Từ xưa đến nay, có rất nhiều người đã bày tỏ quan niệm của mình về cuộc sống. Paven Coocsaghin, người thanh niên cộng sản trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy của nhà văn Xô viết Nikolai Ostrovski đã khẳng định: Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho ra sống…
Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2021
VŨ KHÍ MẠNH NHẤT ĐỂ THAY ĐỔI THẾ GIỚI
Nelson Mandela – vị tổng thống da màu đầu tiên của đất nước Nam Phi cũng đã khẳng định rằng: Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới. Câu nói này khiến ta phải suy nghĩ nhiều hơn về giáo dục – thứ vũ khí vô giá mà mỗi cá nhân vẫn đang sở hữu.
BA CÁCH ĐỂ LÀM GIÀU CHO CHÍNH MÌNH
Trong cuộc sống một người được coi là giàu có không chỉ có vật chất,nhiều của cải mới được coi là giàu có. Mà giàu có ở đây không chỉ nói đến về mặt vật chất mà nó còn cả về tinh thần. Một người được coi là giàu có nếu có đủ cả “mỉm cười, cho đi và tha thứ”.
Lòng đố kỵ LÀM CHÍNH MÌNH bị tổn thương
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi hai tòa tháp đôi WTC biểu tượng thịnh vượng của New York, thành phố kiêu hãnh tự hào với giấc mơ Mỹ và tinh thần dân chủ, tự do bị sụp đổ, tôi cảm thấy có chút đắc chí khi cuối cùng “đế quốc” cũng có ngày này. Tất nhiên vẫn đã có những cảm xúc nhân văn hơn đối với cái chết của gần 3.000 người, nhưng điều đầu tiên xuất hiện khi biết tin lại là một cảm giác phi nhân tính. Nó đã khiến tôi giật mình kinh sợ chính bản thân mình, không chỉ bởi sự thiếu hiểu biết, mà còn bởi sự nhẫn tâm đáng sợ.
Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội
Mùa đông giá rét, cây cối trơ cành sẽ qua đi, nhường bước cho mùa xuân với sức sống mãnh liệt, làm biến đổi cả đất trời. Và đến lúc mùa xuân cũng trôi qua, mùa hạ nồng nàn kéo đến… Cũng như quy luật của thiên nhiên, con người sinh ra, lớn lên và già đi, rồi một ngày kia trở về với cõi vĩnh hằng. Xuân của thiên nhiên qua đi rồi trở lại, nhưng tuổi trẻ của mỗi người chỉ có một lần.
Đừng vô cảm với quyết tâm chống dịch như chống giặc của Đảng, nhà nước ta
Với sự phát triển mạnh mẽ của các biến thể của virus Corola, với bản chất lấy dân làm gốc, Đảng, Nhà nước ta đang tích cực triển khai các biện pháp để đảm bảo an toàn cho người dân, đảm bảo để xã hội phát triển, vượt qua đại dịch COVID-19 một cách tối ưu nhất.
Ấy vậy, nhiều bộ phận từ nhận thức cũng với những âm mưu xấu dộc đã lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, làm phức tạp tình hình,…. Tạo hoang mang dư luận và niềm tin vào chiến lược chống dịch của Đảng, Nhà nước. Ví dụ như việc các đối tượng phản động, chống đối đã xuyên tạc “Bệnh nhân thứ 17 – Nguyễn Hồng Nhung chỉ là “con dê tế thần” để giúp Chính phủ Việt Nam nhận tiền tài trợ từ nước ngoài, hợp thức hóa cho việc bùng phát bệnh dịch không phải do người Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam gây ra”. Tung tin bịa đặt số người bị nhiễm bệnh lên tới gần 500 người, ở 12 tỉnh, thành phố và hàng chục người đã tử vong vì nhiễm Covid-19 tại Việt Nam…
Bên cạnh đó, nhiều đối tượng cũng đã lợi dụng tình hình dịch bệnh để tung tin thất thiệt hoặc đưa những thông tin thiếu tính xác thực, chưa được kiểm chứng, phỏng đoán theo quan điểm, nhận thức cá nhân nhằm câu view, câu like, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Ví dụ như việc, các đối tượng đã tung tin sai lệch việc bệnh nhân thứ 17 nhiễm dịch bệnh Covid-19 Nguyễn Hồng Nhung tham dự khai trương hãng thời trang Uniqlo tại phố Phạm Ngọc Thạch, TP Hà Nội (nhưng thực chất bệnh nhân đã được cách ly từ ngày hôm trước); xuyên tạc chính quyền đã chuẩn bị lò hỏa thiêu cho các địa phương; các tuyến phố ở Thành phố Hồ Chí Minh bị cách ly, cô lập hoàn toàn; hình ảnh chụp lại màn hình từ của một tài khoản Facebook được cho là của cô gái nhiễm bệnh với dòng trạng thái: “Bệnh tình rất yếu, suy kiệt sức khỏe và xin lỗi người dân cả nước”…Theo thống kê của lực lượng Công an, từ khi xuất hiện dịch bệnh Covid-19 đến nay, trên không gian mạng đã có gần 300.000 tin, bài đăng trên các trang thông tin điện tử, blog, diễn đàn; gần 600.000 tin, bài, video clip liên quan đến dịch bệnh đã đăng trên mạng xã hội. Trong đó có rất nhiều tin, bài có nội dung chưa được kiểm chứng, xuyên tạc, sai sự thật, thu hút hàng triệu lượt bình luận, chia sẻ.
Những người dân yêu nước chúng ta, hãy lên án
những hành động vô cảm đó, chúng ta tự hào về nỗ lực, quyết tâm của Đảng và Nhà
nước đang thực hiện với niềm tin chiến thắng đại dịch, đưa đất nước phát triển,
làm mạnh lên tiền đồ của đất nước.
Bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam
Đây là một bài viết
trên kênh VOA Tiếng Việt hồi tháng 11
năm ngoái. Bài này đã bịa đặt, xuyên tạc lố bịch, thổi phồng về tình hình nhân
quyền ở Việt Nam, rêu rao rằng ai đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền đều
bị trấn áp, bắt bớ, bỏ tù với những bản án hết sức nặng nề. Trong khi thực tế
thì đó là những công dân vi phạm pháp luật.
Họ còn tung ra những cáo buộc vô căn cứ như là: các
giá trị đạo đức, văn hóa, những dân chủ nhân quyền chỉ là lời có cánh, nói xong
là bay chứ không có trong hiện thực cuộc sống. Trong một tâm địa xấu xa, những
kẻ này quả thực có trí "tưởng tượng" phi thường.
Phải có kỷ cương, kỷ luật thì mới đảm bảo được dân chủ
một cách thực chất. Nếu không sẽ dẫn đến lợi dụng nhân quyền, lợi dụng dân chủ
để chống phá hoặc vì các mưu đồ cá nhân.
Thời gian qua, các
thế lực thù địch dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta,
hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Họ tung ra những quan
điểm như là "Chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện cứu nước, giành
độc lập dân tộc, và khi giành độc lập rồi thì cần phải thay đổi phương tiện". Hay là "chế độ xã hội chủ nghĩa
của Việt Nam hoàn toàn không có bình đẳng xã hội, không có an sinh, phúc lợi xã
hội gì cả, mọi thứ đều phải trả tiền".
Đây rõ ràng là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa
học và phản động.
Thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước
Thanh niên là người kế tục sự nghiêp cách mạng của Đảng, là lực lượng có
vai trò to lớn trong sự nghiệp cách mạng XHCN, V.I.Lê-nin chỉ rõ: Tất cả nam nữ
thanh niên đều phải là những người xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa mà các
đồng chí là những người đầu tiên trong số hàng triệu người xây dựng đó. Tuy
nhiên để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đó, bên cạnh những yêu cầu về năng lực, về
trình độ chuyên môn thì niềm tin, lý tưởng cộng sản là một yêu cầu tất yếu, yêu
cầu cao đối với thanh niên. Người đòi hỏi: Đoàn thanh niên và toàn thể thanh
niên nói chung muốn đi theo chủ nghĩa cộng sản, thì đều phải học chủ nghĩa cộng
sản. Nhưng học chủ nghĩa cộng sản, giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên
như thế nào, chính ở đây V.I.Lê-nin cho chúng ta những chỉ dẫn có ý nghĩa
phương pháp luận rất quan trọng. Trước hết, theo V.I.Lê-nin vấn đề cốt lõi,
cũng là vấn đề hàng đầu trong giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên là
trang bị cho họ những tri thức khoa học toàn diện, làm cơ sở để tiếp nhận một
cách tự giác lý luận Mác xít, tiếp nhận những kết luận về tính tất yếu của
CNXH, CNCS mà Mác, Ăng-ghen đã chỉ ra. Ngưòi khẳng định: ý thức XHCN ngày nay
chỉ có thể nảy sinh được trên cơ sở sự hiểu biết khoa học sâu sắc. Chính vì đó,
V.I.Lê-nin cho rằng: các bạn sẽ phạm một sai lầm nghiêm trọng nếu từ đó muốn
rút ra một kết luận cho rằng có thể trở thành người cộng sản mà không cần thấm
nhuần những kiến thức của loài người đã tích lũy được. Thật là sai lầm khi nghĩ
rằng chỉ cần thấm nhuần những khẩu hiệu cộng sản, những kết luận của khoa học
cộng sản, chứ không cần phải thấm nhuần tổng số những kiến thức mà chính bản
thân chủ nghĩa cộng sản cũng là kết quả. Chủ nghĩa Mác là một thí dụ chỉ rõ
rằng chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh như thế nào từ tổng số những kiến thức của
nhân loại. Chúng ta hiểu luận điểm này thế nào? Có phải V.I.Lê-nin đã nhấn mạnh
vai trò của giáo dục tri thức khoa học toàn diện, xem nhẹ vai trò giáo dục lý
luận Mác - xít không? Câu trả lời chắc chắn là không. Nếu xem lý tưởng cộng sản
là sự hoà quyện một cách hữu cơ giữa nhận thức khoa học với tình cảm và ý chí
cách mạng trên lập trường giai cấp công nhân đối với sự thắng lợi tất yếu của
chế độ XHCN thì trước hết nó phải được hình thành trên cơ sở sự nhận thức sâu
sắc những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa Mác -Lênin. Đó chính là cơ sở vững
chắc của tình cảm và ý chí cách mạng. Vì vậy, giáo dục lý tưởng cộng sản trước
hết và quan trọng nhất là trang bị cho người học lý luận Mác xít.
Giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên
Quán triệt sâu rộng và tổ chức thực hiện có hiệu quả việc "Học tập và
làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là một biện pháp thiết
thực để nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cho thanh niên hiện nay.
Cùng với việc xác định rõ những nội dung cơ bản, V.I.Lê-nin còn chỉ dẫn cho
chúng ta rất cụ thể vấn đề phải giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên như
thế nào, bằng cách nào. Trước hết, Người cho rằng sự thấm nhuần lý tưởng cộng
sản của thanh niên phải bắt đầu bằng việc họ tự ý thức là cần tiếp thu kiến
thức, tự giáo dục, tự rèn luyện. Người nêu rõ: chúng ta không cần lối học gạo,
nhưng chúng ta cần mở mang và hoàn thiện trí óc của mỗi người học bằng những
kiến thức về những sự việc cơ bản, vì chủ nghĩa cộng sản sẽ trở thành trống
rỗng..., người cộng sản sẽ chỉ là một anh khoe khoang..., nếu như tất cả các
kiến thức đã thu nhận không được nghiền ngẫm trong ý thức của anh ta. Những
kiến thức đó, không nên hấp thụ một cách giản đơn, mà phải hấp thụ có phê phán…
Lý tưởng cộng sản với tư cách là một phẩm chất chính trị của con người, không
tự hình thành và phát triển. Đó là quá trình chuyển hoá biện chứng từ nhận thức
chính trị trở thành tình cảm cách mạng và biểu hiện ra ở hành vi, ở ý chí,
quyết tâm của mỗi người cống hiến, hy sinh cho lý tưởng XHCN. Do đó, vai trò
của công tác giáo dục, rèn luyện chỉ phát huy được hiệu quả thực sự khi mỗi
người tiếp nhận nó một cách tự giác, biến nó trở thành động cơ bên trong, thôi
thúc con người nỗ lực phấn đấu, rèn luyện.
Với ý nghĩa đó, có thể thấy, giáo dục lý tưởng cộng sản chỉ thực sự đạt
được hiệu quả cao nếu mỗi thanh niên tự ý thức và thực hiện tốt quá trình
chuyển hoá giáo dục thành tự giáo dục. Tự giáo dục, tự rèn luyện để nâng cao lý
tưởng cộng sản là quá trình tự giác của mỗi thanh niên nhằm hướng đến nâng cao
trình độ nhận thức chính trị, củng cố và phát triển tình cảm cách mạng, rèn
luyện ý chí quyết tâm cống hiến sức lực cho sự nghiệp cách mạng. Đó chính là
quá trình họ tự trau dồi tri thức lý luận của mình, làm chủ hệ thống tri thức
khoa học nói chung, tri thức lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng,
tự rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, giữ vững lập trường giai
cấp và đạo đức cách mạng trong mọi điều kiện, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn
để học tập, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Tự giác học
tập, rèn luyện, nâng cao nhận thức chính trị, trình độ lý luận, tình cảm cách
mạng và ý chí quyết tâm chính là cơ sở quan trọng của lý tưởng cộng sản. Tuy
nhiên, đó mới chỉ là điều kiện cần thiết, điều quan trọng là họ phải tôi luyện
trong hoạt động thực tiễn. V.I.Lê-nin cho rằng: Giáo dục thanh niên cộng sản
không phải là nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay những phép tắc đạo
đức. Không phải cái đó là giáo dục... cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu
tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng CNCS. Đó là lời giải đáp về
vấn đề phải học tập CNCS như thế nào. Người khẳng định: Không có lao động,
không có đấu tranh cách mạng thì kiến thức sách vở về CNXH khoa học sẽ không có
một chút giá trị nào cả.
TRI ÂN CÁC ANH HÙNG LIỆT SỸ
Nhân dân
ta đã vượt qua bao khó khăn, trở ngại, gian khổ hy sinh để đánh thắng các thế lực
xâm lược giành độc lập tự do, thống nhất Tổ Quốc. Để làm nên chiến thắng to lớn
ấy, đã có hàng triệu chiến sĩ, đồng bào ta đã chiến đấu và anh dũng hy sinh
trên những chiến trường, những trận địa.
Đền đáp
công ơn to lớn đó, kế tục và phát huy đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của
ông cha ta, trong những năm qua cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta
đã hết lòng chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần của thương binh, bệnh binh,
gia đình liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng và người có công với cách mạng. Tuy
là một tỉnh tuy kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, thế nhưng Đảng bộ và nhân dân cả
nước, bằng tình cảm và trách nhiệm đã thường xuyên làm tốt phong trào tình
nghĩa ở khắp các địa phương trong tỉnh, với rất nhiều hoạt động phong phú, nhiều
việc làm nhân ái chẳng hạn như: lập quỹ đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt
sĩ cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, nhận chăm sóc
thương binh, bệnh binh khó khăn,… Chúng ta không thể kể hết được những việc làm
mà Đảng bộ, nhân dân ta, ở khắp mọi địa phương trong nước đã và đang làm để có
thể bày tỏ lòng biết ơn đối với anh chị em thương binh, bệnh binh, gia đình liệt
sỹ và người có công với cách mạng trong những năm qua.
Việt Nam
ta đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước vì dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn
minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó là mục tiêu đáp ứng khát vọng của
toàn dân, do đó hơn lúc nào hết công tác Chăm sóc Thương binh, bệnh binh, gia
đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng vừa là trách nhiệm của Đảng,
Nhà nước, vừa là trách nhiệm và tình cảm của toàn dân. Mặc dù trong những năm vừa
qua chúng ta có rất nhiều cố gắng chăm lo cho công tác Thương binh - Liệt sĩ,
thế nhưng so với yêu cầu, chúng ta còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa.
Tháng 7
về, xin bày tỏ lòng biết ơn đối với anh chị em thương bệnh binh, các Mẹ Việt
Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, các gia đình có công với với cách mạng. Xin
nhiệt liệt biểu dương các ngành, các địa phương, các tổ chức xã hội cùng các cá
nhân đã đóng góp vào việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho thương
binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Mong rằng mỗi người, mỗi ngành, mỗi tổ chức
xã hội, hãy làm thật tốt hơn nữa công tác chăm sóc Thương binh, liệt sĩ và người
có công, coi đây là trách nhiệm, tình cảm và vinh dự của chúng ta, tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đối với người có công đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và Bảo vệ
tổ quốc Việt nam./.
HỖ TRỢ KỊP THỜI, HIỆU QUẢ
Hiện nay, nhiều người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 đang mong chờ từng ngày để được thụ hưởng chính sách từ gói hỗ trợ 26.000 tỷ đồng theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1-7-2021 của Chính phủ.
NGƯỜI LÍNH KHÔNG SỐNG ẢO
Nhiều người xem Chương trình “Chúng tôi là chiến sĩ” trên truyền hình tuần qua rất thích thú khi một chiến sĩ Bộ đội Biên phòng hát chèo cùng Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Tự Long, Phó giám đốc Nhà hát Chèo Quân đội. Họ gọi đó là “màn đối chèo chiến sĩ-nghệ sĩ”.
TP.HCM đã vượt ngưỡng 10.000 ca mắc COVID-19, trong 24 giờ qua thêm 1.229 ca
TP.HCM trong vòng 24 giờ qua ghi nhận 1.229 trường hợp mắc COVID-19 mới. Trong đợt dịch thứ 4 này, Thành phố đã có tổng cộng 10.295 trường hợp mắc COVID-19 được Bộ Y tế công bố.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tách rời Tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lê Nin
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tách rời Tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lê Nin
Đại hội XIII của Đảng là sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới của đất nước và hoạch định những đường lối chiến lược trong tầm nhìn dài hạn, nhìn lại 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 ( kỷ niệm tròn 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (kỷ niệm 100 thành lập nước).
Với vị trí ý nghĩa đặc biệt quan trọng như vậy, các văn kiện
đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phải kiên định, vận dụng và phát
triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong
thời gian trước và sau Đại hội XIII của Đảng các thế lực thù địch tiếp tục đẩy
mạnh chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng với những thủ đoạn ngày càng xảo
quyệt và nguy hiểm. Chúng tung ra những luận điệu đều có chung mục đích chống
phá Đảng ta, nhưng hình thức thể hiện ngày càng thay đổi đa dạng.
Có quan điểm công khai trắng trợn, thể hiện rõ sự thù địch,
hằn học với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; có quan điểm thừa
nhận lịch sử nhưng lại phủ nhận giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin...
Đặc biệt, những luận điệu cố tình tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng
Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó “nâng tầm” một cách giả tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm có tính ngụy biện dễ làm cho một số người ngộ
nhận, tin theo. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học,
giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc về vai
trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm
1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất,
cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin không
những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con
đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản.
Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta
thấy rõ con đường Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã nghiên
cứu, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin và nêu rõ bản chất cốt lõi của chủ nghĩa Mác
– Lênin một cách cơ bản, hệ thống. Theo Người: “Tất cả mọi người đều có
quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và
V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng”
tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp
với thực tiễn Việt Nam”. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có tư
tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp nhận được chủ nghĩa Mác – Lênin thì tư tưởng Hồ
Chí Minh mới thực sự được xác lập và phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn
gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí
Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thế
giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá tảng” những
vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc.
Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những cống hiến
đó có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống”
trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.
Theo Hồ Chí Minh, mục đích học chủ nghĩa Mác - Lênin là để
phụng sự lợi ích chung, chứ không có gì cao xa, nếu không hết lòng, hết sức
phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư, tự lợi là trái với chủ nghĩa Mác -
Lênin. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình,
có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”. Bản chất của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng thống nhất
biện chứng với nhau. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư
tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh
để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Cũng không thể đề cao hoặc
tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như bằng cách này hay cách khác lại
phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin.
Để thực hiện động cơ chính trị đen tối, phủ nhận chủ nghĩa
Mác – Lênin, tách rời chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế
lực thù địch cho rằng: “Ở Việt Nam bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi thời,
chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, chỉ cần nói tư tưởng Hồ Chí Minh là
đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác – Lênin”. Đây là luận điệu không phải là sự ca
ngợi, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng giá trị đích thực, vốn có trong tư
tưởng của Người; mà trái lại thực chất các thế lực phản động muốn cô lập, tách
rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc lý luận chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí
Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời làm suy yếu và tiến tới phủ nhận chính
tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này là hết sức nguy hiểm vì đích cuối cùng luận điểm
này hướng đến đó là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh;
tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy
yếu và đi đến xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ cương lĩnh đầu
tiên năm 1930 cho đến văn kiện Đại hội VI (năm 1986) luôn nhất quán khẳng định
chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng
và cách mạng Việt Nam. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta có sự phát triển, bổ
sung trên cơ sở sự vận động của thực tiễn và khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động của mình. Đây là biểu hiện về nhận thức đúng, sâu sắc mối quan hệ giữa chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng. Đảng ta đã vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết thực
tiễn 35 năm đổi mới và rút ra một số bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học:
“Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền
thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc
tế phù hợp với Việt Nam”. Như vậy, Đảng ta xác định rất rõ: công cuộc đổi mới
hiện nay phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận
thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động
cách mạng. Những biểu hiện tư tưởng cố tình tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với
chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách “ra vẻ” đề cao hoặc “nâng tầm” tư tưởng Hồ Chí
Minh là hoàn toàn trái với quan điểm, đường lối của Đảng ta. Vì vậy, cần kiên
quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng
tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng
một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh tổ chức và rèn luyện, hơn 75 năm qua, luôn là lực lượng chính trị tuyệt
đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, luôn hoàn thành xuất
sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác,
đội quân lao động sản xuất. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú
Trọng từng khen ngợi Quân đội nhân dân Việt Nam luôn chủ động, nhạy bén tích
cực đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn
“diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Tin tưởng rằng, với quyết
tâm chính trị và bản lĩnh “Bộ đội Cụ Hồ”, Quân đội ta sẽ tiếp tục xung kích đi
đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; các cấp ủy
đảng, các cơ quan, đơn vị… tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu
quả nhiệm vụ đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán
bộ, chiến sĩ luôn kiên định Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt
đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ được giao.
Tiếp tục định hướng những nội dung trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.
Tiếp tục định hướng những nội dung trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.
Âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là
xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa nước ta theo quỹ
đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt
trận tư tưởng, lý luận là "mũi đột phá" hòng làm tan rã niềm tin, gây
hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những "khoảng trống" để dần dần
đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, nhân dân nhằm chuyển hoá,
xoá bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, từ khi đất nước tiến hành
đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, âm mưu chống phá của các thế lực
thù địch, phản động là không thay đổi nhưng chuyển sang hình thái mới, phương
thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi xảo quyệt. Chúng lợi dụng Internet,
báo điện tử, trang mạng xã hội, các website, các nền tảng công nghệ
phổ biến: blog, Facebook, Youtube, Zalo…để tổ chức các chiến dịch phá hoại
trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực cả lý luận và thực tiễn. Mục tiêu cơ
bản của chúng là đả phá, công kích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản cầm quyền, về chủ nghĩa
xã hội; âm mưu phủ nhận, loại bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh
đạo của Đảng; đòi từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thông qua các con đường hợp tác, giao
lưu, trao đổi văn hóa, tri thức khoa học, kinh tế, luật pháp
và các nền tảng công nghệ mạng để đưa các
lý thuyết mới, tư tưởng mới thâm nhập vào Việt Nam hòng “pha loãng tư tưởng
chính thống”, làm mờ nhạt nguyên lý, nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; tập trung phê phán, hạ thấp vai trò, ý nghĩa thời đại,
lý luận của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lênin.
Từ việc những vấn đề
trong tác phẩm….để bảo vệ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể rút ra
một số nguyên tắc có tính chất phương pháp luận trong việc bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam
hiện nay như sau:
Một là, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống
nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi
đây là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng. Sự kiên định về lập trường tư
tưởng cũng chính là ngọn lửa thử vàng, là nguyên tắc tối cao của cán bộ, đảng
viên ở Việt Nam hiện nay trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Hai
là, thường xuyên giáo dục đạo
đức cách mạng, giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng, tạo sức đề kháng cao
trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; chủ động tấn công mạnh
mẽ, đánh bại âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng ta phải
tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH
và con đường đi lên CNXH, tổng kết thực tiễn để tiếp tục phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm cung cấp vũ khí lý luận sắc bén chống lại
các thế lực thù địch, nâng cao hiệu quả công tác cổ động, tuyên truyền, giáo dục
đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục
chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân
dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ
động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.
Ba là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là
sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá
trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển
và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực
tiễn cách mạng Việt Nam ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.
Bốn là, tăng
cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng,
đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong
Đảng.
Năm là,
tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ
thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua; nâng cao chất
lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; Tích cực, chủ
động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...
Một số nét đặc sắc trong văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Một số nét đặc sắc trong văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc mà còn là nhà ngoại giao kiệt xuất, là người sáng lập và định hướng phát triển cho nền văn hóa ngoại giao Việt Nam hiện đại. Văn hóa ngoại giao của Người mang những giá trị đặc sắc được thể hiện qua tư tưởng, hoạt động, tri thức, ngôn ngữ, nghệ thuật và phong cách ứng xử. Những giá trị này cần được tiếp tục khẳng định, vận dụng và phát triển trong quá trình hoạt động ngoại giao hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ
được người dân Việt Nam kính trọng mà còn là sự ngưỡng mộ, trân trọng của bạn
bè năm châu trên thế giới. Thế giới tôn vinh Người là anh hùng giải phóng dân tộc, danh
nhân văn hóa kiệt xuất do sự đóng góp quan trọng của Người, trong đó có lĩnh
vực văn hóa ngoại giao. Văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể
hiện trên một số nội dung cơ bản sau đây:
Một là, thể hiện qua giá trị “Chân”, “Thiện”,
“Mỹ” xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng, hoạt động ngoại giao của Người
Nói đến “Chân” là nói đến sự chân thành, chân
thật, trung thực giữa người với người. Trong quan hệ ngoại giao, Người luôn
dùng lòng chân thành để đối đãi, ứng xử với bạn bè, đồng chí, nhân dân và cả kẻ
thù. Sự chân thành ấy tuyệt nhiên không phải nhất thời, cũng không phải âm mưu,
thủ đoạn mà nó thuộc về bản chất đạo đức ngoại giao của Người.
“Thiện” biểu hiện rõ nhất ở Người đó là sự
lương thiện, sự tử tế, lòng vị tha, nhân hậu, tình thương yêu con người. Kiên
trì đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân chính là mục
tiêu xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
cũng là điều “Thiện” cao quý nhất của Người.
“Mỹ” ở đây chính là nét đẹp trong tư duy và hoạt
động ngoại giao của Người. Cuộc đời Bác bôn
ba qua nhiều nước khác nhau và đặc biệt là đến đâu thì Người đều lưu ý học hỏi,
tìm hiểu đặc trưng văn hóa nơi mà mình đến, nên tư duy cũng như lối ứng
xử ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh dù mang đậm nét văn hóa riêng của người
Việt, nhưng cũng không bị lạc lõng trước bạn bè quốc tế, thậm chí còn tạo nên
cảm xúc đặc biệt cho những người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau.
Hai là, thể hiện qua tri thức và ngôn ngữ ngoại
giao của Người
Chủ tịch Hồ Chí Minh có trí tuệ uyên bác, ngôn
ngữ phong phú, sinh động và sắc bén. Những
thành tựu đối ngoại của Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước và bảo vệ Tổ quốc ta đã thể hiện rõ nét trí tuệ và sự lãnh đạo tài
tình của Người qua tầm nhìn, bản lĩnh với những chủ trương, quyết sách ngoại
giao sáng suốt để đưa cách mạng Việt Nam dẫn đến thành công.
Bằng trí tuệ uyên bác và tài ứng xử khéo léo,
hài hước, tự nhiên, cùng những lập luận sắc bén và cách chơi chữ tài tình,
trong giao tiếp, Người luôn truyền đạt những suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của
mình một cách tự nhiên, đơn giản, không dài dòng, vòng vo nhưng vẫn lôi cuốn,
hấp dẫn được nhiều người khác, đồng thời tạo nên phong cách ngoại giao đặc sắc
của Người.
Không chỉ có trí tuệ lỗi lạc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn sở hữu vốn ngôn ngữ phong phú và giàu sắc thái. Người đã làm chủ được
nhiều ngôn ngữ khác nhau và sử dụng thông thạo các ngôn ngữ đó để vận dụng linh
hoạt, thiên biến vạn hóa trong giao tiếp, ứng xử.
Ba là, thể hiện trong phong cách và nghệ thuật
ngoại giao của Người
Nét độc đáo này trong văn hóa
ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của vốn hiểu biết sâu
rộng cùng tài trí thông minh, nghị lực và bản lĩnh phi thường với phong thái
giản dị, gần gũi, cởi mở, thẳng thắn, tự tin và phong cách lịch thiệp, tế nhị
và chu đáo với tất cả mọi người. Có thể nói, trên thế giới hiếm có một nhà lãnh
đạo nào mà có phong cách và nghệ thuật ngoại giao giàu giá trị văn hóa như Chủ
tịch Hồ Chí Minh của chúng ta. Người luôn xác định tiếp xúc ngoại giao để làm
gì thì đều luôn đặt lợi ích đó gắn liền với lợi ích của nhân dân, của dân tộc.
Trong đó, phải nói đến phương pháp “ngoại giao
công tâm” đánh vào lòng người bằng lẽ phải, đạo lý và giàu lòng nhân ái; phương
pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với cái
luôn thay đổi; nghệ thuật biết mình, biết
người, biết thời thế, biết dừng và biết biến để đạt được mục tiêu cao nhất trong
giải quyết các mối quan hệ ngoại giao; từ đó, tạo nên sự cảm phục và ngưỡng mộ cho những ai đã từng tiếp xúc với
Người. Ở những thời khắc quan trọng,
Người vừa tinh tế, khéo léo, lại quyết đoán trong việc đưa ra những quyết định
đúng đắn và phù hợp khiến cho người khác phải tâm phục, khẩu phục.
Khoan dung, hòa hiếu là cái đẹp trong văn hóa
ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người, khoan dung không phải là nhún
nhường mà nó phải được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng đạo lý, chính nghĩa,
tự do, bình đẳng và tiến bộ. Người không chấp nhận việc thỏa hiệp với những
điều kiện bất công, những hành vi chối bỏ hạnh phúc và chà đạp lên các quyền cơ
bản của mỗi con người, mỗi dẫn tộc. Hòa hiếu luôn là phương châm nhất quán của
Người để ứng xử ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm mọi cách ngăn chặn
xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng để giải quyết xung đột bằng biện pháp
hòa bình.
Hiện nay, đất nước đang hội
nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa ngoại giao Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị và
có ý nghĩa thực tiễn lớn lao, bổ sung và làm phong phú thêm giá trị văn hóa
ngoại giao nhân loại. Ứng xử trong một thế giới đang biến động phức tạp với
những thách thức và cơ hội chưa từng có, văn hóa ngoại giao Hồ Chí Minh sẽ là
nền tảng, hành trang cho các hoạt động đối ngoại. Đồng thời, phát huy vai trò
là một mặt trận tiên phong, góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định; thuận lợi để thu hút các nguồn lực phát triển và nâng cao vị
thế đất nước trên trường quốc tế. Văn hóa ngoại giao của Người đã góp phần đưa
Việt Nam đến với thế giới và đưa thế giới đến với Việt Nam; nó truyền đi một
thông điệp tích cực, đó là cần xây dựng, nuôi dưỡng và phát triển văn hóa ngoại
giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế vì một thế giới
tốt đẹp hơn./.
Tìm hiểu một số vấn đề về phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tìm hiểu một số vấn đề về phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Phong cách là cái riêng, cái độc đáo, có tính
hệ thống, trở thành nền nếp ổn định của một người hoặc một lớp người, được thể
hiện trong các mặt của cuộc sống. Như vậy, phong cách không phải là tính bẩm
sinh, mà được hình thành qua sự phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi và định
hình trong quá trình sống của con người. Nó luôn chịu sự tác động, chi phối của
hoàn cảnh, điều kiện sống, truyền thống văn hóa, lối sống, thói quen, thậm chí
là của tập quán,… Sự tác động này, không quyết định chi phối làm nên phong cách
của con người, mặc dù con người chịu sự tác động của hoàn cảnh, điều kiện sống,
từ đó hình thành, định hình được phong cách, như: “Gần mực thì đen, gần đèn thì
sáng”. Nhưng, con người cũng có thể định hình được một phong cách khác hẳn sự
tác động của hoàn cảnh, như: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Từ đó, chúng
ta thấy, phong cách Hồ Chí Minh là những nét riêng của Người trong cuộc đời
hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, vô cùng cao thượng của một người Anh
hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất và được rèn dũa qua nhiều năm
tháng gian khổ, hy sinh để dấn thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giai cấp, giải phóng con người.
Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan
trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho chúng ta. Phong cách của
Người không chỉ là bài học, là chuẩn mực cho việc xây dựng phong cách người cán
bộ cách mạng mà còn bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay
và mai sau. Trong đó, phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ tính độc
đáo: Gọn, rõ, hấp dẫn, đại chúng, nói đi đôi với làm.
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí
Minh luôn chú trọng phong cách diễn đạt, coi đó là công cụ đắc lực không thể
thiếu để tuyên truyền, giác ngộ ý thức cách mạng, củng cố niềm tin và nâng cao
nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đối với Hồ Chí Minh,
nói và viết không phải đơn thuần chỉ là một hành động thông tin mà còn chủ yếu
là một quá trình tác động lên người nghe, người đọc, nhằm thuyết phục, cảm hóa,
nâng cao nhận thức, thay đổi quan niệm và hành vi, hướng mọi người vào các hoạt
động thực tiễn cách mạng, phù hợp xu hướng tiến bộ của xã hội, của thời đại.
Chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, mà còn là
người thầy của nền báo chí cách mạng Việt Nam, Người đã viết hàng ngàn bài báo,
bằng nhiều thứ tiếng Việt, Pháp, Nga, Trung…, với nhiều bút danh khác nhau.
Người đã có hơn 10 năm lao động, hoạt động, học tập ở nước ngoài nên Người rất
am hiểu văn hóa và phong cách diễn đạt của ngôn ngữ phương Tây, nhưng khi nói
và viết trước đồng bào trong nước thì cách diễn đạt của Người lại rất Việt Nam.
Đặc trưng nổi bật trong phong cách diễn đạt
của Hồ Chí Minh là tính phù hợp một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ,
cách diễn đạt trong các bài nói, bài viết của Người rất mộc mạc, ngắn gọn trong
sáng, giản dị và khúc triết dễ hiểu phù hợp với trình độ nhận thức, sự hiểu
biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người đọc, người nghe. Nhờ đó, những
bài nói, bài viết của Người luôn được mọi người cảm thụ sâu sắc và có sức
thuyết phục mạnh mẽ. Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn căn dặn chúng ta, bao giờ cũng
phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nói/viết để làm gì? Và nói,viết
cái gì? Nghĩa là, nói cách khác, phải tùy theo đối tượng cụ thể để xác định mục
đích, cách diễn đạt nào là phù hợp và nội dung nào là thiết thực.
Phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh là những
nét đặc trưng nổi bật trong trình bày, truyền đạt tư tưởng của Người. Trước khi
thực hiện một bài nói hoặc bài viết nào đó, Người luôn xác định rõ chủ đề, đối
tượng, mục đích, từ đó tìm cách nói, cách viết cho đúng chủ đề, cho phù hợp với
đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra. Điểm nổi bật nhất trong phong cách diễn
đạt của Hồ Chí Minh chính là tính chân thực, ngắn gọn, trong sáng, giản dị, dễ
hiểu. Những thông tin trong bài nói, viết của Người luôn có tính xác thực cao,
có nhiều số liệu thực tế. Người luôn chọn lọc từ ngữ trong quá trình sử dụng để
làm sao cho “lời ít nhưng ý nhiều”, đặc biệt là ưu tiên lựa chọn và sử dụng từ
thuần Việt để không ngừng làm trong sáng tiếng nói của dân tộc. Trong nhiều bài
nói và bài viết trước đồng bào, đồng chí, Người thường trình bày đi thẳng vào
vấn đề bằng phương pháp phát vấn (đặt câu hỏi) như: “Vì sao chúng ta vào Đảng?
Phải chăng để thăng quan, phát tài?”. Người trả lời và giải thích ngắn gọn
rằng: “Không phải?… Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp,
phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên”. Đây là nhiệm vụ rất
to lớn và nặng nề. Vì vậy, Người căn dặn nếu sợ không phục vụ được nhân dân,
phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào Đảng. Bởi vì Đảng là
tổ chức cách mạng có sứ mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho
độc lập và chủ nghĩa xã hội, chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa
vị, thu hái lợi lộc…
Bút pháp và phong cách của Người biến hóa vô
cùng sinh động. Khi cụ thể, trực quan: “Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ
khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chổ mà dùng được”. Khi hết sức kiệm
lời mà mỗi câu từ lại mang sức nặng của một tuyên ngôn: “Không có gì quý hơn
độc lập, tự do”, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” hay “Dân cường thì quốc
thịnh”. Lúc đanh thép, kiên quyết: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng
quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lại có khi hồn hậu,
khiêm nhường: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho
nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các
cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”. Và cũng
không kém phần hài hước, ý nhị. Chẳng hạn khi phê phán thói ham chuộng hình
thức, Người nói: “Thí dụ, ngày nay tập quân sự, cốt là biết bắn súng, dùng dao,
ném lựu đạn, dùng địa thế, khéo mò đêm, khéo trinh thám, nói tóm lại, cốt tập
cho mọi người biết đánh du kích. Thế mà có nhiều nơi chỉ để thì giờ tập một
hai, một hai. Thế thì khác gì tập lễ nhạc để đi chữa cháy”.
Trong công việc cũng như quá trình chuẩn bị
bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh luôn gắn bó với tập thể, tôn trọng tập
thể, lắng nghe ý kiến của tập thể nhằm phát huy sức mạnh của tập thể. Người cho
rằng, không ai có thể hiểu được mọi thứ, làm được mọi việc. Lãnh đạo giỏi không
phải tự mình nghĩ ra, tự mình làm lấy mà điều quan trọng là phải biết tạo điều
kiện cho mọi người được đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào công việc
chung, có như vậy mới phát huy hết sức mạnh và trí tuệ của tập thể. Người
thường xuyên trao đổi bài viết, bài phát biểu của mình cho nhiều người đọc,
lắng nghe ý kiến đóng góp để điều chỉnh bài viết, bài phát biểu sao cho thật
phù hợp với đối tượng người đọc, người nghe.
Chúng ta còn nhớ khi viết bài nhân dịp kỷ niệm
39 năm ngày thành lập Đảng. Hồ Chí Minh nói rõ mục đích, nội dung và nhấn mạnh
yêu cầu ngắn, gọn, tập trung vào chủ đề “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao
đạo đức cách mạng”. Người đã sửa chữa và cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến
từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia góp ý, rồi Người bổ sung
vào bản thảo những ý kiến góp ý. Trong thảo luận lần cuối, có ý kiến đề nghị
Người cho sửa đầu đề bài báo, đưa vế “Nâng cao đạo đức cách mạng” lên trước vế
“Quét sạch chủ nghĩa cá nhân” với lý do là cán bộ, đảng viên nói chung là tốt,
ưu điểm là cơ bản, Người suy nghĩ và nói: Vì cả hai chú đã đề nghị, là đa số,
Bác đồng ý nhượng bộ, đổi lại tên đầu bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét
sạch chủ nghĩa cá nhân”. Nhưng ở trong bài thì dứt khoát phải để nguyên ý của
Bác: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân,
Không chỉ cẩn thận trong bài viết, mà ngay
trong các bài phát biểu Người cũng chuẩn bị rất kỹ và thường trao đổi với mọi
người về những điều mình sẽ nói. Trong lần về thăm quê sau hơn 50 năm xa cách,
sáng ngày mai nói chuyện với nhân dân, tối hôm trước Người đã thức khuya chuẩn
bị bài phát biểu. Mười giờ tối, Người cầm tờ giấy có nội dung ý kiến phát biểu
gặp các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An trao đổi, Người nói: Mai Bác gặp đồng
bào, Bác nói mấy vấn đề này, các chú xem có được không?…
Tất cả điều đó cho thấy Người rất cẩn thận
trong cách nói và viết. Người thường nhắc nhở và khuyên mọi người: “Viết và nói
cố nhiên phải vắn tắt. Song trước hết phải có nội dung. Phải chữa cho hết bệnh
nói dài, viết rỗng”, “Viết rồi thì phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu
nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ.
Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một
số đồng chí công, nông, binh đọc lại. Chổ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ
nói ra cho thì phải chữa lại”, “… Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ
thì chớ dùng. Những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta”. Những lời
khuyên và chỉ bảo của Người cũng như phong cách nói và viết đã vượt qua giới
hạn của kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đơn thuần, trở thành một nghệ thuật giàu khả
năng chinh phục, thấm sâu vào lòng người đọc, người nghe.
Vì vậy, đối với mỗi một cán bộ, đảng viên nói
chung và lực lượng Công an nhân dân nói riêng, trong đó có cán bộ, chiến sĩ
Công an tỉnh Quảng Bình cần phải thường xuyên tìm hiểu, học tập phong cách diễn
đạt của Hồ Chí Minh nhằm giúp cho chúng ta nâng cao trình độ diễn đạt, hoàn
thiện kỹ năng giao tiếp.
Nghiên cứu về phong cách diễn đạt của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, chúng ta càng nhận thấy những giá trị thực tiễn to lớn, sinh
động đối với lực lượng Công an trong tình hình hiện nay. Đó cũng là kho
tàng tri thức, kinh nghiệm thực tiễn và tài sản vô giá để mỗi cán bộ, chiến sỹ
học tập, rèn luyện, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước
tin tưởng, giao phó và được Nhân dân tin yêu, giúp đỡ, xứng đáng là công bộc
tận tụy của nhân dân như Hồ Chí Minh mong muốn.
HOÀNG VĂN HOAN - NGUYÊN ỦY VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ - KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC!
Hoàng Văn Hoan (1905 -1991), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam.
Hoàng Văn Hoan sinh ra tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, tên thật là Trần Xuân Phong. Năm 1926, Hoan tham gia lớp huấn luyện cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh mở ở Trung Quốc. Năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Sau Cách mạng Tháng Tám, là Thứ trưởng Bộ quốc phòng và Ủy viên chính trị toàn quốc Vệ quốc quân.
Từ năm 1950 đến năm 1957 làm Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc kiêm Đại sứ tại Triều Tiên và Mông Cổ. Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Bộ Chính trị.
Năm 1951 Hoan được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và từ năm 1956 đến năm 1976 là Ủy viên Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1976 khi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc xấu đi và không thể hàn gắn về vấn đề Campuchia và Hoàng Sa, khi đó Hoàng Văn Hoan theo đường lối Maoist, hoàn toàn ủng hộ phái bảo thủ tại Trung Quốc. Nên năm 1976, Hoan bị cho ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Ngày 11 tháng 6 - 1979, lấy cớ sang Cộng hòa Dân chủ Đức để chữa bệnh, với sự giúp sức của tình báo Trung Quốc, Hoan đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) rồi sang Bắc Kinh.
Tại Bắc Kinh, ông ta đã xuyên tạc tình hình trong nước, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, "tố cáo" Việt Nam đã đối xử với người Việt gốc Hoa còn "tệ hơn cả cách Hitler đối xử với người Do Thái". Ông ta liên tục hô hào lật đổ chính quyền ở Việt Nam để thực hiện một cuộc cách mạng mới. Ông ta đã "vẽ đường" cho chính quyền Bắc Kinh khi đó thực hiện chiến tranh xâm lược, phá hoại, giết hại đồng bào ta.
Sau sự kiện này Hoan đã trở thành biểu tượng của sự phản bội. Truyền thông Việt Nam lúc đó đã so sánh Hoàng Văn Hoan với Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc. Đó là thời điểm quan hệ Việt - Trung căng thẳng khi Trung Quốc xua quân xâm lược Việt Nam hồi đầu năm.
Không lâu sau, nhà nước Việt Nam lần lượt hủy bỏ các chức vụ và xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của Hoan. Ngày 26 tháng 6 năm 1980, Việt Nam tuyên bố xử tử hình vắng mặt Hoàng Văn Hoan.
Năm 1990, với sự nỗ lực cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, quan hệ Việt - Trung được khôi phục. Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã cho đưa người nhà của Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc để Hoan được đoàn tụ với gia đình vào những năm tháng cuối đời.
Hoàng Văn Hoan chết tại Bắc Kinh năm 1991 và được Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước, xác được chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất của các quan chức cao cấp của Trung Quốc. Sau này hài cốt của Hoan đã được con trai chuyển về Việt Nam.
Trong những ngày tháng lịch sử này, bên cạnh những tấm gương xả thân hy sinh vì đại nghĩa để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cũng không quên những kẻ mãi quốc cầu vinh, vì mưu lợi riêng, tham công danh phú quý mà cúi đầu làm tay sai, bán rẻ Tổ quốc, dòng họ tổ tiên.
Yêu nước ST.