Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2021

Tư duy mới về bảo đảm an ninh con người

Trong định hướng và nhiệm vụ trọng tâm nói trên, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yếu tố “an ninh con người”. Khái niệm này lần đầu tiên được đưa vào Nghị quyết Đại hội Đảng, thể hiện quan điểm, tư duy mới trong đảm bảo an ninh quốc gia mà trọng tâm là vấn đề an ninh con người... Nhiệm vụ thứ 7 trong định hướng phát triển đất nước đến năm 2030, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”. Đồng thời, Nghị quyết xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”. Trong định hướng và nhiệm vụ trọng tâm nói trên, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yếu tố “an ninh con người”. Khái niệm này lần đầu tiên được đưa vào Nghị quyết Đại hội Đảng, thể hiện quan điểm, tư duy mới trong đảm bảo an ninh quốc gia mà trọng tâm là vấn đề an ninh con người. Thực tế, khái niệm an ninh con người do Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) đưa ra đầu tiên vào năm 1994 trong báo cáo hàng năm về sự phát triển của con người. UNDP cho rằng: An ninh con người là sự an toàn của con người trước những mối đe dọa kinh niên như nghèo đói, bệnh tật, đàn áp và những biến cố bất ngờ, bất lợi trong cuộc sống hằng ngày. An ninh con người được đặt ra trong mối quan hệ mật thiết với những nội dung an ninh khác, an ninh con người có mối quan hệ với thời đại, xã hội và môi trường tự nhiên. An ninh con người trở thành một nhân tố, điều kiện quan trọng để thực hiện cũng như bảo đảm an ninh xã hội, an ninh toàn cầu. Đây là một phần của an ninh quốc gia, chính trật tự, kỷ cương mang lại môi trường, cuộc sống an toàn cho mọi người dân và từ môi trường đó càng củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, chế độ, củng cố niềm tin vào cuộc sống an lành. Thực tiễn cho thấy, xã hội được bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn chính là thước đo quan trọng hàng đầu phản ánh chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người dân. Dù cho người dân có thu nhập tốt, mức sống cao nhưng nếu xã hội bất ổn về chính trị, bị đe dọa về nạn khủng bố, xung đột, bạo loạn… sẽ gây đảo lộn cuộc sống, làm cho tâm lý người dân hoang mang, lo sợ và cuộc sống chung của toàn xã hội sẽ bất an, nguy hiểm. Ngược lại, xã hội được bảo đảm an ninh không chỉ loại trừ được sự nguy hiểm đe dọa sinh mạng, sức khỏe mà còn đòi hỏi sự bảo đảm cho cuộc sống bình thường của mỗi con người, sự ổn định, hạnh phúc trong cuộc sống. Vấn đề an ninh con người đã được Liên Hợp quốc và nhiều nước trên thế giới tiếp nhận như một tư duy mới có sức thuyết phục và có giá trị thực tiễn cao. Con người đặt ở vị trí trung tâm của thời cuộc, của xã hội là mang tính khách quan bởi xã hội suy cho cùng là xã hội của con người và vì con người. Thực hiện an ninh con người sẽ bổ sung và làm phong phú cho an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu. Tuy nhiên, từ khái niệm chung về an ninh con người lại có cách hiểu cụ thể khác nhau, dẫn tới những chính sách và hành vi rất khác nhau. Thể chế chính trị Việt Nam coi trọng an ninh con người, đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, coi nhân dân là người chủ thực sự của xã hội. Do đó, các chính sách và an ninh xã hội, công bằng xã hội, bình đẳng xã hội, xóa đói giảm nghèo… được coi trọng và thực hiện cũng chính là nhằm bảo đảm an ninh con người. Chính việc bảo đảm được an ninh con người làm cho an ninh quốc gia được ổn định, đất nước phát triển bền vững, hài hòa. An ninh con người không tách rời an ninh quốc gia và bảo đảm an ninh con người chính là bảo đảm an ninh quốc gia. Điều này cũng nhằm phản bác lại một số luận điệu muốn tách an ninh con người khỏi an ninh quốc gia, đặt an ninh con người trên an ninh quốc gia, từ đó lấy cớ nhân quyền, dân chủ để thực hiện các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Đây thực chất là hành vi lợi dụng vấn đề an ninh con người để chống phá đất nước, gây nguy hiểm đến an ninh quốc gia. Thực chất, bảo đảm an ninh con người trước hết phải là bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia của cả cộng đồng sinh sống, đó là chủ quyền thiêng liêng nhất, bao hàm an ninh con người và phục vụ cao nhất cho an ninh con người. Trong điều kiện ngày nay, khi toàn cầu hóa với sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển vượt bậc kéo theo tất cả các nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế trở thành một tất yếu khách quan buộc tất cả các nước đều phải hòa mình vào dòng chảy đó. Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế luôn tạo ra cơ hội và thách thức đối với mọi quốc gia. Hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗi nước phải đề cao độc lập, chủ quyền cùng với an ninh xã hội, an ninh con người của đất nước mình. Do đó, việc bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người trong quá trình hội nhập quốc tế là một trong những vấn đề cơ bản và thiết yếu hiện nay đối với nước ta. Về vấn đề này, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh: Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, xác định bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân, do vậy bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân. An ninh con người là trạng thái người dân được sống ổn định, an toàn, không bị đe dọa bởi các nguy cơ xâm hại. Bảo vệ an ninh con người là bảo đảm và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc trong một môi trường xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh. Để thực hiện được mục tiêu và tầm nhìn với các mốc phát triển nói trên, Đại hội XIII xác định 5 quan điểm chỉ đạo đòi hỏi quán triệt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Trong đó quan điểm thứ hai là: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”. Bộ trưởng Tô Lâm chỉ rõ, đây là sự kế thừa nội dung “bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc” đã được nêu ở các kỳ Đại hội trước. Đồng thời, về phương hướng phát triển đất nước đến năm 2030, Đại hội XIII khẳng định tư duy và định hướng xa hơn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Coi việc giữ vững an ninh quốc gia vừa là mục tiêu, giải pháp để phát triển bền vững đất nước; đồng thời thể hiện tư tưởng chỉ đạo phát triển để giữ vững an ninh, an ninh để phát triển, an ninh trong phát triển.

Cần tỉnh táo nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại

Chống chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, trong cách mạng Việt Nam nói riêng kể từ khi có Đảng, là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ. Nhất là trong tình hình hiện nay, đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa xét lại là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ dao động, hoài nghi đến xa rời, phản bội lý tưởng cách mạng Gần đây, nếu quan tâm theo dõi tình hình, có thể thấy sự xuất hiện của một vài ý kiến đòi xem xét lại nội dung cốt lõi nền tảng tư tưởng của Đảng. Có người thì tỏ ra nhẹ nhàng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý” rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, nên thay bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, rằng nội dung Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không có gì mới, vẫn là “bổn cũ soạn lại”, “sao chép theo lối mòn”, thiếu tầm tư duy chiến lược, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Có người thì công khai phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Họ đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây... Những quan điểm mang tư tưởng xét lại, chống phá nói trên nếu không được phản bác, ngăn chặn sẽ gây hoang mang trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào CNXH và con đường đi lên CNXH. Thực tế thì không phải bây giờ mà ngay từ lúc Mác, Ăngghen và Lênin còn sống, những thành phần đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin đã xuất hiện. Những người theo chủ nghĩa xét lại vẫn chấp nhận các lý tưởng cùng nền tảng lý luận cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng phê bình những luận điểm của Mác, Lênin về cương lĩnh, chiến lược và sách lược cách mạng... mà họ cho là không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trên thế giới và ở từng nước. Một số người đưa ra quan điểm rằng, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản (CNTB) bước sang thời kỳ phát triển tương đối hòa bình, các hình thức đấu tranh nghị trường được sử dụng rộng rãi, mâu thuẫn cơ bản của CNTB sẽ dịu đi và vì vậy, không cần đấu tranh xóa bỏ sự bóc lột của tư bản chủ nghĩa, mà chỉ cần sự thâm nhập hòa bình của khuynh hướng XHCN là thực hiện được mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột. Những người khác thì lập luận rằng, những thứ như tự do chính trị, dân chủ, quyền công dân trong CNTB sẽ loại bỏ tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Vì thế, mục tiêu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là thiết lập dân chủ tư sản, cải cách CNTB, điều hòa xung đột giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. Dù tên gọi, biến tướng có khác nhau nhưng tựu trung, chủ nghĩa xét lại có hai khuynh hướng chính. Chủ nghĩa xét lại “tả khuynh” tìm cách đánh tráo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm vô chính phủ, duy ý chí có tính tiểu tư sản, phủ nhận tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và chuyên chính vô sản. Chủ nghĩa xét lại “hữu khuynh” thì đòi bác bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, muốn thay thế những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm, cải cách tư sản. Và dù ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào, dù có những điều chỉnh nhất định, chủ nghĩa xét lại cũng không thể che giấu được động cơ là xa rời mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân, từ bỏ cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho CNXH. Vì mang tính chất hai mặt của những giai tầng xã hội tiểu tư sản, tiểu chủ trong điều kiện CNTB và trong điều kiện đấu tranh vì CNXH ngày càng gay gắt nên chủ nghĩa xét lại thường xuất hiện khi có bước ngoặt. Vào thời điểm khó khăn, phức tạp, thử thách hoặc khi những phát minh, sáng chế khoa học và tình hình mới dẫn đến phá vỡ giới hạn nhận thức cũ, người nhiễm tư tưởng xét lại thường không đủ khả năng nhận thức đúng những hiện tượng mới nảy sinh, những thay đổi trong sách lược của các đảng cộng sản nên hay dao động, không vững vàng. Thêm vào đó, trước sự tấn công điên cuồng của CNTB, họ tỏ ra yếu đuối, hoang mang, dễ bị lợi dụng, từ đó mà nảy sinh tư tưởng xét lại, thậm chí chuyển hóa thành phản bội. Thực tế cho thấy, khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới thoái trào, những người mang tư tưởng xét lại bắt đầu tỏ ra bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH. Có người quy kết nguyên nhân đổ vỡ này là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Có người thì quay ra phụ họa với các luận điệu công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường XHCN, cho rằng cần phải đi con đường khác. Các quan điểm “tân Mác-xít”, “hậu Mác-xít”... thi nhau trỗi dậy, gây xáo trộn về tư tưởng. Ở Việt Nam, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, phức tạp, ở những bước ngoặt, chúng ta cũng thấy xuất hiện tư tưởng cơ hội, xét lại dưới nhiều màu sắc “hữu khuynh”, “tả khuynh”. Dù chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng chứ chưa định hình rõ như “chủ nghĩa”; biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động nhỏ lẻ của một số người, một nhóm người nhưng tư tưởng xét lại cũng gây nhiều khó khăn cho cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi cuộc chiến ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có những người tỏ ra dao động trước sức mạnh tàn bạo của kẻ thù, trước hy sinh, gian khổ nên không kiên định với đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam, ảo tưởng về con đường chung sống hòa bình. Vào thời điểm Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản suy thoái, đất nước thì lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc, một số người bắt đầu dao động, ngả nghiêng, do dự, mơ hồ, hoài nghi vào con đường đi lên CNXH. Thậm chí có người cho rằng lý luận về CNXH đã sụp đổ, cần phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây, phi chính trị hóa quân đội... Thành tựu đổi mới khẳng định sự đúng đắn con đường đi của đất nước, dân tộc Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trước hết, phải thấy rằng theo đà phát triển không ngừng của thực tiễn và khoa học, bất cứ học thuyết nào tự bản thân nó cũng không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, và chính Mác cũng đã từng đưa ra câu cách ngôn “Mỗi bước tiến của phong trào thực tiễn còn quan trọng hơn hàng tá cương lĩnh”. Học thuyết Mác-Lênin mặc dù rất khoa học và đúng đắn cũng không thể giải đáp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ mọi vấn đề, ở mọi thời đại, của mọi quốc gia. Nó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, là vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học và chính nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái đã xong xuôi” hay “nhất thành bất biến”. Chính vì thế, học thuyết Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển không ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại. Tuy nhiên, dù bổ sung, phát triển ở bất cứ nội dung nào thì cũng phải đặt trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bởi xa rời những nguyên lý này thì chắc chắn lý luận sẽ bị lệch lạc, bóp méo, mất định hướng và dễ sa vào chủ nghĩa xét lại. Bổ sung, phát triển thì cũng phải vì mục đích bảo vệ, chứ không phải là từ bỏ, là phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin. Với cách mạng Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận phải nhằm mục tiêu góp phần xác lập một đường lối chính trị độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo để dẫn dắt, chỉ đạo thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứ không phải là phủ nhận, đổi hướng. Bên cạnh yêu cầu giữ vững nguyên tắc, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại còn đòi hỏi phải nắm vững và xử lý khéo léo mối quan hệ giữa kiên định và đổi mới. Bởi nếu chỉ kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ. Nhưng nếu không kiên định mà đổi mới một cách vô nguyên tắc thì cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Thêm vào đó, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản nên nó đòi hỏi sự kiên trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội vã phân chiến tuyến, áp đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này bởi có lúc giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại trước những thay đổi, hoặc nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát triển, đổi mới. Đây là việc làm không dễ dàng nhưng lịch sử cho thấy Đảng ta luôn biết vượt qua khó khăn, thử thách trong những thời điểm mà thực tế đòi hỏi phải có những đổi mới, phát triển mà không sa vào xét lại, chệch hướng bằng sự nhạy cảm chính trị và động cơ trong sáng vì nước, vì dân. Đó là tấm gương đồng chí Kim Ngọc, người đã khởi xướng, chủ trì ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU ngày 10-9-1966 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. Nghị quyết này khi đó bị coi là vi phạm nghiêm trọng đường lối của Đảng về phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế dần cho thấy tính đúng đắn của Nghị quyết 68 và tư duy của đồng chí Kim Ngọc. Sáng tạo đó đã được Đảng ta nghiên cứu, tiếp thu để năm 1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (Khoán 100). Tiếp đó là năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10), tạo bước đột phá cho nông nghiệp và nông thôn trong thời kỳ đổi mới. Đó là câu chuyện với đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư của Đảng. Từ thập niên 1980, khi còn là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đồng chí đã thử nghiệm xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, thí điểm đổi mới quản lý kinh tế ở một số doanh nghiệp nhà nước. Đây là những bước đột phá đầu tiên nhằm xóa bỏ cơ chế quản lý cũ nên bị nhiều người phê phán, cho rằng chạy theo cơ chế thị trường nhưng đồng chí Nguyễn Văn Linh vẫn kiên trì từng bước với cách làm này. Thực tế sau này chứng minh sự đúng đắn trong tư duy sáng tạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh, và đường lối đổi mới của Đảng hình thành và phát triển chính là từ tổng kết thực tiễn sáng tạo của nhân dân, trong đó có cống hiến to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh. Và cũng chính thực tế sinh động của sự nghiệp đổi mới là bằng chứng thuyết phục nhất về sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng ta mà không sa vào tư tưởng xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Sau 35 năm đổi mới, từ một nước chậm phát triển, đến cái ăn cũng không đủ, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Giờ đây, Việt Nam là hình ảnh của một đất nước đang vững bước đi lên với một tư thế mới, tư thế của người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển; với một tầm ảnh hưởng mới, ảnh hưởng của một đối tác đang chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng, định hình các cấu trúc mới, luật chơi mới”, một đối tác luôn có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đúng như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Đổi mới” đã song hành với “Việt Nam” đến khắp nơi trên thế giới, đã vang lên trên các diễn đàn quốc tế lớn như là một hiện tượng đặc biệt, một kỳ tích trong thế giới hiện đại. Thành công của đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho đất nước, dân tộc.

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

 


Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần tập trung các giải pháp cwo bản sau:

KHẮC PHỤC, NGĂN NGỪA TRÌ TRỆ TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ

Trì trệ được hiểu là sự chậm trễ, khiến công việc không chạy, giậm chân tại chỗ. Đối với công tác cán bộ trong Đảng, chính quyền, sự trì trệ dù với bất cứ lý do nào đều để lại hệ lụy.

Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ”. Người cho rằng, tuyệt đối tránh việc “ham dùng người bà con, anh em quen biết”, “ham dùng những kẻ khéo nịnh hót” trong sử dụng cán bộ.

Trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết công tác tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, sau khi đánh giá những mặt thành công, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Có nơi chuẩn bị nhân sự chưa thật kỹ, còn biểu hiện cục bộ địa phương, bố trí người nhà, người thân chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện, uy tín tham gia cấp ủy. Ở nhiều nơi, tỷ lệ cán bộ trẻ còn thấp, chưa đạt yêu cầu...”. Tại Đảng bộ Hà Nội, trong Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 31-5-2021 của Thành ủy Hà Nội về “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 và những năm tiếp theo” đã thẳng thắn thừa nhận, công tác quy hoạch cán bộ vẫn là khâu yếu. Việc phân công, điều động, bổ nhiệm cán bộ có lúc bị động, cá biệt có trường hợp bổ nhiệm thiếu tiêu chuẩn, điều kiện. Còn tình trạng chỉ chú trọng bổ nhiệm mà xem nhẹ khâu khác…

Điều này cũng đúng như nhận định trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã ban hành trước đó. Đó là hiện tượng thao túng trong công tác cán bộ; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi…

Đáng nói, sự trì trệ có thể bắt gặp ở bất kỳ khâu nào trong dây chuyền về phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển… cán bộ và cũng không dễ nhận diện, đấu tranh, khắc phục trong khi hậu quả để lại có thể kéo dài trong nhiều năm về sau. Những nơi công tác cán bộ bị trì trệ thì chắc chắn chất lượng hoàn thành nhiệm vụ chính trị cũng bị ảnh hưởng lớn.

Sự trì trệ trong công tác cán bộ còn làm lãng phí nguồn nhân lực tài năng. Người tài, có năng lực thực sự không được phát hiện, tiến cử và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ; còn người thiếu năng lực, sa sút phẩm chất, suy giảm ý chí thì chậm được thay thế, làm ảnh hưởng đến công việc chung.

Trong bối cảnh hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực khơi dậy tinh thần, ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phấn đấu đến năm 2025, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao - như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Vì thế, ngăn chặn, khắc phục sự trì trệ trong công tác cán bộ là việc làm thường xuyên, lâu dài, góp phần quan trọng để thực hiện mục tiêu, khát vọng đó.

Trước hết, cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy các cấp phải nắm rõ các quy định mới trong vấn đề này, để hiểu và vận dụng đúng trong thực tiễn. Tiêu biểu như Quy định số 132-QĐ/TƯ ngày 8-3-2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị”; Quy định số 105-QĐ/TƯ ngày 19-12-2019 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 179-QĐ/TƯ ngày 25-2-2019 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về “Chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ”…

Đối với công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, ngoài chuẩn bị nguồn từ sớm, bảo đảm tính khả thi, liên tục, cần mạnh dạn áp dụng việc cho phép cán bộ được quy hoạch phải tự đề xuất nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa và đáp ứng tiêu chuẩn bổ nhiệm, bố trí vào chức danh quy hoạch... Ngoài ra, thường xuyên rà soát lại quy hoạch, xem xét sự tiến bộ của người trong quy hoạch có đáp ứng được công việc hay không, tránh tình trạng chỉ lo “giữ ghế”, mất động lực phấn đấu, để thay bằng người khác xứng đáng hơn.

Phải có sự đột phá trong việc luân chuyển cán bộ theo hướng tăng cường luân chuyển dọc, luân chuyển ngang giữa các cơ quan, địa phương, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị; luân chuyển giữa các vị trí công tác trong cùng một đơn vị. Đặc biệt là, cần kiên quyết, kịp thời thay thế, điều chuyển những cán bộ lãnh đạo, quản lý - nhất là cán bộ chủ chốt các đơn vị, thiếu quyết liệt, né tránh trách nhiệm - thay vì chủ động thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ được giao, được phân quyền lại thụ động “xin ý kiến chỉ đạo”; có tín nhiệm thấp...

Cùng với đó, cần thực hiện công khai, minh bạch kết quả đánh giá cán bộ để phát huy vai trò giám sát, tham gia ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân. Trong đó, cần làm thực chất theo tinh thần tại Quy định số 213-QĐ/TƯ ngày 2-1-2020 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Quy định trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức Đảng và nhân dân nơi cư trú”. Xét cho cùng, không có sự giám sát cán bộ, đảng viên nào hiệu quả bằng nhân dân nơi cư trú.

Làm tốt việc khắc phục, ngăn ngừa trì trệ trong công tác cán bộ cũng chính là góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Nguồn: Báo Hànộimới

Không ngừng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận

 


Thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để đấu tranh Phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 

 


Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch đã xây dựng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, chúng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, với hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, trên 400 báo, tạp chí... sản xuất hàng chục nghìn tin, bài có nội dung sai sự thật để phát tán vào trong nước, gây nhiễu loạn thông tin nhằm phê phán chế độ, kích động chống Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, các tổ chức phản động lưu vong, hoạt động chống phá Việt Nam ngày càng quyết liệt.

XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI “MÀ TRONG ĐÓ SỰ PHÁT TRIỂN LÀ THỰC SỰ VÌ CON NGƯỜI”

 

Mỗi dân tộc, quốc gia đều có cách lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình. Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bởi vì, đây “là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".

Sự đúng đắn của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam xuất phát từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, từ những yêu cầu của thực tiễn đất nước và xu hướng phát triển của thời đại:

Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội có mục tiêu cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện; là một chế độ xã hội mà con người được tự do, sống hòa bình và hữu ái giữa các cộng đồng, không còn áp bức, bóc lột, bất công, một xã hội thực sự vì con người. Là một xã hội như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết trong bài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (ngày 16/5/2021): “… phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội…, nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn…, phát triển bền vững, hài hòa để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai…”.

Rõ ràng, đây là những khát vọng, mong ước tốt đẹp không chỉ của nhân dân Việt Nam mà của cả nhân loại.

Thứ hai, Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, hy sinh chống lại sự cường quyền, áp bức của các thế lực ngoại xâm để giành và giữ nền độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đường lối xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghã xã hội” và “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể giải quyết căn cơ vấn đề độc lập cho dân tộc và cuộc sống tự do, hạnh phúc cho số đông nhân dân”. Thực tiễn Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, có Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhất là 35 năm đổi mới đã chứng minh điều này.

Thứ ba, hiện nay, chủ nghĩa tư bản nhất là ở một số nước tư bản phát triển đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học và công nghệ; có sự điều chỉnh nhất định về sở hữu, an sinh xã hội… làm cho diện mạo của chủ nghĩa tư bản khác nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, như ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết ngày 16/5/2021: “Chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”, do vậy các cuộc khủng hoảng về nhiều mặt tiếp tục diễn ra. Chẳng hạn, khủng hoảng trong vấn đề lao động - việc làm, trong phân hoá giàu - nghèo, khủng hoảng trong việc giải quyết các tác động của đại dịch Covid -19 hiện nay…

Chắc chắn đây không phải là chế độ xã hội mà nhân dân Việt Nam mong đợi, càng không phải là tương lai của nhân loại. Nhân dân Việt Nam cần một xã hội “mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người…”.

Thứ tư, thực tiễn 35 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vượt bậc trên các lĩnh vực. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng liên tục ở mức cao trong suốt những năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7%/năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần so với những năm đầu đổi mới, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới.

Thực tiễn 35 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực.

Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Việt Nam đã tập trung hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Mặc dù còn nhiều khó khăn về trang thiết bị, cơ sở dịch vụ y tế… nên chưa thể cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho người dân nhưng Việt Nam đã tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Đặc biệt, trong gần hai năm qua, đại dịch Covid-19 đã khiến cả thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ Việt Nam, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, Nhân dân Việt Nam đã đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành thực hiện những biện pháp mạnh mẽ, toàn diện chiến đấu chống dịch để bảo đảm quyền được sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được bảo vệ của Nhân dân với phương châm “Không để ai bị bỏ lại phía sau”; các gói an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được nhanh chóng quyết định và triển khai một cách thiết thực, hiệu quả để kịp thời giúp đỡ, hỗ trợ những người khó khăn nhất trong lúc dịch bệnh -điều đó thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã lựa chọn và xây dựng.

Những thành tựu kể trên đã chứng minh rằng, lựa chọn và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Có thể nói, “xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây”. Rõ ràng “phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”[1]. Đây là minh chứng cho việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, cũng như các quốc gia khác khi tiến hành xây dựng một chế độ xã hội mới, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là thời kỳ chuẩn bị mọi điều kiện vật chất và tinh thần để đi lên một chế độ xã hộiưu việt hơn, còn vô vàn khó khăn, gian khổ;hơn nữa, do điểm xuất phát và hoàn cảnh đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta có rất nhiều khó khăn, không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế, do vậy, cần phải có sự nỗ lực, quyết tâm rất lớn của toàn Đảng, toàn dân và cần có một thời gian quá độ không ngắn, mới có thể đạt tới xã hội xã hội chủ nghĩa như mong muốn.

 

[1] Bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ngày 16/5/2021.

Mạng xã hội - nhận diện và nguy cơ

 


          Cùng với những giá trị tích cực, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước. Nó “ được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích”

CẢNH GIÁC TRƯỚC “ĐẠI DỊCH” TIN GIẢ

 Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 có những diễn biến phức tạp, tình trạng tin giả về vấn đề này gây nhiễu loạn trên internet, mạng xã hội cũng trở thành “đại dịch” nguy hiểm, đáng sợ không kém dịch bệnh.

TIN GIẢ “NỐI GIÁO CHO GIẶC”

Mới đây nhất trên mạng xã hội lan truyền một số thông tin như: Thành phố Hồ Chí Minh sẽ thực hiện phong tỏa theo phương án mới và kêu gọi người dân đi mua sắm tích trữ hàng hóa; lãnh đạo thành phố bị mắc COVID-19; các bệnh viện tại thành phố quá tải do số lượng bệnh nhân COVID-19 quá đông; trước đó vào tối 18-5-2021 là thông tin về “chỉ đạo mới của UBND Thành phố”…. Bộ Y tế và Ban Tuyên giáo Thành ủy và Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh đã khẳng định những thông tin trên đều là thất thiệt, sai sự thật, xuyên tạc.

Không phải chỉ với Thành phố Hồ Chí Minh mà ở hầu khắp các địa phương đều có xuất hiện của “đại dịch” tin giả, tin đồn thất thiệt, sai sự thật. Cơ quan chức năng của Bộ Công an cho biết, từ khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát cho đến nay, trên không gian mạng đã có rất nhiều thông tin thất thiệt, chưa được kiểm chứng, xuyên tạc, sai sự thật, thu hút hàng triệu lượt bình luận, chia sẻ. Đã có hàng nghìn trường hợp bị các cơ quan chức năng xác minh, đấu tranh và xử lý ở các mức độ khác nhau do tung tin thất thiệt, đưa tin, bài không được kiểm chứng, sai sự thật, xuyên tạc.

Hành vi trên của một số người dân phần đa vẫn là do thiếu hiểu biết về pháp luật, chủ quan, đơn giản trong việc tạo tin và đưa tin lên mạng xã hội. Mặt khác là do người tham gia mạng xã hội thiếu trách nhiệm, muốn tạo thông tin lạ, tin hot nhằm câu like, câu view, gây sự chú ý trên mạng hoặc phục vụ việc bán hàng online… Nhưng chúng ta cũng cần cảnh giác, rất có thể một số phần tử bất mãn trong nước tung tin thất thiệt theo sự giật dây của các thế lực thù địch.

Không chỉ gây hoang mang trong dư luận, những hành vi do thiếu hiểu biết và nhằm động cơ, mục đích xấu của cá nhân như đã nêu trên còn gây nhiễu loạn thông tin khiến người dân hoang mang khó phân biệt được đâu là thông tin chính xác, đâu là thông tin giả, để chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Mặt khác, thông tin giả còn gây khó khăn không nhỏ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ban, ngành và cấp ủy, chính quyền địa phương trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Đặc biệt khi mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và nước ngoài lợi dụng tình hình dịch để xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, thì sự xuất hiện tràn lan những tin đồn thất thiệt, tin giả như trên chẳng khác nào “nối giáo cho giặc”.

NHỮNG GIỌNG ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ

Bên cạnh người dân trong nước thiếu hiểu biết hoặc vì động cơ, mục đích cá nhân, một thủ đoạn đang được một số tổ chức phản động, phần tử cơ hội chính trị ráo riết thực hiện là lợi dụng khoảng trống thông tin khi các cơ quan báo chí, truyền thông của ta chưa đăng phát kịp thời để cóp nhặt, nhào nặn, lồng ghép tạo dựng những thông tin giả bóp méo, xuyên tạc sự thật rồi tung lên không gian mạng nhằm cản trở cuộc chiến phòng, chống đại dịch COVID-19 của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Chẳng hạn chúng suy diễn rằng dịch COVID-19 diễn biến phức tạp tại Thành phố Hồ Chí Minh là do cấp ủy, chính quyền thiếu quan tâm đến tính mạng, sức khỏe người dân; là do năng lực quản lý, điều hành của chính quyền yếu kém nên không có các chủ trương, biện pháp quyết liệt trong phòng, chống dịch bệnh. Trong thực hiện chủ trương tiêm vắc xin các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng: Việt Nam quá lạc quan với kết quả phòng, chống dịch bằng biện pháp hành chính nên “thiếu chủ động” trong thực hiện tiêm vắc xin; từ một số trường có tác dụng phụ sau khi tiêm vắc xin, trong khi các cơ quan báo chí chính thống chưa kịp thông tin thì một số tổ chức phản động lưu vong móc nối với các đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong đã đưa ra những thông tin rất phi khoa học để so sánh, suy diễn cho rằng loại vắc xin này tốt, vắc xin kia không tốt; cán bộ thì được tiêm vắc xin tốt, còn vắc xin chất lượng thấp thì tiêm cho người dân và đưa ra “khuyến cáo” chỉ tiêm loại vắc xin do nước này sản xuất không nên tiêm vắc xin của nước kia….

Những thông tin sai trái, những giọng điệu xuyên tạc ấy ít nhiều đã làm ảnh hưởng không tốt đến tư tưởng, tâm lý của những người dân nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết; làm cho thế giới hiểu chưa đúng về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và tinh thần “Chống dịch như chống giặc” của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Cùng với thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật về diễn biết tình hình dịch bệnh, các thế lực thù địch còn xuyên tạc công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ngành chức năng, cấp ủy, chính quyền các địa phương. Chúng cho rằng tình hình dịch phức tạp mà vẫn thực hiện “mục tiêu kép” là coi thường tính mạng, sức khỏe nhân dân… Thực chất của chiêu trò này là nhằm tạo dư luận trái chiều, kích động người dân gây áp lực với Đảng và Nhà nước. Những thông tin thất thiệt, xấu độc này càng trở nên nguy hiểm khi một số người dân thiếu hiểu biết, vô trách nhiệm lên mạng xã hội “té nước theo mưa” chia sẻ, phát tán, bình luận...

TỈNH TÁO ĐỂ KHÔNG TIẾP TAY CHO KẺ XẤU

Tình hình dịch ở nhiều quốc gia trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, dù tình hình chưa lắng dịu, nhất là tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng nước ta vẫn được quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 có hiệu quả. Chiến dịch tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19 với mục tiêu tiêm 150 triệu mũi cho khoảng 75 triệu người đã và đang được thực hiện tích cực, khẩn trương và đã đạt những kết quả quan trọng bước đầu. Đặc biệt, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thành công trong thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, vừa phát triển kinh tế - xã hội và đang tiếp tục phát huy những kết quả, kinh nghiệm ấy trước những diễn biến mới của tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên tình trạng một số người nhận thức hạn chế, thiếu trách nhiệm, lợi dụng tình hình dịch để tung tin giả, tin xấu đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về trách nhiệm xã hội và đạo đức công dân đối với công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Trở lại với những thông tin thất thiệt về công tác phòng, chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, đối với các trường hợp có hành vi lan truyền thông tin thất thiệt, sai sự thật, gây hoang mang trong xã hội, các cơ quan chức năng sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Trước tình trạng nhiễu loạn thông tin liên quan đến phòng, chống dịch CVID-19 trên không gian mạng, các cơ quan chức năng khuyến cáo người dân hãy bình tĩnh, không nghe theo các thông tin không chính xác, không lan truyền các thông tin không kiểm chứng.

Cơ quan chức năng tăng cường các biện pháp kiểm soát, phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp đưa tin sai sự thật về diễn biến, tình hình dịch bệnh là cần thiết nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế. Cơ bản, lâu dài vẫn phải là phát huy vai trò của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng, đặc biệt là các cơ quan báo chí, truyền thông trong việc cung cấp kịp thời thông tin chính thống, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kiến thức về dịch COVID-19 cho nhân dân. Khi nhận thức đúng, có đủ kiến thức cần thiết người dân sẽ bình tĩnh, không nhẹ dạ, cả tin, hoang mang trước những thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội. Mặt khác, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục giúp cho người dân am hiểu hơn về pháp luật, nắm rõ về các chế tài xử lý đối với hành vi tung tin giả, tin thất thiệt và những biểu hiện lơ là, chủ quan, thực hiện không nghiêm các quy định về phòng, chống dịch COVID-19… để tự giác chấp hành.

Bên cạnh lực lượng chức năng trong công tác đấu tranh ngăn chặn “đại dịch” tin giả, rất cần có sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng. Khi tham gia vào môi trường mạng mỗi người dân bằng kiến thức và hiểu biết của mình hãy suy xét thận trọng, kỹ lưỡng trước những thông tin, hình ảnh, vidio tiếp cận, đừng vì nhẹ dạ, cả tin mà biến mình thành nạn nhân của “đại dịch” tin giả. Mặt khác mỗi cá nhân hãy kiềm chế cảm xúc đừng vì những diễn biến tâm lý nhất thời mà nghĩ sai, nghĩ xấu và có những phản ứng tiêu cực về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, để rồi đăng tải, chia sẻ những thông tin bịa đặt, sai sự thật, bình luận ác ý về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Những hành động như vậy chẳng những làm xói mòn niềm tin vào Đảng và chính quyền, gây khó khăn cho công tác phòng, chống dịch mà còn làm hủy hoại cuộc sống của cá nhân và cộng đồng, tự biến mình thành kẻ tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Cuộc chiến phòng, chống đại dịch COVID-19 chưa thể kết thúc một sớm, một chiều và phía trước chúng ta còn rất nhiều khó khăn, thử thách. Đây chính là thời điểm mà mỗi người dân cả nước nói chung và mỗi người dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng thể hiện rõ nhất trách nhiệm công dân của mình, đồng sức, đồng lòng phấn đấu vì mục tiêu chung chiến thắng đại dịch COVID-19. Một trong những việc làm cụ thể, có ý nghĩa thiết thực nhất trong lúc này là nói không và kiên quyết tuyên chiến với “đại dịch” tin giả./.

KIÊN TRÌ CHIẾN LƯỢC, LINH HOẠT BIỆN PHÁP, HAI MŨI GIÁP CÔNG

 

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 nhấn mạnh yêu cầu này tại cuộc họp Ban Chỉ đạo, sáng 18/7.

Theo báo cáo của Bộ Y tế, đến nay, Việt Nam ghi nhận 51.002 ca mắc COVID-19, trong đó 48.964 ca trong nước, 10.729 người khỏi bệnh và 225 ca tử vong. Đợt dịch thứ 4 đã ghi nhận 48.150 ca, trong đó, có 47.394 ca trong nước (98%), 7.912 người đã khỏi bệnh (18%), 190 ca tử vong. Trong tuần, cả nước có thêm 19.937 ca mắc mới, tăng 11.192 ca so với tuần trước đó.

TPHCM và các địa phương khu vực phía Nam dịch bệnh diễn biến phức tạp với số người mắc liên tục gia tăng do dịch đã lây lan ra cộng đồng với các chuỗi lây nhiễm, ổ dịch chưa xác định được nguồn lây. Trong khi đó, nhiều người đã đi/đến TPHCM trong thời gian trước đó có thể mang mầm bệnh nhưng chưa được phát hiện.

Số ca mắc mới trong tuần qua của các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, miền Bắc (từ Phú Yên trở ra) hầu hết giảm so với tuần trước đó. Tuy nhiên, với nguy cơ dịch bệnh bùng phát hiện hữu do người trở về địa phương có lịch sử đi lại, trở về từ các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, mọi người dân cần thực hiện nghiêm các biện pháp giám sát, theo dõi và khai báo y tế.

THU HẸP "VÙNG ĐỎ", MỞ RỘNG "VÙNG XANH" 

Ban Chỉ đạo nhận định ở miền Bắc, đến giờ phút này cơ bản dập được dịch ở Bắc Ninh, Bắc Giang, đang kiểm soát được tình hình ở các tỉnh, thành phố. Khu vực miền Trung còn một vài tỉnh như Phú Yên, Khánh Hòa, Đà Nẵng tình hình đang phức tạp, có những ổ dịch mới, phải tập trung lực lượng để khoanh vùng, dập dứt điểm. Tình hình dịch cơ bản vẫn kiểm soát được trên cả nước.

Tình hình dịch ở TPHCM và một số tỉnh lân cận, nhất là ở Bình Dương vẫn diễn biến rất phức tạp, nếu không tập trung kiểm soát thật tốt có thể dẫn tới hệ thống y tế bị quá tải. Nguy cơ hiện hữu là dịch từ TPHCM sẽ lây lan rộng ra các tỉnh khác. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg với 19 tỉnh, thành phố phía Nam.

Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, cần phân loại trong 19 tỉnh, thành phố phía Nam thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg thành 2 nhóm. Những tỉnh tương đối an toàn, dịch còn ít (khu vực Nam sông Hậu và Bình Phước) tiếp tục thực hiện theo chiến lược "Ngăn chặn - Phát hiện - Truy vết - Khoanh vùng- Dập dịch và Điều trị", giống như các địa phương đang kiểm soát được dịch.

Những địa phương như TPHCM, Bình Dương và những khu vực dịch lây nhiễm cao, đậm đặc, lây lan rộng thì cần có những giải pháp mới, cách làm mới cho phù hợp với “2 mũi giáp công”. Một mũi tập trung lực lượng tại những “vùng đỏ”, có mức độ nguy cơ dịch bệnh rất cao để nhanh chóng bóc F0 ra khỏi cộng đồng, từng bước làm sạch, thu hẹp ổ dịch, giảm xuống “vùng vàng” dần tiến tới “vùng xanh”. Mũi còn lại thực hiện tầm soát, sàng lọc kết hợp các biện pháp đồng bộ, giữ chặt “vùng xanh” an toàn; cô lập những “vùng vàng”, làm sạch để trở thành “vùng xanh”.

PGS.TS Trần Đắc Phu cho rằng trong chính mỗi địa phương, có những xã, huyện có nguy cơ rất cao nhưng có những vùng có nguy cơ rất thấp. Do đó, việc thực hiện giãn cách xã hội không chỉ bảo vệ an toàn cho chính các địa phương mà còn bảo vệ các khu vực khác có nguy cơ thấp hơn.

"Việc thực hiện giãn cách xã hội theo mức độ nào cũng đều phải làm nghiêm. Tránh hiện tượng bên ngoài chặt, bên trong lại lỏng, tạo thành những đám đông, có nguy cơ lây lan dịch bệnh, đồng thời làm ách tắc giao thông, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và công tác phòng, chống dịch", ông Trần Đắc Phu nhấn mạnh.

XÉT NGHIỆM HIỆU QUẢ, TIẾT KIỆM, "KHÔNG DÀN HÀNG NGANG" 

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam lưu ý tại các vùng dịch, ổ dịch, tùy tình huống để sử dụng xét nghiệm nhanh kết hợp với xét nghiệm RT-PCR để bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, “không dàn hàng ngang”.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết hiện độ nhạy của xét nghiệm nhanh hiện đã tương đương với xét nghiệm RT-PCR trong mẫu gộp. Bộ Y tế đã hướng dẫn thực hiện xét nghiệm nhanh mẫu gộp 3 mẫu đơn hoặc 5 mẫu đơn.

Ở những nơi chưa bị dịch nhiều, các địa phương phải tăng tần suất xét nghiệm nhanh sàng lọc tại bệnh viện, bảo vệ tối đa hệ thống y tế. Trong tầm soát, sàng lọc cộng đồng tăng cường sử dụng xét nghiệm RT-PCR mẫu gộp nhiều mẫu đơn tại những điểm có nguy cơ cao như các chợ, bến xe, quán nước… nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ xét nghiệm.

Ban Chỉ đạo cũng yêu cầu Bộ TT&TT tiếp chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các phần mềm phục vụ công tác phòng, chống dịch như công cụ quản lý người từ nước ngoài về thực hiện cách ly tập trung, theo dõi y tế tại nhà; hệ thống cấp mã QR cho từng người dân để thực hiện khai báo y tế, quét mã khi đến các cửa hàng, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, di chuyển qua các chốt kiểm soát cũng như phục vụ công tác truy vết; công cụ quản lý thông tin xét nghiệm, tiêm chủng,…

KHÔNG ĐỂ THIẾU VẬT TƯ, TRANG THIẾT BỊ CHỐNG DỊCH TRONG MỌI TÌNH HUỐNG

Về chuẩn bị vật tư, trang thiết bị chống dịch, lãnh đạo Bộ Y tế cho biết các địa phương đang gặp khó khăn trong cơ chế mua sắm, thủ tục quy trình qua nhiều bước, khả năng đáp ứng của các nhà cung cấp hạn chế…

“Chúng ta có nhu cầu rất lớn đối với sinh phẩm xét nghiệm. Bộ Y tế sẽ đàm phán mua trực tiếp với các nhà sản xuất lớn trên thế giới (Hàn Quốc, châu Âu, Trung Quốc) về xét nghiệm nhanh và các DN trong nước về xét nghiệm RT-PCR”, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long thông tin.

Về thiết bị xét nghiệm, lãnh đạo Bộ Y tế cho biết số lượng máy móc tạm đủ trong tình hình dịch hiện nay. Bộ Y tế sẽ thành lập 25 xe xét nghiệm lưu động với công suất khoảng 2.000 mẫu đơn PCR /ngày để hỗ trợ không chỉ cho các địa phương nguy cơ cao mà tiến hành sàng lọc, tầm soát tại những khu vực an toàn.

Bên cạnh đó, Bộ Y tế đang tính toán nhu cầu các thiết bị phục vụ điều trị bệnh nhân nặng, nguy kịch như hệ thống ECMO, máy thở chức năng cao, máy thở oxy cao áp (HNFC), bơm tiêm điện, máy theo dõi các chức năng sống của bệnh nhân, máy lọc máu chậm…

Ban Chỉ đạo đã bàn, giải quyết các thủ tục khẩn trương để mua sắm vật tư, trang thiết bị phòng chống dịch, đặc biệt là sinh phẩm xét nghiệm, máy móc điều trị.

Theo đó, Bộ Y tế thống kê tất cả vật tư, trang thiết bị cần mua. Những loại mà ngân sách Nhà nước có thể bảo đảm được thì thực hiện mua ngay. Những bất cập trong quy định hiện hành, Bộ Y tế trình Chính phủ để có Nghị quyết về vấn đề này.

Đối với trang thiết bị bảo hộ phục vụ cho đội ngũ y, bác sĩ, Ban Chỉ đạo thống nhất giao Bộ Y tế chỉ đạo mua, trang bị đầy đủ, không để bất kỳ bệnh viện nào (dù tự chủ hay chưa, thuộc tuyến Trung ương hay địa phương) thiếu đồ bảo hộ, bảo đảm an toàn tối đa cho lực lượng điều trị tuyến đầu.

THỐNG NHẤT QUY ĐỊNH VỀ XÉT NGHIỆM VỚI LÁI XE VẬN TẢI

Tại cuộc họp, Ban Chỉ đạo đã bàn và thống nhất hướng giải quyết vướng mắc do các Bộ: Công Thương, GTVT đặt ra để bảo đảm lưu thông hàng hóa thông suốt.

Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Anh Tuấn cho biết vướng mắc nhất hiện nay là yêu cầu lái xe, người đi cùng xe phải có giấy chứng nhận xét nghiệm âm tính COVID-19, nhưng mỗi địa phương lại yêu cầu khác nhau đối với loại xét nghiệm (nơi yêu cầu RT-PCR, nơi chấp nhận xét nghiệm nhanh), thời gian hiệu lực của giấy xét nghiệm…

“Bộ GTVT đề nghị phải có hướng dẫn các địa phương thực hiện thống nhất cho tất cả các địa phương”, Thứ trưởng Lê Anh Tuấn kiến nghị.

Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long khẳng định Bộ Y tế chấp nhận kết quả xét nghiệm RT-PCR và xét nghiệm nhanh do tất cả các cơ sở y tế từ cấp xã trở lên xác nhận. Kết quả có hiệu lực trong 3 ngày. Bộ Y tế sẽ hướng dẫn các cơ quan y tế, Bộ GTVT kiểm tra dọc các tuyến vận tải để có thể bố trí thêm các điểm thực hiện xét nghiệm nhanh, không để xảy ra ách tắc. Bộ Y tế sẽ phối hợp với các địa phương, Đoàn Thanh niên bố trí điểm xét nghiệm nhanh cho lái xe tại các điểm nghỉ đường dài.

Ban Chỉ đạo đã bàn và thống nhất giao Bộ Y tế hướng dẫn việc vận tải, lưu thông hàng hóa trong nội bộ 19 tỉnh, thành phố phía Nam thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg không yêu cầu lái xe, người đi cùng trên xe phải có giấy xét nghiệm âm tính với COVID-19, nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng, chống dịch, phương tiện phải được khử khuẩn, lái xe được bố trí chỗ riêng, không tiếp xúc với người khác… Các xe chạy qua lại giữa các địa phương cần có mã QR-Code để đảm bảo thông suốt.

Ban Chỉ đạo sẽ có bộ phận thường trực điều hành từ Hà Nội, kết nối với các bộ phận của Bộ Y tế và một số bộ, ngành ở 19 tỉnh, thành phố phía Nam thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg để giải quyết ngay những vướng mắc nảy sinh hằng ngày.

 PHẤN ĐẤU NĂM 2021 CÓ ÍT NHẤT MỘT VACCINE COVID-19 TRONG NƯỚC

Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn nhấn mạnh như vậy tại cuộc họp trực tuyến của Tổ công tác đặc biệt về nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, phát triển vaccine phòng Covid-19 với nhiều điểm cầu là các chuyên gia về vaccine, nhà nghiên cứu, đơn vị thử nghiệm lâm sàng, đơn vị nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine phòng Covid-19 ngày 17-7.
Sau khi nghe báo cáo tổng hợp của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo về tình hình nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng vaccine Covid-19 trong nước cũng như việc chuyển giao công nghệ, các thành viên tham dự cuộc họp đã cùng bàn thảo nhằm thống nhất kế hoạch mời chuyên gia của Tổ chức y tế thế giới (WHO) hỗ trợ nghiên cứu phát triển vaccine Covid-19 tại Việt Nam; thúc đẩy nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng vaccine Nanocovax, vaccine COVIVAC trong nước; thống nhất kế hoạch hợp tác chuyển giao công nghệ, kế hoạch triển khai thử nghiệm lâm sàng vaccine chuyển giao công nghệ.
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn phát biểu tại cuộc họp.
Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Trần Văn Thuấn nhấn mạnh, vaccine phòng Covid-19 luôn là vấn đề luôn được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm, Thủ tướng đã mời chuyên gia WHO hỗ trợ Việt Nam về nghiên cứu, sản xuất vaccine để làm sao Việt Nam nhanh chóng sản xuất được vaccine trong nước nhằm “đảm bảo tự chủ về vaccine cho nhu cầu của nhân dân”.
“Làm sao để tranh thủ tận dụng tối đa hỗ trợ của chuyên gia WHO trong công nhận phòng xét nghiệm, công nhận tiến trình thử nghiệm lâm sàng và quan trọng nhất là công nhận vaccine Covid-19 của Việt Nam để tiến tới tự chủ vaccine và có thể xuất khẩu”, Thứ trưởng Trần Văn Thuấn nhấn mạnh.
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn cũng đề nghị các thành viên của Tổ công tác đặc biệt phát huy cao nhất năng lực, trách nhiệm trong công việc. Tổ công tác đặc biệt với mục tiêu hỗ trợ tối đa cho các nhà nghiên cứu, sản xuất vaccine phòng Covid-19 trong nước với phương châm chủ động tối đa, linh hoạt, các đơn vị cần đến đâu, chuyên gia của Tổ công tác đặc biệt hỗ trợ đến đó. Đồng thời đề nghị Cục Khoa học đào tạo và Công nghệ chủ động mời thêm chuyên gia hỗ trợ khi cần theo đúng thẩm quyền.
Thứ trưởng Bộ Y tế giao các vụ, cục chức năng liên quan của Bộ Y tế theo chức năng nhiệm vụ được phân công để hỗ trợ tối đa cho các đơn vị nghiên cứu, sản xuất và nhập khẩu, cấp phép vaccine phòng Covid-19 trong trường hợp khẩn cấp.
Đồng thời phân công rõ trách nhiệm của các thành viên Tổ công tác; giao Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh là 2 đơn vị đầu mối chính trong việc tổ chức thực hiện thử nghiệm lâm sàng chủ động các điều kiện tham gia (nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện…) và triển khai các nội dung nghiên cứu thử nghiệm vaccine chuyển giao công nghệ.
Bộ Y tế sẽ sớm trình Chính phủ kế hoạch sử dụng nguồn ngân sách từ Quỹ vaccine phòng Covid-19 hỗ trợ triển khai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 (đối với các vaccine nghiên cứu sản xuất trong nước và chuyển giao công nghệ) và đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan, các địa phương phối hợp với Bộ Y tế trong việc tham gia vào các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng triển khai tại các địa phương nhằm đảm bảo an toàn, đúng tiến độ và hiệu quả.
Cũng tại cuộc họp, Thứ trưởng Trần Văn Thuấn yêu cầu lập nhóm trao đổi, trong đó bao gồm cả lãnh đạo bộ, lãnh đạo các cục, vụ liên quan của Bộ Y tế và các đơn vị liên quan để kịp thời trao đổi mọi công việc liên quan đến nghiên cứu, sản xuất vaccine phòng Covid-19 được nhanh chóng.

 THỦ TƯỚNG: THỰC HIỆN CHỈ THỊ 16 KHÔNG NGHIÊM, HẬU QUẢ SẼ NẶNG NỀ

Thủ tướng cho rằng khi thực hiện Chỉ thị 16, một số ngành, địa phương chưa lường hết được khó khăn, nên chỉ đạo, thi hành các biện pháp phòng, chống dịch còn lúng túng, bất ngờ.
Ngày 15/7, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến Thường trực Chính phủ với 27 địa phương phía Nam về công tác phòng, chống dịch Covid-19.
Cuộc họp diễn ra trong bối cảnh tình hình dịch bệnh tại khu vực này đặc biệt phức tạp, biến chủng Delta đã được ghi nhận tại 58/63 tỉnh, thành. TP.HCM với số ca mắc tăng nhanh từ 300 ca/ngày hồi tháng 6, lên 2.000 ca/ngày ở thời điểm hiện tại.
HÀNG CHỤC TRIỆU LIỀU VACCINE SẮP VỀ VIỆT NAM
Báo cáo Thủ tướng, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết đã điều động khoảng 10.000 cán bộ y tế, tình nguyện viên chi viện cho TP.HCM và các tỉnh phía Nam. Bộ ban hành hướng dẫn giảm thời gian cách ly, thí điểm cách ly y tế F1 tại nhà, quản lý, điều trị bệnh nhân Covid-19.
Trong đợt dịch thứ 4, tổng số trường hợp F1 ghi nhận tại 58 địa phương là trên 162.000, phần lớn đã được xét nghiệm, đang điều trị 26.935 người bệnh. Công tác hậu cần, lưu thông hàng hóa, an sinh xã hội cho người dân được đảm bảo. Bộ Y tế đang xây dựng phương án cho tình huống 100.000 người mắc Covid-19.
Về thực hiện chiến lược vaccine, ông Long nói Việt Nam đã có cam kết viện trợ, ký hợp đồng cung ứng khoảng hơn 105 triệu liều trong năm 2021. Trong tháng 7, khoảng 9 triệu liều vaccine về Việt Nam, đến hết quý III/2021 là khoảng 30 triệu liều.
Lãnh đạo Bộ Y tế thông tin đã có 2 hợp đồng chuyển giao công nghệ với Nga và Mỹ hỗ trợ các đơn vị sản xuất trong nước đẩy nhanh tiến độ thử nghiệm lâm sàng và đảm bảo tuân thủ đúng quy trình. Tính đến 13/7, cả nước đã phân bổ hơn 8,7 triệu liều vaccine và tiêm được 4,1 triệu liều.
Bộ Y tế nhận định dịch bệnh đã lây lan rộng, nhiều ổ dịch xảy ra tại chợ đầu mối, khu công nghiệp, khu dân cư nên TP.HCM sẽ tiếp tục ghi nhận số ca mắc mới ở mức cao, trước khi ổn định và từng bước kiểm soát tình hình khi hết thời gian thực hiện Chỉ thị 16.
Tại hội nghị, các đại biểu đều nhất trí cần sự phối hợp giữa các ngành, địa phương để công tác phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả hơn. Ưu tiên số 1 là phòng, chống dịch, nhưng những nơi an toàn, điều kiện cho phép thì vẫn duy trì sản xuất, phát triển kinh tế.
XUẤT HIỆN TÌNH TRẠNG LÚNG TÚNG, BẤT NGỜ
Phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận những ý kiến tâm huyết, chất lượng, thể hiện tinh thần xây dựng cao của các phó thủ tướng, lãnh đạo bộ, ngành, địa phương.
Trước tình hình dịch bệnh diễn biến nhanh, chưa có tiền lệ, còn nhiều khó khăn, song bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực, đạt thành quả nhất định trong phòng, chống dịch. Phát triển kinh tế và an sinh xã hội được đảm bảo, hạn chế thấp nhất ca tử vong.
Tuy nhiên, Thủ tướng cho rằng có bộ, ngành, địa phương, có lúc, có nơi chưa bám sát, chưa dự báo trước được tình hình nên còn lúng túng, bất ngờ khi đối phó với những vấn đề phát sinh. Một số người dân lơ là, mất cảnh giác, chấp hành chưa nghiêm các quy định phòng, chống dịch, kết quả chống dịch chưa cao như mong muốn.
Thủ tướng chỉ ra khi thực hiện Chỉ thị 16, một số ngành, địa phương chưa lường hết được khó khăn nên đáp ứng yêu cầu về y tế còn lúng túng, thiếu hụt; lưu thông hàng hóa ách tắc; có nơi, có lúc khan hiếm hàng hóa. Hướng dẫn của các bộ, ngành còn chưa kịp thời, đầy đủ khiến người dân hoang mang.
Thủ tướng cho rằng với diễn biến dịch như hiện nay, thực hiện Chỉ thị 16 không nghiêm sẽ dẫn đến hậu quả nặng nề. Sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chuỗi cung ứng bị tác động. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân bị ảnh hưởng…
Thủ tướng nêu rõ 6 mục tiêu trong thời gian tới. Theo đó, quyết tâm ngăn chặn, kiềm chế, đẩy lùi dịch bệnh tại TP.HCM, các tỉnh ĐBSCL, Đông Nam Bộ và duyên hải miền Trung. Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người dân là trên hết, trước hết, không để bất cứ người dân nào thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nhu yếu phẩm cần thiết trong cuộc sống; tập trung cứu chữa các ca bệnh, hạn chế thấp nhất các ca tử vong.
Ông yêu cầu giữ vững tình hình an ninh trật tự, bảo đảm an sinh xã hội trong bất cứ hoàn cảnh nào; kiểm soát chặt chẽ biên giới và các khu cách ly, phong tỏa; nhanh chóng ổn định tình hình để nhân dân trở lại sản xuất kinh doanh trong điều kiện bình thường. Bên cạnh đó là việc bảo vệ vững chắc nhà máy, khu công nghiệp, chuỗi cung ứng toàn cầu và toàn quốc.
Về nhiệm vụ cụ thể, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các địa phương thành lập ngay trung tâm cứu trợ, đường dây nóng, tổ tình nguyện để hỗ trợ người dân mọi lúc, mọi nơi, mọi vấn đề.
Bộ, ngành phối hợp với địa phương không để ách tắc giao thông, cung ứng đầy đủ hàng hóa, tháo gỡ vướng mắc về cơ chế trong chi tiêu, mua sắm phục vụ phòng, chống dịch đảm bảo đúng chế độ nhưng linh hoạt, sáng tạo.
Các địa phương chủ động chuẩn bị phương án ứng phó khi dịch diễn biến xấu. Địa phương phối hợp với các ngành liên quan tiếp tục triển khai thật tốt Nghị quyết 68 về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.
Thủ tướng Phạm Minh Chính tin tưởng với quyết tâm cao, hành động quyết liệt, dịch Covid-19 sẽ sớm được kiềm chế, đẩy lùi, thực hiện thành công "mục tiêu kép" vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội.

NHẬN DIỆN CHIÊU TRÒ TẠO SÓNG KHUẤY NƯỚC

 

          Thời gian gần đây, lợi dụng dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, đặc biệt là tại Tp. Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam, các đối tượng phản động, cơ hội, chống đối tăng cường các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc công tác phòng, chống dịch Covid-19, Quỹ vaccine của Chính phủ.

          Chúng thường tập trung tuyên truyền 4 nhóm thông tin:

          - Lợi dụng dịch Covid-19 để kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

          - Đăng tin sai về chính sách phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam.

          - Tung tin giả, thông tin sai sự thật liên quan tình hình đời sống của người dân tại các vùng dịch, thiếu lương thực, thực phẩm.

          - Xuyên tạc chủ trương kêu gọi người dân, tổ chức, doanh nghiệp ủng hộ đóng góp vào Quỹ vaccine phòng chống Covid-19.

          Mục đích của chúng là gây hoang mang dư luận; cản trở, tạo ảnh hưởng xấu đến công tác phòng, chống dịch nhằm hạ uy tính, phủ nhận nỗ lực và vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò chỉ đạo, điều hành của Nhà nước.

          Điển hình: Fb Quoc Huy Truong thường xuyên đăng tải bài viết, video, livestream có nội dung xuyên tạc chính sách phòng chống dịch của Việt Nam, thông tin sai sự thật về tình hình đời sống của người dân tại vùng dịch; với lời lẽ hết sức phản động, thiếu văn hóa.

          Đề nghị cơ quan chức năng nhanh chóng xác minh rõ đối tượng và hành vi của đối tượng để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Mong rằng người dân các vùng dịch nói riêng và người dân cả nước nói chung hãy bình tĩnh, tỉnh táo và tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và Chính phủ; tin vào sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc để Việt Nam chiến thắng dịch Covid-19 nhanh nhất có thể.

 

 

ĂN NO HÚNG TỤNG, DIỄU CỢT TRÊN NỖI ĐAU CÁC GIA ĐÌNH LIỆT SỸ - MỘT SỰ VÔ ƠN VÀ "DỊ HỢM" THẾ LÀ CÙNG!

 

          Trong hình là Đỗ Thị Kim Liên  (thường được gọi là Madam Liên, Shark Liên) - một nữ doanh nhân thành đạt và là Lãnh sự danh dự nước Cộng hoà Nam Phi tại Việt Nam.

          Cũng khá nhiều chương trình truyền hình, Liên nói chuyện đạo đức, chuyện mặc áo Cà Sa, chuyện đạo và đời, răn dạy lớp trẻ sống biết tôn trọng quá khứ, hi sinh của cha anh... Và, chắc chắn 1 người có hiểu biết như Liên cũng rất rõ sự kiện Đồi thịt băm, năm 1969?!

          Đồi Thịt Băm là cái tên do chính những tên lính Mỹ gọi nằm cách Huế khoảng 70 km về phía Tây Nam, cách Khe Sanh khoảng 100 km về phía nam, cách biên giới Việt - Lào chưa đầy 2 km; là nơi diễn ra một trong những trận chiến tổn thất lớn nhất cho cả địch và ta, làm rung chuyển cả chính trường nước Mỹ, dẫn đến kết cục buộc chính quyền Mỹ phải từng bước rút quân khỏi Việt Nam. Trong trận này,  Sư đoàn 101 Airborne phải bỏ mạng gần 70% quân số gồm cả lính ngụy tham gia. Ta hi sinh hơn 1.300 cán bộ, chiến sĩ, đến nay có liệt sĩ hài cốt chưa tìm thấy.

          Thế nhưng, hôm nay Liên lại mặc bộ quần áo ngụy  - biểu tượng Sư đoàn 101 Airborne - cái "cối xay thịt" của Quân đội Mỹ trong trận "Đồi thịt băm" để đi thắp hương cho nghĩa trang Liệt sĩ Hà Giang.

          Phải có đến 1.146.250 liệt sĩ và khoảng 600.000 thương binh, trong đó có 849.018 liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ chúng ta mới có được hòa bình. Đó là một mất mát quá lớn của cha ông ta. Thế mà, được sinh ra trong hòa bình, thành đạt ngay trên quê hương mình nhưng Shark Liên lại ăn no húng tụng, diễu cợt trên nỗi đau các gia đình liệt sĩ, vô ơn, dị hợm thế là cùng!