sống lành mạnh, một nếp sống thanh cao, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của bản thân, gia đình và không rời xa những chuẩn mực đạo đức chung của cộng đồng. Từ xưa đến nay, những bậc chí sĩ, túc nho, văn nhân, anh hào đều lấy sự thanh tao trong cuộc sống làm niềm vui, coi tính giản dị trong lễ tiết, tác phong và nếp sống làm trọng. Nhiều vị quan thanh liêm còn sống mãi với nhân dân, trường tồn trong lòng dân tộc bởi họ có một điểm chung: Đó là lòng yêu nước thương dân, tự nguyện hòa mình vào cuộc sống cần lao của người dân, không bao giờ sống hưởng thụ, xa hoa trong khi đời sống đồng bào còn nhiều gian khó. Thời nay, khi kinh tế-xã hội đất nước phát triển, của cải vật chất dồi dào hơn, nhân dân nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng không nhất thiết phải sống tằn tiện như thời bao cấp. Tuy vậy, cán bộ, đảng viên cũng không nên và không được phép sống xa hoa, cách biệt với nhân dân, bởi sống như vậy không chỉ là xa rời những giá trị truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, mà còn trái với đạo đức cách mạng của người cộng sản. Điều cảnh báo mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ ra: Một bộ phận cán bộ, đảng viên sống “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc của người dân” có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất. Việc Đảng ta nhận định một bộ phận cán bộ, đảng viên sống “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn của người dân” là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống là có cơ sở. Bởi sự thờ ơ, vô cảm, thái độ bàng quan, lạnh lùng, thiếu đồng cảm và tình thương yêu đồng loại là hoàn toàn xa lạ, trái ngược với giá trị đạo đức của con người. Đối với cán bộ, đảng viên mà thờ ơ, vô cảm lại càng đáng phê phán, vì đây là “triệu chứng” làm cho căn bệnh ích kỷ cá nhân có cơ hội lên ngôi và cũng là mầm mống của sự sa ngã, tha hóa về phẩm chất đạo đức cách mạng. Thời gian qua, không khó để nhận diện được những biểu hiện sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nếu thấu hiểu đời sống còn nhiều khó khăn của người dân, thì không có tình trạng cán bộ ở nhiều địa phương sa đà vào ăn uống, nhậu nhẹt, tiếp khách lãng phí, thậm chí có xã nghèo ghi nợ chủ quán hàng chục triệu đồng. Nếu hiểu lòng dân, cũng khó diễn ra cái cảnh đám cưới rình rang, đình đám, phô trương của con “ông bí thư nọ, bà chủ tịch kia” giữa thanh thiên bạch nhật. Nếu thực tâm sẻ chia với đời sống lam lũ của bao người dân quanh năm đầu tắt mặt tối với ruộng đồng và quý trọng từng thước đất trồng lúa, trồng cây của bà con nông dân, thì cũng không có chuyện mấy ông cán bộ sở, ngành, doanh nghiệp ở một số địa phương (Yên Bái, Đắc Lắc, Đồng Nai, Sóc Trăng…) xây dựng những công trình tư gia hoành tráng trên đất lâm, nông nghiệp. Hay gần đây, câu chuyện ồn ào về con gái một cán bộ nguyên lãnh đạo cao cấp ngành ngân hàng sở hữu một biệt phủ rộng hơn hai nghìn mét vuông ở huyện Bình Chánh (TP Hồ Chí Minh) khiến dư luận không khỏi hoài nghi về nguồn gốc xuất xứ khối tài sản “khủng” của một người phụ nữ mới 22 tuổi; đồng thời dư luận cũng đặt dấu hỏi về phẩm chất liêm chính, đức tính giản dị của một cán bộ từng công tác lâu năm trong một ngành quan trọng của đất nước. Có lẽ không ngẫu nhiên mà trong Hội nghị xúc tiến đầu tư tại tỉnh Sơn La tổ chức tháng 7-2017, sau khi kêu gọi các nhà đầu tư, các doanh nghiệp hướng về miền núi đầu tư, hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển cho các tỉnh vùng cao, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã bày tỏ trăn trở khi nghe các thông tin về lối sống phô trương, lãng phí, gây nhiều phản cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở một vài tỉnh miền núi. Cũng từ diễn đàn này, Thủ tướng đã “đánh động lương tâm” những cán bộ, đảng viên đang có biểu hiện trượt dài vào lối sống xa hoa cần phải nhớ đến những câu chuyện cảm động về tinh thần hy sinh, nghĩa tình cao cả mà các thầy cô giáo ở những vùng lũ lụt đã hết lòng vì học sinh thân yêu, hết lòng vì thế hệ tương lai của đất nước; nhớ đến hàng vạn hộ dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa vẫn đang phải lo toan vất vả để kiếm kế sinh nhai, chắt chiu từng đồng tiền để nuôi con ăn học. Vẫn biết, cán bộ, công chức, đảng viên cũng là con người, do vậy ai cũng có nhu cầu thiết thân như bao người dân trong xã hội. Nhưng cán bộ, công chức, đảng viên có sứ mệnh cao cả là cùng các cấp ủy, chính quyền chăm lo cuộc sống, công ăn việc làm, học hành, sức khỏe… của người dân, nên phải có trách nhiệm với từng “đồng tiền bát gạo” mà người dân đã đóng góp, nuôi dưỡng bản thân mình. Mặt khác, cán bộ, công chức là hình ảnh thu nhỏ của bộ máy công quyền, do đó phải có trách nhiệm là tấm gương soi chiếu, dẫn dắt toàn dân hướng về và thực hiện những điều tốt đẹp, văn minh để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên tự mình thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính” như lời Bác Hồ đã dạy; đồng thời luôn biết tiết chế, kiểm soát bản thân để không bị sa ngã, quyến rũ bởi những cám dỗ vật chất tầm thường. Rèn luyện nếp sống thanh cao, giản dị; hòa chung với nhịp sống cần lao của người dân; cùng thấu hiểu, sẻ chia với những khó khăn của đồng bào; lắng nghe nỗi niềm lo lắng của bà con và tìm cách tháo gỡ, giải quyết những vướng mắc từ cơ sở… không chỉ góp phần tôn lên vẻ đẹp nhân cách của người cán bộ, đảng viên, mà đó còn là việc làm thiết thực để góp phần củng cố, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân và xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh về đạo đức.

Không thể xuyên tạc, bóp méo sự thật về nhân quyền Việt Nam

Bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thời gian qua, các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc không ngừng bảo đảm và cải thiện các quyền cơ bản của người dân đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Vậy mà đây đó vẫn có những giọng điệu lạc lõng xuyên tạc, bóp méo, phản ảnh không đúng về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Nhưng dù bằng chiêu trò gì chăng nữa, các thế lực thù địch, phản động cũng không thể phủ nhận được những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền của người dân. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là quyền con người được bảo đảm và thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật. Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam đã đặt nhiệm vụ bảo đảm quyền con người vào vị trí trung tâm. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Sau đó, các nội dung liên quan đến quyền con người được thể chế hóa thành những quyền hiến định trong bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946). Qua 4 lần sửa đổi, bổ sung từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959, rồi Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và năm 2013, quyền con người ở Việt Nam đã thực sự trở thành quyền hiến định. Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử xuyên suốt tiến trình đấu tranh cách mạng, thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới mục tiêu cao nhất là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người. Đảng ta chủ trương xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với bản chất là "Nhà nước của dân, do dân và vì dân". Trong hệ thống các quan điểm cơ bản, chính sách nhất quán và khuôn khổ pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đều hướng đến mục tiêu cao nhất là vì con người, cho con người. Để thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế, coi đây là yếu tố then chốt trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến đổi mới công tác xây dựng pháp luật và đẩy mạnh cải cách tư pháp. Công việc này được đặt trong mối quan hệ với chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, hướng tới mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã ban hành mới và bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, trong đó bảo vệ quyền của nhóm các đối tượng dễ bị tổn thương được đặc biệt quan tâm. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm đầy đủ các quyền cơ bản của con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa. Hệ thống pháp luật của Việt Nam đều phù hợp với thực tế đất nước và tương thích với các chuẩn mực quốc tế được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia. Hệ thống luật pháp không ngừng hoàn thiện là tiền đề và điều kiện để Việt Nam từng bước thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về quyền con người, tạo hành lang pháp lý cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Những thành tựu về bảo đảm và cải thiện các quyền cơ bản của người dân Việt Nam được thể hiện rất rõ trong việc thực hiện các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Đặc biệt ở Việt Nam, các quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của người dân luôn được bảo đảm. Nhà nước Việt Nam chủ trương mở rộng dân chủ, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; nhân dân là người quyết định mọi công việc của Nhà nước. Công dân Việt Nam có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do mình tin tưởng bầu ra. Nhà nước Việt Nam không ngừng phấn đấu để bảo đảm và tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, coi đây là một trong những nhóm quyền quan trọng nhất của công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin của người dân theo Hiến pháp và pháp luật. Những năm gần đây, hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng cởi mở, sôi động. Sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung và các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam là một minh chứng về tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin ở Việt Nam. Báo chí ở Việt Nam đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân. Báo chí còn là lực lượng quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong phát hiện, đưa ra ánh sáng nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội, xây dựng bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh. Các quyền của người dân về tự do hội họp và lập hội được bảo đảm và quy định cụ thể trong Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và nhiều văn bản pháp luật. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, ở Việt Nam còn có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 5 đoàn thể bao gồm: Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hàng trăm tổ chức nhân dân bao gồm các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp với hàng chục triệu hội viên. Cùng với các tổ chức công đoàn cấp quốc gia, ở Việt Nam còn có hơn 6.000 tổ chức công đoàn cơ sở. Ngoài ra ở Việt Nam còn có hàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ... hoạt động trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Các tổ chức và hiệp hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản, độc lập và tuân thủ pháp luật... Sự tăng nhanh của các tổ chức, hiệp hội, câu lạc bộ, chứng tỏ quyền tự do hội họp và lập hội của người dân được tôn trọng và bảo đảm. Nhà nước Việt Nam nhìn nhận tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần chính đáng của con người. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam; được bảo đảm tôn trọng trên thực tế. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền của các tín đồ được tự do thờ cúng và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách này đã được thể chế hóa bằng pháp luật. Số chức sắc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng qua từng năm nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tâm linh của nhân dân. Các chức sắc tôn giáo cũng có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, có quyền ứng cử vào Quốc hội và hội đồng nhân dân như mọi công dân khác. Các tôn giáo có quyền và được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện mở trường, cơ sở đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, tham gia các hoạt động xã hội... Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi nhiều chính sách và biện pháp cụ thể để bảo đảm người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có Luật Tín ngưỡng và Tôn giáo được Quốc hội thông qua vào tháng 11-2016 (có hiệu lực vào tháng 1-2018). Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc, coi đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất nước. Chính sách này được thể hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được thể hiện trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân như nhau... Trong khi kinh tế thế giới có lúc lâm vào khủng hoảng và suy thoái, nhưng bằng những giải pháp hữu hiệu, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được ổn định và tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức khá. Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam tăng từ 1.024 USD (năm 2008) lên 2.200 USD (năm 2016). Tăng trưởng kinh tế đã tạo ra những tiền đề quan trọng để Việt Nam giải quyết những vấn đề bức thiết về xã hội, thực hiện tốt hơn các mục tiêu công bằng xã hội, bảo đảm tốt hơn những giá trị quyền con người, quyền công dân. Công cuộc xóa đói, giảm nghèo được Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm và đạt nhiều kết quả được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam nằm trong số các quốc gia được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc vinh danh là nước có nhiều thành tích trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Đặc biệt Việt Nam đã hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ như: Xóa đói, giảm nghèo cùng cực; đạt phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bình đẳng giới và đạt nhiều tiến bộ trong các chỉ tiêu về y tế như giảm tỷ số tử vong mẹ và tỷ suất tử vong trẻ em; đạt mục tiêu về kiểm soát sốt rét và bệnh lao cũng như đẩy lùi tỷ lệ lây lan HIV/AIDS… Tổng thư ký Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2007-2016) Ban Ki-moon đánh giá: Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.... Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được nêu trong các công ước mà mình đã tham gia, tuân thủ nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người. Tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế, Việt Nam luôn được đánh giá cao về cách tiếp cận, ủng hộ đối thoại và hợp tác trong vấn đề quyền con người. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu quan trọng trong bảo đảm các quyền cơ bản của con người mà Việt Nam đạt được và đã dành cho Việt Nam số phiếu ủng hộ cao nhất trong cuộc bầu chọn thành viên tham gia Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Những thành tựu cơ bản trong bảo đảm và phát triển quyền con người ở Việt Nam nêu trên là kết quả từ chính sách nhất quán luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực và nghĩa vụ quốc tế. Những giọng điệu lạc lõng xuyên tạc, bóp méo phản ánh không đúng về tình hình nhân quyền tại Việt Nam của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội là nhằm dụng ý xấu hòng phá hoại sự ổn định và kìm hãm sự phát triển của đất nước Việt Nam. Khi thấy vị thế của Việt Nam ở khu vực và thế giới ngày càng được nâng cao, họ tỏ ra tức tối và tìm cách xuyên tạc, nói xấu nhằm làm giảm uy tín, vai trò của Việt Nam. Thế nhưng "vải thưa không che nổi mắt thánh", những ghi nhận, đánh giá của cộng đồng quốc tế và thực tiễn sinh động trên đất nước Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đối với Việt Nam.

Tặng khẩu trang tẩm thuốc mê, thủ đoạn phạm tội mùa COVID-19

 Lợi dụng tình hình dịch bệnh, các đối tượng phạm tội giả làm cán bộ đến kiểm tra sức khỏe người dân, tặng miễn phí khẩu trang có tẩm thuốc mê cho nạn nhân để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

Khẩu trang dùng xong vứt bừa bãi, sẽ bị phạt nặng

 Bên cạnh tuân thủ các khuyến cáo về thực hiện việc đeo khẩu trang, người dân cần quan tâm đến việc xử lý khẩu trang sau khi sử dụng đúng nơi, đúng cách.

Truyền thống đoàn kết, nhân văn đập tan mọi luận điệu xuyên tạc

 

Tuần qua, các cơ quan báo chí tiếp tục có những bài viết vạch trần luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19, về bản chất của vụ án Lê Dũng vova, công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng.... Bên cạnh đó, nhiều bài báo nêu bật thành công của cuộc bầu cử và công tác phòng, chống Covid-19, qua đó đập tan mọi chiêu trò chống phá hòng vu khống, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta.

Không để một bộ phận giới trẻ lún sâu vào những suy nghĩ, hành vi lệch lạc

Cùng với sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ của đất nước, thế hệ trẻ Việt Nam không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về nhiều mặt. Tuy nhiên, trước sự biến động phức tạp của thời cuộc cũng như ảnh hưởng mặt trái của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, một bộ phận giới trẻ đang dần xa rời những giá trị truyền thống của dân tộc, dễ bị “mất gốc” và từ đó sa đà, lún sâu vào những suy nghĩ, hành vi sai trái, lệch lạc. So với thế hệ cha anh trước đây, thế hệ trẻ ngày nay đã tự tin, năng động hơn, tiếp thu những cái mới nhạy bén hơn; chủ động lựa chọn, tìm kiếm nghề nghiệp để có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, góp phần làm giàu cho bản thân, gia đình và quê hương, đất nước. Nhận thức về lý tưởng, giá trị xã hội cũng cởi mở, thiết thực, phù hợp hơn với xu thế phát triển của đất nước và thời đại. Đó là động lực tích cực giúp thế hệ trẻ tự tin tiến về phía trước, biến những ước mơ, hoài bão, khát vọng của mình thành những hành động, việc làm cụ thể để thể hiện rõ vai trò là lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do những biến động phức tạp của thời cuộc và ảnh hưởng mặt trái của thời đại công nghệ số, một bộ phận giới trẻ Việt Nam đang dần xa rời những giá trị truyền thống của dân tộc, không làm chủ được bản thân trước sự lôi cuốn, huyễn hoặc của lối sống sùng ngoại, lai căng. Trong 27 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu ra tại Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng, có một số biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” liên quan đến giới trẻ khá rõ nét, như: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng; Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Ảnh minh họa. Nguồn: tuyengiao.vn Sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của một bộ phận người trẻ không chỉ dừng lại ở biểu hiện thờ ơ với chính trị, không quan tâm đến những sự kiện, hoạt động của Đảng và Nhà nước, mà còn thể hiện ở thái độ lạnh nhạt với phong trào của Đoàn Thanh niên và không thiết tha tham gia các hoạt động liên quan đến giáo dục lịch sử, truyền thống dân tộc, không mặn mà với các chương trình, nội dung giáo dục chính trị. Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê (Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao), trong vòng 5 năm (từ năm 2009 đến tháng 6-2014) đã phát hiện mới 35.654 đối tượng vị thành niên vi phạm pháp luật, chiếm hơn 16% so với tổng số bị can phạm tội hình sự. Qua khảo sát cho thấy, có 70% vị thành niên phạm tội cho biết không bao giờ tham gia các hoạt động Đoàn. Ngoài xa rời lý tưởng, một bộ phận giới trẻ còn có lối sống thực dụng, ích kỷ, biểu hiện rõ nét nhất là họ để “cái tôi” bản thân quá lớn, bao trùm lên “cái ta” cộng đồng; sống nhanh, sống gấp, sống chỉ vì mình mà không vì mọi người. Theo thông tin gần đây từ một báo cáo khoa học đề tài cấp Nhà nước, qua khảo sát về lối sống của thanh, thiếu niên có tới hơn 20% ý kiến được hỏi cho rằng người trẻ chưa thể hiện được lối sống lành mạnh; hơn 48% vị thành niên thừa nhận lối sống của họ kém hơn thế hệ cha anh. Đáng chú ý là những năm gần đây, sự bùng nổ của mạng xã hội đã lôi cuốn một bộ phận thanh, thiếu niên rơi vào tình trạng “nghiện phây” (facebook). Tháng 10-2016, theo công bố của PGS, TS Huỳnh Văn Sơn, Phó chủ tịch Hội Tâm lý xã hội Việt Nam, qua khảo sát 424 trẻ vị thành niên là học sinh ở độ tuổi 15-18 tại TP Hồ Chí Minh, trong số 414 học sinh đang sử dụng facebook (chiếm 97,6%), có 56,3% em có xu hướng nghiện mạng xã hội này. Thực tế cho thấy, hội chứng “nghiện phây” đã biến một số người trẻ vốn có đầu óc minh mẫn thành những kẻ “sống ảo” mụ mị, ngày đêm “ăn phây, ngủ phây”, đi đâu cũng “phây” và “seo-phi” (selfie) rồi "câu like”, thách thức nhau lên mạng làm những trò quái đản, kỳ quặc như châm lửa đốt trường, nhảy xuống sông... tự vẫn! Phong trào tự phát “nói là làm” từng lây lan trên mạng xã hội thời gian qua như là hậu quả tất yếu của suy nghĩ ngông cuồng, thái độ buông xuôi, bất chấp hậu quả của một bộ phận giới trẻ do sống xa rời thực tế, thiếu tu dưỡng rèn luyện và tự mình... hại mình! Trong khi phần đông giới trẻ vẫn đặt niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, nỗ lực góp sức cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thành công những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thì vẫn có một số người trẻ có tiếng nói sai trái, lệch lạc, phủ nhận con đường phát triển của đất nước. Lợi dụng internet, mạng xã hội, blog, một số trí thức trẻ đã có những bài viết, bình luận, thông tin theo kiểu chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, chỉ thấy hiện tượng rồi nhận định, đánh giá thành bản chất, mà thực chất là thổi phồng khuyết điểm, khoét sâu những mặt trái, tiêu cực xã hội, gây bất lợi cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Chung tay xây dựng môi trường sống lành mạnh cho tuổi trẻ

Tuổi trẻ là sinh khí của dân tộc, là tương lai của đất nước, là sức mạnh quan trọng của quốc gia. Có một thế hệ trẻ hùng hậu với chí hướng, hoài bão lớn, khát vọng cao cả và giàu tinh thần cống hiến, hy sinh, đó là hồng phúc của dân tộc. Vì vậy, bên cạnh việc quan tâm chăm lo thế hệ trẻ không ngừng lớn mạnh, tiến bộ về mọi mặt, cần phải có những giải pháp phù hợp để giới trẻ không bị lún sâu vào những suy nghĩ, hành vi sai trái, lệch lạc. Có một câu danh ngôn, đại ý: Người ta chỉ có thể phát triển khỏe mạnh, lành lặn khi được hít thở và sống trong bầu khí quyển trong trẻo. Suy rộng ra, có thể nói rằng, muốn trở thành công dân tốt, người ta phải được sống trong những môi trường lành mạnh. Môi trường ở đây được hiểu rộng ra là môi trường gia đình, nhà trường, tập thể, cộng đồng, xã hội. Hay nói cách khác, muốn thế hệ trẻ được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tâm hồn thì chúng ta phải quan tâm xây dựng những môi trường liên quan thiết thân đến cuộc sống, sinh hoạt, học tập, lao động, công tác của tuổi trẻ. Gia đình là tế bào của xã hội. Chăm lo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc chính là nền tảng để nuôi dưỡng, giáo dục thanh, thiếu niên thành những công dân tốt. Nhưng môi trường gia đình tốt thôi chưa đủ, mà chúng ta cần chú trọng quan tâm xây dựng nhà trường là nơi ươm mầm tài năng, bồi đắp nhân cách cho thanh, thiếu niên; xây dựng tập thể nơi người trẻ lao động, công tác thực sự trở thành nơi nâng đỡ, hoàn thiện phẩm chất đạo đức, năng lực cho họ; xây dựng cộng đồng nơi người trẻ sinh sống có không khí an cư thân thiện, văn minh; xây dựng xã hội có môi trường văn hóa tốt đẹp, phong phú để tuổi trẻ có thể “tắm mình” trong đó. Để tạo dựng được những môi trường như vậy, đòi hỏi phải có sự quan tâm thường xuyên của cha mẹ, thầy, cô giáo, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương; các cấp, các ngành và toàn xã hội. Cần nhận thức sâu sắc rằng, ở đâu có hoạt động của thanh, thiếu niên, ở đâu có mặt người trẻ thì ở đó phải có trách nhiệm nâng đỡ, dìu dắt, chỉ bảo ân cần, sát sao của những người đi trước. Người trẻ sẽ đi đúng hướng, sẽ có niềm tin lành mạnh, lý tưởng đúng đắn khi cấp ủy, chính quyền, tổ chức đoàn, cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu các cấp luôn coi trọng, tạo điều kiện cho thanh, thiếu niên có môi trường sinh hoạt, học tập, lao động, công tác thật sự thuận lợi, phù hợp với lứa tuổi, sở thích, tâm lý của các em. Người trẻ sẽ bớt đi tính cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ, thực dụng khi các bậc sinh thành, giáo dưỡng và những người có trọng trách “cầm cân nảy mực” trong xã hội luôn có lối sống chuẩn mực, gương mẫu về đạo đức, nhân cách, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người trẻ cũng sẽ giảm dần lối "sống ảo”, "nghiện phây” khi gia đình, bố mẹ, thầy cô, cán bộ đoàn chủ động gần gũi sẻ chia, động viên, giúp đỡ, định hướng cho các em tự giác, nhiệt tình tham gia vào những hoạt động, sinh hoạt, vui chơi, giải trí bổ ích. Người trẻ cũng sẽ bớt đi những suy nghĩ chưa đúng về đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa khi những người có trách nhiệm sẵn sàng đối thoại, lắng nghe tâm tư, tình cảm, nguyện vọng thực tế của họ; đồng thời khéo léo tìm cách tháo gỡ những vướng mắc trong tư tưởng, thái độ của họ để cùng tìm ra tiếng nói chung, tạo sự đồng thuận nhằm hướng tới những mục tiêu cao cả của đất nước, xã hội. Thanh, thiếu niên là những người đang ở độ tuổi hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhân cách. Do vậy, để phòng, chống những nguy cơ, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lực lượng này, bên cạnh những giải pháp chính trị, hành chính thì cần coi trọng giáo dục, tuyên truyền, vận động và nhất là có cách ứng xử, đối xử sao cho khéo léo, phù hợp với từng đối tượng thanh niên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Dưới góc độ văn hóa, đây là cách làm hiệu quả vì nó biết chạm đến trái tim của tuổi trẻ một cách tinh tế, sâu sắc mà vẫn đạt được mục đích, mong muốn của nhà quản lý.

Từ lời dạy của Bác Hồ: Chặt cành để cứu cây

Những việc làm trên là cần thiết để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, để không ngừng làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước ta. Điều đó là nhất quán trong quan điểm của Đảng cũng như theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hoàn toàn không có chuyện thanh trừng, đấu đá nội bộ. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến còn đầy gian khổ, thù trong giặc ngoài, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết chống tham ô, tiêu cực với tinh thần, dù đau đớn nhưng vẫn phải chặt cành để cứu cây. Năm 1950, vụ án Trần Dụ Châu được phát hiện từ bức thư của nhà thơ Đoàn Phú Tứ, đại biểu Quốc hội khóa I gửi lên Bác Hồ. Người đã giao bức thư cho Thiếu tướng Trần Tử Bình, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra Quân đội yêu cầu điều tra làm rõ và nói: “Bác đã đọc kỹ lá thư và rất đau lòng”. Ít lâu sau, nhận báo cáo điều tra cụ thể, Bác Hồ dứt khoát nói: “Một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ, không để nó lây lan, nguy hiểm”. Năm 1964, Bác Hồ tiếp tục nhận được ý kiến xin giảm tội cho một cán bộ tha hoá, biến chất là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng. Sau khi xem xét, cân nhắc, Người quyết định: "Thà chặt một cành sâu để cho cây xanh tốt".

Bảo đảm an toàn cho các doanh nghiệp khi hoạt động trở lại


    Đến nay, tình hình dịch Covid-19 tại Bắc Giang đang từng bước được kiểm soát và khống chế. Thực tế trên đặt ra cho Bắc Giang một nhiệm vụ cấp bách là làm sao vừa chống dịch nhưng cũng phải nhanh chóng đưa sản xuất hoạt động trở lại bảo đảm an toàn.

    Để hỗ trợ Bắc Giang thực hiện mục tiêu sớm đưa sản xuất trở lại, thời gian qua, Chính phủ, Bộ Y tế đã liên tục cung cấp vaccine cho Bắc Giang để triển khai tiêm cho công nhân với tổng số vaccine phân bổ sau 3 đợt là 160.000 liều. Không những thế, Bộ Y tế còn điều động hàng nghìn nhân lực y tế để giúp Bắc Giang hoàn thành chiến dịch tiêm chủng vượt thời kế hoạch (hoàn thành tiêm 150.000 liều vaccine trong 5 ngày).

    Để bảo đảm an toàn cho công nhân khi hoạt động trở lại, theo tôi doanh nghiệp phải bố trí nơi ăn, ở và sinh hoạt cho công nhân ngay tại nhà máy để bảo các yêu cầu phòng dịch. Bên cạnh đó, người lao động phải được xét nghiệm âm tính Covid-19 và được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận kiểm soát dịch bệnh. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải có khu cách ly tập trung riêng cho lao động; hoạt động sản xuất đảm bảo giãn cách, chưa chạy tối đa công suất; thường xuyên gửi danh sách các khách hàng, đơn vị cung cấp dịch vụ có giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp để theo dõi, đảm bảo an toàn phòng dịch... Đặc biệt, trước khi tổ chức sản xuất lại, doanh nghiệp bố trí đón công nhân đến nơi ở tập trung của doanh nghiệp ít nhất 3 ngày trước khi làm việc và thực hiện xét nghiệm Covid-19 cho toàn bộ lao động.

    Việc đưa sản xuất trở lại là rất cần thiết, tuy nhiên chỉ được sản xuất trở lại khi các doanh nghiệp bảo đảm đủ các điều kiện an toàn. TTQ

Thái độ của một Đảng “mạnh dạn, tiến bộ, chân chính”

Phải xem xét, xử lý kỷ luật và truy tố trước pháp luật bất kỳ cán bộ, đảng viên nào là điều không ai mong muốn. Càng đau xót và đáng tiếc hơn khi đó là những đồng chí cán bộ cấp cao, từng kinh qua rèn luyện, trưởng thành và có đóng góp nhất định với đất nước. Nhưng Đảng ta là đảng cầm quyền, ngoài phấn đấu, làm việc vì lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Và để xứng đáng với sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng phải không ngừng tự chỉnh đốn. Chúng ta cần ghi nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng: “... Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”. Đảng ta luôn khẳng định, mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước pháp luật. Hơn thế, đảng viên vi phạm ngoài bị xử lý theo đúng pháp luật còn phải bị xử lý theo đúng kỷ luật Đảng một cách tự giác, nghiêm minh. Thậm chí, ở một khía cạnh nào đó phải được xử lý nghiêm minh hơn, có như vậy, mới xây dựng được xã hội pháp quyền, thượng tôn pháp luật, mới tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và niềm tin trong nhân dân về một Đảng “mạnh dạn, tiến bộ, chân chính”. Nguyên tắc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm được ghi rõ trong Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị mới ban hành gần đây đã nêu rõ: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”.

Để có triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu lên quan điểm nhân văn nhưng cũng rất kiên quyết, thể hiện rõ ý chí của Đảng, Nhà nước ta trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình; trái lại, rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người!”. Rồi đây, sự việc những cán bộ vi phạm sẽ tiếp tục được điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Qua mỗi sự việc được làm sáng tỏ, sẽ rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức và cũng là dịp để chúng ta “tự soi, tự sửa”, là dịp để củng cố, không để còn những lỗ hổng pháp lý, lỗ hổng trách nhiệm và cả “lỗ hổng lương tâm”, giúp bộ máy Nhà nước của chúng ta ngày càng hoàn thiện hơn. Và như vậy, cuộc chiến chống tham nhũng đã và đang đạt được lợi ích kép, vừa tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vừa giáo dục, rèn luyện đảng viên tốt hơn, vừa hoàn thiện hệ thống pháp luật và bộ máy chứ đâu phải “chỉ có thay đổi thể chế mới chống được tham nhũng” như những luận điệu cực đoan đang rêu rao. Chúng ta càng không thể mơ hồ, ảo tưởng vào những luận điệu mị dân như phải tiếp cận dân chủ, nhân quyền phương Tây, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, thay đổi thể chế mới đẩy lùi được tham nhũng. Trên thực tế, chẳng phải thay đổi thể chế thì chống tham nhũng tốt hơn mà điều quan trọng nhất chính là giáo dục, răn đe, tạo ra sự chuyển biến trong toàn Đảng, toàn dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu quan điểm: “Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ”; để từ đó “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng trăm, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”. Chỉ có bằng việc không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính trị, giúp bộ máy Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn để dân thêm giàu, nước thêm mạnh mới là con đường tốt nhất.

Thúc đẩy tiêu thụ nông sản và bảo đảm an toàn phòng chống dịch

 


    Ngay trong tối qua (12-6), lô vải thiều Thanh Hà của tỉnh Hải Dương gần 1 tấn đầu tiên gắn tem truy xuất nguồn gốc được xuất khẩu chính ngạch sang Pháp. Trước đó, những ngày cuối tháng 5, hàng chục tấn vải thiều cũng được xuất khẩu sang Nhật Bản... Theo tôi, có được kỳ tích này với mặt hàng quả vải nói riêng và hàng nông sản của Việt Nam nói chung là nhờ sự vào cuộc chủ động, tích cực của các doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường, bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch dưới sự hỗ trợ, tạo điều kiện của các cơ quan chức năng, bộ, ngành.

    Thời điểm này đang vào giai đoạn chính thu hoạch của nhiều mặt hàng hoa quả, nông sản trong nước nhưng hoạt động thông quan, bảo đảm lưu thông cho nông sản vẫn được thực hiện rất tốt. Do đang trong giai đoạn chịu tác động của dịch Covid-19 nên nhiều biện pháp hỗ trợ đã được áp dụng thực hiện đúng quy trình kiểm soát an toàn dịch như phải có Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh đối với sản phẩm nông sản địa phương, tiêm vaccine cho lái xe vận chuyển, giao nhận hàng hóa, đổi lái xe ở các khu vực trung chuyển gần biên giới hoặc giảm quy trình thủ tục, chi phí dịch vụ tại các cửa khẩu, cảng biển để việc lưu thông hàng hóa được thuận tiện hơn. Tại các khu vực cửa khẩu, nhiều khu trung chuyển, kho lạnh, kho logistics lớn, bảo đảm chất lượng, khối lượng đã được xây dựng, không chỉ giúp tăng khả năng lưu trữ mà còn là nơi phân loại, cho đối tác sang xem hàng hoặc thực hiện các thủ tục kiểm dịch...

    Các bộ, ngành, địa phương cũng đã tổ chức phối hợp chặt chẽ để tạo sự thông thoáng về thủ tục hành chính, nhờ đó nhiều vướng mắc về hàng rào kỹ thuật ngoại thương đối với các thị trường đã được giải quyết, góp phần thông thương hàng hóa không chỉ đối với thị trường truyền thống mà cả thị trường khó tính.

    Rõ ràng, cùng với sự tích cực phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và sự chủ động, sáng tạo, linh hoạt điều chỉnh sản xuất, phương thức kinh doanh của doanh nghiệp đã góp phần thực hiện được mục tiêu kép, vừa thúc đẩy tiêu thụ nông sản an toàn, vừa bảo đảm phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả. NXD

 

“Phủ bụi” vào lịch sử là mắc trọng tội với thế hệ cha ông

Khi nói về lịch sử, đại văn hào người Pháp Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ. 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng quân giải phóng đã tiến qua cổng sắt đánh chiếm Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Ảnh tư liệu. Để tiếng vọng đó có ý nghĩa, giá trị với hiện tại và tương lai, đòi hòi thế hệ đi sau không chỉ có thái độ chuẩn mực, phương pháp khoa học khi nhận định, đánh giá về các sự kiện, vấn đề của lịch sử, mà cần có ý thức thận trọng khi phát ngôn, diễn giải về lịch sử. Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Do vậy, khi nhìn nhận về các sự kiện, vấn đề lịch sử trước hết cần phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử. Điều hiển nhiên này tưởng như ai cũng biết, nhưng thực tế không phải ai cũng quan niệm, ứng xử một cách chừng mực, đúng đắn. Có người do thiếu kiến thức lịch sử, chưa nghiên cứu thấu đáo những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ nên khi xem xét về lịch sử còn hời hợt, phiến diện. Nhưng cũng có người do thiếu nhãn quan chính trị chuẩn mực nên có những phát ngôn chưa đúng về lịch sử, thậm chí nhìn nhận lịch sử bằng con mắt hẹp hòi, đánh giá lịch sử bằng thái độ bôi nhọ, xuyên tạc. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về chính trị tư tưởng mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra. Thời gian qua, không khó để nhận diện những thái độ hạ thấp, “phủ bụi” vào lịch sử. Ví như có người ngộ nhận khi cho rằng, “Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chỉ cần “trung với nước, hiếu với dân” là đủ, là đúng với tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra"(!). Vì khi đưa ra lý do này, họ viện cớ rằng, 6 chữ “trung với nước, hiếu với dân” thêu trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng cán bộ, giáo viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) trong ngày khai giảng khóa I (26-5-1946) cũng là lời Bác nhắc nhở quân đội nói chung”. Nhưng có một sự thật lịch sử cần phải nhắc lại, đó là trong dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12-1964, Bác Hồ đã khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Vì vậy, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân không chỉ thể hiện, phản ánh bản chất sự thật lịch sử ra đời, trưởng thành, phát triển của QĐND Việt Nam, mà còn là một trong những cội nguồn và động lực lịch sử làm nên những chiến công hiển hách của Quân đội ta, một quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Cách đây chưa lâu, dư luận từng xôn xao trước việc một số nhà nghiên cứu từng đề xuất bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” của chế độ Việt Nam cộng hòa. Nhân cơ hội đó, một số người a dua cho rằng, “việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng nhằm hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh”(!). Nhìn nhận như vậy là chưa khách quan, chưa đúng với sự thật lịch sử. Vì thực tế, “ngụy quân”, “ngụy quyền” tuy vẫn mang dòng máu đỏ da vàng của người Việt, song lực lượng và chế độ này ra đời không đại diện cho tinh thần dân tộc chân chính, đi ngược lại lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam và đó chỉ là lực lượng tay sai, chế độ bù nhìn cho các thế lực ngoại bang xâm lược, giày xéo giang sơn bờ cõi Việt. Do không mang tính chính danh nên họ không đủ tư cách để đứng ngang hàng với QĐND Việt Nam và chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-một quân đội cách mạng và một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là một sự thật lịch sử không thể xuyên tạc. Chiến tranh là nỗi ám ảnh ghê ghớm nhất của con người. Dân tộc Việt Nam luôn mang khát vọng “đời ta thích hoa hồng”, nhưng “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Lấy chiến tranh chính nghĩa để kiên quyết chống lại chiến tranh phi nghĩa là đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ 20. Tuy vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tích cực thu hẹp bất đồng, tăng cường đối thoại và mở rộng vòng tay chào đón những người từng ở “phía bên kia chiến tuyến” hướng về Tổ quốc, qua đó nhằm củng cố, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã lùi xa hơn 42 năm. Chúng ta không bao giờ có ý khoét sâu vào nỗi đau của các thân nhân có con em hy sinh, tử nạn trong cuộc chiến tranh này, nhưng nói thế không đồng nghĩa với việc xóa nhòa sự thật lịch sử của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Vì từng có ý kiến cho rằng, “chiến tranh đã thuộc về quá khứ thì cho nó nằm yên một chỗ, không nên khơi gợi lại làm gì vì làm như vậy dễ tổn thương đến những người tham gia cuộc chiến, gây bất lợi cho vấn đề hòa giải dân tộc trong tình hình hiện nay”(!). Ý kiến này mới thoạt nghe tưởng như không có gì đáng nói, nhưng thực chất đây là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; đánh đồng đối tượng tham gia cuộc chiến. Bởi sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho lực lượng yêu nước tiến bộ, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam nên đã chiến đấu anh dũng, quật cường để mang lại thống nhất, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân; còn Quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ là lực lượng tay sai, là “lính đánh thuê” cho một thể chế chính trị không có chính danh, không được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Vì vậy, sự thất bại, sụp đổ của lực lượng, chế độ mang bản chất “ngụy” ấy là tất yếu khách quan và là sự thật lịch sử không thể chối cãi. Khi muốn xem xét, đánh giá những sự kiện, vấn đề diễn ra trong quá khứ, nhất là những sự kiện, vấn đề ấy liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc, liên quan đến lịch sử chiến đấu đau thương mà hào hùng của cả một quân đội cách mạng và một cộng đồng dân tộc vì phẩm giá, lương tâm của thời đại thì không được phép hời hợt, phiến diện, lại càng không được phép đánh tráo khái niệm theo kiểu “mập mờ đánh lận con đen”. Những trang sử vẻ vang về QĐND Việt Nam, về dân tộc Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sẽ mãi đồng hành, trường tồn cùng lịch sử nước ta. Bởi đó là những trang sử được viết nên bởi những tấm lòng trung kiên, cao thượng của cả một thế hệ cha ông đã tự nguyện cống hiến, xả thân hết mình vì hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nên nhớ rằng, để non sông nước Việt nối liền một dải như hôm nay, để hơn 93 triệu người dân Việt đang hưởng cuộc sống bình yên như hôm nay, đã có gần 1,2 triệu người con ưu tú của Tổ quốc mãi mãi không trở về, gần 825.000 người đã để lại một phần máu thịt của mình trên chiến trường. Đó là chưa kể hơn 312.000 bộ đội, người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học mà đến nay không chỉ bản thân họ, mà nhiều con cháu họ vẫn còn chịu đựng bao nỗi đau dai dẳng từ cuộc chiến tranh phi nghĩa do đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền gây ra. Đó cũng là một sự thật lịch sử không được phép lãng quên. Trong đạo lý truyền thống người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội lỗi nặng nhất; vong ân bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã vun đắp, tạo dựng cho cuộc sống hiện tại của mình là “cạn tàu ráo máng”; vô ơn với tổ tiên, cội nguồn là kẻ chẳng ra gì, nếu không muốn nói là hèn mạt, đê tiện. Thế nên, với ai đó còn có biểu hiện quay lưng lại quá khứ, phủ nhận lịch sử, xuyên tạc thành quả cách mạng giải phóng dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của hàng triệu con người, không chỉ đi ngược lại với số đông, làm tổn thương đến chiều hướng phát triển chân chính của lịch sử; mà còn làm vẩn đục những giá trị cao đẹp của lịch sử Việt Nam. Như một nhà sử học đã ví von hình ảnh mà rất chí lý rằng: Khi ai đó cố tình lãng quên quá khứ, “phủ bụi” vào lịch sử, tự họ đang bôi nhọ vào chính gương mặt người đã sinh ra mình.

Hà Nội đảm bảo an toàn phòng, chống dịch cho kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10

     Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông công lập năm học 2021-2022 với sự tham gia của hơn 93 nghìn thí sinh, gần 15 nghìn cán bộ, giáo viên, nhân viên sẽ diễn ra tại 184 điểm thi với gần 4 nghìn phòng thi trên địa bàn thành phố Hà Nội vào ngày 12-6. Tôi được biết, đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã yêu cầu, bằng mọi biện pháp phải bảo đảm tổ chức thành công trọn vẹn, an toàn tuyệt đối cho kỳ thi; các cấp, các ngành tuyệt đối không lơ là, chủ quan; càng đến ngày thi, giờ thi càng phải tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát. 
     Sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của đồng chí lãnh đạo Hà Nội là rất cần thiết bởi việc bảo đảm an toàn và tổ chức thành công kỳ thi này không chỉ bảo vệ sức khỏe hàng chục nghìn học sinh, phụ huynh, cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia kỳ thi, mà còn bảo đảm an toàn cho cả cộng đồng, duy trì thế trận phòng, chống dịch Covid-19 của Thủ đô và đất nước. 
    Thực hiện chỉ đạo của đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội, các đoàn kiểm tra đã tiến hành kiểm tra những điểm thi ở các quận, huyện, thị xã; kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót; theo dõi công tác diễn tập để nắm bắt tình hình thực hiện; qua đó chỉ ra những vấn đề cần khắc phục. Là phụ huynh có con tham gia kỳ thi tuyển sinh năm nay, tôi thấy, công tác chuẩn bị của các cơ quan chức năng đến thời điểm này, từ cơ sở vật chất, nhân lực, vật lực phục vụ kỳ thi đã sẵn sàng ở mức cao nhất, bảo đảm an toàn phòng, chống dịch Covid-19. Tôi tin rằng các em học sinh sẽ được trải qua một kỳ thi chất lượng, nghiêm túc, đúng quy chế và an toàn. BTT

Đảng viên không thể tiên phong, gương mẫu nếu suy thoái

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đến nay, nhân dân đã được chứng kiến nhiều cán bộ, đảng viên diện Trung ương quản lý bị thi hành kỷ luật, thậm chí bị xử lý trước pháp luật. Thực tế ấy một mặt cho thấy quyết tâm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo, chính quyền các cấp từ Trung ương tới địa phương của Đảng ta. Mặt khác, nó cũng cho thấy vai trò tiên phong, gương mẫu của một bộ phận đảng viên, nhất là đảng viên chủ trì các cơ quan, đơn vị, địa phương đang bị suy giảm. Dù đã được bàn đi bàn lại nhiều nhưng việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên vẫn luôn là chủ đề nóng hổi tính thời sự và trở nên cấp bách hiện nay. Một tổ chức, một tập thể muốn mạnh thì các thành viên trong tổ chức ấy phải tốt. Đảng ta cũng vậy, để đủ sức lãnh đạo đất nước vượt qua thác ghềnh, tiến tới vinh quang thì Đảng phải thường xuyên được xây dựng trong sạch, vững mạnh. Sức mạnh của đảng là do các đảng viên - những tế bào của Đảng tạo nên. Muốn Đảng mạnh thì đội ngũ đảng viên phải tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt"(1). Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công tác xây dựng và nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Đề cập đến vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(2). Trong suốt 87 năm gánh vác sứ mệnh lịch sử lớn lao mà giai cấp và dân tộc giao phó, đội ngũ đảng viên của Đảng luôn giữ vững và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu. Thực tế chứng minh càng trong gian khó, hiểm nguy, vai trò của người đảng viên càng được khẳng định. Đặc biệt trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hàng vạn đảng viên đã xả thân hy sinh, chiến đấu kiên cường, dũng cảm để giành lại và giữ gìn nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới, đội ngũ đảng viên của Đảng luôn đi đầu tranh thủ thời cơ, vượt lên thách thức, tích cực, năng động, nhạy bén tiếp thu cái mới; sáng tạo trong lao động sản xuất, học tập và công tác. Hầu hết đảng viên luôn đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Bước vào thời kỳ hội nhập, đội ngũ đảng viên của Đảng thực sự đi tiên phong, gương mẫu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu của đất nước; chịu khó học tập, tiếp thu khoa học công nghệ, nâng cao trình độ chuyên môn. Rất nhiều đảng viên có tư duy sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và đã tạo ra được những giá trị mới, thành tựu mới; từ đó dẫn dắt phong trào, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN... Hình ảnh những đảng viên tiên phong, gương mẫu đã ăn sâu, bám rễ và còn mãi trong lòng nhân dân. Nhưng thật tiếc, thời gian qua, một bộ phận không nhỏ đảng viên đã không giữ vững, phát huy được tính tiên phong, gương mẫu do suy thoái về tư tưởng, biến chất về đạo đức, lối sống. Đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa " chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” (3). Một số trường hợp điển hình phải kể đến là: Ông Trịnh Xuân Thanh, Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang (nhiệm kỳ 2011-2016) có nhiều sai phạm nghiêm trọng trong quá trình công tác, đặc biệt là những sai phạm nghiêm trọng khi giữ cương vị Phó bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc rồi Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam; ông Vũ Huy Hoàng, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương đã bị cách chức Bí thư Ban Cán sự đảng Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2016, xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương; ông Nguyễn Minh Quang, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nhiệm kỳ 2011-2016) bị xử lý kỷ luật cảnh cáo do có những vi phạm liên quan đến vụ Công ty TNHH Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ô nhiễm môi trường biển tại một số tỉnh miền Trung; bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công Thương đã bị kỷ luật cảnh cáo và miễn nhiệm chức vụ Thứ trưởng do có nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp; kê khai tài sản, thu nhập thiếu trung thực...; ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ...; ông Nguyễn Phong Quang, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ (giai đoạn 2011-2016) do vi phạm nguyên tắc lãnh đạo đã bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng... Không chỉ vậy ở nhiều bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị số đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý cũng lên tới hàng trăm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế, khuyết điểm làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng được Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ ra là “một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên phong, gương mẫu”. Không chỉ Đảng ta mà quần chúng nhân dân cũng cảm thấy rất đau, rất buồn khi có những đảng viên, nhất là những đảng viên giữ vị trí, trọng trách lớn bị xử lý kỷ luật. Nhưng vì sự trong sạch của Đảng, vì sự phát triển của đất nước, vì sự bền vững của chế độ thì không thể buông lỏng kỷ luật, kỷ cương. Có công thì thưởng, có tội thì phạt, Đảng và nhân dân ta rất công tâm. Đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý là lẽ đương nhiên, nhưng vấn đề chính không phải là xử lý bằng hình thức nào mà quan trọng là phải tìm cho được những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng đảng viên thiếu tiên phong, gương mẫu. Nhiệm vụ của cách mạng ở từng giai đoạn có khác nhau và thực tiễn đòi hỏi vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngày một cao hơn, cho nên tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên cũng có những nội dung, yêu cầu mới. Cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Đảng viên không thể phát huy tính tiên phong, gương mẫu nếu suy thoái. Bởi lẽ quần chúng nhân dân rất tinh tường, họ chỉ tin tưởng, yêu mến, nghe và làm theo những cán bộ, đảng viên lời nói đi đôi với việc làm, có trình độ, năng lực; có phương pháp, tác phong công tác khoa học; có phẩm chất, đạo đức trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh v.v.. Để vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên không bị mai một, có nhiều việc cần làm, nhưng quan trọng nhất là phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Để làm được điều đó có một việc hết sức quan trọng mà chúng ta đã nói rất nhiều nhưng kết quả chưa được bao nhiêu, đó là: Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Những đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật không phải là bột phát trong chốc lát, trong một việc mà đều có quá trình và có sự móc xích, liên quan đến nhiều người trong bộ máy. Những nguy cơ sai lầm, những dấu hiệu vi phạm tinh vi đến mấy cũng bộc lộ, không chỉ một người thấy mà nhiều người trong tập thể biết. Vậy mà tại sao các vụ việc vi phạm nghiêm trọng vẫn cứ xảy ra? Rõ ràng ở những tổ chức có đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, tính đấu tranh tự phê bình và phê bình là chưa cao, nếu không muốn nói là bị buông lỏng. Thử hỏi nếu thấy đồng chí mình có dấu hiệu vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật mà tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và các đảng viên trong tập thể chân tình góp ý, thẳng thắn đấu tranh, có biện pháp ngăn chặn từ sớm thì sự việc có đi quá xa, quá nghiêm trọng đến mức phải xử lý kỷ luật? Rõ ràng để tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên không bị giảm sút, vai trò quản lý, giáo dục của tổ chức đảng là hết sức quan trọng. Nhưng quyết định vẫn là vai trò chủ quan của mỗi đảng viên. Để giữ vững và phát huy tính tiên phong, gương mẫu, từng đảng viên phải tự giác học tập và rèn luyện, nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình. Người đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu bao giờ cũng lấy tiêu chuẩn đảng viên làm định hướng phấn đấu, là chuẩn mực để đối chiếu kiểm tra tư tưởng và hành động, từ đó thường xuyên "tự chỉnh đốn”, chứ không phải chờ đợi tổ chức đảng đề ra cuộc vận động, hay áp dụng biện pháp này, biện pháp kia thì mới tự phê bình. Tự phê bình và phê bình nghiêm túc là "chìa khóa vàng" để từng đảng viên giữ vững, phát huy tính tiên phong, gương mẫu, từng tổ chức đảng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ./.

Cuộc bầu cử là thành công bước đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV

    Báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chánh Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia Bùi Văn Cường cho biết: Đến thời điểm này, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công rất tốt đẹp. Cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, đúng pháp luật, bình đẳng, bảo đảm an toàn, tiết kiệm và thực sự là Ngày hội lớn của toàn dân. Một số kết quả nổi bật được Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chánh Văn phòng Hội đồng Bầu cử quốc gia Bùi Văn Cường nêu rõ là: Tỷ lệ cử tri đi bầu cử đạt 99,6%; cao hơn 0,25% so với nhiệm kỳ trước; các cơ cấu kết hợp như tỷ lệ đại biểu là phụ nữ, trẻ tuổi, đại biểu là người dân tộc thiểu số, đại biểu tái cử đều đạt hoặc vượt so với chỉ tiêu đặt ra. Đặc biệt, lần đầu tiên trong các nhiệm kỳ Quốc hội, tỷ lệ đại biểu Quốc hội trúng cử là người dân tộc thiểu số đạt 17,84% - cao nhất từ trước đến nay; tỷ lệ đại biểu Quốc hội trúng cử là phụ nữ cũng đạt trên 30% - cao nhất từ Quốc hội khóa VI trở lại đây; trình độ chuyên môn của những người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XV cũng cao hơn so với nhiệm kỳ trước... 
    Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chánh Văn phòng Hội đồng Bầu cử quốc gia Bùi Văn Cường cũng nêu rõ: Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là một cuộc bầu cử rất đặc biệt, một sự kiện chính trị quan trọng thu hút sự quan tâm của cả nước và quốc tế. Trong lịch sử 15 lần tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, không kể giai đoạn đất nước có chiến tranh, chưa bao giờ cuộc bầu cử lại diễn ra cam go với nhiều khó khăn, thử thách như cuộc bầu cử lần này, khi mà cùng lúc vừa phải tổ chức cuộc bầu cử thành công, đúng pháp luật, vừa phải bảo đảm an toàn trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19 và thực hiện tốt nhiệm vụ phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống và an toàn cho người dân. Trong bối cảnh khó khăn, tác động, ảnh hưởng của dịch bệnh, nhiều cử tri ở vùng sâu, vùng xa, phương tiện đi lại khó khăn hoặc đang phải điều trị hoặc thực hiện cách ly y tế để phòng, chống dịch Covid-19 nhưng vẫn hăng hái, tích cực tham gia bầu cử. Lần đầu tiên, cử tri tại thị trấn Trường Sa (đảo Trường Sa Lớn), tỉnh Khánh Hòa đã thực hiện bầu cử cùng thời điểm với cuộc bầu cử trên đất liền vào ngày 23-5-2021, thể hiện quyết tâm rất lớn và là bước tiến quan trọng trong công tác tổ chức bầu cử, tăng cường sự gắn kết giữa lãnh thổ Việt Nam trên đất liền và các đảo xa bờ...     Bên cạnh những kết quả đạt được, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chánh Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia Bùi Văn Cường cũng chỉ ra một số hạn chế, liên quan đến việc rà soát danh sách cử tri, phát thẻ cử tri; ở một vài nơi, tỷ lệ người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND là phụ nữ, người dân tộc thiểu số chưa đạt so với quy định... Tuy nhiên, các sai sót, khiếm khuyết nói trên chỉ mang tính cá biệt, không phổ biến và phần lớn đều đã được các cơ quan, tổ chức phụ trách bầu cử khắc phục, xử lý kịp thời theo thẩm quyền. VTT

Ngăn chặn việc lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Việt Nam

Thực tế cho thấy, để xuyên tạc, vu cáo, chống phá chế độ,... các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đã thực hiện nhiều thủ đoạn tác động tới nhận thức của một bộ phận xã hội, trong đó có thủ đoạn phát tán tài liệu dưới nhiều hình thức khác nhau, từ rải tờ rơi ở chỗ đông người đến rao bán như hàng hóa trên in-tơ-nét... Vào thời kỳ trước khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ, một trong các thủ đoạn mà thế lực thù địch, thiếu thiện chí với chính quyền ở các quốc gia này đã tiến hành là tìm mọi cách phát tán trong xã hội các tài liệu xuyên tạc, chống đối. Thủ đoạn đó được gọi là “samizdat” và ở thời kỳ đầu, vì chủ yếu liên quan tác phẩm văn học mà “hầu hết bị cấm hoặc có nội dung không phù hợp với các tiêu chí chính trị, xã hội và cả thẩm mỹ mà các cơ quan hữu trách đã đặt ra” cho nên trong tiếng Anh, “samizdat” có nghĩa là “xuất bản lậu những sách bị cấm”. Với Việt Nam, ngay từ đầu, các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đã sử dụng samizdat như một công cụ xâm nhập, tiến công, lung lạc đời sống tinh thần xã hội. Dần dà họ mở rộng phạm vi, không chỉ phát tán một số tác phẩm nghệ thuật có nội dung như Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII chỉ rõ là “Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Ðảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Ðảng” mà còn phát tán tài liệu có tính phản tuyên truyền như: “Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai… Hạ thấp, phủ nhận các thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Ðảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Ðảng, Nhà nước”. Và khi sự phát triển của in-tơ-nét đã cung cấp một phương tiện truyền bá mới thì các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí cũng rất nhanh chóng tận dụng để phát tán tài liệu loại này qua một số trang mạng, blog, facebook... Mục đích của họ là khuếch tán tài liệu phản tuyên truyền, từ đó len lỏi, thấm dần vào suy nghĩ, nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Tuy nhiên, vì không phải người nào cũng có thể đọc tài liệu phát tán qua in-tơ-nét, cho nên các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí vẫn tiếp tục sử dụng samizdat với hình thức nguyên thủy là in ấn tài liệu để phát tán. Khi ở Việt Nam máy in, máy phô-tô-cóp-py được mua bán rộng rãi, thì việc in ấn như vậy khá dễ dàng, kẻ xấu có thể tổ chức in ấn ngay tại nhà. Và việc phát tán cũng đã được thực hiện với nhiều cách thức khác nhau, như: gửi qua đường bưu điện, rải tờ rơi tại một vài địa điểm công cộng, dán lên tường, lên gốc cây nơi có nhiều người qua lại, ngang nhiên tụ tập ở nơi đông người để phân phát... Thậm chí gần đây, có người còn “xuất bản” một cuốn sách được ví như “nồi lẩu thập cẩm” về chính trị vì khai thác, nhặt nhạnh từ một số sách vở, địa chỉ trên in-tơ-nét rồi rao bán trên Amazon, và lập tức một số kẻ đã xúm vào ca ngợi, quảng bá! Có thể nhận diện thủ đoạn truyền bá quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam qua việc họ cắt xén, xuyên tạc Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (Hiến pháp), Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (Tuyên ngôn), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Công ước)... Thí dụ, biện hộ cho hành vi vi phạm pháp luật, họ cho rằng theo Hiến pháp thì “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Thực chất, đó là sự cắt xén nguyên bản, bởi Ðiều 25, Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, tức là Hiến pháp quy định các quyền đó phải thực hiện trên cơ sở pháp luật. Với Tuyên ngôn và Công ước cũng vậy, họ phát tán các tài liệu này để vu khống Việt Nam “vi phạm nhân quyền” nhưng chỉ nhấn mạnh nội dung phù hợp với họ, còn bỏ qua nội dung không phù hợp. Như họ tảng lờ khoản 2, Ðiều 29, Tuyên ngôn xác định: “Trong khi thực hiện các quyền và quyền tự do cho cá nhân mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng đối với các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”; khoản 3, Ðiều 18, Công ước xác định: “Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác”; hoặc khoản 3, Ðiều 19, Công ước xác định: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (…) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác; b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý”. Như vậy, các văn bản kể trên của Liên hợp quốc luôn tôn trọng luật pháp của các quốc gia, coi việc thực thi quyền con người phải đặt trong tương quan với an ninh quốc gia, trật tự công cộng, với trách nhiệm, bổn phận, đạo đức, với quyền của người khác... Trong bối cảnh các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đang bày ra nhiều âm mưu, tận dụng mọi hình thức chống phá nhằm gia tăng sự tác động của luận điệu xuyên tạc, vu khống, bịa đặt, cổ vũ hành vi chống phá chế độ,... vào đời sống xã hội, chúng ta cần thực hiện tốt quan điểm được Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII xác định: Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; và để “chống” có hiệu quả, Nghị quyết chỉ rõ phải: “Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị”. Với hiện tượng lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Ðảng và Nhà nước Việt Nam, cần phải chủ động tuyên truyền rộng rãi, dễ hiểu, dễ nắm được bản chất vấn đề để toàn xã hội thống nhất về mục tiêu, định hướng, bước đi,... phát triển đất nước; kiên quyết xử lý các cán bộ, đảng viên có hành vi làm tổn hại lợi ích của xã hội, lợi ích của nhân dân; khách quan và minh bạch trong hoạt động của chính quyền các cấp để củng cố niềm tin của xã hội; xây dựng sách lược thống nhất, phối hợp chặt chẽ, có khả năng dự báo và lường trước mọi luận điệu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, để vừa làm chủ trận địa truyền thông vừa có đối sách thích hợp, nhanh chóng vạch trần và chứng minh, bác bỏ...; cơ quan chức năng cần chủ động nắm bắt diễn biến tình hình, nghiêm khắc xử lý mọi hành vi lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Ðảng và Nhà nước. Quan trọng hơn, khi chúng ta thực hiện tốt quan điểm “Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Ðảng; đề cao pháp luật của Nhà nước” như Nghị quyết T.Ư 4 đã khẳng định thì không thế lực thù địch, thiếu thiện chí nào có thể cản trở sự nghiệp phát triển đất nước trên con đường đã được Ðảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn.
Thúc đẩy việc học tập Bác trở thành lối sống, nếp nghĩ, cách làm Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cần thúc đẩy việc học tập Bác trở thành lối sống, nếp nghĩ, cách làm của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Đó là phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII, triển khai Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức, diễn ra sáng 12/6/2021.