Thứ Năm, 15 tháng 7, 2021

TRÁI ĐẮNG CHO NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC LÀM TAY SAI CHO BỌN PHẢN ĐỘNG.


          Chắc hẳn chúng ta không xa lạ gì với những cái tên như: Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài... từng được sống trong ảo vọng, được "Việt Tân" tung hô hết mực, với ý đồ nuôi dưỡng thành những "ngọn cờ" khuấy đảo thành "phong trào chống phá ở trong nước".

          Cái giá của việc quay lưng lại với Tổ quốc vô cùng khủng khiếp. Họ tự đánh mất bản thân mình, đánh mất gia đình, đánh mất tương lai, đánh mất con đường quay trở lại quê hương, đánh mất cơ hội được hưởng cuộc sống an yên trên Tổ quốc mình.

          Từ những lời hứa viển vông của "Việt Tân" về "cơm no áo ấm, về tấm thẻ xanh đi Mỹ, đi Úc”, rằng “cứ chống đối đi, vào tù sẽ có người bảo vệ", từ những cái nhìn thiển cận về chính trị, mờ mắt trước những lợi ích nhất thời. Hàng loạt đối tượng đã sa chân mà không có đường trở lại. Những con người ấy tự biến mình thành QUÂN CỜ chứ không phải NGỌN CỜ của những tổ chức phản động đầu sỏ như "Việt Tân, CPQGVNLT". Chúng điên cuồng thực hiện mọi hành vi chống phá bằng hàng loạt thủ đoạn nham hiểm, thậm chí còn âm mưu thực hiện khủng bố bằng bom. Đương nhiên, đã là quân cờ thì chúng chỉ được sử dụng khi còn giá trị. Hết giá trị thì bị vứt bỏ không thương tiếc.

          Thực tế là, với những "thân phận chống đối" do "Việt Tân" gây dựng, số này được cấp tiền trong thời gian đầu để thực hiện chỉ đạo của "Việt Tân" là kích động, tổ chức các hoạt động tụ tập, biểu tình, gây rối an ninh trật tự, khiếu kiện, tuyên truyền phá hoại tư tưởng ở trong nước, dùng số này "làm nhân chứng sống" để xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, lấy cớ để Mỹ, các nước phương Tây can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Khi số này bị bắt, xử lý, "Việt Tân" sẽ coi đây là cơ hội dùng hình ảnh của họ để xuyên tạc, rêu rao rằng "Việt Nam đàn áp người yêu nước", yêu cầu các nước can thiệp để đưa các “tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị” ra nước ngoài và làm bằng chứng cho các kẻ chống đối ở trong nước tin tưởng rằng chỉ cần chúng làm theo sự sắp đặt của Việt Tân thì chắc chắn chúng sẽ nhận được sự bảo vệ và càng điên cuồng chống đối mạnh hơn nữa. Nhưng, đời không như mơ, nhiều kẻ từng “vang danh” chống đối ở trong nước, được các tổ chức phản động, khủng bố tung hô thì khi ra nước ngoài đều trở nên mờ nhạt, vô danh, sống cuộc đời lay lắt vì đơn giản là chúng không còn giá trị lợi dụng, không còn khả năng chống phá Việt Nam nữa, các tổ chức phản động, khủng bố sẽ quay lưng đi tìm con mồi béo bở hơn, có tiềm năng hơn ở trong nước thay vì tiếp tục bơm tiền cho chúng kêu gào trên mạng. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài hay Cù Huy Hà Vũ là một ví dụ điển hình!

          Đối với những kẻ chưa muốn "lang thang nơi đất khách" cố bám trụ để chống đối ở trong nước như: Lê Văn Lượng, Trần Huỳnh Duy Thức...đều đã lĩnh bản án đích đáng của Toà án, mới đây thôi Hạnh libety, Dũng vova đều đã bị bắt giữ, bị truy tố theo quy định của pháp luật, chắc chắn bản án cho chúng là không hề nhẹ!

          Còn nhiều "mảnh đời tráng lệ" khác nữa mà chúng tôi không liệt kê ở đây, nhưng chắc chắn rằng kết cục cho những kẻ phản bội tổ quốc đều giống nhau đó là những ngày tháng tự ăn năn, hối lỗi trong nhà gian, đó là sự dằn vặt, hắt hủi, khinh rẻ quân bán nước của cộng đồng, đó là những tương lai tha hương nơi đất khách quê người, sống lang thang mà không có ngày trở về đất mẹ.

          Nên nhớ "Làm người có ích cống hiến cho xã hội, xây dựng đất nước cần một sự cố gắng, nỗ lực và là một chặng đường dài, nhưng làm được điều ấy thì không những người đó sẽ có tương lai tươi sáng mà còn lưu lại tiếng thơm muôn đời, ngược lại, nếu muốn làm những hạng bán nước cầu vinh như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống thì rất đơn giản, có thể có những lợi ích đạt được nhưng tiếng xấu sẽ truyền mãi về sau, bị người đời coi rẻ”.

          Phản bội Tổ quốc, phản bội Nhân dân không bao giờ có kết cục tốt đẹp./.



 

 

Lợi dụng vấn đề dân tộc trong chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch

Trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ chống Việt Nam, các thế lực thù địch luôn coi việc lợi dụng vấn đề dân tộc là một trọng điểm.

Trong những thập kỷ gần đây, chúng ra sức chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, lợi dụng những khó khăn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền kính động, gây mất ổn định, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập... kêu gọi sự can thiệp, hỗ trợ từ bên ngoài đế chống phá cách mạng Việt Nam.


        Tây Nguyên của Việt Nam là nơi quy tụ đồng bào thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Các thế lực thù địch đang tập trung vào địa bàn này để chống phá. Được thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ, chúng tìm mọi cách vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là "nhà nước Đê Ga tự trị", tạo cớ để nước ngoài nhảy vào can thiệp. Chúng đã gây nên các cuộc bạo loạn chính trị ở nhiều nơi trên địa bàn Tây Nguyên (năm 2001 và 2004).

        Một số nét cơ bản về âm mưu, thủ đoạn chống phá hiện nay cho thấy, lợi dụng vấn đề dân tộc đã thực sự trở thành một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Qua công tác đấu tranh, chúng ta nhận diện âm mưu, thủ đoạn của địch trong "diễn biến hòa bình" về vấn đề dân tộc với một số nét cơ bản sau:

        - Vấn đề dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm của "diễn biến hoà bình", được coi là vấn đề then chốt của địch nhằm phá vở khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, chia rẽ Nhân dân vvới Đảng, Nhà nước.

        - Trong vấn đề dân tộc, địch tập trung tuyên truyền nhằm "khoét sâu", "nới rộng" mâu thuẫn nội bộ dân tộc thông qua triệt để khai thác, nhào nặn thông tin, tuyên truyền tiêu cực về dân sinh, dân trí, dânchủ, môi trường tự nhiên và văn hóa, xã hội.

        - Kích động hình thành tâm lý kỳ thị, phân biệt trong một bộ phận Nhân dân; xây dựng 'ngọn cờ" nhằm tập hợp lực lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số.

        - Tuyên truyền xuyên tạc về tình hình dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương. Một mặt nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặt khác vừa tạo 'tiếng vang', kêu gọi tài trợ, vừa thúc đẩy sự can thiệp, gây sức ép của các tổ chức Quốc tế vào đời sống chính trị nước ta.

        Thứ nhất, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiên lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam.

        Về mục tiêu, việc lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đều là loại hoạt động tiến công chông phá cách mạng nước ta, đi đến loại trừ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.

        Về nội dung tiến công, phá hoại, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

        Về biện pháp thực hiện, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chủ yếu bằng các hoạt động phi vũ trang, bằng chính lực lượng từ bên trong có sự trợ lực, răn đe bằng sức mạnh toàn diện ở bên ngoài.

        Thứ hai, bắt nguồn từ đặc điểm Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và tầm quan trọng đặc biệt của các dân tộc trong cách mạng Việt Nam hiện nay.

        Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (chiếm trên 86% dân số cả nước) là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc (chiếm gần 16% dân số cả nước). Tuy là các dân tộc thiểu số nhưng 53 dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng và Nhà nưởc ta luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề dân tộc, coi thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

        Thấy được tầm quan trọng của các dân tộc hợp thành quốc gia dân tộc Việt Nam, kế tục chính sách mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực hiện trước đây, ngày nay các thê lực thù địch càng ráo riết, triệt đề khai thác, tận dụng vấn đề dân tộc, coi đó là một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nưởc ta.

        Thứ ba, vùng các dân tộc thiểu số ở nước ta đang có những khó khăn mà kẻ địch có thể lợi dụng chống phá.

        Mặc dầu đã có sự quan tâm toàn diện và sâu sắc của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân ta, song do nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý... và cả những hạn chế, sai sót trong tổ chức thực hiện, cho đến nay vùng các dân tộc thiểu số của nưốc ta vẫn còn nhiều khó khăn cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiêu số nhiều nơi còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá, đời sống và quốc phòng, an ninh còn nhiều bất cập. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những hạn chế đó để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đây là một lý do giải thích vì sao lợi dụng vấn đề dân tộc trở thành một trọng điểm của chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thê lực thù địch đối vối cách mạng Việt Nam hiện nay./.

Thông báo Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

 Thông báo Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 5/7 đến ngày 8/7/2021, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp Hội nghị lần thứ ba để thảo luận và quyết định về các nội dung: Tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020 và dự kiến kế hoạch 5 năm 2021-2025; xem xét, ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; Quy định thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng khóa XIII; về cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước và phương án giới thiệu bổ sung nhân sự đảm nhiệm một số chức danh lãnh đạo cơ quan Nhà nước khóa XV, nhiệm kỳ 2021-2026; bầu bổ sung Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; báo cáo những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 2 đến Hội nghị Trung ương 3 và các nhiệm vụ trọng tâm từ Hội nghị Trung ương 3 đến Hội nghị Trung ương 4; báo cáo tình hình phòng, chống dịch bệnh COVID-19; xem xét, thi hành kỷ luật cán bộ và một số vấn đề quan trọng khác.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị.

Các đại biểu dự Hội nghị đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ, thảo luận sôi nổi, tâm huyết, trách nhiệm, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc vào các Tờ trình, Báo cáo và các nội dung của Hội nghị. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa các ý kiến xác đáng và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua Nghị quyết của Hội nghị.

1. Về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025

Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến về tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020 và dự kiến kế hoạch 5 năm 2021-2025. Đây là những kế hoạch hết sức quan trọng, rộng lớn, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội do Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.

Các đại biểu đã nghiên cứu, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình kinh tế-xã hội nước ta hiện nay và phân tích, dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới dưới tác động của đại dịch COVID-19, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh mới trên thế giới; từ đó, thống nhất cao về những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ chủ yếu, một số chỉ tiêu cơ bản, và đặc biệt là các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể, sát hợp với thực tế, có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm thực hiện thành công các kế hoạch đề ra.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ tiếp tục cập nhật, hoàn thiện các tờ trình, kế hoạch để trình Quốc hội khóa XV xem xét, quyết định.

2. Về Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII

 Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, nhất trí thông qua Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII. Đây là những văn bản rất quan trọng, nhằm cụ thể hóa Điều lệ Đảng, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và phương pháp công tác của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Nội dung của các quy chế căn cứ vào Cương lĩnh, Hiến pháp, Điều lệ Đảng và Quy định thi hành Điều lệ Đảng, là sự kế thừa, bổ sung, phát triển Quy chế làm việc của khóa XII, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII, với những điểm mới, quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp thực tiễn, bảo đảm phát huy tốt hơn nữa dân chủ trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; giữ vững chế độ lãnh đạo tập thể, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị; đổi mới, cải tiến chế độ, lề lối làm việc, phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự phân công, phân cấp, phối hợp chặt chẽ và phù hợp…, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đảng, tăng cường sức mạnh, kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

3. Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng khóa XIII

 Trên cơ sở tổng kết thi hành Điều lệ Đảng khoá XII, các quy định của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến về những nội dung mà qua thực tiễn thi hành còn có những vướng mắc, bất cập, nhất là các vấn đề cụ thể phát sinh từ cơ sở, từ các chi bộ, đảng bộ. Đó là những vấn đề như: Quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; sinh hoạt định kỳ của đảng bộ cơ sở, chi bộ; việc giới thiệu và kết nạp người vào Đảng; trường hợp kết nạp và công nhận đảng viên chính thức sai quy định; phát thẻ và quản lý thẻ đảng viên, ghi hồ sơ đảng viên; việc bầu đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên; việc lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp ủy; quy định về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và thẩm quyền, nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp; thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm pháp luật, quy định về việc xử lý khi phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý; quy định về các trường hợp không giải quyết tố cáo...; công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng; thi hành kỷ luật và biểu quyết kỷ luật; khiếu nại kỷ luật đảng... Đây là những vấn đề quan trọng thuộc phương pháp, quy trình thủ tục và nghiệp vụ của công tác Đảng cần phải được tổ chức nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc.

[Bế mạc Hội nghị TW 3: Cụ thể hóa kịp thời Nghị quyết Đại hội XIII]

4. Ban Chấp hành Trung ương đã dân chủ thảo luận, xem xét kỹ lưỡng và thống nhất cao về cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước và việc giới thiệu nhân sự bổ sung một số chức danh lãnh đạo cơ quan Nhà nước khóa XV, nhiệm kỳ 2021-2026 để trình Quốc hội xem xét bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu bổ sung 02 đồng chí Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII.

5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận, kết luận, biểu quyết, quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Vũ Huy Hoàng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng; thi hành kỷ luật đồng chí Trần Văn Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XIV tỉnh Bình Dương bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng nhiệm kỳ: 2010-2015, 2015-2020, 2020-2025.

6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, thảo luận Báo cáo những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã chỉ đạo giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 2 đến Hội nghị Trung ương 3 và các nhiệm vụ trọng tâm từ Hội nghị Trung ương 3 đến Hội nghị Trung ương 4; Báo cáo tình hình phòng, chống dịch bệnh COVID-19 cùng một số nội dung quan trọng khác.

7. Ban Chấp hành Trung ương kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, phát huy kết quả quan trọng đã đạt được của năm 2020 và những tháng đầu năm 2021; nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2021; chung tay quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh COVID-19; tiếp tục tổ chức tốt việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.

Đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội, 

bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

      Tận dụng sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động tăng cường phát tán quan điểm sai trái, nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, vạch trần ý đồ của chúng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài.

      Để tiếp tục đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cấp ủy đảng các cấp trong Quân đội cần nhận thức sâu sắc và tiến hành đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau đây:

     Một là, tăng cường giáo dục, xây dựng lập trường, tư tưởng chính trị kiên định, vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ, nâng cao sức đề kháng”, khả năng miễn dịch” trước quan điểm sai trái trên không gian mạng. Đây là giải pháp cơ bản, xuyên suốt, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước quan điểm sai trái cho cán bộ, chiến sĩ. Cấp ủy các cấp cần quán triệt, thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII). Tăng cường giáo dục bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Kịp thời thông tin có định hướng các sự kiện, vấn đề nảy sinh; chỉ rõ dấu hiệu nhận biết chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng. Từ đó, giúp cán bộ, chiến sĩ nêu cao cảnh giác, không dao động trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng, tăng cường “sức đề kháng”, đề cao trách nhiệm, tính tự giác trong đấu tranh, phản bác quan điểm, sai trái, thù địch.

      Hai là, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch, lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

      Ba làphát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng nòng cốt, vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng đấu tranh nòng cốt vừa có chức năng tham mưu, chỉ đạo, định hướng đấu tranh, vừa kịp thời cung cấp thông tin để thực hiện các biện pháp đấu tranh triệt phá thông tin xấu độc và giữ vai trò chủ đạo trong vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng đấu tranh nòng cốt, chuyên sâu linh hoạt, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với từng cơ quan, đơn vị; phát huy hiệu quả đội ngũ cộng tác viên trong tham gia viết bài đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các báo, tạp chí. Đồng thời, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.

      Bốn là, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, không tạo “khoảng trống” để các thế lực thù địch chống phá là một nội dung quan trọng trong thực hiện phương châm chỉ đạo của công tác tư tưởng, nhằm tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp, chế độ cung cấp thông tin, bảo đảm cho các thông tin chính thống đến trước, đến sớm với cán bộ, chiến sĩ để định hướng tư tưởng; thông tin kịp thời các phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, như: chỉ rõ mục tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác, làm cơ sở cho các lực lượng viết tin, bài đấu tranh. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong hoạt động đấu tranh.

      Năm làđẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ đấu tranh trên internet, mạng xã hội; tăng cường trao đổi kinh nghiệm đấu tranh giữa các cơ quan, đơn vị, lực lượng. Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu, khai thác hiệu quả các phần mềm kiểm soát, phân loại thông tin trên mạng xã hội. Tiếp tục phát triển các giải pháp công nghệ truyền thông; đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật phục vụ lực lượng tham gia đấu tranh trên internet, mạng xã hội; kịp thời bóc gỡ thông tin xấu độc không để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiếp cận được với thông tin này. Duy trì tổ chức tốt hội nghị rút kinh nghiệm và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, làm cơ sở cho các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu nâng cao kỹ năng đấu tranh trên mạng xã hội. Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trao đổi thông tin, kinh nghiệm hay, cách làm mới, hiệu quả trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

                                                                                                                    Q496(V)

“HỌC TRÒ CHẲNG NHỮNG HỌC Ở TRƯỜNG, HỌC TRONG SÁCH, MÀ CÒN CẦN HỌC TRONG CÔNG TÁC PHỤC VỤ NHÂN DÂN MỘT CÁCH THỰC TẾ NỮA”

 


Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Kết hợp học với hành”, đăng trên Báo Nhân dân, số 498, ngày 14/7/1955. Đây là năm đầu tiên miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào khôi phục kinh tế, tiếp tục cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, nhằm mục đích củng cố hòa bình, tiến tới giành độc lập, thống nhất nước nhà.

Thông qua bài viết, Hồ Chí Minh nhắc nhở cả người dạy và người học phải quán triệt và hiểu sâu sắc ý nghĩa của việc học, không chỉ học ở trong nhà trường, ở trong sách, mà còn phải học ở mọi người. Học tập là quá trình tiếp thu, thấm nhuần những tri thức được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống và đem những tri thức đó áp dụng vào thực tiễn, để cải tạo thực tiễn và thúc đẩy sự phát triển của thực tiễn. Lời dạy của Người được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo, coi đây là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội; chú trong nâng cao chất lượng và phát triển một nền giáo dục thực sự vì con người, vì cuộc sống, vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động dạy học trong các nhà trường quân đội và thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở các cơ quan, đơn vị, đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện, tập trung huấn luyện bảo đảm đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu; huấn luyện toàn diện, lấy thực hành làm chính; coi trọng huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị mới, huấn luyện đêm, huấn luyện sát với đối tượng tác chiến, địa bàn, khu vực phòng thủ. Đồng thời, làm tốt công tác sơ, tổng kết để rút ra những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả để bổ sung vào các tài liệu, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả toàn diện công tác giáo dục, đào tạo và huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

Cần cán bộ tốt, môi trường sạch

 


Thủ tướng vừa ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg về đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025. Theo đó, với mục tiêu tổng số dự án đầu tư công từ nguồn ngân sách trung ương của cả nước giai đoạn này là khoảng 5.000 dự án. Đây là một con số rất ý nghĩa, song, điều quan trọng nhất ở đây là dự án phải đi vào thực tiễn, có tác động mạnh mẽ, lan tỏa. Ngược lại, nếu dự án được trình và duyệt nhưng lại không thể triển khai, rơi vào tình trạng "treo", đội vốn năm này qua năm khác thì chẳng những không mang lại lợi ích gì cho nền kinh tế mà còn kèm theo gánh nặng nợ nần, tốn kém chi phí cơ hội. Do vậy, trong Chỉ thị trên, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã yêu cầu từng bộ, cơ quan, địa phương phải tập trung rà soát kỹ, giảm mạnh số lượng dự án, nhất là các dự án khởi công mới.

Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh: Kiên quyết xóa bỏ cơ chế "xin - cho" và chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân công, phân nhiệm đi đôi với tăng cường giám sát, kiểm tra, đánh giá thực hiện và khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh. Thủ tướng yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ở trung ương, Bí thư tỉnh ủy, thành ủy và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng về chất lượng, hiệu quả, tiến độ của việc xây dựng, triển khai kế hoạch đầu tư công. Thiết nghĩ, việc gắn trách nhiệm cho người đứng đầu là rất cần thiết để thúc đẩy đầu tư công trên cả nước. Điều này đòi hỏi lãnh đạo địa phương phải đặt lợi ích chung lên trên hết, nói không với thỏa hiệp và tiêu cực. Hay nói cách khác là không được để xảy ra chuyện "sân sau", "chạy dự án", "xin - cho dự án" theo mối quan hệ của ông A, bà B nào đó. Nếu khắc phục được tình trạng này, môi trường đầu tư và kinh doanh của địa phương sẽ được nâng lên. "Đất lành, chim đậu", không lo sẽ không có nhà đầu tư lớn, dự án lớn về triển khai.Bằng chứng là những địa phương có chỉ số PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) đạt thứ hạng cao trong những năm vừa qua đều là những địa phương tăng trưởng mạnh mẽ, chính quyền được doanh nghiệp đánh giá, "chấm điểm" cao. Lấy ví dụ Bình Dương, theo kết quả PCI năm 2020 mới công bố hồi tháng 4 vừa qua, PCI tỉnh này có sự cải thiện mạnh mẽ nhất với mức tăng 2,78 điểm và tăng 9 bậc so với kết quả năm 2019. Các cấp, các ngành ở địa phương này được cho biết là đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi, giải quyết các vướng mắc để các dự án sớm được triển khai để đi vào sản xuất kinh doanh. Do đó, không hề ngạc nhiên khi Tổng cục Thống kê mới đây công bố, người dân tại tỉnh Bình Dương có thu nhập bình quân năm 2020 đạt 7 triệu đồng/tháng, cao nhất cả nước. Con số này thậm chí đã vượt qua cả hai đầu tàu kinh tế là Hà Nội và TPHCM.

Tóm lại còn lợi ích gì hơn thế, "được đơn, được kép", dự án thành công, doanh nghiệp được lợi, kinh tế địa phương phát triển, lãnh đạo được "tiếng thơm" và được ghi nhận về "đức, tầm, tài"; cuộc sống người dân được nâng lên.

“Chống dịch như chống giặc”

 


Càng thương đội ngũ các chiến sĩ nơi tuyến đầu chống dịch bao nhiêu, chúng ta và nhiều người trong xã hội càng căm giận những người vô ý thức đã làm lây lan Sars-CoV-2 trong cộng đồng bấy nhiêu, các hành vi không chấp hành các chỉ thị của Chính phủ và của ngành y tế...

Đợt bùng lần thứ 4 này có thể nói rất rất phức tạp, khó khăn, sự vất vả của đội ngũ y bác sĩ nơi tuyến đầu chống "giặc" dịch. Làm sao có thể bàng quan khi được chứng kiến cảnh các y bác sĩ tận tâm làm việc trong điều kiện vô cùng khó khăn, khắc nghiệt đến suy kiệt sức lực? Ngay cả những người được coi là "máu lạnh" cũng không thể kìm nén được tiếng thở dài thương xót. Nếu ai đó từng được chứng kiến, tiếp xúc với môi trường phòng dịch bệnh nguy hiểm sẽ hiểu được sự khốn khổ của đội ngũ y bác sĩ khi mang trên người bộ quần áo bảo hộ. Khi các y bác sĩ đã khoác bộ đồ bảo hộ phòng dịch lên người, điều đó đồng nghĩa với việc phải "tạm dừng" mọi nhu cầu thiết yếu như ăn, uống... Chưa kể đến chuyện phải làm việc liên tục nhiều giờ, căng thẳng, mệt mỏi cả về thể chất và tinh thần, chỉ riêng việc phải nhịn ăn, nhịn uống... trong thời gian dài cũng đã khiến cơ thể suy kiệt. Theo cơ chế sinh học, mỗi người có thể nhịn ăn một số ngày, nhưng nước uống thì không thể nhịn, nếu không cơ thể sẽ mất nước không thể trụ vững. Ấy vậy mà khi thực hiện nhiệm vụ truy vết thần tốc để đảm bảo không cho đại dịch Covid-19 có cơ hội bùng phát trong cộng đồng, các y bác sĩ buộc phải mặc bộ đồ bảo hộ và chấp nhận "nhịn" mọi thứ. Khi không được nạp năng lượng cho cơ thể, lại lao động quần quật nhiều giờ liền, đến máy cũng phải "đổ mồ hôi" chứ nói gì đến con người. Mọi người trong xã hội đều hiểu rằng, công việc của những chiến sĩ áo trắng nơi tuyến đầu chống dịch không chỉ nguy hiểm bởi nguy cơ lây nhiễm Sars-CoV-2, mà còn ở sự lao lực vất vả, hao mòn thể chất, có thể gục ngã bất cứ lúc nào. Song, để đảm bảo sự bình yên cho cộng đồng xã hội, các anh, các chị vẫn vững vàng không hề nao núng. Mong rằng tất cả xã hội cùng cố gắng thực hiện nghiêm túc mọi khuyến cáo, yêu cầu phòng chống đại dịch để các anh, các chị không phải thêm phần lo lắng, vất vả.

Song với sự kiên cường, dũng cảm của đội ngũ các chiến sĩ nơi tuyến đầu chống dịch, lại có rất nhiều người trong xã hội vô ý thức đã làm lây lan Sars-CoV-2 trong cộng đồng. Chỉ vì ích kỷ cá nhân, sự vô ý thức, coi thường pháp luật của một số người mà đội ngũ y bác sĩ và toàn xã hội đang phải ngày đêm vất vả, lao tâm khổ tứ. Đây là thái độ coi thường kỷ cương phép nước làm nhiểm tới hàng chục người, thậm chí hàng trăm người. Hàng trăm hộ dân bị đảo lộn cuộc sống, hàng nghìn tỷ đồng ngân sách tiêu tốn vô ích, đội ngũ y bác sĩ thì phải làm việc cật lực để truy vết.

“Chống dịch như chống giặc” rất mong muốn cơ quan bảo vệ pháp luật có chế tài đủ mạnh như thời chiến đối với hành vi làm lây lan dịch bệnh. Các cơ quan chức năng trên toàn quốc cần mạnh tay hơn nữa để không còn ai dám nhu nhơ giỡn mặt với pháp luật.

Kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Đến thời điểm hiện tại, sau bài viết của GS, TS Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam công bố bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bài viết của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cố tình lèo lái, cắt cúp, sử dụng ngôn ngữ vừa kích động vừa mị dân, dẫn dắt có chủ ý để không chỉ dừng lại ở sự xuyên tạc nội dung bài viết của Tổng Bí thư mà sâu xa hơn chính là âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thổi phồng những hạn chế trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, những tồn tại trong công tác quản lý kinh tế... để gây hoang mang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Vì thế, để tiếp tục kiên định con đường đã chọn, thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, việc mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu đúng bản chất vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, thấu triệt nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và đó là sự thật không thể phủ nhận… trong bài viết của Tổng Bí thư là rất quan trọng, rất cần thiết.

Chủ nghĩa xã hội dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh, "nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động; là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom; chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt… Vì thế, nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc.

Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội được Tổng Bí thư khẳng định trong bài viết: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới"… là hoàn toàn phù hợp lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. 

Xuyên suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội đều khẳng định nhất quán độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tại Đại hội II (1951), Đảng khẳng định, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam sẽ tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa và nước Việt Nam sẽ thành một nước xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ II, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) đã giành được thắng lợi. Trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, Đảng ta, nhân dân ta không chỉ kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà còn xác định rõ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì thế, từ lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư đã khẳng định trong bài viết của mình rằng, "lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa". Hơn nữa, thực tiễn đi lên chủ nghĩa xã hội cho thấy, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là hình thức tối ưu để thực hiện quyền lực của nhân dân. Việc phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, để văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc được chú trọng… chính là thành tựu về lý luận của Đảng, là kết quả sự tổng kết thực tiễn và tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như những thành tựu của về văn hóa của nhân loại…

Đồng thời, việc "đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng". Bởi, thực tiễn công cuộc đổi mới cho thấy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách, trong suốt quá trình phát triển và đó chính là/được coi là công cụ, phương tiện xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng mô hình kinh tế tổng quát ở Việt Nam... Vì thế, những luận điểm của Tổng Bí thư nêu ra trong bài viết là khoa học, thuyết phục, không chủ quan, duy ý chí; là minh chứng sắc bén bác bỏ sự xuyên tạc, xảo trá của các đối tượng cơ hội, phản động, thù địch…

Tổng Bí thư đã không chỉ trả lời rất rõ, lập luận sắc sảo về những nội dung đã nêu ra mà còn khẳng định rõ: Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp. Việc đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại, cho nên lại càng khó khăn, phức tạp; cho nên nhất thiết phải trải qua một thời kỳ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới… Đây chính là gắn lý luận với thực tiiễn, không hề mơ  hồ, càng không ảo tưởng như các luận điệu thù địch xuyên tạc.

Nhận thức đúng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 


Thế lực thù địch thường xuyên tung những luận điệu xuyên tạc cho rằng nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nước ta đang xây dựng là một nền KTTT "méo mó, không giống ai". Thế nhưng, thực tiễn cho thấy nền kinh tế thị trường tại Việt Nam mà họ tìm mọi cách phủ nhận ấy lại đang là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Từ kho có dịch Covid-19, hiện nay khó khăn chồng chất nhưng càng giúp chúng ta cũng như những nhà nghiên cứu kinh tế và người dân trên thế giới nhận thức rõ hơn những điểm nổi trội của nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam.

Cuộc khủng hoảng các mô hình phát triển kinh tế, trong chuyên luận “Covid-19: Cuộc tái cấu trúc vĩ đại” tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), giáo sư Klaus Schwab, nhà sáng lập và Chủ tịch điều hành WEF nhấn mạnh: Đại dịch Covid-19 đang đào sâu hơn những chia rẽ, bất bình đẳng và phân chia thế giới thành thời kỳ tiền Covid-19 và hậu Covid-19. Trong kỷ nguyên hậu Covid-19, không chỉ Mỹ mà là toàn bộ chủ nghĩa tư bản (CNTB) thế giới sẽ phải thay đổi mô hình phát triển trong trật tự thế giới đa cực. Năm 2021 là năm bản lề, năm quan trọng đối với tương lai và thế giới phải hành động để tương lai nền kinh tế và xã hội của chúng ta cần linh hoạt, bao trùm hơn và bền vững hơn; thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghiệp một cách có trách nhiệm; tăng cường quản trị toàn cầu, đạt tiến triển trong nỗ lực trung hòa khí thải carbon; hướng đến các hệ thống kinh tế và xã hội công bằng hơn, tạo ra đủ việc làm nhằm xây dựng một xã hội hòa nhập hơn...

Trước đó, Báo cáo trung tâm tại Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2020 cũng đã từng khuyến cáo, CNTB đang đứng trước ngã rẽ lịch sử, trong đó đã đến lúc phải đổi mới mô hình phát triển sang hướng toàn diện, có trách nhiệm xã hội hơn, giải quyết tốt hơn các vấn đề xóa đói giảm nghèo, chống tham nhũng và bảo vệ môi trường. Trong đó, các công ty tư nhân tự coi mình là người được xã hội ủy thác và hoạt động không chỉ nhằm thu được lợi nhuận kinh tế lớn, mà còn phải hướng tới khắc phục hậu quả tiêu cực đối với xã hội và môi trường, đáp ứng tốt các quyền lợi hợp pháp và nhu cầu sống của người lao động. Trên thực tế, khủng hoảng chu kỳ, sự suy thoái kinh tế cả trong quá khứ và hiện nay đã làm phơi bày mặt trái của KTTT tự do, cả về sự đầu cơ quá mức, về thất nghiệp, chênh lệch khoảng cách giàu-nghèo và những bất công xã hội. Thậm chí, tại nước Mỹ, nơi có nền kinh tế thị trường TBCN phát triển nhất thế giới, thì cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phải thừa nhận: “Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2008 cho thấy đã qua rồi thời kỳ nước Mỹ hành động một mình mà không cần phải lắng nghe ai”. Cũng thời điểm này, lãnh đạo nhiều nước có KTTT phát triển khác, như: Anh, Pháp, Đức, Italy... cũng lên tiếng phê phán những sự ngây thơ, tin tuyệt đối vào khả năng tự điều chỉnh của KTTT tự do. Chính trị gia Bernie Sanders của Đảng Dân chủ, trong cuộc chạy đua ứng viên tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2016 cho rằng: “Mô hình KTTT Mỹ hiện hành không thể giải quyết được triệt để những vấn đề của nước Mỹ, trước hết liên quan đến an sinh xã hội, giáo dục, y tế và bất công về giàu nghèo...”.

Xây dựng mô hình KTTT định hướng XHCN là phù hợp với xu hướng và yêu cầu thực tiễn phát triển KTTT trên thế giới. Bởi lẽ, thực tế đã, đang và sẽ ngày càng cho thấy, dù ở đâu và thời đại nào, dù chế độ và thể chế chính trị nào, song mọi mô hình KTTT muốn thành công đều phải ngày càng hội tụ vào mục tiêu cao nhất và xuyên suốt là vì phát triển đất nước bền vững và đáp ứng ngày càng tốt hơn khát vọng hạnh phúc cho người dân của quốc gia mình. Không có bất kỳ mô hình kinh doanh và nhà nước nào ngoại lệ với đổ vỡ, khủng hoảng kinh tế, kể cả các cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Thế giới đã thấy rõ ý nghĩa, hiệu quả của việc phải kết hợp cả bàn tay nhà nước và bàn tay thị trường trong một mô hình nhà nước kiểu mới để bảo đảm tính bền vững và hạn chế những khuyết tật của KTTT. Các quốc gia hiện nay nhìn chung đều đề cao yêu cầu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh. Mà có thể thấy, đây đều là những vấn đề Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh khi xây dựng nền KTTT định hướng XHCN. Khi áp dụng KTTT để phát triển đất nước là Đảng ta đã sáng suốt áp dụng một thành tựu của nhân loại trong cách thức phát triển kinh tế, nhưng đồng thời gắn thêm định hướng XHCN để bảo đảm xã hội sẽ phát triển bền vững, nhân văn trong nền KTTT ấy. Đó cũng không khác gì mối quan hệ giữa "động cơ" và "bánh lái" của một con tàu. Chúng ta không bao giờ được quên mục tiêu phát triển nền kinh tế là để làm gì. Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có...”. Đó cũng chính là những luận giải để chúng ta thấy rõ hơn mục tiêu khi xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, từ đó tạo cơ sở vật chất cho CNXH.

Để bảo đảm xây dựng nền KTTT phát triển, nhưng vẫn bảo đảm định hướng XHCN, các văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định và làm rõ hơn những nét đặc thù quan trọng trong mô hình KTTT định hướng XHCN là: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước... Bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng mô hình KTTT định hướng XHCN là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Nền KTTT định hướng XHCN sẽ được hoàn thiện trong một quá trình dài và việc văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định “bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước” là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Về phát triển kinh tế thời gian tới theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, các cơ quan chức năng đang tiếp tục xem xét, bổ sung và làm rõ hơn cơ chế quản lý nhà nước. Trong đó, quản lý nhà nước phải phù hợp với các yêu cầu, quy luật và quy trình của KTTT, cũng như với các điều khoản hội nhập quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Điều này là cần thiết để cơ chế thị trường được thực thi đầy đủ, bảo đảm uy tín chính trị, niềm tin thị trường và khai thác các cơ hội mới từ các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang và sẽ tham gia, phòng tránh lợi ích nhóm từ việc biến độc quyền nhà nước thành độc quyền tư nhân. Đặc biệt, chức năng nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước đang từng bước được bổ sung, làm rõ hơn, bao gồm việc chủ động dự báo và ngăn chặn, xử lý các khuyết tật, tác động mặt trái và khủng hoảng chu kỳ, vốn thuộc bản chất của KTTT (như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh thiếu lành mạnh, phân hóa giàu nghèo và coi nhẹ các vấn đề y tế, môi trường, xã hội...); nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế và doanh nghiệp; phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ; cải thiện ô nhiễm môi trường và quản lý, điều tiết thị trường, khoảng cách giàu nghèo và chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác; chống lại sự xuống cấp văn hóa, đạo đức xã hội, sự diễn biến phức tạp của tội phạm và các tệ nạn xã hội, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trong quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN ở nước ta, Đảng ta luôn mang tinh thần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc những thành tựu mới của nhân loại để nền KTTT định hướng XHCN của chúng ta luôn tươi mới, luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Từ thực tiễn trong nước và quốc tế những năm qua, có thể thấy việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN là phù hợp với thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta. Đây là vấn đề có tính nền tảng mà mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần hiểu đúng, để xây chắc niềm tin.

Ý thức đáng giá bao nhiêu?


Ý thức đáng giá bao nhiêu? Không phải chỉ vài triệu đồng tiền phạt đâu, mà còn là sức khỏe và tính mạng của cá nhân và cộng đồng. Và chưa bao giờ dịch Covid-19 lại gần đến vậy. Cứ mỗi một ngày, CDC lại thông báo có thêm những ca nhiễm mới, con số gây bàng hoàng đủ khiến mỗi người dân lo ngại.

Trong đợt bùng dịch lần thứ 4 này ở nhiều địa phương, tình trạng F0 xuất hiện không xác định nguồn lây không còn là hiện tượng cá biệt, cũng có nghĩa là dịch đang len lỏi trong cộng đồng một cách âm thầm. Những người chúng ta tiếp xúc hàng ngày có thể một ngày nào đó trở thành F0 hoặc chính chúng ta trở thành F0 gây lây nhiễm cho những người xung quanh. Do đó, trong thời gian này, khi tiếp xúc trực tiếp với một ai đó, hãy xem họ như một F0 để thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng bệnh. Cách nói này nhằm nhấn mạnh rằng, hơn lúc nào khác, mỗi người dân cần phải cảnh giác hơn nữa với dịch bệnh trong cộng đồng. Việc đeo khẩu trang, tạo khoảng cách trong tiếp xúc, hạn chế di chuyển… không nhằm tạo ra nghi kỵ mà ngược lại là đảm bảo an toàn và thể hiện sự tôn trọng với chính người đối diện.

Sự nguy hiểm của các biến chủng vi rút SARS-CoV-2 có thể khiến bất cứ ai trong chúng ta là F0, người bệnh đó chính là nạn nhân của Covid-19 và bởi vậy, họ cần được động viên nhiều hơn là bị phán xét. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, một khi biết mình đã mắc bệnh hoặc trở thành F1, F2 mà cá nhân vẫn không chịu tuân thủ quy định phòng chống dịch thì ngoài bị xử lý theo quy định pháp luật sẽ không thể tránh khỏi sự phán xét, chỉ trích của cộng đồng. Có những hành vi không thể chấp nhận nổi, đáng bị lên án và cần phải bị chấm dứt. Dịch bệnh là tình huống bất khả kháng, chẳng ai mong muốn. Mỗi chúng ta đều mong dịch qua mau, được quay trở lại với trạng thái sống bình thường. Chúng ta mong muốn một thì cán bộ y tế và lực lượng trong tuyến đầu chống dịch còn mong muốn gấp mười. Trong khi còn chờ phổ cập vắc xin, công cuộc chống dịch cần sức mạnh tổng hợp, cần ý thức cộng đồng. Còn một bàn tay sẽ không thể vỗ thành tiếng, chỉ những nỗ lực một chiều từ cơ quan chức năng, từ lực lượng y tế không thể nào thực hiện được.

Đừng có những hành vi kém ý thức để rồi gây họa cho những người sống xung quanh và cũng đừng tự "bán rẻ" nhân cách bản thân chỉ vì bốc đồng mà gây lây lan dịch bệnh. Ý thức đáng giá bao nhiêu? Không phải chỉ vài triệu đồng tiền phạt đâu, mà còn là sức khỏe và tính mạng!

Sự thiển cận, vô trách nhiệm xã hội của nghệ sĩ

 

 

Với sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, đội ngũ văn nghệ sĩ nước nhà không ngừng trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt, có nhiều đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tốt đẹp, vẫn còn những ứng xử tiêu cực, thiếu trách nhiệm của một số nghệ sĩ. Điều này đặt ra nhiều vấn đề về tư cách, phẩm chất đạo đức, lối sống, đặc biệt là trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ với công chúng, với việc kiến tạo đời sống tinh thần lành mạnh ở nước ta hiện nay.

Nghệ sĩ là những người tài năng hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Mỗi nghệ sĩ thường có một năng lực, sở trường đặc biệt; có tình yêu, niềm đam mê một loại hình nghệ thuật. Thiên tính, xu hướng ấy thuộc về năng lực, tố chất của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể được truyền cảm hứng từ cái nôi nghệ thuật của gia đình, dòng họ. Qua thời gian, sự khổ luyện, tài năng sẽ tỏa sáng. Sự khác biệt, độc đáo, mới lạ, không lặp lại chính mình với những giây phút thăng hoa kết tinh ở những vở diễn, tiết mục, tác phẩm xuất sắc, có sức mạnh lay chuyển cảm xúc, suy nghĩ của công chúng, gieo vào trái tim người đọc, người xem những điều tốt đẹp, hướng họ đến với những giá trị của chân, thiện, mĩ, lúc ấy tài năng, nghệ thuật mới thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả của mình.

Nghệ thuật có khả năng thanh lọc, nâng đỡ tâm hồn, có thể “cứu rỗi nhân loại”. Sức mạnh của những tác phẩm lớn, ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nhất định có thể làm “rung chuyển thế giới”, làm thay đổi vận mệnh, số phận, cuộc đời của cá nhân và cộng đồng. Bằng tài năng, sự nhạy cảm nghề nghiệp, trí tưởng tượng phong phú, người nghệ sĩ có khả năng thâu tóm, ghi chép, phản ánh một cách sinh động hiện thực cuộc sống thông qua những kí hiệu, biểu trưng, hình tượng nghệ thuật có sức hấp dẫn lớn, tác động trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm, thái độ của người tiếp nhận, làm thay đổi nhận thức, hành động của công chúng.

Trải qua những thăng trầm lịch sử, nhất là qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, các thế hệ nghệ sĩ luôn đồng hành, sát cánh cùng Đảng, Nhà nước, nhân dân viết lên những trang sử mới bằng thơ ca, nhạc họa, phản ánh tinh thần dân tộc, khát vọng của của lớp lớp con dân đất Việt về một Tổ quốc độc lập, tự do, hòa bình, người dân ấm no, hạnh phúc. Anh em nghệ sĩ, dù là người sáng tác, viết văn, làm báo, diễn viên, bằng những việc làm, hành động cụ thể, họ đều góp phần làm nên thành công của cách mạng, kháng chiến. Anh chị em nghệ sĩ đều là chiến sĩ. Phát huy truyền thống cách mạng và những thành tựu đạt được của những nghệ sĩ trong kháng chiến, trong công cuộc đổi mới, mở cửa, giao lưu hội nhập quốc tế, đội ngũ văn nghệ sĩ hiện nay luôn “là lực lượng tin cậy, trung thành của đất nước, của Đảng và nhân dân, có lòng yêu nước nồng nàn, tự hào dân tộc, tâm huyết với nghề nghiệp, xứng đáng với danh hiệu cao quý nghệ sĩ - chiến sĩ, là lực lượng nòng cốt trực tiếp tạo nên nền văn học, nghệ thuật cách mạng của dân tộc trong thời kỳ mới. Những cống hiến to lớn của họ ở phương diện nghệ thuật đã góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, lối sống đẹp cho thế hệ trẻ; kiến tạo môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn; quảng bá vẻ đẹp hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế; tạo nguồn lực, động lực to lớn cho quá trình phát triển bền vững đất nước. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, đô thị hóa, quá trình chuyển đổi mô hình xã hội và hội nhập quốc tế toàn cầu, cùng với tính “đa chiều đa diện” của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bên cạnh những điều kiện thuận lợi, không ít nghệ sĩ đang đứng trước những thách thức trên con đường nghệ thuật để khẳng định vị thế, hình ảnh, uy tín của mình trước công chúng. Thậm chí một số nghệ sĩ có biểu hiện dao động về tư tưởng chính trị, có những hành vi lệch chuẩn trong giao tiếp, ứng xử; thiếu chuẩn mực trong lối sống...

Thời gian qua, do những tác động của nhân tố chủ quan và khách quan, một số nghệ sĩ có những biểu hiện “lệch chuẩn” trong lối sống. Sau giây phút đăng quang từ những cuộc thi nghệ thuật, sau ánh đèn sâu khấu, những lời tụng hô nhất thời của người hâm mộ, một số nghệ sĩ - ca sĩ đã tự huyễn hoặc, “mắc bệnh” “ngôi sao”. Khi có tiền, có tên tuổi trong làng giải trí, được nhiều công ty, đơn vị tổ chức sự kiện nghệ thuật săn đón, một số nghệ sĩ trẻ có tâm lý ảo tưởng, cho mình là nhất, cố tạo phong cách sang chảnh, sành điệu, sa vào ăn chơi, có những biểu hiện hành vi thiếu ý thức, thậm chí là vi phạm pháp luật, tạo nên dư luận xấu xã hội. Trong bối cảnh mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế; sự phát triển mạnh mẽ của Internet, mạng xã hội, mở ra nhiều cơ hội để nghệ sĩ xây dựng hình ảnh, tạo sức ảnh hưởng với những người hâm mộ. Với nghệ sĩ nổi tiếng, mỗi lời nói, hành động trong đời thường hay một statuscommet, hình ảnh đăng trên trang cá nhân, có thể tạo ra những hiệu ứng xã hội rất lớn, không chỉ với những người thường xuyên theo dõi mà với cả cộng đồng.

Tuy nhiên, mặt trái của công nghệ, mạng xã hội cũng đặt ra cho nghệ sĩ những áp lực, thách thức lớn. Chỉ vì “lỡ lời”, “vạ miệng”, viết những câu từ thiếu văn hóa, đụng chạm đến lòng tự trọng, danh dự của người khác, cộng đồng mạng sẵn sàng “dậy sóng”, tẩy chay nghệ sĩ. Lời nói, ngôn ngữ là biểu hiện của tư duy, đồng thời phản ánh phần nào phong cách, lối sống, phẩm giá, đức hạnh của một con người. Nghệ sĩ là người có sức ảnh hưởng lớn đến công chúng, nhất là giới trẻ - những người luôn có niềm tin, sự kỳ vọng vào người nghệ sĩ. Vì thế, lời bình luận có nội dung thô tục của một nghệ sĩ “gạo cội” trên Facebook cá nhân thời gian qua không chỉ gây bức xúc xã hội mà hậu quả của nó là đánh mất niềm tin của công chúng vào những giá trị mà họ vốn tôn thờ. Hoạt động nghệ thuật mang tính đặc thù, gắn liền với quá trình sáng tạo và phong cách riêng của người nghệ sĩ. Vì thế dấu ấn cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, một số nghệ sĩ chưa ý thức rõ về trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, chưa thấy được mối quan hệ giữa người nghệ sĩ - công dân nên thường để cho cái tôi cá nhân, chủ quan lấn át, chi phối. Họ hành động theo cảm tính, thói quen, để cho những cảm xúc bồng bột, nhất thời chi phối, thậm chí chạy theo tâm lí, xu hướng đám đông, đua “trend”, tạo Scandal ảo để gây chú ý của cộng đồng, đánh bóng tên tuổi. Họ thiếu hiểu biết về pháp luật và kỹ năng ứng phó, xử lý thông tin, truyền thông, để cho những vụ việc vốn đơn giản trở nên phức tạp, và khi bị đẩy đi quá xa, họ mới sực tỉnh và nhận ra lỗi lầm. Những vụ việc gây ồn ào dư luận và cộng đồng mạng thời gian qua liên quan đến câu chuyện nghệ sĩ quyên góp, làm từ thiện, quảng cáo (PR) sản phẩm sai mục đích, chức năng, gây hậu quả cho người tiêu dùng; vấn đề nghệ sĩ “nuôi tài năng trẻ”; nghệ sĩ sa vào tệ nạn xã hội, cờ bạc, lô đề; nghệ sĩ livestream “bóc phốt” đồng nghiệp, chửi bới, đe dọa, xúc phạm, miệt thị, công kích lẫn nhau vì sự ghen ghét, đố kị cá nhân, đang làm “ô nhiễm” môi trường, không gian mạng xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lí tiếp nhận, tư tưởng, tình cảm của công chúng. Những vụ việc, hiện tượng đó, dưới sức mạnh của truyền thông, mạng xã hội, làm dấy lên những lo ngại về những góc khuất trong đời tư nghệ sĩ sau ánh đèn sân khấu. Điều này cũng đặt ra những câu hỏi về chức trách của các cơ quan chức năng, những người làm công tác quản lý đời sống văn hóa văn hóa, văn nghệ nước nhà. Để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thúc đẩy nền nghệ thuật nước nhà phát triển, tài năng, phẩm chất của người nghệ sĩ có vai trò đặc biệt quan trọng. Nghệ thuật phải hướng đến số đông quần chúng, vì lợi ích chung của cộng đồng; không thể mượn danh nghệ thuật, uy tín của nghệ sĩ để vụ lợi. Mỗi nghệ sĩ cần vượt qua những “lằn ranh”, giới hạn chật hẹp của cuộc sống cá nhân, suy nghĩ về những vấn đề lớn của vận nước, về những phận người để có những tác phẩm, vở diễn xứng tầm với niềm tin tưởng, kỳ vọng của nhân dân.


 

Cảnh giác trước các thông tin sai lệch về quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ theo Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Ngày 28 tháng 6 năm 2021, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2021, thay thế cho Thông tư số 08/2017/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trước khi ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ theo Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các cơ quan, đơn vị có đào tạo tiến sĩ và các nhà khoa học trong toàn quốc, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và lan tỏa trong toàn xã hội.

Có thể khẳng định, Quy chế mới phù hợp với xu thế chung của xã hội, mang tính phổ quát rộng rãi cho các ngành, chuyên ngành, các lĩnh vực; đề cao tính tự chủ, chuyên sâu về mặt học thuật theo chuyên ngành, phù hợp với thực trạng đào tạo tiến sĩ của nước ta hiện nay, đồng thời có nhiều phát triển mới so với Thông tư số 08/2017 như: điều kiện dự tuyển về ngoại ngữ chứng chỉ TOEFL iBT từ 45 lên 46; IELTS từ 5.0 lên 5.5, mở rộng thêm các chứng chỉ ngoại ngữ khác bậc 4 trở lên (theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam) do Bộ Giáo dục Giáo dục Đào tạo công bố.

Về tiêu chuẩn của người hướng dẫn, người tham gia hội đồng, người phản biện độc lập cũng được quy định chặt chẽ hơn, mang tính phổ quát, bao trùm toàn bộ các lĩnh vực, ngành, chuyên ngành đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là các ngành đặc thù (Khoa học Quân sự và An ninh nhân dân). Quy chế mới ra đời đã cởi nút thắt, điểm nghẽn, giải quyết được những bất cập trong Thông tư 08, đặc biệt là bài báo quốc tế đối với ngành đặc thù. Quy chế mới quy định: trong thời gian 05 năm (60 tháng) người hướng dẫn, người tham gia hội đồng, người phản biện độc lập (tính đến thời điểm có quyết định) phải có các công trình khoa học được công bố đạt tổng điểm từ 4,0 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (báo cáo hội nghị khoa học, bài báo khoa học đăng trên tạp chí quốc tế có uy tín hoặc bài báo đăng trên các tạp chí trong nước có uy tín của từng ngành thang điểm đánh giá tới 0,75 trở lên hoặc sách chuyên khảo do các nhà xuất bản uy tín trong nước và quốc tế phát hành). Đây là tiêu chí cao không phải ai cũng làm được, đồng thời nó mang tính phổ quát, bao trùm các lĩnh vực có đào tạo tiến sĩ.

Tuy nhiên, sau khi Quy chế mới được ban hành có một số bài viết đăng trên mạng xã hội, cố tình xuyên tạc, phủ nhận những điểm mới, tính khả thi và tính ưu việt, sự phát triển của quy chế. Họ cho rằng: Quy chế mới đào tạo tiến sĩ đã không tiến bộ lại còn giảm chuẩn. Đây là những quan điểm, suy nghĩ lệch lạc, cách nhìn nhận chưa thấu đáo, chưa toàn diện đối với nền giáo dục nước ta hiện nay. Bởi, đào tạo tiến sĩ là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho toàn xã hội, mà xã hội thì có rất nhiều ngành khác nhau, mỗi ngành có tính đặc thù riêng, có ngành kết quả nghiên cứu sẽ được công khai rộng rãi trên mạng xã hội, cho quốc tế biết; nhưng cũng có ngành kết quả nghiên cứu thuộc về bí mật quốc gia, tất yếu sẽ không được công bố rộng rãi trên mạng xã hội hoặc quốc tế.

Hiện nay trên mạng xã hội có quan điểm cho rằng: chỉ có bài báo quốc tế mới có giá trị, bài báo trong nước độ tin cậy không cao. Đây là suy nghĩ lệch lạc, sùng ngoại, bài nội không phù hợp với thực tế nền giáo dục nước ta hiện nay. Bởi, trong xu thế hội nhập toàn cầu, sản phẩm nghiên cứu ra cần được nhiều độc giả trong và ngoài nước đón nhận, phản biện là điều hoàn toàn đúng đắn nhưng nó chỉ phù hợp với lĩnh vực khoa học về giáo dục, y học, kỹ thuật….  còn lĩnh vực thuộc về bí mật quốc gia sẽ không có bất kỳ một quốc gia trên thế giới nào công khai cho nước khác biết, đây là điều hiển nhiên không phải bàn cãi. Vì vậy, việc công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí uy tín của ngành chính là một kênh để phổ biến rộng rãi, đưa sản phẩm khoa học đến nhiều độc giả phản biện, đặc biệt là những người đang hoạt động trong ngành, lĩnh vực đó, thì tính chuyên sâu, độ chính xác về học thuật sẽ cao hơn rất nhiều so với những người không phải chuyên ngành. Vì vậy, không thể nói bài báo đăng trong nước ở các tạp chí chuyên ngành độ tin cậy không cao so với tạp chí quốc tế.

Về tiêu chí ngoại ngữ đầu vào đối với tiến sĩ, họ cho rằng còn thấp, nói như vậy là không hợp lý, bởi: với trình độ IETLS 5.5, B2, TOEFL iBT 46 trở lên hay tiếng nước ngoài khác tương đương, độc giả có thể đọc và hiểu nội dung cốt lõi trong các văn bản, tài liệu nước ngoài có liên quan đến lĩnh vực mình nghiên cứu; trong quá trình đào tạo nghiên cứu sinh tiếp tục tích luỹ, bổ sung vốn kiến thức cho bản thân để ngày một hoàn thiện hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của nền giáo dục nước nhà hiện nay.

Vì vậy, chúng ta cần nhận thức rõ những quan điểm, luận điệu xuyên tạc phủ nhận sự phát triển, tính ưu việt, tính phổ quát của Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên mạng xã hội hiện nay. Tăng cường đấu tranh, phản bác lại các quan điểm, luận điệu xuyên tạc trên, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ nhà báo và sự tham gia tích cực của những người có uy tín trong xã hội, nhất là trí thức, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trên mọi lĩnh vực. Thực hiện tốt việc đấu tranh trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Internet, mạng xã hội hiện nay.  

 “Những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc thì dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh".

Đây là sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về truyền thống khoan dung, độ lượng của dân tộc Việt Nam khi Người trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài ngày 16 tháng 7 năm 1947. Thời điểm này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi. Đây cũng là lúc xuất hiện các quan điểm trái chiều về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cần phải được định hướng cho thống nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nước nào cũng có những đảng phái với những quan điểm chính trị khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Song khi lợi ích chung của dân tộc bị lâm nguy thì các đảng phái phải đoàn kết để cứu nước. Do đó, sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam là thực hiện lợi ích chung của dân tộc. Nếu đảng phái nào lợi dụng sự khác nhau về quan điểm chính trị mà phản kháng chiến, phản nhân dân, đi theo phe địch thì quốc dân không thể tha thứ, lịch sử không thể khoan dung. Song nhân dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc.
Tư tưởng nhân văn, nhân đạo Hồ Chí Minh đã thấu suốt trong các chủ trương, chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta trong xây dựng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách đối với tù, hàng binh. Truyền thống, chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo không chỉ đối với những người Việt Nam lầm đường, lạc lối đi theo giặc, nay giác ngộ và trở về với Tổ quốc, mà được quân và dân ta đối xử khoan hồng, nhân đạo với cả những tù, hàng binh, những người đã mang bom, đạn đến tàn phá quê hương, cướp bóc tài sản, giết hại người già, phụ nữ và trẻ em vô tội. Lòng khoan dung, vị tha, độ lượng, chính sách khoan hồng, nhân đạo thể hiện sâu sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam và bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả vì con người, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng con người.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả, chấp hành nghiêm chính sách đối với tù, hàng binh... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ".