Thứ Hai, 19 tháng 7, 2021

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 Nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền về hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lập pháp của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, vừa qua, GS.TS. Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có bài viết quan trọng về “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”.

I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp

Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất; từ tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức đoàn kết cộng đồng và ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử thách của con người Việt Nam; là sự kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây. Nếu như chủ nghĩa yêu nước là nguồn gốc ra đời thì Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất cho sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận, đánh giá phân tích tổng kết các học thuyết, tư tưởng, đường lối các cuộc cách mạng một cách khoa học và kết hợp chúng với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình để tìm ra con đường cách mạng đúng đắn, cứu nước và giải phóng dân tộc ta. Giữa thực tiễn phong phú và sinh động, giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, giữa biết bao tình huống đa dạng và phức tạp, phẩm chất thông minh, tư duy độc lập, lòng ham hiểu biết và tính nhạy bén với cái mới đã tạo tiền đề cho Người tìm hiểu, phân tích tổng hợp, khái quát hình thành những luận điểm đúng đắn và sáng tạo, hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đảng ta khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật-một trong những nội dung cốt yếu trong kho tàng phong phú của hệ thống tư tưởng của Người-được hun đúc ngay từ tuổi thiếu niên đến trước ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Từ khi hình thành đến năm 1969, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trong đó có tư tưởng về hoạt động lập pháp, liên tục được Người bổ sung và phát triển làm cơ sở lý luận, kim chỉ nam cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp được thể hiện qua quan điểm chính sau:

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự bất khả xâm phạm của chủ quyền quốc gia, tính thiêng liêng của độc lập dân tộc

Hồ Chí Minh khẳng định bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là tất yếu, là tuyệt đối và có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quá trình cách mạng, chi phối đến các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, đến mọi lĩnh vực hoạt động từ kinh tế-xã hội đến chính trị, từ văn hóa đến khoa học, từ ngoại giao đến quân sự, quốc phòng, an ninh… của quốc gia, dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là nhiệm vụ bắt buộc, là hành động tất phải thế, chứ không thể khác, có chăng chỉ con đường, biện pháp, cách thức để bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia ở mỗi một thời điểm khác nhau mà thôi. Tính nhất quán đó xuất phát từ chính sự thiêng liêng của chủ quyền, lãnh thổ quốc gia với một dân tộc, bởi đó không chỉ là bảo vệ những giá trị hiện hữu như vùng đất, vùng trời, vùng biển-những thứ cha ông ta đã dày công xây dựng, gìn giữ và truyền lại-mà còn là bảo vệ những giá trị văn hóa, tinh thần phong phú, đa dạng, tốt đẹp có từ ngàn năm trên lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Độc lập dân tộc là tư tưởng chủ đạo, chi phối toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, Người khẳng định: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu.  Theo Hồ Chí Minh, độc lập, tự do dân tộc phải thực sự, hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập, tự do giả hiệu giống như "cái bánh vẽ" mà chủ nghĩa đế quốc nêu ra. Độc lập dân tộc phải được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các quyền dân tộc, quyền con người phải được thực hiện trên thực tế. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do của nhân dân. Người chỉ rõ: "Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì" .

Tư tưởng của Người về chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay. Đây là cơ sở ý thức hệ quan trọng cho mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, cho ý chí, nguyện vọng của toàn thể nhân dân, là căn cứ, mục tiêu và động lực của hoạt động lập pháp ngày nay. Có thể dễ dàng nhận thấy, trong tâm thức mỗi người Việt Nam yêu nước vẫn còn vang vọng lời Bác dạy trong bản Tuyên ngôn độc lập: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền nhân dân, tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

"Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam"-đó là tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủy thác cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng nhân dân có quyền kiểm soát đại biểu mà mình đã bầu ra. Người viết: "Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình".  Người căn dặn: "Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật".

Có thể khẳng định rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh chữ “DÂN” được đặt vào vị trí tối thượng. Người luôn căn dặn: “Trong bầu trời không gì quí bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.  Mọi việc lớn nhỏ đều nhằm làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân. Đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân, bởi dân là chủ thể, dân là thước đo chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Đối với Người, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về đề cao tính tối thượng của pháp luật-Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.

Năm 1919, khi Hội nghị Hòa Bình Paris họp tại Versailles, nhân danh nhóm người Việt Nam yêu nước, Hồ Chí Minh-lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, đã gửi đến Hội nghị "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" gồm 8 điểm  với các nội dung đòi cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, dành cho người bản xứ cũng được hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như mọi người châu Âu, và đặc biệt, đòi "thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật".

Ba năm sau, năm 1922, Yêu sách về quyền của người dân và chế độ pháp lý của Nhà nước với Hiến pháp ở vị trí tối thượng được Người khái quát, nâng lên thành tâm niệm linh thiêng, khắc khoải lòng người trong "Việt Nam yêu cầu ca":

"Bảy xin Hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền".

Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy được mối quan hệ hữu cơ, máu thịt giữa quyền làm chủ xã hội, quyền dân chủ, tự do của nhân dân với Hiến pháp và các đạo luật, thấy được vai trò của Hiến pháp, của các đạo luật trong việc làm thay đổi tính chất của một chế độ chính trị. Với Hồ Chí Minh, thần linh pháp quyền không mơ hồ, xa xôi. Người đã nhận thức rằng, để xây dựng được Nhà nước pháp quyền, nơi mà mỗi người đều phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, thì pháp luật phải có vị trí tối thượng như thần linh. Đây được coi như một bản Cương lĩnh lập hiến dẫn dắt con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ tự do và quyền làm chủ của nhân dân; là sợi chỉ đỏ cho hoạt động lập pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về yêu cầu mục đích của pháp luật là phải nhân đạo, nhân văn, vì con người

Với lòng yêu nước thương dân vô hạn, Hồ Chí Minh luôn mong muốn xây dựng hệ thống pháp luật nhân đạo, nhân văn vì nhân dân lao động, vì con người sau khi đã giành được chính quyền. Với Người, pháp luật là do con người và vì con người, không theo kiểu pháp luật độc tôn. Pháp luật phải có tính hài hòa, giải quyết mối quan hệ giữa người với người, giữa người với công việc trên nền tảng có lý, có tình.

Hệ thống pháp luật mà Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng là sản phẩm của chế độ có một "mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người… đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy" . Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 03/9/1945, Người yêu cầu: "Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ” và chính Người đã chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 với những nội dung thể hiện đậm nét tính dân chủ, vì con người. Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Người chỉ rõ: "Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động… Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động" . Như vậy, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, pháp luật sinh ra không vì một cái gì khác hơn là vì dân. Đây là nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta từ khi giành độc lập cho đến tận hôm nay và mai sau.

Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng pháp luật quốc tế

Tôn trọng pháp luật quốc tế là tầm nhìn rất xa và rộng của Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn chủ trương đẩy mạnh mối quan hệ đoàn kết hữu nghị với nhân dân thế giới. Hồ Chí Minh nói: Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài. Lời Người nói đã diễn đạt đầy đủ nguyện vọng, quan điểm và đường lối đối ngoại của Việt Nam lúc bấy giờ là duy trì tình hữu nghị, sự hợp tác chân thành với tất cả các nước trên thế giới dù có chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau nhằm xây dựng hòa bình trên thế giới. Quan điểm của Người là nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta và là cơ sở để các nước có chế độ chính trị khác nhau trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đây chính là kim chỉ nam cho công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đối ngoại và hội nhập của Việt Nam.

Thứ sáu, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm dân chủ trong quá trình xây dựng pháp luật

Trong xây dựng hệ thống pháp luật, Hồ Chí Minh rất chú trọng tính dân chủ. Theo Người, muốn có được hệ thống pháp luật như vậy, sự tham gia của nhân dân trong quá trình xây dựng pháp luật là điều kiện tiên quyết. Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Cách mạng tháng Tám thành công ta lập ra Chính phủ mới với “pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.  Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1959, việc bảo đảm sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào xây dựng pháp luật được Người đặc biệt quan tâm. Để đảm bảo pháp luật thực sự của nhân dân, trong quá trình xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh yêu cầu: "Bản Hiến pháp chúng ta sẽ thảo ra… phải tiêu biểu được các nguyện vọng của nhân dân… Sau khi thảo xong, chúng ta cần phải trưng cầu ý kiến của nhân dân cả nước một cách thật rộng rãi. Có như thế bản Hiến pháp của chúng ta mới thật sự là một bản Hiến pháp của nhân dân, của chế độ dân chủ" .

Hồ Chí Minh nhận định: "phải nhận thức cho tốt và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật"; "sự bình đẳng trong xã hội ở nơi pháp luật" và "dân chủ đúng đắn cũng ở nơi pháp luật".  Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng pháp luật phải hướng tới mục tiêu dân chủ, tiến bộ để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Từ những luận điểm nêu trên, có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật nói chung, về hoạt động lập pháp nói riêng là tài sản tinh thần quý báu phải được gìn giữ, bảo vệ và phát huy trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập, công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN, góp phần củng cố, tạo nền tảng quan trọng cả về lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng của Người về hoạt động lập pháp là trách nhiệm, nhiệm vụ trọng tâm và quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, là mong mỏi, tâm huyết của toàn thể nhân dân.

Qua gần 76 năm xây dựng và phát triển của Nhà nước và sau 35 năm Đổi Mới, thế và lực của đất nước ta đã ở một tầm khác. Đời sống của đại đa số người dân-chủ nhân của đất nước có những thay đổi căn bản. Từ thôn quê tới đô thị đều mang một diện mạo mới mà chúng ta khó có thể hình dung vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới.

Về hoạt động lập pháp, cho tới nay, đại đa số các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội đều có văn bản tầm luật điều chỉnh với hơn 230 Bộ luật và luật đang có hiệu lực áp dụng. Chúng ta đã xây dựng được hệ thống pháp luật tương đối ổn định, đồng bộ, thống nhất, có sự gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện các chỉ đạo, chủ trương của Đảng về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng pháp lý bảo đảm quyền tự do kinh doanh, các quyền về an sinh xã hội của công dân, cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư và phát triển các lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất nước, bảo đảm quyền, lợi ích của người dân và doanh nghiệp; ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội...  Những kết quả đó là thành quả của khát vọng, ý chí vượt khó vươn lên, sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

II. Tiếp tục học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Học tập, vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp trong giai đoạn ngày nay có vai trò rất quan trọng trong bối cảnh toàn Đảng toàn dân đang tích cực chủ động thực hiện thắng lợi các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược đã xác định tại Đại hội XIII của Đảng về hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đó là: Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân. Đột phá chiến lược về thể chế để phát huy mạnh mẽ dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

Bên cạnh đó, cả dân tộc Việt Nam đang chủ động hội nhập sâu và rộng với thế giới. Để hội nhập có hiệu quả, Việt Nam phải có các giải pháp về pháp luật vừa bảo đảm phù hợp và phát huy lợi thế, thế mạnh trong nước vừa bảo đảm hài hòa, tương thích với các tiêu chuẩn chung của pháp luật quốc tế. Việt Nam cũng đang hòa nhịp vào dòng chảy của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Hội nhập quốc tế trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  sẽ có tác động về nhiều mặt đến việc học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nhiều vấn đề mới sẽ nảy sinh, chưa từng có trong tiền lệ đòi hỏi phải có sự điều chỉnh của pháp luật để nhân dân và tổ quốc Việt Nam được hưởng thụ những lợi ích tốt nhất của hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng này đem lại.

1. Yêu cầu về hoạt động lập pháp trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Cương lĩnh (bổ sung và phát triển 2011) khẳng định, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là một trong 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được cụ thể hóa đầy đủ như sau: "Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh.... Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa".

Kế thừa nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được đề cập trong Văn kiện các kỳ Đại hội trước, nội dung xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự đã được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII, được nhắc đến nhiều lần và là một trong ba đột phát chiến lược của Đại hội với những điểm mới hơn trong nhận thức về phạm trù này. Đại hội lần thứ XIII cũng nêu rõ mục tiêu này chỉ đạt được khi chúng ta biết gắn tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời kiểm soát hiệu quả và thực chất quyền lực dựa trên việc siết chặt kỷ cương, kỷ luật; xây dựng nhà nước pháp quyền gắn với mục tiêu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội…

Để thực hiện thành công các mục tiêu nêu trên, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới, hoạt động lập pháp phải đáp ứng 06 yêu cầu như sau:

Thứ nhất, hoạt động lập pháp phải bảo đảm tạo hành lang pháp lý để Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Để làm được như vậy, hoạt động lập pháp phải tạo được những bước đột phá thực sự về thể chế để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, rất thiết thực và cụ thể, bảo đảm sự bao phủ của pháp luật đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Hơn nữa, hệ thống pháp luật này phải bảo đảm dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, hoạt động lập pháp phải bảo đảm việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội; đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội. Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp. Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng. Mô hình quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ những điều pháp luật cấm.

Thứ ba, hoạt động lập pháp phải bảo đảm quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc: phân công, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực. Tính chất và cách thức phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng tùy thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước phải được phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước.

Thứ tư, hoạt động lập pháp phải bảo đảm một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp. Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng, do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh. Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc vào chủ thể của các hành vi này. Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.

Thứ năm, hoạt động lập pháp phải bảo đảm thích ứng với những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, hoạt động lập pháp phải tạo cơ sở pháp lý để tận dụng tối đa những thành tựu, những tác động tích cực của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đem lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và xã hội; hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bảo vệ người dân, doanh nghiệp và nhà nước trước những hệ lụy có thể xảy ra. Hoạt động lập pháp cũng phải đảm bảo được vai trò của nhà nước trong việc xây dựng hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy đổi mới sáng tạo với những tư duy mới, phù hợp với xu thế tiến bộ của thế giới trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thứ sáu, hoạt động lập pháp phải bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nội dung hết sức quan trọng, thể hiện rõ nét nhất đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là phải gắn liền và dựa trên cơ sở đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Đảng lãnh đạo nhà nước là đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn; chăm lo công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, bố trí cán bộ trong các cơ quan Đảng và nhà nước, kiến nghị và giới thiệu cán bộ với các cơ quan dân cử một cách dân chủ; thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra. Đảng lãnh đạo nhà nước xây dựng cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nhà nước, lãnh đạo việc đổi mới bộ máy nhà nước, thể chế hóa cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật của nhà nước, cụ thể hóa chiến lược thành chương trình, kế hoạch, cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước…

2. Học tập, vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016-2021) diễn ra cùng thời điểm với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW. Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng và tiếp tục cụ thể hóa, đưa Hiến pháp năm 2013 vào đời sống, qua đó, khẳng định vai trò quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện thể chế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khóa XIV đã thông qua 73 luật, 02 pháp lệnh và 31 nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật  tạo cơ sở pháp lý cho xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật nói chung, về hoạt động lập pháp nói riêng là nền tảng, yêu cầu bắt buộc để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta phát triển nhanh, bền vững. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp trong bối cảnh ngày nay không chỉ trong xây dựng pháp luật đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn mà pháp luật cần phải có tầm nhìn, có chiến lược để dẫn dắt, định hướng thực tiễn. Trong thời gian tới, Quốc hội sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện học tập tư tưởng Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05 và Kết luận số 01-KL/TW  trong hoạt động lập pháp. Kết quả này sẽ góp phần chứng minh tính đúng đắn và hiện thực hóa các tư tưởng, quan điểm chỉ đạo về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong Bài phát biểu quan trọng ngày 17/5/2021 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. 

Theo đó, cùng với việc tham gia nghiên cứu, xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045  nhằm xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, hiện đại, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận với chi phí tuân thủ thấp, có sức cạnh tranh quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh và bền vững; tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và hội nhập quốc tế. Trong đó, hoạt động lập pháp của Quốc hội trong thời gian tới cần tập trung vào một số lĩnh vực quan trọng như sau:

Thứ nhất, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chủ quyền, biên giới quốc gia: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Tiếp tục luật hóa để làm cơ sở pháp lý thực hiện thành công các chiến lược như: Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng... Trong đó, chú ý đến việc xây dựng cơ sở pháp lý để bảo vệ Chủ quyền quốc gia về vùng trời như khẳng định trang trọng ngay tại Điều 1 của Hiến pháp 2013. Nghiên cứu để hoàn thiện cơ sở pháp lý khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân: Tập trung xây dựng cơ sở pháp lý để xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền; bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước. Thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Nhà nước tập trung vào quản lý vĩ mô, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Hoàn thiện hệ thống pháp luật để đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Thể chế hóa bằng luật để xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học hỏi, nói đi đôi với làm.

Trong đó, cần tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, tăng tính dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao. Hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.Thiết lập đồng bộ, gắn kết cơ chế giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân với kiểm tra, giám sát của Đảng, với giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân. Bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách, giảm số lượng đại biểu kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp.

Thứ ba, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân: hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Xây dựng cơ chế pháp lý để hiện thực hóa nội dung mới được bổ sung tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng là " dân giám sát, dân thụ hưởng" để thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát của nhân dân. Tạo cơ sở pháp lý để làm cho người dân trao quyền mà không mất quyền, các cơ quan nhà nước và cá nhân được trao quyền mà không tiếm quyền của dân; đây là vấn đề quyết định nhất bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Phát huy mạnh mẽ và đặt yêu cầu lắng nghe nhân dân, phục vụ nhân dân là yêu cầu tối cao trong hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội nhằm hoàn thành trọng trách mà nhân dân giao. Hoạt động lập pháp phải hướng đến mục tiêu con người, tức là giải phóng mọi tiềm năng của dân, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát triển sức dân lại phải tiết kiệm sức dân. Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các luật cụ thể hóa quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013.

Thứ tư, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phát triển bền vững kinh tế-xã hội-môi trường: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ và những thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Xây dựng pháp luật để phát huy đổi mới sáng tạo, tận dụng tối đa lợi ích và giảm thiểu tối đa rủi ro, hướng đến việc giải quyết hiệu quả hàng loạt các vấn đề đặt ra trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.  Xây dựng các “sandbox” về mô hình đầu tư kinh doanh mới, trong đó, có mô hình như kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, du lịch thông minh, fintech.... Tiếp tục hoàn thiện thể chế về quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng và bố trí nguồn lực nhằm phát huy lợi thế vùng, đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt. Hoàn thiện pháp luật để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo đảm công khai, minh bạch và khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí. Đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách bảo đảm đồng bộ, minh bạch các yếu tố thị trường để có khả năng vốn hóa các nguồn lực tài nguyên, phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội với bảo vệ môi trường.

Thứ năm, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện nhiều hình thức hội nhập quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn. Nội luật hóa đầy đủ và phù hợp những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tích cực và có trách nhiệm trong việc tham gia các hoạt động xây dựng các điều ước quốc tế. Theo đó, cần chủ động chuyển từ việc tham gia các luật chơi định sẵn thành chủ thể thiết kế luật chơi trên trường quốc tế, từng bước đề xuất các điều ước quốc tế từ thực tiễn Việt Nam. Để làm được điều này phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa am hiểu sâu về điều kiện trong nước vừa có kiến thức sâu về luật pháp quốc tế, nhất là về thương mại, đầu tư, lao động quốc tế; có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế.

Thứ sáu, trong quy trình lập pháp: Tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp, mở rộng dân chủ trong xây dựng pháp luật để các quy định của luật có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, có căn cứ khoa học. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng và thẩm tra luật. Đổi mới mạnh mẽ về cách thức, phương thức lấy ý kiến của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, huy động sự tham vấn của các chuyên gia, nhà khoa học, đồng thời, đánh giá thực tiễn đầy đủ, lắng nghe ý kiến của nhân dân, của đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của dự luật để bảo đảm tính phản biện, khách quan. Nghiên cứu xây dựng cơ chế pháp luật để điều chỉnh hoạt động vận động chính sách trong xây dựng pháp luật bảo đảm khách quan, minh bạch, có kiểm soát, giám sát chặt chẽ. Đây là biện pháp cần thiết, hữu hiệu để mở rộng dân chủ trong hoạt động lập pháp, chống lợi ích nhóm trong hoạt động lập pháp.

Thứ bảy, trong tổ chức thi thành pháp luật: Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan ban hành pháp luật, cơ quan tổ chức thi hành pháp luật và cơ quan bảo vệ pháp luật. Tập trung nguồn lực và các điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật; cải cách thủ tục hành chính; kiện toàn tổ chức, tinh giảm hợp lý đầu mối, bỏ cấp trung gian trong thi hành pháp luật. Tăng cường và đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn, trợ giúp pháp lý để pháp luật được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Thường xuyên tiến hành giám sát, đánh giá, tổng kết thi hành pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản pháp luật, kịp thời phát hiện và khắc phục những điểm bất cập, thiếu sót, mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật.

Thứ tám, trong tuyên truyền, phổ biến, lan tỏa, phát huy tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp nói riêng, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói chung: Tiếp tục nâng cao nhận thức cho các Đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp; xác định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hoạt động lập pháp. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, hình thức học tập, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm gương, điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác trong xây dựng pháp luật. Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động lập pháp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và xây dựng pháp luật để giải quyết hiệu quả những vấn đề đang đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

Tóm lại, vận dụng, phát huy những thành tựu vô giá của tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp cùng với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hoạt động của Quốc hội, nâng cao vai trò của Quốc hội, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta là nền tảng, yêu cầu bắt buộc để hoàn thiện hệ thống pháp luật góp phần xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hệ thống pháp luật hoàn thiện là tiền đề để hiện thực hóa mô hình phát triển mà toàn Đảng và toàn dân ta mong muốn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định.  Đó là, phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn; phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai với một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân.

 

Cần loại bỏ những cán bộ “giã cào” (!)

Trước hết, tôi có mấy lời về hai chữ: “Giã cào”! Quê tôi thuộc một tỉnh vùng biển. Bà con ngư dân làm nghề biển thường sử dụng nhiều loại lưới để đánh bắt hải sản. Trong đó có một loại lưới vừa to, vừa cao, vừa dày, các mắt lưới được đan rất nhỏ khiến những con tôm, con tép, con cá nhỏ xíu, thậm chí cả đến những đàn cá lòng tong vừa mới nở cũng không thoát khỏi loại lưới này. Đó là loại lưới giã cào. Đã có nơi, chính quyền địa phương phải ban hành lệnh cấm bà con ngư dân sử dụng loại lưới giã cào, vì nếu không thì loại lưới này sẽ “tiêu diệt” sạch sành sanh các loài tôm, cá vừa mới nở, sẽ làm cho vùng biển đó kiệt quệ, tôm cá không kịp lớn và sẽ không có cơ hội sinh sôi nảy nở. Trong xã hội của chúng ta ngày nay, đại đa số cán bộ của Đảng và Nhà nước đều ra sức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, phấn đấu để thực hiện tốt những lời Bác Hồ đã dạy: “Cán bộ là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”, nên họ được nhân dân quý trọng, tin tưởng, mến phục. Nhưng thật đau lòng, vì hiện tại, vẫn còn không ít những cán bộ thoái hóa, biến chất, vi phạm phẩm chất đạo đức cách mạng. Họ dùng tiền để mua chức tước, rồi dùng chức tước để vơ vét tiền. Họ lợi dụng chức quyền để tìm cách tham ô tài sản của Nhà nước, nhận hối lộ để làm giàu cá nhân. Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi mánh lới xảo trá, họ vơ vét không nương tay trong mọi cơ hội, mọi trường hợp của mọi đơn vị, địa phương và mọi người, miễn sao trong két sắt nhà họ luôn đầy ắp tiền, vàng là được. Người có cấp chức to thì “ăn” ở các dự án (dự án có thật và cả dự án “ma” - nghĩa là họ tự vẽ ra dự án để lừa bịp mọi người, không cần biết dự án đó có khả thi hay không - và thực tế đã có rất nhiều dự án bị phá sản). Họ “ăn” trong các công trình xây dựng, như nhà cửa, cầu cống, đường sá, thủy lợi, kể cả việc bán đất, bán nhà, họ đều có cách để “ăn”. Họ “ăn” trong việc mua đi, bán lại các trang thiết bị công cộng, và họ “ăn” trong các hợp đồng bán đất, bán ruộng, bán tài nguyên khoáng sản ở địa phương. Và thậm chí họ còn “ăn” trong việc xét khen thưởng huân, huy chương các loại... Những đơn vị đang có vấn đề về tham nhũng, và làm ăn thua lỗ, đang lừa dối khách hàng, nhưng lại muốn có huân, huy chương để lừa bịp dư luận, họ sẵn sàng bỏ ra tiền tỉ để kiếm các danh hiệu ảo. Người có cấp chức trung thì “ăn” khi xét duyệt để nhận người vào cơ quan, rồi xét duyệt vào biên chế chính thức, xét duyệt lên lương...Việc điều động cán bộ từ nơi này đi nơi khác, nhất là cán bộ, nhân viên từ vùng sâu, vùng xa về đồng bằng, thành phố... Tất cả đều có giá cụ thể. Từ một việc nhỏ như xét tuyển một nhân viên vào các cửa hàng, công ty, xí nghiệp làm tạp vụ, đến việc xét tuyển một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học mới ra trường, xin vào cơ quan nhà nước đều có giá từ vài ba chục triệu đến hàng trăm triệu đồng cho một trường hợp cụ thể. Đó là chưa nói đến việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, cất nhắc cán bộ hoặc giới thiệu nhân sự vào các cơ quan dân cử, ở nơi này, nơi khác đã có hiện tượng không trong sáng của một số cán bộ chỉ nghĩ đến việc đòi hỏi thủ tục “Đầu tiên” (nói lái là “Tiền đâu”?). Những cán bộ như vậy nhân dân thường gọi là những cán bộ “Giã cào” !

Bộ Nội vụ chưa đề nghị sáp nhập bất cứ một đơn vị hành chính cấp tỉnh nào

Xung quanh việc sắp xếp đơn vị hành chính trong giai đoạn sắp tới, sáng 19/7, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng một lần nữa khẳng định: “Bộ Nội vụ chưa đề nghị lên Chính phủ và các cấp có thẩm quyền xem xét, sáp nhập bất cứ một đơn vị hành chính cấp tỉnh nào. Vì đây là một vấn đề quan trọng, cần được nghiên cứu thấu đáo, thận trọng, kỹ lưỡng trên cơ sở lý luận và thực tiễn an ninh quốc phòng, văn hoá phong tục, quy hoạch…”

Thông tin tại buổi họp báo sáng 19/7, Thứ trưởng Nguyễn Duy Thăng cho hay, Bộ Nội vụ đang tập trung nghiên cứu, đề xuất với cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn của đơn vị hành chính trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 tổng kết thực tiễn việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạnh 2019-2021 theo Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và cần phải lấy ý kiến rộng rãi qua nhiều vòng. 

Đây là nhiệm vụ quan trọng cần ưu tiên thực hiện nhằm tham mưu cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét, sửa đổi một số điều quy định về tiêu chuẩn và phân loại đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh. Tuy nhiên, dự thảo sửa đổi, bổ sung này mới chỉ là bước đầu, còn một số nội dung tiếp tục phải thực hiện ngoài 2 tiêu chí diện tích tự nhiên và quy mô dân số còn một số vấn đề như vị trí địa chính trị, lịch sử, văn hoá, truyền thông và lối sống của cộng đồng dân cư, yếu tố về an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền, quy hoach vùng và quốc gia… 

Do vậy, vấn đề này rất cần phải lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ban ngành Trung ương và địa phương cũng như ý kiến của người dân để tổng hợp đầy đủ thông tin làm cơ sở hoàn thiện dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 1211/2016/UBTVQH13 để sớm báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Trên cơ sở tiêu chuẩn của đơn vị hành chính được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XV thông qua, Bộ Nội vụ tiếp tục đề xuất đẩy mạnh việc thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoan 2022-2026 kết hợp với tiếp tục sắp xếp thôn, tổ dân phố theo chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chình phủ. 

Như vậy, việc đề xuất thí điểm mới chỉ ở bước đầu của việc nghiên cứu, xem xét, hoàn thiện, bổ dung cơ sở pháp lý nhất là sửa đổi Nghị qyết 1211/2016/UBTVQH13 vì đây là vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, cần được chuẩn bi thận trọng, kỹ lưỡng, công phu và phải đánh giá tác động nhiều chiều nhằm bảo đảm tính khả thi, phù hợp với quy hoach tổng thể quốc gia và điều kiện thực tiễn của từng địa phương bảo đảm phù hợp với diện tích tự nhiên, quy mô dân số, vị trí địa chính trị, lịch sử, văn hoá, truyền thông và lối sống của cộng đồng dân cư, yếu tố về an ninh quốc phòng…trên tinh thần phải bảo đảm mục tiêu ổn định và phát triển.

Mai Năm Mới (ST) 

Ưu tiên số 1 của Hà Nội là phòng, chống dịch COVID-19

Sáng 19/7, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì buổi làm việc với TP Hà Nội về công tác phòng chống dịch COVID-19 và những nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh trong những tháng cuối năm 2021.

Kết luận cuộc làm việc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá, từ đầu năm 2021 đến nay, mặc dù trong điều kiện rất khó khăn do tác động của dịch COVD-19, nhưng Hà Nội đã thực hiện tốt nhiệm vụ trên các lĩnh vực, thành tích rất cơ bản, xứng đáng là Thủ đô, trái tim của cả nước, trung tâm đầu não về chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước. 

Về phương hướng, nhiệm vụ của Thủ đô trong thời gian sắp tới, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, Hà Nội cần xác định nhiệm vụ ưu tiên số một là phòng, chống dịch COVID-19, coi bảo vệ sức khỏe và an toàn tính mạng người dân là trên hết, trước hết; phát huy tối đa ý chí tự lực, tự cường, “chống dịch như chống giặc”; quyết tâm bảo vệ Thủ đô không để dịch diễn biến xấu. 

Các biện pháp đã ban hành, chỉ đạo thực hiện phải được tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ, kết hợp với tuyên truyền sâu rộng, tạo đoàn kết, đồng thuận, niềm tin trong nhân dân để đồng tâm, hiệp lực đẩy lùi dịch bệnh. Nơi nào có ca nhiễm mới phải tập trung tấn công, phong tỏa, cách ly, dập dịch; nơi nào an toàn phải duy trì chặt chẽ các biện pháp phòng thủ gắn với tổ chức sản xuất, kinh doanh. “Hà Nội phải có kịch bản cao hơn về phòng, chống COVID-19 để chủ động trước; bảo vệ bằng được các khu công nghiệp trên địa bàn; tập trung cứu chữa bệnh nhân nặng, hạn chế tối đa ca tử vong; bảo đảm các dòng cung ứng lương thực, thực phẩm”, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu. 

Thủ tướng cũng yêu cầu quân đội phải vào cuộc để bảo đảm lưu thông hàng hóa, nhu cầu tối thiểu của người dân. Công an phải kiểm soát chặt các điểm cách ly, tuân thủ nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch của người dân. Ngoài coi trọng phát triển văn hóa, Hà Nội phải làm thật tốt nhiệm vụ huy động nguồn lực để phát triển, gồm cả nội lực và ngoại lực, nguồn lực tinh thần và vật chất; tiếp tục quan tâm chăm lo, bảo đảm an sinh xã hội. 

Cùng với đó là đẩy mạnh phân cấp, giao quyền cá thể hóa trách nhiệm; tạo điều kiện cho từng cơ quan, đơn vị chủ động, sáng tạo thực hiện nhiệm vụ; kết hợp với tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm mọi nhiệm vụ, giải pháp được tổ chức thực hiện một cách hiệu quả cao nhất.

Đồng ý với các kiến nghị của TP Hà Nội, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, nguyên tắc là Chính phủ giao cho các bộ cùng TP bàn thêm, trên cơ sở đó làm rõ nội dung gì thuộc thẩm quyền của Chính phủ thì Chính phủ phải giải quyết ngay. Nội dung nào thuộc thẩm quyền của các bộ thì các bộ cũng phải giải quyết ngay. Nội dung nào vượt thẩm quyền thì cùng báo cáo một cách thuyết phục với Trung ương, Quốc hội. Thủ tướng Phạm Minh Chính tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền và sự đồng lòng, quyết tâm của cán bộ, nhân dân, Hà Nội sẽ tiếp tục thực hiện tốt “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa phát triển kinh tế - xã hội và các nhiệm vụ chính trị quan trọng khác, góp phần vào thành tích chung của cả nước. 

Mai Năm Mới (ST)

 NHỮNG GÌ VIỆT TÂN NÓI CÓ PHẢI LÀ SỰ THẬT?

Dịch Covid – 19 với biến chủng Delta đã trở thành làn sóng dịch thứ 4 với nhiều biến động trong Việt Nam. Số lượng ca nhiễm tăng cao trong những ngày gần đây đã làm nhiều nơi phải áp dụng chỉ thị cao nhất – chỉ thị 16 của Chính phủ.
Trong những lần Việt Nam gồng mình chống dịch, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự vào cuộc quyết liệt của Đảng và Nhà nước, của toàn dân. Bởi hơn ai hết, chúng ta đang sống trong dịch, chúng ta hiểu rõ những khó khăn, thách thức mà dịch đem lại. TPHCM đã phải dừng việc hoạt động thực hiện mục tiêu kép để bảo vệ tính mạng của người dân, đem sức khỏe của người dân đặt lên trên hết.
Ấy vậy mà có những người sống ở phương trời xa xôi, cách xa vạn dặm với Tổ quốc, dịch như thế nào, Việt Nam đã cố gắng như thế nào đều không hề hay biết, không nắm rõ nhưng lại có thể phát biểu những câu xanh rờn. Chúng đã nghĩ ra tựa đề: “COVID-19: CHỐNG DỊCH KIỂU VIỆT NAM - CHỈ THƯƠNG CHO NGƯỜI DÂN”.
Chúng viết: “Điều đáng nói nhất là nhà nước Việt Nam hoàn toàn không quan tâm gì đến người dân sinh sống khổ sở trong thời đại dịch ra sao, chỉ nghĩ làm sao moi tiền dân bằng mọi cách, trong khi tay kia vẫn ngửa ra xin viện trợ, xin vaccine của thế giới!”.
Việt Nam không quan tâm đến dân khi liên tục cho ra những chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp? Lãnh đạo không thương dân khi chính cán bộ đi từng ngõ, gõ từng nhau trao tiền cho người ở TPHCM? Và còn biết bao nhiêu câu chuyện trong mùa dịch mà chúng không hề hay biết.
Kền kền tập kêu thật đúng là đáng sợ. Chúng nói thể hiện đầu óc trống rỗng. Chúng từ bỏ Tổ quốc khi Tổ quốc khó khăn và ở phương trời Tây nào đó làm những chuyện vô liêm sỉ. Tôi đang tự hỏi, chúng lấy tư cách gì để xưng là dân Việt?

 CHI VIỆN SỨC NGƯỜI CHO MIỀN NAM, HÀNH ĐỘNG VÌ NGHĨA ĐỒNG BÀO.

Lãnh đạo các địa phương khi tiễn đoàn y bác sĩ, lực lượng tình nguyện chi viện cho miền Nam chống dịch đã nhắn gửi thông điệp "đây là mệnh lệnh từ trái tim", hãy "hành động vì nghĩa đồng bào".
Trước diễn biến dịch bệnh ở TP.HCM, mới đây Sở Y tế TP cho biết, đã có gần 4.500 y bác sĩ, lực lượng tình nguyện từ nhiều tỉnh, thành, các đơn vị y tế thuộc sở, bộ và cả các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành vào hỗ trợ chống dịch.
Trong đó, có khoảng 535 bác sĩ, 1.222 điều dưỡng, 53 kỹ thuật viên, 8 giảng viên và 2.655 sinh viên.
Hành động vì nghĩa đồng bào
Trong lễ tiễn 127 y bác sĩ, tình nguyện viên vào TP.HCM chống dịch, ông Lê Trường Lưu, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế cho biết, tỉnh này đã có văn bản hỏa tốc gửi UBND TP.HCM về việc hỗ trợ trong công tác phòng, chống dịch.
Ông nói: “Hơn lúc nào hết, sự đoàn kết, chung tay, chung sức của các thành viên trong đoàn công tác để tham gia hỗ trợ, giúp TP.HCM và các tỉnh phía Nam vượt qua giai đoạn khó khăn lúc này có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết".
"Đây cũng là mệnh lệnh từ trái tim của những người chiến sĩ áo trắng trên tuyến đầu chống dịch, hành động vì nghĩa đồng bào, vì lợi ích, sức khỏe, tính mạng của cộng đồng”, ông Lưu nhấn mạnh.
Trong ngày 15/7, tỉnh Thái Bình đã tiễn 60 cán bộ y bác sĩ, điều dưỡng cùng 350 sinh viên ngành y vào TP.HCM chống dịch.
PGS.TS Nguyễn Quốc Tiến - Chủ tịch hội đồng Trường ĐH Y dược Thái Bình cho biết, khi phát lời kêu gọi sinh viên đăng ký tình nguyện tham gia hỗ trợ TP.HCM chống dịch, hàng nghìn sinh viên và cán bộ, giảng viên đã viết đơn, với mong muốn được tiếp sức.
Cùng với Thái Bình, nhiều tỉnh, thành khác cũng đã cử đoàn vào TP.HCM. Thành phố Hải Phòng cử 14 bác sỹ, 100 điều dưỡng thuộc 25 cơ sở y tế.
Sở Y tế tỉnh Nam Định cũng tổ chức tiễn đoàn 42 cán bộ gồm 7 bác sĩ, 30 điều dưỡng viên và 5 kỹ thuật viên lên đường vào TP.HCM. Phó Giám đốc Sở Y tế Khương Thành Vinh ghi nhận, biểu dương tinh thần tình nguyện, xung phong ra tuyến đầu chung tay cùng TP.HCM chống dịch.
Tỉnh Phú Thọ có 52 y bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên đã vào đến TP.HCM. Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Đại Dũng, đây là lần thứ 3 (từ ngày 30/4 đến nay) Phú Thọ cử đoàn tham gia hỗ trợ phòng, chống dịch tại các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Ông Dũng cũng yêu cầu Sở Y tế cử cán bộ trực tiếp làm đầu mối liên hệ với đơn vị TP.HCM để giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên trong đoàn.
Trong số các tỉnh có lực lượng chi viện cho miền Nam, Bắc Ninh là địa phương vừa mới trải qua những ngày tháng chống chọi với dịch bệnh, nhưng nay cũng cử 25 cán bộ y bác sĩ, điều dưỡng vào hỗ trợ TP.HCM.
Ngoài ra, nhiều tỉnh, thành khác cũng cử đoàn vào chi viện như Quảng Ninh (70 người), Thanh Hóa (58), Nghệ An (60), Hải Dương (41), Yên Bái (44)…
Ra trận cùng lực lượng tinh nhuệ
Ngày 13/7, trong lễ xuất quân đưa đoàn cán bộ y tế của tỉnh Thái Nguyên tình nguyện chi viện TP.HCM chống dịch, hình ảnh một cháu bé ngậm ngùi tiễn mẹ lên đường, khiến nhiều người cảm động.
Phát biểu tiễn đoàn, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên Nguyễn Thanh Hải cho biết, đoàn tình nguyện do Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên tổ chức gồm 79 cán bộ y tế do bác sĩ Lê Hùng Vương, Trưởng Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc dẫn đầu.
"Đây là nghĩa cử cao đẹp, không chỉ thể hiện phẩm chất tốt đẹp, sẻ chia của đội ngũ cán bộ ngành Y tế đang công tác ở tỉnh Thái Nguyên mà còn là tình cảm, trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc của tỉnh chung sức, đồng lòng cùng cả nước giúp đỡ TP.HCM", Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên gửi gắm.
Bà Hải cũng lưu ý, cán bộ y tế trong đoàn không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Đặc biệt, cần vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái... cùng cả nước sớm đẩy lùi đại dịch Covid-19.
Đoàn chi viện của tỉnh Thái Nguyên được lựa chọn từ các khoa: Hồi sức tích cực - Chống độc; Cấp cứu; Truyền nhiễm và Hô hấp. Các cán bộ đều có chuyên môn cao, có khả năng làm việc độc lập, sẽ hỗ trợ TP.HCM truy vết, khoanh vùng, lấy mẫu xét nghiệm, điều trị bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2...
Trong 79 cán bộ này, có 20 tiến sĩ, bác sĩ có thể thực hiện kỹ thuật hỗ trợ phổi nhân tạo (ECMO). Ngoài ra còn có 57 điều dưỡng và 2 kỹ thuật viên có trình độ, năng lực và nhiệt huyết.
Cũng với tinh thần chi viện sức người cho miền Nam ruột thịt, ngoài lãnh đạo, y bác sĩ giỏi, có chuyên môn và kinh nghiệm điều trị bệnh nhân Covid-19 nặng, đoàn Thừa Thiên - Huế còn có 72 sinh viên Trường ĐH Y dược Huế, tất cả đều là những trường hợp làm đơn tình nguyện lên đường.
Theo Tiến sỹ, bác sĩ Phan Hải Thanh, Phó Giám đốc Bệnh viện Quốc tế (Bệnh viện Trung ương Huế), điểm đến làm việc của đoàn là các khu hồi sức và khu điều trị bệnh nặng. Đây là những nơi đang thu dung các bệnh nhân vừa mắc Covid-19, đồng thời cũng là người mắc các bệnh lý nền cần phải điều trị đặc biệt.
Tương tự, ông Trần Anh Cường, Giám đốc Sở Y tế Hải Phòng cũng cho biết, với 114 bác sĩ, điều dưỡng tình nguyện đợt này đều thuộc các chuyên ngành nội, hồi sức, truyền nhiễm, xét nghiệm, sinh học phân tử. Đoàn tham gia điều trị cho các ca dương tính SARS-CoV-2, bệnh nhân hồi sức và xét nghiệm khẳng định.
Ngoài lực lượng đã lên đường vào TP.HCM, hiện vẫn còn hàng nghìn y bác sĩ đăng ký tiếp tục chi viện cho miền Nam, trong đó có khoảng 250 người thuộc Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam và hơn 230 sinh viên năm 4-5-6 với nhiều trường hợp là nòng cốt từ đội tình nguyện đi chống dịch ở Bắc Giang trước đây.
Sở Y tế TP.HCM bày tỏ, dịch đang diễn biến phức tạp, sự chi viện của y bác sĩ, sinh viên trên cả nước là điều rất đáng quý trong giai đoạn này.
Trước đó, kết luận tại cuộc họp trực tuyến ngày 8/7, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh tinh thần “tất cả vì TP.HCM” và yêu cầu dành tất cả những gì tốt nhất cho TP.HCM phòng chống dịch Covid-19./.

Quốc hội dự kiến phê chuẩn 4 Phó thủ tướng

Số lượng Phó thủ tướng đương nhiệm là 5, tuy nhiên Quốc hội khóa mới dự kiến phê chuẩn 4 người ở chức danh này, theo Tổng thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường. Tại cuộc họp báo chiều 17/7, ông Bùi Văn Cường nói kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV, khai mạc ngày 20 tới, các đại biểu sẽ bầu hoặc phê chuẩn 50 chức danh lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước; gồm các khối Chủ tịch nước, Chính phủ, Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm toán Nhà nước. "Riêng khối Chính phủ, hiện nay có 5 Phó thủ tướng, kỳ tới kiện toàn 4 vị, như vậy tổng số nhân sự lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước giảm một so với trước đây (từ 51 xuống 50). Cơ bản các Phó thủ tướng đương nhiệm đều được giới thiệu tái cử", ông Cường nói. Giải thích việc kỳ họp Quốc hội tới tổ chức trực tiếp trong điều kiện dịch bệnh, ông Cường cho biết nội dung quan trọng của kỳ họp này là kiện toàn nhân sự, mà công tác nhân sự phải bỏ phiếu kín. Để đảm bảo an toàn, đại biểu đến từ địa phương có dịch sẽ được đưa đón riêng, ở nhà khách riêng và ngồi họp riêng một khu vực trong phòng họp Diên Hồng. Các đại biểu được tiêm vaccine phòng Covidd-19. Theo ông Cường, với một số địa phương tình hình dịch bệnh phức tạp, cán bộ chủ chốt của tỉnh (là đại biểu Quốc hội) phải chỉ đạo chống dịch nên đã xin nghỉ họp. Một số người tiếp xúc với F0, trở thành F1, Quốc hội cũng cho phép không tham gia kỳ họp. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là 5 năm và nhiệm kỳ của Chủ tịch nước, Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước đều theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Về mặt tổ chức, khi bắt đầu một nhiệm kỳ mới, các đại biểu Quốc hội sẽ bầu hoặc phê chuẩn chức danh lãnh đạo của các cơ quan này. Chính phủ hiện có 5 Phó thủ tướng, gồm các ông Trương Hòa Bình, Phạm Bình Minh, Vũ Đức Đam, Lê Văn Thành, Lê Minh Khái. Trong đó, ông Trương Hòa Bình không tham gia Ban chấp hành Trung ương khóa XIII. Với dự kiến nêu trên, Chính phủ nhiệm kỳ mới sẽ gồm 27 chức danh là Thủ tướng, 4 Phó Thủ tướng, 18 Bộ trưởng và 4 thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.

 

LƯU CÔNG ĐỊCH - KẺ TỘI ĐỒ, NGỰA QUEN ĐƯỜNG CŨ


 


Anh Lê Công Định…..Vẫn là anh Định đây mà, anh đang há cái mồm vừa đc cạo nhẵn thín râu ra để gào lên tính xỏ xiên câu nói của bác Dũng – Bí thư Thành uỷ Hà Nội khi bác nói một cách hình tượng về công tác phòng, chống dịch. Có gì là lạ khi người đứng đầu đưa ra cách diễn giải cho dễ nghe, dễ hiểu rồi cuối cùng vẫn chỉ là hướng đến cái đích phòng, chống dịch cho tốt vì sự yên bình của Thủ đô.

Ấy vậy mà anh Định đây lại tính bẻ câu, bẻ chữ theo kiểu đâm bị thóc chọc bị gạo….!

Xin lỗi nhé…với 1 kẻ ngựa quen đường cũ như "quý anh" thì chưa đủ trình đâu. Cách đây 8 năm, mới quy án xong, tưởng anh ngoan ngoãn, tu tâm, tu trí vậy mà mới đc mấy bữa lại thấy bắt đầu “ngoe nguẩy” mấy sợ râu mọc quanh mồm kèm theo nhời nhẽ đậm xịt chất “rận chủ”. Nay Thủ đô đang tập trung phòng bị cao độ trước bão dịch thì lại thấy anh há mồm tính nói xóc trong khi chưa thấy quý anh góp công góp sức đc gì..! Tôi thấy anh có mỗi cái mồm mà khi thì “xuôi” khi thì “ngược”.

Mồm quý anh Định đây quả đúng là "mồm lông" "thần thánh"…!

NMP.

 

Xem xét việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh từ năm 2026

Các tỉnh dân số dưới 700.000, diện tích dưới 2.500 km2, riêng tỉnh miền núi dưới 450.000 người và dưới 4.000 km2, có thể được xem xét sáp nhập từ năm 2026. Dự thảo tổng kết thực hiện Nghị quyết 1211 về tiêu chuẩn đơn vị hành chính, phân loại đơn vị hành chính và Nghị quyết 653 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, xã giai đoạn 2019-2021, đang được Bộ Nội vụ công bố xin ý kiến nhân dân. Về thí điểm sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, ngày 17/7, người phát ngôn Bộ Nội vụ Vũ Đăng Minh cho biết, Bộ đề xuất sửa đổi Nghị quyết theo hướng, mỗi tỉnh vùng cao phải đảm bảo tiêu chuẩn 900.000 người và diện tích tự nhiên từ 8.000 km2 trở lên. Trường hợp tỉnh có diện tích tự nhiên rộng hơn 150% trở lên so với mức tiêu chuẩn chung (hơn 12.000 km2) thì quy mô dân số được giảm 25% (trên 700.000 người). Các tỉnh không phải miền núi cần đạt quy mô dân số từ 1,4 triệu và diện tích tự nhiên từ 5.000 km2 trở lên. Thành phố thuộc thành phố (như thành phố Thủ Đức thuộc TP HCM) phải có quy mô từ 250.000 người và diện tích tự nhiên từ 150 km2 trở lên... Nhằm tạo điều kiện cho các địa phương phát triển kinh tế - xã hội, sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, Bộ Nội vụ đề xuất sáp nhập điểm một số đơn vị hành chính cấp tỉnh có diện tích tự nhiên nhỏ, mật độ dân số đông, có khó khăn về quỹ đất dành cho không gian phát triển hoặc theo yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. "Những tỉnh chưa đạt 50% một trong hai tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên hoặc quy mô dân số, và tiêu chuẩn còn lại chưa đạt 100% sẽ thuộc diện xem xét sáp nhập", ông Minh nói. Tỉnh nào làm điểm sẽ trình các cấp có thẩm quyền xem xét cụ thể từng trường hợp. Theo Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ, Bộ được Chính phủ giao tổng kết thực hiện hai Nghị quyết 1211 và 653; đề xuất tổng thể việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, xã và tiến tới thí điểm đơn vị hành chính cấp tỉnh. "Không phải nói sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh là làm ngay trong năm 2022 mà cần thời gian để xây dựng đề án", ông Minh nói. Lộ trình cụ thể được chia thành nhiều giai đoạn. Đầu tiên, trong năm 2021, Bộ sẽ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội việc sửa đổi Nghị quyết trong tháng 8. Sang tháng 9, căn cứ các tiêu chuẩn đơn vị hành chính mới, Bộ xây dựng đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, xã và xây dựng kế hoạch lập đề án sáp nhập một số tỉnh không đạt tiêu chuẩn diện tích, dân số. Dự kiến quý I/2022 ban hành kế hoạch; từ 2022 đến 2025, Bộ xây dựng đề án. "Khi xây dựng đề án, chúng tôi phải tổ chức hội nghị, hội thảo, khảo sát, điều tra, đánh giá tác động nhiều chiều... Quá trình này sẽ được làm thận trọng", ông Minh nói, cho biết sau khi có đề án, Bộ sẽ báo cáo các cấp có thẩm quyền trước khi hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua. Việc sáp nhập quy mô cấp tỉnh tác động đến nhiều mặt. Ngoài tiêu chí về diện tích, dân số, cơ quan chức năng còn phải tính tới tính chất đô thị, văn hóa, truyền thống, quốc phòng, an ninh... Việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh sẽ được thực hiện từ năm 2026. Sau thời gian làm điểm, dự kiến đến năm 2030, cả nước sẽ hoàn thành việc sắp xếp đơn vị hành chính các cấp phù hợp với tiêu chuẩn đã được sửa đổi, bổ sung và phù hợp với quy hoạch tổng thể đơn vị hành chính của cả nước. "Kinh nghiệm sáp nhập Hà Nội với Hà Tây phải qua hai nhiệm kỳ mới hoàn tất. Trong đó nhiệm kỳ thứ nhất xây dựng đề án, trình các cấp có thẩm quyền; nhiệm kỳ thứ hai Quốc hội mới thông qua", Chánh văn phòng Bộ Nội vụ nói thêm.

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC CHIÊU TRÒ GHÉP ẢNH CÁN BỘ QUÂN ĐỘI

ĐỂ TUNG TIN ĐỒN NHẢM, XUYÊN TẠC VỤ VIỆC

QUÂN NHÂN TRẦN ĐỨC ĐÔ, NHẰM HẠ THẤP UY TÍN QUÂN ĐỘI

Mặc dù tính đến thời điểm này các cơ quan chức năng đã có kết luận rất rõ ràng về “nguyên nhân chết của quân nhân Trần Đức Đô là do tự treo cổ” và “không có sự việc phạm tội xảy ra”.

Vậy nhưng với  những luận điệu cực kỳ phản động cùng với chiêu trò lấy ảnh cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội để ghép vào những clip mang đậm tính xuyên tạc, bịa đặt sau đó tán phát trên mạng Intenet hòng tung tin đồn nhảm, ngụy tạo hình ảnh để vu cáo, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân...

Cần phải nói rõ rằng hành vi lợi dụng các diễn đàn, mạng xã hội để tung ra những thông tin, hình ảnh nhằm mục đích bôi nhọ danh dự, uy tín Quân đội nhân dân là hành vi vi phạm pháp luật. Đây là một loại tội phạm không gian ảo hết sức nguy hiểm, vi phạm pháp luật Việt Nam. Mục đích của chiêu trò này không gì khác là nhằm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Quân đội và Công an; chia rẽ khối đại đoàn kết, tạo sự hoài nghi, ngờ vực trong xã hội... Chính vì vậy, cần phải cảnh giác, tẩy chay những thông tin độc hại, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin ảo. Nếu ai đó nhẹ dạ tin vào những tài liệu, hình ảnh ngụy tạo ấy là đã mắc mưu kẻ xấu, trúng kế của các thế lực thù địch.

Để vô hiệu hóa chiêu trò này, mỗi chúng ta cần nâng cao khả năng đề kháng, không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác, cần hết sức tỉnh táo để nhận rõ tính ngụy tạo, xuyên tạc của những hình ảnh đó... Cách tốt nhất để giúp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh táo, “miễn dịch” và nhận diện rõ sự thâm hiểm đằng sau những chiêu trò ấy là phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, trang bị cho mọi người những kiến thức cần thiết. Nhận diện rõ, có kiến thức cũng là cách giúp chúng ta luôn chủ động, nhạy bén, tích cực tham gia đấu tranh, vạch trần tính chất phản khoa học, vô căn cứ trong những âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm, ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch.

NMP.

Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2021

BỘ Y TẾ SẴN SÀNG CHỐNG DỊCH VỚI KỊCH BẢN CĂNG THẲNG NHẤT

 


Sáng 18/7, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch bệnh COVID-19, chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo về triển khai các biện pháp phòng, chống dịch.

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, trước diễn biến phức tạp của dịch, Bộ Y tế đã lên kế hoạch và chuẩn bị cho kịch bản chống dịch có hàng nghìn ca mắc mỗi ngày.

Ông Long cho biết, đợt dịch lần này, Việt Nam sử dụng sinh phẩm chẩn đoán ở mức cao hơn nhiều, tăng thêm 10 triệu test, so với đợt dịch trước là 2 triệu test. Với kinh nghiệm chống dịch tại Bắc Giang, Bắc Ninh vừa qua, lực lượng y tế có thể thực hiện gộp 3-5 với test nhanh cho kết quả tương đương khi làm gộp test PCR.

Để đảm bảo trang thiết bị y tế, vật tư tiêu hao để chống dịch, Bộ Y tế đã lên phương án đàm phán trực tiếp để mua test từ các nhà sản xuất nước ngoài và thúc đẩy sản xuất trong nước. Đồng thời, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính… đàm phán mua máy móc phục vụ điều trị và hồi sức cho bệnh nhân. St