Thứ Tư, 21 tháng 7, 2021

Con mắt giả

Trước đây, tôi và K cùng thi đỗ vào đại học. Tôi trở thành sinh viên khoa ngữ - văn, Trường đại học Tổng hợp; K là sinh viên khoa văn, Trường đại học Sư phạm. Sau khi tốt nghiệp, tôi được phân công về một cơ quan báo chí, rồi ngay sau đó được cử làm phóng viên mặt trận ở chiến trường B (tức miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước); K thì được giữ lại trường làm cán bộ tổ chức. Thú thật, sinh viên chúng tôi thời đó, anh nào vừa mới tốt nghiệp đã được cử ngay vào chiến trường là "oai" lắm; nếu được giữ lại trường thì phải là cán bộ giảng dạy mới thích, chứ làm cán bộ tổ chức như K thì chẳng mấy ai mê (mặc dù người phải rất được tin cậy, lý lịch đủ tiêu chuẩn mới được phân công làm việc đó). Tôi mãn nguyện đã đành. K cũng có cái để tự an ủi. Chẳng những hài lòng với công tác được phân công, mà K còn rất say mê nó nữa. Điều chứng minh rõ rệt cho việc này là từ khi tốt nghiệp đại học đến nay, anh chỉ chuyên làm công tác tổ chức cán bộ. Nếu không phải là người say mê công việc, có tài và có tâm thì K không thể tiến bộ nhanh và có nhiều thành tích đến như vậy. Từ một cán bộ bình thường anh lần lượt được đề bạt làm phó phòng, trưởng phòng, rồi vụ phó, vụ trưởng và bây giờ là một cán bộ cao cấp thuộc hàng VIP trong lĩnh vực tổ chức cán bộ. Tạm gác lại những chuyện về K, bây giờ tôi chuyển sang nói tản mạn đôi điều về Q (cũng là một người tôi quen biết). Phải nói ngay để bạn đọc hiểu tất cả những chuyện về K và Q đều có liên quan với nhau. Lúc đầu Q cũng là một cán bộ nhà nước. Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới thì Q xin thôi việc nhà nước ra ngoài làm ăn, sau đó, trở thành một doanh nhân thành đạt. Và, bây giờ là một doanh nhân "cỡ bự". Phải nói là anh rất giàu, tới mức ai bảo anh là tỉ phú đô-la thì anh hơi đỏ mặt, cảm thấy ngượng vì chưa xứng tầm. Nhưng nếu bảo anh là tỉ phú "VNĐ" thì anh lại nhăn mặt, tỏ vẻ khó chịu, bởi vì nói như thế chẳng bằng coi thường anh quá. Anh vẫn khoe với mọi người: "Tôi làm giàu một cách chính đáng, bởi vì những tiêu chí để trở thành một doanh nhân thành đạt là tài, tâm, trí, tín thì tôi đều có cả". Tôi sẽ không sa đà vào việc phân tích Q đã làm giàu như thế nào và việc làm giàu đó có chính đáng hay không, bởi vì nhân vật chính của câu chuyện này là K. Xin được nói tiếp. Trong một lần bị tai nạn, không may anh Q bị hỏng con mắt trái. Mặc dù được đưa đi cấp cứu kịp thời, song vì vết thương quá nặng, các bác sỹ đành khoét bỏ con mắt đó để đề phòng những biến chứng có thể xảy ra đối với con mắt bên phải. Thấy người ta mách bảo kỹ thuật nhãn khoa của Mỹ giỏi lắm, anh bèn sang đó để làm con mắt giả. Đúng là y học Mỹ giỏi thật. Con mắt giả của anh không khác gì con mắt thật, đến nỗi, có người còn khuếch trương rằng, nếu không có sự hỗ trợ của máy móc hiện đại thì cũng chịu không phân biệt được con mắt nào thật, con mắt nào giả. Có lẽ trong cái rủi cũng có cái may. Q rất hài lòng về con mắt giả của mình. Đôi lúc anh còn nói đùa: "Tớ vẫn thừa sức tán gái". Trở lại chuyện về K. Anh đúng là người có năng khiếu về công tác tổ chức cán bộ. Người ta ca ngợi anh rằng: "Phải, trái; trắng đen; vàng, thau… anh không bao giờ lẫn lộn". Nói như thế tức là trong cách nhìn người anh tài lắm. Đó không phải là cái tài xem tử vi, tướng số đâu mà là cái tài thực được tích lũy từ kinh nghiệm của những năm làm công tác tổ chức cán bộ. Chẳng hạn, nhìn qua một người nào đó, anh có thể nói ngay một cách chính xác rằng, anh ta thuộc hạng người trung thực hay xảo trá, có thể tin được hay phải cảnh giác đề phòng… Chắc hẳn K phải là một con người như vậy cho nên mới được cấp dưới quý trọng, cấp trên tin dùng. Tất nhiên là tôi cũng rất tin và rất phục K. Mặc dù là chỗ bạn bè thân quen, song tôi vẫn muốn bí mật thử làm một cuộc trắc nghiệm. Tôi dẫn Q đến nhà K chơi. Để K yên tâm, tôi nói luôn: "Q cũng là bạn. Mình muốn giới thiệu để hai ông quen biết nhau, chứ không phải để nhờ vả nhau đâu". Trong không khí cởi mở, thân mật, Q khoe với K là mới sang Mỹ làm con mắt giả. Anh hết lời ca ngợi trình độ y học của nước Mỹ, rồi đột nhiên đố K: "Tôi đố anh con mắt nào là thật, con mắt nào là giả". K thoáng nhìn rồi chỉ ngay vào con mắt trái của Q: "Con mắt này là mắt giả". Q sững sờ nhìn K thán phục, rồi thốt lên câu hỏi: "Sao ông biết?". K bình thản trả lời: "Bởi vì con mắt đó trông hiền chứ không gian như con mắt phải". Dường như thấy mình hơi thiếu tế nhị, nên K bèn đính chính: "Tức là trông nó không lanh lợi bằng". Biết bị xỏ ngọt, nhưng Q vẫn vui vẻ - vui vẻ trong sự thán phục K một cách thật lòng. Có người nói, trong công tác tổ chức cán bộ nếu làm đúng được 60% cũng là tốt lắm rồi. Đó là câu nói cửa miệng của một quan chức cao cấp phụ trách lĩnh vực này vào những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ trước. Riêng tôi lại nghĩ hơi khác: "Trong công tác tổ chức - cán bộ, nếu có được nhiều người như K thì sự đúng đắn không chỉ ở mức 60% mà chắc chắn phải cao hơn thế nhiều".

Phương Tây thất bại khi thử lòng Putin ở Biển Đen

 

Phương Tây thất bại khi thử lòng Putin ở Biển Đen

Tạp chí National Interest của Mỹ mới đây có bài bình luận của tác giả Dominick Sansone, nghiên cứu sinh tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp của Đại học Johns Hopkins ở Bologna, Ý đánh giá về chiến thuật của phương Tây trong vụ "thử sức" Nga trên Biển Đen hồi tháng 6.

Vụ Hải quân Anh đưa tàu chiến HMS Defender vào vùng biển Crimea buộc phía Nga phải phản ứng đã có nhiều phiên bản sự kiện. Tại Nga, Moscow khẳng định tàu Anh đã đi sâu vào vùng biển Crimea 3km và buộc phía Nga phải bắn cảnh cáo.

Tại Anh, Thủ tướng Boris Johnson phủ nhận: không có vụ bắn cảnh cáo nào. HMS Defender chỉ đơn giản là thực hiện một chuyến đi theo lịch trình qua lãnh hải của Ukraine “phù hợp với luật pháp quốc tế”.  

Tác giả bài báo cho rằng, dù Anh không thừa nhận việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea và thể hiện tình đoàn kết quốc tế với Ukraine thì đối với Nga cũng chẳng hề gì. Nhưng Nga buộc phải hành động khi tàu chiến của Anh, một thành viên NATO, đi vào lãnh thổ mà họ coi là vùng biển của họ từ lịch sử của nước Nga.

Tác giả Dominick Sansone đã dẫn giải thích của Tổng thống Nga Vladimir Putin trong vụ việc này, đó là sự phối hợp giữa các thành viên NATO, ở đây là cả Mỹ và Anh, đã cho thấy hành động do thám, khiêu khích đối với Nga. Sáng cùng ngày tàu chiến Anh tới vùng biển Crimea, một máy bay của Mỹ cũng đã xuất hiện.

Ông Putin tiếp tục tuyên bố rằng mục tiêu chính khi tàu Anh qua lại là để xác định thông tin quân sự từ cảng của Nga tại Crimea.

Theo Điện Kremlin, các vụ việc trong nhiều tuần qua cho thấy tham vọng của phương Tây trong việc phớt lờ luật pháp quốc tế và di chuyển các căn cứ quân sự đến gần biên giới Nga. Việc tàu hộ vệ HMS đi qua vùng biển Crimea được coi là một nỗ lực trực tiếp làm suy yếu tinh thần của cuộc gặp giữa Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Geneva, Thụy Sĩ hôm 16/6.

Đối với ông Putin, khía cạnh đáng báo động nhất của sự cố HMS Defender không phải là việc Thư ký báo chí Lầu Năm Góc John Kirby  bác bỏ thông tin cho rằng người Nga đã bắn cảnh cáo tàu chiến Anh mà là những chuyển động của phương Tây khi Nga đã chấp thuận việc lùi lại một bước.

Còn nhớ đầu năm nay, Nga đã tiến hành cuộc tập trận quân sự rầm rộ trên lãnh thổ nước mình, vùng biên giới với Ukraine. Khi đó, các nước phương Tây liên tục bày tỏ sự quan ngại và phía Nga nhiều lần giải thích họ chỉ đang tập trận quân sự trên lãnh thổ của mình trong khi NATO đã rầm rộ tập trận ngay sát sát Nga.  

Sau đó vài tháng, Nga đã thúc đẩy cuộc gặp trực tiếp với chính quyền mới của Tổng thống Joe Biden, cho thấy những bước hạ nhiệt thận trọng trong bối cảnh vẫn chịu sức ép trừng phạt lớn chưa từng thấy từ Washington.

Nhưng rồi các hành động lui một bước đó của ông Putin lại nhận về sự gia tăng khiêu khích của các đồng minh Mỹ mà chắc chắn là đã được Washington giật dây để điều tàu chiến tới Biển Đen, thăm dò, khiêu khích Nga.

Moscow liên tục nhắc với phương Tây rằng, Nga coi việc Ukraine gia nhập NATO là không thể chấp nhận được về mặt chiến lược và bận tâm với khái niệm về việc nó sẽ trở thành một tiền đồn của phương Tây ở biên giới với Nga.

Để thể hiện quyết tâm của mình khi đối mặt với hành động gây hấn này, Nga đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự ở Biển Đen vào ngày 3/7, trong đó các máy bay chiến đấu thực hành ném bom tàu ​​địch.

Câu hỏi đặt ra là: Phương Tây thu được lợi thế chiến lược nào từ kiểu thao diễn khiêu khích này?

Một số quan điểm cho rằng, điều đó là để tăng cường mối quan hệ quân sự của NATO với Ukraine và thể hiện cam kết của họ với Kiev với tư cách là một đồng minh.

Tuy nhiên, phương Tây không cần thiết phải nhấn mạnh đến việc Nga sáp nhập Crimea để tránh gây phản cảm không cần thiết cho Moscow và có nguy cơ đối đầu quân sự. Washington có thể tiếp tục ủng hộ con đường đi đến dân chủ cho một quốc gia đầy khát vọng nhưng thực tế đang buộc Mỹ phải cân nhắc về điều này dựa trên cả thực tế lịch sử và địa lý: Moscow sẽ không chấp nhận việc Ukraine gia nhập NATO và càng cố gắng thực hiện điều đó, thì sẽ có thể nhận lại hậu quả.

Một khía cạnh khác của vụ việc này là chính quyền trên bán đảo Crimea đã ủng hộ chính quyền của Putin. Tác giả bài báo cho rằng, việc Anh di chuyển bên trong vùng lãnh hải tranh chấp Crimea chắc chắn là một hành động khiêu khích đối với bán đảo này mà kể cả dưới chính quyền của ai cũng sẽ bị phản đối. Như vậy, ngay cả bản thân Crimea cũng không cảm thấy cảm kích về hành động do thám, khiêu khích Nga của phương Tây.

Trong khi đó, bản thân Anh cũng cần nhận thấy rằng, thực hiện hành động khiêu khích ở Biển Đen nằm bên ngoài lợi ích quốc gia của chính Anh hoặc của bất kỳ quốc gia NATO nào khác. Loại hành vi này có nguy cơ phá sản khi liên minh do Mỹ dẫn đầu cuối cùng có thể bị mất mặt.   

Khi mỗi bên cả Nga và phương Tây dần dần vượt qua ranh giới, việc rút lui trở nên khó khăn hơn vì hậu quả là gây thiệt hại cho danh tiếng của mỗi quốc gia.

Ở giai đoạn cực đoan hơn, ngay cả một cuộc chạm trán quân sự quy mô nhỏ cũng có thể chỉ thu được thiện cảm ban đầu từ những người dân trong nước ở phương Tây.

Sự leo thang quân sự không thể tránh khỏi ở biên giới của Nga sẽ làm cạn kiệt sự ủng hộ đối với phương Tây và hậu quả là họ sẽ thất bại một khi Nga quyết tâm ra trận.

Cuối cùng, chiến thuật khiêu khích của NATO cho thấy chúng không có bất cứ một hiệu quả nào đối với Nga và nếu tiếp tục phương pháp tiếp cận này ở Crimea thì nó sẽ chỉ làm giảm uy tín của Washington và các đồng minh NATO.

 

Thứ Ba, 20 tháng 7, 2021

Chuyện thường... ít kể!

Trong vô vàn chuyện ở các doanh nghiệp, thì chuyện xây dựng các tổ chức đảng thường được kể nhiều nhất, đặc biệt ở những nơi chuyện ấy được thực hiện thật thông đồng bén giọt. Và, không ít tổ chức đảng ra đời cũng thật suôn sẻ. Nhưng, có biết đâu rằng, đằng sau sự xuôi chèo mát mái ấy còn không ít việc lên thác xuống ghềnh. Và, chính sự khó khăn đó cũng là nguyên do khiến cho không ít doanh nghiệp, dù nỗ lực tới mấy, vẫn chưa vượt qua được những “cửa ải”, chưa lập được tổ chức đảng. Do đấy, họ chịu không ít thiệt thòi. Mà những việc này, chính là những rào cản, lại thường ít được... kể ra. “Chân le... chân vịt!” Doanh nghiệp tư nhân A. thành lập được 4 năm, chỉ có hai đảng viên, nên chưa lập được chi bộ. Hai đảng viên sinh hoạt ở đâu? Loay hoay mãi, cấp ủy cấp trên đành ghép họ về sinh hoạt với chi bộ thôn A - nơi doanh nghiệp đứng chân. Đâm ra, làm việc hưởng lương tới một nơi, sinh hoạt đảng lại về một nẻo. Mọi thứ cứ khấp kha khấp khiểng. Chuyện làm ăn cấy cày, hai đảng viên đành ngồi nghe cho phải “đạo”. Còn chuyện sản xuất, kinh doanh ở doanh nghiệp, các đảng viên khác của chi bộ, nghe cho... vui, rồi để đấy (!). Công tác phát triển Đảng, vì thế cũng thành ra “gặp chăng hay chớ”. Công đoàn, Đoàn Thanh niên giới thiệu đối tượng đảng... thì ai xét, ai giúp đỡ? Cấp ủy cấp trên, Công đoàn và cấp bộ Đoàn cấp trên, cũng... lúng túng không kém. Thế là thành chuyện năm... thì.... mười.... họa... xa xôi! Hai đảng viên thì than vẫn cảnh chân le... chân vịt! Chi bộ thôn chẳng vui, khi sinh hoạt: “Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt”. Chỉ tội cho các đoàn thể chính trị! Cứ thế này, bao giờ doanh nghiệp mới có chi bộ? “Sống ở cuối sông... lo tận ngọn nguồn”! Ấy là chuyện hằng tháng, một đảng viên về họp chi bộ và đóng đảng phí thay cho hai đảng viên làm kinh tế xa nhà tận miền Nam. Và, cứ thế, ba đảng viên xa nhà ấy cắt phiên thay nhau về họp và lĩnh hội nghị quyết chi bộ đem vào tít... Đồng Nai, để phổ biến cho nhau nghe. Khoan hẵng bàn chuyện nói và làm theo nghị quyết của họ đến đâu, chỉ mỗi chuyện ra Bắc vào Nam, chợt nghe thôi, đã ngại ngùng khôn kể. Đồng chí Bí thư Chi bộ hỏi: - Sao không chuyển sinh hoạt Đảng vào đó? Nhưng chuyển về đâu, khi ba đồng chí lại làm ăn lưu động, nay đây, mai đó? Về nơi các đồng chí làm ư, lại mắc chuyện hộ khẩu. Bao nhiêu phiền toái khác nữa? Thành ra, thượng sách là... cứ cắt phiên nhau lần lượt ra họp và đóng đảng phí theo Điều lệ Đảng. - Nhưng như thế mãi, cũng mỏi lắm rồi! Chẳng rõ, còn ra, vào được mấy lần và bao lâu nữa. Nước này, có lẽ tôi xin... thôi thôi! Một đồng chí than thở với chi bộ! Sao ở cuối sông mà lo chuyện thượng nguồn được mãi! Mà chi bộ cũng chả giám sát được chúng tôi. Tự mình giữ gìn tư cách mình là quyết định. Xem những chuyện ấy, đã và đang diễn ra rất không hiếm. Tôi thì tôi nghĩ, nên chăng đã đến lúc chúng ta cấp “Thẻ Sinh hoạt Đảng” cho những đảng viên như thế. Họ chỉ cần thẻ ấy và “Thẻ đảng viên”, tới nơi họ làm việc và sinh hoạt đảng bình thường. Còn chuyện ghép sinh hoạt đảng, chỉ cần cấp ủy cấp trên điều chuyển đảng viên hoặc Công đoàn, Đoàn Thanh niên đổi mới thủ tục giới thiệu nguồn phát triển Đảng, để kết nạp người vào Đảng cho phù hợp. Tối thiểu, như thế, âu những chuyện phổ biến, nhưng thường ít... được kể ấy, sẽ sớm thành cổ tích!

Vì sao số ca nhiễm tại TP HCM tăng liên tục?

Chín ngày giãn cách, trung bình TP HCM ghi nhận gần 2.000 ca nhiễm mỗi ngày - cao hơn 3,2 lần trước đó, nhưng dự kiến con số này chưa giảm những ngày tới. Theo Phó giám đốc Sở Y tế Nguyễn Hoài Nam, số lượng F0 tăng nhanh những ngày qua do thành phố đang tập trung lấy mẫu xét nghiệm vùng lõi của các ổ dịch. "Mục tiêu của chúng ta trong đợt dịch này là cố gắng tách nhóm F0 ra khỏi cộng đồng dân cư", ông Nam nói. Số nhiễm theo ngày của TP HCM được công bố tăng vọt lên mốc hơn một nghìn ca bắt đầu từ 9/7 - ngày đầu tiên thành phố thực hiện đợt giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16. Sau 9 ngày, tổng nhiễm là 17.633 ca trong khi 9 ngày trước đó ở mức 5.477 - tức khoảng 608 ca mỗi ngày. Trong đó, số nhiễm phải điều tra dịch tễ, tức những F0 ghi nhận khi đến khám ở các bệnh viện, sàng lọc ngẫu nhiên... cũng tăng cao hơn 3,4 lần so với cùng giai đoạn trước đó. Những ngày qua, TP HCM đang tập trung cho việc xét nghiệm ở khu vực trọng tâm, trọng điểm. Vùng lõi nguy cơ cao sẽ được lấy mẫu trước, sau đó mở rộng ra các khu vực bên ngoài với phương thức "đi đến từng hẻm, gõ cửa từng nhà", thay cho hình ảnh xếp hàng xét nghiệm quy mô lớn, cả ngày lẫn đêm vì mục tiêu tầm soát cho 5 triệu dân - khoảng 50% dân số thành phố, trước đó. Phó chủ tịch UBND thành phố Ngô Minh Châu - người phụ trách điều phối xét nghiệm nói, công tác xét nghiệm trên địa bàn đã có sự thay đổi. Trước đây, thành phố có kế hoạch nâng công suất lấy mẫu mỗi ngày lên 500.000 theo chủ trương tầm soát diện rộng và thực hiện được một thời gian. "Tuy nhiên, qua đó cũng thấy có nhiều điểm cần rút ra. Chúng ta lấy một lượng mẫu rất nhiều nhưng năng lực thực tế không đạt được nên đã phát sinh nhiều vấn đề", ông Châu nói, đề cập đến năng lực không đảm bảo, áp lực chỉ tiêu lấy mẫu lớn dẫn đến việc nhập liệu, lấy mẫu chất lượng không cao. "Tỷ lệ phát hiện các ca F0 thấp, chỉ đạt 0,06-0,08%. Điều này cho thấy công sức đổ ra nhiều nhưng kết quả thu hoạch không cao gây lãng phí về nhân lực cũng như thời gian", ông Châu nói và cho biết Ban chỉ đạo chống Covid-19 thành phố đã thấy rõ và cho thành lập trung tâm điều phối lấy mẫu xét nghiệm để việc này đi vào chiều sâu, hiệu quả hơn. Theo ông Châu, chiến lược lấy mẫu của thành phố không "đánh bao vây" nữa mà đã "đánh thẳng" vào trung tâm, trọng điểm dựa vào các khu vực nguy cơ rất cao, nguy cơ cao và nguy cơ, tới mức độ thấp hơn rồi từ đó "đánh ra xung quanh". Việc này đã đem lại hiệu quả rõ nét. "Thành phố tập trung lấy mẫu ở những nơi khả năng lây nhiễm rất cao như các chợ đầu mối, các khu đông dân cư, nhất là các khu nhà trọ của công nhân, rất đông người nhưng diện tích nhỏ, hẹp", ông Châu nói. Từ công tác lây mẫu, thành phố xác định nhiều ổ dịch quy mô lớn như chợ Bình Điền với hơn 800 ca F0, đã lan ra rất nhiều nơi như khu vực xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, khu vực phường 5, 7, quận 8... Trước đó, thành phố cũng đã chia các quận huyện thành 3 nhóm để có mức độ ứng phó phù hợp. Các khu vực Bình Tân, Hóc Môn, Bình Chánh, quận 8, Tân Phú và TP Thủ Đức thuộc nhóm nguy cơ rất cao... đến nay đều đã ghi nhận 2.000 ca nhiễm mỗi quận; tại địa bàn mỗi quận huyện cũng phân thành các khu vực theo mức độ để có biện pháp chống dịch khác nhau, gồm cả chiến lược xét nghiệm. Phó giám đốc Sở Y tế Nguyễn Hoài Nam nhận định, nếu lấy hết được mẫu vùng lõi thì đảm bảo thời gian tới lấy ra vòng ngoài là vòng nguy cơ, về nguyên tắc số ca chắc chắn sẽ giảm xuống. Đánh giá kết quả thành phố làm được sau 7 ngày thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16, Phó chủ tịch UBND thành phố Ngô Minh Châu nói rằng điểm nổi bật nhất là thành phố đã hạn chế mức thấp nhất lây lan trong cộng đồng, không phát sinh các ổ dịch phát sinh mới. Hiện thành phố còn 24 ổ dịch đang diễn tiến, trong đó 6 ổ dịch ở các chợ, 10 ổ dịch ở khu dân cư, 6 ổ dịch tại các công ty, khu công nghiệp... Ngoài ra, lãnh đạo UBND thành phố cũng cho rằng sự kết hợp giữa việc lấy mẫu đơn, mẫu gộp PCR và test nhanh đã góp phần nâng cao hiệu quả chống dịch. Cụ thể, thời gian qua việc sử dụng mẫu test nhanh đã giúp cho công tác xét nghiệm rút ngắn thời gian, kết quả tốt hơn, phát hiện nhiều F0 hơn. Thành phố cũng tổ chức tập huấn thực hiện test nhanh cho các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu Công nghệ cao và doanh nghiệp trên địa bàn nhằm tăng cường sự chủ động trong phòng chống dịch. Theo Ban chỉ đạo chống Covid-19 TP HCM, những ngày tới, thành phố sẽ tận dụng tối đa thời gian giãn cách còn lại để đẩy lùi dịch. Trong đó, việc xét nghiệm sẽ tiếp tục làm theo trọng tâm, trọng điểm để xác định ổ dịch, tầm soát, loại bỏ nguồn lây và tách F0 ra khỏi cộng đồng. Cụ thể, người dân khu phong tỏa sẽ được lấy mẫu 2-3 ngày/lần, người dân nơi nguy cơ lây nhiễm cao là 5-7 ngày/lần. Việc lấy mẫu sẽ tổ chức tại điểm có quy mô nhỏ, nơi sản xuất, kinh doanh, khu công nghiệp; chia theo khung giờ. Người dân được lấy mẫu theo từng hộ, tránh nguy cơ lây nhiễm cộng đồng. "Với một số lượng lớn ca nhiễm được phát hiện vừa qua cho thấy dịch đã tiềm ẩn âm thầm trong cộng đồng. Tôi nghĩ rằng trong những ngày tới, chúng ta sẽ phát hiện thêm trên dưới 9.000 ca, sau đó mới giải quyết cơ bản được tình hình để trở lại mức độ thấp", ông Châu nhận định. Họp với các tỉnh phía Nam hôm 15/7, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long cũng cho rằng dịch đã lây lan rộng, nhiều ổ dịch xảy ra tại các khu chợ đầu mối, khu công nghiệp, khu dân cư đông người. Vì vậy, ông nhận định TP HCM sẽ tiếp tục ghi nhận số ca mắc mới ở mức cao vài ngày tới, trước khi ổn định. Hiện tổng số ca nhiễm tại TP HCM đã lên hơn 26.000 ca, chiếm hơn 60% số nhiễm cả nước, gây nên nỗi lo quá tải hệ thống y tế. Quan tâm lớn nhất của thành phố lúc này là tập trung điều trị các ca F0 nặng nhằm thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong

Đề xuất giảm chuyến bay chặng TP HCM - Hà Nội

Bộ Giao thông Vận tải kiến nghị khai thác 2 chuyến bay khứ hồi chặng TP HCM - Hà Nội hàng ngày, thay cho 8 chuyến hiện nay. Ngày 20/7, Bộ Giao thông Vận tải đã xin ý kiến Chính phủ về hai phương án khai thác đường bay từ Hà Nội đến các tỉnh phía Nam. Phương án 1 sẽ dừng khai thác các đường bay Cần Thơ - Hà Nội, Phú Quốc - Hà Nội. Đường bay TP HCM - Hà Nội giảm xuống còn 800 khách mỗi ngày (hiện nay tối đa là 1.700). Ưu điểm của phương án này là đảm bảo nhu cầu đi lại của hành khách cần di chuyển giữa hai thành phố lớn, song nhược điểm là nguy cơ lây nhiễm giữa hành khách đi từ TP HCM đến Hà Nội cao. Phương án 2 sẽ dừng khai thác các đường bay Cần Thơ - Hà Nội, Phú Quốc - Hà Nội. Đường bay TP HCM - Hà Nội chỉ khai thác 2 chuyến khứ hồi với khoảng 100- 200 khách mỗi ngày. Bộ Giao thông Vận tải đánh giá phương án này lượng khách đi lại không nhiều nên việc kiểm soát dịch bệnh Covid-19 dễ dàng hơn, nhược điểm là nhu cầu đi lại của hành khách bị hạn chế tối đa. Để bảo vệ thủ đô Hà Nội không diễn biến xấu, Bộ này kiến nghị lựa chọn phương án 2. Hiện nay các cảng hàng không phía Nam thực hiện giãn cách xã hội phòng, chống dịch gồm Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau, Côn Đảo. Ngành hàng không đã dừng khai thác các đường bay đến Rạch Giá, Cà Mau, Côn Đảo, còn các đường bay từ TP HCM, Cần Thơ, Phú Quốc đến Hà Nội giảm tối thiểu chuyến bay. Đường bay Cần Thơ, Phú Quốc và Hà Nội hiện nay chỉ có một chuyến mỗi ngày. Đường bay TP HCM - Hà Nội có 8 chuyến khứ hồi. Cục Hàng không Việt Nam đánh giá, trên đường bay Bắc Nam, lượng khách vận chuyển hàng ngày đều không đạt số lượng được phân bổ. Trong đó, khách từ TP HCM ra Hà Nội khoảng 800-1.000, chiều ngược lại khoảng 200-400 mỗi ngày. Hành khách trên các chuyến bay nội địa đều phải có giấy xét nghiệm âm tính với nCoV còn hiệu lực theo quy định của Bộ Y tế. Hiện nay các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất đều có dịch vụ xét nghiệm cho hành khách. Hành khách đi từ vùng dịch phải chấp hành quy định cách ly của địa phương.

Bất bình đẳng vaccine khoét hố sâu toàn cầu

Khi cuộc đua vaccine Covid-19 bắt đầu, giới chức y tế đã biết trước rằng các nước nghèo sẽ không thể cạnh tranh nổi với những quốc gia giàu có. Tuy nhiên, không nhiều người dự đoán được viễn cảnh nước nghèo phải lệ thuộc vào nguồn vaccine tài trợ từ nước giàu, hoặc tình trạng bất bình đẳng vaccine sẽ ở mức tồi tệ và tồn tại quá dai dẳng như hiện nay. Các nước nghèo mới chỉ tiêm chủng được 1% dân số, trong khi con số này tại Mỹ và trung bình toàn cầu lần lượt là 55% và 25%. Nguyên nhân dẫn đến hố sâu vaccine quá lớn như vậy được cho là bắt nguồn ngay từ định hướng đầu tiên trong phát triển và phân phối vaccine. Các quan chức, chủ yếu đến từ Mỹ và châu Âu, thừa nhận rằng họ chưa bao giờ nghĩ đến bài toán vaccine toàn cầu, mà chủ yếu tập trung phát triển vaccine cho nhu cầu trong nước. Suốt nhiều năm, Mỹ, châu Âu và Ấn Độ được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá cao hàng đầu về mức độ sẵn sàng ứng phó với một đại dịch. Theo Christian Happi, nhà tư vấn của Liên minh Đổi mới Sẵn sàng cho Dịch bệnh (CEPI), tiền đề phát triển vaccine cho đại dịch là "các nước giàu sẽ tài trợ cho những quốc gia đang phát triển". Khi Covid-19 ập tới, những đánh giá này bỗng trở nên lạc quan thái quá, trong bối cảnh Mỹ và các nước châu Âu hứng chịu ảnh hưởng nặng nề ngay từ đầu. Tuy nhiên, họ nắm giữ một lợi thế quan trọng, nhờ sở hữu những công ty phát triển ra các ứng viên vaccine triển vọng nhất, có cơ sở sản xuất tiên tiến và ngân sách dồi dào để tài trợ cho các tập đoàn dược phẩm sản xuất vaccine. Ngày 15/5/2020, tổng thống Mỹ Donald Trump phát động Chiến dịch Thần tốc và cam kết có vaccine Covid-19 trước năm mới. Với tham vọng và nguồn quỹ dồi dào, cố vấn Moncef Slaoui của chiến dịch mạnh tay ký các hợp đồng đặt trước vaccine mà gần như không quan tâm đến giá cả hay điều kiện. "Chúng tôi đương nhiên tập trung thúc đẩy quá trình này nhanh nhất có thể", ông nói. Chiến dịch Thần tốc dường như đã tạo động lực cho cuộc đua vaccine trên thế giới, với Mỹ và Anh ở vị trí dẫn đầu. Joe Biden, người kế nhiệm Trump, hồi đầu năm còn kích hoạt Đạo luật Sản xuất Quốc phòng, cấm xuất khẩu nguyên liệu thô sản xuất vaccine, với nước chịu tác động mạnh nhất là Ấn Độ, nơi được coi là xưởng vaccine của thế giới. Để ngăn tình trạng bất bình đẳng vaccine, sáng kiến Covax ra đời dưới sự dẫn dắt của WHO, CEPI cùng Liên minh Vaccine và Tiêm chủng Toàn cầu (GAVI), nhằm đảm bảo mọi quốc gia đều được tiếp cận với vaccine Covid-19, bất kể tiềm lực tài chính. Tuy nhiên, Covax không có đủ ngân sách để đảm bảo các hợp đồng cung cấp vaccine. Costa Rica và WHO từng hợp tác đưa ra kế hoạch về một nền tảng chia sẻ công nghệ, nhằm mở rộng sản xuất vaccine. Tuy nhiên, không tập đoàn dược phẩm nào đồng ý chia sẻ công nghệ sản xuất vaccine, ngay cả khi được trả tiền. Cũng không chính phủ nào thúc đẩy sáng kiến này, theo nhiều nguồn tin giấu tên am hiểu vấn đề. Quyền sở hữu trí tuệ được đưa ra đong đếm với ưu tiên sức khỏe cộng đồng. Tại Mỹ, quá trình sản xuất và thử nghiệm vaccine được tiến hành song song, trong khi Liên minh châu Âu (EU) và Anh cũng mở rộng quy mô sản xuất. Vaccine dần được tích trữ tại châu Âu và Bắc Mỹ, cùng một số quốc gia đồng ý chi mạnh tay, còn Covax vẫn chỉ nhận được những cam kết, thay vì "tiền tươi thóc thật". Ngày 8/12/2020, Anh trở thành quốc gia đầu tiên bắt đầu chiến dịch tiêm chủng đại trà, 6 ngày sau đó đến Mỹ. EU nối gót vào ngày 26/12/2020. Trung Quốc và Nga thậm chí tiến hành tiêm chủng trước cả khi công bố dữ liệu từ các vaccine nội địa của họ. Đến ngày 24/2, Covax giao những lô vaccine đầu tiên đến Ghana, gồm 600.000 liều AstraZeneca được sản xuất tại Ấn Độ, nhà cung cấp chính cho chương trình. Tuy nhiên, nguồn cung và hoạt động phân phối của Covax vẫn hết sức nhỏ giọt. Sản xuất vaccine không phải quá trình đơn giản và các nhà máy dược phẩm bắt đầu không đáp ứng đủ nhu cầu. AstraZeneca nhiều lần thông báo trì hoãn giao hàng cho EU. Quá trình sản xuất của Pfizer bị chậm lại một thời gian, trong khi Moderna từng cắt giảm nguồn cung cho Anh và Canada. Ấn Độ, do bị làn sóng đại dịch thứ hai tấn công tàn khốc, đã ngừng xuất khẩu vaccine ít nhất đến cuối năm nay. Một cuộc họp gần đây giữa các thành viên nhóm phân phối vaccine của WHO đã kết thúc mà không đạt được kết quả nào, vì không có vaccine để phân bổ. "Chẳng có liều vaccine AstraZeneca nào, cũng không có vaccine Pfizer hay Johnson&Johnson", Tiến sĩ Bruce Aylward, cố vấn cấp cao của WHO, cho biết. Covax hiện phải dựa vào những nguồn vaccine tài trợ không chắc chắn, với hầu hết cam kết kéo dài đến năm 2022. Tiến sĩ Ingrid Katz, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Y tế Toàn cầu thuộc Bệnh viện Đa khoa Massachusetts của Mỹ, cho rằng câu hỏi chủ chốt là vaccine, cùng những loại thuốc thiết yếu, chỉ là một loại hàng hóa hay quyền lợi. "Một nhóm người nhỏ giàu có về cơ bản sẽ đưa ra những quyết định sống còn cho phần còn lại của thế giới", Katz nhận định. Trong khi đó, Strive Masiyiwa, phái viên phụ trách đàm phán vaccine của Liên minh châu Phi, so sánh tình trạng hiện nay với nạn đói mà "những người giàu nhất mua luôn cả thợ làm bánh". Tình trạng chênh lệch vaccine là điều không thể tránh khỏi, khi những công dân đóng thuế ở các nước giàu cũng mong đợi được đền đáp. Tuy nhiên, quy mô của tình trạng bất bình đẳng, tích trữ vaccine và thiếu kế hoạch khả thi để giải quyết vấn đề đã khiến giới chức y tế ngỡ ngàng. "Đây là vấn đề tương tự những gì chúng tôi từng đối mặt trong đại dịch HIV. 8 năm sau khi phương Tây có các liệu pháp điều trị HIV, chúng tôi vẫn chưa được tiếp cận với chúng, trong khi 10 triệu người mất mạng. Còn bây giờ, chúng tôi không có phép màu vaccine nào với Covid-19", Masiyiwa nói

Vất cá rô, vồ săn sắt

Tục ngữ có câu: "Bỏ con săn sắt, bắt con cá rô", bỏ ra con mồi nhỏ để bắt được con cá to hơn. Đó là lẽ thường tình. Nhưng trên thực tế, có không ít trường hợp ngược lại. Hẳn mọi người còn nhớ, cách nay ngót gần 20 năm, có câu chuyện một vị đại diện của hãng hàng không lớn của nước ngoài tại Việt Nam đã sử dụng con bài gây khó dễ cho khách hàng mua vé đặt chỗ trên các chuyến bay của hãng. Mua vé thì dễ, nhưng đăng ký được chữ OK, nghĩa là đặt được chỗ để bay thì rất khó. Lý do mà mọi khách hàng đều gặp đó là "hết chỗ". Vậy, để có chỗ thì khách hàng phải tìm cách móc ngoặc với vị "tổng quản" này, có người phải "biếu quà", gọi là cám ơn anh đã dành chỗ cho em, ít cũng "một tờ xanh", nhiều thì tùy theo tính chất bức xúc và cả túi tiền gọi là "tấm lòng" của hành khách. Nhưng sau một thời gian, cái quy luật của sự đời, "cái kim trong bọc" ấy rồi cũng đã đến ngày lòi ra. Nhiều người phản ảnh, tại sao đăng ký chỗ thì rất khó, thế mà máy bay vẫn trống chỗ, có khi tới cả một vài chục, là chuyện thường gặp. Một người không biết tính nhẩm cũng đã có thể thấy được, con cá rô bị buộc làm vật hy sinh ở đây là doanh thu, là lợi nhuận của hãng hàng không trong câu chuyện trên. Nhưng con săn sắt bắt được, là tiền quà biếu của hành khách, thì vào túi cá nhân "tổng quản". Sự việc bị phát lộ, và điều hiển nhiên là vị đó bị buộc thôi việc. May mà lúc đó, Luật Chống tham nhũng chưa ra đời. Mới đây, lại nổi lên câu chuyện rằng, có vị "tổng quản" ngân hàng cũng hành xử bằng những "chiêu bài" tương tự. Khách hàng vay tiền để lo đầu tư, tổ chức sản xuất, kinh doanh, góp phần cho tăng trưởng chung của nền kinh tế, lo tạo công ăn việc làm cho người lao động, thì lại rất khó tiếp cận vốn vay của các ngân hàng. Bởi vậy, muốn vay được tiền doanh nghiệp phải lo lót các “tổng quản” để được làm thủ tục suôn sẻ, được giải ngân ngon lành, giải ngân nhanh.... Nhà nước tìm mọi cách, các đại biểu Quốc hội cũng lo đủ điều để chống nạn cho vay nặng lãi, nạn “tín dụng đen”. Nhưng mấy ai tưởng tượng được rằng “tín dụng đen” vẫn nằm ngay trong "tín dụng trắng" (công khai). Chuyện là, ngân hàng huy động được tiền mà không cho vay để đầu tư sinh lãi thì ngân hàng sẽ không có doanh thu, không có lợi nhuận. Nhưng một vài cán bộ tha hóa đạo đức đã đang tâm cái lẽ thường tình đó. Gây khó dễ cho khách hàng với mục đích đen tối là được con cá săn sắt vào túi cá nhân, còn chuyện để mất đi con cá rô, mà thậm chí quy mô lớn đó có thể là con cá quả, thì... mặc kệ ai. Trong lúc doanh số của doanh nghiệp, hay của ngân hàng là thu nhập, việc làm, là cuộc sống của hàng trăm, hàng ngàn người lao động của cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đang cần mẫn hằng ngày vì sự phát triển chung của đất nước. Không cần nói gì thêm nữa, thì nhiều người cũng đã thấy được đó là những cái "quái thai" xuất hiện trong cuộc sống thường nhật. Nhưng vấn đề là ở chỗ, làm sao để những tệ nạn đó phải bị công luận lên án, tẩy trừ, không còn đất để sinh sôi, nảy nở,... thì mới triệt được tận gốc rễ của nó, làm cho cuộc sống đi vào quỹ đạo của sự văn minh, lành mạnh, trong sáng và minh bạch.q

Lan tỏa ngược

Người xưa có câu: Muốn dạy người ta, hãy dạy mình trước đã. Bác Hồ nói: “Muốn giáo dục nhân dân làm cho mọi người đều tốt thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hàng ngày”. Người xưa có câu: Muốn dạy người ta, hãy dạy mình trước đã. Bác Hồ nói: “Muốn giáo dục nhân dân làm cho mọi người đều tốt thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hàng ngày”.Trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, điều chúng ta mong muốn là phong trào ngày càng mở rộng và phát triển: từ cấp trên xuống cấp dưới, từ trong Đảng ra ngoài nhân dân, từ cán bộ chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo và công quyền đến quần chúng đông đảo. Kiểm điểm ba năm thực hiện Cuộc vận động, có sự đánh giá như sau: Kết quả bước đầu quan trọng của cuộc vận động cho thấy, những người tốt, việc tốt, tập thể và cá nhân điển hình tiêu biểu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ngày càng nhiều hơn, sức lan tỏa ngày càng rộng. Đánh giá ấy phản ánh đúng thực tế cuộc sống và tạo thêm niềm tin. Duy có một câu hỏi nhỏ được đặt ra về “sức lan tỏa”. Ở địa phương này hay đơn vị nọ, người ta hỏi: Lan tỏa theo chiều nào? Từ lĩnh vực nào đến lĩnh vực nào? Từ ai ra ai? Lấy việc chống lãng phí, thực hành tiết kiệm làm thí dụ. Đảng bộ X. họp kiểm điểm và nhận định: Phong trào tiết kiệm địa phương ta tốt lắm. Cơ sở nào, ngành giới nào cũng có những tấm gương. Chị em phụ nữ lập “quỹ hỗ trợ người nghèo”, ngày này qua ngày khác, kẻ dăm bảy trăm, người đôi ba nghìn đồng bỏ vào ống tre hay con lợn đất, thế mà mấy tháng một lần gộp lại cũng thành tiền triệu. Nhiều em bé học sinh bớt một phần quà sáng để dành tiền giúp bạn mua sách học. Một gia đình nông dân tự nguyện hiến cho xã một khu đất lớn để xây trường học cho trẻ em. Vân vân và vân vân. Chỉ tiếc là cán bộ, đảng viên chúng ta chưa thật gương mẫu. Nhiều đồng chí vẫn còn tiêu xài lãng phí, chỉ biết lo cho lợi riêng mà không nghĩ đến lợi chung. Trong khi các đối tượng chính sách nhận thêm tiền trợ cấp mỗi tháng dăm, bảy chục nghìn đồng đã lấy làm mừng thì ta tiệc tùng, lễ hội, chi ra hàng chục, hàng trăm triệu đồng mà không thấy xót. Bí thư đảng ủy thành khẩn: Từ nay chúng ta phải học tập quần chúng mà sửa mình. Có đồng chí hỏi: Như vậy là lan tỏa ngược à? Đúng. Đây là lan tỏa ngược nhưng là lan tỏa ngược tích cực. Chúng ta ủng hộ hết mình sự lan tỏa xuôi nhưng không sợ mà phải hoan nghênh sự lan tỏa ngược. Chỉ sợ là sợ rằng, cán bộ, đảng viên chỉ biết hô hào người khác làm mà tự mình không làm, chỉ lớn tiếng tung hô những người tốt, việc tốt mà tự mình không chịu học và làm theo những tấm gương mình đã tung hô./.

Thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực, có bước phát triển mới

 Cụ thể: hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên; nội dung, phương thức quản lý nhà nước từng bước điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Tổ chức bộ máy nhà nước từng bước được kiện toàn theo hướng tinh giản biên chế, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước được tăng cường. Thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, đối thoại, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

 Những đặc điểm riêng có của Việt Nam, gồm: sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống dân tộc và kinh nghiệm, khả năng ứng phó thách thức là những yếu tố mang tính then chốt để Việt Nam vượt qua thách thức toàn cầu chưa từng có. Với thực hiện mục tiêu “kép” vừa phát triển kinh tế, vừa phòng, chống COVID-19 hiệu quả, đã chứng minh tính ưu việt của chế độ, khả năng quản trị quốc gia tốt, bản lĩnh và khả năng ứng phó với thách thức của Đảng và Nhà nước ta. Nó góp phần làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn rằng, toàn Đảng, toàn dân ta đang đi đúng hướng trong việc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa mang đặc điểm Việt Nam. Đồng thời, phản bác mọi xuyên tạc của các thế lực thù địch về bản chất của chế độ ta, tính hiệu lực, hiệu quả của Đảng và Nhà nước ta.

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên cho thấy: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa khác về bản chất với nhà nước pháp quyền tư sản. Pháp quyền dưới chủ nghĩa tư bản, về thực chất, là công cụ bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chủ nghĩa xã hội là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Đất nước ta đang thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng với những mục tiêu và khát vọng đưa nước ta trở thành một nước phát triển có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” dưới sự lãnh đạo của Đảng là một xu thế khách quan, mang tính quy luật; tạo sự đồng thuận và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc

 Quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân. Theo tư tưởng của Người, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước. Toàn bộ quyền lực Nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân. Điều 1, Hiến pháp 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo, khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Quan điểm của Ðảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể hiện xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, dân tộc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo”, được cụ thể hóa tại Khoản 1, Điều 2, Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”.

Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Với Hiến pháp năm 1946, chủ nghĩa lập hiến và quyền con người từ các giá trị tư tưởng đã trở thành các giá trị pháp luật hiện thực trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những quy định của Hiến pháp năm 1946 là những chuẩn mực hiến định đầu tiên cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đã hơn 75 năm qua, 5 bản Hiến pháp đã lần lượt tương ứng với các giai đoạn phát triển của cách mạng nước ta. Vượt lên tất cả sự thăng trầm, phức tạp của thời cuộc, mỗi bản Hiến pháp (các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013) là một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Quan điểm cho rằng nhà nước pháp quyền là sản phẩm, thành tựu của chủ nghĩa tư bản là một quan điểm hoàn toàn sai, tự biện và duy ý chí.

 Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành và thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng từ thời cổ đại. Ở phương Đông, đó được xem là tư tưởng pháp trị của các nhà pháp gia, như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi, v.v. Quản Trọng chủ trương đề cao “Luật, lệnh, hình, chính”, vua phải giữ pháp, “không vì vua muốn mà thay đổi lệnh, lệnh đáng tôn hơn vua”. Hàn Phi coi pháp là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị đất nước, khi thi hành pháp luật thì không kể đến tình cảm riêng, không câu nệ chuyện thân sơ, sang hèn, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật: “pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu”. Ở phương Tây, điển hình là: Xô-crát (469 - 399 Tr.CN), Arixtốt (384 - 322 Tr.CN), Xixêrôn (l06 - 43 Tr.CN). Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như: John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), J.J.Rút-xô (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hêghen (1770 - 1831),… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới. Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền như Tômát Jepphecxơn (1743 - 1826 - tác giả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 - 1809), Jôn A đam (1735 - 1826), v.v.

Như vậy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền có từ rất sớm, có trước chủ nghĩa tư bản; nó là sản phẩm của nhân loại. Do đó, nhà nước ấy phải có tính từ: nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền không chỉ có đóng góp của các triết gia trước tư sản, mà còn có sự đóng góp của những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội. C.Mác, Ph.Ăgghen và VI.Lênin dù không chính thức nói đến nhà nước pháp quyền như là một trong những nội dung chính yếu trong học thuyết của mình, nhưng các ông luôn quan tâm đến Nhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật. Trong các bài viết, bài nói, họ đã thể hiện tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăgghen được thể hiện trong các tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học”, “Phê phán triết học pháp quyền Hegel”,v.v. C.Mác chỉ ra cơ sở xã hội như nền tảng vật chất của pháp luật; Ông cho rằng “chế độ dân chủ không phải con người tồn tại vì luật pháp mà luật pháp tồn tại vì con nguời”. Ph.Ăghen viết: “đối với chúng ta,… điều bất di bất dịch là quan hệ giữa người cầm quyền và người bị lãnh đạo phải được thiết lập trên cở sở pháp luật”1. VI.Lênin tiếp thu, phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăgghen và đưa học thuyết của các Ông đến mức độ hoàn bị hơn. VI.Lênin nói: “Nếu không rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta tức khắc có thể làm việc cho chủ nghĩa xã hội mà không cần phải có một tiêu chuẩn pháp quyền nào cả”. Trong xây dựng Nhà nước Xô viết, VI.Lênin nhiều lần đòi hỏi bộ máy chính quyền phải thật sự là của nhân dân lao động, phải thật sự bảo đảm dân chủ, phải dùng pháp luật (pháp luật Xô viết) để đấu tranh chống sự lề mề, quan liêu, hối lộ (tức là phải sử dụng pháp luật, đưa pháp luật lên trên hết)2, v.v. Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội dù không xem nhà nước pháp quyền là bộ phận trong học thuyết của mình, nhưng trong toàn bộ học thuyết vĩ đại ấy đã thể hiện quan điểm về những yếu tố pháp quyền, góp phần làm phong phú tư tưởng về nhà nước pháp quyền và đặt ra những ý tưởng mầm mống về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn lịch sử nhân loại minh chứng, nhà nước pháp quyền ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi hàng loạt yếu tố. Các yếu tố này về thực chất là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác định bởi các điều kiện về lịch sử, truyền thống - văn hóa, tâm lý xã hội của mỗi dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa và môi trường địa lý. Vì thế, không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi quốc gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp. Do vậy, nói nhà nước pháp quyền là sản phẩm, là thành tựu của chủ nghĩa tư bản là một quan điểm hoàn toàn sai lầm.

Động cơ thông tin

Cơ quan quản lý báo chí nhận được từ phía bạn đọc một bức thư chất vấn, kèm theo hai bài báo của hai tờ báo khác nhau. Cả hai bài báo đó đều viết về cùng một chủ đề, cùng một địa phương và vào cùng một thời điểm. Chủ đề chung là: xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới ở miền núi. Cơ quan quản lý báo chí nhận được từ phía bạn đọc một bức thư chất vấn, kèm theo hai bài báo của hai tờ báo khác nhau. Cả hai bài báo đó đều viết về cùng một chủ đề, cùng một địa phương và vào cùng một thời điểm. Chủ đề chung là: xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới ở miền núi. Báo A khen đậm lời về những thành tích đạt được, kèm theo ảnh về những cụm dân cư mới, bệnh xá và phòng học tương đối khang trang. Báo B lại chê hết chỗ nói, minh họa bằng những bức ảnh về các bản hẻo lánh, nhà cửa tồi tàn, dân sống nghèo khổ, đi lại khó khăn, không có chỗ để chữa bệnh và cho trẻ em học hành. Hỏi hai tòa báo thì đều được trả lời: thông tin là chính xác bởi phóng viên của họ đều đến tận nơi, viết và chụp ảnh về những điều mắt thấy tai nghe. Hỏi lãnh đạo địa phương thì được biết: Những gì hai tờ báo phản ánh đều là có thật. Những thông tin cho các báo ấy cũng đều do địa phương cung cấp, và chính các phóng viên trực tiếp phỏng vấn người dân. Chỉ có điều mà các cán bộ địa phương chưa dám tiết lộ. Vì biết báo A là một tờ báo chính trị có uy tín lớn, mỗi thành tích đưa lên mặt báo có thể dẫn đến việc khen thưởng, cho nên khi phóng viên báo A đến tìm hiểu, họ đã đưa đến những nơi có thành tích tốt đẹp. Còn báo B là cơ quan của một tổ chức xã hội có quỹ tài trợ lớn cho những người nghèo, vùng nghèo. Cho nên đối với phóng viên báo B, họ chỉ đưa đến những chỗ lạc hậu và nghèo khổ nhất, cốt sao tranh thủ được sự tài trợ càng nhiều càng tốt. Hóa ra cách thông tin của địa phương cũng "khôn" đáo để. Thảo nào trong quá trình thực hiện Chương trình 135 của Chính phủ, không ít xã thuộc vùng trung du 100% cũng xin được xếp vào diện miền núi. Cũng có xã giao thông thủy bộ đều thuận lợi lại muốn được coi là vùng sâu, vùng xa. Với kết quả đạt được khá ngoạn mục trong nhiều năm phấn đấu, nhiều địa phương tự giác xin rút tên mình ra khỏi diện được hỗ trợ. Trong khi đó, có những địa phương cũng đạt được những thành tích như vậy, nhưng vẫn muốn "ở lại" để tiếp tục nhận được chế độ ưu đãi. Lại có những địa phương làm ăn chẳng ra gì, lại thổi phồng thành tích lên, báo cáo là đã thoát nghèo, cốt để được nhận khen thưởng nhưng lại làm cho dân khổ thêm. Trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh, có chỗ thiệt hại ít xít ra nhiều để mong được nhận trợ cấp lớn hơn. Lại có chỗ thiệt hại to thì vo nhỏ lại để che giấu nguyên nhân thật của thiệt hại là do khuyết điểm trong công tác chỉ đạo của chính mình. Báo chí rút ra bài học gì nhỉ? Phải chăng tính chân thật là một tiêu chí hàng đầu? Cần nhìn thẳng vào sự thật, nhưng phải đánh giá đúng sự thật. Sự thật không thể là phiến diện hoặc bóp nặn theo ý đồ chủ quan của người viết. Còn đối với địa phương, cũng xin xem lại động cơ thông tin của mình. Không thể vì chủ nghĩa thành tích hay thực dụng vụ lợi mà đưa ra những thông tin dẫn đến nhận thức sai lệch về cái sự thật của chính địa phương mình./.

Giá như...!

Chiếc xe con giảm dần tốc độ rồi dừng trước cổng, hai cán bộ song song tiến vào gặp gia chủ. Bà chủ nhà chưa kịp mời nước thì đã thấy chiếc xe quay hướng lao thẳng về thị trấn. Khi chiếc xe trở về, lại đỗ đúng chỗ cũ. Bà chủ nhà, rồi chính quyền địa phương ra mời bác lái xe vào, nhưng bác chỉ im lặng. Đến lúc hai cán bộ ra, nói vài câu gì đó... thì bác bảo: “Lãnh đạo bảo tôi đưa các anh đến đây, xong việc lại đưa về, chứ có bảo tôi vào đâu?”. Đương nhiên là có vấn đề trục trặc về quan hệ, giữa bác lái xe và ông chủ nhà - một cán bộ cỡ bự, đã nghỉ hưu, đau ốm bấy lâu, nay sắp về chầu tiên tổ. Ông cha ta có câu: “Nghĩa tử là nghĩa tận”, mà bác lái xe xử sự như thế, hẳn vấn đề không phải đơn giản. Tôi dò hỏi hai anh cán bộ, các anh bảo mới chuyển về công tác ở cơ quan nên không biết. Tôi quyết định hỏi bác lái xe, chắc bác chẳng thể trả lời là không biết, nhưng bác cũng chỉ nói: “Tôi lái xe ở trên công ty, ông ấy là sếp lớn, chẳng có thù oán gì. Nhưng mà, đối với nhiều người khác thì có đấy. Tôi chỉ tức hộ người ta nên mới có thái độ như vậy thôi!”. Bác lái xe chỉ nói vậy, nhưng quan sát từ xa tôi cũng đã hiểu phần nào, suy ra từ những cư xử của ông cán bộ về hưu đối với bà con chòm xóm. Chả là, nhà ông ở cạnh nhà tôi. Nhớ hồi ông mới về hưu, cả xóm tôi ai cũng mừng. Mấy ông già thì mừng vì sẽ có thêm bằng hữu, cùng vui khi có chén rượu, hay vây quanh ván cờ. Lứa thanh niên 16, 17 tuổi chúng tôi còn mừng hơn thế. Ông đã đi khắp nơi, hẳn phải biết nhiều về con người và cuộc sống chốn thành thị, phố phường, ở Tây, ở ta..., kinh nghiệm của người “đi nhiều ngày đàng...”, ắt sẽ rất có ích cho những người sắp bước vào đời như chúng tôi. Bọn trẻ con thì coi ông như một “chú dế mèn cỡ bự”, đã đi phiêu lưu khắp chốn, hẳn là sẽ có một kho tàng chuyện hay... Nhưng tất cả đều vỡ mộng. Ông ngồi lì ở nhà, vợ con ông, ông còn chả buồn nói chuyện nữa là... Ngày ngày, ông uống một chén trà, hút một điếu thuốc - rồi lại hút một điếu thuốc, uống một chén trà..., như thể ông đang phải suy nghĩ về một chuyện đại sự quốc gia rất căng thẳng, mà vẫn chưa tìm được lối ra. Tuy nhiên, cũng có lúc ông đi, nhưng ông đã đi là “đi thẳng”, không rẽ ngang, rẽ dọc, không bắt chuyện với ai, như thể trái đất này đã chia ra hai phần: Phần to là của chung mọi người, còn phần nhỏ là của riêng ông, “bất khả xâm phạm”. Ông không nói chuyện với ai, nên dần dần chẳng còn ai nghĩ đến ông, trừ một lần, một cụ già trong làng bảo: “Có ai nắm được tay từ sáng đến tối đâu”... Cuối cùng, như các cụ bảo “Nghĩa tử là nghĩa tận”, bác lái xe nể mọi người, mà đã chịu vào nhà. Ông cán bộ chừng như đã mệt lắm. Bây giờ thì ông cũng muốn nói rồi, nhưng đến lúc ông muốn nói thì cái sự rắc rối nó mới “lòi” ra. Trong hơn 20 năm nghỉ hưu, lúc nào cũng có thể nói được thì ông lại chẳng nói, còn bây giờ, ông muốn nói nhiều lắm, muốn nói lời xin lỗi cho người ta lượng thứ, muốn nói lời tâm sự cho người ta thông cảm..., nhưng Bút Nam Tào sắp định. Ông muốn nói mà không thể cất lên thành tiếng. Bà con hàng xóm, bạn bè kéo đến thăm rất đông, ai cũng cố hỏi ông vài câu. Ai cũng chân tình với ông, và lúc này, hình như ông cũng muốn chân tình với mọi người lắm. Ông nhìn lớp thanh niên, lại nhìn những người trung niên, rồi khẽ rung rung cái môi..., rồi thở dài. Có lẽ, ý nghĩ cuối cùng trong cuộc đời của ông lúc này là: “Giá như người ta ai ai lúc còn trẻ, cũng biết rõ được tâm trạng của mình lúc hấp hối nó như thế nào... nhỉ!”.

Sao trước kia không...

Một buổi chiều đang đi dạo ở công viên, tôi gặp lại ông cán bộ lãnh đạo cũ của công ty. Đang định tìm cách tránh mặt thì ông đã gọi: - Chào anh bạn! lâu lắm mới gặp. Tôi đành phải bất đắc dĩ trả lời: - Chào sếp, anh có khỏe không, cũng lâu rồi mới gặp sếp. Tôi không muốn nói chuyện với ông vì biết ông khá rõ khi còn ở cơ quan. Với vai trò phó giám đốc công ty, ông có tiếng không chỉ khôn khéo biết làm vui lòng cấp trên và vừa lòng cấp dưới... mà cái chính là ông biết “ngậm miệng ăn tiền” hay “gió chiều nào che chiều ấy” và tích cực “vun vén cá nhân”. Không để tôi nói lời nào sếp cũ tiếp luôn: - Tình hình cơ quan thế nào? Vẫn tốt chứ? Tôi trả lời cho qua chuyện: - Vẫn thế, anh còn lạ gì... không có gì thay đổi lớn lắm! “bình thường như đường và sữa”. Ông liền tranh thủ nói thật nhanh như sợ tôi chạy mất: - Mình nghỉ hưu rồi thế là xong, còn các cậu ở lại thì chắc còn nhiều chuyện phải bàn đấy, mình ở cơ quan lâu rồi, mình nắm khá rõ... Rồi ông bắt đầu nào là công lao của ông với công ty không hề nhỏ chút nào, lẽ ra ông phải được quan tâm giúp đỡ nhiều hơn, đằng này chỉ khi năm hết tết đến ông mới được lãnh đạo thăm hỏi tặng quà... nào là lẽ ra cơ quan phải chú ý hơn nữa đến công tác tổ chức, đặc biệt chú ý đề bạt những người có tài có đức, nào là cơ quan nên chú ý nâng cao đời sống cho anh em, vì so với một số nơi khác, cơ quan hiện có rất nhiều lợi thế; nào là cần tăng cường dân chủ ở cơ sở hơn nữa vì đây là động lực để phát triển và để thực hiện đại đoàn kết; hoặc là cơ quan nên thực hiện tốt hơn nữa việc chống tiêu cực như tham nhũng, quan liêu; hay là những cán bộ lâu năm, những chuyên gia giỏi phải có chế độ ưu đãi đặc biệt để gìn giữ phát huy người tài, tránh tình trạng đề bạt cán bộ chỉ chú ý bằng cấp, chức vụ mà sao nhãng chuyên môn; nào là lớp cán bộ hiện thời năng lực hơi yếu so với thời ông. Đáng ngại là họ ít lo cho tập thể mà chỉ lo thu vén cá nhân. Ông còn chê lãnh đạo này trách lãnh đạo kia là kém phẩm chất, năng lực không nên được đề bạt vì làm thế không có lợi cho tập thể. Hay nhiều điều, nhiều việc cơ quan làm hiện nay là bất hợp lý... Tôi nghe phát chán liền tìm cơ hội cắt lời ông: - Ôi đúng, thật là đúng, nếu làm được như những điều anh nói thì tốt quá, cơ quan chắc là hoành tráng lắm. Có điều sao lúc anh còn đương chức, đương quyền anh không nói những điều như thế, hay ra sức làm như anh nói để cho cơ quan phát triển?... Hình như nhận thấy điều gì đó không ổn, ông đỏ cả mặt ấp úng. - Ừ thì đúng vậy, lúc ấy cũng có cái khó, về hưu mới có thời gian suy nghĩ cho chín (!) vả lại cậu cũng biết, với người Việt Nam mình vốn “dĩ hòa vi quý” cho nên có nhiều điều muốn nói cũng phải im lặng, cho êm chuyện... Tôi thấy thế bèn nói luôn: - Thế sao bây giờ anh không “dĩ hòa vi quý” luôn cho xong đi còn nói ra làm gì nữa. Anh nghỉ hưu rồi vui vẻ cho qua mọi chuyện, vương vấn chuyện đó làm gì cho đau đầu. Em cũng chỉ là nhân viên quèn thôi mà, anh nói với em những chuyện đó có ăn nhằm gì đâu. Ông có vẻ ngượng ngùng vì cách nói thẳng thắn của tôi, ông đành trả lời cho qua: - Ờ thì nói cho vui thôi chứ mình nghỉ rồi, chỉ tiếc cho các cậu đang làm việc, giá mà cơ quan khá lên thì đời sống cũng sẽ khá hơn, vui vẻ hơn, đoàn kết hơn... Thôi nhé, lúc nào rảnh qua mình uống nước anh em mình tâm sự. Thế là ai đường nấy đi. Nhưng nỗi bức bối theo tôi về đến tận nhà và còn đeo đẳng một thời gian dài nữa. Bởi một lẽ, khi đương chức đương quyền ông thường quên hết anh em bạn bè, lao vào tìm lợi ích riêng tư, chỉ khi nghỉ hưu mới hăng hái “đấu tranh”, “chống tiêu cực”, “góp ý” bới móc chê bai một số lãnh đạo đương nhiệm... mà thật ra tình hình công ty hiện cũng có phần ông “gây dựng” nên chứ phải đâu rơi từ trên trời xuống (?). Vậy khi góp ý họ nên có trách nhiệm nếu không như vậy phải những người nghe dễ bị kích động thì tác hại thật khó lường.

Bài học từ hai câu chuyện ngụ ngôn

Trong cuộc sống, không hiếm người vẫn thể hiện sự yêu ghét của mình theo... quyền lợi cá nhân (chứ hoàn toàn không xuất phát từ một tiêu chí đạo đức nào). Mà quyền lợi cá nhân thì nhiều lúc cũng bị ảnh hưởng theo tình thế khách quan, bởi vậy mà sự khen chê của họ cũng trở nên... lung tung, thiếu nhất quán. Chuyện thứ nhất: Vì sao dân gian ta, khi chê trách một trường hợp "kém thông minh" nào đó, thường nói "dại như vích". Câu chuyện sau đây (trong kho tàng truyện ngụ ngôn Việt Nam) chính là nguồn gốc của câu thành ngữ đó: Vích là một loại rùa biển, thường hay làm tổ ở ven biển. Một hôm, có con vích nằm phơi nắng trên bãi cát. Một người đi qua trông thấy bèn rón rén tiến đến, tìm cách để bắt. Người ấy quăng dây thòng lọng thít chặt lấy một chân vích. Con vật giật mình, thụt đầu vào trong mai. Khi người nọ kéo vích vào đất liền, thì con vích cố lấy sức kéo ngược lại ra biển. Người nọ càng kéo vào, vích càng kéo ra. Cứ thế, cuối cùng con vật kéo tuột cả dây, trốn xuống biển. Người nọ "bại trận", tức lắm, song nhờ đó mà biết được một "đặc điểm" của vích. Hôm sau, chờ cho vích lên bãi cát phơi nắng, người nọ lại quăng dây thòng lọng thít chặt lấy chân vích như trước. Vích thấy vậy vội thụt đầu vào trong mai. Khác với hôm trước, người nọ cố sức kéo vích ra phía biển, còn con vật thì vẫn khờ khạo như lần trước - cố vùng vẫy theo hướng ngược lại. Người nọ càng làm bộ kéo vích về phía biển, vích càng cố kéo về phía đất liền. Khi thấy vích đã vượt qua bãi cát vào sâu trong đất liền, người nọ liền trói nghiến vích lại mang về. Câu chuyện thứ hai: Có con nhện và con gián cùng sống trong một ngôi nhà. Một hôm nhện bực bõ bảo: - Tôi rất lấy làm không ưa cái ông chủ nhà này. Tôi chẳng làm hại gì ông ta, thế mà cứ hễ thấy tôi chăng cái mạng ở chỗ nào là ông ta ra tay quét bằng sạch. Tôi cầu cho ông ta tan hoang cửa nhà. Gián cãi: - Tôi thì tôi lại thích cái ông chủ nhà này, vì tôi tha hồ chui vào lọ dầu, lọ mỡ mà xơi mà chén cho thỏa thích. Tôi cầu cho ông ta ngày một giàu có để tôi được tha hồ chén dầu, chén mỡ. Quả nhiên, nhà chủ ngày một giàu lên. Và để làm cảnh, mua vui, ông chủ nhà còn rước về một con khướu. Con khướu này đặc biệt thích ăn gián, bởi thế chủ nhà ra sức bắt tìm gián để làm thức ăn cho khướu, đến nỗi đàn gián chết sạch, chỉ còn mỗi con gián độ nọ là trốn thoát. Nhện ẩn mình ở xó bếp, gặp gián bèn hỏi mỉa mai: - Thế nào, độ này bác sống ra sao? Tôi tuy bị phá sạch nhưng chưa đến nỗi bị truy diệt, nhất là không như loại gián nhà bác, chết bởi cái giống chỉ có tài hót mà thôi. Bác còn chúc chủ nhà giàu có hơn nữa thôi? Bác cũng có tài chúc đấy chứ! Gián nghe vậy thì xấu hổ quá, bèn tụt xuống miệng cống trốn. Từ bấy trở đi, loài gián toàn sống chui lủi, không bao giờ dám ló mặt giữa ban ngày ban mặt và ở những nơi thoáng đãng, có ánh sáng. Lời bình: Hiện nay, trong cuộc sống, chúng ta bắt gặp nhiều trường hợp có cách hành xử hoặc quan niệm sống tương tự các "nhân vật" trong hai câu chuyện ngụ ngôn nói trên. Có những người, hễ hệ thống truyền thông chính thống (mà họ gọi là "lề phải") thông tin, đưa ý kiến của những người có chức sắc thế này, thì ngay lập tức, họ có ý kiến thế kia, nghĩa là luôn theo cách ngược lại, bất luận việc ấy đúng sai thế nào, và có thuộc tầm hiểu biết, chuyên môn của mình không. Bởi vậy, muốn họ có ý kiến tán đồng một việc nào đó, lắm khi chỉ cần làm một "động tác giả", nghĩa là để một ai đó có chức sắc lên tiếng phản đối (một việc nào đó), là dễ có thể thu về từ họ những ý kiến... đồng tình. Bài học từ việc xảy ra với con vích ở câu chuyện ngụ ngôn thứ nhất trong trường hợp này vẫn... luôn luôn đúng. Cũng vậy, hiện trong cuộc sống, không hiếm người vẫn thể hiện sự yêu ghét của mình theo... quyền lợi cá nhân (chứ hoàn toàn không xuất phát từ một tiêu chí đạo đức nào). Mà quyền lợi cá nhân thì nhiều lúc cũng bị ảnh hưởng theo tình thế khách quan, bởi vậy mà sự khen chê của họ cũng trở nên... lung tung, thiếu nhất quán. Chỉ có điều, khi thay đổi sự khen chê theo sự ảnh hưởng quyền lợi cá nhân của mình, họ chưa hẳn đã biết... xấu hổ như con gián trong câu chuyện ngụ ngôn

Cán bộ làm gì hay không làm gì?

Trong văn chương thường hiểu từ theo ngữ cảnh, nhiều khi một từ đứng riêng độc lập ta không thể hiểu sát và đúng nghĩa; trong một ngữ cảnh cụ thể thì ngữ nghĩa của từ sẽ rõ hơn. Câu hỏi: cán bộ làm gì hay không làm gì?.., có lẽ cũng có "ngữ cảnh" tương tự. Khi đặt vấn đề giảm biên chế hay định phân công thêm cho ai nhiệm vụ mới, rõ ràng trong rất nhiều trường hợp, cán bộ sẽ đều kêu lên: Tôi đang làm giở việc nọ, việc kia, công việc của tôi đang quá tải... Bởi vậy, chọn người để giảm thì có thể làm được, vì nếu không cùng cánh, không "con ông - cháu cha" thì "cắt phạch" một cái là mai gút-bai (goodbye) nghỉ việc. Nhưng để giao được nhiệm vụ mới cho người còn ở lại... e ra không dễ. Trong trường hợp này xác định cán bộ làm gì hay không làm gì?... có lẽ không đơn giản! Đó là ngữ cảnh thứ nhất. Mới đây, trên internet (http://www6.vnmedia.vn) lại có tin, theo số liệu điều tra của phòng tư pháp huyện Quốc Oai, trên tổng số 1,2 vạn người đã mất trong vòng 50 năm qua có tới 4.383 trường hợp chết mà không khai báo, làm giấy chứng tử. Vậy, tất cả số người đã chết này vẫn nằm trong hộ khẩu, là vẫn còn sống, nhưng quyền lợi và nghĩa vụ của họ gần như nằm ngoài vòng quản lý của luật pháp... Chuyện cứ như đùa, nhưng lại là có thật ở ngay sát nách Hà Nội. Trước phát hiện trên, một ông cán bộ cơ sở giải thích ngon lành: "Về khai sinh thì không ai "quên" cả vì khai sinh muộn sẽ bị phạt, còn khai tử thì nhiều người dân cho rằng họ chẳng được quyền lợi gì, đi đăng ký mất công mất buổi nên không ai để ý". Tôi chợt nghĩ, có lẽ luật về vấn đề này nên bổ sung: "ai cũng phải đăng ký khai tử trước khi chết"... may ra mới giải được vấn đề chăng!. Trong ngữ cảnh này, có lẽ cán bộ đã không làm gì, cho dù không loại trừ cả chuyện có trường hợp chính cán bộ cũng đã tham gia vào đoàn người đưa ma những người đã chết mà người nhà không khai báo đó. Lại chuyện nữa, ngay trong một quận nội thành hẳn hoi, ông bạn tôi có cậu con trai sinh năm 1997, đầu năm 2010 bố con nhận được giấy triệu tập khám sức khỏe để làm nghĩa vụ quân sự. Dấu son đỏ của Ban Chỉ huy quân sự quận hẳn hoi. Nhận được giấy báo đó, cả nhà được một phen lăn ra cười "thằng cu con đi bộ đội". Nhưng ông bố, vì hiểu chút pháp luật hơn nên nghĩ sâu xa. Nếu không đi khám là chống lệnh nghĩa vụ quân sự. Chống lệnh nghĩa vụ quân sự là vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật là có thể bị tước quyền công dân... như chơi. Đừng để có quyết định của tòa án rồi mới kiện thì có mà "kiện củ... khoai", có thắng được thì cũng rất tốn kém. Thôi đành lo trước khi "nước đến trôn" vậy! Ông đành đi kêu. Gọi lên Ban Chỉ huy quân sự quận thì được trả lời rằng, chúng cháu viết giấy gọi là theo báo cáo từ tổ dân phố về số nam thanh niên đến tuổi. Ông bạn tôi "ngoặc" lại, nhưng con tôi chưa đến tuổi, chính quyền lại quản lưu khai sinh của từng con người theo hộ khẩu tại sao lại sai lệch như vậy. Trả lời rằng, số liệu khai sinh bên công an nắm, Ban Chỉ huy quân sự quận không nắm bác ạ!. Ông bạn tôi về hỏi Tổ trưởng dân phố. Câu trả lời là: Đúng rồi! Con bác làm gì đã đến tuổi, - một cách thản nhiên. Nhưng câu sau mới là câu chốt: Việc này cô tổ phó làm, tôi không nắm được. Ông bạn tôi lại sang gặp cô Tổ phó tổ dân phố. Sau một hồi trình bày của ông bố đương sự, thì câu trả lời là: à thế à, tao tưởng (nói rất chân tình) con nhà mày đến tuổi rồi, vì thấy nó lớn lớn!". Trong ngữ cảnh này, có lẽ bạn đọc cũng như chính tác giả bài này, thiết nghĩ cán bộ không làm gì..., có khi lại còn tốt hơn! Hệ thống quản lý đã được xây dựng quy mô từ Trung ương đến thôn, bản, làng và tổ dân phố. Ngõ nào cũng có tổ dân phố quản, xóm nào cũng có trưởng thôn quản, đảng viên thì đều có khắp cả các đầu làng - cuối phố. Thế mà khâu quản lý con người lại để xảy ra những chuyện đáng tiếc như vậy. Cơ sở mà như vậy, thử hỏi, có công minh? Chúng ta hoàn toàn có thể làm một phép suy diễn, đại loại như câu chuyện đến tuổi rồi mà bà tổ dân phố lại "cảm thấy" còn nhỏ chưa đủ để thực hiện nghĩa vụ quân sự thì sao đây!?. Chưa nói rất có thể còn có nhiều chuyện "lắt léo" khác! Không chừng.../.

Khi cấp dưới không “dám nói”!

Nhân buổi sinh hoạt dân chủ, anh K, người vừa được bổ nhiệm làm thủ trưởng cơ quan A, khuyến khích cấp dưới góp ý kiến thẳng thắn cho công tác lãnh đạo, điều hành của cấp trên. Gần chục ý kiến của cấp dưới đã phát biểu nhưng cũng chỉ xoay quanh một số điểm yếu chung chung. Anh động viên, gợi ý rồi chuyển sang tha thiết kêu gọi, khẩn cấp yêu cầu...nhưng các ý kiến của cấp dưới vẫn...lòng vòng mấy chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Điều mà thủ trưởng mong muốn là cấp dưới nhìn thẳng, nói thật những tiêu cực nổi cộm đang cản trở sự phát triển của đơn vị thì chẳng ai dám nói. Vì vậy, khi kết luận, anh nói: - Tôi có cảm giác là các đồng chí vẫn e dè, nể nang, ngại ngùng chưa dám nói hết, nói thẳng những suy nghĩ của mình. Điều này không tốt và như vậy thì rất khó hy vọng tìm ra bước phát triển đột phá của đơn vị trong thời gian tới. Tôi mong rằng, trong lần sinh hoạt tới, các đồng chí sẽ thay đổi, có nhiều góp ý thẳng thắn cho lãnh đạo đơn vị. Là bạn của K, nên khi nghe anh kể như vậy, tôi tâm sự: Những tồn tại, yếu kém của cơ quan cậu không phải cấp dưới không biết mà là không dám nói. Trước đây, đã có nhiều ý kiến thẳng thắn góp ý cho lãnh đạo, chỉ huy cơ quan nhưng rồi người góp ý thì bị ghi tên vào “sổ đen”, còn những yếu kém của cơ quan thì vẫn...nguyên như cũ. Theo tớ, để tạo niềm tin cho cấp dưới, cậu cứ mạnh dạn khắc phục những điểm yếu mà người tiền nhiệm để lại. Nghe tôi nói, K bày tỏ: “Khổ lắm, người tiền nhiệm của tớ là anh Q. Bây giờ anh ấy vẫn đang công tác, lại là cấp trên của tớ. Tớ đã nghĩ tới điều này nhưng vẫn chưa dám quyết. Vì nếu tớ “sửa sai” ngay thì sợ anh Q giận, cho là cố tình “hạ thấp” anh ấy, nên cũng đành chờ một thời gian nữa mới xem xét”. Thì ra là K cũng không dám “nói thẳng, nói thật” với cấp trên của mình. Tôi viết mẩu chuyện này tâm sự cùng bạn đọc, cũng mong K hiểu rằng: Nếu bản thân người chỉ huy không dám “nói thẳng, nói thật” thì cũng đừng hy vọng cấp dưới sẽ “nói thẳng, nói thật” với mình./.

Xu thời, cơ hội, thực dụng

Chưa bao giờ người ta lại nói nhiều về các từ “xu thời”, “cơ hội”, “thực dụng” như trong mấy năm trở lại đây. “Xu thời” theo nghĩa đen là biết nắm xu hướng, thời thế để hành động cho phù hợp. “Cơ hội” được hiểu là biết tận dụng thời cơ để hành động đạt mục đích, kết quả cao nhất. Còn “thực dụng” vốn có nghĩa là coi trọng tính ứng dụng thực tế. Bản thân các từ đó không có lỗi, nhưng chúng đã bị biến dạng bởi chính những suy nghĩ, hành vi lệch lạc của một bộ phận người trong xã hội. Người “xu thời” hiện nay được biểu hiện dưới nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau. Không ít cô cậu thanh niên mới lớn ở thành phố, thị xã, xem phim nước ngoài, thấy người ta nhuộm tóc vàng, đánh son màu tím trên môi thì cũng chạy theo “mốt” gội đầu, “sơn tóc” vàng ệch, tô môi thâm xịt. Một số người “lắm tiền nhiều của” thấy dân nước khác xây dựng những vi-la màu mè thì mình cũng thể hiện sự “sành điệu” bằng cách thiết kế những ngôi nhà “nửa tây, nửa ta” ngất ngưởng, lòe loẹt. Có những cô gái “chân quê” dịu dàng, đoan trang, sau vài năm “đi tỉnh về” cũng “tóc ngắn, quần bò, áo phông” trông thật kệch cỡm. Rồi vị chức sắc này, ông cán bộ nọ thấy người ta có bằng cấp thạc sĩ, tiến sĩ thì mình cũng cố “học”, cố “thi” bằng được lấy tấm bằng để có “cái mác” dán vào “cương vị” cho “oai”, cho... “oách”! Thái độ xu thời thực chất là biểu hiện của sự sùng ngoại, lai căng, tự ti, tự đánh mất mình và cứ tưởng “cái bóng in trên tường to thì chủ nhân là người vĩ đại”! “Thật đáng tiếc! Đó là cơ hội “ngàn vàng” nhưng anh đã không tận dụng được”- Bình luận viên bóng đá trên truyền hình đã bất chợt thốt lên như vậy khi một cầu thủ của ta đã sút bóng trượt cầu môn trong một tư thế rất thuận lợi. “Cơ hội” chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc nhất định, thậm chí chỉ trong giây lát mà khó có thể lặp lại tương tự. Tận dụng cơ hội tốt để làm việc nghĩa, việc thiện, việc có ích là cử chỉ, hành động đáng biểu dương và tôn vinh. Tuy nhiên hiện nay, không ít người cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống luật pháp và những sơ hở trong công tác quản lý, điều hành của bộ máy công quyền để làm những việc sai pháp luật, trái đạo đức, lương tâm. Có những kẻ triệt để lạm dụng lúc “tranh tối, tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân, bất chấp điều hay, lẽ phải và chính nghĩa ở đời. Xuất phát từ “cơ hội” mà sinh ra bao thứ phiền toái: nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau “một tấc lên trời”, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, nói xấu sau lưng, thậm chí là “ném đá sau lưng”... Từ đó, tư tưởng cơ hội xuất hiện dưới những hành vi, như: thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... “Thực dụng” là nấc thang kế tiếp của tư tưởng cơ hội. Lấy lợi ích vật chất là cao nhất, coi đồng tiền là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi mối quan hệ xã hội, lúc nào cũng muốn “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”... là những biểu hiện của những kẻ thực dụng. Tất nhiên, hành vi thực dụng khi ẩn chứa kín đáo, tinh vi, lúc hiển hiện công khai, lộ liễu và thỉnh thoảng còn biết “cưa sừng làm nghé” hay “đóng rắn giả lươn” để lòe bịp thiên hạ. Thiếu sự coi trọng giá trị nhân phẩm, không đề cao ý nghĩa tinh thần và những nét đẹp văn hóa, đạo đức nên những kẻ thực dụng sẵn sàng “hạ thấp nhân cách” bản thân, bằng “mọi cách, mọi giá” để mưu cầu, trục lợi cho mình càng nhiều càng... tốt! Chủ nghĩa thực dụng là nguyên nhân dẫn đến nhiều điều nhiễu nhương trong cuộc sống: tham ô, hối lộ, hách dịch, cửa quyền, chuyên quyền độc đoán, bòn rút tài sản của Nhà nước, lạm dụng mồ hôi và công sức của nhân dân... Xu thời, cơ hội, thực dụng là “con đẻ” của chủ nghĩa cá nhân, là mặt trái của nền kinh tế thị trường và là “hậu quả” của xã hội tiêu dùng hiện đại. Thái độ xu thời dễ làm đánh mất bản sắc văn hóa và giá trị đạo đức quý báu của dân tộc. Tư tưởng cơ hội gây chia rẽ mất đoàn kết, làm cho các mối quan hệ tốt đẹp của con người bị tổn thương. Chủ nghĩa thực dụng tạo nên những hành vi sùng bái đồng tiền, đặt lợi ích vật chất lên trước hết và cao nhất, khiến cho các chuẩn mực xã hội bị đảo lộn. Ở đâu còn có thái độ xu thời, tư tưởng cơ hội và chủ nghĩa thực dụng là ở đó còn những hành động, việc làm thiếu trong sáng, lành mạnh và thiếu tình thương yêu cao đẹp của con người. Đấu tranh ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ những biểu hiện đó là góp phần xây dựng nền tảng đạo đức lành mạnh, văn hóa xã hội tiến bộ, văn minh./.

Triết lý “bốn sạch”

Doanh nghiệp tư nhân nước uống S. là một doanh nghiệp có thương hiệu mạnh. Thành tích của doanh nghiệp thật ấn tượng. Sau gần 20 năm thành lập, sản phẩm đóng chai của doanh nghiệp chiếm hơn 25% thị phần trong cả nước. Doanh nghiệp trở thành một trong những doanh nghiệp đầu tiên ở Việt Nam đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, ISO 9002 rồi ISO 9001. Bí quyết thành công có nhiều. Ông Tổng Giám đốc doanh nghiệp cho biết: để phát triển sản xuất, doanh nghiệp tạo sự đột phá với tinh thần “bốn đi đầu” và triết lý kinh doanh “bốn sạch”. Đó là: con người sạch, nhà xưởng sạch, sản phẩm sạch và lợi nhuận sạch. Con người sạch là con người có hoài bão, năng động, sáng tạo, chuyên nghiệp, sạch sẽ trong tư duy, vệ sinh trong sinh hoạt. Nhà xưởng sạch là kỹ thuật, công nghệ hiện đại, môi trường thông thoáng, sạch sẽ và tiện nghi. Sản phẩm sạch là sản phẩm quan tâm bảo vệ và góp phần nâng cao sức khỏe con người. Lợi nhuận sạch là lợi nhuận có được do thực hiện đúng các chính sách, quy định của Nhà nước, chăm lo đến cuộc sống của từng người lao động và chia sẻ với cộng đồng. Triết lý này càng suy đi, ngẫm lại, càng thấy hay. Trong “bốn sạch”, khó có thể nói cái sạch nào hơn cái sạch nào, nhưng có lẽ con người sạch và lợi nhuận sạch hẳn là cao giá nhất, vì chúng có liên quan đến đạo đức kinh doanh và phẩm giá con người. Nếu như có một tổng giám đốc, giám đốc hay nhà quản lý nào đó mặt mũi sáng sủa, ăn mặc bảnh bao, dáng điệu lịch lãm mà gian dối trong kinh doanh, phạm luật, phá chính sách của Nhà nước, lừa gạt đồng nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh, nhằm làm giàu bất chính, con người đó không thể là con người sạch. Nếu như có một vị cán bộ nào đó đi đứng khoan thai, nói năng đĩnh đạc, lời lẽ dạy đời mà đầu óc thì mê muội, chỉ nghĩ đến chuyện “đè đầu cưỡi cổ” nhân dân chứ chẳng chịu làm đày tớ cho dân, vị cán bộ đó cũng chẳng thể được coi là cán bộ sạch. Nếu như có một doanh nghiệp nào đó thu lợi nhuận kếch xù, nhưng không phải do lao động sáng tạo, đổi mới công nghệ hay cải tiến quản lý mà do làm ăn gian xảo, làm hàng giả, hàng nhái, trốn thuế, lậu thuế, hối lộ, rửa tiền, bóc lột tệ hại người lao động... thì lợi nhuận ấy sao có thể gọi là lợi nhuận sạch. Nếu như có một nhà quản lý nào đó có thu nhập siêu cao, không phải do chế độ ưu đãi, do phát minh sáng chế hay có công trình sáng tạo giá trị lớn được thưởng, mà là do nhận hối lộ, móc ngoặc với những hành vi ma-phi-a, bán dự án, mua bán chức quyền, nhà quản lý đó càng không thể là nhà sản xuất sạch. Nếu như, nếu như, còn nhiều “nếu như” lắm. Nhưng xin tóm gọn một câu: Con người sạch có thể hay không thể làm ra lợi nhuận sạch. Nhưng lợi nhuận đã không sạch thì con người tạo ra nó một trăm phần trăm là con người không sạch! Xã hội ta có biết bao con người sạch, nhưng cũng còn không ít người không sạch. Ông cha ta dạy: Đói cho sạch, rách cho thơm. Đói mà sạch là không dễ, nhưng no mà sạch càng khó hơn./.

Nhận diện từ sớm, đấu tranh từ xa, chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính, bảo vệ nội bộ chính là yếu tố quan trọng, góp phần vô hiệu hóa sự tác động, ảnh hưởng của các quan điểm thù địch, độc hại.

 Tổng Bí thư, sau khi đề cập đến những khuyết điểm, hạn chế và những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục chỉ ra sự chống phá, can thiệp, âm mưu “diễn biến hòa bình” tiếp tục là một trong những nguy cơ, trở lực của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta đã chỉ ra từ nhiều kỳ đại hội trước. Thực tế cho thấy, hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch là một trong những nội dung chính trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Do tính chất thâm độc, hậu quả nghiêm trọng, lâu dài, phương thức, thủ đoạn khó lường, khó nhận diện của nó nên chúng ta không được phép chủ quan, mất cảnh giác, không để bị tiêm nhiễm yếu tố độc hại vào tư tưởng, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân rồi mới triển khai biện pháp phòng, chống. Chúng ta phải đi trước một bước, phải có biện pháp phòng ngừa, triệt tiêu cái nguy cơ, mối đe dọa từ gốc, từ sớm, từ xa, đấu tranh bằng cả chính trị và khoa học - kỹ thuật, vừa trước mắt, vừa lâu dài, đấu tranh từ trong nước đến tận trung tâm phá hoại, sào huyệt của các thế lực thù địch ở bên ngoài.

Các ban, ngành chức năng, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác đấu tranh, phản bác cần phải thường xuyên nghiên cứu, nhận diện, phát hiện sớm những phương thức, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch để kịp thời tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân biết để nâng cao cảnh giác, không tin theo, nghe theo những luận điệu đó. Không chỉ đấu tranh, phản bác các quan điểm phản động, thù địch mà còn phải nhận diện kịp thời và đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm lập lờ, sai trái, thật giả lẫn lộn của các đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các phần tử thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn. Cần phải cô lập, chia cắt mối liên hệ giữa các thế lực thù địch với các phần tử này trong nội bộ để phá thế “nội công, ngoại kích”, “tác động chuyển hóa” theo ý đồ của chúng.

Đi đôi với việc chủ động tổ chức các hình thức đấu tranh, phản bác, các tổ chức đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang từ cấp cơ sở đến Trung ương cần xác định trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng thì phòng ngừa, bảo vệ nội bộ, bảo vệ bên trong là chính. Cần thấy rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng, tinh thần cảnh giác cho đảng viên, cán bộ và nhân dân, coi đây là pháo đài không thể công phá. Cần lồng ghép vấn đề phòng ngừa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với các phong trào cách mạng, phong trào thi đua yêu nước ở các đơn vị, địa phương, triển khai đến từng người, từng gia đình ở khu dân cư, tổ dân phố, các tổ chức chính trị - xã hội để làm tốt công tác phòng ngừa trước sự tác động của các thông tin xấu, độc. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và những cá nhân có uy tín tiếp tục tăng cường đăng tải, công bố những bài viết, bài phát biểu để tuyên truyền, động viên, khích lệ, củng cố, tăng cường và lan tỏa niềm tin, tình cảm thiêng liêng đến đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân vào những thời điểm thích hợp như bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa qua là một ví dụ điển hình.