Chủ Nhật, 20 tháng 6, 2021

Brazil vượt ngưỡng nửa triệu người chết vì Covid-19

Brazil vừa vượt ngưỡng 500.000 ca tử vong vì Covid-19, nhưng chuyên gia cảnh báo điều tồi tệ hơn nữa có thể sẽ đến với quốc gia Nam Mỹ này. Dữ liệu của Bộ Y tế Brazil ngày 19/6 cho biết quốc gia này đã báo cáo 500.800 người chết trong số 17.883.750 ca Covid-19 được ghi nhận kể từ khi dịch bùng phát. Đây là vùng dịch chết chóc thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ. Trong tuần qua, Brazil ghi nhận trung bình 2.000 ca tử vong mỗi ngày. Tuy nhiên đến nay, chỉ 11% trong số 211 triệu dân được tiêm chủng đầy đủ. Nhiều chuyên gia dịch tễ học cảnh báo số ca tử vong ở Brazil sẽ tiếp tục tăng lên ngay cả khi việc tiêm chủng có hiệu quả, do mùa đông đến ở nam bán cầu và biến thể nCoV lây lan mạnh. "Tôi nghĩ chúng tôi có thể chạm ngưỡng 700.000 hoặc 800.000 ca tử vong trước khi thấy được hiệu quả của chương trình tiêm chủng", Gonzalo Vecina, cựu lãnh đạo cơ quan quản lý y tế Anvisa của Brazil, nhận định. "Chúng tôi đang thấy sự xuất hiện của những biến chủng mới và biến thể Ấn Độ sẽ khiến tình hình tệ thêm". Vecina chỉ trích cách ứng phó đại dịch của Tổng thống Jair Bolsonaro, như thiếu phản ứng phối hợp trên phạm vi quốc gia, hoài nghi vaccine, các biện pháp phong tỏa và yêu cầu đeo khẩu trang. Hàng nghìn người Brazil cũng biểu tình phản đối ông Bolsonaro trong ngày 19/6, đổ lỗi cho chính quyền về số ca tử vong cao và kêu gọi phế truất tổng thống. Raphael Guimaraes, nhà nghiên cứu tại trung tâm y sinh Fiocruz của Brazil, cho rằng chiến dịch tiêm chủng đình trệ do thiếu nguồn cung vaccine có thể khiến quốc gia này chứng kiến dịch bùng phát tồi tệ như đỉnh điểm tháng 3 và 4, với trung bình 3.000 người chết mỗi ngày. "Chúng tôi vẫn trong tình thế cực kỳ nguy hiểm, với tốc độ dịch lây lan cao và công và bệnh viện hoạt động hết công suất ở nhiều nơi", ông nói. Tiêm chủng sẽ trở thành biện pháp sống còn với Brazil trong cuộc chiến chống đại dịch, khi quốc gia này gần như không thể đạt đồng thuận về giãn cách xã hội và đeo khẩu trang, theo Ester Sabino, chuyên gia dịch tễ học tại Đại học Sao Paulo. "Chúng tôi thực sự cần tăng cường tiêm chủng thật nhanh", bà nói.

nCoV hoành hành ở Hà Tĩnh là biến chủng Delta

Giáo sư Đặng Đức Anh, Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương, cho biết giải trình tự gene virus bệnh phẩm một số bệnh nhân Covid-19 Hà Tĩnh kết quả nhiễm biến chủng Delta (xuất hiện lần đầu từ Ấn Độ). "Kết quả giải trình tự gene virus 2 vợ chồng F0 đầu tiên ở Hà Tĩnh trùng hợp với kết quả gene virus các mẫu bệnh phẩm tại Bình Dương", ông Đức Anh thông tin trong buổi làm việc với tỉnh Hà Tĩnh ngày 19/6. Sở Y tế Hà Tĩnh trước đó cũng đưa ra giả thiết "có thể chủng virus đang gây dịch tại tỉnh là biến chủng từ Ấn Độ". Theo Sở, biến chủng này lây nhiễm rất nhanh, nguy hiểm, cường độ gấp 2,5 đến 2,8 lần so với chủng ban đầu, hơn 40% so với chủng Anh. "Bệnh nhân 8425, 8427" ghi nhận đầu tiên ở Hà Tĩnh trong đợt dịch này là hai vợ chồng doanh nhân về từ Bình Dương, 56 và 52 tuổi, F1 của "bệnh nhân 8113", được Bộ Y tế công bố trưa 5/6. Vợ chồng doanh nhân nhà ở thôn Đoài Thịnh, xã Thạch Trung, TP Hà Tĩnh, sinh sống chủ yếu ở TP Dĩ An, Bình Dương. Tính từ ngày 4/6 đến chiều 19/6, Hà Tĩnh ghi nhận 79 ca Covid-19 tại 6 địa phương gồm: TP Hà Tĩnh 31 ca, Hương Sơn 18 ca, Thạch Hà 16, Lộc Hà 7 ca, Hồng Lĩnh 3 ca, Nghi Xuân 4 ca. Ngành y tế xác định được 2.024 F1, 15.862 F2, đều đã được cách ly, lấy mẫu xét nghiệm. Lãnh đạo UBND tỉnh Hà Tĩnh cho biết từ năm ngoái tỉnh đã lên kịch bản cho tình huống 500 ca nhiễm trên địa bàn. Tỉnh đang rà soát lại các yếu tố về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất, trong đó có cả thiết lập bệnh viện dã chiến... Hà Tĩnh đã triển khai các đợt lấy mẫu trên diện rộng, trong đó đợt 1 từ ngày 5/6 đến 15/6 triển khai lấy 33.000 mẫu cho người trong khu cách ly y tế, đại diện một người có nguy cơ cao trong hộ gia đình trên địa bàn TP Hà Tĩnh. Đợt 2 từ ngày 16/6- 19/6, lấy 150.000 mẫu cho 8 nhóm trên địa bàn toàn tỉnh... Hà Tĩnh đã vận hành Bệnh viện đa khoa khu vực cửa khẩu quốc tế Cầu Treo và Trung tâm Y tế huyện Kỳ Anh để tiếp nhận và điều trị bệnh nhân Covid-19 không có triệu chứng và triệu chứng nhẹ với quy mô 70 giường bệnh mỗi cơ sở. Ngoài ra, Bệnh viện Phổi với quy mô 100 giường cũng đã hoàn thiện các điều kiện để sẵn sàng tiếp nhận khi có ca mức độ nhẹ và vừa. Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh có thể tiếp nhận điều trị 6 đến 8 bệnh nhân mức độ nặng và rất nặng tại khoa Truyền nhiễm. Về lâu dài, Hà Tĩnh sẵn sàng triển khai đơn vị điều trị Covid-19 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh với quy mô 150 giường tại trụ sở cũ của Sở Y tế và Trung tâm Y tế dự phòng... Tỉnh đã mời Bệnh viện Đại học Y Hà Nội hỗ trợ triển khai phòng hồi sức tích cực (ICU) điều trị bệnh nhân nặng tại bệnh viện tỉnh.

Trung Quốc trước mặt trái chiến lược không khoan nhượng Covid-19

Dù tỷ lệ bùng phát Covid-19 thấp và tiến hành chiến dịch tiêm chủng thần tốc, Trung Quốc vẫn khó từ bỏ chiến lược dập dịch để tái mở cửa. Khi khoảng 100 ca nCoV mới được phát hiện trong vài ngày cuối tháng trước, Quảng Đông đã nhanh chóng tiến hành xét nghiệm cho hầu hết người dân địa phương. Dù số ca nhiễm mới tương đối thấp so với các nơi khác trên thế giới, giới chức Quảng Đông cho biết các biện pháp quyết liệt vẫn cần thiết để đảm bảo dịch không lây lan thêm, vì tỉnh này là một cửa ngõ của đất nước và đóng vai trò là tuyến phòng thủ đầu tiên. Thông điệp được đưa ra rất rõ ràng: tỉnh với 126 triệu dân này sẽ không cho phép dịch có bất kỳ cơ hội nào lây lan, ngay cả khi họ phải xét nghiệm hàng triệu dân và đưa hàng chục nghìn người tới khách sạn cách ly. Trung Quốc nhiều lần ca ngợi cách tiếp cận không khoan nhượng với Covid-19 của nước này, coi việc áp dụng các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt và sàng lọc quy mô lớn là mô hình chống dịch hiệu quả. Cách tiếp cận này đã nhận được ủng hộ mạnh mẽ của công chúng, dù trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng, nó đã gây ra nhiều phiền toái lẫn bức xúc cho người dân. Nhưng sau hơn một năm kể từ lần đầu tiên đóng cửa biên giới, Trung Quốc đang đối mặt với một tình huống tiến thoái lưỡng nan: tiếp tục đóng cửa với những tổn hại về kinh tế và thương mại quốc tế, hay mở cửa và đối mặt làn sóng phản đối của công chúng về nguy cơ bùng dịch do người nhập cảnh. Khi bắt đầu đại dịch, cách tiếp cận không khoan nhượng của Trung Quốc đã giúp nước này ghi nhận số ca tử vong thấp và thúc đẩy phục hồi kinh tế nhanh hơn các nước khác. Thành công này một phần lớn nhờ người dân tuân thủ biện pháp kiểm soát, hy sinh cuộc sống cá nhân như hạn chế di chuyển và gián đoạn hoạt động hàng ngày. Thành công trong việc dập dịch ở Vũ Hán, sau đó là Bắc Kinh, Liêu Ninh và Tân Cương, đã khiến người dân ủng hộ cách tiếp cận của chính phủ. Niềm tin và sự ủng hộ càng tăng lên khi nhiều người Trung Quốc so sánh cách kiểm soát dịch trong nước với chiến lược chống dịch bị coi là "thảm họa" ở nhiều quốc gia phương Tây, đặc biệt ở Mỹ. Nhưng sự ủng hộ mạnh mẽ với chính sách không khoan nhượng cộng với những hy sinh cá nhân của người dân Trung Quốc trong cuộc chiến chống dịch đồng nghĩa họ khó chấp nhận bất kỳ sai lầm nào của việc từ bỏ cách tiếp cận hiện tại. "Họ có động lực mạnh mẽ để duy trì thành tựu vốn rất khó đạt được này", Huang Yanzhong, thành viên cấp cao về y tế toàn cầu tại Hội đồng Quan hệ Quốc tế ở Mỹ, nói. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng Bắc Kinh đã đến lúc chấp nhận mở cửa biên giới và đối mặt với nguy cơ dịch xuất hiện, bởi đây là điều mà nhiều quốc gia khác cũng phải lựa chọn. "Covid-19 khó có thể bị xóa sổ trên toàn cầu, vì vậy tất cả các nước vẫn sẽ gặp nguy cơ, có thể trong vài năm tới hoặc thậm chí mãi mãi", Christopher Dye, giáo sư dịch tễ học tại Đại học Oxford, nói. "Dù đóng cửa biên giới quốc gia là điều dễ hiểu trong giai đoạn nghiêm trọng của dịch, tôi không cho rằng bất kỳ quốc gia nào có thể tránh xa được virus này hoàn toàn. Biện pháp này quá tốn kém". Nicholas Thomas, phó giáo sư chuyên về an ninh y tế tại Đại học Hong Kong, cho rằng chính sách không khoan nhượng chỉ nên được xem như một phương tiện để tạo "thời gian thở" cho một quốc gia để thúc đẩy tiêm chủng cho người dân, chứ không phải là giải pháp dài hạn. "Hầu hết quốc gia đều có nhu cầu mở cửa biên giới. Bởi nếu không, họ không thể duy trì tăng trưởng kinh tế", ông nói. Trung Quốc đã khởi động chiến dịch tiêm chủng đại trà với hy vọng đạt miễn dịch cộng đồng. 967 triệu liều vaccine đã được sử dụng ở Trung Quốc, với 223 triệu người tiêm chủng đủ mũi, theo Our World in Data. Một số nền kinh tế lớn, như Liên minh châu Âu (EU) đã nới lỏng các biện pháp hạn chế đi lại với người nước ngoài đã tiêm chủng. Huang cho rằng Trung Quốc có thể phải đối mặt với áp lực lớn hơn để thay đổi cách tiếp cận hiện tại nếu các lĩnh vực kinh doanh và thương mại ở các nước khác được hưởng lợi từ mở cửa biên giới, đặc biệt là Mỹ. "Tại sao bạn tự hào về chính sách của mình? Đó là vì thất bại của Mỹ. Nhưng với chiến dịch tiêm chủng thành công, Mỹ có thể kiểm soát virus và quay trở lại cuộc sống bình thường. Nếu Trung Quốc tiếp tục duy trì chính sách không khoan nhượng và đóng cửa biên giới, bạn sẽ thấy sự tương phản giữa hai nơi. Sau đó, mọi người sẽ hoài nghi về chiến lược kiểm soát đại dịch của Trung Quốc", ông nói. Vaccine Covid-19 hầu hết hiệu quả chống lại nguy cơ xuất hiện triệu chứng nặng và tử vong, chứ không hiệu quả trong việc ngăn bị nhiễm virus ở mức nhẹ. Do đó, ngay cả khi phần lớn dân số của một quốc gia được tiêm chủng, dịch bệnh vẫn có thể xảy ra, theo Mark Jit, giáo sư về dịch tễ học vaccine tại Trường Vệ sinh và Y học Nhiệt đới London. Giới khoa học cho rằng một cách tiếp cận thực tế đối với các nước có tỷ lệ nhiễm thấp là tiêm vaccine để tránh các trường hợp nghiêm trọng và nhập viện, trong khi chấp nhận mức độ lây nhiễm Covid-19 nhất định. Đây là cách mà nhiều nước phương Tây đang áp dụng. "Các quốc gia có thể đưa ra các chính sách khác nhau dựa trên mức độ rủi ro và khả năng phục hồi kinh tế của họ. Tuy nhiên, về lâu dài, các quốc gia đều phải chấp nhận một mức độ nhất định của Covid-19", Jit nói. Hiện tại, Trung Quốc không có dấu hiệu nào cho thấy sẽ sớm nới lỏng chính sách kiểm soát dịch mạnh tay. Cách xử lý đợt bùng phát ở Quảng Đông cho thấy Bắc Kinh vẫn tăng cường các biện pháp quyết liệt để ngăn chặn dịch. Phùng Tử Kiện, phó giám đốc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Trung Quốc, tuần trước phát biểu tại hội nghị ở Thanh Đảo rằng nước này khó có thể mở lại biên giới trước giữa năm sau. Steve Tsang, giám đốc Viện Trung Quốc tại Đại học SOAS London, nhận định Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ tránh mọi rủi ro có thể xảy ra. "Áp lực có thể lớn hơn để mở cửa cho Thế vận hội mùa đông vào năm tới. Nhưng ngay cả khi đó, Bắc Kinh có thể vẫn mở cửa biên giới một cách hạn chế, đặc biệt nếu Nhật Bản không thể mở cửa hoàn toàn cho Thế vận hội mùa hè sắp tới", ông nói.

Ai không được tiêm vaccine Covid-19?

Bộ Y tế phân loại 4 nhóm gồm người đủ điều kiện, người cần thận trọng, người phải trì hoãn và người chống chỉ định tiêm vaccine Covid-19. Theo hướng dẫn khám sàng lọc trước tiêm vaccine phòng Covid-19, ngày 18/6, Bộ Y tế cho biết Việt Nam có thể sẽ được tiếp cận với rất nhiều loại vaccine Covid-19 khác như Pfizer, Sputnik V, Sinopharm... ngoài AstraZeneca như hiện nay. Bộ Y tế phân loại thành 4 nhóm được tiêm vaccine như sau: - Người đủ điều kiện tiêm: Người trong độ tuổi tiêm chủng theo khuyến cáo, hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất; Người không quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc tá dược trong thành phần của vaccine và người không thuộc 3 nhóm còn lại. - Người cần thận trọng: Những trường hợp này cần được khám sàng lọc kỹ và tiêm tại cơ sở y tế đủ năng lực hồi sức cấp cứu. Người có tiền sử dị ứng với các dị nguyên khác. Người có bệnh nền, bệnh mạn tính được điều trị ổn định. Người mất tri giác, năng lực hành vi, người trên 65 tuổi, người có tiền sử giảm tiểu cầu hay rối loạn đông máu. Người có bệnh mạn tính có phát hiện thấy bất thường về mạch, huyết áp, nhịp thở. - Người phải trì hoãn: Người đang mắc bệnh cấp tính hoặc mạn tính đang tiến triển, chưa kiểm soát được. Người bị suy giảm khả năng đáp ứng miễn dịch nặng, ung thư giai đoạn cuối, xơ gan mất bù... Trong vòng 14 ngày trước có điều trị corticoid liều cao hoặc điều trị hóa trị, xạ trị cũng phải trì hoãn hay bệnh nhân từng mắc Covid-19 trong 6 tháng. Phụ nữ mang thai và đang nuôi con bằng sữa mẹ. - Người không được tiêm: Người có tiền sử phản vệ từ độ 2 trở lên với bất kỳ dị nguyên nào. Người chống chỉ định theo công bố của nhà sản xuất. Ngày 19/6, Việt Nam bắt đầu chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử. Trong chiến dịch tiêm chủng lần này, TP HCM triển khai 836.000 liều vaccine của AstraZeneca. Đây là phần vaccine trong số 966.320 liều do Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam, được phân bổ phần lớn cho TP HCM tiêm các nhóm ưu tiên diện rộng, trong bối cảnh số ca Covid-19 cộng đồng ở thành phố tăng nhanh liên tục kể từ ngày 18/5.

Trưa 20/6 thêm 139 ca Covid-19

Bộ Y tế trưa 20/6 ghi nhận 139 ca dương tính, gồm 130 ca trong nước và 3 ca nhập cảnh được cách ly ngay. 139 ca mới từ số 12979-13117. Trong đó, 130 ca ghi nhận tại: Bắc Giang (53), TP HCM (34), Đà Nẵng (18), Bình Dương (13), Bắc Ninh (9), Hà Tĩnh (1), Quảng Nam (1), An Giang (1). Trong số này có 127 ca được phát hiện ở khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa. Số ca nhiễm mới nâng tổng số ca ở Bắc Giang lên 5.383, TP HCM 1.561, Bắc Ninh 1.522, Đà Nẵng 182, Bình Dương 87, Hà Tĩnh 80, Quảng Nam 4. Như vậy, Quảng Nam sau hơn 30 ngày không ghi nhận ca Covid-19 thì hôm nay xuất hiện ca nhiễm mới. An Giang cũng lần đầu tiên trong đợt dịch này ghi nhận ca nhiễm. Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 9.850, ghi nhận ở 42 tỉnh thành. 21 tỉnh gồm Bạc Liêu, Đăk Lăk, Điện Biên, Đồng Tháp, Gia Lai, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sơn La, Tây Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, đã qua 14 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. 7 tỉnh gồm Yên Bái, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tuyên Quang, Sơn La, đã qua 30 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. Số lượng xét nghiệm từ 29/4 đến nay đã thực hiện 2.445.591 xét nghiệm cho 5.418.646 lượt người. Hà Tĩnh Ca 12979 nam, 3 tuổi, địa chỉ huyện Hương Sơn, là F1 của 10191, đã được cách ly. Kết quả xét nghiệm ngày 19/6 dương tính, bé điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo. Quảng Nam Ca 12984 nữ, 31 tuổi, địa chỉ huyện Duy Xuyên, là F1 của 12437, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 19/6 dương tính, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam. Bắc Giang Ca 12985-12988, 12997, 12999-13005, 13007, 13011, 13015, 13017, 13019, 13022-13023, 13027, 13036, 13039, 13045-13046, 13051, 13053-13057, 13061-13083 ghi nhận trong khu cách ly và khu vực đã được phong tỏa, liên quan đến công nhân làm tại các khu công nghiệp. Bắc Ninh Ca 12989-12996, 12998 gồm 7 ca liên quan đến ổ dịch Khu công nghiệp Quế Võ, 2 ca liên quan đến ổ dịch Khu công nghiệp Khắc Niệm, kết quả xét nghiệm ngày 18-19/6 dương tính. Bình Dương Ca 13010, 13012, 13016, 13018, 13024, 13028, 13030, 13032, 13035, 13040, 13043, 13048, 13052 gồm 5 ca là các trường hợp F1 đã được cách ly, 7 ca liên quan đến Công ty House Ware, một ca liên quan đến Công ty gốm Hiền Hòa Anh. Kết quả xét nghiệm ngày 19/6 họ dương tính. Đà Nẵng Ca 13013-13014, 13020-13021, 13025-13026, 13029, 13031, 13033-13034, 13037-13038, 13041-13042, 13044, 13047, 13049-13050 gồm 5 ca là F1 của ca 12437 đã được cách ly, 13 ca trong khu vực phong tỏa. Kết quả xét nghiệm ngày 19/6 họ dương tính. An Giang Ca 13059, nam, 33 tuổi, địa chỉ huyện An Phú, là F1 của 12642, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 19/6 dương tính, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện An Phú, tỉnh An Giang. TP HCM Ca 13084-13117 gồm 28 ca là các trường hợp F1 đã được cách ly, 3 ca liên quan đến nhóm Truyền giáo Phục hưng, 3 ca đang điều tra dịch tễ.

Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2021

LAN TỎA NHỮNG TẤM LÒNG NHÂN ÁI TRONG ĐẠI DỊCH


   Với tinh thần “tương thân, tương ái” và quyết tâm đẩy lùi dịch Covid-19, bên cạnh sự nỗ lực của Chính phủ, những ngày qua, tại các tỉnh từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, nhiều chuyến xe chở hàng nghìn tấn hàng hóa, nhu yếu phẩm, vật tư y tế do các đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm quyên góp đã đến với nhân dân các tỉnh, thành phố đang có dịch Covid-19.

   Được biết, ngay trong ngày hôm qua (19-6), những chuyến xe chở đầy rau, củ, quả và đặc sản từ Lâm Đồng đã đến với bà con nhân dân TP Hồ Chí Minh, mang theo tấm lòng, tình cảm của người dân cao nguyên đến thành phố mang tên Bác, với mong ước thành phố sớm chiến thắng dịch bệnh, người dân sớm ổn định cuộc sống. Đây không chỉ là những chuyến hàng nhu yếu phẩm thiết yếu mà còn là tấm lòng, tinh thần người Việt luôn tương trợ, giúp đỡ nhau trong những lúc khó khăn.  


   Đặc biệt trong những ngày dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại Bắc Ninh và Bắc Giang… đã có hàng nghìn y sĩ, bác sĩ giỏi, có nhiều kinh nghiệm và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, y sĩ, bác sĩ Quân đội ở khắp mọi miền Tổ quốc tình nguyện về vùng tâm dịch giúp người dân chống Covid-19… Những hành động đó thể hiện sự đồng lòng, quyết tâm chiến đấu và quyết tâm chiến thắng dịch bệnh. Khi lên đường, họ đều xác định sẵn sàng cống hiến, hy sinh, chấp nhận vất vả, khó khăn để sớm đẩy lùi dịch Covid-19.

   Có thể thấy, những việc làm trên thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam đang được lan tỏa rộng khắp trong toàn xã hội, đem đến cho chúng ta thêm sức mạnh và niềm tin chiến thắng dịch bệnh. Tinh thần đoàn kết, thái độ chia sẻ và trách nhiệm với xã hội ấy đã giúp lực lượng phòng, chống dịch thêm vững tâm, tin tưởng rằng, mình không đơn độc trong công cuộc phòng, chống đại dịch, đã nhân lên sức mạnh trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 đầy gian nan, thử thách.

   Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp và công cuộc phòng, chống dịch sẽ kéo dài. Vì vậy, cùng với việc tiêm vaccine phòng Covid-19, các cấp ủy, chính quyền và mỗi người dân không được chủ quan, lơ là; thực hiện nghiêm khuyến cáo 5K của Bộ Y tế. Tôi tin rằng, với sự đoàn kết, chung tay, đồng lòng vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và người dân, dịch Covid-19 sẽ sớm được đẩy lùi bệnh, giúp nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng phục hồi, tiếp tục phát triển...

Kho báu bên sông Hồng

Năm 15 ​tuổi, tôi một mình tự bơi qua sông Hồng và tin rằng mình sẽ thành người lớn. Đó là một điều ước từ lâu. Tôi đã bơi qua khúc sông giữa Bát Tràng và Khuyến Lương. Sang được bờ bên kia, sức gần kiệt, tôi nằm nghỉ, rồi cứ quần đùi ướt sũng nhờ chuyến đò ngang về lại bờ bên quê mình. Quê tôi ngay ven sông Hồng tại Gia Lâm. Hồi bé, tôi vẫn đi bộ dọc đê sông Hồng từ nhà lên Hà Nội trọ học. Trí nhớ tôi vẫn in từng đoạn sông, nhất là mùa lũ. Đi trên con trạch của bờ đê, chúng tôi có thể khoả chân xuống nước sông đang dữ dằn chảy xiết. Năm 1994, Tổng cục Địa chính mới thành lập, Thủ tướng ban hành Quyết định 773 về khai thác, sử dụng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở đồng bằng. Tôi nhớ ngay đến quê mình. Bên kia sông là nơi đô hội, còn bên này sông, quê tôi vẫn xác xơ. Tôi tự đi khảo sát bãi sông Hồng xem sao. Trên bãi bên thành phố, nhiều nhà tạm đơn sơ được dựng lên trái phép như những xóm nghèo cho dân tứ xứ thuê để kiếm sống, có cả xóm tụ bạ của xã hội đen. Thấy dăm biệt thự sang trọng trong vườn cây được chăm sóc công phu, tôi hỏi ra cũng là xây trái phép, nhưng đều của ông nọ, bà kia cả. Phần bãi lùi ra xa Hà Nội, chính quyền các xã đều lạm quyền cho các hộ thuê đất để trồng trọt. Trông mà thấy phung phí đất đai quá. Năm 2007, tập đoàn Posco, Hàn Quốc đã đề xuất dự án phát triển Thành phố Sông Hồng trên diện tích đất giữa hai con đê của sông dựa trên kinh nghiệm thành phố sông Hàn bên họ. Dự án dấy lên tranh luận gay gắt, người phản đối nhiều hơn người ủng hộ. Có những ý kiến như: lại bày trò lấy đất của dân, đền bù rẻ mạt, biến thành đất ở rồi bán giá cao hơn; làm gì có doanh nghiệp nào đủ tiền mà xây thành phố hiện đại như thế... Tôi cũng viết một bài, cho rằng ý tưởng rất hay nhưng chỉ băn khoăn về phương án trị thuỷ con sông dễ giận này. Dự án Thành phố Sông Hồng đến nay được nhắc lại nhiều lần. Mọi ý kiến dù chê hay khen đều ẩn chứa ý tưởng coi sông Hồng như phần hồn của Hà Nội. Không có sông Hồng, không phải là Thăng Long - Hà Nội. Sông Hồng đứng đó cùng lịch sử đã tạo nên một Hà Nội khác biệt, đầy chất lãng mạn, oai hùng. Tôi đã đọc nhiều thư tịch cổ về phong thuỷ Việt Nam. Người ta nói rằng dãy Hoàng Liên Sơn và sông Hồng là cặp long mạch một dương, một âm bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng qua nước ta, đến ngã ba hợp với sông Đà thì kết thúc, rồi sông Hồng chảy tiếp đổ ra biển Đông. Nếu nối dài đường thẳng theo sông Hồng, phía Tây Bắc đi qua đỉnh Everest cao nhất thế giới và phía Đông Nam đi qua vũng Mariana sâu nhất thế giới. Về địa phong thuỷ, cặp long mạch gắn với sông Hồng đứng trên tầm thế giới, giúp cho đất nước và dân tộc Việt trường tồn. Có ý kiến cho rằng, phố cổ Hà Nội có giá trị "vàng", tại sao đất bãi sông Hồng chỉ có giá trị "bèo". Hai nơi không xa nhau lắm mà giá trị đất đai cách nhau một trời, một vực. "Làm gì để đất bèo thành đất vàng?" là câu hỏi lớn cho Hà Nội. Theo tôi, dự án Thành phố Sông Hồng là câu trả lời. Nhìn trên bản đồ ảnh vệ tinh, có thể thấy sông Hồng khi chảy qua Hà Nội như bị níu lại. Đoạn sông ở đây phình rộng ra, nhiều bãi giữa nổi lên làm ra cảnh tượng như hai con sông bện chặt vào nhau và quyến luyến Hà Nội không muốn chảy tiếp. Vì vậy mà cổ nhân đặt tên cho đoạn sông này là Nhị Hà. Từ đây, có thể thấy đoạn Nhị Hà ẩn chứa tiềm năng của một khu vui chơi giải trí gồm cả lịch sử lẫn cảnh quan hiện đại. Ngày 1/8/2008, sau nhiều thảo luận phức tạp, Quốc hội đã quyết định sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, gồm Hà Đông và Sơn Tây xưa, vào Hà Nội theo tờ trình của Chính phủ. Tờ trình cũng nói tới thế phong thuỷ của Hà Nội khi được mở rộng. Khi đó, tôi đã rất băn khoăn về quyết định này. Căn cốt về phong thuỷ không rõ ràng, bóng dáng về địa kinh tế để phát triển cũng mờ ảo. Điều thấy rõ nhất là giá đất Hà Tây cũ có thể tăng cao và văn hoá xứ Đoài rơi vào nguy cơ mất mát dần. Thực ra, trước đó, khi xem xét mở rộng Hà Nội, Ban Chỉ đạo đã đưa ra 5 phương án. Trong đó, phương án một đã được lựa chọn như hiện nay, các phương án hai tới bốn chỉ là gia giảm từ phương án một. Riêng phương án 5 mang theo triết lý phát triển khác, lấy sông Hồng làm trung tâm và chia Hà Nội thành hai nửa cân đối, tả và hữu sông Hồng. Theo phương án 5, Hà Nội đón nhận thêm thành phố Hà Đông, các huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín của Hà Tây; huyện Mê Linh và Thị xã Phúc Yên của Vĩnh Phúc; huyện Từ Sơn, Thuận Thành của Bắc Ninh; huyện Văn Giang, Văn Lâm của Hưng Yên. Phương án này mới vực dậy địa thế phát triển Hà Nội dựa vào sông Hồng, hợp cả phong thuỷ theo tư duy xưa lẫn lý thuyết địa kinh tế hiện đại. Không gian sông Hồng từ đền Tản Viên Sơn Thánh trên núi Ba Vì phía Tây Bắc kéo đến đền Chử Đồng Tử phía Đông Nam, tạo nên khung cảnh hai trong "Tứ bất tử" của đất Việt gắn với sông Hồng, dẫn dắt Hà Nội trường tồn. Đoạn sông này hứa hẹn một thành phố du lịch trên sông với nhiều dạng cầu kết nối, nhiều công trình trên mặt nước khác biệt. Dự án đến nay chưa thành hiện thực, nhưng tôi vẫn cho rằng nó là lựa chọn tối ưu cho Sông Hồng và Hà Nội. Sẽ có người đặt lại hai câu hỏi cơ bản: lấy kinh phí đâu để xây dựng và phương án trị thuỷ ra sao? Phương án trị thuỷ hoàn toàn phụ thuộc vào giải pháp kỹ thuật, ngày nay ta có nhiều lựa chọn an toàn và độc đáo. Còn nghệ thuật tạo ra kinh phí đầu tư xây dựng là lấy từ vốn hoá đất đai. Đất bãi Sông Hồng đang giá "bèo" mà thành "vàng mười" thì làm gì chẳng được? Điều quan trọng là nguồn thu từ chuyển đổi đất đai phải được nhà nước đưa vào phát triển đô thị. Các nước phát triển nhờ dùng nghệ thuật vốn hoá đất đai mà trở nên thịnh vượng. Đà Nẵng đã dùng cách này xây được một thành phố đáng sống, dù nguồn thu từ đất bị rơi vãi cũng nhiều. "Tôi muốn mang Hồ Gươm đi trú đông, nhưng làm sao mang nổi được sông Hồng?" (ý thơ Trần Mạnh Hảo). Ai chia xa Hà Nội đều không thể mang được phần hồn của sông Hồng. Hà Nội phát triển mạnh mẽ hay không cũng chờ ở sự ứng xử đúng đắn của chính quyền với phần hồn đó.

Người dân xoay xở tránh nắng nóng

HÀ NỘITài xế xe ôm công nghệ, người nhà bệnh nhân hay người lao động ngoài trời tìm cách tránh nắng nóng dưới gốc cây, mái che... khi nhiệt đội ngoài trời lên tới hơn 40 độ C.

Nấu 2.000 suất ăn mỗi ngày cho người nghèo ở Sài Gòn

Gần một tháng nay, nhà hàng của bà Ngô Mỹ Dung, quận 1, TP HCM, nấu 2.000 suất ăn miễn phí mỗi ngày cho người khó khăn trong Covid-19.

Phong tỏa 60.000 dân ở quận nhiều ca nhiễm nhất TP HCM

0h hôm nay, lực lượng chức năng lập chốt phong tỏa ba khu phố 2, 3, 4 thuộc phường An Lạc, quận Bình Tân - nơi đã ghi nhận gần 200 ca nhiễm.

TP HCM nâng cấp độ chống dịch

Một loạt biện pháp mới được TP HCM thực hiện từ ngày 20/6 nhằm kiểm soát Covid-19 trước tình hình ghi nhận 1.481, xuất hiện nhiều ổ dịch chưa rõ nguồn lây. Theo Chỉ thị khẩn về siết chặt và tăng cường các biện pháp chống dịch trên địa bàn được UBND TP HCM ban hành, từ hôm nay các hoạt động vận tải hành khách gồm taxi truyền thống, taxi công nghệ, xe buýt, xe khách liên tỉnh dừng hoạt động; cấm tuyệt đối chợ tự phát; không tập trung hơn 3 người nơi công cộng; dừng tất cả các cuộc hội họp chưa thật cần thiết... Trước đó, TP HCM ra hai quyết định phong toả 3 khu phố 2, 3, 4 với khoảng 60.000 dân, thuộc phường An Lạc, quận Bình Tân và ấp Tân Thới 2, Tân Thới 3, một phần ấp Thới Tây 1, thuộc xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn từ 0h ngày 20/6 để chống dịch lây lan. Đây là 2 khu vực "nguy cơ lây lan dịch bệnh rất cao". "Nguyên tắc phong toả là ai ở đâu hãy yên đó, không ra ngoài, người dân chỉ ra đường trong trường hợp cấp bách. Đây là biện pháp mạnh nhất để chống dịch", Phó chủ tịch UBND TP HCM Dương Anh Đức nói và cho biết mục đích việc phong toả diện rộng để giảm tối thiếu mức độ tiếp xúc, có thể cắt đứt các chuỗi lây nhiễm trong thời gian ngắn nhất. Cùng với đó, thành phố cũng yêu cầu nâng năng lực xét nghiệm của hệ thống y tế thành phố lên 500.000 mẫu một ngày (hiện 100.000 mẫu) nhằm quét nhanh những khu vực nguy hiểm, có nguy cơ F0 cao. Tại cuộc họp Ban chỉ đạo chống dịch của thành phố diễn ra chiều 19/6, Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thành Phong cho biết, thành phố đang thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15 với một số biện pháp tăng cường. Tuy nhiên, diễn biến của dịch trên địa bàn rất phức tạp và có nhiều điểm mới khó lường. "Số người nhiễm bệnh tăng cao, tăng nhanh và dự báo khả năng ca nhiễm sẽ tiếp tục tăng trong những ngày tới", ông Phong nói và cho rằng việc siết chặt, nâng cao hơn mức độ các biện pháp phòng, chống dịch đang triển khai là phù hợp với yêu cầu của tình hình hiện nay để nhanh chóng kiểm soát, khống chế dịch, nhất là các chuỗi lây chưa rõ nguồn. Trước đó, Bí thư Thành uỷ Nguyễn Văn Nên cho biết thành phố đã thực hiện nhiều biện pháp và về cơ bản đã kiểm soát một số chuỗi lây nhiễm nhưng vẫn chưa khống chế được dịch. Vì vậy, ông thống nhất với các đề xuất của sở ngành, quận huyện về việc triển khai biện pháp mạnh và quyết liệt hơn. Người đứng đầu Thành uỷ cũng cho rằng cần có giải pháp kiểm soát và giảm bớt dòng người đến TP HCM. Do đó thành phố cần nâng cao mức giãn cách xã hội, với những nơi có thể đảm bảo an toàn thì nới lỏng áp biện pháp. Riêng hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa chỉ hạn chế khi thật sự cần thiết, tránh đình trệ. Bên cạnh đó, các lực lượng chức năng cần tăng cường kiểm tra, xử lý trường hợp vi phạm để tạo nề nếp, kỷ cương trong quá trình phòng chống dịch. "Quyết tâm sau một tuần, thành phố có thể khống chế dịch bệnh. Chúng ta chấp nhận hy sinh lợi ích ngắn để duy trì lợi ích lâu dài", ông Nên nói và yêu cầu việc tuyên truyền thực hiện sâu rộng cho người dân hiểu và đồng thuận với thành phố. Hôm qua, TP HCM mở đầu chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử Việt Nam để phòng chống Covid-19. Trong đợt tiêm chủng này, TP HCM triển khai 836.000 liều vaccine AstraZeneca do Nhật Bản hỗ trợ (tổng số 966.320 liều) để tiêm diện rộng cho các nhóm ưu tiên trong bối cảnh ca nhiễm tăng cao từ ngày 18/5. Trong ngày 19/6, Việt Nam phát hiện 471 ca Covid-19. Tổng số ca nhiễm trong cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay là 9.644, ghi nhận ở 41 tỉnh thành. Trong đó, Bắc Giang vẫn là địa phương nhiều số ca nhiễm nhất với 5.310 ca; tiếp đó là Bắc Ninh 1.506, TP HCM 1.481, Hà Nội 465.

CẦN PHẢI XỬ LÝ NGAY NHỮNG KẺ CÓ Ý ĐỊNH "QUAY GIÁO" NGAY TỪ ĐẦU VÀ RỨT ĐIỂM!

 Thái Văn Đường - KẺ BÁN RẺ DÂN TỘC XẤU XA, BỈ ỔI NHẤT NGƯỜI ĐỜI LẪN ĐỒNG BỌN AI CŨNG KHINH!


Trước hết,chúng ta phải nhận diện rằng đối tượng Thái Văn Đường là ai ???

Thái Văn Đường (tên đúng là Đường Văn Thái) sinh năm 1982 tại Thôn Hà Lâm 3, Xã Thụy Lâm, Huyện Đông Anh, Hà Nội. Từ năm 2001, Đường Văn Thái từng tham gia công tác đoàn tại thôn Hà Lâm 3. Năm 2004, tham gia công tác Đoàn tại xã Thụy Lâm và được kết nạp vào Đảng. Năm 2009, Đường Văn Thái làm hợp đồng tại Trung Tâm quỹ đất huyện Đông Anh – Hà Nội. Năm 2013, Đường Văn Thái thi công chức nhưng không đỗ, từ đó Đường Văn Thái bất mãn và xin nghỉ việc từ năm 2014. Từ khi nghỉ việc, chẳng biết do đâu mà Đường Văn Thái bắt đầu tham gia giới rận chủ, coi đây như một nghề để kiếm cơm, được biết đến khi tham gia “biểu tình cá” năm 2016 và lập nhóm “Lều của đầy tớ”, chuyên đăng tải những thông tin thiếu cơ sở kiểm chứng, cóp nhặt từ trên mạng, rồi biến báo, xào xáo dựng chuyện.

Đường lần lượt tham gia các tổ chức hội nhóm bất hợp pháp như Hội nhà báo độc lập, Hội anh em dân chủ và tiến hành nhiều hoạt động chống Nhà nước. Đường khởi tạo và tham gia điều hành nhóm “Lều Của Đầy Tớ” trên mạng xã hội Facebook, thường xuyên đăng tải và phát tán những hình ảnh, thông tin sai lệch về nhà cửa, gia thế của các quan chức, lãnh đạo.

Cuối năm 2017, Thái Văn Đường về nước và nằm vùng tại TP.Hồ Chí Minh. Khoảng thời gian từ 2016 đến nay, lợi dụng các sự việc nóng gây bức xúc xã hội dưới sự trợ giúp đắc lực của internet – miền chiến thứ 5, Đường càng gia tăng tần suất đăng, chia sẻ các bài viết có nội dung sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc hiện thực khách quan, cố tình “đổi trắng, thay đen” gieo rắc sự hoài nghi, hoang mang để tạo dựng những miền chiến tư tưởng rồi dần kích động thành những miền chiến trên bộ với những cuộc bạo loạn đi đến lật đổ theo mô hình cách mạng màu. Thậm chí nhiều lần Đường còn lợi dụng các vấn đề như sự cố do Formosa gây ra để kích động biểu tình, bạo loạn.

Số lượng người theo dõi nick facebook Thái Văn Đường ngày càng cao. Qua các comment trên facebook của Thái Văn Đường, ta có thể thấy Thái Văn Đường có mối quan hệ thân thiết với các nhà zận chủ đi trước có số má như Thảo Teresa hay Lê Dũng Vova… và cách hành văn ngày càng giống với đám Hiếu Buôn gió và tất nhiên,tổ chức khủng bố Việt Tân.

Nếu tìm hiểu kỹ một chút về sự xuất hiện của cái tên Thái Văn Đường thì sẽ thấy nhân vật này rất đáng ngờ. Thái Văn Đường nổi lên qua hoạt động gây rối ở BOT Cai Lậy, Tiền Giang. Bên cạnh đó, đây còn là nhân vật cốt cán của nhóm “Bạn hữu đường xa”. Nhóm này được các tổ chức phản động như: Đảng Việt tân, Đảng dân chủ Việt, Chính phủ Việt Nam tự do tài trợ hàng trăm triệu để ngày ngày tổ chức gây rối ở BOT Cai Lậy. “Bạn hữu đường xa” là một trong các nhóm chiến lược quan trọng của Hội anh em dân chủ - tổ chức “đại lý” của Việt tân tại Việt Nam, nhằm tiếp cận anh em lái xe vốn ít học và dễ bị kích động. Chính Thái Văn Đường cũng là kẻ cung cấp tiền lẻ cho nhóm “Bạn hữu đường xa”.

Nổi lên từ nhóm “Bạn hữu đường xa”, người ta ngày càng thấy Thái Văn Đường ấp ủ nhiều “dự án” hơn, như “Lều của đầy tớ”, lập đảng mới để chuẩn bị kịch bản tiếp quản đất nước khi Đảng Cộng sản Việt Nam mất quyền điều hành và nay thì chuyển hẳn sang thu lượm tin vịt về chính trị Việt Nam, miễn là có, không cần kiểm chứng nguồn, không cần biết đến đúng sai.

Đây là hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chống chính quyền một cách điển hình. Và điều này cũng là lý do khiến Thái Văn Đường trở thành “mẫu hình” được Việt Tân và các băng đảng “đấu tranh dân chủ” yêu thích nhất và tìm kiếm tuyển chọn.

Xin được nhắc lại về Hội Anh em dân chủ. Đây là tổ chức ngay từ ngày đầu thành lập bởi Nguyễn Văn Đài đã chọn cách đi cực đoan, chống phá. Từ tổ chức các dân oan biểu tình, can thiệp và thao túng các hoạt động của No-U bằng giằng giật người và dẫn đường tham gia Việt tân, tổ chức đưa người sao VOICE tham dự các khóa huấn luyện lật đổ chính quyền theo mô hình cách mạng màu. Hội Anh em dân chủ là tổ chức tập hợp nhiều thành phần cực đoan nhất trong cả nước với những cái tên như: Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Trung Tôn, Nguyễn Tường Thụy, Thảo Teresa, Hòa TD, Lê Mỹ Hạnh và bây giờ là Thái Văn Đường.

Như vậy, có thể thấy Thái Văn Đường cũng giống như nhiều nhà zận chủ trẻ khác, là một điển hình của những người bị đầu độc bởi các quan điểm sai trái, bị các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam dụ dỗ, lôi kéo vào con đường chống đối.

Nhưng có vẻ dạo gần đây, khi phần nào nhận thấy những hành động của mình đã vượt quá giới hạn của pháp luật và có thể bị Công an “sờ gáy” bất cứ lúc nào như những đồng bọn của anh ta, Đường tìm cách trốn sang Thái Lan để chờ xin vé đi tỵ nạn chính trị ở các nước phương Tây. Đây cũng có lẽ là lời giải thích cho các hành động chống phá điên cuồng của Đường thời điểm này. Bởi để có vé đi tỵ nạn chính trị ở bầu trời Tây cũng không phải chuyện đơn giản, Đường sẽ phải chứng minh được “tài năng” của mình cho đám zận chủ thấy; tức là phải chửi, phải xuyên tạc thật nhiều, thật mạnh, bất chấp sự việc đó đúng hay sai. Thế mới mong các quan thầy hải ngoại cho một tấm vé để đi trời Tây như anh Đài hay chị Quỳnh Nấm.

Ngẫm nghĩ lại thấy phận Thái Văn Đường cũng khổ, cũng cực, cũng nhục, đói, rách, tiền thì cạn ví làm sao. Có đất nước, có Tổ quốc không muốn ở, giờ phải chạy ra tha hương cầu thực nước ngoài sống chui sống lủi, lúc rúc để xin vé đi tỵ nạn. Suy cho cùng, đó chính là cái giá mà những kẻ bất chấp lương tâm bán rẻ Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc phải nhận, và chúng “xứng đáng” PHẢI được nhận những QUẢ BÁO mà mình đã gây ra như vậy !


Yêu nước ST.

Ngày 20-6-1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới”

 

Lời kêu gọi nêu rõ ý nghĩa cuộc đấu tranh của nhân Việt Nam và kêu gọi nhân dân Pháp, nhân dân châu Á, các nhân sĩ dân chủ thế giới hãy cùng hành động với nhân dân Việt Nam, hãy “lên tiếng ủng hộ hòa bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam”.Với nhân dân Pháp, thư viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, bình đẳng, bác ái..., có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc. Vận mệnh của nhân dân Việt Nam và vận mệnh của nhân dân Pháp rất quan hệ với nhau... Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung và tình nghĩa giữa hai dân tộc chúng ta...”. Với nhân dân châu Á, thư viết: “Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á. Tranh đấu cho tự do độc lập của Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do, độc lập của đại gia đình châu Á”. Còn với “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”, thư kêu gọi: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hòa bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam!”./.


Cuốn sách “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong cuốn sách ngày 20/6/1949. Cuốn sách gồm 4 chương: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH mà nội dung đã được Người viết trong 4 bài báo: Thế nào là CẦN? Thế nào là KIỆM? Thế nào là LIÊM? Thế nào là CHÍNH? lần lượt đăng trên báo Cứu quốc các ngày 30, 31 tháng 5 và mùng 1 và 2 tháng 6 năm 1949 với bút danh Lê Quyết Thắng. Cuối sách, tác giả viết: “Ai mà chẳng muốn tự mình thành một người tốt, con cháu mình sung sướng, gia đình mình no ấm, làng xóm mình thịnh vượng, nòi giống mình vẻ vang, nước mình giàu mạnh. Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực. Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được. Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi một người, và tất cả dân ta đều thi đua thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính.”Cuốn sách do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản năm 1950./.




Phê phán quan điểm: “Gần đây Quân đội đã “lấn sân” vào vấn đề an ninh là nhiệm vụ của Công an nhân dân”.

 

- Cảnh giác, đấu tranh với những luận điệu chia rẽ giữa hai lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân của các thế lực thù địch.


- Tăng cường, giữ vững quan hệ đoàn kết gắn bó giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân trước âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội.

- Kiên quyết đấu tranh với những luận điệu chia rẽ Quân đội nhân dân với Công an nhân dân của các thế lực thù địch.

- Bác Hồ đã nói: Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, phải nêu cao cảnh giác với mọi luận điệu gây chia rẽ hai lực lượng này của cách mạng.

- Cảnh giác, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chia rẽ mối quan hệ giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và toàn dân.

- Thực hiện tốt Nghị định 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ về Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng.

- Mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ riêng, có quy chế phối hợp thống nhất để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, chứ không có chuyện “lấn sân” như các thế lực thù địch, bất mãn rao giảng.

- Cảnh giác với những luận điệu kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức lệch lạc, mất phương hướng, xa rời mục tiêu phấn đấu, gây mất đoàn kết và bất ổn trong nội bộ lực lượng vũ trang.

- Cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các tổ chức, cá nhân đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc, vu khống, gây hoang mang dư luận xã hội, ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết giữa hai lực lượng Quân đội và Công an.

- Đoàn kết gắn bó giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vừa là bản chất, vừa là truyền thống vẻ vang, không thế lực nào có thể chia rẽ./.

“MUỐN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, PHẢI CÓ CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ CÓ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”

 

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói chuyện trước Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 1960. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đã tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta có một nền công nghiệp, nông nghiệp phát triển, một nền vǎn hóa và khoa học tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ xã hội, người chủ của nước nhà.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng, không những thể hiện tư tưởng chỉ đạo về mục tiêu xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa mà còn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của con người mới xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo lời dạy của Bác năm xưa để xây dựng văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cho đội ngũ cán bộ, chiến toàn quân luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy. Nói và làm đúng nghị quyết; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tích cực xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”./.

 KẾ HOẠCH HẬU CHIẾN CỦA CIA TẠI VIỆT NAM 

SAU NGÀY 30.4.1975




PHÒNG VÀ CHỐNG “BỆNH” THÀNH TÍCH, HÁO DANH

Cùng với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “bệnh” thành tích, háo danh đã, đang đe dọa tới sự tồn vong của Đảng và chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng.

“Bệnh” thành tích, háo danh không phải đến nay mới xuất hiện. Cách đây hơn 90 năm, khi Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm “Đường Kách mệnh” (năm 1927), Người đã dành những trang đầu tiên để nói về tư cách của người cách mạng. Người chỉ ra 14 tiêu chuẩn cần có của một người cách mạng, trong đó có một tiêu chuẩn là “Không hiếu danh. Không kiêu ngạo”. Và sau đó 20 năm, khi viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận diện, chỉ ra và cảnh báo những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên dễ mắc phải. Một trong những sai lầm, khuyết điểm đó là “bệnh” thành tích mà Người gọi là “bệnh hữu danh vô thực”. Theo Người, những cán bộ, đảng viên mắc phải “căn bệnh” này đều có chung đặc điểm như: Ham địa vị, hay lên mặt, ưa người khác tâng bốc, khen ngợi mình; hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang, vênh váo, cho ai cũng không bằng mình; tự cho mình là anh hùng, vĩ đại, có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm; chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực(3)…

Lâu nay, việc thổi phồng thành tích, háo danh, phô trương đã và đang tiếp tục trở thành “căn bệnh” của không ít cá nhân, tập thể. Điều đáng nói là “bệnh” này đang có chiều hướng lây lan ngày càng rộng và diễn ra ở mọi lĩnh vực. Và đáng lo ngại nhất là nó đang diễn ra trong lĩnh vực xây dựng Đảng và ở không ít cán bộ, đảng viên; trong đó, có cán bộ có chức, có quyền, cán bộ chủ chốt, đứng đầu đơn vị, địa phương. “Căn bệnh” này là một trong những tác nhân làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào một bộ phận “công bộc” của dân, làm sai lệch những chuẩn mực xã hội, gây thiệt hại không nhỏ cả về vật chất và tinh thần đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Cùng với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, “bệnh” thành tích, háo danh  đã, đang đe doạ tới sự tồn vong của Đảng và chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng.

Để ngăn ngừa, phòng, chống và tiến tới loại bỏ những “bệnh” thành tích, háo danh cần một sự kiên quyết, nghiêm khắc trong việc chỉnh đốn, xây nền đạo đức chính trị, liêm chính, công minh, nhưng cũng đòi hỏi sự kiên trì trong từng giai đoạn với những bước đi phù hợp. Theo đó, trước hết, phải tăng cường công tác giáo dục. Vì chỉ có giáo dục mới giúp cho đảng viên và quần chúng cái nhìn sâu sắc về nguồn gốc, bản chất, sự phát sinh, phát triển, biểu hiện và những biến tướng của “bệnh”. Giáo dục thường xuyên để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nhớ, tư vấn và suy ngẫm nâng cao lòng tự trọng, biết tự thanh lọc tâm hồn và gột rửa tâm lý háo danh, kèn cựa của chính mình; thường xuyên tu dưỡng nâng cao ý thức trách nhiệm, phòng ngừa những biểu hiện “bệnh” thành tích, háo danh; đồng thời, nỗ lực phấn đấu, cống hiến bằng chân tài, thực đức của mình. Giáo dục tốt sẽ không chỉ giúp cho cán bộ, đảng viên tiến bộ chân chính, mà còn góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.

Thứ hai, để ngăn ngừa sớm và chữa trị “bệnh” thành tích, háo danh, thì trong công tác thi đua hiện nay phải đánh giá khách quan trung thực thành tích. Kiên quyết loại bỏ những biểu hiện gian dối “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”...

Thứ ba, hết sức chú trọng phát huy quyền làm chủ tập thể của đảng viên và quần chúng trong mỗi ở cơ quan, đơn vị và địa phương. Đây là biện pháp rất quan trọng để chữa trị “bệnh” thành tích, háo danh. Quần chúng có “trăm tay, nghìn mắt”, họ rất tinh tường trong đánh giá đâu là thành tích thật, đâu là “bệnh” thành tích, háo danh.

Thứ tư, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt. Cán bộ chủ chốt, đặc biệt là người đứng đầu có vai trò quyết định trong chống “bệnh” thành tích, háo danh. Trên thực tế, “bệnh” thành tích, háo danh tuy là của tập thể nhưng thường gắn liền với người đứng đầu. Việc chọn người đứng đầu thực sự là “công bộc” của dân, có ý thức tận tụy phục vụ nhân dân, làm việc đúng nguyên tắc, kỷ cương, kỷ luật, có lý, có tình; luôn đặt lợi ích tập thể và lợi ích của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết thì sẽ chữa trị “bệnh” thành tích, háo danh có hiệu quả.

Bên cạnh những biện pháp trên thì rất cần tới một sự thanh liêm, trong sáng, khách quan của các cơ quan chức năng trong xem xét, đánh giá để quyết định khen thưởng đúng những thành tích thật của các cơ quan, đơn vị, địa phương, kịp thời phát hiện những “ngụy” thành tích - biểu hiện của “bệnh” thành tích, háo danh. Đồng thời, cũng cần sự nghiêm minh và kiên quyết trong công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của Đảng, của Nhà nước; trong đó, hết sức chú ý vai trò các bộ phận chuyên trách làm công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của tổ chức đảng và chính quyền các cấp. Thông qua kiểm tra, thanh tra phát hiện đúng những biểu hiện của “căn bệnh” này để có biện pháp kỷ luật nghiêm khắc, kịp thời loại khỏi đội ngũ số cán bộ, đảng viên mắc sai phạm trầm trọng bởi “bệnh” thành tích, háo danh, góp phần ngăn ngừa và đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.

ĐẨY LÙI THÓI XU NỊNH - NGĂN CHẶN MỐI NGUY HẠI KHÔN LƯỜNG

 Có một thực tế rằng thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, chúng ta đang quyết liệt kiếm tìm, nhận diện, bước đầu chữa trị thành công nhiều căn bệnh tiêu cực trầm kha trong chính đội ngũ cán bộ, đảng viên; nhất là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Thế nhưng có một căn bệnh dù xuất hiện đã lâu, diễn ra khá phổ biến, gây nhiều phương hại cho tổ chức, nhưng đến nay chưa được thật sự quan tâm đấu tranh, đẩy lùi, đó là "bệnh nịnh bợ", thói xu nịnh.

1. Theo "Từ điển tiếng Việt", xu nịnh, nịnh bợ... là một cách để lấy lòng và cầu lợi. Hiểu nôm na, xu nịnh là khen ngợi quá đáng chỉ cốt để làm đẹp lòng nhau, thường nhằm mục đích cầu lợi cho cá nhân. Thói xu nịnh đã có từ ngàn xưa, với muôn hình vạn trạng, biến hóa khôn lường và gây nhiều hậu quả, hệ lụy cho xã hội.

Cha ông xưa từng đúc rút “mật ngọt chết ruồi”, răn dạy hiền tài và dân chúng phải: “Tránh xa kẻ nịnh bợ là cách tránh tai họa”. Đặc biệt, các bậc tiền nhân đã cảnh báo: "Tôn nịnh đại suy" - nghĩa là để cho thói nịnh bợ phát triển thì nguy cơ suy thoái lớn là không tránh khỏi, thậm chí dẫn đến khuynh đảo xã hội, suy vong triều chính...

Gần 72 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn sách nổi tiếng có nhan đề “Sửa đổi lối làm việc”. Bác nêu khá nhiều khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, trong đó kịch liệt lên án “bệnh xu nịnh, a dua”. Bác chỉ rõ: Người mắc căn bệnh đó là do kém tính Đảng, mắc phải bệnh đó là hỏng việc lớn và chính Người thể hiện quyết tâm xuyên suốt, quyết liệt nêu gương thực hiện đấu tranh, đẩy lùi "bệnh xu nịnh” vốn tiềm tàng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Dù được cảnh tỉnh từ sớm, thế nhưng "căn bệnh xu nịnh” không vì thế mà dần mất đi. Nguy hại hơn, hiện nay, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường và tiêu cực từ đời sống xã hội, "bệnh nịnh" trở thành vấn nạn trầm kha ở nhiều nơi, len lỏi vào nhiều ngõ ngách đời sống xã hội, với nhiều kiểu, nhiều cách, nhiều cấp độ, hoàn cảnh, tình huống, mưu đồ khác nhau.

Nhận diện về vấn đề này, trong cuộc hội thảo về công tác tổ chức cán bộ mới đây, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương mạnh mẽ khẳng định: Nịnh hiện đang là căn bệnh nan y!

Thực tế cho thấy, việc nịnh đã biến tướng đa dạng và phát triển với nhiều hình hài, phương thức. Không chỉ cấp dưới nịnh cấp trên, nhân viên nịnh thủ trưởng, quần chúng nịnh đảng viên... mà nay còn có hiện tượng trên nịnh dưới, nhất là vào các dịp bỏ phiếu tín nhiệm, đánh giá cán bộ, bình bầu thi đua, chuẩn bị đại hội, bầu bán nhân sự ở các cấp, các ngành...

Không chỉ cấp dưới trực tiếp nịnh thủ trưởng cấp trên mà nhân viên còn nịnh gián tiếp vợ, con thủ trưởng; không chỉ nịnh bằng lời lẽ ngon ngọt mà còn thể hiện sự nịnh một cách tinh vi, thông qua nhiều kênh, nhiều phương tiện vật chất, cơ chế, chính sách...

Đồng chí Trưởng ban Tổ chức Trung ương phân tích về sự nguy hại của "căn bệnh xu nịnh”: Từ trước đến nay, trong suốt tiến trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nước nhà của Đảng, một vũ khí sắc bén, hữu dụng trong công tác xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ vững mạnh là tự phê bình và phê bình, thế nhưng trong nhiều trường hợp đã bị chuyển hóa sang nịnh và tự nó vô hiệu thứ vũ khí công hiệu ấy.

Nịnh đã gieo mầm bệnh làm đau yếu tổ chức, gây giảm sút năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, khiến một số cá nhân trở nên tự mãn, ảo tưởng về “hào quang” của bản thân, ngỡ mình đã là người tài ba, xuất chúng. Hệ quả là “bệnh kiêu ngạo cộng sản” xuất hiện, làm xấu đi hình ảnh của Đảng và bộ máy cầm quyền.

Cũng trong quá trình đó, những cán bộ, đảng viên chân chính, trung thực sinh ra chán nản, giảm sút ý chí và vơi cạn tình yêu dành cho tổ chức, đơn vị. Tinh thần trách nhiệm và khả năng cống hiến cũng vì đó dần tiêu tan.

Không chỉ vậy, nịnh còn tác động trực tiếp đến chất lượng công tác cán bộ trong Đảng. Một số người được nịnh vì ưa lời ngon, tiếng ngọt, say sưa với cảm giác được “làm bề trên” nên sinh ra xao lòng, thiếu tỉnh táo, mất bản lĩnh, không đánh giá đúng thực chất cán bộ, thiên vị cho kẻ luồn cúi, không trọng dụng cán bộ tốt mà lại tạo điều kiện cho người xấu lấn lướt, lộng quyền, thăng tiến.

Hơn thế, người xu nịnh và cán bộ thích nịnh mặc nhiên trở thành “cặp bài trùng” có chung lợi ích nên tất yếu dẫn đến phe cánh, cục bộ, gây mất đoàn kết và hình thành lợi ích nhóm... Đó là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là môi trường thuận lợi cho việc phát sinh ung nhọt, nảy nở tiêu cực, tham nhũng và những biểu hiện tha hóa, biến chất ở cán bộ, đảng viên.

2. Sự nguy hại và hệ lụy của "bệnh nịnh” là đáng sợ như vậy, nhưng đáng ngại là hiện nay nó chưa được số đông cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ và mạnh dạn đấu tranh. Thậm chí, trước ảnh hưởng của tư duy cũ và văn hóa phong kiến, nhiều nơi vẫn quan niệm "bệnh nịnh” là một thứ “vô hại”, là gia vị cho cuộc sống thêm phần sinh động, phong phú. Nhiều người cho rằng cái sự nịnh là chuyện sẵn có trong mỗi tổ chức, đơn vị nên sinh ra tư tưởng chấp nhận, ngại phê bình, đấu tranh.

Cùng với đó, hiện nay, hệ thống các căn cứ, cơ sở pháp lý, hoặc bộ tiêu chí nhận diện vấn nạn xu nịnh vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa thành hệ thống, nhất là chưa được cơ quan chức năng thực sự tích cực nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện.

Trước thực tế trên, để tuyên chiến, đẩy lùi vấn nạn xu nịnh trong cán bộ, đảng viên, trước hết, toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội cần khẩn trương, nghiêm túc tiến hành đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp để sớm thống nhất nhận thức về hình hài, tính chất và sự nguy hại của "bệnh xu nịnh” đối với sự nghiệp cách mạng nói chung, đối với đạo đức công vụ và chất lượng đội ngũ cán bộ nói riêng trước tình hình mới. Phải trên cơ sở có nhận thức đúng, cả hệ thống chính trị và toàn dân mới quyết liệt vào cuộc, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh, diệt khử từng bước vấn nạn nịnh bợ, xu nịnh, a dua...

Đặc biệt, để có cơ sở nhận diện đối tượng xu nịnh, trong công tác đánh giá cán bộ, mỗi tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội cần sớm nghiên cứu xây dựng các tiêu chí cụ thể để đánh giá, nhận diện biểu hiện xu nịnh; xem đó là một tiêu chí quan trọng trong hệ tiêu chí đánh giá cán bộ hiện nay.

Trên cơ sở kết quả đánh giá, việc một cá nhân được số đông thành viên trong tập thể phát hiện, phản ánh có biểu hiện xu nịnh thì tổ chức và cơ quan chức năng phải quyết liệt kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh kịp thời và có biện pháp xử lý thích đáng, thậm chí phải tiến hành kỷ luật nếu cần thiết. Nhất quyết không được xem nhẹ, cả nể, bỏ qua với bất kỳ biểu hiện nào dù nhỏ nhất của "bệnh xu nịnh”.

Đặc biệt, trong các dịp đánh giá cán bộ, bình xét thi đua, bầu cử các vị trí công tác chủ trì, chủ chốt thì công tác rà soát, thẩm định cán bộ đối với các biểu hiện xu nịnh cần được tiến hành nghiêm túc, quyết liệt với cách làm ngày càng bài bản, khoa học.

Từng cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh triển khai các giải pháp xây dựng môi trường dân chủ thực sự; phát huy cao nhất vai trò của các tổ chức đảng; tăng cường sự tham gia giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và quần chúng nhân dân.

Khi phát hiện cán bộ, đảng viên có biểu hiện nịnh bợ thì kiên quyết đấu tranh, thải loại; tuyệt đối không để lọt vào tổ chức, không để “trèo cao, leo sâu” vào hàng ngũ những cán bộ xu nịnh, chạy chọt theo đúng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp đầu tiên của Ban chỉ đạo xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026: Dứt khoát không đưa vào quy hoạch những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, mất đoàn kết, gây rối nội bộ, tham nhũng tiêu cực, cơ hội chính trị như “con lươn, con chạch". Bởi những kẻ “cơ hội chính trị” rất thiếu trung thực, giỏi xun xoe, nịnh bợ.

Cùng với đó, từng cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, đức độ và tài năng để người khác và tập thể tôn trọng, vị nể một cách thực chất. Tự thân mỗi người luôn nghiêm khắc với chính mình, thường xuyên tỉnh táo, sáng suốt để không bị mê hoặc, quyến rũ bởi những lời lẽ vuốt ve, ngợi ca không đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ của người khác; đồng thời cần góp phần tạo môi trường giao tiếp, ứng xử lành mạnh để mọi người trong tập thể được bày tỏ chính kiến, lập trường đúng đắn, khách quan.

3. Một vấn đề đặt ra hiện nay là rất khó định ra chế tài xử lý (có tính chất định lượng) đối với những cá nhân có hành vi xu nịnh, bởi lẽ bản chất của những hành vi này không vi phạm pháp luật. Thế nhưng với quyết tâm chính trị rất cao, việc hệ thống hóa các tiêu chí để nhận diện rõ ràng các hiện tượng, biểu hiện của hành vi xu nịnh là cấp thiết, bức bách.

Bởi thế, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 1847/QĐ-TTg, ngày 27-12-2018 về việc phê duyệt đề án văn hóa công vụ; trong đó quy định rõ việc công chức, viên chức không nịnh bợ, lấy lòng cấp trên vì động cơ không trong sáng.

Thực tế cho thấy, sự ra đời của đề án này được dư luận xã hội đặc biệt hoan nghênh, đồng tình. Trên cơ sở những giải pháp thiết thực cơ bản ban đầu, Bộ Nội vụ đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện quyết định của Thủ tướng về đề án văn hóa công vụ. Bộ Nội vụ cũng chủ động tính toán để đưa một số điều của đề án này vào các dự án Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức, trong đó luật hóa quy định không nịnh bợ cấp trên.

Vấn đề là trên cơ sở những nội dung, định hướng đã có, từng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tập trung nghiên cứu, ban hành và thực hiện tốt các nội quy, quy chế đòi hỏi mọi thành viên cần phải chú trọng giải quyết các mối quan hệ, ứng xử với nhau trên tinh thần thương yêu đồng chí, đồng nghiệp; xóa bỏ triệt để tư tưởng phân biệt, khoảng cách giữa cấp trên và cấp dưới. Một khi các bộ quy tắc ứng xử được vận hành hiệu quả sẽ là tiêu chí, điều kiện cần thiết tạo ra môi trường lành mạnh triệt tiêu mầm mống của "bệnh xu nịnh”.

Đặc biệt, muốn loại bỏ hoàn toàn "căn bệnh xu nịnh”, giải pháp tiên quyết hiện nay phải bắt đầu từ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp. Nếu người đứng đầu thực sự liêm chính, không thích xu nịnh thì cấp dưới nhất định sẽ không dám giở trò “mật ngọt chết ruồi”. Người lãnh đạo phải tỉnh táo, biết đánh giá bằng kiến thức, kinh nghiệm và lương tâm đạo đức để xem ai nịnh bợ, ai khen thật lòng thông qua cách thức thể hiện của họ.

Khi cấp trên làm được như vậy thì tất yếu cấp dưới sẽ phải giữ gìn sự tự trọng và phép tôn nghiêm kỷ luật; tự giác trui rèn phẩm chất, năng lực, lấy đó làm thước đo nhân cách và phương thức thăng tiến duy nhất, thay vì phải xu nịnh nhiễu nhương.

 

VỮNG TIN VÀO CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Ngày 16/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đây là một bài viết rất quan trọng, không chỉ trực tiếp phản bác những quan điểm sai lầm, phiến diện, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn khẳng định sự lựa chọn của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn, vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vừa phù hợp với quy luật khách quan.

NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Tổng thống Nga V.Putin trong Thông điệp Liên bang năm 2005 gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực khiến cho các học giả tư sản được dịp lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác.

Kể từ sau sự kiện gây chấn động lịch sử toàn thế giới đến nay đã gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức tìm mọi cách lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ nhận chủ nghĩa Mác. Đúng như bài viết của đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: “Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá”(1).

Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đưa ra hai xu hướng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội từ sự khủng hoảng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:

Một là, những người không có lập trường tư tưởng vững vàng nên khi sự kiện “chấn động toàn thế giới” xảy ra thì tỏ rõ sự hoang mang, hoài nghi về tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô với sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn cho thấy xu hướng này xảy ra trong chính bản thân những người mácxít - những người đã từng tôn thờ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, những đối tượng có lập trường phi mácxít, có tư tưởng chống phá nên đã vin vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một bằng chứng không gì thuyết phục để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của loài người. Thực tiễn cho thấy xu hướng này chiếm đa số, trở thành làn sóng chống Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác. Điển hình cho xu hướng này là trường phái trotskyist mới. Họ cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”(2). Họ cũng cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”(3)... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xuất phát từ lập luận đó, họ cho rằng hiện nay “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa”(4); rằng, “con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang đi là trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”; hay đó chính là “một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”(5). Do đó, theo họ, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà một số nước đã đi qua để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chính những sự xuyên tạc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lập trường, quan điểm của những người theo chủ nghĩa Mác. Biểu hiện rõ ràng nhất là xu hướng “phi mácxit hóa”, phân rã về tư tưởng, ly khai với học thuyết Mác - Lênin trỗi dậy mạnh tại hàng loạt nước từng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, cũng như trong nội bộ các đảng cộng sản, các đảng xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân quốc tế. Hiện nay, mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã diễn ra gần 30 năm nhưng các phần tử cơ hội, phản động, xét lại vẫn coi đây là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục phủ nhận chủ nghĩa Mác nói chung lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác nói riêng.

Ở Việt Nam, từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, có không ít người, trong đó có cả những người cộng sản đã hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận sự lựa chọn của Đảng Cộng sản Việt Nam vì họ cho rằng khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự “kéo lùi lịch sử”, không tuân theo quy luật mà C.Mác đã từng khẳng định: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.

Như vậy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để các học giả phương Tây nắm lấy để công kích, xuyên tạc, lý luận của chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa xã hội. Điều này gây ra sự dao động, hoài nghi của không ít người Việt Nam, trong đó có cả những người đã từng đi theo chủ nghĩa Mác, ủng hộ, thậm chí tôn thờ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Đó là biểu hiện của xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà Đảng ta luôn nhắc đến trong những năm gần đây.

SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Chúng ta không thể phủ nhận một hiện thực là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới. Đó cũng là một tổn thất to lớn cho phong trào đấu tranh cho những mục tiêu cao cả và tốt đẹp của nhân loại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và hạnh phúc của con người. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”(6); “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(7).

 

Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định: “Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây”(8). Điều này chứng tỏ, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một hành trình trong cả nhận thức và bước đi, trong cả tư duy lý luận và thực tiễn vận động, phát triển. Bài viết đã cô đọng, khái quát lại những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Bài viết còn nhấn mạnh lại những vấn đề cơ bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Ở Đại hội IX, Đảng ta đã đưa ra nội hàm rất cụ thể, rõ ràng về việc “bỏ qua” : “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo sự biến đổi về chất của xã hội trên các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”(9). Tuy nhiên, phần là do mơ hồ về nhận thức, song cũng phần lớn do có tư tưởng chống phá, nhiều đối tượng đã cố tình bóp méo, xuyên tạc về việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ cho rằng “việc Đảng Cộng sản Việt Nam nói về vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là chủ quan, duy ý chí, trái với quy luật khách quan”(10). Vì vậy trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định rõ ràng thêm: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”(11). Luận điểm này không chỉ tiếp tục khẳng định, làm rõ hơn quan điểm của Đảng ở Đại hội IX mà đề ra nguyên tắc quan trọng trong việc kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa tư bản trong xây dựng ở Việt Nam. Đó là phải dựa trên quan điểm khoa học và phát triển.

Bài viết cũng đã chỉ ra những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả những phương diện mà nước ta đã đạt được qua 35 năm tiến hành đổi mới, đặc biệt là những kết quả, thành tích đặc biệt mà Việt Nam đã đạt được trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2020. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định lại nhận định của Đại hội XIII khi đánh giá những kết quả mà đất nước ta, nhân dân ta đã đạt được qua 35 năm đổi mới và 3o năm thực hiện Cương lĩnh 1991: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá.

Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế và những thách thức mới phải đối mặt trong quá trình phát triển đất nước. Bài viết khẳng định những hạn chế, khuyết điểm đó là không thể tránh khỏi nên “cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả”(12). Qua bài viết, đồng chí Tổng Bí thư vẫn tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, thành công hay thất bại phụ thuộc phần lớn vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(13). Đây là một luận điểm quan trọng đã chỉ ra cách thức, nguyên tắc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa, để cho những nhân tố đó ngày càng chiếm ưu thế và đi đến chiến thắng trong các mặt của đời sống xã hội. Để làm được điểu đó cần phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đây là một trong những nguyên tắc phương pháp luận quan trọng đã được đồng chí Tổng Bí thư chỉ ra trong bài viết. Đó không chỉ là kết quả của quá trình phát triển lý luận mà còn cả tổng kết thực tiễn từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây.

Từ việc nhận định: “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”(14), bài viết đã chỉ ra những cách thức, giải pháp để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Theo đồng chí Tổng Bí thư, điều quan trọng nhất là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Ngoài ra, cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Luận điểm này của đồng chí Tổng Bí thư đã nhấn mạnh thêm, làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đại hội XIII về việc kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn mới: “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(15).

Có thể khẳng định, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa rất quan trọng đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất nhận thức, tư tưởng về những nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII, vừa trực diện đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời tiếp thêm niềm tin, sức mạnh, tỏa sáng những giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đúng như bài viết khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tuy còn rất lâu dài với nhiều khó khăn, thử thách; các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Mặt khác, các thế lực thù địch lại thường xuyên phủ nhận, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, với lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn. Chủ nghĩa xã hội sẽ vẫn luôn là tương lai của lịch sử loài người./.