Thứ Ba, 20 tháng 7, 2021

“Xả STRESS”

Trong cuộc sống hiện nay, những áp lực về công việc, về mưu sinh, về môi trường sống, gia đình, địa vị xã hội, mục đích tiến thân và vô số những mưu cầu lợi ích cá nhân khác đã khiến không ít người rơi vào tình trạng mệt mỏi về thể xác, căng thẳng về tinh thần mà người ta thường gọi là bị stress. Stress đã thành một căn bệnh của xã hội hiện đại và tùy từng loại stress mà nó tác động, ảnh hưởng nhiều ít đến cộng đồng, xã hội, gia đình. Có nhiều cách khác nhau để chữa trị stress, nặng thì vào bệnh viện nghỉ dưỡng kết hợp điều trị, nhẹ thì tự điều trị, thậm chí chỉ cần đi xả stress một chút là có thể lấy lại được sự cân bằng, thư thái. Thế nhưng hiện nay, trong xã hội chúng ta có một loại stress đang có xu hướng phát triển trong cán bộ, đảng viên mà dường như chưa có liệu pháp chữa trị hiệu quả. Đó là stress mang tính chính trị. Stress mang tính chính trị phổ biến trong một số cán bộ, đảng viên, thậm chí cả cán bộ trung, cao cấp, có trình độ lý luận chính trị, được đào tạo bài bản, rèn luyện qua thực tiễn, công tác, hoạt động trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Stress mang tính chính trị thường khó “điều trị” hơn các loại stress khác. Do vậy, những người bị stress mang tính chính trị thường tự xả stress bằng nhiều cách khác nhau, qua một số biểu hiện chính là: rất quan tâm, bàn luận đến thông tin liên quan tới các lĩnh vực quan điểm chính trị, kể cả quốc kế, dân sinh hay chính trị “ngoài luồng”; tranh thủ các diễn đàn, phương tiện thông tin để phát biểu ý kiến, một số người có “tâm trạng” hoặc bị thiệt thòi, oan ức, bị đối xử không theo ý muốn cá nhân của mình đâm ra hằn học, cay cú; trong cuộc họp thì không thể hiện chính kiến, nhưng ngoài cuộc họp thì phát biểu rất “hăng”, có khi thái quá; lúc đương chức thì “nói xuôi”; trước mặt lãnh đạo thì im lặng hoặc dạ dạ vâng vâng, sau lưng lãnh đạo thì “lão” nọ “mụ” kia; trong hội nghị thì giơ tay biểu quyết đồng ý nhưng ngoài hội nghị thì không tán thành và cho rằng nhẽ ra phải thế này, nhẽ ra phải thế khác v.v.. Cách xả stress mang tính chính trị như vậy nhiều khi lợi bất cập hại vì ảnh hưởng không tốt đến lòng tin của quần chúng, là chỗ để những kẻ xấu a dua lợi dụng; vô hình trung khiến quần chúng nghĩ rằng: hóa ra ông (bà) ấy, trên diễn đàn chính thống toàn tự dối mình; ông (bà) ấy là cán bộ cấp nọ cấp kia mà còn nói thế thì quần chúng biết tin vào ai; ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên để ở đâu mà ông (bà) ấy lại “xả” lung tung ra như vậy...? Để xảy ra tình trạng stress mang tính chính trị hiện nay có nhiều nguyên nhân, trong đó có lý do lâu nay chúng ta chưa tạo lập được môi trường dân chủ đầy đủ và thật sự cởi mở để những người có ý kiến, quan điểm, giải pháp khác liên quan đến chính trị từ vĩ mô đến trung và vi mô trao đổi, trình bày, tranh luận; công tác tư tưởng cũng chưa thật sự thuyết phục, chưa đi sâu vào lòng người; cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu chưa sâu sát động viên, quan tâm đến tâm tư, tình cảm của từng đối tượng cán bộ, đảng viên, nhất là những người có “tâm trạng”... Nhưng “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, những người hay xả stress lung tung cũng cần tự nhìn lại mình: đâu phải cứ xả ra như vậy mới chứng tỏ mình là người có tính tích cực, có nhãn quan chính trị trong đóng góp xây dựng. Xả stress cũng phải có bản lĩnh, nếu không sẽ làm ô nhiễm môi trường chính trị của chúng ta./.

Ưu tiên tối đa vaccine cho TP Hồ Chí Minh



Chiều 20/7, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng đoàn công tác của Chính phủ có buổi làm việc với TP Hồ Chí Minh về công tác phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn thành phố và kế hoạch tiêm vaccine phòng Covid-19 đợt 5. Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh tham dự cuộc họp.

Những kẻ âm mưu cách mạng đường phố sẽ thất bại trước Cuba hiên ngang



Ngày 11/7/2021, do sự kích động, xúi giục của các thế lực thù địch, ở Cu Ba đã xảy ra vụ việc phức tạp: nhóm người quá khích gây rối làm mất trật tự, có hành vi phản kháng và vu cáo  Đảng, nhà nước Cu Ba “chậm trễ trong phòng, chống dịch Covid -19”.

Sáng 21/7 thêm 2.787 ca Covid-19

Bộ Y tế sáng 21/7 ghi nhận 2.787 ca dương tính nCoV, trong đó 2.775 ca ở 23 tỉnh thành, bao gồm 393 ca cộng đồng. 2.787 ca mới, gồm 12 ca nhập cảnh và 2.775 ca ghi nhận tại: TP HCM (1.739), Bình Dương (657), Đồng Nai (85), Tiền Giang (65), Vĩnh Long (39), Khánh Hòa (38), Bến Tre (35), Bà Rịa - Vũng Tàu (18), Cần Thơ (16), Đăk Lăk (13), Kiên Giang (12), Bình Phước (12), Hậu Giang (9), Long An (8 ), Hà Giang (6), Phú Yên (5), Đăk Nông (4), Hà Nội (4), Quảng Ngãi (3), Bình Định (2), Nghệ An (2), Lâm Đồng (2), Gia Lai (1). Như vậy, sáng nay số ca nhiễm trong nước được ghi nhận tăng 621 ca so với sáng qua, gồm 2.382 ca được phát hiện ở khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa (tăng 479 ca), 393 ca đang điều tra dịch tễ (tăng 142 ca). Hà Giang lần đầu ghi nhận ca nhiễm trong đợt dịch từ 27/4, nâng tổng số tỉnh thành lên 60. Số ca mới nâng tổng số ca nhiễm tại TP HCM lên 39.526, Bình Dương 4.382, Đồng Nai 1.230, Tiền Giang 960, Long An 878, Phú Yên 787, Hà Nội 721, Khánh Hòa 623, Vĩnh Long 461, Bến Tre 263, Bà Rịa - Vũng Tàu 237, Quảng Ngãi 220, Nghệ An 168, Cần Thơ 159, Bình Phước 98, Kiên Giang 85, Hậu Giang 50, Bình Định 38, Đăk Lăk 33, Lâm Đồng 23, Gia Lai 17, Đăk Nông 17, Hà Giang 6. Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 61.889, ghi nhận ở 60 tỉnh thành. Tổng số ca được điều trị khỏi là 11.443. Số bệnh nhân nặng đang điều trị ICU là 123. Số bệnh nhân nguy kịch đang điều trị ECMO là 18. 11 tỉnh gồm Bắc Kạn, Điện Biên, Hải Dương, Hòa Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, đã qua 14 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. 8 tỉnh gồm Điện Biên, Hải Dương, Phú Thọ, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, đã qua 30 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. Từ ngày 27/4 đến nay đã thực hiện 4.661.532 xét nghiệm cho 12.486.026 lượt người. Trong 20/7 thêm 26.355 liều vaccine Covid-19 được tiêm. Như vậy, tổng số liều đã được tiêm là 4.336.833, trong đó tiêm 1 mũi là 4.019.161 liều, tiêm mũi 2 là 317.672 liều. Trung tâm điều trị bệnh nhân Covid-19 tại Bệnh viện Quân y 175, TP HCM, chính thức hoạt động với quy mô 200 giường vào ngày 19/7. Ngay sau đó, 22 bệnh nhân ở mức độ vừa và nặng đã được chuyển đến điều trị. Chiều 19/7, Trung tâm Y tế TP Thủ Đức, TP HCM, triển khai thử nghiệm hướng dẫn cho người dân trên địa bàn tự lấy mẫu xét nghiệm Covid-19. Tỉnh Đồng Nai ban hành kế hoạch thí điểm cách ly F1 tại nhà ở 4 huyện, thành phố trên địa bàn gồm TP Biên Hòa, TP Long Khánh, huyện Vĩnh Cửu và huyện Trảng Bom. Thời gian thực hiện từ ngày 20/7 đến 23/8, sau đó báo cáo kết quả thực hiện thí điểm trước ngày 30/8.

Hành trình đổi mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân

 

   Quan điểm của Đảng ta luôn nhất quán và được toàn thể nhân dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng nhưng vẫn có một số phần tử ác ý tung ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn, hoặc một số thế lực muốn lái chúng ta đi theo con đường khác.


   Công cuộc đổi mới 35 năm qua đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Chính vì thế, mọi biểu hiện của đổi mới luôn được nhiều người chăm chú theo dõi, phân tích, đánh giá, nhận định. Trong các nhiệm kỳ Đại hội Đảng vừa qua, công cuộc đổi mới luôn được Đảng ta xác định rõ ngay trong chủ đề của Đại hội. Đại hội XI của Đảng xác định "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới…". Đại hội XII cũng nhấn mạnh "… đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới". Chủ đề của Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: "…tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới…"

   Quan điểm của Đảng ta luôn nhất quán và được toàn thể nhân dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng nhưng vẫn có một số phần tử ác ý tung ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn, hoặc một số thế lực muốn lái chúng ta đi theo con đường khác. Những luận điệu đen tối đó cho rằng, đổi mới như vậy coi như đã xong, nay cần xem xét lại vì đã không còn động lực. Ý kiến khác đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị để tạo thêm động lực, nếu không, trước sau cũng sẽ đưa đến tàn lụi đất nước. Tựu trung, chủ ý thâm độc nhất cho rằng đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực, từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì đổi mới về chính trị mà thôi.

   Chúng ta có đủ luận cứ để bác bỏ các luận điệu đen tối đó.

   1. Trước hết, cần khẳng định bản chất và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới.

   Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Không phải bây giờ mà trong quá trình cách mạng, chúng ta luôn thực hiện sự đổi mới. Công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu sắc, liên tục và được chuẩn bị có bài bản. Đổi mới là công việc của chúng ta, theo cách thức và bước đi của ta. Đổi mới là công cuộc sáng tạo mang tính tất yếu. Công cuộc đó phải được triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, nhưng phải cân nhắc từng đường đi nước bước cụ thể, chắc chắn.

   Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

   Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn định, sự phát triển theo đúng định hướng và con đường mà chúng ta đã chọn. Có người khuyên ta: cần tư nhân hóa nhanh hơn, hội nhập thương mại nhanh hơn, phá giá đồng tiền mạnh hơn. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình, và đặc biệt quan trọng là chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập. Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập, mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa,  hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; là để xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.

   Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động, cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động, cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, tuy cũng nhằm những mục tiêu nhất định trong những thời kỳ nhất định, song do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

   2. Qua 35 năm đổi mới, "đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước".

   Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới chúng ta thấy rõ nhận định của Đại hội XIII là hoàn toàn chuẩn xác. Đổi mới tư duy đã khắc phục được những nhận thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, từng bước hình thành những quan niệm mới về mục tiêu, bước đi và cách thức phát triển đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, ổn định chính trị - xã hội được bảo đảm, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, an ninh quốc phòng được củng cố vững chắc, quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

   Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới đã giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

   Tuy nhiên, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nghèo, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy, càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

      3. Về động lực, nguồn của đổi mới.

   Nếu quan niệm động lực, nguồn là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể nhận biết được.

   Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

   Hai là, những thành quả của đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

   Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

   Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng, nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

   Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

   Rõ ràng là công cuộc đổi mới của chúng ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân đã và đang kết hợp nhuần nhuyễn  ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của sự nghiệp cao cả trọng đại: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Đồng chí Vương Đình Huệ được bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội khóa XV

 

Với 100% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành (chiếm 95,19% tổng số đại biểu Quốc hội), chiều 20-7, Quốc hội đã bầu đồng chí Vương Đình Huệ giữ chức vụ Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV.

Ngụy tạo sự uyên thâm

 

Chuyện vừa diễn ra mới toanh và hôi hổi nóng chiều qua (20-7). Khi tranh luận về một vấn đề được báo chí đề cập, anh tiến sĩ nọ tỏ ra cao ngạo, giọng hùng hồn khoe khoang về “vốn kiến thức đồ sộ” của mình bằng thái độ xem thường, khinh khi những người trong cuộc và cả tác giả của một bài báo vừa được đăng tải.

“CON ĐƯỜNG TIẾN TỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA CÁC DÂN TỘC LÀ CON ĐƯỜNG CHUNG CỦA THỜI ĐẠI, CỦA LỊCH SỬ, KHÔNG AI NGĂN CẢN NỔI.”[1]

 


Câu nói trên được trích trong phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tiệc chiêu đãi của Chủ tịch Dapôtốtxki nước Cộng hòa Tiệp Khắc ngày 20 tháng 7 năm 1957 nhân dịp Người sang thăm và làm việc với nước bạn. Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kiên trì thực hiện Hiệp định Giơnevơ để thống nhất Tổ quốc bằng phương pháp hòa bình.

Hồ Chí Minh một mặt khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là chân lý của thời đại, dù có khó khăn, gian khổ đến đâu, nhưng đó chắc chắn là quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người. Mặt khác, đó còn là sự khẳng định về tính đúng đắn, sáng tạo của của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xác định con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người đã thay mặt nhân dân và Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự tin tưởng và cảm mến với những thành quả của sự nghiệp cách mạng mà nhân dân, Chính phủ Tiệp Khắc anh em đã giành được và khẳng định tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng giữa nhân dân hai nước để cùng tiến bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Lời dạy của Bác là cơ sở quan trọng để Đảng ta nghiên cứu, vận dụng, phát triển trong cương lĩnh xây dựng đất nước, xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam và tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước trong điều kiện thế giới có nhiều biến động, nhất là giai đoạn cuối thế kỷ XX khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào thoái trào và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Thành tựu bước đầu rất quan trọng của hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng càng làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự kiên định của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta là đúng đắn, hợp quy luật.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 2011, tập 11, tr.19

PHÁT ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH ''THẮP NẾN TRI ÂN TỪ TRÁI TIM''

 

   Hướng tới kỷ niệm 74 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947/27-7-2021), Ban Thường vụ Đoàn khối các cơ quan Trung ương phát động trong đoàn viên, thanh niên toàn Khối thực hiện Chương trình "Thắp nến tri ân từ trái tim" bằng hình thức trực tuyến trong Tuần cao điểm "Đền ơn đáp nghĩa” từ ngày 20-7 đến 27-7-2021.


   Hoạt động nhằm đẩy mạnh tuyên truyền về ý nghĩa của Ngày Thương binh–Liệt sĩ và truyền thống "Đền ơn đáp nghĩa-Uống nước nhớ nguồn;" nâng cao trách nhiệm, vai trò của tuổi trẻ trong chăm sóc người có công với cách mạng, thương bệnh binh, gia đình chính sách; kịp thời đổi mới phương thức tổ chức hoạt động để đảm bảo hiệu quả, phù hợp với điều kiện phòng, chống dịch Covid-19.

   Tham gia chương trình, đoàn viên, thanh niên tải ứng dụng miễn phí ví điện tử MoMo trên điện thoại thông minh để tham gia ủng hộ vào Quỹ "Thắp nến tri ân các anh hùng, liệt sĩ" của Đoàn Khối các cơ quan Trung ương. Sau khi quyên góp thành công, đoàn viên nhấn nút "Chia sẻ ngay" để chia sẻ đường link của chương trình trên các trang Facebook cá nhân nhằm lan tỏa thông tin và ý nghĩa của chương trình. Hệ thống sẽ gửi lại ảnh chứng nhận tham gia chương trình của đoàn viên.

   Ban Thường vụ Đoàn Khối các cơ quan Trung ương phát động toàn bộ đoàn viên, thanh niên Khối tham gia chương trình đồng loạt đăng ảnh “Thắp nến tri ân” nêu trên trên trang mạng xã hội cá nhân vào 19 giờ ngày 26-7-2021 nhằm tạo hiệu ứng truyền thống, lan tỏa rộng rãi tinh thần "Đền ơn đáp nghĩa-Uống nước nhớ nguồn."

   Ban tổ chức cho biết, toàn bộ kinh phí vận động được từ chương trình sẽ được dùng mua nến thắp tại các nghĩa trang liệt sĩ quốc gia trong Lễ Thắp nến tri ân đồng loạt trên cả nước vào tối 26-7-2021; hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng…

   Đây là hoạt động thể hiện tình cảm, lòng tri ân sâu sắc của tuổi trẻ Khối các cơ quan Trung ương với các anh hùng, liệt sĩ, đồng thời góp phần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Hoạt động càng trở nên thiết thực hơn trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay./.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi trong lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng. Cán bộ, đảng viên muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình phải hiểu tư tưởng của quần chúng nhân dân, phải tuyên truyền để quần chúng thông suốt về tư tưởng để cùng thống nhất về hành động. Để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Người một mặt yêu cầu cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành phải thật thông suốt trong tư tưởng, phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ; mặt khác, mọi cấp ủy và mọi cán bộ, đảng viên đều phải làm công tác tư tưởng cho chính mình và đánh thông tư tưởng, động viên sáng kiến, lực lượng của toàn dân để mọi người tự giác, hăng hái tham gia cách mạng, ủng hộ cách mạng, nhất là “phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.


CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG LÀ QUAN TRỌNG NHẤT

Đặc biệt đánh giá cao vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tư tưởng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất, là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, là nhân tố cấu thành quan trọng hàng đầu trong sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Trong tư duy và hành động của Người, sinh mệnh của Đảng, sự thành bại của cách mạng có quan hệ trực tiếp với hoạt động tư tưởng của Đảng. Vì thế, thấm nhuần quan điểm của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó xâm nhập vào quần chúng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng”. Theo đó, cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”; đồng thời, “phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được”.

Gắn liền với quá trình dự báo và định hướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công tác tư tưởng là một mặt trận thuộc lĩnh vực tinh thần. Trong tổ chức thực hiện, bao giờ công tác tư tưởng cũng phải đi trước một bước, phải không ngừng đổi mới để phù hợp với những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh, đối tượng, phục vụ cho sự nghiệp chung của cách mạng. Theo Người, công tác tư tưởng có đối tượng tác động là tư tưởng và tình cảm của con người, nhằm trang bị nhận thức, hình thành niềm tin và chỉ đạo hành động cách mạng cho quần chúng. Khi tiến hành làm công tác tư tưởng, chủ yếu lấy giáo dục, thuyết phục làm chính, không dùng biện pháp hành chính, nên yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là người làm công tác tư tưởng phải là chiến sĩ xung kích trên mặt trận ấy, phải thấu hiểu sâu sắc rằng: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại". Vì vậy, vừa không thể xem nhẹ, vừa đòi hỏi chủ thể của công tác tư tưởng phải thấu hiểu mục đích, nội dung và đối tượng định tuyên truyền.

Vì công tác tư tưởng có đặc thù chuyên môn là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, phải tiến hành mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng, nên để đạt được hiệu quả cao; để cho chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào thực tiễn cuộc sống; để đảm bảo cho con người được tuyên truyền có niềm tin, giữ vững niềm tin, hành động tích cực, sáng tạo đúng mục đích của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ làm công tác tư tưởng phải là những người “vừa hồng vừa chuyên”. Đó phải là những người trung thành, kiên định với những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin và đường lối, quan điểm của Đảng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”... Người làm công tác tư tưởng phải học tập không ngừng và học tập ở mọi nơi, mọi lúc để làm giàu vốn tri thức của mình. Mỗi người đều phải “học chính trị, học văn hóa, học kỹ thuật nghiệp vụ. Ngoài cách học ở trường, ở lớp, học trên sách báo, v.v.. có một cách học rất tốt ai cũng có thể tham gia hằng ngày. Đó là cách học tập ngay trong sản xuất, học tập những người, những tổ, những đơn vị tiên tiến”, để có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ không lạc hậu, thoái bộ so với yêu cầu của thực tiễn. Cùng với đó là sự tâm huyết với công việc, tinh thần trách nhiệm cao và luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng, thực hành “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”, trung thực, thẳng thắn, lời nói phải đi đôi với việc làm; đồng thời, phải luôn rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng, phải sâu sát thực tế và liên hệ mật thiết với quần chúng… Đó chính là yêu cầu về tài và đức - những nhân tố làm nên thành công của người làm công tác tư tưởng.

Để công tác tư tưởng đạt được hiệu quả thiết thực, luôn hướng về cơ sở, phản ánh thực tiễn sinh động của cơ sở, thì cán bộ làm công tác tư tưởng - công tác tuyên giáo phải chú trọng tuyên truyền. Khi viết hay nói, bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nói và viết thế nào cho dễ nghe, dễ hiểu?... để “mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Hơn nữa, vì đối tượng tuyên truyền ở các địa bàn, vùng miền khác nhau; giới tính, độ tuổi, trình độ, giai tầng khác nhau, nên khi tuyên truyền, người cán bộ làm công tác tư tưởng phải điều tra, phân tách, nghiên cứu, để nắm bắt và hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của đối tượng, từ đó chọn cách nói phù hợp (khi sắc sảo, lập luận chặt chẽ, khi giản đơn, rõ ràng, thiết thực, có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được…). Hơn bao giờ hết, để hoàn thành trọng trách là vũ khí sắc bén của Đảng; trang bị nhận thức, hình thành niềm tin và chỉ đạo hành động cách mạng cho quần chúng; góp phần đấu tranh, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; góp phần xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, người làm công tác tư tưởng không thể lơ là, giản đơn nhiệm vụ của mình. Trong mọi thời điểm, phải khắc phục tình trạng ở “nhiều địa phương, anh em thông tin tuyên truyền lầm tưởng mình là công chức, làm việc theo cách bàn giấy mà quên nhiệm vụ của mình là tuyên truyền, cổ động, giải thích và huấn luyện cho nhân dân”…

Thực tiễn cho thấy, ở mỗi giai đoạn cách mạng có những nhiệm vụ chính trị khác nhau, do đó công tác tư tưởng có những mục tiêu khác nhau, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ từng thời kỳ. Song, để hoàn thành trọng trách của mình, đảm bảo cho công tác tư tưởng có sức sống, sức thuyết phục, thì người làm công tác tư tưởng phải luôn rèn đức, luyện tài để thuyết phục quần chúng từ hiểu chưa đúng đến hiểu đúng, từ chưa tin yêu đến tin tưởng, đảm bảo cho quần chúng hành động tích cực, sáng tạo, đúng mục đích.

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG PHẢI ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng, các nghị quyết của Đảng đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác tư tưởng và yêu cầu phải coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng. Thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 1/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, trên cơ sở nhận thức sâu sắc: “Công tác tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ, phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự tự nguyện, giữa lý trí với tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, từ Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn, bí thư cấp uỷ, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đều coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, lý luận, phát huy vai trò xung kích “đi trước một bước” để hoàn thành trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó.

Từ Trung ương đến địa phương, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng đã nỗ lực, sáng tạo, không chỉ triển khai, tuyên truyền, quán triệt và đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… vào thực tiễn cuộc sống mà còn thiết thực góp phần nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; coi thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quy luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam. Các binh chủng của công tác tư tưởng tập trung tuyên truyền, đẩy mạnh các hoạt động nhằm tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội từ nhận thức đến hành động, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân khai thác các tiềm lực trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... góp phần làm nên những thành tựu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong hơn 34 năm đổi mới.

Bám sát nhiệm vụ chính trị, bám sát cơ sở và thực tiễn cuộc sống; hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc trong cuộc sống; bám sát đối tượng cụ thể, công tác tư tưởng đã coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục ý thức, nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, góp phần phòng, chống và đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; đồng thời, phát hiện, tôn vinh và nhân rộng những nhân tố mới, những gương tập thể và cá nhân điển hình trong phát triển kinh tế, văn hoá, an sinh xã hội; trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong xây dựng Đảng và thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một trong những thành tích đáng ghi nhận của những người làm công tác tư tưởng là đã góp phần quan trọng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển kinh tế là trung tâm và xây dựng văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển, bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, công tác tư tưởng đã tập trung chỉ đạo tốt công tác triển khai, học tập, quán triệt các văn kiện Đảng, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng về quan điểm, đường lối, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng…, đấu tranh không khoan nhượng với các biểu hiện lệch lạc, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, góp phần bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên kiên định với lý tưởng cách mạng của Đảng, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu đi đầu trên mọi lĩnh vực, xứng đáng với vị trí tiền phong. Công tác tư tưởng đã chú trọng việc đào tạo về lý luận chính trị, về chuyên môn, nghiệp vụ và giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, chống sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên…

Thực hiện nhiệm vụ của mình, công tác tư tưởng và những người làm công tác tư tưởng ở các cấp đã thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, giáo dục con người trong thời đại mới - con người xã hội chủ nghĩa, về đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau, về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… và chủ động phòng và đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Phát huy sứ mệnh của từng binh chủng, những người làm công tác tư tưởng đã đầu tư công sức, trí tuệ, thời gian và chủ động trong cuộc đấu tranh bác bỏ các quan điểm phản động, sai trái, lệch lạc; coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; ngăn chặn sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Việt Nam đang tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Thắng lợi của xu thế hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển… mang đến cho đất nước ta những thuận lợi. Song, những bất ổn trên thế giới do chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế… diễn ra ngày càng phức tạp cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ. Càng trong gian nan thử thách, công tác tư tưởng càng phải chủ động, đi trước một bước; cán bộ làm công tác tư tưởng càng phải chủ động, tích cực tiếp thu cái mới, không ngừng nâng cao trình độ, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có trình độ ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu của công việc./.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Quốc hội cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động

 

Tại phiên Khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng.

Sau khi nhiệt liệt chúc mừng các Đại biểu mới được cử tri tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội Khóa XV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lược lại lịch sử 75 năm với 14 nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội.

Theo Tổng Bí thư, trải qua hơn 75 năm, với 14 nhiệm kỳ hoạt động, Quốc hội nước ta đã luôn luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, không ngừng phát huy vai trò, vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đóng góp to lớn và quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

"Nhìn một cách tổng thể, chúng ta nhận thấy, mỗi khóa Quốc hội đều để lại những dấu ấn riêng và đều hoàn thành trọng trách mà nhân dân giao phó, thực hiện đúng chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước"- Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Về hoạt động lập hiến, từ khi ra đời đến nay, Quốc hội đã xây dựng và ban hành 5 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, đây là những đạo luật cơ bản của Nhà nước, tạo lập nền tảng chính trị, pháp lý cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước, quy định những vấn đề quan trọng nhất về quyền lực nhà nước; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động của bộ máy nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Hoạt động lập pháp ngày càng được đẩy mạnh và có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh, chủ động hội nhập quốc tế; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Hoạt động giám sát không ngừng được tăng cường và đổi mới; nội dung tập trung vào những vấn đề lớn quan trọng của đất nước, những bất cập, bức xúc của cuộc sống, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

Tổng Bí thư cũng nhận xét, việc quyết định các vấn đề quan trọng đã đạt được nhiều kết quả tích cực và ngày càng thực chất hơn. Các nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; chính sách tài chính - tiền tệ, dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước; quyết định chủ trương đầu tư xây dựng các công trình quan trọng quốc gia; chính sách dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, phê chuẩn điều ước quốc tế,... phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội ngày càng được đẩy mạnh và mở rộng trên cả bình diện song phương và đa phương, đưa ngoại giao nghị viện đi vào chiều sâu, góp phần làm cho nhân dân thế giới và bạn bè quốc tế ngày càng hiểu biết rõ hơn về đất nước, con người và nền văn hóa Việt Nam; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và bạn bè quốc tế; nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam nói chung, và Quốc hội Việt Nam nói riêng, trên trường quốc tế…

Cũng theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cơ cấu và phương thức hoạt động của Quốc hội cũng không ngừng được đổi mới. Quốc hội hoạt động thường xuyên hơn, tranh luận, thảo luận một cách dân chủ, thẳng thắn, thiết thực và trách nhiệm…

Quốc hội luôn có ý thức tự đổi mới

"Những chuyển biến, tiến bộ này xuất phát từ đòi hỏi của thực tế khách quan, đồng thời thể hiện Quốc hội luôn có ý thức tự đổi mới để ngày càng hoàn thiện mình"- Tổng Bí thư đánh giá đồng thời khẳng định, những thành tựu đạt được của Quốc hội nước ta trong 75 năm qua bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố quyết định để Quốc hội hoàn thành xuất sắc trọng trách mà nhân dân giao phó.

Theo Tổng Bí thư, Quốc hội các khóa đã luôn luôn nắm vững đường lối, quan điểm và các chủ trương, chính sách của Đảng để thể chế hóa thành luật pháp và vận dụng đúng đắn vào các hoạt động của Quốc hội. Đó là kết quả của sự gắn bó mật thiết giữa Quốc hội với nhân dân, nắm bắt đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; lắng nghe và tiếp nhận các ý kiến, kiến nghị xác đáng của cử tri và giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri, làm cho Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Đồng thời, đó cũng là kết quả của quá trình đổi mới không ngừng về tổ chức, phương thức làm việc của Quốc hội, năng lực hoạt động của các đại biểu Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; với sự phối hợp chặt chẽ, cộng đồng trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan hữu quan khác; sự ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của Quốc hội, Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới.

Quốc hội cần đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng ban hành các văn bản pháp luật

Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Quốc hội cần phát huy những thành tựu và kinh nghiệm của 75 năm qua, tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động để đáp ứng tốt nhất yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn mới.

Cụ thể, Quốc hội cần tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, vị trí của mình trong việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động của đất nước, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng ban hành các văn bản pháp luật; sớm xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Ưu tiên xây dựng mới, bổ sung các đạo luật ở các lĩnh vực trọng điểm có ý nghĩa then chốt, có tính khả thi cao, tạo sự bứt phá về phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn, phát huy dân chủ, tăng tính tranh luận, phân tích sâu, làm rõ những thành tích, ưu điểm, cũng như những tồn tại, khuyết điểm, tìm ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp xác đáng, khả thi. Chú trọng giám sát việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát. Nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước theo hướng ngày càng chính xác, thực chất hơn, nhất là việc quyết định ngân sách nhà nước, các vấn đề về kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước, các dự án công trình quan trọng quốc gia. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hóa của Đảng và Nhà nước.

Trước mắt, Tổng Bí thư yêu cầu cần tập trung làm tốt công tác thể chế hoá, cụ thể hóa các quyết sách quan trọng được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chuẩn bị về mọi mặt, bảo đảm cho hoạt động của Quốc hội khóa XV có nhiều khởi sắc và đạt chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong giai đoạn mới.

"Một vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định tôi muốn nhấn mạnh thêm là, tất cả các vị đại biểu Quốc hội chúng ta khóa này cần tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, nâng cao trình độ về mọi mặt, gần gũi và lắng nghe ý kiến của nhân dân, thực hiện và hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà cử tri và nhân dân giao phó"- Tổng Bí thư căn dặn./.

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG BIỂU TÌNH TẠI CUBA ĐỂ KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ

Những ngày qua, lợi dụng sự việc biểu tình tại Cuba, các thế lực thù địch, phản động đã phát tán tài liệu sai trái, kích động nhằm tạo ra sự bất ổn về an ninh trật tự tại Việt Nam. Mỗi người dân trong nước cần cảnh giác trước mưu đồ chống phá của kẻ địch

Thực chất sự việc biểu tình tại Cuba

Đại dịch COVID-19 đã, đang tác động tiêu cực đến toàn thế giới. Đến nay, Cuba đã có trên 200 nghìn người nhiễm và hơn 1.500 người tử vong, số ca mắc mới có chiều hướng gia tăng. 

Chính phủ Cuba đã ban hành và thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế tình trạng lây lan dịch bệnh, tăng cường giám sát dịch tễ học, kiểm soát y tế quốc tế nghiêm ngặt và thực hiện chiến dịch tiêm chủng quốc gia

Tuy nhiên, COVID-19 đã làm cho đời sống của nhân dân giảm sút, thiếu hụt thuốc men và lương thực thực phẩm, giá cả tăng cao, tình trạng mất điện cùng nhiều thách thức kinh tế, xã hội khác bùng phát ở Cuba và Cuba càng trở lên đặc biệt khó khăn hơn khi bị bao vây cấm vận trong gần 60 năm qua.

Trước thực trạng đó, một số người dân ở các thành phố của Cuba đã biểu tình ôn hòa nhằm mục đích đề nghị chính phủ “hành động khẩn cấp nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt lương thực, thuốc men và vaccine”.                      

Song, những cuộc biểu tình ôn hòa đó đã trở nên phức tạp khi có sự giật dây, kích động từ các thế lực xấu, dẫn đến người biểu tình ném gạch đá vào lực lượng chức năng, đập phá các điểm giao dịch, đập và lật đổ xe ôtô… làm cho tình hình trở nên phức tạp.  

Chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel đã cho rằng nguyên nhân dẫn đến biểu tình là: “Nước Mỹ theo đuổi một chính sách bóp nghẹt nền kinh tế nhằm gây bất ổn xã hội ở Cuba”. Mỹ áp đặt các lệnh trừng phạt, cấm vận Cuba từ năm 1962 là nhằm “gây bất ổn xã hội”, “thay đổi chế độ”. 

Ngoại trưởng Cuba còn tố cáo chính phủ Mỹ đã sử dụng hệ thống số công nghệ cao để kích động các cuộc biểu tình, đây là một dự án mà chính phủ Mỹ đã vận hành trong thời gian dài và đã gia tăng nguồn tài chính cho nó.

Biểu tình vì dịch bệnh COVID-19 không chỉ riêng ở Cuba

Thời gian qua, biểu tình đã diễn ra ở nhiều nước trên thế giới do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19. Tại Đức, tháng 8/2020, cảnh sát đã bắt giữ 300 người biểu tình chống các biện pháp ngăn COVID-19 là giãn cách xã hội và đeo khẩu trang. 

Trong cuộc biểu tình này, người biểu tình đã ném đá và chai nước vào cảnh sát, làm cho ít nhất 7 nhân viên cảnh sát bị thương, buộc quốc gia này phải triển khai khoảng 3.000 cảnh sát để đối phó tình huống xấu nhất. 

Cũng trong tháng 8/2020, hàng ngàn người trên khắp nước Anh đã tập trung về quảng trường Trifalgar ở trung tâm London để phản đối các biện pháp hạn chế di chuyển, quy định đeo khẩu trang và không đồng ý với việc tiêm vaccine ngừa COVID-19 hàng loạt. Cá biệt, một số người còn cho rằng virus corona là “trò lừa đảo”, “lừa bịp”.

Tháng 5/2021, biểu tình biến thành bạo động đã diễn ra tại nhiều nước châu Âu. Tại Đức, có hơn 20 cuộc biểu tình với khoảng 20.000 người tham gia nhằm phản đối việc tăng giá thuê nhà đến chính sách nhập cư của Đức và phản đối việc áp đặt các hạn chế đặc biệt để ngăn chặn dịch bệnh. 

Người biểu tình đã đốt pháo, đốt thùng rác và ván gỗ gây ra nhiều đám cháy trên đường, buộc quốc gia này phải huy động trên 5.000 cảnh sát vào cuộc cùng với vòi rồng và hơi cay. 

Tại Pháp, có gần 300 cuộc biểu tình với khoảng 150.000 người tham gia nhằm phản đối các chính sách của chính phủ cắt giảm các phúc lợi xã hội và quyền tự do dân sự, cũng như cắt giảm việc làm và xử lý đại dịch COVID-19. Người biểu tình đã ném đá và pháo vào cảnh sát, đốt cháy thùng rác, đập phá cửa sổ, ngân hàng và tài sản công cộng. 

Cảnh sát đã đáp trả bằng loạt đạn hơi cay, lựu đạn cay và vòi rồng để giải tán đám đông. Tại Bỉ, hàng trăm người dân đã tụ tập biểu tình nhằm phản đối những quy định của chính phủ về chống dịch bệnh COVID-19. 

Cảnh sát tại quốc gia này cũng đã phải dùng vòi rồng và đạn hơi cay để giải tán đám đông tụ tập ở Brussels phản đối các quy định phong tỏa.Tại thủ đô Helsinki của Phần Lan, khoảng 300 người đã tham dự một cuộc biểu tình nhỏ, buộc cảnh sát can thiệp và bắt giữ khoảng 50 người. 

Còn tại Stockholm, Thụy Điển, từ 500 đến 600 người đã tuần hành với các biểu ngữ đòi hỏi “tự do và sự thật” trong một sự kiện kéo dài hơn hai giờ bất chấp các nỗ lực của cảnh sát để giải tán đám đông…

Phong trào biểu tình có phải do bản chất của chế độ?

Ngay sau cuộc biểu tình nổ ra tại Cuba, ngày 11/7/2021, nhiều trang mạng đã đưa ra các bài viết, bình luận, đánh giá vấn đề biểu tình theo chiều hướng tiêu cực, cho rằng điều này chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, những vấn đề nội tại của đất nước Cuba. 

Tuy nhiên, những đánh giá phiến diện này sau đó đã vấp phải sự phản ứng của người dân Cuba vì họ cho rằng điều này có sự tác động của yếu tố bên ngoài, ảnh hưởng đến tình hình chính trị xã hội của Cuba. Cuộc biểu tình để lại nhiều hệ lụy to lớn, tác động đến tình hình đất nước, có nguy cơ gây ra một cuộc khủng hoảng kéo dài.

Lợi dụng sự việc biểu tình tại Cuba, các đối tượng xấu đã phát tán nhiều bài viết có nội dung tung tin người dân Cuba ở các thành phố đồng loạt biểu tình yêu cầu chính phủ “phải cung cấp thực phẩm và vaccine vì tình trạng thiếu hụt lương thực, nhu yếu phẩm đang ở mức độ khủng hoảng trong khi tỷ lệ các ca nhiễm virus COVID-19 vẫn đang tăng vọt”. 

Họ đưa ra nhiều nhận định sai sự thật về việc biểu tình tại nước này; lồng ghép nhiều ý kiến chủ quan để kích động, kêu gọi người dân Cuba lật đổ chế độ, xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN. Từ đó, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta, hạ uy tín lực lượng vũ trang; lồng ghép tung tin kích động, cho rằng người dân Cuba “muốn lật đổ chế độ” và “chế độ XHCN ở Cuba sẽ sụp đổ, sau đó đến Việt Nam”.

Ở Việt Nam, lợi dụng tình hình dịch COVID-19 phức tạp, các đối tượng chống phá đã tìm cách tung ra những luận điệu tuyên truyền nhằm tô vẽ, thổi phồng dư luận để kích động người dân biểu tình chống Đảng, Nhà nước. 

Các tổ chức khủng bố như Việt Tân, Triều Đại Việt, Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời, số đối tượng phản động, chống đối trong nước hay một số trung tâm truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam đã đưa nhiều thông tin xuyên tạc về tình hình chính trị, xã hội tại Việt Nam. Nhiều bài viết đưa các thông tin sai sự thật, tác động tư tưởng nhằm gây bất ổn từ bên trong. 

Đây là thủ đoạn đánh lận con đen nhằm mục đích tác động xấu đến tư tưởng, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng, cố tình lờ đi bản chất của sự việc. Sự việc một số người dân tham gia biểu tình tại Cuba xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. 

Khách quan là sự tác động ghê gớm của đại dịch COVID-19; chủ quan là những khó khăn nội tại trong giải quyết an sinh xã hội và đảm bảo lương thực, thực phẩm, y tế cho người dân. Trong đó, nguồn gốc sâu xa của khó khăn nội tại là do Cuba đã bị bao vây, cấm vận trong thời gian quá dài. 

Nếu các quốc gia tư bản phương Tây phát triển mà có hoàn cảnh tương tự như Cuba thì phong trào biểu tình của người dân những quốc gia này diễn ra gấp hàng trăm, nghìn lần. Trong điều kiện đó, liệu các đối tượng xấu có cho sự việc biểu tình đó xuất phát từ bản chất của chế độ, người dân muốn lật đổ chế độ?

Cần nhìn nhận đúng

Từ cuộc biểu tình tại đất nước Cuba, có thể rút ra một số vấn đề đối với công tác đảm bảo an ninh xã hội tại Việt Nam trong tình hình hiện nay như sau:

Thứ nhất, phát hiện sớm âm mưu, ý đồ của các đối tượng phản động, thù địch để kịp thời ngăn chặn, kiềm tỏa các hoạt động chống đối. Trước những biến động phức tạp về chính trị – xã hội trên thế giới thì các thế lực phản động, chống đối chính trị lợi dụng cơ hội này để “đục nước béo cò”, “thừa nước đục thả câu”. 

Họ lợi dụng tình hình khó khăn của đất nước để tuyên truyền, kích động người dân tiến hành các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Họ thông qua những vấn đề nhạy cảm để lợi dụng sự cả tin của người dân, qua đó tiến hành các hoạt động biểu tình, gây sức ép với chính quyền. 

Thứ hai, làm tốt công tác quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng. Xuất phát từ cuộc biểu tình tại Cuba cho thấy, các phần tử thù địch, phản cách mạng lợi dụng mạng xã hội để tung tin sai trái, kích động, lôi kéo người dân thông qua những lời mời gọi mị dân, khuấy động các bất ổn trong nước, đưa ra những luận điệu chia rẽ nhân dân với chính quyền. 

Từ những điểm bất ổn đó đã thúc đẩy cuộc biểu tình tại Cuba. Chính vì vậy, cần tiếp tục làm tốt công tác quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng internet. Phổ biến thông tin chính thống, các chủ trương, chính sách để người dân nắm được; đồng thời thông qua các tổ giám sát để phát hiện sớm âm mưu của các đối tượng xấu.

Thứ ba, lực lượng CAND cùng các cơ quan chức năng tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho Chính phủ để vừa làm tốt công tác chống dịch, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Có thể thấy rằng, điều kiện để các thế lực phản động, chống đối chính trị kích động người dân đó là sự khó khăn của đất nước trong phát triển kinh tế – xã hội và công tác chống dịch COVID- 19. 

Do vậy, đảm bảo hài hòa trong việc chống dịch và phát triển kinh tế – xã hội là vấn đề mang tính tiên quyết để góp phần ngăn chặn các âm mưu, ý đồ xấu của các đối tượng phản động, chống đối chính trị, đồng thời giữ vững an ninh xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Mọi công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị. 

Mỗi người dân cần tỉnh táo, cảnh giác trước những thông tin xấu độc mà các đối tượng lợi dụng sự việc biểu tình ở Cuba liên quan đến đại dịch COVID-19 để tung tin kích động nhằm gây bất ổn tình hình trong nước, không tham gia hoặc tiếp tay cho cho hành vi gây rối an ninh, trật tự.

QCQT

Trung Quốc bị cáo buộc liên quan đến chiến dịch tấn công mạng toàn cầu

 

Trung Quốc bị cáo buộc liên quan đến chiến dịch tấn công mạng toàn cầu

Ngày 19/7, Mỹ và các quốc gia đồng minh đã cáo buộc Trung Quốc sử dụng các tin tặc để gây ra các chiến dịch tấn công mạng trên phạm vi toàn cầu.

Theo đó, trong một tuyên bố đưa ra vào ngày 19/7, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết: “Mỹ và các nước trên thế giới đang buộc Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về hành vi vô trách nhiệm, gây rối và gây mất ổn định trong không gian mạng, gây ra mối đe dọa lớn đối với nền kinh tế và an ninh quốc gia”.

Cùng ngày, Bộ Tư pháp Mỹ cho biết, 4 công dân Trung Quốc, trong đó có 3 quan chức an ninh bao gồm Ding Xiaoyang, Cheng Qingmin và Zhu Yunmin và một nhân viên tại công ty bình phong Hainan Xiandun Technology Development là Wu Shurong đã bị buộc tội trong một chiến dịch tấn công mạng toàn cầu nhằm vào hàng chục công ty, trường đại học và cơ quan chính phủ ở Mỹ và nước ngoài.

Các hoạt động của nhóm tin tặc này diễn ra từ năm 2011 đến năm 2018 nhằm thu thập các thông tin quan trọng để mang lại lợi ích đáng kể cho các công ty và doanh nghiệp Trung Quốc.

Chiến dịch tấn công của nhóm tin tặc này nhắm vào các bí mật thương mại trong các ngành bao gồm hàng không, quốc phòng, giáo dục, chính phủ, chăm sóc sức khỏe, dược phẩm sinh học và hàng hải.

Việc mở ra một mặt trận mới trong cuộc chiến chống lại tin tặc của chính phủ các nước diễn ra một tháng sau khi các nhà lãnh đạo thuộc nhóm G7 và NATO nhất trí với Tổng thống Joe Biden tại các hội nghị thượng đỉnh diễn ra Anh và Bỉ khi cáo buộc Trung Quốc đang đặt ra những thách thức có hệ thống đối với trật tự thế giới.

Ông Blinken cho biết, chính phủ các nước đã chính thức cáo buộc các vụ xâm nhập khai thác các lỗ hổng trong Microsoft Exchange Server đã được tiết lộ vào tháng 3 là do các tin tặc có liên hệ với Bộ An ninh quốc gia Trung Quốc.

Đại sứ quán Trung Quốc tại Washington đã không trả lời ngay lập tức yêu cầu bình luận. Các quan chức Trung Quốc trước đây biện minh rằng Trung Quốc cũng là nạn nhân của các vụ tấn công mạng và phản đối mọi hình thức tấn công mạng.

Các quan chức Mỹ cho biết phạm vi và quy mô của các vụ tấn công mạng do Trung Quốc gây ra đã khiến họ bất ngờ.

Ngoại trưởng Blinken cho biết thêm: “Bộ An ninh quốc gia của Trung Quốc đã nuôi dưỡng một hệ sinh thái gồm các tin tặc hợp đồng để thực hiện cả các hoạt động do nhà nước tài trợ và tội phạm mạng để thu lợi tài chính của riêng họ”.

Trong khi đó, một quan chức chính quyền cấp cao của Mỹ cho biết, các cơ quan tình báo và an ninh Mỹ sẽ phác thảo hơn 50 kỹ thuật và thủ tục mà các nhóm tin tặc do nhà nước Trung Quốc bảo trợ sử dụng để nhắm mục tiêu vào các mạng của Mỹ.

Trong thông báo đưa ra ngày 19/7, các quan chức Mỹ đã chính thức đổ lỗi cho chính phủ Trung Quốc về vụ tấn công mạng vào các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ ở Mỹ sử dụng dịch vụ email của Microsoft. Microsoft cũng đã cáo buộc Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về vụ tấn công này.

Liên quan đến vụ việc này, một quan chức cấp cao của chính quyền Biden cho biết: “Chúng tôi không loại trừ hành động tiếp theo để buộc Trung Quốc phải chịu trách nhiệm”.

Theo cáo trạng của Bộ Tư pháp Mỹ, các bị cáo và quan chức trong Cục An ninh Quốc gia Hải Nam, một văn phòng an ninh quốc gia khu vực, đã cố gắng che giấu vai trò của chính phủ Trung Quốc trong vụ đánh cắp thông tin bằng cách sử dụng một công ty bình phong.

“Các cáo buộc hình sự này một lần nữa nhấn mạnh rằng Trung Quốc tiếp tục sử dụng các cuộc tấn công mạng để đánh cắp những gì các nước khác thực hiện, coi thường các cam kết song phương và đa phương”, Phó Tổng chưởng lý Mỹ Lisa Monaco cho biết trong tuyên bố.

Cũng liên quan đến nhóm tin tặc của Trung Quốc, ngày 19/7, chính phủ Na Uy cũng đã đưa ra cáo buộc cho rằng cuộc tấn công vào hệ thống thư điện tử của Quốc hội nước này diễn ra vào ngày 10/3 vừa qua có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Trong một tuyên bố của mình, Bộ trưởng Ngoại giao Na Uy - bà Ine Eriksen Soreide cho rằng: “Đây là một sự cố nghiêm trọng đã ảnh hưởng đến thể chế dân chủ quan trọng nhất của chúng tôi. Các nhà chức trách Trung Quốc phải ngăn chặn các cuộc tấn công như vậy diễn ra”.

Ngoại trưởng Na Uy cho biết, đại sứ Trung Quốc tại Na Uy đã được triệu tập để thảo luận trực tiếp về vấn đề này và bà mong Trung Quốc sẽ xem xét vấn đề một cách cực kỳ nghiêm túc.