Trước hết,
để hiểu được nguồn gốc, loại hình của chủ nghĩa dân tộc, cần nhìn nhận về sự ra
đời của dân tộc (Nation). Đến nay, trên thế giới có hai khuynh hướng lý thuyết
liên quan đến vấn đề này. Những người theo thuyết khởi nguyên (Primordialism)
hay thuyết truyền thống (Traditionalism) cho rằng, dân tộc xuất hiện từ trước
thời kỳ hiện đại. Còn những người theo chủ nghĩa hiện đại (Modernilism) hoặc chủ
nghĩa duy vật (Materialism) lại khẳng định, dân tộc chỉ ra đời ở thời kỳ tư bản
chủ nghĩa. Về khái niệm dân tộc, nhiều học giả trên thế giới có chung quan điểm,
đó là siêu cộng đồng dân cư, chỉ hình thành khi có nhà nước, với một lãnh thổ,
cấu trúc kinh tế, xã hội và chia sẻ những giá trị văn hóa chung.
Theo
Mai-cơn Hét-tơ (Michael Hechter), chủ nghĩa dân tộc là hành động tập thể hướng
đến làm cho biên giới quốc gia trùng khớp với sự quản trị của quốc gia đó(1).
Còn C-rai Ca-hun (Craig Calhoun) cho rằng, chủ nghĩa dân tộc không phải là học
thuyết, mà hơn cả là cách trao đổi, suy nghĩ và hành động(2). Dưới góc nhìn văn
hóa, Xờ-mít (Smith) nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm
tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với
toàn cầu(3). Về thời điểm ra đời chủ nghĩa dân tộc, trong nhiều ý kiến được
Craig Calhoun tổng hợp, phần lớn đều cho rằng, chủ nghĩa này trở nên phổ biến
vào năm 1815 - thời điểm phát triển mạnh mẽ của phong trào giành độc lập dân tộc(4).
Xem xét
cơ sở hình thành của chủ nghĩa dân tộc, E-ríc-sen (Eriksen) khẳng định, nó được
khởi nguồn từ các nguyên tắc chính trị, như tình cảm hay phong trào, thậm chí
có tính dị thường(5). Bê-sing-gơ (Beissinger) cho rằng, có màu sắc khác nhau ở
chủ nghĩa dân tộc Đức thế kỷ XIX; chủ nghĩa dân tộc A-rập thế kỷ XX; chủ nghĩa
dân tộc mới xuất hiện trong phong trào chống thực dân; chủ nghĩa dân tộc ở Đông
Á. Sau khi mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ,
nhiều nhà nước chuyển sang chủ nghĩa dân tộc(6).
Về các loại
hình của chủ nghĩa dân tộc, hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Theo Michael
Hechter, có bốn loại chủ nghĩa dân tộc: 1- Chủ nghĩa dân tộc nhà nước (State
nationalism); 2- Chủ nghĩa dân tộc ngoại biên (Peripheral nationalism); 3- Chủ
nghĩa dân tộc tái chiếm lãnh thổ (Irredentist nationalism); 4- Chủ nghĩa dân tộc
thống nhất (Unification nationalism). Ở chiều cạnh thanh lọc tộc người (Ethnic
cleasing) trong quá trình xây dựng quốc gia - dân tộc, Michael Hechter lại
chia chủ nghĩa dân tộc thành hai loại hình là chủ nghĩa dân tộc dung nạp
(Inclusive nationalism), và chủ nghĩa dân tộc loại trừ (Exclusive nationalism).
Vẫn từ góc nhìn tộc người, Eriksen cho rằng, có hai loại chủ nghĩa dân tộc, đó
là chủ nghĩa dân tộc tộc người (Ethnic nationalism) và chủ nghĩa dân tộc phi tộc
người (Non-ethnic nationalism)(7); còn với Smith, có chủ nghĩa dân tộc tộc người,
bao gồm chủ nghĩa dân tộc ly khai và chủ nghĩa dân tộc đòi lãnh thổ
(Irredentist nationalism)(8). Từ góc độ tôn giáo, Bác-kơ (Barker) lại chia chủ
nghĩa dân tộc thành chủ nghĩa dân tộc thế tục (Secular nationalism) và chủ
nghĩa dân tộc tôn giáo (Religious nationalism)(9).
Xem xét
chủ nghĩa dân tộc ở khu vực Đông Nam Á, Đa-vít Brao (David Brown) cho rằng, nó
có hai đặc điểm: Một là, chiều kích tộc người trong chủ nghĩa dân tộc. Theo đó,
tộc người có vai trò quan trọng trong chủ nghĩa dân tộc ở các nước thuộc khu vực
này. Hầu hết các nước đều có tộc người hạt nhân (Score), với vai trò tạo lập
dân tộc. Tộc người hạt nhân gắn với vai trò văn hóa, và thường có dân số lớn nhất
(đa số), còn các tộc người thiểu số thường có dân trí thấp hơn. Hai là, chiều
kích công dân trong chủ nghĩa dân tộc. Trong quá trình xây dựng dân tộc, các quốc
gia cũng hướng đến vấn đề công dân để thực hiện đoàn kết dân tộc(10).
Chủ nghĩa
dân tộc có tính hai mặt. Ngay việc phân chia các loại hình của chủ nghĩa này
như đã nêu, dựa trên sự nhìn nhận về cơ sở và đặc điểm của nó, cũng phần nào phản
ánh điều đó. Mặt hạn chế, nguy hiểm nhất của chủ nghĩa dân tộc là tính hẹp hòi,
cực đoan, sô-vanh. Trong các loại hình chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân tộc tộc
người và chủ nghĩa dân tộc tôn giáo dễ dẫn đến hẹp hòi và cực đoan nhất. Trước
và trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức Quốc xã thúc đẩy ý tưởng rất phản động
về một dân tộc Đức thượng đẳng, đứng trên tất cả các dân tộc khác, có quyền tiến
hành chiến tranh để “mở rộng không gian sinh tồn”, thanh lọc tộc người, tiêu diệt
các dân tộc khác mà nạn diệt chủng người Do Thái là một ví dụ điển hình về tính
tàn bạo và phi nhân tính của nó.
Chủ nghĩa
dân tộc tộc người được hình thành trên cơ sở tộc người, tức đề cao bản sắc tộc
người, lấy tộc người làm trung tâm, nhằm đạt được mục đích chính trị là xây dựng
nhà nước dân tộc với tộc người chiếm ưu thế làm chủ thể, hoặc tộc người đó được
tự trị trong một quốc gia - dân tộc. Trong thế kỷ XX, chủ nghĩa dân tộc tộc người
bùng nổ ở nhiều nơi thuộc các châu lục Á, Phi, Mỹ La-tinh, chống lại chủ nghĩa
thực dân và kiến tạo được nhiều quốc gia - dân tộc độc lập, với các thể chế
chính trị khác nhau. Sau đó, chủ nghĩa này lại tiếp tục hồi sinh không chỉ ở
ngay các quốc gia - dân tộc đã nêu mà còn xuất hiện tại các nước vốn đã từng là
chính quốc xâm chiếm thuộc địa.
Trong bối
cảnh toàn cầu hóa, chủ nghĩa dân tộc tộc người càng có điều kiện mang tính
xuyên quốc gia. Khi chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy trên thế giới vào cuối thế kỷ
XX, đầu thế kỷ XXI, nhân lõi của nó chính là chủ nghĩa dân tộc tộc người. Sự
chia sẻ về văn hóa và nguồn gốc tổ tiên của tộc người là những yếu tố dễ dàng tạo
sự kết nối trong huy động phong trào chính trị và tính thống nhất về chính trị.
Song, nguồn gốc sâu xa của chủ nghĩa dân tộc tộc người không phải sự chia sẻ ấy,
mà chính là sự bất bình đẳng về lợi ích và mâu thuẫn, xung đột xã hội tại các
quốc gia. Cùng với đó, phải kể đến các thế lực bên ngoài kích động, hỗ trợ,
chia rẽ để làm suy yếu các nước đối thủ cạnh tranh hoặc vừa mới giành được độc
lập dân tộc. Theo đó, chủ nghĩa dân tộc
tộc người chỉ là phương tiện của các lực lượng chính trị để đạt mục đích.
Chủ nghĩa
dân tộc tôn giáo lấy tôn giáo là yếu tố quan trọng để tạo nên bản sắc dân tộc,
có sự liên kết giữa truyền thống tôn giáo với thiết chế xã hội; đồng thời, tôn
giáo cũng được sử dụng như công cụ để đạt được những mục tiêu chính trị. Gắn với
quá trình xây dựng quốc gia - dân tộc, chủ nghĩa dân tộc tôn giáo có sức mạnh bởi
nó đan kết với đời sống chính trị, xã hội và văn hóa. Việc hiểu đơn giản về chủ
nghĩa dân tộc thế tục, tức chỉ là sự tách biệt giữa nhà thờ với nhà nước, sẽ
không phát huy được các yếu tố tích cực của tôn giáo và cũng không lường hết những
phức tạp của tôn giáo. Từ những năm 70 thế kỷ XX đến nay, chủ nghĩa dân tộc tôn
giáo trên thế giới rất phát triển, kể cả ở những quốc gia tuyên bố theo chủ
nghĩa thế tục; nhiều cuộc xung đột lớn trên thế giới cùng sự bất ổn của một số
nước có liên quan chặt chẽ với chủ nghĩa dân tộc tôn giáo, như ở I-xra-en,
Pa-le-xtin, Mi-an-ma, Thái Lan hay Ấn Độ.
Có thể thấy
rằng, chủ nghĩa dân tộc trên thế giới rất đa dạng và phức tạp. Chủ nghĩa dân tộc
có vai trò tích cực khi gắn với lòng yêu nước và ý thức công dân trong bảo vệ,
xây dựng cộng đồng quốc gia - dân tộc. Song, chủ nghĩa dân tộc sẽ có nhiều tác
động tiêu cực nếu trở nên hẹp hòi và cực đoan, khi nó chỉ hướng đến trục lợi
cho quốc gia - dân tộc hay nhóm tộc người, nhóm tôn giáo của mình mà chà đạp
lên lợi ích của các quốc gia - dân tộc hay tộc người khác, tôn giáo khác; dẫn
tới sự thoát ly của các nhóm tộc người, tôn giáo với cộng đồng quốc gia - dân tộc
vì mưu cầu riêng./.
(1) Xem:
Michael Hechter: Containing Nationalism, Oxford University Press, 2000, p. 7
(2) Xem:
Craig Calhoun: Concepts in Social Thought Nationalism, University of Minnesota
Press, 1997, pp.11 - 12
(3) Xem:
Anthony D. Smith: National Identity, Penguin, London, 1991, pp. 91, 70 - 79
(4) Xem:
Craig Calhoun: “Nationalism and Ethnicity”, Annual Review of Sociology, Vol.19,
1993, pp. 211 - 239; Wimmer, Andreas and Yuval Feinstein: “The Rise of the
Nation - State across the World, 1816 to 2001”, American Sociological Review,
75(5), 2010
(5) Xem:
Thomas Hylland Eriksen: Ethnicity and Nationalism: Anthropological
Perspectives, Pluto Press, 2010, pp. 121 - 122
(6) Xem:
Markr Beissinger: “Nationalism and the Collapse of Soviet Communism”,
Contemporary European History, Vol.18, 3, Cambridge University Press, 2009, pp.
331 - 347
(7) Xem:
Thomas Hylland Eriksen: Ethnicity and Nationalism: Anthropological
Perspectives, Ibid, pp. 140 - 144
(8) Xem:
Anthony D. Smith: National Identity, Ibid, pp. 82 - 83
(9) Xem:
Philip W. Barker: Religious Nationalism in Modern Europe: If God be for Us,
Routledge, 2009
(10) Xem:
David H. Brown: Contending Nationalisms in Southeast Asia, Asia Research
Centre, Murdoch University, Working Paper, 2006