Thứ Ba, 15 tháng 6, 2021

Cải cách về quân sự dưới thời Hồ Quý Ly

 

Cuộc cải cách về quân sự dười thời Hồ Quý Ly là một trong những cuộc cải cách quan trọng, lớn và tác động rất sâu sắc tới mọi mặt đời sống xã hội. 

  Năm 1401 Nhà Hồ cho lập sổ hộ tịch để bổ sung quân ngũ đã góp phần làm cho lực lượng bổ sung cho quân đội rất đông đảo. Chính quyền nắm được thực lực để quản lý và điều hành chủ động

Đóng thuyền đinh sắt để chiến đấu, chấn chỉnh lại tổ chức quân đội, bổ thêm hương quân. 

Trong chiến đấu, áp dụng thuật “làm vườn không nhà trống”.

 Xây dựng thêm thành trì mới, cấu trúc lại các thành trì cũ.

Cải cách quân sự có cái mới nhưng chưa coi trọng chiến tranh nhân dân, còn dựa vào thành hơn là “dựa vào lòng người”… 

MLN. Nh

Cuộc cải cách văn hóa, giáo dục của Hồ Quí Ly

 

Cuộc  cải cách văn hóa, giáo dục dưới thời Hồ Quý Ly đã tập trung vào khuyến khích sử dụng chữ Nôm, tự làm thơ chữ Nôm và giải nghĩa Kinh thi bằng chữ Nôm. Phát huy tác dụng Nho giáo. Năm 1392 làm sách Minh Đạo (“Con đường sáng”). Năm 1395 dịch thiên “Vô dật” (Không lười biếng) trong Kinh thư ra chữ Nôm nếu tấm gương của các vua hiền thời xưa để răn dạy lớp trẻ và đội ngũ quan lại.

Đề cao lối học thực dụng cần thiết. Phê phán những người chỉ biết chắp nhặt văn chương, tuy học rộng nhưng viễn vông. Năm 1397, ban hành chính sách khuyến học cho mở trường đến các phủ châu, ban quan điền để chi về việc học. 

 Cải tiến thi cử, mở nhiều khoa thi kén chọn người tài. Chỉ riêng khoa thi Thái học sinh năm 1400 đã có 20 người thi đỗ, trong đó có những danh nho như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân…

MLN.Nh

Kết quả ''kép'' từ cuộc bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp

 Cuộc bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp đã thành công rất tốt đẹp. 

Những kết quả đó đã một lần nữa vừa minh chứng nền dân chủ ở Việt Nam là luôn mang lại hòa bình, ổn định vừa khẳng sự thống nhất ý chí, hành động ngày càng cao hơn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Những kết qảu tốt đẹp của cuộc bầu cử là một đòn giáng vào mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo, phá hoại cuộc bầu cử, chống phá công cuộc xây dựng và BVTQ Việt Nam  XHCN./.

MLN. Nh

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 15/6

  “Phải chống tham ô lãng phí. Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí. Phải nâng cao ý thức và kỷ luật lao động. Phải nâng cao ý thức tiết kiệm

          Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với các đơn vị quân đội tại Quân khu 4, ngày 15 tháng 6 năm 1957. Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, để động viên khích lệ tinh thần học tập, lao động, chiến đấu của cả dân tộc, trong đó có lực lượng vũ trang; khi đến thăm các đơn vị quân đội tại Quân khu 4, Bác đã căn dặn: Có 3 điều khen ngợi, 4 điều phê bình, 5 điều dặn dò. Trong 05 điều dặn dò thì điều thứ tư là: “Phải chống tham ô lãng phí. Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí. Phải nâng cao ý thức và kỷ luật lao động. Phải nâng cao ý thức tiết kiệm”.

          Lời nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng, Bác Hồ đối với lực lượng vũ trang, mà còn thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc đấu tranh chống tham ô lãng phí, một “loại giặc” rất nguy hiểm tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi con người, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cản trở sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải kiên quyết đấu tranh.

         Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam ra sức học tập, rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệm vụ; chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; kiên quyết đấu tranh phòng chống, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.


Chủ động ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội

Công cuộc đổi mới đất nước hơn 30 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực; đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao. Nhu cầu được thông tin và tiếp cận thông tin của người dân luôn được chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương chú trọng. Đặc biệt, sự phát triển của internet đem lại những lợi ích to lớn cho người dân và góp phần quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển. Theo thống kê của Trung tâm Số liệu internet quốc tế (Internetworldstats), tính đến hết tháng 6-2015, Việt Nam đã có 45,5 triệu người dùng internet, đạt mức thâm nhập/dân số là 48%; đứng thứ 6 khu vực châu Á và thứ 3 khu vực Đông Nam Á. Trung bình mỗi ngày người Việt Nam lên mạng hơn 5 giờ (đối với người dùng máy tính) và gần 3 giờ (đối với người dùng điện thoại); thời gian sử dụng mạng xã hội bằng nhiều hình thức với thời gian trung bình hơn 3 giờ. “We are Social” là một công ty toàn cầu đã đưa ra bản thống kê chi tiết về xu hướng sử dụng internet, thiết bị di động, mạng xã hội của các nước, trong đó có Việt Nam. Tính đến thời điểm 1/1/2015, dân số nước ta là 90,7 triệu, song có tới 28 triệu người sở hữu tài khoản mạng xã hội (gần 31%); 128,3 triệu người có kết nối mạng di động (tương đương 141%), tức trung bình mỗi người sở hữu 1,4 thuê bao di động, trong đó sử dụng mạng xã hội qua điện thoại là 24 triệu người (chiếm 26%). Điều đó cho thấy các mạng xã hội và công cụ nhắn tin qua mạng xã hội (trong đó có facebook) được nhiều người quan tâm, sử dụng. Nếu sử dụng internet cũng như các mạng xã hội đúng mục đích và phù hợp sẽ là công cụ hữu hiệu góp phần quan trọng phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với mỗi người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích internet mang lại thì mặt trái của nó không hề nhỏ. Bản chất internet là môi trường mở cho phép người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin, tính truyền tải nhanh, diện tham chiếu rộng, thông tin gần như tức thì, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng nên rất khó quản lý và kiểm soát. Tính ưu trội của mạng xã hội còn tạo ra khả năng giao lưu, chia sẻ, kết nối cộng đồng rất thuận lợi. Đây là tính năng đặc biệt hấp dẫn đối với giới trẻ của internet. Cho nên, internet được ví như con dao 2 lưỡi chứa nhiều hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích. Thực tế, bên cạnh các thông tin bổ ích, có giá trị đối với xã hội thì còn vô số thông tin, hình ảnh có nội dung xấu độc, trái với truyền thống văn hóa dân tộc cũng được tán phát lên các trang thông tin điện tử (website), blog, mạng xã hội, trên phần phản hồi (comment) của các báo điện tử… Vì vậy, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng internet và lập nhiều trang facebook để truyền bá những thông tin xấu độc, đăng tải những status trên trang facebook cá nhân với ngôn ngữ, luận điệu đầy tính kích động, phản động, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, tìm mọi cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta trên mọi lĩnh vực. Thông tin xấu độc tán phát trên internet và mạng xã hội là những thông tin bịa đặt, sai sự thật, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch. Đó là các dạng thông tin có nội dung không phù hợp về chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục như: Kích động đồi trụy, bạo lực, bôi nhọ đời tư, vu khống…; thông tin sai trái, độc hại có tính chất tội phạm tin học như: Lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin, mật khẩu,tán phát vi-rút…; thông tin sai trái có tính chất chính trị như: Xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bịa đặt, vu cáo, nói xấu các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội, công an và gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, đe dọa an ninh quốc gia... Tác hại của những thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội do các thế lực “mạng đen” tung ra có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ lụy của thông tin xấu độc ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội. Nếu đạo đức xã hội bị băng hoại, văn hóa dân tộc bị tầm thường hóa, đánh mất bản sắc, an toàn xã hội bị đổ vỡ, thì sẽ tác động mạnh đến chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng; có nguy cơ dẫn đến mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận không nhỏ trong giới trẻ là đối tượng thường xuyên tiếp cận với facebook. Để chủ động ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội, đòi hỏi trước hết mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền các cấp cần đẩy mạnh tuyên tuyền, giáo dục để mỗi cán bộ, người dân thấy rõ tính hai mặt của internet và mạng xã hội; nhận diện các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu độc, tính chất nguy hại của nó đối với cá nhân và xã hội. Qua đó trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời “miễn dịch” với những thông tin xấu độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục nâng cao sức đề kháng cho mỗi người trước thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội, cần tiếp tục gắn chặt chẽ với tuyên truyền, thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên”. Trên thực tế, internet đang thể hiện ngày càng rõ nét đặc trưng của một xã hội ảo, song lại phản ánh ngày càng toàn diện mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội hiện tại. Cho nên công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này nói chung và của các cơ quan, đơn vị nói riêng gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Để thực hiện tốt quan điểm của Đảng, công tác quản lý các loại hình thông tin trên internet, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp cần chú trọng nâng cao năng lực bộ máy quản lý; tăng cường đội ngũ chuyên gia về công nghệ thông tin giỏi, đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, bảo đảm triển khai có hiệu quả các biện pháp quản lý cả về hành chính và kỹ thuật. Việc chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội trong từng cơ quan, đơn vị cần có sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức, các lực lượng thực sự “vào cuộc”, trước hết là cấp ủy và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các tổ chức chính trị-xã hội tạo thành phong trào mang tính cộng đồng hướng tới một văn hóa internet lành mạnh, sẵn sàng tổ chức đấu tranh trực diện với những thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội./.

Vẫn là trò xuyên tạc, lừa bịp dư luận

Hiện tượng mượn danh đấu tranh cho dân chủ của một số phần tử cơ hội chính trị ở Việt Nam lâu nay không còn lạ đối với dư luận. Những người này thường nhân cơ hội trong nước xảy ra một sự việc gì đó thì dựa vào để viết bài, tung lên mạng xã hội, hoặc đăng tải trên một số trang tin lâu nay vẫn có tư tưởng thiếu thiện chí, thù địch với Việt Nam. Trong các bài viết, họ thường phân tích, suy thế này, luận thế kia một cách hoàn toàn chủ quan, từ hiện tượng mà suy thành bản chất, sau đó đưa ra những kết luận theo kiểu: Xảy ra các sự cố đó là do “sự yếu kém trong bộ máy lãnh đạo của Đảng”, “sự hạn chế trong điều hành của Chính phủ”... Nhằm che mắt người đọc, trong các bài viết, họ thường bịa ra các con số để minh họa cho các nhận định mà nếu không tìm hiểu kỹ thì người đọc rất dễ bị nhầm lẫn. Bài viết của Nguyễn Vũ Bình, đăng trên RFA vừa qua là một dạng như vậy. Trong bài viết của mình, Nguyễn Vũ Bình đã vừa xiên xẹo về công tác xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), vừa đưa ra những nhận định hết sức mơ hồ về cái gọi là “sự sụp đổ của Đảng Cộng sản”. Những con số mà Nguyễn Vũ Bình đưa ra để minh chứng cho các nhận định của mình trong bài viết thì lại càng lố bịch. Chẳng hạn, Bình cho rằng hiện nay, đất nước ta đang duy trì lực lượng vũ trang với số quân lên tới “10 triệu người”; rồi lại cho rằng đội ngũ công chức, viên chức lên tới “15 triệu người”... Đây quả thực là những con số phi lý và hoang tưởng. Bởi trên thế giới này, không một đất nước nào có thể làm một việc vô lý, đó là trong thời bình mà lại duy trì một đội quân thường trực lên tới hơn 11% dân số. Ngay cả khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta bước vào giai đoạn cuối-giai đoạn cần một lực lượng lớn nhất để thực hiện đòn quyết chiến chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam thì lực lượng vũ trang của chúng ta cũng không đạt đến con số 10 triệu người... Còn về con số “15 triệu người trong bộ máy Đảng, Nhà nước” như Bình đã viết thì thực tế tính đến hết năm 2015, lãnh đạo Bộ Nội vụ cho biết, cả nước có khoảng 11 triệu người hưởng lương và tính chất lương (bao gồm cả lực lượng vũ trang, y tế, giáo dục v.v..). Còn tổng số công chức hưởng lương trong hệ thống chính trị từ cấp huyện trở lên (không bao gồm lực lượng vũ trang) được Thủ tướng phê duyệt năm 2015 chính thức là 277.055 người. Và con số này tiếp tục giảm trong năm 2016 khi Nhà nước ngày càng thực hiện nghiêm việc tinh giản biên chế để bảo đảm bộ máy ngày càng tinh gọn theo hướng chỉ bổ sung không quá 50% số công chức so với số nghỉ hưu... Như thế có thể thấy, việc Nguyễn Vũ Bình cố tình bịa ra những con số hoang đường về lực lượng vũ trang và đội ngũ công chức, viên chức... là nhằm tạo ra sự hiểu lầm trong dư luận về hệ thống tổ chức chính trị ở Việt Nam. Và cũng từ đây có thể thấy, những điều Bình nhận định trong bài viết về các vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam... đều nhằm mục đích xuyên tạc, lừa bịp dư luận./.

Kỷ luật lỏng lẻo là nguy hại cho Đảng

Đảng ta là đảng cầm quyền. Sức mạnh của Đảng được thể hiện ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của mỗi cán bộ, đảng viên. Kỷ luật của Đảng mà lỏng lẻo thì những kẻ cơ hội, những phần tử phản động dễ dàng “chui” vào hàng ngũ để phá hoại Đảng. Nói một cách khác, kỷ luật Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, làm cho mọi cán bộ, đảng viên tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thật sự chí công vô tư, dĩ công vi thượng... Việc kịp thời phát hiện và xử lý những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng ta trong thời gian qua thể hiện rõ tính đấu tranh tự phê bình và phê bình của Đảng; nhất là trong thời điểm hiện nay thì việc thi hành kỷ luật trong Đảng là công việc quan trọng và cần thiết nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu của Đảng; là cơ sở để giáo dục tổ chức đảng và đảng viên; là điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước. Trên thực tế, nếu phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật mà chúng ta không dám đấu tranh, im lặng, né tránh thì quả là nguy hại... Dựa vào đó mà đảng viên vi phạm “đục nước béo cò”, coi thường sự lãnh đạo của Đảng, coi khinh dư luận xã hội; tỏ thái độ độc đoán, chuyên quyền... Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, làm cho nội bộ tổ chức Đảng mất đoàn kết kéo dài, có nơi nghiêm trọng... Xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật chính là Đảng ta xử lý công việc, qua đó làm cho công việc của tập thể cấp ủy, cá nhân đảng viên ngày một tốt lên. Thời gian qua, việc xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên được Đảng, Nhà nước xem xét rất thận trọng; điều tra, nghiên cứu khách quan, kỹ lưỡng. Trong quá trình xem xét kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, các tổ chức Đảng đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, của cán bộ, đảng viên; đặc biệt cơ quan kiểm tra Đảng, các cơ quan tư pháp của Nhà nước mang hết tinh thần trách nhiệm, làm việc công tâm, khách quan, minh bạch, đúng quy định của pháp luật, không bao che, dung túng; không sợ liên lụy hoặc chịu áp lực của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào... Tuy nhiên, bên cạnh việc giữ vững kỷ cương, kỷ luật tự giác nghiêm minh, từng tổ chức Đảng cũng cần khơi dậy, động viên tinh thần cầu thị của cán bộ, đảng viên, giúp họ quyết tâm sửa chữa khuyết điểm...

Duy trì kỷ luật Đảng là một nguyên tắc phát triển

Duy trì, thực hiện kỷ luật trong Đảng là một nguyên tắc phát triển, một điều kiện tạo nên sức mạnh của Đảng ta. Yêu cầu khách quan cũng như niềm mong muốn của nhân dân là Đảng phải duy trì nghiêm kỷ luật Đảng. Đảng ta đã, đang đáp ứng yêu cầu và sự mong muốn ấy một cách thiết thực. Tinh thần ấy, hiện nay đặt ra vấn đề tạo sự thống nhất về nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử đối với duy trì kỷ luật Đảng một cách đúng đắn để không cho các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, chống phá. Duy trì kỷ luật Đảng phải được hiểu như một lẽ thông thường, quy luật tất yếu, không phải là cái gì xa lạ đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Bởi vì tính công khai quan điểm của Đảng đối với những người vi phạm kỷ luật một cách rõ ràng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết xử lý và kịp thời thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng…”. Từ trước đến nay, các thế lực thù địch thường lợi dụng quá trình duy trì kỷ luật Đảng, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm bằng những hình thức kỷ luật cụ thể để xuyên tạc, tô vẽ, đánh lạc hướng nhận thức theo hướng này hay hướng khác làm rối loạn lòng dân. Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn ấy, cần cảnh giác và chủ động đấu tranh, phê phán một cách có hiệu quả để không mắc mưu của chúng. Mục đích trong sáng của duy trì nghiêm kỷ luật Đảng là ngăn chặn cán bộ, đảng viên vi phạm, mà không phải là sự “thanh trừng” trong nội bộ. Tư tưởng chỉ đạo, kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về xây dựng Đảng, với biện pháp cơ bản “tự phê bình và phê bình” thể hiện rõ tinh thần trong sáng ấy. Nhưng đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm thì không thể dung túng, bao che hay bỏ qua các hình thức kỷ luật. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước”. Đây là biểu hiện của tuân thủ nguyên tắc, đồng thời cũng là quyết tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng hiện nay. Với nhận thức và lập trường chính trị ấy sẽ tạo nên sức mạnh, động lực to lớn cho quá trình xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh; góp phần tích cực nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tạo điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển toàn diện.

Tăng cường quản lý, giám sát đảng viên

Suốt thời gian qua, nhất là từ thời điểm trước Đại hội XII của Đảng cho đến nay, dư luận xã hội nói chung, ở địa phương chúng tôi nói riêng hết sức quan tâm đến những chủ trương, biện pháp trong quản lý, kỷ luật cán bộ, đảng viên của Đảng. Thông qua một số vụ việc, vụ án cụ thể được các cơ quan chức năng đưa ra xét xử công khai, minh bạch thời gian gần đây thực sự góp phần rất quan trọng củng cố niền tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương. Từ một số vụ việc, vụ án cụ thể được đưa ra xét xử, như vụ Vinashin, vụ Phạm Công Danh và đồng bọn và gần nhất là vụ ông Trịnh Xuân Thanh... cho thấy quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tham ô, cửa quyền trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Nhìn nhận một cách khách quan thấy rằng, Đảng đã thể hiện rõ tính nghiêm minh trong xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên vi phạm. Mọi cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật; có hành động, việc làm, lời nói gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, gây tổn hại đến quyền lợi, lợi ích của nhân dân đều bị xử lý kỷ luật, không phân biệt cán bộ ở Trung ương hay cơ sở; cán bộ đương chức hay đã nghỉ chế độ... Tuy nhiên, điều mà dư luận cũng rất quan tâm chính là vai trò quản lý, giám sát của các tổ chức Đảng, nhất là ở cơ sở. Thông qua một số vụ việc, vụ án xảy ra thời gian qua cho thấy, chất lượng, hiệu quả việc quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên của cấp ủy, tổ chức Đảng ở cơ sở chưa cao và thiếu chặt chẽ. Vì vậy, không ít vụ việc kéo dài, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng liên quan trực tiếp đến cán bộ, đảng viên mà chi bộ, đảng bộ cơ sở không phát hiện được để có những biện pháp ngăn chặn kịp thời. Chính do buông lỏng quản lý, thiếu các biện pháp ngăn chặn kịp thời của một số chi bộ, đảng bộ ở cơ sở nên không chỉ gây thiệt hại tiền của Nhà nước, nhân dân, mà còn làm mất cán bộ. Đặc biệt, điều nguy hại hơn chính là làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Xã hội càng phát triển, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng càng đặt ra những vấn đề mới, theo đó mỗi tổ chức Đảng cần phát huy tốt hơn nữa vai trò quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên thuộc quyền. Cần xác định, tăng cường quản lý, giám sát đảng viên không chỉ là trách nhiệm của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mà còn là giải pháp quan trọng tạo dựng môi trường làm việc trong sạch, lành mạnh, thể hiện tinh thần đồng chí, đồng đội của những người cộng sản chân chính...

Kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm để Đảng ngày càng mạnh hơn

Đó chính là chủ đề sinh hoạt tháng 8-2016 của chi bộ chúng tôi. Buổi sinh hoạt của chi bộ chúng tôi tập trung phân tích, làm rõ những quan điểm, chủ trương của Đảng trong xử lý những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật thời gian gần đây. Những vụ việc, vụ án được các cơ quan chức năng đưa ra xét xử thời gian qua thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta trong việc loại bỏ những người không đủ phẩm chất, năng lực ra khỏi đội ngũ của mình; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, lành mạnh để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. 100% đảng viên ở chi bộ chúng tôi đều cho rằng: Việc Đảng kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật không làm cho Đảng yếu đi, mà làm cho Đảng ngày càng trong sạch; ngày càng củng cố được niềm tin của nhân dân; tạo được sự đồng thuận trong xã hội. Phân tích, nhìn nhận một cách khách quan, cho thấy, trước mỗi vụ án, vụ việc, Đảng, Nhà nước đều tiến hành từng bước một cách thận trọng, bài bản, đúng quy trình, quy định theo phương châm “thượng tôn pháp luật”. Trong từng vụ việc, vụ án, Đảng không dùng quyền lãnh đạo của mình để áp đặt, không can thiệp vào công việc của Nhà nước và không chịu bất kỳ áp lực nào. Bởi vậy, mọi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào nếu vi phạm đều bị xem xét, xử lý theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và quy định của pháp luật. Công tác điều tra, xét hỏi, truy tố diễn ra công khai, đúng trình tự; xét xử đúng người, đúng tội, đúng tính chất vụ việc và đúng với thẩm quyền, chức năng của từng cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn lấy làm tiếc, bởi nếu mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, nhất là tổ chức cơ sở Đảng phát huy tốt hơn nữa vai trò lãnh đạo của mình trong đánh giá, xem xét, đề nghị cấp có thẩm quyền bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, hẳn sẽ không thể xảy ra vụ việc như trường hợp ông Trịnh Xuân Thanh. Để đánh giá đúng phẩm chất, năng lực của từng cán bộ, đảng viên, không ai làm tốt hơn và cũng chẳng ai có thể thay thế được cấp ủy, chi bộ nơi người đó sinh hoạt, làm việc hằng ngày. Bởi vậy, đánh giá đúng phẩm chất, năng lực của từng cán bộ, đảng viên không những là trách nhiệm chính trị của từng cấp ủy, tổ chức Đảng, mà đó còn thể hiện sự báo đáp lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp.

Không thể xóa mờ hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ

Những năm gần đây, một vài thông tin, hình ảnh về quân nhân vi phạm kỷ luật, pháp luật đã được tán phát với số lượng nhiều hơn kể từ khi có internet và mạng xã hội. Song có một điều bất thường là trong số đó, có không ít vụ việc thông tin bị tô vẽ, nhào nặn, bóp méo… nhằm bôi nhọ, xuyên tạc hình ảnh và phẩm chất truyền thống cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Cần nhìn nhận và xử lý như thế nào đối với loại thông tin này? Gần đây, có một số vụ việc được chia sẻ, tán phát nhiều trên mạng xã hội như: Một vài chiến sĩ cũ đánh chiến sĩ mới; cán bộ, sĩ quan uống rượu say không làm chủ được hành vi; sĩ quan làm công tác quản lý doanh nghiệp, quản lý kinh tế có sai phạm… Trước hết, cần thẳng thắn nhìn nhận, một số vụ việc được tán phát là có thật. Nhưng không ít vụ việc đã bị tô vẽ, “thêm mắm thêm muối”, “làm mới thông tin đã cũ”, cố tình bôi đen sự việc. Vụ việc một số chiến sĩ cũ đánh chiến sĩ mới đã xảy ra nhiều năm trước, chiến sĩ vi phạm đã bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc và đã xuất ngũ nhưng mấy năm gần đây, cứ đến mùa tuyển quân, ra quân huấn luyện chiến sĩ mới, những người có ý đồ xấu lại tán phát clip cũ này lên mạng xã hội. Họ cố tình “làm mới” sự kiện kèm theo những bình luận, thông tin đi kèm dễ khiến dư luận hoang mang, lo ngại về môi trường kỷ luật quân đội. Tại vụ việc liên quan đến một lái xe trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương vừa qua thì người tung clip đã cố tình cắt bỏ đoạn đầu về những hành vi vi phạm pháp luật và cố tình khiêu khích của người lái xe, chỉ đưa đoạn sau kèm những thông tin, bình luận về sai phạm của một cán bộ quân đội để người xem hiểu sai lệch sự việc. Có vụ việc tai nạn giao thông liên quan tới xe của đơn vị quân đội, ngay cả khi lỗi thuộc về người va chạm với xe quân sự và đơn vị quân đội có trách nhiệm giải quyết nghiêm túc, người ta vẫn tung ra những thông tin sai sự thật để gây sức ép cho đơn vị bộ đội: “Xe biển đỏ bỏ chạy”, “vi phạm nhưng thiếu trách nhiệm”…

Thực hiện phong cách nêu gương của người cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

Theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải làm gương trong mọi công việc, từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt; phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nói phải đi đôi với làm. Người yêu cầu tất cả cán bộ, đảng viên đều phải nêu gương về đạo đức. Trước hết, mình phải tự làm gương, cán bộ “gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Về vai trò của nêu gương, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Tự mình phải chính trước mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cách mạng chủ yếu, là nhân cách của con người. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là một nội dung cơ bản không thể thiếu trong phong cách làm việc và nhân cách của những người lãnh đạo, quản lý. Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn tất cả các cán bộ, đảng viên: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, Thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”. Theo Người , kẻ thù của lòng chí công vô tư chính là chủ nghĩa cá nhân, chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi ích chung của tập thể, chỉ muốn tự tư tự lợi. Phải khắc phục chủ nghĩa cá nhân có trong mỗi người cán bộ đảng viên thì mới có thể có phong cách làm việc cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đó là cơ sở để hình thành hành vi đạo đức đúng đắn, một tâm hồn hướng thượng: “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục” Cần nêu gương trên ba mối quan hệ với mình, với người, với việc. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân; phải tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày. Đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng. Đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, đặt việc công lên trên, lên trước việc tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm. Nói đi đôi với làm không chỉ là một chuẩn mực trong đạo đức truyền thống mà còn là chuẩn mực đạo đức công vụ tối thiểu. Với cán bộ, đảng viên, sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đạo đức và nêu gương đạo đức cần đạt tới sự nhất quán trong công việc và trong đời sống riêng, giữa đạo đức người lãnh đạo và đạo đức đời thường. Địa vị càng cao, uy tín càng lớn, càng phải ra sức hoàn thiện về đạo đức, thống nhất giữa nói và làm. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, mọi nơi, nói phải đi đôi với làm để quần chúng noi theo. Việc nói đi đôi với làm mang lại cho quần chúng lòng tin và sự tôn trọng đối với người cán bộ, do đó, người cán bộ dễ dàng thực thi quyền lãnh đạo của mình. Người phê phán những cán bộ “Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Nhân dân không bao giờ tin cậy những cán bộ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đàng làm một nẻo. Muốn rèn luyện được phong cách nói đi đôi với làm, người cán bộ phải thường xuyên tự kiểm điểm, soi xét chính mình, đồng thời phải khuyến khích cấp dưới và quần chúng nhận xét, phê bình, góp ý cho mình, nhắc nhở mình về những điều mình đã hứa. Người cán bộ cũng phải biết tránh căn bệnh hình thức, bệnh “hữu danh, vô thực”, chạy theo những thứ hào nhoáng bên ngoài. Trong gia đình, cha mẹ phải là tấm gương cho các con, anh chị là tấm gương đối với các em. Trong nhà trường, thầy giáo, cô giáo là tấm gương cho học trò. Trong cơ quan, tổ chức thì cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới, người này có thể nêu gương cho người khác. Trong cuộc sống hằng ngày, người cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, làm tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó mà nói theo, qua đó mà làm tăng thêm những điều đúng, điều thiện, chống lại thói hư, tật xấu. Trong các nội dung nêu gương, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nêu gương về tinh thần phục vụ Nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm phục vụ nhân dân từ một triết lý sâu xa rằng, cơm chúng ta ăn, áo chúng ra mặc đều do mồ hôi, nước mắt của dân mà ra, nên chúng ta phải đền bù xứng đáng cho dân. Vì vậy mà cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm. Để giáo dục bằng nêu gương đạt kết quả cao, Hồ Chí Minh chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới". Người khẳng định: “Người tốt, việc tốt nhiều lắm.Ở đâu cũng có.Ngành, giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có”. Tháng 6-1968, Người chỉ đạo xuất bản sách “Người tốt, việc tốt” để mọi người học tập, làm theo, lan tỏa cái tốt, cái đẹp trong xã hội.

Ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến“: Phải đấu tranh cho thật trúng

Nhiều ý kiến cho rằng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng, "tự diễn biến" phải đấu tranh cho thật trúng, đặc biệt những người có chức, có quyền. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Cái mới của lần này là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Chỉ rõ nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân…. Cán bộ, đảng viên và nhân dân cho rằng, lần này Trung ương ra Nghị quyết trên cơ sở rút kinh nghiệm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về những việc đã làm được, những việc chưa làm được, rút kinh nghiệm xây dựng Nghị quyết sát thực, đấu tranh có hiệu quả tốt hơn. Từ thực tiễn, kinh nghiệm, bài học rút ra thì lần này Trung ương xây dựng Nghị quyết sát hợp với thực tiễn, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng trong Đảng, từ đó tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng. GS.TS Trần Ngọc Đường, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn Phòng Quốc hội cho rằng, người dân rất kỳ vọng sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng chủ trương ra Nghị quyết thì dân hoàn toàn ủng hộ, có chỗ dựa vững chắc cùng Đảng xây dựng nhà nước ngày càng vững mạnh. Ông mong muốn sau Nghị quyết lần này cuộc đấu tranh xây dựng Đảng sẽ được nâng lên bước mới, chất lượng mới. Nhiều ý kiến cho rằng, triển khai thực hiện Nghị quyết phải cương quyết, mạnh mẽ hơn nữa. Phải đấu tranh cho thật trúng, đặc biệt những người có chức, có quyền, người đang thi hành công vụ. Theo ông Phạm Xuân Hằng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hội nghị lần này bàn về những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", chính là Trung ương xác định làm cho sâu hơn, kỹ hơn, hiệu quả hơn. Bởi vì có nhóm lợi ích như Tổng Bí thư đã nói như ma trận, và không dễ làm. Vì vậy, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng phải có những giải pháp cụ thể, thiết thực để tạo lòng tin trong nhân dân, để dân thấy Đảng nói và đang làm. “Phải làm không né tránh, được lòng dân, tăng thêm niềm tin trong nhân dân. Nếu chúng ta cứ dè dặt, trong ấm ngoài êm thì Nghị quyết lần này ban hành cũng không mang lại kết quả. Phải quyết liệt, quyết liệt hơn nữa”, ông Phạm Xuân Hằng nhấn mạnh. Phân tích những biểu hiện của “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Tiến sỹ Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban văn hóa giáo dục Thanh niên, Thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội nhận định, phải bắt đầu chỉnh đốn từ gốc của vấn đề. Gốc vấn đề là giữ gìn sự trong sạch của Đảng, tổ chức hoạt động phải hiệu quả, tạo niềm tin trong nhân dân. Đảng viên không rèn luyện, suy thoái đạo đức lối sống thì sẽ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi vậy, việc làm trong sạch Đảng, giữ gìn Đảng trong sạch vững mạnh đấy chính là biện pháp chống “tự diễn biến” sâu sắc nhất. “Tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết lần này phải đi sâu, mỗi đảng viên phải rèn luyện mình. Bây giờ chỗ nào có lợi thì đảng viên lao vào, thu lợi bất chính chính là “tự diễn biến”. Tất cả các cấp ủy từ địa phương đến Trung ương mà rời khỏi vai trò lãnh đạo của mình hoặc không xứng đáng với vai trò lãnh đạo thì đó cũng chính là tự diễn biến, tự mình làm mất vai trò lãnh đạo của mình. Đó là tự diễn biến lớn nhất, sâu sắc nhất trong điều kiện hiện nay”, Tiến sỹ Nguyễn Viết Chức nói./.

Đức và tài của người cán bộ cách mạng theo Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Hồ Chí Minh khẳng định: “Có tài phải có đức”. Theo Người, đức và tài phải được biểu hiện bằng kết quả công tác, phải luôn thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau trong nhân cách người cán bộ cách mạng. Người cho rằng, người cán bộ cách mạng trước hết phải có đạo đức cách mạng, bởi vì đạo đức là gốc của người cách mạng. Người khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”; và “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”. Tài của người cán bộ cách mạng, theo Hồ Chí Minh là năng lực được biểu hiện bằng hiệu suất, hiệu quả hoạt động thực tiễn. Tài năng của người cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố trí lực, thể lực… và là kết quả của một quá trình học tập, tích luỹ kinh nghiệm của mỗi người. Bởi vậy, trong sử dụng cán bộ Hồ Chí Minh dạy phải biết tuỳ tài mà dùng người. Theo Người, để có được tài năng, người cán bộ cách mạng cần phải tích cực học tập, kiên trì rèn luyện, phải thực hiện lời dạy của V.I. Lê-nin: Học, học nữa, học mãi. Đức và tài phải luôn gắn bó chặt chẽ, quan hệ biện chứng với nhau trong nhân cách của người cán bộ cách mạng. Trong mối quan hệ đó thì “Đức phải có trước tài” và đức là gốc. Nếu có tài mà không có đức là vô dụng, vì “có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước”. Bên cạnh đó, Người rất coi trọng tài năng và có đức phải đi liền với có tài, vì “Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”.

Trái đất chính thức có thêm đại dương thứ 5

 

Trái đất chính thức có thêm đại dương thứ 5

Hiệp hội Địa lý Quốc gia Mỹ (National Geographic Society) cho biết trong khi các đại dương khác được xác định theo vị trí địa lý và các mảng kiến tạo, thì Nam Đại dương được xác định bởi dòng chảy hải lưu của nó.
  • Đúng vào Ngày Đại dương Thế giới 8/6, Hiệp hội Địa lý Quốc gia Mỹ (National Geographic Society) đã thông báo rằng công nhận vùng nước xung quanh Nam Cực là đại dương thứ 5 của hành tinh, với tên gọi Nam Đại Dương (Southern Ocean).

4 đại dương đã được biết đến trước đó gồm Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương.

Nam Đại Dương được xác định theo dòng chảy hải lưu độc đáo.

“Nam Đại Dương từ lâu đã được các nhà khoa học biết đến, nhưng vì những ý kiến chưa đồng nhất cũng như chưa có thỏa thuận quốc tế chung nào nên chúng tôi chưa bao giờ chính thức công nhận nó”, nhà địa lý Alex Tait thuộc Hiệp hội Địa lý Quốc gia Mỹ cho biết. 

Các nhà địa lý thế giới đã nhiều lần tranh luận về việc liệu các vùng nước xung quanh Nam Cực có đủ đặc điểm độc đáo để xứng đáng với tên riêng của nó hay không, hay liệu chúng chỉ đơn giản là phần mở rộng về phía nam của Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương.

Đáng chú ý, trong khi các đại dương khác được xác định theo vị trí địa lý và các mảng kiến tạo, thì Nam Đại Dương lại được xác định theo dòng chảy hải lưu độc đáo của nó, tạm gọi là Hải lưu vòng Nam Cực.

Những người từng đến khu vực này kể lại đây là vùng biển khác lạ. Các sông băng có màu xanh hơn, không khí lạnh hơn, núi hiểm trở hơn và cảnh quan quyến rũ hơn bất kỳ nơi nào khác.

Hiện tại, Nam Đại Dương "bao gồm các hệ sinh thái biển độc đáo, là nơi sinh sống của các sinh vật biển tuyệt vời như cá voi, chim cánh cụt và hải cẩu" - National Geographic thông tin. Nó cũng đóng vai trò quan trọng với hệ sinh thái các nơi khác.

Xu hướng hư vô về chính trị, thiếu đạo đức nghề nghiệp trong một bộ phận người làm báo

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống báo chí và thông qua hệ thống báo chí trước hết bắt đầu từ người làm báo. Nếu mỗi người làm báo nhận thức nghiêm túc về vai trò xã hội, trách nhiệm với bạn đọc, ý nghĩa tích cực của báo chí với sự phát triển xã hội và con người,… thì sẽ tự ý thức nâng cao năng lực chuyên môn, tăng cường phẩm chất chính trị, trau dồi đạo đức nghề nghiệp. Đáng tiếc một bộ phận người làm báo ít quan tâm vấn đề này, khi mà các sự, vụ liên quan hành vi tiêu cực của người làm báo có xu hướng tăng lên? Lạm dụng vai trò báo chí, tự cấp tư cách “đứng trên luật pháp”, có người làm báo lấy nghề nghiệp làm công cụ trục lợi như: gây sức ép lên lãnh đạo đơn vị sản xuất, kinh doanh, lãnh đạo doanh nghiệp để tống tiền, ký hợp đồng quảng cáo; hoặc chạy theo tin tức, sự kiện giật gân mà bất chấp sự thật, bất chấp pháp luật, bất chấp tính nhân văn của báo chí... Phê phán cái xấu, chỉ rõ bản chất cái xấu là cần thiết, song một số người làm báo dường như có xu hướng khoét sâu, phóng đại hiện tượng tiêu cực; trong khi các thế lực thù địch, một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí tập trung công kích nhằm làm mất uy tín các cơ quan chức năng (công an, tòa án), một số người làm báo cũng lại hùa theo soi mói, công kích, thậm chí bịa đặt, “giăng bẫy” người thi hành công vụ... Hư vô về chính trị, thiếu đạo đức nghề nghiệp, một số nhà báo đã vô tình (hay cố tình?) tác động xấu đến xã hội, làm người đọc hoang mang, suy giảm niềm tin vào chính quyền… Những năm gần đây, tình trạng buông lỏng quản lý, thiếu sâu sát, kiểm tra của cơ quan chủ quản, tự coi “vô can” trước sai phạm của cơ quan báo chí thuộc quyền đang khá phổ biến. Không ít cơ quan chủ quản (nhất là một số tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp) buông lỏng vai trò, trách nhiệm chỉ đạo, quản lý theo quy định đối với cơ quan báo chí thuộc quyền; có cơ quan chủ quản sau khi xin giấy phép thành lập cơ quan báo chí là “khoán trắng” cho cơ quan báo chí toàn quyền quyết định hoạt động; dẫn tới tình trạng có cơ quan báo chí không chịu sự chỉ đạo, quản lý của cơ quan chủ quản. Một số cơ quan chủ quản thiếu quan tâm, hỗ trợ cơ quan báo chí tháo gỡ khó khăn, thậm chí yêu cầu cơ quan báo chí thuộc quyền đóng góp kinh phí hoạt động, lệ thuộc vào kinh phí của cơ quan báo chí. Một số trường hợp, việc xử lý sai phạm, vụ việc tiêu cực trong cơ quan báo chí không nghiêm khắc, hoặc không giải quyết dứt điểm, thiếu kịp thời, thậm chí có biểu hiện bao che người đứng đầu cơ quan báo chí, dẫn đến khiếu nại, tố cáo vượt cấp, tác động tiêu cực tới tư tưởng cán bộ, phóng viên, biên tập viên. Có người đứng đầu cơ quan báo chí mất uy tín, nhưng cơ quan chủ quản không có phương án thay thế, khiến nội bộ cơ quan mất đoàn kết kéo dài. Lãnh đạo một số cơ quan báo chí chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trách nhiệm chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và phóng viên, biên tập viên của cơ quan thuộc quyền... Trên đây là một số khái quát bước đầu để góp phần nhận diện nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực báo chí. Trên thực tế, những sự kiện, hiện tượng liên quan diễn ra rất phức tạp, đan xen nhau, có thể là vô tình và có thể là cố tình, nên khó nhận diện, khó định tính, định lượng… Để khắc phục tình trạng này, bên cạnh các giải pháp cơ bản để đối phó nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và trong xã hội nói chung, cần chú ý các giải pháp để lành mạnh hóa hoạt động báo chí: 1. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí cần đi đôi với tăng cường kỷ luật Đảng đối với đảng viên hoạt động trong lĩnh vực báo chí: - Phải tuân thủ nguyên tắc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân theo quy định của pháp luật. Ở Việt Nam, không hề có mâu thuẫn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí. Các vấn đề này được bảo đảm bằng Hiến pháp và hệ thống luật pháp của Nhà nước. - Trên cơ sở Luật Báo chí (năm 2016), cần rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp luật liên quan hoạt động báo chí để bổ sung, hoàn thiện kịp thời theo hướng: luật pháp bảo vệ việc hành nghề của người làm báo với tư cách là nghề nghiệp xã hội đặc thù, nhưng luật pháp không tạo ra đặc quyền cho người làm báo, người làm báo bình đẳng trước pháp luật như mọi công dân khác. - Đảng viên hoạt động trên lĩnh vực báo chí phải chấp hành Điều lệ Đảng, chấp hành các Nghị quyết của Đảng, chấp hành sự chỉ đạo của cấp trên theo hệ thống tổ chức của Đảng. Cần xác định việc chỉ đạo, định hướng của cơ quan, tổ chức Đảng cấp trên với tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên tại các cơ quan báo chí hoàn toàn không mâu thuẫn với quyền tự do báo chí. Tuy nhiên, không để đảng viên có chức vụ trong cơ quan Đảng và Nhà nước, kể cả người có chức vụ cao nhưng không được phân công lãnh đạo, quản lý báo chí và truyền thông, sử dụng chức vụ của mình can thiệp hoặc gây ảnh hưởng đến hoạt động báo chí. Bởi chính hành động can thiệp, gây ảnh hưởng rất vô nguyên tắc này là vi phạm quyền tự do báo chí, vi phạm nguyên tắc Đảng. - Rà soát lại chất lượng đảng viên hoạt động trong các cơ quan báo chí, kiên quyết loại bỏ những phần tử có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ra khỏi chức vụ lãnh đạo các cơ quan báo chí. 2. Rà soát lại toàn bộ danh mục các lĩnh vực thuộc bí mật Đảng và Nhà nước. Danh mục này nhất thiết phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng luật. Ngoài danh mục này, mọi vấn đề khác của quốc gia cần được bảo đảm để người làm báo và người dân tiếp cận dễ dàng. Các thông tin tiêu cực liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được báo chí điều tra phát hiện, nếu không thuộc danh mục “Mật”, không ai được quyền ngăn cản đưa lên báo chí. Cơ quan báo chí và người làm báo chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc công bố các thông tin đó, nếu xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì tùy mức độ sai phạm đều phải bị xử lý và bồi thường đúng pháp luật. Làm nghiêm túc việc này sẽ trực tiếp chống lại, bác bỏ luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam bưng bít thông tin, xâm phạm quyền tự do báo chí. 3. Đổi mới việc đào tạo nghề báo trong nước, từ giáo trình, đội ngũ giảng viên đến phương pháp giảng dạy, bảo đảm cho người làm báo có đủ tri thức chuyên ngành và trình độ tác nghiệp báo chí hiện đại. Người làm báo trước hết phải có trình độ chuyên môn (của một hoặc một số lĩnh vực họ tiếp cận), có bản lĩnh và trình độ chính trị; vì nếu chỉ có trình độ chuyên môn thì không thể có tác phẩm báo chí có giá trị. Do đó, cần khuyến khích tuyển sinh vào đại học báo chí những người đã có một bằng đại học trên lĩnh vực khác. Trừ giảng viên các môn học khác, giảng viên về nghiệp vụ báo chí tại trường đại học báo chí hoặc khoa báo chí thuộc trường đại học, nhất thiết phải là người đã thông qua hoạt động báo chí và đã có những tác phẩm báo chí có giá trị. 4. Cơ quan chủ quản báo chí cần rà soát chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan báo chí, sản phẩm báo chí, từ đó khẩn trương xây dựng đề án đổi mới, sắp xếp lại cơ quan báo chí, sản phẩm báo chí thuộc cơ quan, đơn vị, ngành theo hướng tinh gọn, thiết thực, hiệu quả, để báo chí thật sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, diễn đàn tin cậy của nhân dân. Cần kiên quyết xử lý, thu gọn báo, tạp chí, ấn phẩm phụ, chương trình giải trí, trang thông tin điện tử,... hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, sai phạm kéo dài... 5. Điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Báo chí (năm 2016) khẳng định Hội Nhà báo Việt Nam có nhiệm vụ: “Ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo”, điều này cho thấy, đạo đức nghề nghiệp người làm báo là vấn đề luật định, không phân biệt người có Thẻ Nhà báo hay không. Do đó, việc Hội Nhà báo Việt Nam ban hành, hướng dẫn hội viên thực hiện Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam là hết sức cần thiết, với trường hợp cụ thể, vi phạm quy định này phải được xử lý trên cơ sở pháp luật. 6. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo cơ quan chủ quản với hoạt động của cơ quan báo chí thuộc quyền; coi trọng xây dựng tổ chức đảng trong cơ quan báo chí vững mạnh về mọi mặt, đề cao vai trò, trách nhiệm đảng viên của người làm báo, nhất là người giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí; đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và định hướng hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí, và chức năng, nhiệm vụ của người làm báo; chú trọng quy định tại Điều 15 Luật Báo chí: “Chỉ đạo cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động; tổ chức nhân sự và chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan báo chí”, “Người đứng đầu cơ quan chủ quản báo chí… liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đối với các sai phạm của cơ quan báo chí trực thuộc”.

Tình hình COVID-19 trong nước.

 

Thêm 118 ca mắc COVID-19 trong nước, Bắc Giang có 69 ca

12:24 15/06/2021
Trưa 15/6, Việt Nam tiếp tục ghi nhận thêm 118 ca mắc COVID-19 trong nước tại 6 tỉnh, thành phố. Bắc Giang vẫn tiếp tục dẫn đầu với 69 ca mắc, TP Hồ Chí Minh 29 ca, Bắc Ninh 10 ca...

  • Bộ Y tế cho biết,118 ca mắc mới ghi nhận trong nước tại Bắc Giang (69), TP Hồ Chí Minh (29), Bắc Ninh (15), Hà Tĩnh (3), Lạng Sơn (1), Hà Nội (1); trong đó 111 ca được phát hiện trong khu cách ly hoặc khu đã được phong toả.

Tính đến 12h ngày 15/6, Việt Nam có tổng cộng 9.356 ca ghi nhận trong nước và 1.643 ca nhập cảnh.

Số ca mắc mới tính từ ngày 27/4 đến nay 7.786 ca, trong đó có 1.534 bệnh nhân đã được công bố khỏi bệnh.

Thông tin chi tiết các ca mắc mới:

69 ca bệnh ghi nhận tại Bắc Giang: BN10.882-BN10.886, BN10.888-BN10.890, BN10.894, BN10.897-BN10.898, BN10.900, BN10.902, BN10.906, BN10.908, BN10.910, BN10.914-BN10.915, BN10.917-BN10.939, BN10.941-BN10.948, BN10.950-BN10.958, BN10.960-BN10.970 đều trong khu cách ly và khu vực đã được phong tỏa, liên quan đến công nhân làm tại các khu công nghiệp. Kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2.

15 ca bệnh ghi nhận tại Bắc Ninh: BN10.891-BN10.892, BN10.895, BN10.899, BN10.901, BN10.903-BN10.905, BN10.907, BN10.909, BN10.911-BN10.913, BN10.916, BN10.940, có 10 ca liên quan đến ổ dịch Khu công nghiệp Quế Võ, 3 ca liên quan đến ổ dịch Khu công nghiệp Khắc Niệm, 3 ca liên quan đến ổ dịch Hạp Lĩnh, 1 ca là F1 của BN9.588. Kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2

Ca bệnh BN10.887, BN10.893, BN10.896 ghi nhận tại tỉnh Hà Tĩnh: 2 ca trong khu phong tỏa, 1 ca đang điều tra dịch tễ. Kết quả xét nghiệm ngày 15/6 dương tính với SARS-CoV-2.

Ca bệnh BN10.949 ghi nhận tại tỉnh Lạng Sơn: Nữ, SN 1992, địa chỉ tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, liên quan đến Khu công nghiệp Đình Trám. Kết quả xét nghiệm ngày 15/6 dương tính với SARS-CoV-2. Hiện đang được cách ly, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Ca bệnh BN10.959 ghi nhận tại TP Hà Nội: Nam, 29 tuổi, địa chỉ tại quận Long Biên, TP. Hà Nội, đang điều tra dịch tễ. Kết quả xét nghiệm ngày 14/6 dương tính với SARS-CoV-2.

29 ca bệnh BN10.971-BN10.999 ghi nhận tại TP Hồ Chí Minh: 18 ca là các trường hợp F1, 4 ca liên quan nhóm truyền giáo Phục Hưng, 2 ca liên quan ổ dịch quán Bánh canh O Thanh, 5 ca đang điều tra dịch tễ. Kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2.

Sự nguy hại của "tham nhũng quyền lực"

 

Sự nguy hại của "tham nhũng quyền lực"


Lạm dụng quyền lực cũng chính là một hình thức tham nhũng và được xếp vào hàng nguy hiểm nhất. Biểu hiện dễ thấy nhất là những hiện tượng chạy ghế, chạy tội, mua bằng, mua chức... mà xã hội bàn tán công khai và không hiếm những lời đồn nêu đích danh ông này đang "đỡ lưng" cho ông kia. 

Loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất ra khỏi Đảng

Để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay đạt hiệu quả, góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cần nhìn thẳng vào sự thật để thấy nguyên nhân sâu xa nhất của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên nằm trong sự lạc hậu, hạn chế trong công tác lý luận, trong công tác xây dựng Đảng, trong thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị, trong quản lý Nhà nước về kinh tế-xã hội… “Nếu không nhận thức sâu sắc và quyết tâm xóa bỏ được các căn nguyên này, mọi giải pháp khác sẽ khó phát huy hiệu quả, hoặc chỉ có tính chất nhất thời, không thể giải quyết cơ bản vấn đề. Khắc phục các nguyên nhân sâu xa này có thể được coi là điều kiện cơ bản nhất, vừa là giải pháp chủ yếu nhất để ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”- PGS.TS Vũ Văn Phúc nhấn mạnh. Thạc sỹ Nguyễn Thị Mai Anh, Tạp chí Cộng sản cho rằng, “trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập theo tấm gương Bác Hồ. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Theo TS Nguyễn Đình Hòa, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, cùng với việc tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp khác, cần chú ý giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên để họ thực sự trở thành những công bộ, đày tớ trung thành của nhân dân. “Nếu mọi người luôn cảnh giác và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vốn biểu hiện và được che đậy dưới nhiều hình thức tinh vi, cũng có nghĩa họ đã thực sự có ý thức vươn tới cái chung, vì tập thể, cộng đồng. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, Đảng trở nên vững mạnh, có năng lực trí tuệ và sức chiến đấu cao chính là do đội ngũ của mình gồm những con người vừa hồng, vừa chuyên”. PGS.TS Vũ Văn Phúc cho rằng, cùng với việc thực hiện quyết liệt, đồng bộ một hệ thống các nhóm giải pháp, cần thực sự coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Nâng cao chất lượng, triển khai theo chiều sâu và lồng ghép các nội dung học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị, chương trình phát triển kinh tế-xã hội, trong các lĩnh vực xã hội khác nhau, duy trì thường xuyên trong sinh hoạt Đảng. Bổ sung các thang giá trị đạo đức, các phẩm chất cơ bản của cán bộ, đảng viên các tiêu chí: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tinh thần dũng cảm đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ. “Cán bộ lãnh đạo quản lý phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội”- PGS.TS Vũ Văn Phúc đề xuất. Theo PGS.TS Vũ Văn Phúc, cùng với các giải pháp trên, cần thực sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên bằng việc ban hành và thực thi quy định chặt chẽ hơn về kết nạp đảng viên mới bảo đảm chất lượng, kiên quyết không chạy theo số lượng để ngăn chặn những kẻ cơ hội, thực dụng thâm nhập vào hàng ngũ Đảng. Nghiên cứu để có cách thức đánh giá, xếp loại đảng viên thực chất hơn, đủ sức thanh lọc, loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Không dung nạp những kẻ cơ hội, cá nhân chủ nghĩa. Cùng với đó, cần khẩn trương rà soát, loại bỏ các cơ chế, chính sách không còn phù hợp. “Rà soát cơ chế, chính sách và ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý, kiểm soát chặt chẽ vốn và tài sản nhà nước, xóa bỏ những kẽ hở trong pháp luật, chính sách dễ bị những kẻ tham nhũng lợi dụng”./.

Giữ vững bản chất cách mạng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng vừa nêu ra mới đây là: “Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”. Để phòng chống nguy cơ này, việc cần thiết hiện nay là phải khẳng định rõ tính ưu việt của Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam, từ đó củng cố, tăng cường niềm tin vào thể chế tiến bộ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn, xây dựng. Trong lịch sử xây dựng, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, hoạt động và quản lý của các nhà nước XHCN trước đây nói chung, nhà nước ta nói riêng, khái niệm “Nhà nước pháp quyền” chưa được đề cập và thực tế có lúc chưa được nhận thức đầy đủ. Sau sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta đã nhìn nhận những nguyên nhân làm tan rã Liên Xô và các nước Đông Âu, trong đó có một trong những nguyên nhân cơ bản là hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước yếu kém, buông lỏng pháp luật, vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN (tức là nguyên tắc yêu cầu nhà nước, các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân phải triệt để chấp hành pháp luật, tôn trọng tính tối cao của hiến pháp); đồng thời chúng ta cũng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ về pháp quyền của các nước phát triển trên thế giới, trong đó có những tiến bộ về sử dụng công cụ của pháp luật trong tổ chức các thiết chế nhà nước, quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Sau khi giành chính quyền năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng đề cao pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật - một công cụ quản lý xã hội văn minh, hiệu quả. Điều đó đã được chứng minh khi ngày 3-9-1945, chỉ sau đúng một ngày tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu một trong những nhiệm vụ cấp bách đầu tiên của Chính phủ là phải xây dựng một bản hiến pháp dân chủ. Trong phiên họp đó, Bác Hồ đã chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay một cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”. Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I họp tại Hà Nội đã thông qua bản Hiến pháp năm 1946, với tỷ lệ phiếu gần như tuyệt đối, 240/242 đại biểu dự họp. Những tinh thần pháp quyền cơ bản đã thể hiện ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên với những chế định rất tiến bộ như: Tư tưởng về quyền con người, quyền công dân (tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài...); sự phân công quyền lực nhà nước, các nhánh quyền lực nhà nước; nhân dân bầu ra các cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước, đồng thời có quyền bãi miễn các đại biểu do mình bầu ra... Trên cơ sở kế thừa tinh thần pháp quyền của bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng giai đoạn, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước XHCN. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Đại hội Đảng (khóa VII, năm 1994) đã mở ra mốc dấu quan trọng khi lần đầu tiên, thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” được ghi nhận, cho dù tinh thần pháp quyền đã hiện thực hóa ngay từ những ngày đầu lập quốc. Quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc và vận dụng sáng tạo tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới. Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của mình, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực to lớn nhằm phát huy dân chủ XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN. Thực tiễn của 30 năm đổi mới đã khẳng định, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan tất yếu mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền dân chủ chân chính của nhân dân, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Trong quá trình đổi mới, những nhận thức lý luận của Đảng ta trong vấn đề Nhà nước pháp quyền ngày càng đầy đủ, sâu sắc. Chủ trương của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã trở thành nguyên tắc hiến định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Các quan điểm chủ đạo của Đảng ta về xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã phản ánh các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và các giá trị dân chủ và nhân đạo chung trên thế giới, được vận dụng một cách sáng tạo và có chọn lọc những kinh nghiệm của các quốc gia về cách thức tổ chức nhà nước pháp quyền, ưu tiên những giá trị có tính phổ biến, kết hợp hài hòa với các giá trị truyền thống, đặc điểm và lịch sử phát triển của đất nước. Trong những bước đi đầu tiên xây dựng nhà nước pháp quyền, bên cạnh những thành tựu lớn đã được nhân dân, cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, chúng ta không tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm và điều đó Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề mới đối với nước ta. Sự phân định vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước còn những nội dung chưa rõ; phương thức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở các cấp còn nhiều điểm chưa được chế định rõ và phù hợp với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền. Tổ chức thực hiện pháp luật và pháp chế XHCN chưa nghiêm”. Tuy nhiên, sự chưa hoàn thiện đó không đồng nghĩa với việc phải tìm kiếm bản sao mô hình nhà nước pháp quyền ở một nước nào đó và trên thực tế cũng chứng minh, chưa khi nào và không bao giờ có “bản sao nhà nước pháp quyền” của chung hai quốc gia. Trong tác phẩm “Tinh thần của pháp luật”, nhà tư tưởng người Pháp Mông-te-xki-ơ từng viết: “Khi tôi nghiên cứu về con người, tôi đã đi đến kết luận rằng, những sự khác biệt của pháp luật và của đạo lý loài người không phải do họ tự vẽ ra một cách tùy tiện. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc mà vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này”. Nhà triết học người Đức G.Hê-ghen cũng đã từng có quan điểm tương tự khi ông viết: “Mỗi dân tộc có chế độ nhà nước của mình... Mỗi một chế độ nhà nước chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện tinh thần riêng của một dân tộc và của trình độ phát triển của ý thức dân tộc của họ mà thôi”. Kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền trên thế giới cũng cho thấy, mọi sự “bắt chước, sao chép” mô hình nhà nước pháp quyền mà không dựa trên điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, đặc điểm dân tộc, chế độ chính trị của mỗi quốc gia, thì mô hình nhà nước đó khó có thể phát huy hiệu lực, hiệu quả. Thế nên, nếu ai đó lên tiếng đòi hỏi nước ta phải từ bỏ Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, để sao chép mô hình thể chế “tam quyền phân lập” một cách máy móc, là thiếu tính khoa học, không có cơ sở thực tiễn. Hay ai đó còn xuyên tạc con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta là “đảng trị thay pháp trị”, cũng là biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và vô hình trung tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, nên cần phải cảnh tỉnh, phê phán.