Chủ Nhật, 20 tháng 6, 2021

Tự do phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật

Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, xuất hiện một số người tự xưng là “người yêu tự do”, “nhóm yêu tự do”. Họ cho rằng quyền tự do ở Việt Nam đang bị hạn chế. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết về bản chất của tự do chân chính ở bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật; không thể có tự do “vô chính phủ”, muốn làm gì thì làm. Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền. Bản chất của nhà nước pháp quyền là tính thượng tôn pháp luật. Pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quyền tự do của công dân. Quyền tự do của công dân trong nhà nước pháp quyền được bảo đảm bằng pháp luật. Mọi người sống trong nhà nước pháp quyền được tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Nhắc đến quyền tự do của con người, một số người đã trích Công ước nhân quyền châu Âu (Công ước) có hiệu lực từ ngày 3-9-1953, trong đó quy định: “Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới”. Một số người cho rằng, công dân Việt Nam chưa được hưởng quyền này. Thế nhưng họ không biết hoặc cố tình coi như không biết phần tiếp theo của Công ước đã trích dẫn ở trên nhấn mạnh: “Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc tán phát các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”. Như vậy, việc thực thi các quyền tự do đó và các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do của công dân. Nước Mỹ được một số người coi là “hình mẫu của tự do”, nhưng tại Điều 2385 Chương 115-Bộ luật Hình sự Mỹ đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi "in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực". Theo Hiến pháp Mỹ thì Tòa án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc xiểm nhà nước, xã hội và cá nhân. Vì thế, hằng năm có hàng trăm các văn bản lớn nhỏ khác nhau được Tòa án tối cao ban hành để điều hành và kiểm soát báo chí ở Mỹ. Thực tế không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do của con người là tuyệt đối. Bởi lẽ, nếu tự do tuyệt đối thì xã hội sẽ bị loạn khi tự do bắn giết, tự do cướp bóc, tự do hãm hiếp… Quyền tự do của mỗi con người trong từng quốc gia đều được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia đó. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Quyền tự do của mọi người trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm bằng pháp luật của Việt Nam. Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975) đến nay, quyền tự do, dân chủ của người dân Việt Nam ngày càng được mở rộng phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 đã nâng tầm chế định quyền con người, quyền công dân thành một chương. So với hiến pháp của nhiều quốc gia, Hiến pháp năm 2013 của nước ta thuộc vào những hiến pháp ghi nhận một số lượng cao về quyền con người, trong đó có quyền tự do. Sự tiến bộ này đã được nhiều học giả trên thế giới ghi nhận. Đặc biệt, Điều 20 và 21 của Hiến pháp năm 2013 quy định rõ, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mọi người đều được bảo vệ; do đó, đã mở rộng chủ thể và nội dung quyền được bảo vệ về đời tư so với Điều 73 của Hiến pháp năm 1992-chỉ quy định về quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Không chỉ củng cố các quyền đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 còn chế định một số quyền mới, như quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (khoản 2, Điều 17). Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định công dân “có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp năm 2013, ở Điều 25, thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận”. Nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật. Triển khai và cụ thể hóa những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến quyền con người, nhằm nâng cao hơn nữa quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật của người dân, Nhà nước ta đang khẩn trương xây dựng một số dự án luật mới như Luật Trưng cầu dân ý, Luật Về hội, Luật Biểu tình, Luật Tiếp cận thông tin... Trong đó, dự án Luật Biểu tình và dự án Luật Trưng cầu dân ý dự kiến sẽ được cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 (tháng 5-2015) và biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10-2015) của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII. Luật Báo chí dự kiến cũng sẽ được đưa ra sửa đổi tại nhiệm kỳ của Quốc hội này nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận của người dân trong khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, ở nước ta quyền tự do của người dân đã và đang được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Trả lời phỏng vấn của Thông tấn xã Việt Nam mới đây, Phối Sư Thượng Tám Thanh-Hội trưởng Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh-nói: "Có thể là do một số nước không nắm được tình hình thực tế về sinh hoạt của các tôn giáo hiện có trên đất nước Việt Nam. Cũng có thể là các nước đó đã nhận được những nguồn tin thiếu trung thực, lệch lạc, khiến họ hiểu sai về thực trạng tự do hoạt động tôn giáo tại Việt Nam". Gần đây, khi một số người sử dụng mạng xã hội cũng như những hình thức thông tin khác xuyên tạc sự thật, chống phá Nhà nước và nhân dân ta bị xử lý theo pháp luật, đã có ý kiến trên mạng xã hội cho rằng, việc xử lý đó là vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng… và lên án gay gắt Điều 258 của Bộ luật Hình sự, đòi bỏ điều này. Cần phải khẳng định rằng, Điều 258 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn phù hợp với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966”. Điều 258 Bộ luật Hình sự quy định những hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Điều luật này ban hành nhằm thực hiện quyền tự do của công dân trong khuôn khổ pháp luật cho phép, tránh những kẻ lợi dụng ý nghĩa của việc “tự do” để thực hiện những ý đồ đen tối, gây ảnh hưởng tới an ninh xã hội. Giả sử Điều 258 được bỏ đi như ý nguyện các nhà tự xưng là “tự do dân chủ” thì xã hội sẽ không thể tồn tại được bởi ai thích nói gì thì nói, có thể nói nhăng nói cuội, vu khống, bịa đặt… Lẽ tất nhiên, việc hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của chúng ta. Thế nhưng, dù có mở rộng “hết cỡ” các quyền tự do thì sự tự do ấy cũng phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật.

BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ TRÊN MẠNG XÃ HỘI, PHÁT HUY MỌI BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TRÊN MÔI TRƯỜNG KHÔNG GIAN MẠNG


Thắng lợi của một cuộc đấu tranh luôn phụ thuộc bởi nhiều yếu tố, trong đó biết vận dụng linh hoạt công cụ và kết hợp nhiều biện pháp là vấn đề cơ bản tạo nên ưu thế và là nguyên nhân thắng lợi của mọi cuộc đấu tranh.

-         Xuất phát từ sự phát triển như vũ bão của môi trường không gian mạng:

môi trường không gian mạng hiện nay đang tồn tại gần như song song với môi trường xã hội, ở mọi tầng lớp, đặc biệt trong giới trẻ hiện nay; không chỉ là môi trường giải trí, mà còn là môi trường phát triển kinh tế; văn hóa; xã hội. Nó đang ngày càng trở nên gần gũi và cần thiết đối với cuộc sống hiện tại và cũng tiềm ẩn nhiều mối nguy hại cho con người và xã hội.

- Xuất phát từ hành động điên cuồng chống phá của thế lực phản đang ra sức đầu độc người Việt Nam bằng “văn hoá” xấu độc. thông qua nhiều phương thức, thủ đoạn. đặc biệt trong giai đoạn hiện nay chúng thường lợi dụng không gian mạng, nhất là trên internet và mạng xã hội như: sử dụng các trang web, blog, các tài khoản mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo, các diễn đàn, báo điện tử, đài phát thanh để, cổ xúy các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai, cùng những hành vi phản nhân văn, phi tiến bộ để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất tầm thường của mỗi người  với mục tiêu không thay đổi chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

- Xuất phát từ tính chất lâu dài của sự nghiệp xây dựng và đấu tranh. Trước thực tế không thể coi nhẹ, xem thường đó làvấn đề cấp bách hiện nay là chúng ta phải thường xuyên, tích cực bồi dưỡng, vun đắp, nâng cao sức đề kháng văn hóa cho các cấp, các ngành và toàn xã hội. Sức đề kháng văn hóa chính là tăng cường khả năng phòng ngừa, bảo vệ, chống lại các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào nước ta. Lịch sử đã minh chứng rằng, sức đề kháng văn hóa có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nếu sức đề kháng văn hóa non nớt, nhu nhược, yếu kém sẽ là mảnh đất màu mỡ cho các “vi rút văn hóa” độc hại có cơ hội nảy sinh, lây lan, làm xói mòn tâm hồn, cốt cách văn hóa dân tộc. Ngược lại, nếu sức đề kháng văn hóa mạnh mẽ, cường tráng sẽ góp phần làm cho văn hóa Việt Nam không những giữ gìn được gốc gác, cội nguồn, bản sắc của mình, mà còn có thể đẩy lùi, tiêu trừ, loại bỏ được các tạp chất gây hại cho môi trường văn hóa dân tộc.

            * Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, được Bộ thông tin và truyền thông ban hành  Ngày 17 tháng 6 năm 2021.

Mục đích: Tạo điều kiện phát triển lành mạnh mạng xã hội tại Việt Nam, đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh, không phân biệt đối xử nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia; Xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi, ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội, góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam.

Nội dung:  Bộ quy tắc ứng xử đã đề cập một cách sâu, rộng và toàn diện gồm các vấn đề như: Quy tắc Tôn trọng, tuân thủ pháp luật; Quy tắc Lành mạnh; Quy tắc An toàn, bảo mật thông tin; Quy tắc Trách nhiệm. Quy tắc ứng xử cho tổ chức, cá nhân; Quy tắc ứng xử cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước Quy tắc ứng xử cho các cơ quan nhà nước; Quy tắc ứng xử cho các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội.

Ý nghĩa: Bộ quy tắc ứng xử mang tính vận động, tuy nhiên đây lại là căn cứ để ta xác định những hành vi vi phạm, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, là cơ sở để áp dụng các biện pháp, phòng ngừa, đấu tranh, răn đe, thậm trí có quyền khởi tố trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Vận dụng bộ quy tắc ứng xử trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trên môi trường không gian mạng:

-         Tuyên truyền sâu rộng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nâng cao nhận

thức về tính pháp lí của bộ quy tắc ứng xử trên môi trường không gian mạng đối với người dùng; đồng thời tích cực vận động, tạo nên lực lượng đấu tranh hùng hậu của đông đảo người tham gia trong môi trường không gian mạng;

-         Tích cực phát hiện các nội dung thông tin xấu độc, vi phạm pháp luật,

nhanh chóng phối hợp với các cơ quan chức năng để kịp thời thông báo với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội để xử lý, ngăn chặn theo quy định của pháp luật. Là giải pháp trọng yếu, xuyên suốt và mang tính răn đe kịp thời, hiệu quả trong giai đoạn hiện nay; khác với trước đây chúng ta chưa có quy tắc cụ thể, chưa có biện pháp mạnh tay; thì nay dựa trên bộ quy tắc ứng xử tuy mang tính vận động nhưng khác với những quy tắc vận động thông thường là khi phát hiện thấy vi phạm, chúng ta có quyền liên hệ với cơ quan chức năng để làm rõ, xử lí theo quy định của pháp luật; khi chúng ta nắm vững vấn đề này đi đôi với tích cực hành động mạnh tay hơn sẽ tạo nên những hiệu quả tích cực trong đấu tranh ngăn chặn.

 Hướng dẫn người sử dụng mạng xã hội hiểu biết về quy định, hỗ trợ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của “người yếu thế” trong xã hội (người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em, trẻ vị thành niên, người khuyết tật…) sử dụng mạng xã hội an toàn, lành mạnh nhằm tránh bị khai thác, lạm dụng, bạo lực về tinh thần trên mạng xã hội; có biện pháp để bảo đảm sự an toàn và phát triển lành mạnh của trẻ em, trẻ vị thành niên trên mạng xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam./.

-          

 

 

Ý nghĩa của ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7


- Ý nghĩa chính trị:

Ngày 27/2 hàng năm phản ánh sự đánh giá của Đảng, Nhà nước, nhân dân với những gia đình đã có người hy sinh vì Tổ Quốc.

Qua đó, nhằm phát huy tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, lãnh đạo.  

Cũng thông qua đó nhằm động viên và phát huy truyền thống cách mạng trong công cuộc đổi mới đất nước.

Công tác Thương binh Liệt sĩ và chính sách đối với những người có công với cách mạng chính là thể hiện tính ưu việt và bản chất của Đảng và Nhà nước ta.

Tạo điều kiện củng cố niềm tin vào nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng cũng như sự quản lý của nhà nước.

Góp phần tăng thêm tiềm lực cách mạng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và cơ sở để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần chống lại thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, bôi nhọ quá khứ hào hùng của dân tộc.

- Ý nghĩa nhân văn:

Tăng cường ý thức, trách nhiệm, lòng biết ơn, khơi dậy niềm tự hào dân tộc. Phát huy đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", đền ơn đáp nghĩa của dân tộc. Thể hiện truyền thống nhân văn sâu sắc của dân tộc.

Phát huy tinh thần "gia đình cách mạng gương mẫu" góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế.

Mai Năm Mới (ST)

Bác Hồ - biểu tượng niềm tin của dân tộc Việt Nam

Từ hàng nghìn đời nay, nhân dân Việt Nam luôn nặng nghĩa ân tình, biết ơn tất cả những ai có công khai thiên lập địa, mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước và giữ gìn giang sơn gấm vóc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Đạo lý biết ơn các bậc tiên hiền, tiên liệt đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi người Việt, trở thành một trong những nét tâm lý tính cách văn hóa đặc trưng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Sau nhiều năm nghiên cứu, các nhà sử học, nhà văn hóa, chuyên gia lịch sử quân sự đã thống nhất khẳng định: Cùng với nhân vật lịch sử huyền thoại Quốc tổ Hùng Vương, còn có 13 nhân vật kiệt xuất trong lịch sử dựng nước và giữ nước đã đi vào lòng dân, xứng đáng được Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch quy hoạch xây dựng tượng đài, đó là: Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ (Quang Trung) và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì 14 vị trên đã đáp ứng được một trong ba tiêu chí: Người khởi xướng, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ ngoại xâm, giành độc lập dân tộc; người đứng đầu một vương triều có đóng góp đặc biệt xuất sắc, lãnh đạo dân tộc giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; nhà quân sự, chính trị, văn hóa lỗi lạc. Tất cả 14 nhân vật lịch sử đó được nhân dân tôn kính, thờ phụng ở rất nhiều nơi. Trong đó, Quốc tổ Hùng Vương được thờ phụng ở hơn 1.400 di tích; “Đức thánh Trần” Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn được thờ phụng ở hơn 400 làng xã và di tích lịch sử tại nhiều địa phương. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo thống kê của các cơ quan chức năng, hiện cả nước đã có hơn 600 di tích, địa điểm di tích lưu niệm Bác Hồ tại gần 30 tỉnh, thành phố; 103 tượng đài Bác Hồ được xây dựng trong khuôn viên, trụ sở của các cơ quan, đơn vị trên toàn quốc. Tại sao các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, đặc biệt là Quốc tổ Hùng Vương, Trần Quốc Tuấn và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được nhân dân ta tôn kính, thờ phụng ở khắp nơi như vậy? Bởi vì, các vua Hùng đã có công khai cơ lập quốc, xây nền đắp móng cho giang sơn Việt Nam từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc để Tổ quốc ta trường tồn đến hôm nay và mai sau. Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng dân tộc gắn liền với 3 lần chiến thắng quân xâm lược Mông-Nguyên, để lại một dấu son chói lọi trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam và mang tầm thời đại ở thế kỷ XIII. Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất ở thế kỷ XX; người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam; người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chế độ dân chủ công-nông đầu tiên ở Đông Nam Á; người cha thân yêu của các LLVT nhân dân Việt Nam; người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam. Lịch sử vốn khách quan, lòng dân là công tâm nhất. Không ai có thể phong “thánh” cho ai, mà “thánh” xuất phát từ lòng dân, sống mãi trong lòng dân. Thế nên, dân gian mới có câu “Thương dân, dân lập đền thờ…”. Lòng dân Việt Nam đối với Bác Hồ, có lẽ không câu nào sâu sắc hơn câu đối mà ông Nguyễn Văn Từ đã viết cách nay 55 năm, nhân dịp mừng sinh nhật Bác tròn 70 tuổi (19-5-1960): Lo vì Dân, nghĩ vì Dân, vui khổ cũng vì Dân, dốc chí thờ Dân, công Bác với Dân thiên thu bất tận/ Bố gọi Bác, con gọi Bác, cháu chắt lại gọi Bác, nối dòng theo Bác, lòng Dân mong Bác vạn thọ vô cương.

Tên tuổi Hồ Chí Minh mang dấu ấn thời đại

Nhân dân, dân tộc Việt Nam tôn kính Bác Hồ như một tình cảm tự nhiên, vì Người đã làm “rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Nhưng không chỉ có vậy, tên tuổi Hồ Chí Minh đã vượt qua biên giới lãnh thổ Việt Nam, lan tỏa sâu rộng trên nhiều nước và trở thành một trong những nhân vật mang dấu ấn thời đại. Cách đây 32 năm, sau khi tập hợp ý kiến của 300 nhà khoa học trên thế giới, cuốn từ điển tiểu sử mang tên “Văn hóa thế kỷ XX” (XXth Century culture) được Nhà xuất bản Harper and Row (Mỹ) xuất bản năm 1983, trong đó có tiểu sử Hồ Chí Minh. Được xếp vào tiểu sử danh nhân văn hóa thế giới, vì ý kiến của 300 nhà khoa học đều có chung nhận định: “Hồ Chí Minh là người khởi xướng, giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt được mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu Á và của thế giới thứ ba”. Cuối tháng 12-1999, khi nhân loại sắp kết thúc thế kỷ XX và thiên niên kỷ thứ hai để bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba, tờ The Times (Thời báo) hàng đầu nước Mỹ cùng Hãng truyền hình CBS đã công bố 100 nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ XX. Đây là kết quả được bầu chọn bởi 7 triệu người dân của nhiều nước trên thế giới, trong danh sách đó có Hồ Chí Minh. Trong số 100 nhân vật được bầu chọn, The Times lại chọn ra danh sách 20 nhà lãnh đạo và nhà cách mạng có uy tín nhất thế giới, trong đó có Hồ Chí Minh cùng những tên tuổi lừng danh khác như: V.I.Lê-nin, M.Găng-đi, Man-đê-la… Trong khóa họp toàn thể lần thứ 24 tại Pa-ri (Pháp) từ ngày 20-10 đến ngày 20-11-1987, UNESCO đã thảo luận, xem xét và thông qua Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vào thời điểm đó, cả thế giới mới có 21 nhân vật lỗi lạc trên thế giới đáp ứng tiêu chí chung nhất là “Những người để lại những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại” được UNESCO ra nghị quyết kỷ niệm. Đúng dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-1990), UNESCO đã chính thức tôn vinh Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất". Nghị quyết của UNESCO có đoạn nhấn mạnh: “Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất của sự khẳng định quyền dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội... Những lý tưởng của Người là hiện thân của nguyện vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”. Đồng thời, UNESCO đã khuyến nghị 159 quốc gia thành viên “Kết hợp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những hoạt động đa dạng để tư­ởng niệm Người, để làm cho mọi ngư­ời hiểu được tầm vóc to lớn của những tư tưởng và sự nghiệp của Người vì sự nghiệp giải phóng dân tộc”. Không ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh được thế giới đánh giá cao như vậy. Trước đó, vào năm 1923, ngay lần đầu tiên gặp Nguyễn Ái Quốc, nhà thơ Xô-viết Ô-xíp Man-đen-xtam từng có nhận định sắc sảo như một lời tiên tri: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Khi nhận được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần (2-9-1969), Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đã gửi viếng Bác một câu đối: Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất/ Minh tinh quang nhật nguyệt, Á Âu hào kiệt thị vô song (Nghĩa là: Chí khí trải khắp cả non sông; anh hùng xưa đến nay chỉ có một/ Vì sao sáng hơn mặt trời, mặt trăng; hào kiệt cả Á Âu không đâu có).

Tự do báo chí không phải là vô hạn

Tự do báo chí, đó là một trong các quyền cơ bản của con người trong một xã hội phát triển. Nhưng tự do báo chí như thế nào lại là vấn đề cần đề cập một cách cụ thể, căn cứ vào sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia và hệ thống luật pháp của quốc gia ấy, cùng với những tiêu chí của nền văn hóa mà trực tiếp là đạo đức. Bài viết của TS Trương Minh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ đề cập, góp phần làm sáng tỏ vấn đề này. Hơn 150 năm trước, nhà triết học người Anh John Stuart Mill (Giôn Xtiu-át Min-lơ) cho ra đời một tác phẩm nổi tiếng về tự do, đó là cuốn Bàn về tự do (On liberty). Tư tưởng của John Stuart Mill mang đậm dấu ấn duy lý của văn hóa phương Tây, có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhưng không phải là hình mẫu cụ thể, mà chỉ phác họa những nguyên lý nền tảng căn bản, bảo đảm quyền tự do của cá nhân con người đối với cộng đồng xã hội, bảo đảm sự phát triển. Ở châu Á, hơn 100 năm trước, cuốn sách được dịch sang tiếng Nhật, và bản tiếng Việt được xuất bản cách đây mấy năm. Trong những quyền tự do của con người mà John Stuart Mill đề cập, có quyền tự do báo chí, và được coi là một trong những quyền căn bản nhất. Tư tưởng của John Stuart Mill ở luận điểm này gần giống với luận điểm của C. Mác, khi ông cho rằng: Báo chí nói chung là sự thực hiện tự do của con người. Do đó, ở đâu có báo chí, ở đấy có tự do báo chí (C.Mác và Ph.¡ng - ghen Toàn tập, Tập 1 - NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, H.1995, tr.85), Bản chất của báo chí tự do, - đó là bản chất dũng cảm, có lý tính, có đạo đức tự do (C.Mác và Ph.¡ng-ghen Toàn tập, Sđd, tr.89). Và thiên chức của báo chí tự do được C.Mác đề cao là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân với bản thân mình, là những dây liên hệ biết nói gắn liền với các cá nhân, với nhà nước, với toàn thế giới... Như vậy, dù hình thái kinh tế- xã hội khác nhau nhưng giá trị phổ quát của quyền con người trong lĩnh vực tự do báo chí, tự do ngôn luận là giống nhau và được tôn trọng. C.Mác coi đối lập báo chí tự do là con quái vật được văn minh hóa nhưng ông không phủ nhận sự kiểm duyệt chân chính bắt rễ từ bản chất tự do của báo chí là sự phê bình. C.Mác cũng cho rằng báo chí tự do phải có luật báo chí bảo đảm. Trên tinh thần chung đó, ngày nay Hiến pháp của hầu hết các quốc gia đều quy định quyền tự do báo chí. Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ đã quy định quyền tự do báo chí. Tại Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,.... Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí (ngày 12-6-1999) đã thể hiện rõ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động... Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng. Dự thảo Luật Báo chí (năm 2015) đã dành hẳn một chương quy định quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận theo tinh thần Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013). Về nguyên tắc, luật pháp các quốc gia công nhận quyền tự do của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đó không phải là tự do vô hạn dẫn đến việc xâm phạm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước. Ngay Điều 29 của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hợp quốc ra đời năm 1948 cũng đã thừa nhận Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định - và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ. Báo chí tự do ở Mỹ cũng như các quốc gia khác vẫn nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật như Bộ luật Hình sự Mỹ (Chương 115, Điều 2385), Đạo luật Phản loạn được quốc hội Mỹ thông qua năm 1798 (Đạo luật ra đời với nhiều ảnh hưởng từ các tư tưởng của cách mạng Pháp năm 1789) quy định: Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực... Những quy định chặt chẽ đó không ngoài mục đích ngăn chặn việc lợi dụng tự do báo chí nhằm mục đích chống chính quyền, lật đổ chính quyền, xâm phạm đến quyền tự do của cá nhân khác... Tuy nhiên, vì sao các quốc gia ở châu Á thường hay bị một số tổ chức ở phương Tây cho rằng không có tự do báo chí, hoặc có mức độ xếp hạng thấp? Như đã nói ở trên, cách tiếp cận về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận theo khuôn khổ pháp luật khác nhau và sự khác biệt về văn hóa đã dẫn đến cách nhìn nhận áp đặt đó. Ở Singapore (Xin-ga-po) năm 1988, khi chính quyền của Thủ tướng Lý Quang Diệu bị chỉ trích là hạn chế quyền tự do báo chí, ông đã xuất hiện trước Hiệp hội Biên tập Mỹ và phát biểu: Chúng tôi cho phép các nhà báo người Mỹ tới Singapore để đưa tin về Singapore cho người dân nước họ biết. Nhưng chúng tôi không thể cho phép họ chiếm vai trò ở Singapore như truyền thông Mỹ có ở Mỹ. Đó là vai trò giám sát, đối nghịch và thẩm tra chính quyền. Singapore là quốc gia non trẻ, từ điểm xuất phát hầu như là một con số 0 (zero) tròn trĩnh đã phát triển vượt bậc khiến cả thế giới phải khâm phục, tại sao lại phải đối diện với sự chỉ trích mạnh mẽ của phương Tây về quyền tự do, trong đó có tự do báo chí? Trên thực tế, sự phát triển của quốc gia này lại như là một minh chứng cho sự khác biệt về cách tiếp cận các quyền phổ quát của con người mà trước hết cần thừa nhận các quyền ấy phụ thuộc vào hệ thống pháp luật riêng và sự khác biệt văn hóa. Ngay tại phương Tây, sự kiện thảm sát tại tòa soạn báo Charlie Hebdo (Pháp) vừa qua gây nhiều tranh cãi và chính Giáo hoàng Francis (Phrăng-xít) cũng phải lên tiếng về mức độ tự do báo chí không phải là vô hạn khi tự do đó mang tính xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo của người khác. Trở lại vấn đề tự do báo chí, có thể khẳng định Việt Nam là quốc gia tự do báo chí. Tất cả các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương đều có báo hoặc tạp chí, có địa phương có gần 30 cơ quan báo chí; báo chí còn được phân theo giới tính, lứa tuổi: từ nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, người cao tuổi đều có báo và tạp chí của mình. Thậm chí hội của những người chơi cây cảnh, cá cảnh, chơi ten-nít đều có tạp chí. Hiện nay, cả nước có 845 cơ quan báo chí in với 1.118 ấn phẩm, một hãng thông tấn quốc gia, 67 đài phát thanh - truyền hình, số lượng các kênh chương trình phát thanh - truyền trình quảng bá là 179 kênh, số lượng đơn vị cung cấp truyền hình cáp là 33 đơn vị, 98 cơ quan báo chí điện tử và 1.525 trang thông tin điện tử tổng hợp; 420 mạng xã hội được phép hoạt động với lượng truy cập rất cao, ảnh hưởng ngày càng lớn về thông tin. Trước sự phát triển của in-tơ-nét, các mạng xã hội và nhiều ứng dụng khác, cho đến nay các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam không ngăn chặn và can thiệp, bảo đảm quyền tự do thông tin của mọi công dân. Hành lang pháp lý bao gồm Hiến pháp, Luật và các Nghị định, Thông tư liên quan đến quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ngày càng tiếp tục hoàn thiện hơn, phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và tình hình phát triển của báo chí. Các cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, nghề nghiệp trở thành diễn đàn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi tầng lớp nhân dân. Quan trọng hơn nữa, báo chí Việt Nam không chỉ đóng vai trò tuyên truyền, phổ biến mà còn phản biện, góp ý cho đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, tự do báo chí không phải là vô hạn. Quyền tự do đó phải được đặt trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc; không xâm phạm đến quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân. Điều 2, Luật Báo chí năm 1989 nêu rõ: Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Như vậy, đối với nhà báo, ngoài trách nhiệm thông tin đúng sự thật, vai trò công dân của nhà báo phải được đặt lên hàng đầu với sứ mệnh đặc biệt đối với lợi ích quốc gia, dân tộc. Trải qua 90 năm phát triển, sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam luôn gắn liền với vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Những người làm báo ở Việt Nam có quyền tự hào về bề dày lịch sử đầy hữu ích của nghề nghiệp và tiếp tục đóng góp vì sự phát triển chung của đất nước trước tình hình mới.

Không có “Hiến pháp mở, luật đóng” trong quản lý báo chí

Trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam với sự trưởng thành, phát triển vượt bậc của nền báo chí nước nhà, đây đó trên internet và đài, báo hải ngoại vẫn xuất hiện những bài viết lạc lõng, cố tình bóp méo sự thật. Một trong những luận điệu mới họ đưa ra là phủ nhận những tiến bộ của quá trình chuẩn bị dự án Luật Báo chí (sửa đổi) và đề án quy hoạch báo chí hiện nay. Họ cho rằng, ở Việt Nam không có tự do báo chí thực sự do “Hiến pháp mở nhưng luật lại “đóng”... Từ sự bóp méo đó, họ đòi hỏi việc sửa đổi Luật Báo chí và quy hoạch lại hệ thống báo chí phải cho phép tồn tại báo chí tư nhân thì mới có tự do báo chí thực sự. Những lập luận trên là hoàn toàn sai trái, bóp méo sự thật. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (sửa đổi) năm 2013 đã nêu rõ tại Điều 25: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Xét cho cùng, việc sửa đổi Luật Báo chí và quy hoạch lại hệ thống báo chí hiện nay cũng là nhằm triển khai, hiện thực hóa quyền tự do báo chí của công dân theo Hiến pháp đã quy định. Nghiên cứu kỹ Điều 25 của Hiến pháp có thể thấy rõ, Hiến pháp hiến định công dân có quyền tự do báo chí, tiếp cận thông tin và thực hiện các quyền này do pháp luật (bao gồm cả các đạo luật và văn bản dưới luật) quy định. Phát biểu tại Hội thảo góp ý xây dựng Luật Báo chí (sửa đổi) do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức mới đây, TS Trương Minh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông khẳng định: “Qua tổng kết 15 năm thi hành và xu hướng phát triển của báo chí thời gian tới, đồng thời thể chế hóa các nguyên tắc, quan điểm của Đảng về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; một trong những yêu cầu hàng đầu đặt ra trong xây dựng Luật Báo chí lần này là phải triển khai thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013, trong đó có quy định mới hết sức quan trọng về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình... Vì vậy, Luật Báo chí mới phải bảo đảm những quy định trong luật đáp ứng tốt hơn nữa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và đặc biệt là quyền tiếp cận thông tin của công dân phù hợp điều kiện phát triển của đất nước. Nhìn lại lịch sử lập pháp ở nước ta, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam qua các thời kỳ và Luật Báo chí của nước ta đều có quy định quyền tự do ngôn luận trên nguyên lý nền tảng, bảo đảm giá trị phổ quát của quyền con người: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin”; “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động”… “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”. Có thể nói, những nội dung nói trên đã bao hàm khá đầy đủ, toàn diện nội hàm cơ bản về quyền tự do báo chí của công dân. Dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi), trên cơ sở tiếp thu những điểm mới của Hiến pháp, đã quy định rõ ràng hơn về quyền tự do báo chí của công dân bằng việc dành hẳn một chương quy định quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận theo tinh thần Hiến pháp và xác định Điều 12 quy định về quyền tự do báo chí; Điều 13 quy định về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Trong đó, về quyền tự do báo chí quy định: Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; tổ chức, cá nhân không được hạn chế, cản trở cơ quan báo chí, nhà báo hoạt động đúng pháp luật; không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Nhà nước không kiểm duyệt báo chí trước khi đăng, phát sóng. Về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân quy định: Công dân được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới; được tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài, ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin; được phát biểu ý kiến trên báo chí về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến vào việc xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo theo quy định của pháp luật. Cùng với các quy định trên, theo lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) hiện có tới 35 điểm mới. Những quy định trên, theo nhiều chuyên gia pháp luật và báo chí, đã thể hiện được sự tiến bộ của dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi), pháp điển hóa nhiều nội dung về quyền tự do báo chí được hiến định trong Hiến pháp. Những quan điểm cho rằng “Hiến pháp mở, luật đóng” rõ ràng là hồ đồ, phiến diện, không có căn cứ.

Không có báo chí tư nhân

Quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) cũng như dự thảo đề án quy hoạch báo chí đều xác định: Ở Việt Nam, không có báo chí tư nhân song điểm mới là cơ quan báo chí được phép liên kết trong hoạt động báo chí với cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết. Điều này hoàn toàn không trái ngược với những giá trị phổ quát của nhân loại về quyền tự do báo chí. Theo nghiên cứu của TS Trương Minh Tuấn, tư tưởng của nhà triết học người Anh John Stuart Mill - một trong những người đầu tiên đề cập tới tự do báo chí có nhiều nét tương đồng với quan điểm của Các Mác. Theo quan điểm của Mác - Ăng-ghen, ở đâu có báo chí, ở đấy có tự do báo chí và bản chất của báo chí tự do, đó là bản chất dũng cảm, có lý tính, có đạo đức tự do. Các Mác cho rằng, thiên chức của báo chí tự do là phải có con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân với bản thân mình, là những dây liên hệ biết nói gắn liền với các cá nhân, với nhà nước, với toàn thế giới... Báo chí tự do phải có luật báo chí bảo đảm. Dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) tại Điều 5 quy định rõ: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là diễn đàn của nhân dân”. Đồng thời, tại Điều 16 cũng quy định rõ đối tượng được thành lập cơ quan báo chí gồm: “Cơ quan của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức). Các tổ chức khác của Nhà nước do Chính phủ quy định”. Như vậy, so với Luật Báo chí hiện hành, dự thảo luật đã quy định rõ hơn về đối tượng được thành lập cơ quan báo chí và theo quy định của dự thảo luật, cá nhân, tư nhân không được thành lập cơ quan báo chí. Đây là một quy định rõ ràng, minh bạch. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa XI khi cho ý kiến về đề án Quy hoạch báo chí đến năm 2025, Trung ương một lần nữa khẳng định: Không để tư nhân sở hữu báo chí, không để lợi ích nhóm chi phối báo chí, chủ động cung cấp thông tin cho báo chí. Những nội dung này đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của dư luận nhân dân. Tinh thần bản dự thảo Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 cũng xác định: Không để tư nhân sở hữu báo chí, không để nhóm lợi ích chi phối báo chí; kết hợp chặt chẽ các loại hình báo chí, đồng thời phát huy lợi thế của các phương tiện, dịch vụ trên internet nhằm chủ động cung cấp thông tin chính thống có định hướng, tăng diện bao phủ trong nước và quốc tế; hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng… Nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương hoan nghênh chủ trương trên và cho rằng, quy hoạch phát triển và quản lý báo chí lúc này là rất cần thiết để báo chí phát triển. Thực tế cho thấy, với việc sửa đổi Luật Báo chí và quy hoạch lại hệ thống báo chí, Đảng, Nhà nước ta đã và đang có nhiều đổi mới, nỗ lực đột phá để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của báo chí, giúp báo chí thực sự là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là diễn đàn của nhân dân; góp phần đưa những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do báo chí ngày càng đi vào cuộc sống.

 Cán bộ, công chức, viên chức nên dùng tên thật trên facebook

Nội dung này được Bộ Thông tin và Truyền thông nêu tại Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021.
Theo đó, tại Điều 5 Bộ quy tắc ban hành kèm Quyết định này, Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan Nhà nước.
Một trong những nội dung đáng chú ý là cán bộ, công chức nên sử dụng họ, tên thật của mình khi đăng ký tài khoản facebook để xác thực đầu mối liên lạc khi tham gia, sử dụng facebook.
Ngoài ra, cán bộ, công chức cũng phải chia sẻ những thông tin có nguồn chính thống, đáng tin cậy; không đăng tải các nội dung vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác; không dùng từ ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục.
Đặc biệt, cũng như các đối tượng khác, cán bộ, công chức không được tung tin giả, tin sai sự thật, quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
Đồng thời, cán bộ, công chức phải thực hiện nội quy của cơ quan, tổ chức về việc cung cấp thông tin lên facebook và thông báo tới cơ quan chủ quản để kịp thời có hướng xử lý, trả lời, giải quyết khi có những ý kiến, thông tin trái chiếu, thông tin vi phạm pháp luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực quản lý của cán bộ, công chức, viên chức.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 17/6/2021.

 RSF lại xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam

Xuyên tạc tình hình, bôi nhọ tự do báo chí Việt Nam là một chiêu trò luôn được những tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí, nhất là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên sử dụng.

Gần như đã trở thành thông lệ, ngày 21/4/2021, RSF lại đưa ra cái gọi là “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” và được RFI, VOA, BBC, RFA,… các trang mạng phi pháp hùa vào đăng tải, kèm theo “bình luận” của một số nhân vật “có uy tín” của RSF. Trong Bảng xếp hạng này, RSF đã xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, khi cho rằng Việt Nam là “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger”(!)

Thực tế cho thấy, bất cứ tổ chức, cá nhân nào tôn trọng sự thật khách quan đều thấy rõ, ở Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí được Nhà nước bảo đảm ngày càng tốt hơn. Điều đó được thể hiện trên cả khía cạnh pháp lý và thực tiễn.

Trên khía cạnh pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,… Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Báo chí, Luật An ninh mạng, Luật Tiếp cận thông tin và các luật, bộ luật có liên quan, quy định rõ về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.

Trên thực tế, với khung pháp luật khoa học, phù hợp thực tiễn, rõ ràng, được Nhà nước ủng hộ, tạo điều kiện bảo đảm cho nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Đến tháng 01/2021, ở Việt Nam có đầy đủ các loại hình báo chí, với 779 cơ quan báo chí và hơn 21.000 người làm báo đã được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan báo chí thực sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, diễn đàn của nhân dân. Trong hành nghề, các cơ quan báo chí, nhà báo luôn tuân thủ đúng pháp luật, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân. Với tôn chỉ, mục đích của mình, các cơ quan báo chí không chỉ tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới, mà còn góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin, văn hóa lành mạnh của nhân dân; bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương “người tốt, việc tốt”, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; phòng, chống những hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Không những vậy, báo chí còn góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam; mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc; tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.

Để đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến phát triển internet. Đến nay, Việt Nam nằm trong top 20 nước có số người sử dụng internet cao nhất thế giới, với 68,7% người sử dụng, cao hơn mức trung bình của thế giới (51,4%). Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, internet đã trở thành công cụ rất quen thuộc, là “một phần tất yếu” trong cuộc sống của mọi tổ chức và cá nhân, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư; những tiện ích mang lại từ hệ thống internet nhanh chóng được ứng dụng trong thực tiễn, nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi tổ chức, cá nhân. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống chính trị trong những năm gần đây đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm; trong đó, công tác xây dựng Chính phủ điện tử, Quốc hội điện tử đã có bước tiến mạnh mẽ, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số là một trong những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn 2016 - 2020 để tạo ra nền tảng vững chắc cho việc chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn 2021 - 2030. Đánh giá của Liên hợp quốc về phát triển Chính phủ điện tử, liên tiếp từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đều tăng hạng. Hiện, Việt Nam xếp thứ 86/193 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 6 tại khu vực Đông Nam Á. Vị trí xếp hạng về các chỉ số thành phần của Việt Nam năm 2020 có sự thay đổi tương đối lớn: Chỉ số hạ tầng viễn thông xếp thứ 69, tăng 31 bậc so với năm 2018; chỉ số nguồn nhân lực xếp thứ 117, tăng 3 bậc so với năm 2018, v.v.

Hiện nay, một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử đã được đưa vào vận hành, hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Nhiều đơn vị đã áp dụng chữ ký số cá nhân trong gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi trường điện tử, như: Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc,... tạo sự thay đổi về lề lối làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng như việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp.

Cùng với đó, thông qua các trang mạng xã hội (Facebook, YouTube, Lotus, Viber, Zalo, Twitter, Instagram...), người dân Việt Nam có thể tự do chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng có nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân.

Cùng với việc đảm bảo ngày càng tốt hơn về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết trừng trị những tổ chức, cá nhân lợi dụng vấn đề này để có những hành vi tung tin xấu độc, xuyên tạc, bôi nhọ, kéo bè, lập phái chống đối nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ quan chức năng Nhà nước Việt Nam đã điều tra, bắt giữ, truy tố một số đối tượng vi phạm pháp luật, tự xưng là “Nhà đấu tranh cho dân chủ”, “nhà báo tự do”,… dưới dạng là bloger chuyên viết bài, làm video clip,… với nội dung xuyên tạc sự thật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,… hay là những lời “kêu gọi” lập đảng, lập hội… chống đối chế độ để tung lên mạng (Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,…). Những việc làm đó đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm cho người dân vô cùng phẫn nộ. Vì thế, bắt giữ, điều tra, xét xử, truy tố những đối tượng như trên là việc làm tất yếu, vừa đúng quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, vừa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mọi tổ chức và cá nhân. Việc RSF cho rằng Nhà nước Việt Nam điều tra, bắt giữ, truy tố những kẻ trên là “vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” và trở thành “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger” là hết sức phi lý, xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, chà đạp, bôi nhọ pháp luật Việt Nam, chuyên bảo kê cho tội phạm, không xứng với tôn chỉ mục đích, danh xưng mỹ miều “Phóng viên không biên giới”!

Tự do là tuân thủ pháp luật, ở đâu có dân chủ thì ở đó có tự do và Việt Nam là một đất nước như thế. Không ai có thể phủ nhận điều đó, chỉ những tổ chức, cá nhân lòng dạ không trong sáng như RSF mới không thấy.

Kiên trì thực hiện đường lối độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo

Trong khi đại đa số ý kiến ủng hộ phương thức đấu tranh hòa bình đúng đắn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, thì cũng có một số người lợi dụng tình hình ấy để bày tỏ “lòng trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước” rồi cho rằng: “Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”(!). Trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, ở trong nước cũng như ngoài nước xuất hiện nhiều tư tưởng lo lắng, quan ngại. Trong khi đại đa số ý kiến ủng hộ phương thức đấu tranh hòa bình đúng đắn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, thì cũng có một số người lợi dụng tình hình ấy để bày tỏ “lòng trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước” rồi cho rằng: “Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”(!). Thực chất, đó là biểu hiện của mưu toan hướng lái Việt Nam chệch khỏi đường lối độc lập và tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; hòng “đục nước béo cò”, phục vụ cho những dã tâm nguy hiểm hơn của các thế lực thù địch, phản động chống phá Việt Nam. Chủ quyền quốc gia dân tộc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Đó là tình cảm tự nhiên, sâu thẳm trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam. Để thực hiện nhiệm vụ bảo toàn lãnh thổ của Tổ quốc, cả hệ thống chính trị và toàn quân, toàn dân ta đang tích cực, chủ động và kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây là đường lối đấu tranh hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt trong tình hình hiện nay. Đường lối này là sự kết tinh truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm giữ nước. Lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta đã cho thấy, khi nào Việt Nam kiên định đường lối độc lập và tự chủ thì cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc thắng lợi; trái lại, khi nào tinh thần độc lập và tự chủ không được phát huy đúng đắn, nhún nhường hay bị nước ngoài can thiệp, ép buộc thì nền độc lập của Tổ quốc bị đe dọa, đất nước bị xâm lược, thôn tính hay chia cắt lâu dài. Bài học đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX chỉ ra, nhân dân ta đã bước ra khỏi hai cuộc chiến tranh với hai tư thế khác nhau. Nếu như trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân ta đã đánh thắng Pháp trên chiến trường, nhưng lại không thắng được hoàn toàn các mưu đồ thâm hiểm trên bàn đàm phán Giơ-ne-vơ (1954), bị các cường quốc áp đặt, chi phối, chia chác và hy sinh nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, buộc nhân dân ta phải mất thêm 21 năm nữa cho cuộc đấu tranh của mình. Rút kinh nghiệm từ bài học xương máu đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã kiên quyết giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình không chỉ trên chiến trường, trên bàn đàm phán mà cả trên mặt trận ngoại giao; tận dụng và huy động hết thảy sức mạnh của thời đại, sức mạnh của sự ủng hộ quốc tế, của nhân dân và chính phủ khắp các nước trên thế giới. Với tinh thần đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã kiên trì thực hiện thắng lợi một cách trọn vẹn lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quyết giành cho được độc lập”, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta hiện nay đã chứng minh rằng, việc kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh của Đảng, Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. Các cuộc chiến tranh và xung đột khắp Nam Âu đến Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi mấy thập niên qua đều chỉ ra, một trong những nguyên nhân và “ngòi nổ” của nó là thiếu sự kiên định đường lối đối ngoại độc lập và tự chủ của chính phủ các nước đó. Mới đây, bài học về cuộc nội chiến ở Xy-ri, xung đột và tan vỡ đất nước của U-crai-na, I-rắc… chính là sự không nhất quán về đường lối độc lập và tự chủ trong đấu tranh bảo vệ đất nước. Chính phủ và ngay cả một bộ phận nhân dân các nước đó đã luôn trông chờ hoặc nước này, hoặc thế lực kia đến “cứu giúp” dân tộc mình. Họ có biết đâu rằng, đằng sau những hành động và việc làm “vô tư”, “nhân đạo” đó là cả một “núi” những tham vọng về lợi ích chiến lược của các cường quốc; và hậu quả để lại cho nhân dân các nước đó là cảnh "nồi da nấu thịt”, chém giết lẫn nhau, tàn phá tan hoang chính quê hương, đất nước mình. Những bài học lịch sử còn nóng hổi tính thời sự, được rút ra từ xương máu của nhân loại và nhân dân Việt Nam đã trở nên rõ ràng. Ấy vậy mà, vẫn có những giọng điệu, tư tưởng “ngóng trông”, “chờ đợi” và mạnh dạn “khuyên can chân thành” Chính phủ và nhân dân Việt Nam nên liên minh quân sự với nước này để kiềm chế hay chống đỡ đối với nước khác mới bảo vệ được nền độc lập của mình (!). Nhưng để có được liên minh quân sự đó, họ cũng nói rõ ngay cái giá mà Việt Nam phải trả đó là: “Cần thay đổi chính sách nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam”; “từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và quân đội”; “thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội” (!) v.v.. Như vậy, động cơ và ý tứ “chân thành” của họ đã bộc lộ rõ “chân tướng”. Nếu ta làm theo họ, trước hết là đã từ bỏ những nguyên tắc căn bản nhất về quyền tự quyết dân tộc, tự quyết định đến vận mệnh của dân tộc mình-điều mà bất cứ một quốc gia, dân tộc, một người dân bình thường nào cũng không thể chấp nhận được. Tiếp đến, đó là chúng ta phải từ bỏ vũ khí sức mạnh chính trị, tinh thần đã hóa thành sức mạnh vật chất vĩ đại nhất của dân tộc ta trong suốt thế kỷ XX đến nay-vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Và nếu thực hiện theo ý họ, có nghĩa là chúng ta sẽ mắc mưu “đuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau”. Thực chất, đó là hành động “cõng rắn cắn gà nhà” đã bị lịch sử dân tộc Việt Nam lên án. Hơn nữa, trong việc đấu tranh phản đối nước ngoài xâm phạm trái phép chủ quyền vùng biển của Việt Nam vừa qua, chúng ta đã hiểu rõ chính phủ, nhân dân nước nào đã thực tâm với nhân dân Việt Nam, hết lòng, hết sức ủng hộ Việt Nam; còn ai lợi dụng hoàn cảnh rối ren để “đục nước béo cò”, toan tính tiếp tục thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm phức tạp thêm tình hình đất nước, phá hoại sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta từ bên trong. Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần hiểu đúng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sức mạnh tổng hợp của quốc gia về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, sức mạnh của lực lượng vũ trang là nòng cốt; phát huy sức mạnh nội lực là chính, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kết hợp quân sự với kinh tế, chính trị với ngoại giao. Sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự trung thành, tận tụy, trong sạch của đội ngũ cán bộ, công chức và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định. Chỉ có kiên trì thực hiện đường lối và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chúng ta mới phát huy sức mạnh dân tộc, tranh thủ khai thác, phát huy sức mạnh thời đại cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc./.

Nâng cao hiệu quả phòng, chống thông tin xấu độc, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng

Các cơ quan báo chí, nhất là cơ quan báo chí chủ lực của Đảng, Nhà nước và Quân đội cần kịp thời cung cấp thông tin chính thống để định hướng dư luận xã hội; chủ động, kịp thời vạch rõ bản chất, kiên quyết phản bác những thông tin sai trái, độc hại chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta... Trong điều kiện Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, trước những sự kiện lớn, các ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước, trong khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa để ôn lại lịch sử, giáo dục truyền thống, khơi dậy lòng yêu nước cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tăng cường các hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta với nhiều âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt. Đặc biệt là trước dịp Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XII của Đảng, các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta càng gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và liều lượng. Một trong những thủ đoạn chúng ráo riết thực hiện là lợi dụng internet, mạng xã hội và các blog cá nhân để tung tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân và Quân đội”. Theo PGS, TS Đào Duy Quát, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương đánh giá, các thế lực thù địch đang tăng cường sử dụng nhiều lực lượng, phương tiện, bằng nhiều con đường với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chống phá ta trên các hướng chủ yếu như: Chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và của cách mạng Việt Nam, hòng phủ định chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường loan tin vu cáo, bôi nhọ nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta; xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam, phủ nhận những thành tựu của sự nghiệp đổi mới; xuyên tạc lịch sử dân tộc, nhất là lịch sử các cuộc kháng chiến, các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; xuyên tạc đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối bảo vệ Tổ quốc và đường lối đối ngoại của Đảng ta; tăng cường truyền đạo trái phép nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số để nắm quần chúng của ta và kích động xu hướng ly khai, phá hoại sự thống nhất dân tộc quốc gia; đẩy mạnh các hành động “đế quốc thông tin”, “xâm lăng văn hóa” để áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống của nước ngoài, phá hoại bản sắc văn hóa của dân tộc. Đáng chú ý, thông qua mạng internet, thông qua các kênh chiếu phim, các chương trình ca nhạc, vui chơi giải trí, hệ thống xuất bản phát hành để truyền bá lối sống ích kỷ vụ lợi, xa hoa, trụy lạc, bạo lực… Đồng tình với ý kiến của PGS.TS Đào Duy Quát, Đại tá Đặng Ngọc Tuyến, Phó cục trưởng Cục Văn hóa Thông tin Truyền thông nhấn mạnh, thời gian qua, các thế lực phản động, thù địch đã huy động hàng trăm đài phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, báo mạng điện tử để chống phá cách mạng Việt Nam một cách quyết liệt. Nhiều tổ chức đoàn thể độc lập, tổ chức “xã hội dân sự” được thành lập để đối đầu với các đoàn thể, tổ chức chính thống trong nước. Vì vậy, thời gian tới, các cơ quan chức năng cần tăng cường phản bác các quan điểm sai trái, không để tán phát tài liệu sai trái, vô hiệu hóa các tài liệu phản động; các cơ quan báo chí cần tuyên truyền định hướng dư luận; tham mưu cho các đơn vị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật… Đó là những giải pháp để ngăn chặn tác hại của thông tin xấu độc. Các tham luận và ý kiến tại buổi tọa đàm đã phân tích, lý giải, làm rõ thêm những thông tin sai trái, độc hại của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, văn học, nghệ thuật, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Những thông tin xấu độc này do các thế lực thù địch chủ mưu thực hiện là sự phản ánh sai lệch sự thật, chủ ý bóp méo, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả, nhằm lừa bịp, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ xã hội chủ nghĩa. ​ Báo chí cần kịp thời cung cấp thông tin chính thống để định hướng dư luận xã hội; Chủ động, kịp thời vạch rõ bản chất, kiên quyết phản bác những thông tin sai trái, độc hại chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, báo chí cần bình tĩnh, chặt lọc, thẩm định chặt chẽ để đăng tải những thông tin có lợi cho đất nước, dân tộc và nhân dân; phân tích, lý giải các thông tin một cách khách quan, có lý, có tình, có sức thuyết phục để tạo dựng niềm tin tích cực, lành mạnh cho công chúng. Các cơ quan báo chí, nhất là cơ quan báo chí chủ lực của Đảng, Nhà nước và Quân đội cần kịp thời cung cấp thông tin chính thống để định hướng dư luận xã hội; chủ động, kịp thời vạch rõ bản chất, kiên quyết phản bác những thông tin sai trái, độc hại chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta...

'Kỷ lục gia' đa tài của trận chung kết Olympia

HÀ NỘISở hữu hai kỷ lục của chương trình Olympia cùng nhiều giải thưởng Toán và Hóa học, Hải An còn biết chơi ba loại nhạc cụ, sáng tác thơ và tản văn. Chiều chủ nhật, như thường lệ Nguyễn Thiện Hải An, học sinh lớp 11A1 Hóa, trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên (Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng gia đình quây quần bên TV để theo dõi Đường lên đỉnh Olympia. Chương trình phát sóng ngày 20/6 đặc biệt hơn vì Hải An là một trong bốn "nhà leo núi" sau khi giành chiến thắng cuộc thi tuần và đạt điểm nhì cao nhất vòng thi tháng. Khoảnh khắc em giành quyền trả lời hai câu hỏi cuối cùng trong phần thi về đích của Tấn An, vượt qua điểm của thí sinh Viết Hà đang đứng đầu và chiến thắng chung cuộc, cả nhà cùng vỗ tay reo hò. "Khi xem chương trình, em như được trải qua trận đấu kịch tính này một lần nữa", Hải An nói. Sống tại Hà Nội, Hải An xuất thân là học sinh chuyên Toán. Trong bốn năm THCS, An đã giành hơn 20 huy chương ở các cuộc thi Toán khu vực và quốc tế, trong đó có Olympic Toán học Singapore - châu Á, Toán học châu Á - Thái Bình Dương, Olympic Toán Singapore, Toán học không biên giới... Đến năm lớp 8, được giáo viên Hóa học truyền cảm hứng, An quyết định chuyển hướng. Bố mẹ An có phần ngạc nhiên và ban đầu chưa đồng ý trước lựa chọn này của con trai. Sau khi được giáo viên thích rằng An có đủ khả năng theo được Hóa và vẫn có thể học tốt Toán, bố mẹ tôn trọng quyết định của em. Chỉ một năm sau đó, An ghi dấu thành tích đầu tiên trong môn Hóa bằng giải nhất kỳ thi học sinh giỏi thành phố Hà Nội, sau đó là giải ba học sinh giỏi quốc gia. An cho rằng mình may mắn vì gặp được những thầy cô tận tụy, giúp em luôn tin rằng quyết định năm đó của mình đúng đắn. Khi trở thành học sinh lớp chuyên Hóa của trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, An không đi học thêm nữa. Vì chỉ phải học ở trường buổi sáng, em có nhiều lựa chọn cho buổi chiều như sinh hoạt câu lạc bộ, lên thư viện đọc sách hoặc về nhà sáng tác thơ, nhạc. "Em muốn tìm hiểu về nhiều lĩnh vực và thử sức trong các vai trò mới chứ không chỉ tập trung học Hóa hay Toán", An nói. Khi An lựa chọn tạm dừng việc thi học sinh giỏi và tham gia các cuộc thi Toán học, Hóa học, nhiều người bảo phí. Riêng em hiểu rằng nếu tiếp tục học sâu, luyện thi, em có thể đạt thêm thành tích. Con đường này an toàn nhưng không còn mới mẻ và hấp dẫn An như trước. "Sau này em vẫn theo Hóa chuyên sâu nhưng nghĩ rằng trải nghiệm tham gia và đoạt giải học sinh giỏi quốc gia một lần là đủ. Em muốn học nhiều thứ hơn nữa", An chia sẻ. Hiện, nam sinh dành thời gian rảnh để chơi đàn, sáng tác. Em học piano từ năm lớp 7, từng giành giải nhất quốc tế sáng tác nhạc Piano lần thứ 32. Sau đó, An học thêm guitar và đàn tranh, tự sáng tác nhiều ca khúc. Ngoài ra, là thành viên câu lạc bộ sáng tác văn học, em cũng thường xuyên làm thơ, viết tản văn. Chủ đề yêu thích của Hải An là nghệ thuật và các trường phái nên bên cạnh việc sáng tác, em cũng thích đọc tài liệu viết về lĩnh vực này. Ngoài ra, Hải An còn dành thời gian cho nhiều dự án ngoại khóa. Với tư cách đồng sáng lập, An và cộng sự đang duy trì dự án SOFT.D (Việc làm bền vững cho người khuyết tật). Xuất phát từ ý tưởng trong lần tham gia trại hè của An và bạn bè, SOFT.D được tạo ra với mong muốn đem lại cuộc sống bền vững và hạnh phúc hơn cho người khuyết tật. Năm ngoái, nhóm đã tổ chức thành công sự kiện cho các trẻ em điếc ở trường Phổ thông cơ sở Xã Đàn, quận Đống Đa và đang khởi động cho những hoạt động quy mô hơn. Chàng trai sinh năm 2004 cũng là thành viên năng nổ của High School Help Kit (HSHK), dự án hỗ trợ học sinh cấp hai trong giai đoạn chuyển cấp. Thời gian này khi Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cùng hàng loạt trường chuyên thuộc đại học tổ chức thi tuyển vào lớp 10, An cùng đội ngũ HSHK sẽ tư vấn, hướng dẫn các em khóa dưới làm bài tập và giải đề thi. "Quãng thời gian tham gia các dự án đã thay đổi cuộc sống của em, dạy em cách làm việc chuyên nghiệp và trang bị thêm nhiều kỹ năng mềm", An nói. Sau khi trở thành Á quân cuộc thi Chinh phục năm 2018, An muốn trở thành thí sinh của chương trình Đường lên đỉnh Olympia và nghĩ mình có thể tiến sâu. Từ khi nộp đơn đăng ký đến lúc ghi hình, An không chủ động ôn tập hay thi thử. Em giữ thói quen đọc sách hàng ngày, tìm hiểu thêm kiến thức mới vì hiểu rằng "mình không nên chỉ ôn vì Olympia mà nên đọc vì bản thân thấy cần thiết". Ngay từ vòng thi tuần, nam sinh đã thiết lập hai kỷ lục của chương trình khi giành nhiều điểm nhất phần thi Khởi động (150), đạt tổng điểm cao nhất Olympia năm thứ 21 (410). Trận đấu hôm đó, Hải An gây ấn tượng khi trả lời đúng 15/17 câu trong một phút. Em cho biết, tốc độ đọc phụ thuộc dòng suy nghĩ ở từng lĩnh vực. Chẳng hạn, với thơ, truyện hay các sách triết học, nam sinh sẽ đọc chậm và đẩy tốc độ khi tiếp cận thông tin cô đọng và dễ hiểu hơn. Trong ba trận đấu, Hải An ấn tượng với câu hỏi về bài thơ "Xuân không mùa" của Xuân Diệu. Dù không hề biết tác phẩm này, em vẫn suy luận và điền đúng bốn mùa xuân, hạ, thu, đông vào các câu thơ theo yêu cầu của chương trình. Nhờ việc giành điểm từ câu hỏi này, An mới trở thành thí sinh có điểm nhì cao nhất và góp mặt trong trận thi quý, từ đó giành vé đến chung kết năm. Chia sẻ khoảnh khắc kịch tính của vòng thi quý, chàng trai Hà Nội kể, khi Tấn An, thí sinh cuối cùng bước vào phần Về đích chọn gói câu hỏi, Hải An đang kém người dẫn đầu 15 điểm. Em hy vọng bạn chọn câu hỏi có số điểm lớn, tuy nhiên Tấn An chọn ba câu 10 điểm và bị thí sinh khác lấy điểm ngay câu đầu. Hai câu hỏi cuối trong phần thi của Tấn An hỏi về biệt đội tàu ngầm tấn công hiện đại của Hải quân Việt Nam và hợp kim chế tạo máy bay, tàu vũ trụ. Khi Tấn An đưa ra đáp án sai, Hải An nhanh chóng bấm chuông xin trả lời và giành chiến thắng sát sao, lách qua cánh cửa hẹp để góp mặt trong trận chung kết năm. Cô Nguyễn Thị Thanh Quyên, giáo viên chủ nhiệm của Hải An, đã ngồi dưới ghế khán giả theo dõi em thi đấu suốt ba trận. Cô đánh giá An học toàn diện, am hiểu mọi lĩnh vực. Mỗi khi quyết định làm gì, em đều dành tâm sức, kiên trì quyết tâm theo đuổi đến cùng, điều đó khiến em mang màu sắc khác biệt với những cá nhân ưu tú khác ở trường chuyên Khoa học Tự nhiên. Khi cho điểm Hải An, ngoài điểm 9-10, giáo viên luôn ghi vào sổ điểm những lời ngợi khen. "Đã lâu lắm rồi tôi mới gặp một học sinh như vậy", cô giáo bày tỏ. Là giáo viên dạy Văn, cô Quyên ấn tượng với cậu học trò chuyên Hóa nhưng học Văn rất tốt, giàu cảm xúc và sống nhân văn. Hải An từng đại diện học sinh toàn trường gửi lời chúc mừng tới các thầy cô dịp Tết Nguyên đán và với cô Quyên, đó là bài phát biểu năm mới hay nhất. "An có khả năng theo đuổi nhiều lĩnh vực, nếu theo được Hóa thì rất tốt. Tôi nghĩ sau này, em nhất định trở thành một trí thức với vốn kiến thức cực kỳ sâu rộng", cô giáo chia sẻ. Mùa hè này, Hải An sẽ dành thời gian để ôn thi IELTS, hoàn thiện hồ sơ du học và các dự án cá nhân. Để chuẩn bị tốt cho trận chung kết Olympia vào tháng 9, Hải An nghĩ mình cần cải thiện tính chính xác trong phần Vượt chướng ngại vật và tốc độ ở phần Tăng tốc để tận dụng cơ hội gia tăng điểm số. Ngoài ra, em sẽ lên danh mục những chủ đề cần học để ôn tập một cách có hệ thống hơn. "Vào đến vòng cuối cùng, em chắc chắn làm hết sức để không tiếc nuối điều gì và cũng để hành trình của mình tại Olympia khép lại một cách trọn vẹn", An nói.

 

Chủ tịch nước biểu dương các cơ quan báo chí trong phòng, chống dịch Covid-19

Nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2021), đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đã trả lời phỏng vấn báo chí, biểu dương các cơ quan báo chí, các nhà báo tham gia phòng, chống dịch (PCD) Covid-19.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, từ khi đại dịch Covid-19 xảy ra, qua báo chí, các bản tin truyền hình và phát thanh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đồng bào, đồng chí cả nước đều thấy rõ vai trò rất quan trọng, không thể thiếu của báo chí trên "mặt trận PCD Covid-19". Các đồng chí phóng viên của nhiều cơ quan báo chí không những chuyển tải chính xác, nhanh chóng, kịp thời các chỉ đạo, quyết sách của Đảng, Nhà nước về PCD mà còn chấp nhận rủi ro về mình để có mặt tại những nơi là tuyến đầu chống dịch ở biên giới, các khu cách ly y tế và ở những nơi là tâm dịch như: Đà Nẵng, Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh, TP Hồ Chí Minh... để phản ánh kịp thời tình hình dịch bệnh.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, các nhà báo đã nỗ lực hết mình, không quản ngại khó khăn, vất vả sát cánh, chung tay cùng các lực lượng PCD để bảo vệ sức khỏe và tính mạng nhân dân. Các tin tức, phóng sự đã góp phần động viên, cổ vũ cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân ở các vùng dịch đoàn kết, quyết tâm thực hiện nghiêm các biện pháp phòng dịch, đồng thời tin tưởng vào việc đẩy lùi dịch bệnh, sớm khôi phục sản xuất, kinh doanh.

Nhân dịp Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhiệt liệt biểu dương và đánh giá cao cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí trong cả nước trong thời gian qua. "Chính các đồng chí đã góp phần tô thắm thêm truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện", Chủ tịch nước nhấn mạnh.Chủ tịch nước khẳng định, trong những điều kiện khó khăn do tình hình dịch Covid-19 tăng nhanh, diễn biến phức tạp, các phóng viên của nhiều cơ quan báo chí vẫn làm sáng lên niềm tin sắt son, tinh thần đoàn kết, đồng lòng ủng hộ của người dân cả nước, đồng hành cùng cả hệ thống chính trị chống dịch. Đã có biết bao câu chuyện và hình ảnh cảm động trên các trang báo và bản tin về các cụ già, em nhỏ đóng góp những đồng tiền tiết kiệm ít ỏi, các nhà doanh nghiệp ủng hộ hàng tỷ đồng để cùng Đảng, Nhà nước PCD. Chính những câu chuyện này đã góp phần củng cố sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nguồn lực quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Sứ mệnh của những người làm báo đầy tự hào, vẻ vang nhưng cũng vô cùng gian nan, vất vả

 

Chiều 20-6, tại trụ sở Chính phủ, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã gặp mặt các cơ quan báo chí nhân kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2021).

Cùng dự buổi gặp mặt có đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; các Phó thủ tướng: Lê Minh Khái, Vũ Đức Đam, Lê Văn Thành; lãnh đạo một số bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa và lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng của báo chí đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước, nhất là trong những thời điểm đất nước có những sự kiện lớn hoặc những vấn đề cần tập trung xử lý, góp phần giành thắng lợi cuối cùng như: Công cuộc đổi mới đất nước; Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; phòng, chống dịch Covid-19; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Sứ mệnh của những người làm báo đầy tự hào, vẻ vang nhưng cũng vô cùng gian nan, vất vả
Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu tại buổi gặp mặt. Ảnh: Đoàn Bắc. 

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần, lời cảm ơn chân thành và lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến tất cả các nhà báo lão thành, các phóng viên, biên tập viên, cán bộ, người lao động đang làm việc trong các cơ quan báo chí của Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Thủ tướng khẳng định, lịch sử của nền báo chí cách mạng Việt Nam luôn gắn với sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Thủ tướng ôn lại những đóng góp, hy sinh của đội ngũ những người làm báo Việt Nam trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đồng thời bày tỏ lòng tri ân đối với các thế hệ nhà báo đã cống hiến hết mình vì đất nước, vì sự nghiệp của Đảng, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân.

Thủ tướng khẳng định, thời kỳ nào cũng vậy, các nhà báo luôn là những chiến sĩ dũng cảm trên tất cả các mặt trận: Từ trong thiên tai, bão lũ, những điểm nóng ở mọi nơi, mọi lúc và đặc biệt trong thời gian gần đây là những chiến sĩ báo chí giữa tâm dịch Covid-19... để thông tin kịp thời, chính xác tình hình đến công chúng. Báo chí cách mạng Việt Nam đã góp phần quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Thủ tướng cho biết, hiện nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang nỗ lực phấn đấu hết mình, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Báo chí cách mạng Việt Nam thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng, có vai trò, vị trí quan trọng trên mặt trận tư tưởng, là cầu nối truyền tải thông tin giữa Chính phủ và nhân dân, lan tỏa, truyền cảm hứng, tạo động lực với phương châm “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu” để góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Các nhà báo là chiến sĩ với ngòi bút, trí tuệ sắc bén truyền tải chủ trương, định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới công chúng một cách chính xác, kịp thời và hiệu quả.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Sứ mệnh của những người làm báo đầy tự hào, vẻ vang nhưng cũng vô cùng gian nan, vất vả
Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng các nhà báo đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp báo chí. Ảnh: TTXVN. 

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, trong thời gian tới, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, nước ta còn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu. Đảng và Nhà nước đang quyết tâm để ngăn chặn đại dịch, trong đó chú trọng chiến lược vaccine để tiêm miễn phí đến toàn dân hằng năm, tạo miễn dịch cộng đồng để sớm phục hồi kinh tế và đưa cuộc sống trở lại bình thường. Chính phủ sẽ thường xuyên, đánh giá, dự báo tình hình trong nước và quốc tế để xây dựng, triển khai kịch bản phát triển kinh tế-xã hội phù hợp, hiệu quả. Thủ tướng mong muốn nhận được sự đồng hành, chia sẻ và hành động của các cơ quan báo chí trên cơ sở phát huy truyền thống “bút sắt, lòng trong, tâm sáng” để cùng với Đảng, Nhà nước thực hiện được mục tiêu chung.

Thủ tướng khẳng định, Chính phủ luôn lắng nghe, thấu hiểu, chia sẻ với những khó khăn, thách thức, đánh giá cao và có giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các cơ quan báo chí, các nhà báo bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật trong phạm vi, quyền hạn của Chính phủ. Chính phủ mong muốn nhận được sự ủng hộ, góp ý của các nhà báo để xây dựng Chính phủ liêm chính, hành động quyết liệt, hiệu quả, hiểu dân và gần dân, tất cả vì lợi ích của quốc gia, vì dân tộc, lợi ích của nhân dân. Những kiến nghị, đề xuất của các cơ quan báo chí là chính đáng, xuất phát từ thực tiễn, Chính phủ ghi nhận và sẽ xem xét để đưa ra các quyết định cụ thể.

Nguồn: QĐND.

Thẩm phán lập khống 57 vụ án để được tái bổ nhiệm

ĐĂK NÔNGĐể đủ điều kiện tái bổ nhiệm, thẩm phán Bùi Thị Dung, TAND huyện Đăk Song, đã lập khống hồ sơ 57 vụ án dân sự rồi xin xét xử nhằm giảm tỷ lệ án bị huỷ. Thông tin được ông Lê Đức Thọ, Chánh án TAND tỉnh Đăk Nông, cho biết tại buổi họp báo thường kỳ của UBND tỉnh, ngày 17/6. Bùi Thị Dung được bổ nhiệm thẩm phán TAND huyện Đăk Song nhiệm kỳ 2012-2017. Đầu năm 2016, bà này nhận thấy trong nhiệm kỳ có tỷ lệ án bị hủy cao hơn quy định (1,16%), tỷ lệ xét xử thấp, sẽ gây bất lợi khi xem xét tái bổ nhiệm. Do vậy, bà Dung đã làm khống 57 đơn kiện (không có bị đơn, không có tranh chấp trên thực tế) rồi tự mình, hoặc nhờ người quen nộp cho toà. Nữ thẩm phán tự bỏ tiền để đóng tạm ứng án phí. Sau đó, bà Dung xin lãnh đạo toà được xét xử nhiều án trong thời gian này để tăng tỷ lệ xét xử, giảm tỷ lệ án hủy, nhằm đủ điều kiện tái bổ nhiệm. Các hồ sơ khống trên đã được TAND huyện Đăk Song thụ lý, sau đó giao cho bà Dung và một số thẩm phán, thư ký giải quyết theo hướng đình chỉ "do đương sự rút đơn khởi kiện". Khi sự việc bị phát hiện, Chánh án TAND tỉnh Đăk Nông đã hủy kết quả thi đua đối với TAND huyện Đăk Song, danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở và hạ mức đánh giá cán bộ công chức đối với ông Phạm Văn Phiếm (Chánh án TAND huyện Đăk Song). Một năm sau, bà Dung bị cho thôi việc. Tháng 10/2020, ông Phạm Văn Phiếm được điều động về làm Chánh án TAND huyện Tuy Đức; Phó chánh án Nguyễn Thị Hải Âu về làm Phó chánh án TAND huyện Krông Nô; thẩm phán sơ cấp Nguyễn Xuân Triệu về làm ở TAND huyện Tuy Đức. Uỷ ban kiểm tra Tỉnh uỷ Đăk Nông mới đây đã ra quyết định kỷ luật khiển trách đối với 3 người này.

Giấu ma tuý trong dạ dày lợn, gắn định vị

HÀ NỘIHuang Yen Sheng, nghi phạm cầm đầu người Đài Loan, chia nhỏ ma tuý nhét vào dạ dày lợn cấp đông sau đó gắn thiết bị định vị để vận chuyển ra nước ngoài tiêu thụ. Ngày 17/6, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Bộ Công an (C04) cho biết nghi phạm này cùng 4 người đã bị bắt, tang vật thu 270 kg ketamin và 540 kg ma túy tổng hợp. Huang Yen Sheng sống ở TP HCM, cầm đầu đường dây vận chuyển ma tuý từ Campuchia về TP HCM sau đó đưa sang nước thứ ba tiêu thụ. Khoảng 20h ngày 19/5, ban chuyên án bắt quả tang một ôtô chở ba thùng mỳ tôm chứa 10 kg ma tuý ketamin ở quận Bình Tân. Ngay sau đó, cảnh sát bắt hai người Đài Loan đang chuẩn bị nhận hàng. Từ manh mối này, các trinh sát khám xét xưởng 300 m2 tại xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội do Huang Yen Sheng thuê làm kho đông lạnh. Tại đây, cảnh sát phát hiện 90 kg ma tuý được chia nhỏ, nhét vào 900 dạ dày lợn sau đó ép chân không. Trong mỗi chiếc dạ dày còn giấu thêm khoảng 100 g ketamin. Nghi phạm gắn thiết bị định vị vào lô hàng để theo dõi quá trình vận chuyển sang Trung Quốc. Khám kho hàng của một công ty vận chuyển tại ấp 3, xã Tân Kiên, quận Bình Chánh, TP HCM, nhà chức trách thu thêm 150 kg ma tuý trong 5 máy mô tơ điện, mỗi mô tơ nặng một tấn. Lô hàng đang chuẩn bị được chuyển ra Hà Nội tập kết. Tại quận Long Biên, Hà Nội, C04 khám xét căn nhà do Huang Yen Sheng thuê đã thu 5 bộ định vị do nghi phạm này đang điều khiển. "Nhóm này khai từ đầu năm đến nay đã vận chuyển trái phép 5 chuyến hàng. Ông chủ của đường dây hiện ở Campuchia và Trung Quốc, C04 đang phối hợp với cảnh sát nước bạn để lập chuyên án để triệt phá", lãnh đạo C04 nói.

Tiếp viên múa thoát y trong quán karaoke chui

ĐỒNG NAIẬp vào karaoke Thu Hằng ở TP Biên Hoà, cảnh sát phát hiện hơn 20 khách đang hát, nhảy cùng 2 nữ tiếp viên khỏa thân. Sau nhiều ngày theo dõi, các trinh sát hình sự Công an TP Biên Hòa ập vào quán karaoke Thu Hằng ở phường Tân Phong, tối 19/6. Làm việc với lực lượng chức năng, các nữ nhân viên cho biết được chủ quán đồng ý lôi kéo, phục vụ khách bằng màn múa thoát y, nhận tiền "bo" từ 500.000 đồng đến một triệu đồng mỗi lần. Quán karaoke và những người liên quan đã bị lâp hồ sơ xử lý do vi phạm các quy định về phòng chống dịch bệnh và các vi phạm khác. Đồng Nai vừa ghi nhận 2 ca Covid-19 tại TP Long Khánh và huyện Vĩnh Cửu sau 45 ngày không phát hiện ca lây nhiễm cộng đồng. Trước đó, tỉnh đã giãn cách xã hội, cấm các dịch vụ không cần thiết như bar, vũ trường, karaoke... hoạt động để phòng chống dịch bệnh.