Chủ Nhật, 20 tháng 6, 2021

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của quân đội ta.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; luôn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Dân tộc Việt Nam, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã sản sinh ra Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Đảng Cộng sản Việt Nam là người sáng lập, tổ chức và lãnh đạo quân đội; quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng; sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của quân đội, chân lý này đã được lịch sử cách mạng Việt Nam và sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội ta gần 70 năm qua chứng minh. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân khi mới ra đời đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nhân dân và dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực chất là nhằm đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Mục tiêu, lý tưởng ấy cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội ta. Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vai trò là lực lượng nòng cốt cùng với toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đây chính là sự biểu hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội ta, một tổ chức quân sự kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện. Mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam được thể hiện rất sâu sắc trong bản chất chính trị-xã hội của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Đưa ra luận điểm “quân đội chỉ tuân theo pháp luật,” “quân đội phải trung lập đứng ngoài chính trị,” thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; những người đưa ra các quan điểm này cố tình làm cái việc “tách” vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc trong bản chất, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội ta. Đó là quan điểm vừa phản khoa học vừa phi lịch sử; thực chất của quan điểm này nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt nam; tách quân đội, ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, đồng nhất chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam với chính trị của quân đội tư sản. Không thể tách vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc trong bản chất cách mạng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, cũng như chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội ta là quân đội của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục.” Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng quân đội về chính trị, coi đó là gốc, rễ, nền tảng để xây dựng quân đội ta vững mạnh về mọi mặt; nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, bởi lẽ, “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại.” Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng quân đội về chính trị; lấy xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nhờ vậy, quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.

Không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội

Lịch sử ra đời, phát triển của xã hội loài người từ khi xuất hiện nhà nước cho thấy, bất kỳ giai cấp, đảng phái nào khi nắm quyền lãnh đạo đất nước cũng đều tổ chức ra quân đội để bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế của mình và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia. Bởi thế, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, trung lập, đứng ngoài chính trị. V.I.Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(1) Trong xã hội hiện đại, mỗi quốc gia đều có một hay đa đảng lãnh đạo và quân đội của quốc gia đó luôn gắn và phục tùng sự lãnh đạo của đảng chính trị cầm quyền. Vì thế, luận điệu đòi "phi chính trị hóa” quân đội là sự xuyên tạc, bịa đặt, hòng mưu đồ chính trị. Quan điểm quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc là phi lý và chưa bao giờ thực tiễn xác nhận. Những gì đã trải qua trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ nước nào, trong quá trình xuất hiện và trưởng thành, cũng luôn là một lực lượng chính trị quan trọng được nhà nước, giai cấp cầm quyền quan tâm lãnh đạo, xây dựng. Lịch sử đã để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cảnh tỉnh cho những ai còn mơ hồ trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch về bản chất của quân đội và xa rời, coi nhẹ sự lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với quân đội. Điển hình là vào những năm 80 của thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản (ĐCS) Liên Xô do mắc bẫy của chiến lược “Diễn biến hòa bình” đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lê-nin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội và hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Hồng quân. Vì thế, đã làm cho Quân đội Liên Xô lúc bấy giờ bị “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa, dẫn đến phân rã về tư tưởng và tổ chức. Mặc dù lúc đó, lực lượng quân đội mạnh với khoảng 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị "phi chính trị hóa”, mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu không bảo vệ Đảng Cộng sản. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho chế độ ở Liên Xô sụp đổ; và tương tự như vậy là các nước Đông Âu. Hiện nay, với kinh nghiệm đó và được bổ sung từ thực tiễn ở một số nước Bắc Phi-Trung Đông vừa qua, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, hòng xóa bỏ những nước XHCN còn lại và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Để thực hiện tham vọng đó, chúng xác định Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là mục tiêu tập trung chống phá; trước mắt là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” quân đội, làm rệu rã tinh thần, mất sức chiến đấu, tiến tới vô hiệu hóa lực lượng trung thành, chủ lực, nòng cốt bảo vệ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam. Chúng lý sự rằng, quân đội là một tổ chức quân sự, công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, được tổ chức ra để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì thế, quân đội trung lập về chính trị, đứng ngoài những biến động chính trị-xã hội, không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào. Với lập luận đó, chúng ra sức phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê-nin; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với QĐND Việt Nam. Chúng còn đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, cùng hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị trong quân đội; xuyên tạc truyền thống, bản chất Bộ đội Cụ Hồ, đoàn kết quân-dân, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội,... Càng gần đến Ngày thành lập quân đội, sự chống phá của các thế lực thù địch lại càng gia tăng, với nhiều thủ đoạn nguy hiểm và thâm độc. Chúng tuyên truyền, phủ nhận chiến thắng của quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng qua những giai đoạn cách mạng; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị, hòng làm mất uy tín của quân đội,… Tất cả những điều đó không có gì khác ngoài mục đích là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam, làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị, suy giảm về sức mạnh chiến đấu; Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mất chỗ dựa vững chắc. Tiếp thu học thuyết Mác - Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng QĐND Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước Việt Nam XHCN, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc, vì CNXH. Ngày 22-12-1944, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”. Đây chính là nền tảng tư tưởng, phương châm hành động để Đảng ta xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong suốt 70 năm qua. Ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cơ sở chính trị-xã hội của Quân đội ta là đường lối của Đảng, phong trào cách mạng của nhân dân. Quân đội được xây dựng trên nền tảng vũ trang toàn dân và làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực sự là quân đội cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Bản chất của quân đội là sự thống nhất hữu cơ giữa tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc, được biểu hiện sinh động ở lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị-xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ. Lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng cao đẹp không chỉ mang tính cách mạng, khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử. Đồng thời, thể hiện tình cảm sâu nặng, trách nhiệm chính trị, đạo đức cao cả của quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Cần khẳng định, chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta mới có đường hướng phát triển đúng đắn, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Đảng thực hiện sự lãnh đạo quân đội thông qua hệ thống tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở. Nhà nước thống nhất quản lý quân đội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức Đảng trong quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội ta đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Lịch sử 70 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định để quân đội hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, luôn đồng hành cùng dân tộc vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối. Hiện nay, quân đội đang là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Trên chặng đường đó, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức xuất phát từ sự chống phá của các thế lực thù địch, mà trọng điểm là đòi “phi chính trị hóa” LLVT nhân dân, nhất là QĐND. Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đó của các thế lực thù địch, phải tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch, nhân tố quyết định bảo đảm cho Quân đội ta luôn trưởng thành và chiến thắng. Phải tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, làm tròn sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng quân đội, tăng cường quốc phòng trong thời kỳ mới. Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam khẳng định vai trò lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng đối với quân đội. Đó là điều không thể phủ nhận. Các thế lực thù địch dù có mưu mô, xảo quyệt đến đâu cũng không thể bác bỏ được.

Kiên quyết đẩy lùi những thông tin bất lợi cho đất nước

Không chỉ lợi dụng những lúc đất nước khó khăn để tìm cách đưa tin theo kiểu "té nước theo mưa", “giậu đổ bìm leo”, mà vào những dịp nước ta tổ chức các sự kiện lịch sử lớn, các trang mạng “ngoài lề” cũng cố tình “lôi ra, lục lại, tái diễn” những quan điểm lạc hậu, những chiêu trò cũ rích. Thời gian qua, các trang mạng hải ngoại và một số trang mạng trong nước có máy chủ ở nước ngoài vẫn ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo trá, nham hiểm. Tỉnh táo trước “ma trận thông tin” thật-giả lẫn lộn Có một điểm chung dễ nhận thấy là, khi nước ta có vụ việc tiêu cực nổi cộm nào đó được đưa ra ánh sáng công luận, thì y như rằng, những trang mạng này đều nhất loạt “hô ứng” với những thông tin “phân tích, mổ xẻ, bình luận” mang nặng tính chủ quan, suy diễn, võ đoán theo kiểu bé xé thành to, ít xít ra nhiều, đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất. Chẳng hạn, họ coi một số ít tập đoàn kinh doanh chưa hiệu quả, thua lỗ "Sẽ dẫn tới sự sụp đổ của mô hình kinh tế nhà nước là không tránh khỏi”(!). Họ nhận định việc khởi tố, xét xử một vài vụ án ngân hàng là “Dấu hiệu của sự đổ vỡ của cả hệ thống ngân hàng trong một tương lai gần”(!). Họ lấy mấy vụ khiếu nại, tố cáo đông người liên quan đến đất đai ở một vài địa phương để khẳng định “Do chế độ sở hữu đất đai chỉ mang lại lợi ích cho quan chức, doanh nghiệp nên người nông dân mất đất mới phải vùng lên đấu tranh đòi quyền lợi như vậy”(!). Hay gần đây, có cán bộ cấp cao về hưu thiếu gương mẫu trong thực hiện chính sách nhà đất và đã được cơ quan chức năng xem xét, kết luận cụ thể, rõ ràng và người vi phạm cũng đã trả lại những căn nhà, thửa đất được cấp vượt tiêu chuẩn, nhưng họ lại suy diễn rằng “Có tình trạng đó chẳng qua là bắt nguồn từ chính sách đặc quyền, đặc lợi của chế độ độc đảng”(!)… Rõ ràng, những kiểu “nhận định, bình luận” nêu trên xuất phát từ thái độ rất thiếu thiện chí, áp đặt chủ quan, nếu không muốn nói là hồ đồ, hằn học. Một điểm đáng lưu ý nữa là, bên ngoài thì tỏ vẻ đứng trên lập trường khách quan, sốt sắng "lo lắng cho vận mệnh dân tộc, tương lai đất nước”, nhưng thực chất các “nhà dân chủ”, “nhà báo đấu tranh cho tự do”, "blogger yêu chuộng công lý”, các “nhà đài, nhà mạng” ở hải ngoại lại cố tình thông tin, tuyên truyền theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen”. Bằng cách thông tin này, họ cố ý làm cho ranh giới tốt-xấu, thật -giả, đúng-sai, phải-trái lẫn lộn vào nhau, nhằm gây nhiễu nội dung thông tin, đánh lạc hướng dư luận xã hội, đưa công chúng lạc vào một “ma trận thông tin” rối ren, phức tạp. Đây là một kiểu “cài bẫy thông tin” rất tinh vi, nham hiểm, nếu ai thiếu bản lĩnh, thiếu hiểu biết và không tỉnh táo, mơ hồ, mất cảnh giác thì rất dễ bị “sập bẫy”. Khi ấy mưu đồ, dụng ý xấu của họ đã phần nào được hiện thực hóa.

Lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động sẽ là vũ khí quyết định

Cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là cuộc đấu tranh lâu dài, không khoan nhượng, rất cam go, quyết liệt, mang tính sống còn. Dã tâm và bản chất của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch không thay đổi, song ở mỗi giai đoạn, thì thủ đoạn, phương tiện, công cụ… chống phá được chúng biến đổi hết sức tinh vi.

Đặc biệt, trong kỷ nguyên số hiện nay, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Các thế lực thù địch lợi dụng triệt để những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội, trên môi trường mạng, như đặc điểm về cơ chế đa giao tiếp và liên kết vô hướng; môi trường tự do thông tin (tính mở) và thông tin khó kiểm soát, tính nặc danh và tính đa dạng của người dùng; s đồng đẳng giữa nguồn phát (source) và người nhận (receiver); khả năng số hóa thông tin, tính đa phương tiện và đa tiện ích…, biến thành công cụ đắc lực chống phá ta, tấn công trực tiếp vào những vấn đề mang tính nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất thuộc hệ tư tưởng, lý luận của Đảng ta.

Những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch gieo rắc, phát tán trên các nền tảng truyền thông ít nhiều đã gây phân rã tư tưởng, bất đồng thuận trong nội bộ Đảng, trong xã hội, xuất hiện những tư tưởng, quan điểm đánh giá trái chiều, phê phán, công kích đường lối, quan điểm của Đảng; làm trầm trọng thêm tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, khiến không ít tổ chức đảng, đảng viên mất sức chiến đấu; gây mất ổn định về chính trị - xã hội, châm ngòi cho các cuộc biểu tình, đình công, thậm chí bạo động hết sức phức tạp; làm “nhiễu” hệ thống thông tin, giảm uy tín, vai trò định hướng của các cơ quan báo chí chính thống…

Thực tiễn, Tư tưởng lý luận của chủ nghĩa xã hội ngay từ khi ra đời đã phải đương đầu với sự phê phán, bôi nhọ, xuyên tạc, bài bác, phủ nhận dưới nhiều hình thức khác nhau, với mọi màu sắc của các lực lượng, các trào lưu tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa. Là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nên lĩnh vực tư tưởng, lý luận luôn là mũi nhọn tấn công, chống phá chủ đạo của các thế lực thù địch. Do đó, việc giữ vững trận địa tư tưởng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngăn chặn các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa trong lòng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thuyết phục bằng lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động từ thành quả của công cuộc đổi mới, có vai trò quyết định sự thắng lợi trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Mai Năm Mới

Kiên quyết đẩy lùi những thông tin bất lợi, độc hại

Không chỉ lợi dụng những lúc đất nước khó khăn để tìm cách đưa tin theo kiểu "té nước theo mưa", “giậu đổ bìm leo”, mà vào những dịp nước ta tổ chức các sự kiện lịch sử lớn, các trang mạng “ngoài lề” cũng cố tình “lôi ra, lục lại, tái diễn” những quan điểm lạc hậu, những chiêu trò cũ rích. Khi đến dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2, những thông tin lệch lạc về Đảng ta lại xuất hiện nhan nhan, kiểu như “Chế độ độc đảng cộng sản lãnh đạo là đi ngược thời đại, làm cho nhân dân lầm than, đau khổ”, “Chế độ độc đảng toàn trị khiến đất nước ngày càng tụt hậu”(!)... Đến ngày Chiến thắng 30-4 lại tái hiện thông tin: “Đó là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn”(!). Kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại có bài “nhận định” về tư tưởng Hồ Chí Minh là không hợp thời, là đối lập với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin(!). Hay mới đây, Quân đội ta vừa tưng bừng kỷ niệm 70 năm thành lập trong sự hân hoan của toàn Đảng, toàn dân và sự khâm phục của nhiều bạn bè thế giới, thì vẫn có những thông tin lạc lõng, kiểu như “Quân đội nhân dân Việt Nam phải đứng trung lập, đứng ngoài tầm kiểm soát của Đảng Cộng sản thì mới đúng nghĩa là quân đội của nhân dân”(!)…". Tất nhiên, những thông tin sai trái đó khó có thể “lòe” được đông đảo người dân Việt Nam, nhưng rõ ràng, họ vẫn cố tình “nhai đi, nhai lại” nhiều lần hòng mưu đồ: “Nếu không đánh đổ được thế hệ cộng sản ông cha bằng súng đạn, thì phải dần dần làm “đổi màu” thế hệ cộng sản con cháu bằng những thông tin “mưa dầm thấm lâu” độc hại như vậy”! Cần phải nhắc lại một điều không mới, nhưng luôn có ý nghĩa thời sự: Một trong những âm mưu mà các thế lực thù địch kiên trì theo đuổi là triệt để lợi dụng tính hai mặt của thời đại “thế giới phẳng” để tiến công phá hoại nền tảng tư tưởng-văn hóa của nước ta. Với phương châm “Đầu tư 1USD cho mặt trận tư tưởng-văn hóa hiệu quả hơn đầu tư 10USD cho mặt trận quân sự”, những năm qua, họ đã tiêu tốn hàng triệu USD vào việc xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật và đào tạo nhân lực để hình thành “đế quốc thông tin” chĩa thẳng vào Việt Nam nhằm làm chuyển biến hệ tư tưởng, thay đổi hệ giá trị văn hóa, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta. Theo thống kê của cơ quan chức năng, hiện có 62 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, 390 báo, tạp chí, 88 nhà xuất bản và 397 trang web, blog, mạng xã hội có máy chủ ở nước ngoài thường xuyên “nuôi dưỡng” nguồn tin và cung cấp, đăng tải những thông tin thiếu thiện chí, bất lợi cho Việt Nam. Hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, những tờ báo, chương trình phát thanh, trang web, blog, mạng xã hội đó dù “bao bọc” với đủ cái tên “thiện chí, mỹ miều”, hay ra vẻ “trung lập, khách quan” thì cũng có chung một ý đồ là ra sức “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nhằm xuyên tạc tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa của nước ta, nói xấu chế độ, bôi nhọ Đảng ta; đồng thời cổ xúy lối sống cá nhân vị kỷ và huyễn hoặc, lôi kéo thế hệ trẻ đi tìm “chân trời mới” bằng những viễn cảnh ảo tưởng, xa thực tế. Trước những thông tin bất lợi, độc hại nhằm vào nước ta ngày càng nhiều, với tần suất lớn và mật độ dày, tại hội nghị tổng kết công tác năm 2014 và triển khai nhiệm vụ năm 2015 của ngành thông tin và truyền thông vừa diễn ra mới đây, một đồng chí lãnh đạo Chính phủ khẳng định: Năm 2015, nước ta sẽ tổ chức kỷ niệm nhiều sự kiện lịch sử trọng đại và tổ chức đại hội Đảng các cấp. Do vậy, càng gần đến các sự kiện lớn cần phải chú trọng đấu tranh, phản bác và làm thất bại những thông tin không đúng sự thật, thông tin bất lợi, gây chia rẽ, nhụt chí trong nhân dân. Để thực hiện tốt công việc này, ngoài việc chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, tin cậy để định hướng dư luận nhân dân, các cơ quan chức năng cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ biết tiếp nhận những thông tin đúng đắn, lành mạnh, bổ ích. Phải làm sao cho mọi người dân có một “bộ lọc văn hóa” để biết tiếp cận, tìm kiếm, thưởng thức những thông tin chuẩn mực, nhân văn, đồng thời đủ “sức đề kháng” ngăn ngừa, phòng tránh và không bị sa đà vào những thông tin sai trái, bất lợi, độc hại. Bên cạnh đó, cần ra sức khuyến cáo, cảnh tỉnh, cảnh báo cho công chúng những trang tin điện tử, mạng xã hội, blog… chủ ý cung cấp những thông tin tạp nham, vô bổ, trái quan điểm đường lối của Đảng và gây phương hại đến ổn định an ninh tư tưởng, an ninh chính trị quốc gia. Đối với những trang mạng, blog cố tình sai phạm, được nhắc nhở nhiều lần mà không chuyển biến, không cầu thị vì lợi ích quốc gia, dân tộc, thì phải kiên quyết “đóng cửa” để góp phần làm trong sạch, lành mạnh môi trường thông tin ở nước ta./.

Phần thưởng cho những người làm báo

Đầu tháng 3/2020, sau khi dịch bệnh ở Việt Nam diễn biến phức tạp với việc phát hiện một số ca mắc COVID-19 trong cộng đồng là hành khách trên một chuyến bay từ Vương quốc Anh về Việt Nam, thì đó cũng là lúc chúng tôi, những phóng viên thường trú của TTXVN tại London, Vương quốc Anh cảm thấy lo lắng và nhận ra rằng nguy cơ nhiễm bệnh đang hiện hữu ngay trước mắt. Công dân Việt Nam xếp hàng chờ làm thủ tục lên máy bay của Vietnam Airlines tại sân bay Heathrow, London, Vương quốc Anh, ngày 3/6/2020. Trong số các bệnh nhân đi trên chuyến bay đó có thành viên đoàn công tác Việt Nam vừa có chuyến làm việc, trao đổi và học tập kinh nghiệm về xây dựng chính sách, chiến lược phát triển quốc gia tại Vương quốc Anh. Trong suốt 4 ngày đoàn công tác làm việc ở Vương quốc Anh, các phóng viên CQTT chúng tôi đã luôn bám sát để có thể kịp thời gửi về nhà những thông tin, hình ảnh về hoạt động của đoàn. Sự lo lắng của chúng tôi tiếp tục gia tăng trong những ngày sau đó khi hai phóng viên tham gia tác nghiệp cùng đoàn công tác đã xuất hiện một số triệu chứng của COVID-19 như mệt mỏi, ngấy sốt, ngứa họng và kho khan. Vào thời điểm đó, tình hình dịch bệnh tại Vương quốc Anh chưa quá nghiêm trọng nên cơ quan y tế sở tại chưa tổ chức xét nghiệm trên diện rộng mà chỉ đưa ra khuyến cáo, yêu cầu những người có triệu chứng mắc COVID-19, nếu không đặc biệt nặng, thì không được đến các cơ sở y tế mà tự cách ly tại nhà. Chúng tôi đã thực hiện theo khuyến cáo của cơ quan chức năng Vương quốc Anh và rất may mắn là sau vài ngày tự cách ly và nghỉ ngơi, các triệu chứng của chúng tôi đều đã thuyên giảm. Mặc dù tới giờ chúng tôi cũng không biết là mình đã từng mắc COVID-19 hay chưa, nhưng chúng tôi cũng nhận thức được rất rõ rủi ro, nguy cơ bị nhiễm bệnh mà những phóng viên thường trú ngoài nước của TTXVN phải đối mặt trong quá trình tác nghiệp, đặc biệt là tại một địa bàn như Vương quốc Anh, nơi từng là một trong những điểm nóng của thế giới về COVID-19 khi vào lúc đỉnh điểm, số ca nhiễm mới lên tới gần 70.000 trường hợp/ngày và gần 130.000 người tử vong do COVID-19. Nguy cơ nhiễm bệnh cũng chỉ là một trong những khó khăn, thách thức phóng viên CQTT London phải đối mặt khi tác nghiệp trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Tại Vương quốc Anh, nơi quyền riêng tư được bảo vệ chặt chẽ, việc quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn... không hề dễ dàng. Do dịch COVID-19 bùng phát mạnh, các đường bay nối Vương quốc Anh với Việt Nam bị hủy từ cuối tháng 3/2020 và nhiều công dân Việt Nam đang công tác, học tập, tham quan, du lịch và chữa bệnh tại Vương quốc Anh đã bị mắc kẹt không thể về nước. Trước tình hình đó, các cơ quan chức năng Việt Nam, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh, Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan chức năng Anh tổ chức các chuyến bay đưa công dân Việt Nam có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nước. Bên cạnh đó là các chuyến bay đưa các công dân Anh đi du lịch “mắc kẹt” tại Việt Nam do ảnh hưởng của dịch COVID-19 về nước, trong số đó có một số người mắc COVID-19 đã được Việt Nam điều trị khỏi bệnh. Đây cũng là chuyến bay vận chuyển số khẩu trang là quà tặng của Chính phủ, nhân dân Việt Nam gửi tới Chính phủ và nhân dân Anh. Còn nhớ, khi thực hiện nhiệm vụ đưa tin và hình ảnh về chuyến bay đưa gần 340 công dân Việt Nam từ Vương quốc Anh về nước vào ngày 3/6/2020, các phóng viên CQTT London đã có những trải nghiệm "mạo hiểm" khó quên. Do tình hình dịch bệnh phức tạp, sân bay quốc tế Heathrow, nơi thực hiện các chuyến bay đưa công dân Việt Nam về nước, ra quy định chỉ cho phép hành khách của các chuyến bay mới được vào nhà ga và ngay cửa vào sân bay đã có nhân viên bảo vệ kiểm tra. Do đó, câu hỏi đầu tiên đặt ra là làm thế nào chúng tôi có thể vào được bên trong sân bay để tác nghiệp? Chúng tôi xếp hàng, tiến đến cửa kiểm soát như những hành khách bình thường và dõng dạc đọc tên mã số chuyến bay VN54 của Vietnam Airlines khi được hỏi. Dù bên ngoài thể hiện sự tự tin, nhưng trong lòng chúng tôi có đôi phần lo lắng và trong đầu đã tính đến các phương án dự phòng, như nhờ sự can thiệp của Đại sứ quán Việt Nam, trong trường hợp nhân viên bảo vệ sân bay tiếp tục đưa ra các yêu cầu khác. Rất may các nhân viên kiểm soát không hỏi thêm và chúng tôi đã vào được nhà ga sân bay Heathrow. Vượt qua cửa ải thứ nhất, quá trình tác nghiệp trong sân bay lại tiếp tục là một câu chuyện dài của những khó khăn. Sau khi trao đổi với đại diện Vietnam Airlines, xin phép các nhân viên bản địa cũng như các hành khách đang làm các thủ tục lên máy bay, chúng tôi bắt đầu thực hiện việc chụp ảnh, ghi hình. Dù đã cố gắng thực hiện một cách kín đáo và nhanh nhất có thể, nhưng chúng tôi cũng sớm bị nhân viên bảo vệ trong sân bay phát hiện và yêu cầu dừng tác nghiệp bởi Heathrow là khu vực thuộc sở hữu tư nhân. Sau một thời gian thường trú tại địa bàn, chúng tôi không quá xa lạ với quy định phải đăng ký, xin phép trước khi tác nghiệp tại các khu vực thuộc sở hữu tư nhân. Tuy nhiên, việc công ty quản lý sân bay Heathrow quy định phải đăng ký xin phép trước từ 2-3 tháng, trong khi quyết định tổ chức các chuyến bay như thế này chỉ được đưa ra trước khi triển khai thực hiện vài tuần, thậm chí là vài ngày, việc làm các thủ tục đăng ký tác nghiệp với công ty quản lý sân bay Heathrow là không thể. Sau khi trao đổi và đề nghị nhân viên quản lý sân bay linh hoạt cho phép tiếp tục tác nghiệp, nhưng không được chấp thuận, chúng tôi đành ra về. Trong quá trình đi ra khỏi nhà ga, chúng tôi đeo máy bên hông nhưng vẫn để ở chế độ quay với hy vọng có thể tiếp tục thu thêm một số thước hình các công dân Việt Nam đang xếp hàng làm thủ tục lên máy bay, với mục tiêu có những hình ảnh sinh động, phản ánh đầy đủ công tác bảo hộ công dân của Nhà nước ta tại địa bàn. Mặc dù vậy, nhân viên quản lý sân bay vẫn phát hiện và từ xa yêu cầu chúng tôi dừng lại. Câu chuyện trên của CQTT London chỉ là một ví dụ nhỏ về những khó khăn, thậm chí hiểm nguy mà những phóng viên TTXVN thường trú tại nước ngoài phải đối mặt để có được những bài báo, bức ảnh, thước phim tưởng như rất đỗi bình dị đối với người đọc, người xem. Một năm đã trôi qua kể từ khi hoàn thành nhiệm vụ đáng nhớ đó, cảm xúc của chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Vượt qua những khó khăn và rào cản, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, góp một phần nhỏ bé vào công tác thông tin phòng chống dịch COVID-19 của đất nước Việt Nam với phương châm "không ai bị bỏ lại phía sau". Đó là niềm tự hào và cũng là phần thưởng đối với những người làm báo như chúng tôi./.

Về bản chất của giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng của giai cấp công nhân vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để giải quyết đúng đắn những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Đảng; bảo đảm cho Đảng, mặc dù sinh trưởng trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nông dân chiếm số đông trong dân số, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, nhưng vẫn luôn luôn mang trong mình bản chất cách mạng và khoa học - thuộc tính căn bản nhất của một đảng Mácxít. Với nhận thức sáng suốt và sâu sắc rằng: Chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình, đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, Hồ Chí Minh đã nỗ lực phấn đấu để sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Người luôn quan tâm chăm lo xây dựng Đảng lớn mạnh về mọi mặt. Nội dung mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chăm lo cho công tác xây dựng Đảng rất phong phú. Về bản chất giai cấp công nhân của Đảng, được Người nêu lên rõ nét, nhất quán thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin về Đảng Cộng sản trong điều kiện Việt Nam Trước hết, Người khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Trong "Điều lệ tóm tắt" của Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Hội nghị hợp nhất 3 đảng năm 1930 đã nêu: Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng. Đại hội II của Đảng năm 1951 đã khẳng định "Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và nhân dân lao động Việt Nam. Mục đích của Đảng là phát triển chế độ dân chủ nhân dân của Đảng tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam".[1] Đại hội II kết luận: Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, nói cách khác, Đảng Lao động Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Về bản chất, Đảng Lao động Việt Nam mang bản chất công nhân, là đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân, vì Đảng Lao động Việt Nam có đủ những tính chất căn bản của một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân: Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng; Đảng lấy dân chủ tập trung làm nguyên tắc tổ chức; Đảng lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm về Đảng (tại Bài nói chuyện tại Hội nghị bồi dưỡng chỉnh huấn do Trung ương triệu tâp họp vào tháng 1 năm 1965): Đảng ta xứng đáng là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, Đảng ta đã biết vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh nước ta một cách sáng tạo để nêu ra đường lối, chính sách đúng đắn, đảm bảo cho cách mạng phát triển thắng lợi. Cán bộ, đảng viên ta nói chung là những người cộng sản chân chính, trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân và được dân mến, dân tin. Trong tác phẩm; “Đạo đức cách mạng" Người viết: "Để giành thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất. Mà Đảng vô sản là bộ tham mưu của giai cấp công nhân. Cách mạng ở Liên Xô và ở các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa đã chứng thực điều đó, không ai chối cãi được”.[2] Trong tác phẩm “Ba mươi năm hoạt động của Đảng” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích những nhân tố đưa đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người viết: “Ngay từ lúc đầu, Đảng đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ, lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Trong lúc đó giai cấp tư sản non yếu chỉ mong thoả hiệp với đế quốc để tìm một lối sống. Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi, nhưng tư tưởng bế tắc, không có đường ra. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”.[3] Từ đó đến nay, qua mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn không ngừng xây dựng bản chất công nhân của Đảng ngày càng cụ thể, càng sâu sắc cả về mặt lý luận và cả trên thực tế. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII của Đảng năm 1981 đã nêu: "Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa"[4] Tư tưởng đó tiếp tục được Đại hội lần thứ VIII, IX khẳng định và phát triển. Đại hội đại biểu toàn quóc lần thứ X của Đảng bổ sung "Mục đích của Đảng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản"[5] Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, về lợi ích, Đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp và của dân tộc. Nói bản chất công nhân của Đảng hoàn toàn không có nghĩa là xem nhẹ vấn đề dân tộc, bởi vì trong thời đại ngày nay, khi mà chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại và dùng danh nghĩa như: "khai hoá văn minh" trước đây và "bảo vệ nhân quyền" ngày nay để đàn áp các dân tộc, ép buộc dân tộc này hay dân tộc khác phải nghe theo chúng thì chỉ có thể đứng trên lập trường của giai cấp công nhân hiện đại với lý luận tiên phong là chủ nghĩa Mác - Lênin với thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng thì mới có thể có đường lối, chính sách đúng đắn, bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài của dân tộc mình một cách chắc chắn nhất. Trong Báo cáo chính trị tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng lao động Việt Nam tháng 2-1951, Chủ tịch hồ Chí Minh đã nêu về mục tiêu đấu tranh của Đảng chỉ khi nào phù hợp với nguyện vọng, với lợi ích của nhân dân thì cách mạng thành công: việc gì đúng với nguyện vọng của nhân dân lao động thì được quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh, và như vậy mới thật là một phong trào quần chúng. Cũng trong Báo cáo nêu trên đã nêu quyền lợi giai cấp, nhân dân lao động và của cả dân tộc phải được Đảng quan tâm, thống nhất các quyền lợi đó như nhau: Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của cả dân tộc". Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một quan điểm rất rõ ràng, dễ hiểu, đó là: “tất cả những việc Đảng và chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân. Làm gì mà không nhằm mục đích ấy là không đúng. Chính xuất phát từ những quan điểm Đảng đại diện cho lợi ích của nhân dân, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên hoạt động bất kỳ ở đâu, ở cương vị nào cũng đều phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết. Người viết trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, 3-2-1969: “mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải cương quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”[6] Biểu hiện bản chất giai cấp công nhân của Đảng trước hết rõ nhất cụ thể nhất là Đảng ta thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có giai cấp công nhân mới có thể “đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”. Trong di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho hậu thế thì tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc mà vấn đề cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tư tưởng của Người. Đây là kết quả của quá trình bôn ba hải ngoại nhằm tìm kiếm, lựa chọn con đường cứu nước cứu dân theo lập trường cách mạng vô sản. Sự lựa chọn này là kết quả trực tiếp, nảy sinh từ sự giác ngộ chủ nghĩa Mác Lê Nin, chủ nghĩa xã hội khoa học của Hồ Chí Minh chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Trung thành với sự lựa chọn của Người, đến nay, Đảng ta luôn xác định mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là: "Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Những nội dung trên đồng thời là những tiêu chí xác định bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng đạo được xác định bởi đặc tính cách mạng, chứ không phải do số lượng người nhiều hay ít của giai cấp. Đặc tính cách mạng đó chính là bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Thành phần giai cấp công nhân tuy là yếu tố quan trọng, nhưng không phải là yếu tố duy nhất và yếu tố quan trọng nhất quyết định bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt nam trong giai đoạn hiện nay./.

"Đấu tranh cho dân chủ" không phải là chạy theo tin đồn và bịa đặt

Lâu nay, việc lợi dụng, biến in-tơ-nét thành nơi trình diễn các trò vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc đã trở thành công việc hằng ngày của một số người tự nhận là "người yêu nước, nhà dân chủ". Bài viết của bạn đọc Hoàng Thành dưới đây là suy nghĩ của một người trẻ tuổi, và cũng là nhận diện những gì mà các "nhà dân chủ, người yêu nước" đã và đang thể hiện trên in-tơ-nét. Vừa qua trên YouTube, Facebook và một số blog, website cá nhân có công bố vi-đê-ô clíp ghi lại hình ảnh một thanh niên bị nhóm người tự xưng là "nhà dân chủ, người yêu nước" vừa hành hung, vừa chửi bới rất thô tục. Sự kiện này diễn ra chiều 19-1 tại vườn hoa Lý Thái Tổ, Hà Nội. Xem vi-đê-ô clíp, tôi không thể im lặng được nữa. Phải chăng sau khi tự xưng là "nhà dân chủ, người yêu nước", thì muốn làm gì cứ làm, muốn nói gì cứ nói, bất chấp luật pháp? Quần thể tượng đài, vườn hoa Lý Thái Tổ là công trình xây dựng phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, tổ chức sinh hoạt cộng đồng. Đây không phải là nơi ai cũng có thể tự tiện đến đặt vòng hoa, thắp hương, khấn vái. Làm như thế vừa không đúng chỗ, ảnh hưởng tới thẩm mỹ cảnh quan, vừa làm sai lệch ý nghĩa một nghi lễ tưởng niệm vốn rất cần trang nghiêm (nếu mấy "nhà dân chủ, người yêu nước" nọ thật sự có mục đích lương thiện như thế?). Nhưng đọc tin tức trên in-tơ-nét về sự kiện, tôi thấy hình như mục đích của mấy người tới đặt vòng hoa cốt chỉ để có tin, ảnh đăng tải trên báo chí nước ngoài? Sau khi xem vi-đê-ô clíp, một người Việt ở hải ngoại đã chỉ thẳng ra rằng: "Tưởng niệm tinh thần hy sinh không phải tưởng niệm cái biểu ngữ. Họ chẳng qua chỉ muốn dùng cái biểu ngữ để tuyên truyền, để quay phim làm tài liệu câu view và cơ hội cho báo chí, truyền thông hải ngoại, thậm chí cả các hãng thông tấn quốc tế như BBC, RFAvàRFI có đề tài giật gân bàn về Nhà nước Việt Nam. Do đó, khi bị mất "vũ khí" họ mới lồng lộn và tức giận bằng thái độ vũ phu, côn đồ và bạo hành. Những hành động bạo động không khác gì Việt Tân..."! Tiếp xúc với in-tơ-nét, tôi không xa lạ loại tin tức, hình ảnh của mấy người tự xưng "nhà dân chủ, người yêu nước". Không lạ vì tôi thấy quanh đi quẩn lại chỉ có mấy gương mặt quen thuộc. Lấy cớ hoạt động vì tự do dân chủ, mục đích của họ chỉ là cố tình thách thức, gây khó dễ cho các cơ quan chức năng, làm nhiễu thông tin thông qua bình luận xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hoặc bịa chuyện, đặt điều, vu khống... Hoạt động kiểu này nhiều đến mức tôi nghĩ là quanh năm họ chỉ lùng sục thông tin để bới móc, xuyên tạc, té nước theo mưa nhằm chứng tỏ sự hiện diện, giúp một số tổ chức như HRW, RSF... hoặc mấy ông bà nghị sĩ Mỹ ở mấy bang có đông người gốc Việt sinh sống lấy cớ vu cáo Việt Nam. Khi có người "cùng hội cùng thuyền" bị bắt giữ vì có hành vi vi phạm pháp luật thì họ la lối om sòm, làm như là oan ức lắm, để lôi kéo sự chú ý của mấy tổ chức ở nước ngoài. Khi vụ án đã được xét xử, bản án đã được tuyên phạt, thì họ tập hợp hò hét đòi trả tự do. Gần đây, tòa án có thẩm quyền tuyên hủy án sơ thẩm, điều tra lại một vài vụ án, họ chớp lấy cơ hội để vu cáo, đòi hỏi, nhỏ nước mắt cá sấu chia sẻ với gia đình; trong khi đó vào thời gian gia đình bị cáo, bị can gửi đơn đề nghị,... thì không thấy bóng dáng họ đâu. Gần hơn, sau khi Mặc Lâm của RFAvớ được một thứ gọi là sản phẩm "rap" (thuộc thể loại Dizz, chủ yếu dùng đấu khẩu, chửi rủa, hay nhục mạ người khác) hết sức thô bỉ, ca từ rác rưởi (nếu có thể gọi đó là ca từ?) được sử dụng chửi bới chính quyền và phỏng vấn tác giả, là lập tức vài người trong số họ hùa theo ca ngợi. Tôi coi đấy là việc làm thiếu lương thiện, không thể ca ngợi, cổ vũ các câu chữ chửi rủa tục tĩu được sản xuất ra bởi một kẻ bất hảo (một con nghiện cần sa như anh ta đã thừa nhận). Ngay lập tức trên YouTube đã có người lên tiếng: "Mình là người Việt ở Việt Nam nè. Bạn nói cho mình thông minh ra, đừng có lôi mấy cái linh tinh trên mạng ra để khoe rằng mình hiểu biết hơn người. Bạn nói người dân Việt Nam hèn nhát thì bạn lại càng nhầm. Và như bạn nói thì bạn là người Việt nhưng ở nước ngoài vậy thì mình cũng thông cảm cho bạn, ngoài mấy nguồn tư liệu và mấy lời truyền miệng ra thì bạn chẳng biết gì về đất nước tôi cả". Dù tỏ ra lịch sự, hay giở giọng chửi bới thóa mạ vẫn nhận ra sản phẩm "chế tạo văn bản" trắng trợn, hoặc là nhảm nhí xuyên tạc thông tin báo chí trong nước đã đưa. Với chủ trương, chính sách không còn gì để chê, họ cũng cố gắng chọc ngoáy, xiên xẹo. Hội đoàn nọ chủ yếu hoạt động trên in-tơ-nét có ông "chủ tịch" rất tự tin bình luận đủ loại vấn đề, sự kiện, nhưng càng đọc tôi càng thấy ông ta rỗng tuếch về tri thức. Ngay như cái hội đoàn của ông ta vừa ra đời đã đấu đá lung tung, tố cáo lẫn nhau là "tay sai an ninh cài cắm vào". Lạm dụng nghề báo, tài năng, kỹ năng làm nghề không có, đến tư cách cũng rất đáng ngờ thì làm sao làm được công việc ích nước, lợi dân? Còn chuyện xảy ra như cơm bữa như ghép ảnh, chế ảnh... đã trở thành công ăn, việc làm hằng ngày của họ. Rất nhiều lần người đọc trên in-tơ-nét phát hiện, vạch rõ hình ảnh họ công bố lấy từ đâu, lắp ghép ra sao, rồi phim tâm lý chiến của chế độ cũ, ảnh tội phạm chiến tranh,... được chỉnh sửa, cắt ghép như thế nào, vạch rõ những văn bản giả, đơn thư nặc danh, mạo chữ ký rồi công bố như tài liệu xác thực, để gây mâu thuẫn nội bộ, làm nhân dân hoang mang,... rồi chính họ lại sử dụng mấy tài liệu đó để yêu cầu, kiện cáo. Họ luôn cố tình đổi trắng thay đen, chẳng nhẽ theo họ "đấu tranh cho dân chủ" là bịa ra tin đồn, chạy theo tin đồn, dựa vào tin đồn, không cần kiểm chứng? Qua in-tơ-nét tôi được biết, nhiều tập đoàn truyền thông trên thế giới đã chấm dứt hợp đồng với các hãng tin trung gian, cắt giảm cộng tác viên, bỏ thêm chi phí đào tạo phóng viên, nhà báo với lý do không kiểm soát được nguồn tin. Tôi nghĩ đó là sự lương thiện nghề nghiệp, hướng đến một nền báo chí minh bạch. Với mấy "nhà dân chủ, người yêu nước" và những người gốc Việt chống cộng ở hải ngoại thì lại khác. Họ kêu gào "phải minh bạch" nhưng chính họ lại là thủ phạm của loại tin tức dối trá để lừa người đọc. Gần đây, thấy một trang tin của Nhật Bản đưa tin về một blog chuyên dựng chuyện, xuyên tạc sự thật, lập tức họ hùa vào phân tích cho rằng trang tin kia rất có uy tín. Trong khi, những bài viết trên trang tin này không hề ghi tên tác giả như các bài khác cùng xuất hiện trong chuyên mục. Với địa chỉ gửi từ Việt Nam, thì đây là bài của phóng viên làm việc cho hãng tin, hay chỉ là sản phẩm của một "nhà dân chủ, người yêu nước" nặc danh? Theo dõi mấy trang mạng tự nhận là "đại diện cho tự do, dân chủ" còn gặp rất nhiều bài vở, vi-đê-ô clíp được giật "tít" giật gân, nào là "công an đánh hội đồng" nhóm A, nhóm B, "công an cộng sản điên cuồng đánh đập" ông X bà Y nào đó,... nhưng chịu khó bỏ thời gian đọc toàn bộ bài, xem đầy đủ vi-đê-ô clíp sẽ chẳng bao giờ thấy có cảnh "đánh" đó diễn ra. Chỉ thấy cảnh các chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ bị chen lấn, xô đẩy; tiếng của mấy ông bà "dân chủ, yêu nước" la hét thất thanh, chửi bới tục tĩu! Đặc biệt có một ông, sau nhiều lần thấy họ đăng ảnh ông lúc nằm thẳng cẳng giữa đường, lúc lại nằm dang chân dạng tay trên giường dây dợ lằng nhằng cắm đầy người, mấy anh em tôi đặt luôn cho ông ta biệt danh là "chuyên gia ăn vạ". Trong một vi-đê-ô clíp mới xuất hiện trên YouTube, lại thấy ông này đang chia chác tiền bạc cho các "biểu tình viên"! Những người tự nhận là "nhà dân chủ" rất biết cách tự biến mình thành "người của công chúng" (celebrity) bằng cách tự ghi hình, phỏng vấn lẫn nhau, tung hô và xưng tụng lẫn nhau để tạo sự kiện rùm beng, xây dựng hình ảnh. Các thợ săn ảnh (paparazzi) rình rập làm việc để kiếm tiền, mọi thứ sòng phẳng; còn cái gọi là "nhà báo tự do", "nhà báo độc lập" cũng làm việc như paparazzi nhưng để kiếm gì, ai chu cấp tiền bạc để họ bay từ nam ra bắc tụ tập hò hét, sắm sửa máy móc để "hành nghề" rồi đưa lên in-tơ-nét? Họ còn kém xa thợ săn ảnh ở chỗ sau khi thông tin họ đưa ra bị vạch trần là bịa đặt, mà họ vẫn không có lấy một lời xin lỗi. Qua in-tơ-nét tôi biết phần lớn "nhà dân chủ" đều không nghề nghiệp nhưng căn cứ vào tần suất có mặt của họ trên Facebook, vô số bức ảnh nay đây mai đó của họ, rồi cách họ mạt sát gia cảnh, phương tiện đi lại của các sinh viên nghèo nhưng giàu lòng yêu nước, tôi tự hỏi chẳng lẽ họ sống bằng khí trời, không biết lương tâm của họ để đâu? Mấy năm qua, nhiều diễn đàn, blog, wordpress, website cá nhân, báo chí của người Việt ở nước ngoài là điểm đến của tôi mỗi khi truy cập in-tơ-nét. Không phải khi nào tôi cũng đồng thuận, chia sẻ với mọi bài viết, tâm sự, suy nghĩ,... nhưng tôi đồng tình, trân trọng những người luôn tôn trọng sự thật, thành thực hướng đến một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ở Việt Nam. Trong số họ, không phải ai cũng là người từng sinh sống trong nước, thậm chí có người là quân nhân của chế độ cũ ở miền nam, là người gốc Việt đời thứ hai, thứ ba ở nước ngoài. Bằng rất nhiều việc làm thầm lặng, họ đóng góp công sức vào sự phát triển đất nước. Nhiều người trong số họ đã đóng góp bài vở cho một số tờ báo trong nước và ngoài nước, nhưng không thấy ai lên in-tơ-nét tự phụ xưng danh "nhà báo tự do", "nhà báo độc lập". Mỗi khi họ có bài đăng ở báo nào đó là tôi với bạn bè lại thông báo để tìm đọc. Chúng tôi coi họ là những người tử tế, chúng tôi trân trọng và quý mến họ.

Đảng Cộng sản Việt Nam và sự đòi hỏi tất yếu của lịch sử

Trải qua các thời kỳ thực tiễn đấu tranh khốc liệt, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và luôn đứng vững trên vũ đài chính trị, lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam đánh đổ hoàn toàn chế độ thực dân, phong kiến và bè lũ đế quốc, xây dựng một nước Việt Nam mới gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, được nhân dân suy tôn là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhanh chóng giữ địa vị lãnh đạo và được nhân dân giao cho trọng trách là Đảng cầm quyền. Đảng đứng ra nắm chính quyền không phải bằng những âm mưu chính trị, lật đổ để giành được và cũng không phải giống các chính đảng của giai cấp tư sản phương Tây giành được thông qua bầu cử, mà là kết quả của một quá trình đấu tranh vô cùng cam go, gian khổ, kể cả hy sinh xương máu của hàng triệu đảng viên và nhân dân mới có được. Tại Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: "Trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám và trong tám, chín năm kháng chiến, biết bao đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ anh dũng. Chỉ riêng trong cấp Trung ương của Đảng đã có 14 đồng chí bị đế quốc Pháp bắn, chém, hoặc đập chết trong nhà tù... Trong 31 đồng chí hiện nay là Ủy viên Trung ương ta, trước ngày khởi nghĩa đã được đế quốc Pháp tặng cho 222 năm tù đày. Đó là không kể những án tử hình vắng mặt và những cuộc vượt ngục trước khi hết hạn tù. Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí ta đã lợi dụng những ngày tháng ở tù để hội họp và học tập lý luận”[1]. Càng nhìn lại lịch sử của Đảng, chúng ta càng thấy rõ điều đó. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào đầu những năm ba mươi của thế kỷ XX, thời điểm đất nước Việt Nam được gọi là “đêm trường nô lệ” trong chế độ “thuộc địa nửa phong kiến” hà khắc, bên trong không có dân chủ, bên ngoài không có chủ quyền. Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác. Người dân An Nam luôn phải đối mặt với áp bức, bóc lột bởi sưu cao, thuế nặng và luôn bị khủng bố dã man bởi đòn roi, họng súng của quân thù. Khi chưa có Đảng tình hình đen tối như không có đường ra. Lúc bấy giờ, trên vũ đài chính trị xuất hiện một số trào lưu yêu nước và một số đảng phái chính trị đều với mong muốn gánh vác sứ mệnh lịch sử cứu vớt dân tộc Việt Nam thoát khỏi xiềng xích nô lệ. Tuy nhiên, trong tất cả các trào lưu có tính chất cách mạng ấy, chỉ có trào lưu cách mạng theo con đường vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin do Nguyễn Ái Quốc tiếp thu và được đưa vào phong trào “vô sản hóa” ở Việt Nam là đứng vững. Những trào lưu khác như Cần Vương, trào lưu tư sản và tiểu tư sản đều bị chính thực tế lịch sử Việt Nam chối bỏ vì chúng hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu phát triển của dân tộc. Vào thời điểm đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tầm nhìn chiến lược và nhạy bén chính trị đã tiến hành tổ chức vận động thành lập Đảng ở Đông Dương. Người đã biên soạn nhiều tài liệu, giáo trình tập huấn, tuyên truyền trong phong trào công nhân, tiến hành hợp nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vây, sự ra đời của Đảng là đòi hỏi khách quan của thực tế lịch sử lúc bấy giờ, không phải tự nhiên mà có, cũng không phải muốn là được. Đảng ra đời đáp ứng được khát vọng lớn lao của toàn thể cần lao. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xóa tan đi cái màn đêm đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong. Trong quá trình vận động cách mạng, với tôn chỉ mục đích rõ ràng và bằng sự kiên trung của các chiến sĩ cộng sản, Đảng Cộng sản Việt Nam nhanh chóng giành được vị thế lãnh đạo và được sự ủng hộ rộng rãi của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Vì tin yêu Đảng, quảng đại quần chúng nhân dân đã một lòng, một dạ đoàn kết xung quanh Đảng, quyết tâm ủng hộ Đảng lãnh đạo đất nước đi đến thắng lợi cuối cùng. Nhân dân Việt Nam đón nhận một cách tự giác lời tuyên thệ của Đảng, bởi họ hiểu chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có thể “dìu dắt được giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng toàn thể anh chị em bị áp bức bóc lột,… làm cho nước An Nam được độc lập, đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân” [2]. Sự thật thiêng liêng ấy đã giúp cho nhân dân tin vào Đảng, Đảng vững tin vào sức mạnh đoàn kết của nhân dân mà chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thác gềnh nguy hiểm đến bến bờ vinh quang. Chỉ 15 năm sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo ba cao trào cách mạng lớn: Cao trào 1930-1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh; cao trào dân chủ 1936-1939 và cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945, làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, giành được chính về tay nhân dân; thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa- Nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho dân tộc Việt Nam. Sau khi giành được chính quyền, khác với các đảng chính trị khác trên thế giới, khi lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền thì tự mình hưởng thành quả cách mạng, Đảng ta không làm như vậy mà chủ trương “dựng ra chính phủ công – nông – binh” và “mọi quyền lợi đều trao cho nhân dân”. Đúng như lời cam kết mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra ngay từ khi vận động thành lập Đảng: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền lợi giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một số ít người”. Những cam kết đó được minh chứng rõ ràng trong quá trình tổ chức cách mạng. Trước khi giành được chính quyền toàn quốc (Tháng Tám năm 1945), mặc dù Trung ương Đảng đã họp quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay Nhật trước lúc quân đồng minh đổ bộ vào, thời gian hết sức cần kíp nhưng Hồ Chí Minh đã chủ động ra Chỉ thị triệu tập Đại hội quốc dân gồm đại biểu của các giới, các đảng phái chính trị, các đoàn thể quần chúng cứu quốc, các dân tộc, các tôn giáo, trong nước và Việt kiều (ở Thái Lan và Lào) về dự họp để hiệp thương chính trị, nhằm tán thành quyết định Tổng khởi nghĩa của Đảng; hiệu triệu nhân dân toàn quốc, các đoàn thể cách mạng kịp thời đứng lên phấn đấu, thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh; quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam “để lãnh đạo dân tộc giải phóng cho thắng lợi”. Ngoài những nội dung trên, Đại hội còn chuẩn bị cho một nước Việt Nam mới ra đời. Tại Đại hội, Đảng ta được ủy thác là Đảng cầm quyền, để thực hiện “Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập”; Chính quyền của nước Việt Nam ấy sẽ “do nhân dân bầu chọn, chứ không phải Đảng tự cử ra mà được”. Điều này, đặt cơ sở mang tính pháp lý cách mạng đầu tiên cho một chế độ mới sắp ra đời – chế độ của dân, do dân và vì dân ở nước ta. Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý chuẩn bị cho sự cầm quyền hợp pháp của Đảng. Trong lời Hiệu triệu của Đại biểu Việt Minh đọc trước 20 vạn đồng bào ngay trong ngày đầu tiên giành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội (19-8-1945) đã nhấn mạnh: “điều cần nhất lúc này là chúng ta phải thành lập ngay một chính phủ cộng hòa dân chủ Việt Nam, trong đó dân chúng được tham dự chính quyền để tự định đoạt số phận của mình. Chỉ có Chính phủ nhân dân cách mạng mới đủ uy tín và năng lực thực hiện nguyện vọng tha thiết chung của toàn thể dân tộc ta là độc lập, tự do và hạnh phúc. Chỉ có Chính phủ nhân dân cách mạng mới đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo dân tộc ta đến một tương lai rạng rỡ, xứng đáng với quá khứ oanh liệt còn ghi trong quốc sử”[3] Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển là do chính đòi hỏi của lịch sử, cần có một tổ chức chính trị Đảng Cộng sản lãnh đạo để đánh đổ thực dân phong kiến, xây dựng một xã hội mới. chứ không phải Đảng áp đặt hay đòi hỏi cho mình mà được. Sau cách mạng Tháng Tám 1945, đất nước vẫn còn thù trong giặc ngoài, hoàn cảnh vô cùng phức tạp. Với tầm nhìn chiến lược và hiểu biết thực tiễn cách mạng thế giới sâu sắc, chỉ sau một ngày đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã triệu tập phiên họp đầu tiên Chính phủ lâm thời, bàn những vấn đề cấp bách, đồng thời chủ trương “Chúng ta phải tiến hành Tổng tuyển cử Quốc hội và phải có một Hiến pháp dân chủ”[4]. Trước muôn vàn khó khăn của chính quyền còn non trẻ, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã kiên quyết lãnh đạo tổ chức cuộc Tổng Tuyển cử ngày 6-1-1946 để nhân dân tự lựa chọn, bầu những đại biểu chân chính của mình vào Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2-3-1946 Quốc hội họp kỳ thứ nhất bầu Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch Chính phủ và trao quyền cho Người lập Chính phủ chính thức - Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Tại kỳ họp thứ hai (tháng 11-1946), Quốc hội đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xây dựng trên những nguyên tắc căn bản: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Như vậy, mặc dù Đảng giành được chính quyền qua quá trình lãnh đạo cách mạng, nhưng Đảng được trao quyền lãnh đạo đất nước lại thông qua con đường luật pháp, bầu cử dân chủ mà ra.. Chỉ sau khi Quốc hội được bầu bằng cuộc Tổng tuyển cử và Quốc hội thông qua Hiến pháp thì quyền lực nhà nước của nhân dân ta mới được xác lập về mặt pháp lý. Đảng có trách nhiệm trọng đại lãnh đạo toàn dân tộc tiếp tục con đường cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Quyền lực của Đảng là do nhân dân và cả dân tộc Việt Nam tin tưởng giao cho chứ Đảng không đòi hỏi bắt buộc phải có sứ mệnh lịch sử đó. Vì niềm tin của dân tộc, của nhân dân, Đảng đã hy sinh hết thẩy cho lợi ích của giai cấp, của dân tộc và của nhân dân Việt Nam, làm chọn vẹn sứ mạng cao cả mà nhân dân giao cho. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, ghi vào lịch sử dân tộc như như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Sau khi nước nhà thống nhất, trước muôn vàn khó khăn của nền kinh tế - xã hội sau thời chiến, nhân dân ta lại giao cho Đảng trọng trách lãnh đạo dân tộc Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 (Điều 4) khẳng đinh: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”. Đây là sự lựa chọn tự giác của nhân dân và dân tộc. Mặc dù giai đoạn này Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là đảng duy nhất tồn tại và phát triển trên đất nước ta. Năm 1986, sự yếu kém trong quản lý và tổ chức nền kinh tế sau chiến tranh bộc lộ nhiều khiếm khuyết và hạn chế của Đảng do chủ quan duy ý chí, nóng vội, quen với thời kỳ bao cấp, Đảng ta đã mạnh rạn nhận ra những thiếu sót, khuyết điểm của mình với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” quyết tâm Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, từng bước đã đem lại niềm tin vững chắc cho nhân dân. Năm 1991, trước những biến động của thế giới, đặc biệt sự đổ vỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Liên Xô và các nước Đông Âu bị tan rã, nhân dân ta vẫn tin tưởng giao cho Đảng trọng trách, kiên trì con đường cách mạng đã lựa chọn, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng nước Việt Nam độc lập và đi lên CNXH. Hiến pháp năm 1992 một lần nữa khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Điều đó khẳng định ý trí và nguyện vọng của nhân dân ta về quyền lãnh đạo của Đảng chứ không phải Đảng cố đòi mà được. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, vươn lên tăng trưởng cao đứng vào tốp đầu thế giới là minh chứng sống động cho sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân và dân tộc Việt Nam về sứ mệnh lãnh đạo của Đảng. Bước sang thế kỷ XXI, trước sự biến động mau lẹ của thế giới và xu thế hội nhập quốc tế, Đảng ta vẫn vững vàng lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua khó khăn thách thức. Trước muôn vàn sự chống phá ngày càng quyết liệt với nhiều âm mưu và thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch; “diễn biến hòa bình” và “tự diện biến” trong cán bộ đảng viên; những âm mưu vu cáo xuyên tạc sự thật về Đảng gây mất đoàn kết, chia rẽ trong nội bộ Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng… nhưng nhân dân vẫn một lòng, một dạ tin theo Đảng và vẫn giao trọng trách lớn lao cho Đảng lãnh đạo dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp năm 2013 dù bị nhiều thế lực cản phá, xuyên tạc nhưng không thể nào lay nổi ý chí, nguyện vọng của hàng chục triệu con tim Việt Nam, Vai trò của Đảng, sứ mệnh lịch sử của Đảng vẫn được duy trì trong Điều 4 Hiến pháp và được nâng lên những bước phát triển mới: (1). Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. (2). Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. (3). Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Như vậy, Hiến pháp khẳng định và làm rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sứ mệnh lịch sử thiêng liêng được Nhân dân và Dân tộc giao cho. Cũng vì lẽ đó, trách nhiệm của Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, mặc dù Đảng ta có những sai lầm vấp váp, có lúc, có nơi, sự sai lầm vấp váp sảy ra đến mức độ nghiêm trọng, gây băn khoăn, suy giảm lòng tin của nhân dân, là nỗi đau lớn của Đảng, nhưng với sự che trở, đùm bọc, góp ý chân thành của nhân dân, Đảng đã nhận ra để tự sửa chữa và làm trong sạch tổ chức của mình. Sự nhận diện những sai lầm, thiếu sót trong Đảng để tự khắc phục và chịu trách nhiệm trước Nhân dân là thể hiện tính Đảng tiên phong“là đạo đức, là văn minh” của Đảng. Đảng không sợ khuyết điểm, chỉ sợ không nhận thấy khuyết điểm để sửa chữa, để cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng làm yếu đi tinh thần cách mạng của Đảng. Tuy có sai lầm vấp váp, nhưng nhìn nhận khách quan, khoa học thì dù là ở “bên này” hay “bên kia” cũng không thể phủ nhận những nỗ lực to lớn của Đảng trên phạm vi toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước gần 30 năm qua. Kết quả to lớn ấy được thể hiện trên cả ba mặt chính: i. Sự ổn định của đất nước. ii. Mức độ phát triển kinh tế (có nhiều biến chuyển tích cực). iii. Xây dựng đời sống chính trị văn minh. Kết quả ấy khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là đúng đắn, đáp ứng được tâm nguyện, lòng tin của nhân dân và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nhiều tấm gương sáng đảng viên, nhiều tổ chức cơ cở đảng vẫn hàng ngày, hàng giờ vượt qua khó khăn thách thức, giữ vững phẩm chất chính trị, trước sau như một, trung kiên với lý tưởng cách mạng, phấn đấu vì lợi ích căn bản của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn được nhân dân gửi gắm niềm tin, che trở, bao dung, hết lòng ủng hộ, nhất là mỗi khi Đảng biết nhận ra những sai sót, khuyết điểm của mình để nghiêm khắc sửa chữa. Mỗi lần đến kỳ Đại hội của Đảng và họp Quốc hội, lại có đông đảo ý kiến nhân dân góp ý chân thành cho dự thảo các văn kiện Đại hội; các dự thảo luật, văn bản pháp luật… Hơn 26 triệu lượt ý kiến góp ý của đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 2013; 97 % đại biểu Quốc hội khóa XIII ấn nút tán thành tại kỳ họp thứ 6 là hợp với “lòng dân, ý Đảng”. Một lần nữa, thể hiện rõ ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta đối với sứ mệnh lịch sử của Đảng. Nhân dân Việt Nam vẫn luôn tin tưởng rằng, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới “gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đảm bảo thực hiện được sứ mệnh lịch sử thiêng liêng của dân tộc Việt Nam giao cho. Chắc chắn rằng, những người có lương tri, có tinh thần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc, không ai lại chống đối sự phó thác sứ mệnh lãnh đạo đất nước cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuân về, những bản hùng ca bất diệt về Đảng quang vinh lại vang lên, thấm sâu vào mỗi trái tim người dân Đất Việt./.

Xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại

“Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”(1) vừa là yêu cầu đặt ra, vừa là mục tiêu phấn đấu đối với lĩnh vực báo chí, truyền thông được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, ý nghĩa sống còn trước mắt và lâu dài đối với lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, có tác động nhanh chóng, mạnh mẽ và sâu sắc tới mọi phương diện của đời sống xã hội. Mục tiêu và yêu cầu “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại” của Đại hội XIII là sự tiếp nối, nhất quán quan điểm, chủ trương của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới. Theo đó, báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí. Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới. Coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng; tiếp tục phát huy tiềm lực và ưu điểm, khắc phục các yếu kém, khuyết điểm, nâng cao chất lượng tư tưởng, tính hấp dẫn, mở rộng đối tượng độc giả, vươn lên hiện đại về mô hình tổ chức hoạt động, về cơ sở vật chất, kĩ thuật và công nghệ. Để đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí, cần coi trọng, chăm lo công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan báo chí… Xây dựng quy chế để thường xuyên làm tốt việc định hướng và cung cấp thông tin cho báo chí, nhất là đối với các vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm về đối nội, đối ngoại; nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Luật Báo chí và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; quy định thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chỉ đạo báo chí của Đảng, cơ quan quản lí báo chí của Nhà nước, Hội Nhà báo và cơ quan chủ quản báo chí đối với cơ quan báo chí và người làm báo; xây dựng chế tài đủ mạnh, xử lí dứt điểm, kịp thời, nghiêm minh các sai phạm. Tính chuyên nghiệp đòi hỏi nhà báo và cơ quan báo chí hành nghề trên cơ sở có tri thức văn hóa rộng, có kiến thức chuyên ngành sâu, có kĩ năng nghiệp vụ, có khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ mới và có đạo đức nghề nghiệp. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia(2), một nền báo chí chuyên nghiệp, cần giải quyết một số vấn đề cơ bản: Lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí chuyên nghiệp; Tổ chức hoạt động cơ quan báo chí chuyên nghiệp; Xây dựng đội ngũ nhà báo chuyên nghiệp và, đào tạo báo chí một cách chuyên nghiệp. Về lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí một cách chuyên nghiệp, Đảng lãnh đạo báo chí bằng định hướng, nghị quyết, chỉ thị, bằng công tác cán bộ… phải kịp thời, sát thực tiễn. Nhà nước phải quản lý tốt hệ thống báo chí bằng văn bản pháp luật, hoàn thiện hệ thống luật pháp về báo chí là để tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo hoạt động chuyên nghiệp cao. Cần quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí hợp lý, phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước và xu hướng báo chí thế giới. Hiện nay, các cơ quan báo chí nước ta đang thực hiện Quyết định số 362/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ nhằm phát triển báo chí đi đôi với quản lý tốt, theo hướng cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết tập hợp quần chúng, tạo đồng thuận trong xã hội, định hướng tư tưởng và thẩm mỹ, góp phần nâng cao dân trí, phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Để tổ chức hoạt động cơ quan báo chí chuyên nghiệp, các cơ quan báo chí cần xác định rõ những tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp trong hoạt động báo chí để làm cơ sở cho việc tổ chức tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ những người làm báo chuyên nghiệp. Ở nước ta, trong những năm gần đây, nhiều cơ quan báo chí đã xây dựng quy chế hoạt động, sắp xếp cơ cấu tòa soạn và quy trình xuất bản báo phù hợp với xu hướng và công nghệ làm báo hiện đại, đồng thời xác định rõ các chức danh làm báo, để đảm bảo quản lý hoạt động của cơ quan báo chí một cách chuyên nghiệp. Một nhà báo được coi là chuyên nghiệp phải là nhà báo phải được đào tạo chuyên nghiệp; hành nghề chuyên nghiệp và đội ngũ nhà báo phải được hưởng chế độ đãi ngộ theo tính chất chuyên nghiệp, chuyên ngành. Tính nhân văn của báo chí cách mạng Việt Nam thể hiện qua việc “đề cao, quý trọng, ca ngợi và bảo vệ những giá trị văn hóa chung của cộng đồng, vì con người, vì cộng đồng, xét trên mọi cấp độ, là tôn trọng, bảo vệ và truyền bá những giá trị văn hóa chung nhất của nhân loại, không phân biệt dân tộc, tôn giáo… vì hòa bình, ổn định, sự tiến bộ và phát triển bền vững của cộng đồng quốc tế. Trong báo chí, truyền thông, tính nhân văn là thái độ tiếp cận, đánh giá các sự kiện và vấn đề trong cuộc sống hàng ngày liên quan đến cộng đồng cũng như số phận con người; là quan điểm, thái độ và những nỗ lực đấu tranh vì quyền con người, dân chủ, dân sinh, vì sự tiến bộ xã hội và những giá trị nhân văn chân chính”(3). Tính nhân văn trong báo chí được thể hiện qua nhiều cấp độ như khuynh hướng thông tin, lĩnh vực đề tài và quan điểm, góc độ và thái độ tiếp cận, khuynh hướng thông tin, lĩnh vực đề tài và quan điểm, góc độ và thái độ tiếp cận (ngôn ngữ, giọng điệu với nhân vật). Tính nhân văn yêu cầu nhà báo có đủ tri thức, quan điểm, thái độ, bản lĩnh và kĩ năng thể hiện. Mặt khác, thể hiện tính nhân văn từ thái độ, kĩ năng, thao tác hằng ngày trong cuộc sống và trong tác nghiệp, như thái độ và hành vi đối với những người bình dị, những con người bất hạnh, thậm chí người đang vướng vòng lao lí, mà không a dua, “đục nước béo cò”… Thông tin xâm phạm đời tư hoặc lợi dụng sự bất hạnh của con người để giật gân, câu khách, đã vi phạm tính nhân văn. Có những thông tin về đời tư, luật pháp không cấm, nhưng đạo đức, lương tâm người làm báo lại không cho phép, vì tính nhân văn cần được đề cao. Và như vậy, văn hóa truyền thông trên báo chí (4) được tôn trọng. Tính nhân văn cũng thể hiện “đẳng cấp” của ấn phẩm báo chí, truyền thông, của cơ quan báo chí và nhà báo. Xét cho cùng, tính nhân văn là mục đích cao cả của hoạt động báo chí, truyền thông. Tính nhân văn của báo chí cách mạng Việt Nam phải được xây dựng trên cơ sở nền tảng đạo đức và pháp luật. Do vậy, để bảo đảm tính nhân văn trong hoạt động báo chí, nhà báo nhất thiết phải trang bị tốt kiến thức và trau dồi tốt ý thức về luật pháp nói chung, pháp luật về hoạt động báo chí nói riêng, phải nắm vững và tự giác thực hiện 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam. Tính hiện đại của báo chí đòi hỏi trên các mặt: công nghệ - kĩ thuật làm báo và phong cách nhà báo, phong cách người quản lý báo chí. Trong giai đoạn hiện nay, báo chí hiện đại phải cập nhật, bắt kịp và làm chủ được các thiết bị, công nghệ và phương thức làm báo hiện đại, phương pháp tổ chức, quy trình tác nghiệp,… trong kỉ nguyên số. Phong cách tác nghiệp và quản lý báo chí hiện đại đòi hỏi cả tri thức hiện đại về nghề, các kĩ năng thao tác, sử dụng và làm chủ công nghệ, các phương thức quản lý tòa soạn theo mô hình tòa soạn hội tụ, cơ quan báo chí - truyền thông đa phương tiện. Song song với đó, phải phát triển báo chí cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ và thông tin, truyền thông thế giới. Kết hợp chặt chẽ các loại hình báo chí đồng thời phát huy lợi thế của các phương tiện, dịch vụ thông tin internet nhằm chủ động cung cấp thông tin chính thống, có định hướng, tăng diện bao phủ trong nước và quốc tế; hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát triển hiệu quả, lành mạnh hệ thống báo chí, xuất bản, in, phát thanh, truyền hình, đặc biệt là mảng nội dung số đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ đất nước và nhu cầu của người dân. Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội; biểu dương nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Sớm hình thành thị trường sản phẩm dịch vụ văn hoá, thông tin lành mạnh”(5). Theo đó, cần nâng cao chất lượng, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin, báo chí, internet, xuất bản; tăng cường năng lực quản lý không gian mạng. Xây dựng các cơ quan báo chí, tổ hợp truyền thông chủ lực đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền thiết yếu, làm chủ mặt trận thông tin... Để đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại, nền báo chí cách mạng Việt Nam cần tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí; tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền. Xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có cơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội; phát huy hơn nữa vai trò của văn học, nghệ thuật trên mặt trận tư tưởng; đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ phục vụ công tác tuyên truyền, bảo đảm an ninh tư tưởng trên môi trường không gian mạng. Báo chí cách mạng Việt Nam đã trải qua chặng đường 96 năm phát triển và trưởng thành, luôn là “vũ khí sắc bén” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng, đóng góp to lớn vào thành công chung của sự nghiệp cách mạng của đất nước. Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và từ thực tiễn sinh động, xây dựng và phát triển một nền báo chí cách mạng Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại là mục tiêu cao cả, là định hướng đúng đắn. Với truyền thống vẻ vang, được Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân chăm lo xây dựng, tin yêu và ủng hộ, nhất định đội ngũ báo chí cách mạng nước ta sẽ xây dựng thành công một nền báo chí cách mạng theo những mục tiêu trên.

Lời Bác dạy báo chí cách mạng Việt Nam

Lời Bác dạy mãi là “kim chỉ nam” cho các thế hệ nhà báo và cơ quan báo chí trong quá trình tu dưỡng, phấn đấu, trưởng thành, lớn mạnh; luôn giữ “tâm sáng, lòng trong, bút sắc”, có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã sớm tham gia các hoạt động báo chí. Khi hoạt động tại Pháp, Người đã tham gia sáng lập tờ báo Le Paria (Ng­ười cùng khổ) để tạo một kênh thông tin, lên tiếng tố cáo bản chất tàn bạo của thực dân Pháp, làm cho nhân dân thế giới biết đến cuộc sống “cùng khổ” của người dân Việt Nam; từ đó lên tiếng ủng hộ Việt Nam trong đấu tranh “tự giải phóng”. Khi ở Trung Quốc, Ngư­­ời đã sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1/6/1925) - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 21 tháng 6 năm 1925, Báo Thanh niên - cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập và phát hành số 1. Đây là tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, trực tiếp chỉ đạo và là cây bút chủ chốt. Sự kiện lịch sử này đặt dấu mốc khởi nguồn cho sự ra đời, không ngừng phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam. Trong hơn nửa thế kỷ vừa hoạt động cách mạng vừa cầm bút, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hàng ngàn bài viết, với hàng trăm bút danh khác nhau, được đăng ở nhiều báo trong, ngoài nước bằng nhiều thứ tiếng: Việt, Pháp, Hán, Nga, Anh... với đa dạng các chủ đề. Những bài viết của Người có văn phong độc đáo, gần gũi, dễ hiểu, được bạn đọc khắp năm châu đón nhận, mến mộ. Không chỉ viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn làm mọi công việc liên quan đến “nghề báo” như: tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo việc làm báo, sửa bài, biên tập, in ấn, phát hành… Thực tiễn phong phú đó đã góp phần tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng - một di sản vô cùng quý giá, đặc biệt mà Bác đã để lại cho thế hệ sau. Nội dung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng đã chỉ rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tính chất của báo chí cách mạng; vai trò, nghĩa vụ, đạo đức, phong cách của người làm báo; “nghệ thuật viết” để làm nên một tác phẩm báo chí có giá trị. Trong đó, Người chỉ rõ: báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới. Chính vì thế, “Tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành,...) phải có lập trường chính trị vững chắc”(1). Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng. Báo chí là để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu. Do đó, mỗi nhà báo khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: “Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm”(2). Không được tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi. Đồng thời, phải tuyệt đối tránh các lỗi: viết quá dài “dây cà ra dây muống”, không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng; đưa tin tức hấp tấp, thiếu thận trọng; là lộ bí mật; dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”(3); “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng”(4). Để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, người làm báo và cơ quan báo chí phải luôn “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; “nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”(5). Lời Bác dạy mãi là “kim chỉ nam” cho các thế hệ nhà báo và cơ quan báo chí trong quá trình tu dưỡng, phấn đấu, trưởng thành, lớn mạnh; luôn giữ “tâm sáng, lòng trong, bút sắc”, có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thấm nhuần lời dạy của Người, báo chí cách mạng đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, luôn đi đầu trong việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng, vận động, cổ vũ các tầng lớp nhân dân vững tin theo Đảng, đoàn kết một lòng, tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công (1945), lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Báo chí cách mạng đã đồng hành cùng dân tộc ta liên tiếp giành thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, báo chí cách mạng Việt Nam tiếp tục khởi sắc, phát triển nhanh cả về số lượng, chất lượng, nội dung, hình thức, phương tiện kỹ thuật, công nghệ, có “vị thế” đặc biệt, tác động sâu sắc trong đời sống xã hội. Hiện nay cả nước có 868 cơ quan báo chí, 184 cơ quan báo chí in, 660 tạp chí in, 24 cơ quan báo điện tử độc lập với tổng số 19.166 nhà báo được cấp thẻ. Cả nước có 2 đài phát thanh - truyền hình quốc gia, 64 đài địa phương và 5 đơn vị hoạt động truyền hình của các bộ, ngành với tổng số 87 kênh phát thanh và 191 kênh truyền hình. Công tác xuất bản, in, phát hành đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội. Số lượng xuất bản phẩm trên đầu người 5 bản/người/năm, tỉ trọng xuất bản điện tử chiếm 31%(6). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu rất quan trọng, hoạt động báo chí ở nước ta còn những tồn tại, hạn chế lớn. Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn nhìn nhận và chỉ rõ: “Hệ thống thông tin đại chúng còn nhiều hạn chế; một số cơ quan báo chí xa rời tôn chỉ và có biểu hiện thương mại hóa; quản lý mạng xã hội còn bất cập.”(7) Trên thực tế, vẫn còn hiện tượng người làm báo vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp, đưa tin xấu, độc, sai sự thật, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; gây bức xúc trong dư luận xã hội. Những hạn chế này đã và đang làm tổn hại đến uy tín, danh dự của người làm báo chân chính, cản trở sự phát triển bền vững của báo chí cách mạng Việt Nam.

BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM KHÔNG NGỪNG PHẤN ĐẤU, TRƯỞNG THÀNH

Bước vào giai đoạn phát triển mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có nhiều thuận lợi và thách thức đan xen. Qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện. “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”(8). Tuy nhiên, kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và còn nhiều khó khăn, thách thức. “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn” (9). Tình hình thiên tai, dịch bệnh, nhất là đại dịch Covid - 19 tiếp tục diễn biến phức tạp, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc triển khai thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng tại Đại hội XIII của Đảng. Trong tình hình đó, khắc ghi lời dạy của Bác, báo chí cách mạng Việt Nam phải không ngừng phấn đấu, trường thành hơn nữa, khẳng định đúng vị thế là “cơ quan quyền lực thứ 4”, là cầu nối giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, là diễn đàn để các tầng lớp nhân dân đóng góp tâm huyết vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước hết, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là đội ngũ nhà báo và cơ quan báo chí về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của báo chí cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Cần nhận thức rõ, báo chí cách mạng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng, là bộ phận cơ hữu trong công tác tuyên giáo của Đảng, là diễn đàn thể hiện tâm tư, ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, là tuyến đầu trong đấu tranh tư tưởng, lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ nhân dân… Với vai trò, trách nhiệm đó, báo chí cách mạng phải chủ động tiến hành có hiệu quả việc “tuyên truyền về thắng lợi đồng thời phải làm cho quân và dân ta nâng cao cảnh giác và thấy những khó khăn cần phải vượt qua” như lời Bác dạy (10); góp phần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ hai, triển khai đồng bộ hệ giải pháp xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Hoàn thiện quy hoạch, sắp xếp hợp lý hệ thống báo chí, truyền thông, xây dựng một số cơ quan báo chí chủ lực, đa phương tiện làm nòng cốt, có vai trò định hướng dư luận xã hội, thông tin đối ngoại. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục; không để các thế lực thù địch, cơ hội lợi dụng “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” chống phá Đảng, Nhà nước, gây tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Thứ ba, Nhà nước và các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện đồng bộ pháp luật về báo chí phù hợp với xu thế phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ và điều kiện nước ta. Chú trọng hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, đào tạo, tạo điều kiện cần thiết cho báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, khuyến khích các cơ quan báo chí tăng cường huy động nguồn lực phát triển theo đúng tôn chỉ, mục đích, không chạy theo lợi nhuận thuần túy, không để tư nhân sở hữu báo chí, không để nhóm lợi ích chi phối báo chí. Có cơ chế động viên, khen thưởng xứng đáng cho những người làm báo, cơ quan báo chí có thành tích tốt; đồng thời bảo vệ an toàn cho họ trước các thế lực xấu; cùng với đó phải nghiêm trị những cá nhân, tổ chức có hành vi gây tổn hại uy tín của báo chí cách mạng. Thứ tư, phát triển đội ngũ người làm báo chí chuyên nghiệp có tâm, có tầm. Theo đó, cùng với những giải pháp phát triển đồng bộ của Đảng, Nhà nước, các cơ quan báo chí, cơ sở đào tạo, mỗi người làm báo phải luon tự giác tu dưỡng, rèn luyện, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, có ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức phục vụ Ðảng, phục vụ đất nước và Nhân dân, thực sự tâm huyết, công tâm, khách quan trong thực thi nhiệm vụ. Mỗi người làm báo - chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của Đảng phải luôn ghi nhớ lời dạy của Bác: “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”(11).

Một góc nhìn về báo chí phương Tây

Thời gian qua, tự do báo chí theo kiểu phương Tây đang là "mô hình lý tưởng" mà một số người tự nhận là "nhà báo độc lập", "người yêu nước, nhà dân chủ" ở Việt Nam lên internet hô hào và đòi hỏi, bất chấp thực tế dư luận ở phương Tây đã nhiều lần vạch rõ đó là mô hình mị dân, bị các nhóm có thế lực về chính trị - kinh tế chi phối... Bài viết của tác giả Hồ Ngọc Thắng (CHLB Ðức) sẽ cung cấp thêm một góc nhìn về vấn đề này, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo. Ðã thành thông lệ, cứ đến đầu năm, ở CHLB Ðức, tổ chức chăm lo giữ gìn và phát triển tiếng Ðức (tên viết tắt là GfdS), lại bình chọn từ một năm đã qua các "từ ngữ của năm" và "từ ngữ bất hảo của năm". Trước đây, người ta bàn luận nhiều về "từ ngữ của năm", nhưng cuối năm 2014, người ta lại bàn luận rất sôi nổi về "từ ngữ bất hảo của năm" đã được chọn. Năm 2014, giữ vị trí thứ nhất là từ "báo chí dối trá" (tiếng Ðức: Luegenpresse), giữ vị trí thứ hai là "các phương pháp thẩm vấn mở rộng" (tiếng Ðức: Erweiterte Verhoermethoden - là cách gọi khác của phương pháp tra tấn mà CIA - Cục tình báo trung ương Mỹ, sử dụng trong một số "chiến dịch chống khủng bố"), giữ vị trí thứ ba là "người thông cảm cho nước Nga" (tiếng Ðức: Russland-Versteher) - từ ngữ do truyền thông Ðức phát minh dùng ám chỉ những ai không lên án nước Nga và Tổng thống Pu-tin. Theo tổ chức GfdS, "từ ngữ bất hảo của năm" (tiếng Ðức: Unwort des Jahres) là từ ngữ không hay, không đẹp, không phản ánh đúng bản chất vấn đề, nên tránh sử dụng. Ðể giải thích cho quyết định chọn "báo chí dối trá", hội đồng bình chọn cho rằng đó là từ ngữ bút chiến chủ chốt được sử dụng từ chiến tranh thế giới thứ nhất và lực lượng Ðức Quốc xã sau này sử dụng để phỉ báng báo chí độc lập. Trong thời gian qua, ở Ðức đã hình thành một phong trào "những người yêu nước châu Âu phản đối sự Hồi giáo hóa phương Tây" với tên viết tắt là "Pegida". Nhiều người tham gia biểu tình do phong trào này tổ chức đã giương cao khẩu hiệu "báo chí dối trá". Tuy nhiên, rất nhiều người lại không bằng lòng với sự lựa chọn của hội đồng bình chọn (gồm bốn nhà ngôn ngữ học, một nhà báo chuyên nghiệp). Mọi người đã gửi tới hội đồng bình chọn tổng cộng 733 từ ngữ khác nhau. Riêng từ "báo chí dối trá" chỉ có bảy lần được đề nghị, từ "người thông cảm cho nước Nga" có 60 lần. Có người cho rằng, "báo chí dối trá" đáng lẽ phải là "từ ngữ của năm" và "người thông cảm cho nước Nga" là "từ ngữ bất hảo của năm". Bởi "báo chí dối trá" không phải phát minh của Ðức Quốc xã, ngược lại, những người hoạt động chống đối Hitler cũng đã dùng từ ngữ này để lên án bộ máy tuyên truyền phát-xít. Họ gọi Giô-dép-phơ Quê-ben (Joseph Goebbels) - Bộ trưởng thông tin và tuyên truyền của nhà nước Ðức Quốc xã là "thợ cả của báo chí dối trá" (tiếng Ðức: Meister der Luegenpresse). Lúc đầu, nhiều đại diện của các đảng phái ở CHLB Ðức đã phê phán phong trào "Pegida" và cho rằng phong trào này truyền bá tư tưởng bài người nước ngoài và chống lại đạo Hồi. Nhưng, những người đại diện và ủng hộ phong trào cho rằng không phải như vậy, động cơ của họ là muốn làm cho người dân "thức tỉnh" và "sự Hồi giáo hóa chỉ là một phần" của những điều đáng lo ngại, trước tiên là thực tế "chính phủ đã và đang phớt lờ người dân" và "báo chí đã dối trá". Dần dần, nhiều người dân và chính trị gia nổi tiếng cũng phải thừa nhận rằng nhiều điều lo ngại của phong trào này không phải hoàn toàn vô căn cứ. Thí dụ, trong một bài viết ngày 24-1-2015 đăng trên tờ Thời gian (Zeit) cho biết, Chủ tịch Ðảng dân chủ xã hội (SPD), Phó Thủ tướng Ðức Sic-ma Ga-bri-en (Sigmar Gabriel), đã tham gia một cuộc hội thảo do "Pegida" tổ chức tại trụ sở của trung tâm bồi dưỡng chính trị tiểu bang Saxony. Với tư cách là "người dân bình thường tham gia hội thảo", theo ông, không phải tất cả những người hưởng ứng "Pegida" đều là người phân biệt chủng tộc và ông sẽ thảo luận với người không đi theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Hiện nay, không chỉ người dân mà cả những người trong làng báo chí Ðức tranh luận rất sôi nổi, tìm câu trả lời cho câu hỏi liệu báo chí có dối trá hay không. Ngày 15-1-2015, tạp chí Tấm gương (Spiegel) đăng bài Báo chí dối trá hay không? Trong bài viết, tác giả trích dẫn lời bà I-net-sơ Pô-lờ (Ines Pohl) - Tổng biên tập tờ báo danh tiếng "taz". Theo bà, cách phát tán hình ảnh cuộc tuần hành của lãnh đạo thế giới ở Paris vào ngày 11-1-2015 qua Ðài Truyền hình Ðức và qua báo Thế giới (Le Monde) ở Pháp là bằng chứng chỉ ra rằng, "báo chí dối trá" không phải là điều ảo tưởng của những người đại diện và ủng hộ phong trào "Pegida". Vì, với truyền thông phương Tây, nhiều khi hiệu ứng của những bức ảnh quan trọng hơn cả việc dẫn chứng sự thật. Thí dụ, khi xem những bức ảnh đã xử lý, người ta tưởng rằng các nhà lãnh đạo thế giới dẫn đầu đoàn tuần hành lịch sử ở Paris sau khi tòa soạn của tạp chí Charlie Hebdo bị tiến công. Trong thực tế không phải như thế. Bức ảnh được chụp theo dàn dựng ở một đường phố hầu như vắng người, chỉ có những nhà lãnh đạo thế giới đứng xếp hàng ngang với nhau trước ống kính, và phía sau họ là khoảng trống mênh mông. Liên quan cuộc tranh luận về "báo chí dối trá", ngày 19-1-2015, tạp chí Ngôi sao (Stern) đăng bài bình luận của nhà báo Hen-ry Luy-bơ-xờ-tết (Henry Lueberstedt) nhan đề Chính phủ hằng ngày điều khiển tôi như thế nào. Theo tác giả, tất cả các nhà báo, mọi tờ báo, tạp chí đều bị điều khiển và cũng nói dối tất. Với văn phong khá hài hước, tác giả đã làm cho người đọc phải cười, nhưng cười trong nước mắt. Cũng liên quan cuộc tranh luận này, ngày 18-12-2014 tờ Tấm gương hằng ngày (Tagesspiegel) đã đăng bài phỏng vấn GS, TS Vô-phơ-gang Ðôn-xơ-bách (Wolfgang Donsbach) đang giảng dạy tại Học viện Khoa học truyền thông (IfK) thuộc Trường đại học tổng hợp Dresden, trong đó có đoạn nói: "... Không chỉ ở Ðức, hệ thống truyền thông đã mất đi uy tín và sự đáng tin cậy. Bây giờ người dân không chỉ chán chường chính trị mà chán chường cả truyền thông. Có những nguyên nhân khác nhau đẫn đến thực trạng này...". Tối 28-1-2015, Học viện Khoa học truyền thông (IfK) đã tổ chức cuộc hội thảo với sự tham gia của các nhà báo và nhà khoa học trên lĩnh vực truyền thông. Chủ đề chính xoay quanh câu hỏi: Có điều gì là thật trong lời tố cáo "báo chí dối trá"? Nhiều người quan tâm vấn đề cho rằng một trong các nguyên nhân của tình trạng đó là sự dính líu của cơ quan tình báo. Thí dụ như sự dính líu của Cơ quan tình báo đối ngoại Ðức (BND) đối với tập đoàn truyền thông kếch xù Axel Springer với 12.800 nhân viên, doanh thu của năm 2013 đạt tới 2,8 tỷ EUR, là nơi sản xuất nhiều tờ báo, tạp chí lớn ở Ðức và các nước khác. Cụ thể, trong tháng 11-2014, các tờ báo lớn, tạp chí ở Ðức đều đồng loạt đưa tin về sự kiện phanh phui một sự việc liên quan đến tự do báo chí: Trong quá khứ, BND có bảy nguồn "nằm vùng" trong tập đoàn Axel Springer. Một người có mật danh "Klostermann" đã thường xuyên cung cấp thông tin bí mật, trong đó cả thông tin về nhân sự và kế hoạch chiến lược của tập đoàn (bình thường, theo pháp luật của CHLB Ðức, thì cơ quan BND không được hoạt động trong nước). Trước đó, tờ Báo miền nam nước Ðức (tiếng Ðức: Suedeutsche Zeitung) vào ngày 19-5-2010 đăng bài viết về việc cơ quan BND do thám một số nhà báo của tạp chí FOCUS bằng cách nghe trộm điện thoại. Ngày 11-11-2005, hãng tin Làn sóng Ðức (DW) cũng cho đăng một bài viết với nội dung tương tự. Tháng 5-2013, nhiều tờ báo ở châu Âu đưa tin, trong năm 2012, Chính phủ Mỹ đã tiến hành do thám hãng tin AP. Những sự việc tương tự xảy ra trong các năm qua ở Pháp với tờ Le Monde, ở Hà Lan với tờ De Telegraaf, ở Xlô-va-ki-a với tờ Pravda... Chưa biết cuộc tranh luận "báo chí dối trá" sẽ dẫn tới kết cục thế nào, nhưng có điều chắc chắn là sự chán chường hệ thống truyền thông đã gây ảnh hưởng xấu đến sự tiêu thụ báo chí trong xã hội. Các số liệu vừa công bố cho biết so sánh quý 4 của năm 2014 với cùng kỳ năm 2013 cho thấy: tờ Báo miền nam nước Ðức đã bán 381.844 tờ, giảm 18.803 (-4,7%); báo Frankfurt khái quát đã bán 305.257 tờ, giảm 24.448 (-7,4%); báo Thế giới đã bán 200.854, giảm 21.868 (-9,8%); báo taz đã bán 53.812, giảm 4.309 (-7,4%); Nước Ðức mới đã bán 30.409, giảm 1.681 (-5,2%). Duy nhất tờ Thương mại có sự tăng trưởng là bán 118.034 tờ, tăng 2.689 (+2,3%). Vừa qua, một số nhà báo của tờ Thương mại cũng tham gia tranh luận, trong đó một bài viết đã nêu quan điểm: tập đoàn truyền thông là tập đoàn kinh tế, vì vậy không thể trung lập được, nếu không sẽ mất nhiều đơn đặt hàng! Và như ý kiến của Bên Ðê-vít (Bain Dewitt) trong bài Tìm lại bản sắc châu Âu, đề cập Identitarianism (được dịch giả trên một blog trong nước tạm gọi là chủ nghĩa định danh, giữ gìn truyền thống, bảo tồn phát triển dân tộc và định hướng bản sắc văn hóa ở châu Âu...) thì một trong những điều Identitarianism chống lại là thao túng truyền thông đại chúng vì: "Dân chủ là khối số đông được trao quyền hợp pháp, số đông bị kiểm soát, bị tước đoạt, và bị quây nhốt bởi ngành công nghiệp hàng loạt, sản xuất hàng loạt, phương tiện truyền thông hàng loạt và ảo giác hàng loạt"!