Thứ Tư, 21 tháng 7, 2021
Con mắt giả
Phương Tây thất bại khi thử lòng Putin ở Biển Đen
Phương Tây thất bại khi thử lòng Putin ở Biển Đen
Tạp chí National Interest của Mỹ mới đây có bài bình luận của tác giả Dominick Sansone, nghiên cứu sinh tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp của Đại học Johns Hopkins ở Bologna, Ý đánh giá về chiến thuật của phương Tây trong vụ "thử sức" Nga trên Biển Đen hồi tháng 6.
Vụ Hải quân Anh đưa tàu chiến HMS Defender vào vùng biển Crimea buộc phía Nga phải phản ứng đã có nhiều phiên bản sự kiện. Tại Nga, Moscow khẳng định tàu Anh đã đi sâu vào vùng biển Crimea 3km và buộc phía Nga phải bắn cảnh cáo.
Tại Anh, Thủ tướng Boris Johnson phủ nhận: không có vụ bắn cảnh cáo nào. HMS Defender chỉ đơn giản là thực hiện một chuyến đi theo lịch trình qua lãnh hải của Ukraine “phù hợp với luật pháp quốc tế”.
Tác giả bài báo cho rằng, dù Anh không thừa nhận việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea và thể hiện tình đoàn kết quốc tế với Ukraine thì đối với Nga cũng chẳng hề gì. Nhưng Nga buộc phải hành động khi tàu chiến của Anh, một thành viên NATO, đi vào lãnh thổ mà họ coi là vùng biển của họ từ lịch sử của nước Nga.
Tác giả Dominick Sansone đã dẫn giải thích của Tổng thống Nga Vladimir Putin trong vụ việc này, đó là sự phối hợp giữa các thành viên NATO, ở đây là cả Mỹ và Anh, đã cho thấy hành động do thám, khiêu khích đối với Nga. Sáng cùng ngày tàu chiến Anh tới vùng biển Crimea, một máy bay của Mỹ cũng đã xuất hiện.
Ông Putin tiếp tục tuyên bố rằng mục tiêu chính khi tàu Anh qua lại là để xác định thông tin quân sự từ cảng của Nga tại Crimea.
Theo Điện Kremlin, các vụ việc trong nhiều tuần qua cho thấy tham vọng của phương Tây trong việc phớt lờ luật pháp quốc tế và di chuyển các căn cứ quân sự đến gần biên giới Nga. Việc tàu hộ vệ HMS đi qua vùng biển Crimea được coi là một nỗ lực trực tiếp làm suy yếu tinh thần của cuộc gặp giữa Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Geneva, Thụy Sĩ hôm 16/6.
Đối với ông Putin, khía cạnh đáng báo động nhất của sự cố HMS Defender không phải là việc Thư ký báo chí Lầu Năm Góc John Kirby bác bỏ thông tin cho rằng người Nga đã bắn cảnh cáo tàu chiến Anh mà là những chuyển động của phương Tây khi Nga đã chấp thuận việc lùi lại một bước.
Còn nhớ đầu năm nay, Nga đã tiến hành cuộc tập trận quân sự rầm rộ trên lãnh thổ nước mình, vùng biên giới với Ukraine. Khi đó, các nước phương Tây liên tục bày tỏ sự quan ngại và phía Nga nhiều lần giải thích họ chỉ đang tập trận quân sự trên lãnh thổ của mình trong khi NATO đã rầm rộ tập trận ngay sát sát Nga.
Sau đó vài tháng, Nga đã thúc đẩy cuộc gặp trực tiếp với chính quyền mới của Tổng thống Joe Biden, cho thấy những bước hạ nhiệt thận trọng trong bối cảnh vẫn chịu sức ép trừng phạt lớn chưa từng thấy từ Washington.
Nhưng rồi các hành động lui một bước đó của ông Putin lại nhận về sự gia tăng khiêu khích của các đồng minh Mỹ mà chắc chắn là đã được Washington giật dây để điều tàu chiến tới Biển Đen, thăm dò, khiêu khích Nga.
Moscow liên tục nhắc với phương Tây rằng, Nga coi việc Ukraine gia nhập NATO là không thể chấp nhận được về mặt chiến lược và bận tâm với khái niệm về việc nó sẽ trở thành một tiền đồn của phương Tây ở biên giới với Nga.
Để thể hiện quyết tâm của mình khi đối mặt với hành động gây hấn này, Nga đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự ở Biển Đen vào ngày 3/7, trong đó các máy bay chiến đấu thực hành ném bom tàu địch.
Câu hỏi đặt ra là: Phương Tây thu được lợi thế chiến lược nào từ kiểu thao diễn khiêu khích này?
Một số quan điểm cho rằng, điều đó là để tăng cường mối quan hệ quân sự của NATO với Ukraine và thể hiện cam kết của họ với Kiev với tư cách là một đồng minh.
Tuy nhiên, phương Tây không cần thiết phải nhấn mạnh đến việc Nga sáp nhập Crimea để tránh gây phản cảm không cần thiết cho Moscow và có nguy cơ đối đầu quân sự. Washington có thể tiếp tục ủng hộ con đường đi đến dân chủ cho một quốc gia đầy khát vọng nhưng thực tế đang buộc Mỹ phải cân nhắc về điều này dựa trên cả thực tế lịch sử và địa lý: Moscow sẽ không chấp nhận việc Ukraine gia nhập NATO và càng cố gắng thực hiện điều đó, thì sẽ có thể nhận lại hậu quả.
Một khía cạnh khác của vụ việc này là chính quyền trên bán đảo Crimea đã ủng hộ chính quyền của Putin. Tác giả bài báo cho rằng, việc Anh di chuyển bên trong vùng lãnh hải tranh chấp Crimea chắc chắn là một hành động khiêu khích đối với bán đảo này mà kể cả dưới chính quyền của ai cũng sẽ bị phản đối. Như vậy, ngay cả bản thân Crimea cũng không cảm thấy cảm kích về hành động do thám, khiêu khích Nga của phương Tây.
Trong khi đó, bản thân Anh cũng cần nhận thấy rằng, thực hiện hành động khiêu khích ở Biển Đen nằm bên ngoài lợi ích quốc gia của chính Anh hoặc của bất kỳ quốc gia NATO nào khác. Loại hành vi này có nguy cơ phá sản khi liên minh do Mỹ dẫn đầu cuối cùng có thể bị mất mặt.
Khi mỗi bên cả Nga và phương Tây dần dần vượt qua ranh giới, việc rút lui trở nên khó khăn hơn vì hậu quả là gây thiệt hại cho danh tiếng của mỗi quốc gia.
Ở giai đoạn cực đoan hơn, ngay cả một cuộc chạm trán quân sự quy mô nhỏ cũng có thể chỉ thu được thiện cảm ban đầu từ những người dân trong nước ở phương Tây.
Sự leo thang quân sự không thể tránh khỏi ở biên giới của Nga sẽ làm cạn kiệt sự ủng hộ đối với phương Tây và hậu quả là họ sẽ thất bại một khi Nga quyết tâm ra trận.
Cuối cùng, chiến thuật khiêu khích của NATO cho thấy chúng không có bất cứ một hiệu quả nào đối với Nga và nếu tiếp tục phương pháp tiếp cận này ở Crimea thì nó sẽ chỉ làm giảm uy tín của Washington và các đồng minh NATO.
Thứ Ba, 20 tháng 7, 2021
Chuyện thường... ít kể!
Vì sao số ca nhiễm tại TP HCM tăng liên tục?
Đề xuất giảm chuyến bay chặng TP HCM - Hà Nội
Bất bình đẳng vaccine khoét hố sâu toàn cầu
Vất cá rô, vồ săn sắt
Lan tỏa ngược
Thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực, có bước phát triển mới
Cụ thể: hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên; nội dung, phương thức quản lý nhà nước từng bước điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Tổ chức bộ máy nhà nước từng bước được kiện toàn theo hướng tinh giản biên chế, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước được tăng cường. Thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, đối thoại, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Những đặc điểm riêng có của Việt Nam, gồm: sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống dân tộc và kinh nghiệm, khả năng ứng phó thách thức là những yếu tố mang tính then chốt để Việt Nam vượt qua thách thức toàn cầu chưa từng có. Với thực hiện mục tiêu “kép” vừa phát triển kinh tế, vừa phòng, chống COVID-19 hiệu quả, đã chứng minh tính ưu việt của chế độ, khả năng quản trị quốc gia tốt, bản lĩnh và khả năng ứng phó với thách thức của Đảng và Nhà nước ta. Nó góp phần làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn rằng, toàn Đảng, toàn dân ta đang đi đúng hướng trong việc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa mang đặc điểm Việt Nam. Đồng thời, phản bác mọi xuyên tạc của các thế lực thù địch về bản chất của chế độ ta, tính hiệu lực, hiệu quả của Đảng và Nhà nước ta.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên cho thấy: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa khác về bản chất với nhà nước pháp quyền tư sản. Pháp quyền dưới chủ nghĩa tư bản, về thực chất, là công cụ bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chủ nghĩa xã hội là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Đất nước ta đang thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng với những mục tiêu và khát vọng đưa nước ta trở thành một nước phát triển có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” dưới sự lãnh đạo của Đảng là một xu thế khách quan, mang tính quy luật; tạo sự đồng thuận và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc
Quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân. Theo tư tưởng của Người, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước. Toàn bộ quyền lực Nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân. Điều 1, Hiến pháp 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo, khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Quan điểm của Ðảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể hiện xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, dân tộc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo”, được cụ thể hóa tại Khoản 1, Điều 2, Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”.
Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Với Hiến pháp năm 1946, chủ nghĩa lập hiến và quyền con người từ các giá trị tư tưởng đã trở thành các giá trị pháp luật hiện thực trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những quy định của Hiến pháp năm 1946 là những chuẩn mực hiến định đầu tiên cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đã hơn 75 năm qua, 5 bản Hiến pháp đã lần lượt tương ứng với các giai đoạn phát triển của cách mạng nước ta. Vượt lên tất cả sự thăng trầm, phức tạp của thời cuộc, mỗi bản Hiến pháp (các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013) là một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
Quan điểm cho rằng nhà nước pháp quyền là sản phẩm, thành tựu của chủ nghĩa tư bản là một quan điểm hoàn toàn sai, tự biện và duy ý chí.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành và thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng từ thời cổ đại. Ở phương Đông, đó được xem là tư tưởng pháp trị của các nhà pháp gia, như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi, v.v. Quản Trọng chủ trương đề cao “Luật, lệnh, hình, chính”, vua phải giữ pháp, “không vì vua muốn mà thay đổi lệnh, lệnh đáng tôn hơn vua”. Hàn Phi coi pháp là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị đất nước, khi thi hành pháp luật thì không kể đến tình cảm riêng, không câu nệ chuyện thân sơ, sang hèn, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật: “pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu”. Ở phương Tây, điển hình là: Xô-crát (469 - 399 Tr.CN), Arixtốt (384 - 322 Tr.CN), Xixêrôn (l06 - 43 Tr.CN). Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như: John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), J.J.Rút-xô (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hêghen (1770 - 1831),… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới. Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền như Tômát Jepphecxơn (1743 - 1826 - tác giả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 - 1809), Jôn A đam (1735 - 1826), v.v.
Như vậy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền có từ rất sớm, có trước chủ nghĩa tư bản; nó là sản phẩm của nhân loại. Do đó, nhà nước ấy phải có tính từ: nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền không chỉ có đóng góp của các triết gia trước tư sản, mà còn có sự đóng góp của những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội. C.Mác, Ph.Ăgghen và VI.Lênin dù không chính thức nói đến nhà nước pháp quyền như là một trong những nội dung chính yếu trong học thuyết của mình, nhưng các ông luôn quan tâm đến Nhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật. Trong các bài viết, bài nói, họ đã thể hiện tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăgghen được thể hiện trong các tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học”, “Phê phán triết học pháp quyền Hegel”,v.v. C.Mác chỉ ra cơ sở xã hội như nền tảng vật chất của pháp luật; Ông cho rằng “chế độ dân chủ không phải con người tồn tại vì luật pháp mà luật pháp tồn tại vì con nguời”. Ph.Ăghen viết: “đối với chúng ta,… điều bất di bất dịch là quan hệ giữa người cầm quyền và người bị lãnh đạo phải được thiết lập trên cở sở pháp luật”1. VI.Lênin tiếp thu, phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăgghen và đưa học thuyết của các Ông đến mức độ hoàn bị hơn. VI.Lênin nói: “Nếu không rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta tức khắc có thể làm việc cho chủ nghĩa xã hội mà không cần phải có một tiêu chuẩn pháp quyền nào cả”. Trong xây dựng Nhà nước Xô viết, VI.Lênin nhiều lần đòi hỏi bộ máy chính quyền phải thật sự là của nhân dân lao động, phải thật sự bảo đảm dân chủ, phải dùng pháp luật (pháp luật Xô viết) để đấu tranh chống sự lề mề, quan liêu, hối lộ (tức là phải sử dụng pháp luật, đưa pháp luật lên trên hết)2, v.v. Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội dù không xem nhà nước pháp quyền là bộ phận trong học thuyết của mình, nhưng trong toàn bộ học thuyết vĩ đại ấy đã thể hiện quan điểm về những yếu tố pháp quyền, góp phần làm phong phú tư tưởng về nhà nước pháp quyền và đặt ra những ý tưởng mầm mống về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn lịch sử nhân loại minh chứng, nhà nước pháp quyền ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi hàng loạt yếu tố. Các yếu tố này về thực chất là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác định bởi các điều kiện về lịch sử, truyền thống - văn hóa, tâm lý xã hội của mỗi dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa và môi trường địa lý. Vì thế, không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi quốc gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp. Do vậy, nói nhà nước pháp quyền là sản phẩm, là thành tựu của chủ nghĩa tư bản là một quan điểm hoàn toàn sai lầm.
Động cơ thông tin
Giá như...!
Sao trước kia không...
Bài học từ hai câu chuyện ngụ ngôn
Cán bộ làm gì hay không làm gì?
Khi cấp dưới không “dám nói”!
Xu thời, cơ hội, thực dụng
Triết lý “bốn sạch”
Nhận diện từ sớm, đấu tranh từ xa, chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính, bảo vệ nội bộ chính là yếu tố quan trọng, góp phần vô hiệu hóa sự tác động, ảnh hưởng của các quan điểm thù địch, độc hại.
Tổng Bí thư, sau khi đề cập đến những khuyết điểm, hạn chế và những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục chỉ ra sự chống phá, can thiệp, âm mưu “diễn biến hòa bình” tiếp tục là một trong những nguy cơ, trở lực của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta đã chỉ ra từ nhiều kỳ đại hội trước. Thực tế cho thấy, hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch là một trong những nội dung chính trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Do tính chất thâm độc, hậu quả nghiêm trọng, lâu dài, phương thức, thủ đoạn khó lường, khó nhận diện của nó nên chúng ta không được phép chủ quan, mất cảnh giác, không để bị tiêm nhiễm yếu tố độc hại vào tư tưởng, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân rồi mới triển khai biện pháp phòng, chống. Chúng ta phải đi trước một bước, phải có biện pháp phòng ngừa, triệt tiêu cái nguy cơ, mối đe dọa từ gốc, từ sớm, từ xa, đấu tranh bằng cả chính trị và khoa học - kỹ thuật, vừa trước mắt, vừa lâu dài, đấu tranh từ trong nước đến tận trung tâm phá hoại, sào huyệt của các thế lực thù địch ở bên ngoài.
Các ban, ngành chức năng, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác đấu tranh, phản bác cần phải thường xuyên nghiên cứu, nhận diện, phát hiện sớm những phương thức, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch để kịp thời tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân biết để nâng cao cảnh giác, không tin theo, nghe theo những luận điệu đó. Không chỉ đấu tranh, phản bác các quan điểm phản động, thù địch mà còn phải nhận diện kịp thời và đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm lập lờ, sai trái, thật giả lẫn lộn của các đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các phần tử thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn. Cần phải cô lập, chia cắt mối liên hệ giữa các thế lực thù địch với các phần tử này trong nội bộ để phá thế “nội công, ngoại kích”, “tác động chuyển hóa” theo ý đồ của chúng.
Đi đôi với việc chủ động tổ chức các hình thức đấu tranh, phản bác, các tổ chức đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang từ cấp cơ sở đến Trung ương cần xác định trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng thì phòng ngừa, bảo vệ nội bộ, bảo vệ bên trong là chính. Cần thấy rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng, tinh thần cảnh giác cho đảng viên, cán bộ và nhân dân, coi đây là pháo đài không thể công phá. Cần lồng ghép vấn đề phòng ngừa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với các phong trào cách mạng, phong trào thi đua yêu nước ở các đơn vị, địa phương, triển khai đến từng người, từng gia đình ở khu dân cư, tổ dân phố, các tổ chức chính trị - xã hội để làm tốt công tác phòng ngừa trước sự tác động của các thông tin xấu, độc. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và những cá nhân có uy tín tiếp tục tăng cường đăng tải, công bố những bài viết, bài phát biểu để tuyên truyền, động viên, khích lệ, củng cố, tăng cường và lan tỏa niềm tin, tình cảm thiêng liêng đến đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân vào những thời điểm thích hợp như bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa qua là một ví dụ điển hình.