Tìm hiểu một số vấn đề về phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Phong cách là cái riêng, cái độc đáo, có tính
hệ thống, trở thành nền nếp ổn định của một người hoặc một lớp người, được thể
hiện trong các mặt của cuộc sống. Như vậy, phong cách không phải là tính bẩm
sinh, mà được hình thành qua sự phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi và định
hình trong quá trình sống của con người. Nó luôn chịu sự tác động, chi phối của
hoàn cảnh, điều kiện sống, truyền thống văn hóa, lối sống, thói quen, thậm chí
là của tập quán,… Sự tác động này, không quyết định chi phối làm nên phong cách
của con người, mặc dù con người chịu sự tác động của hoàn cảnh, điều kiện sống,
từ đó hình thành, định hình được phong cách, như: “Gần mực thì đen, gần đèn thì
sáng”. Nhưng, con người cũng có thể định hình được một phong cách khác hẳn sự
tác động của hoàn cảnh, như: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Từ đó, chúng
ta thấy, phong cách Hồ Chí Minh là những nét riêng của Người trong cuộc đời
hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, vô cùng cao thượng của một người Anh
hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất và được rèn dũa qua nhiều năm
tháng gian khổ, hy sinh để dấn thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giai cấp, giải phóng con người.
Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan
trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho chúng ta. Phong cách của
Người không chỉ là bài học, là chuẩn mực cho việc xây dựng phong cách người cán
bộ cách mạng mà còn bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay
và mai sau. Trong đó, phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ tính độc
đáo: Gọn, rõ, hấp dẫn, đại chúng, nói đi đôi với làm.
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí
Minh luôn chú trọng phong cách diễn đạt, coi đó là công cụ đắc lực không thể
thiếu để tuyên truyền, giác ngộ ý thức cách mạng, củng cố niềm tin và nâng cao
nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đối với Hồ Chí Minh,
nói và viết không phải đơn thuần chỉ là một hành động thông tin mà còn chủ yếu
là một quá trình tác động lên người nghe, người đọc, nhằm thuyết phục, cảm hóa,
nâng cao nhận thức, thay đổi quan niệm và hành vi, hướng mọi người vào các hoạt
động thực tiễn cách mạng, phù hợp xu hướng tiến bộ của xã hội, của thời đại.
Chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, mà còn là
người thầy của nền báo chí cách mạng Việt Nam, Người đã viết hàng ngàn bài báo,
bằng nhiều thứ tiếng Việt, Pháp, Nga, Trung…, với nhiều bút danh khác nhau.
Người đã có hơn 10 năm lao động, hoạt động, học tập ở nước ngoài nên Người rất
am hiểu văn hóa và phong cách diễn đạt của ngôn ngữ phương Tây, nhưng khi nói
và viết trước đồng bào trong nước thì cách diễn đạt của Người lại rất Việt Nam.
Đặc trưng nổi bật trong phong cách diễn đạt
của Hồ Chí Minh là tính phù hợp một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ,
cách diễn đạt trong các bài nói, bài viết của Người rất mộc mạc, ngắn gọn trong
sáng, giản dị và khúc triết dễ hiểu phù hợp với trình độ nhận thức, sự hiểu
biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người đọc, người nghe. Nhờ đó, những
bài nói, bài viết của Người luôn được mọi người cảm thụ sâu sắc và có sức
thuyết phục mạnh mẽ. Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn căn dặn chúng ta, bao giờ cũng
phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nói/viết để làm gì? Và nói,viết
cái gì? Nghĩa là, nói cách khác, phải tùy theo đối tượng cụ thể để xác định mục
đích, cách diễn đạt nào là phù hợp và nội dung nào là thiết thực.
Phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh là những
nét đặc trưng nổi bật trong trình bày, truyền đạt tư tưởng của Người. Trước khi
thực hiện một bài nói hoặc bài viết nào đó, Người luôn xác định rõ chủ đề, đối
tượng, mục đích, từ đó tìm cách nói, cách viết cho đúng chủ đề, cho phù hợp với
đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra. Điểm nổi bật nhất trong phong cách diễn
đạt của Hồ Chí Minh chính là tính chân thực, ngắn gọn, trong sáng, giản dị, dễ
hiểu. Những thông tin trong bài nói, viết của Người luôn có tính xác thực cao,
có nhiều số liệu thực tế. Người luôn chọn lọc từ ngữ trong quá trình sử dụng để
làm sao cho “lời ít nhưng ý nhiều”, đặc biệt là ưu tiên lựa chọn và sử dụng từ
thuần Việt để không ngừng làm trong sáng tiếng nói của dân tộc. Trong nhiều bài
nói và bài viết trước đồng bào, đồng chí, Người thường trình bày đi thẳng vào
vấn đề bằng phương pháp phát vấn (đặt câu hỏi) như: “Vì sao chúng ta vào Đảng?
Phải chăng để thăng quan, phát tài?”. Người trả lời và giải thích ngắn gọn
rằng: “Không phải?… Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp,
phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên”. Đây là nhiệm vụ rất
to lớn và nặng nề. Vì vậy, Người căn dặn nếu sợ không phục vụ được nhân dân,
phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào Đảng. Bởi vì Đảng là
tổ chức cách mạng có sứ mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho
độc lập và chủ nghĩa xã hội, chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa
vị, thu hái lợi lộc…
Bút pháp và phong cách của Người biến hóa vô
cùng sinh động. Khi cụ thể, trực quan: “Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ
khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chổ mà dùng được”. Khi hết sức kiệm
lời mà mỗi câu từ lại mang sức nặng của một tuyên ngôn: “Không có gì quý hơn
độc lập, tự do”, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” hay “Dân cường thì quốc
thịnh”. Lúc đanh thép, kiên quyết: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng
quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lại có khi hồn hậu,
khiêm nhường: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho
nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các
cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”. Và cũng
không kém phần hài hước, ý nhị. Chẳng hạn khi phê phán thói ham chuộng hình
thức, Người nói: “Thí dụ, ngày nay tập quân sự, cốt là biết bắn súng, dùng dao,
ném lựu đạn, dùng địa thế, khéo mò đêm, khéo trinh thám, nói tóm lại, cốt tập
cho mọi người biết đánh du kích. Thế mà có nhiều nơi chỉ để thì giờ tập một
hai, một hai. Thế thì khác gì tập lễ nhạc để đi chữa cháy”.
Trong công việc cũng như quá trình chuẩn bị
bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh luôn gắn bó với tập thể, tôn trọng tập
thể, lắng nghe ý kiến của tập thể nhằm phát huy sức mạnh của tập thể. Người cho
rằng, không ai có thể hiểu được mọi thứ, làm được mọi việc. Lãnh đạo giỏi không
phải tự mình nghĩ ra, tự mình làm lấy mà điều quan trọng là phải biết tạo điều
kiện cho mọi người được đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào công việc
chung, có như vậy mới phát huy hết sức mạnh và trí tuệ của tập thể. Người
thường xuyên trao đổi bài viết, bài phát biểu của mình cho nhiều người đọc,
lắng nghe ý kiến đóng góp để điều chỉnh bài viết, bài phát biểu sao cho thật
phù hợp với đối tượng người đọc, người nghe.
Chúng ta còn nhớ khi viết bài nhân dịp kỷ niệm
39 năm ngày thành lập Đảng. Hồ Chí Minh nói rõ mục đích, nội dung và nhấn mạnh
yêu cầu ngắn, gọn, tập trung vào chủ đề “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao
đạo đức cách mạng”. Người đã sửa chữa và cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến
từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia góp ý, rồi Người bổ sung
vào bản thảo những ý kiến góp ý. Trong thảo luận lần cuối, có ý kiến đề nghị
Người cho sửa đầu đề bài báo, đưa vế “Nâng cao đạo đức cách mạng” lên trước vế
“Quét sạch chủ nghĩa cá nhân” với lý do là cán bộ, đảng viên nói chung là tốt,
ưu điểm là cơ bản, Người suy nghĩ và nói: Vì cả hai chú đã đề nghị, là đa số,
Bác đồng ý nhượng bộ, đổi lại tên đầu bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét
sạch chủ nghĩa cá nhân”. Nhưng ở trong bài thì dứt khoát phải để nguyên ý của
Bác: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân,
Không chỉ cẩn thận trong bài viết, mà ngay
trong các bài phát biểu Người cũng chuẩn bị rất kỹ và thường trao đổi với mọi
người về những điều mình sẽ nói. Trong lần về thăm quê sau hơn 50 năm xa cách,
sáng ngày mai nói chuyện với nhân dân, tối hôm trước Người đã thức khuya chuẩn
bị bài phát biểu. Mười giờ tối, Người cầm tờ giấy có nội dung ý kiến phát biểu
gặp các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An trao đổi, Người nói: Mai Bác gặp đồng
bào, Bác nói mấy vấn đề này, các chú xem có được không?…
Tất cả điều đó cho thấy Người rất cẩn thận
trong cách nói và viết. Người thường nhắc nhở và khuyên mọi người: “Viết và nói
cố nhiên phải vắn tắt. Song trước hết phải có nội dung. Phải chữa cho hết bệnh
nói dài, viết rỗng”, “Viết rồi thì phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu
nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ.
Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một
số đồng chí công, nông, binh đọc lại. Chổ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ
nói ra cho thì phải chữa lại”, “… Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ
thì chớ dùng. Những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta”. Những lời
khuyên và chỉ bảo của Người cũng như phong cách nói và viết đã vượt qua giới
hạn của kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đơn thuần, trở thành một nghệ thuật giàu khả
năng chinh phục, thấm sâu vào lòng người đọc, người nghe.
Vì vậy, đối với mỗi một cán bộ, đảng viên nói
chung và lực lượng Công an nhân dân nói riêng, trong đó có cán bộ, chiến sĩ
Công an tỉnh Quảng Bình cần phải thường xuyên tìm hiểu, học tập phong cách diễn
đạt của Hồ Chí Minh nhằm giúp cho chúng ta nâng cao trình độ diễn đạt, hoàn
thiện kỹ năng giao tiếp.
Nghiên cứu về phong cách diễn đạt của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, chúng ta càng nhận thấy những giá trị thực tiễn to lớn, sinh
động đối với lực lượng Công an trong tình hình hiện nay. Đó cũng là kho
tàng tri thức, kinh nghiệm thực tiễn và tài sản vô giá để mỗi cán bộ, chiến sỹ
học tập, rèn luyện, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước
tin tưởng, giao phó và được Nhân dân tin yêu, giúp đỡ, xứng đáng là công bộc
tận tụy của nhân dân như Hồ Chí Minh mong muốn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét