Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2021

Tích cực ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”

        Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân, v.v. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của chúng là “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất công cụ bạo lực sắc bén, không còn giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

        Nhận thức đúng tình hình đó, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

        Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thời gian qua còn có những hạn chế, như: lực lượng chuyên trách của một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; hình thức tiến hành chủ yếu vẫn là chia sẻ các bài viết có sẵn trên mạng; tần suất những bài viết, thông tin có chiều sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trong thời gian tới, cần tích cực ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng, đặc biệt là Bộ Tư lệnh 86, theo chức năng, nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Hoàn thiện, đưa vào khai thác, sử dụng các phần mềm quản lý kết quả đấu tranh và hỗ trợ các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng, thực hiện các chiến dịch truyền thông chủ động. Nghiên cứu, đề xuất việc sử dụng phần mềm Mocha Viettel, sản xuất điện thoại di động nội bộ, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí bảo đảm an toàn, vừa góp phần quản lý tình hình tư tưởng, dư luận và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ Quân đội trên không gian mạng.

Chủ động cung cấp thông tin, định hướng nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”

        Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân, v.v. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của chúng là “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất công cụ bạo lực sắc bén, không còn giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

        Nhận thức đúng tình hình đó, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

        Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thời gian qua còn có những hạn chế, như: lực lượng chuyên trách của một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; hình thức tiến hành chủ yếu vẫn là chia sẻ các bài viết có sẵn trên mạng; tần suất những bài viết, thông tin có chiều sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trong thời gian tới, cần chủ động cung cấp thông tin, định hướng nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Hiện nay, Việt Nam có hơn 58 triệu người đã sử dụng tài khoản facebook và tiếp nhận rất nhiều thông tin qua mạng xã hội này. Thế nhưng, những nguồn thông tin chính thống và có thẩm quyền từ các cơ quan chức năng trên các trang mạng xã hội lại rất ít. Khi có sự việc nhạy cảm xảy ra thường phản ứng chậm, hình thức thông tin chưa phù hợp,... khiến cho tin giả, tin bịa đặt, tin suy diễn xuất hiện tràn lan, không có nguồn để xác thực, kiểm chứng tính đúng sai, thật giả lẫn lộn, gây xáo trộn, hoang mang dư luận công chúng. Vì vậy, các cơ quan chức năng phải nhạy bén, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin theo Luật An ninh mạng và Quy chế phát ngôn, nhất là các vấn đề có liên quan đến Quân đội. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần chỉ đạo cơ quan chức năng bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn đơn vị đóng quân. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 các cấp tập trung biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo,… làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng cho lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Ở từng cấp, cần duy trì tốt nền nếp chế độ hội ý cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp đấu tranh. Trong đó, cần chỉ rõ mục tiêu, luận điểm chống phá của các thế lực thù địch trong các tin, bài; cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác từ hệ thống ngân hàng đã được biên soạn sẵn, làm cơ sở cho lực lượng viết bài tham gia đấu tranh. 

Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”

        Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân, v.v. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của chúng là “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất công cụ bạo lực sắc bén, không còn giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

        Nhận thức đúng tình hình đó, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

        Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thời gian qua còn có những hạn chế, như: lực lượng chuyên trách của một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; hình thức tiến hành chủ yếu vẫn là chia sẻ các bài viết có sẵn trên mạng; tần suất những bài viết, thông tin có chiều sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trong thời gian tới, cần đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn đấu tranh có hiệu quả, cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ trì các cấp phải có bản lĩnh chính trị vững vàng và hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để làm được điều này, các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các học viện, nhà trường nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, nghiên cứu lý luận chính trị, cốt lõi là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn trong quan điểm của Đảng về quân sự quốc phòng; luận giải thuyết phục, thấu đáo những vấn đề mới nảy sinh. Đồng thời, kết hợp đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới. Nắm chắc, hiểu rõ về tính hai mặt của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng trong chống "Diễn biến hòa bình"

        Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân, v.v. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của chúng là “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất công cụ bạo lực sắc bén, không còn giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

        Nhận thức đúng tình hình đó, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

        Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thời gian qua còn có những hạn chế, như: lực lượng chuyên trách của một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; hình thức tiến hành chủ yếu vẫn là chia sẻ các bài viết có sẵn trên mạng; tần suất những bài viết, thông tin có chiều sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trong thời gian tới, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong công tác quan trọng này. Trước hết, cần xác định: đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, diễn biến phức tạp, quyết liệt, thường xuyên và lâu dài. Vì vậy, để thống nhất nhận thức và hành động, cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm và sự cần thiết phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh không khoan nhượng này. Thực hiện tốt Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; đưa nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ hoặc chuyên đề của cấp ủy đảng và nội dung sinh hoạt của tổ chức đảng, sát với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cấp ủy các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá phù hợp với nhận thức từng đối tượng cụ thể cần tuyên truyền, đấu tranh. Đồng thời, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình trong từng thời kỳ; không giáo điều, rập khuôn máy móc. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội qua blog, facebook,… của những quân nhân có biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; trường hợp cố tình vi phạm những quy định phải cương quyết xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Độ an toàn, hiệu quả của 4 loại vaccine Việt Nam đang sử dụng ra sao?

    Bốn loại vaccine được Việt Nam đã đưa vào sử dụng đều đã được WHO cấp phép cho sử dụng khẩn cấp, tức về mức độ an toàn và hiệu quả theo báo cáo đều đạt tiêu chuẩn.
    Bốn loại vaccine AstraZeneca, Moderna, Pfizer, và Sinopharm được Việt Nam đã đưa vào sử dụng đều đã được WHO cấp phép cho sử dụng khẩn cấp tức về mức độ an toàn và hiệu quả theo báo cáo đạt tiêu chuẩn. An toàn tức là khi tiêm không có phản ứng phụ hoặc phản ứng phụ không quá nghiêm trọng (ví dụ: sốt, nhức đầu, mỏi mệt,…)
    Về hiệu quả bảo vệ thì có sự khác nhau giữa bốn loại này. Dựa vào các báo cáo thử nghiệm (không bao gồm thử nghiệm trên biến thể Delta) thì Moderna và Pfizer có hiệu quả bảo vệ tốt nhất, tốt hơn AstraZeneca, và cuối cùng là Sinopharm (khoảng 78%). Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng hiệu quả bảo vệ không hàm nghĩa là nếu đã tiêm đủ mũi theo khuyến cáo thì không nhiễm bệnh nữa.

  

Chống dịch bền vững từ “cộng đồng nhỏ an toàn”

Thời gian qua, mỗi ngày có gần 1.000 người đăng ký khi Hà Nội thực hiện xét nghiệm miễn phí tất cả trường hợp ho, sốt hoặc có dấu hiệu nghi ngờ của COVID-19 trong cộng đồng. Qua tầm soát, thành phố đã phát hiện ra các ca bệnh, dù không nhiều nhưng ở rải rác khắp các quận, huyện.
        Hà Nội cũng phát hiện các ca bệnh lây trong các khu vực nguy cơ cao như bệnh viện, chợ, xí nghiệp, chuỗi cung ứng... Do đó, thành phố đã quyết định kéo dài thời gian giãn cách xã hội đến 6h00 ngày 23/8.
        Trong thời gian giãn cách vừa qua, Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả bước đầu tích cực, thể hiện bằng sự quyết liệt của chính quyền và sự ủng hộ của người dân. Dù hiện nay số ca mắc COVID-19 mới chưa thể phải về “0”, nhưng đã có xu hướng giảm.
        “Trong đánh giá dịch tễ, chúng tôi nhận thấy, số ca dương tính mới không thể giảm ngay được. Điều quan trọng là số nhiễm mới, ổ dịch mới ngoài cộng đồng thấp đi, số mắc mới chủ yếu trong khu cách ly, phong toả”, Cố vấn cao cấp Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, PGS.TS Trần Đắc Phu đánh giá.
        Cũng theo ông Phu, Hà Nội đã tiến hành xét nghiệm COVID-19 không tràn lan, không lãng phí khi tập trung vào các đối tượng nguy cơ, vùng nguy cơ cao. Đặc biệt, trong những ngày qua, Hà Nội đã lấy và xét nghiệm hàng trăm nghìn mẫu của các đối tượng này, theo đó, phát hiện thêm một số ít ca F0 mới trong cộng đồng.
        “Hà Nội cũng truy vết rất nhanh, khi xuất hiện ca F0 là truy vết F1 để khống chế được ổ dịch ngay. Thành phố đã phát hiện hàng chục F0 ở chợ, khu công nghiệp, bệnh viện… nhưng đã khống chế được”, ông Phu cho biết. 

Hà Nội có cần kéo dài giãn cách để chống dịch?

Trả lời câu hỏi này của phóng viên, PGS.TS Trần Đắc Phu cho rằng, từ nay đến khi hết giãn cách xã hội (6h ngày 23/8), Hà Nội chỉ có giãn cách nghiêm ngặt mới cắt đứt được sự lây truyền virus từ người nhiễm bệnh đang lẩn khuất trong cộng đồng sang cho người lành.
        “Chúng ta không thể nào xét nghiệm hết gần 10 triệu người dân đang ở Hà Nội. Nếu có xét nghiệm thì hôm nay âm tính, ngày mai có thể dương tính vì người ta đang trong thời kỳ ủ bệnh”. Nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng khuyến nghị Hà Nội rất cần nghiêm túc trong thực hiện giãn cách, kiên trì thực hiện 5K để cắt chuỗi lây nhiễm từ người bệnh sang người lành.
        Đề cập chiến lược đang được tập trung hiện nay, ông Phu nhấn mạnh, Hà Nội cần tiếp tục bảo vệ vùng xanh, vùng an toàn thì mới có thể đảm bảo hiệu quả chống dịch bền vững. Tuy nhiên, bảo vệ vùng an toàn không có nghĩa là “ngăn sông cấm chợ”. Khi có khu phố an toàn, xóm ngõ an toàn sẽ tiến tới phường/xã, quận/huyện an toàn và thành phố sẽ an toàn.
        “Hà Nội đang tiếp tục xét nghiệm đánh giá nguy cơ và bóc tách các F0 ngoài cộng đồng. Tuần cao điểm xét nghiệm cũng sẽ giúp thành phố đánh giá nguy cơ để quyết định hiệu quả của việc giãn cách xã hội ra sao. Tôi cho rằng, nếu tiếp tục thực hiện quyết liệt thì Hà Nội sẽ kiểm soát được dịch”. PGS.TS Trần Đắc Phu nói./.

Tăng cường hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 trên mạng xã hội

Ngày 13/8, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có văn bản số 3082/BTTTT-CBC gửi các Sở Thông tin và Truyền thông; các cơ quan báo chí; tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội về việc tăng cường hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19.

Theo đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan báo chí, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội trên mạng tuyên truyền sinh động về thông điệp 5K (Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo y tế) bằng nhiều hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc điểm văn hóa vùng miền; cập nhật các hướng dẫn, quy định của ngành y tế, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, vận động, hướng dẫn, kêu gọi người dân xây dựng các hành vi, thói quen, kỹ năng mới phòng, chống dịch COVID-19.

Trong đó, các đơn vị tập trung về các nội dung liên quan đến việc tuân thủ thực hiện giãn cách xã hội; tuân thủ hướng dẫn, cập nhật các quy định về cách ly y tế các trường hợp F0, F1...; hướng dẫn thông tin tiêm vaccine phòng COVID-19 và lợi ích của việc tiêm chủng; hướng dẫn, cảnh báo các hành vi, thói quen, kỹ năng an toàn và mất an toàn bằng nhiều hình thức sinh động, dễ hiểu, dễ lan tỏa, dễ áp dụng để mỗi người, mỗi gia đình hiểu biết thực sự đầy đủ về các biện pháp tự bảo vệ an toàn trong mùa dịch, trong vùng có dịch.

Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan báo chí, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội cần cập nhật thông tin liên tục, kịp thời, chính xác từ nguồn tin chính thống của Bộ Y tế, ngành y tế, chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn; chấn chỉnh tình trạng thông tin không chính xác, chưa kiểm chứng, không rõ nguồn gốc, đăng tải những hình ảnh, nội dung không phù hợp, vi phạm các quy định của pháp luật về báo chí. Chủ động phát hiện và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động, sai sự thật về công tác phòng, chống dịch COVID-19 trên các phương tiện, không gian truyền thông.

Các đơn vị tăng cường thông tin truyền cảm hứng, nêu gương người tốt, việc tốt, tinh thần đoàn kết, sẻ chia, đùm bọc giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn trong mùa dịch bệnh; nhân rộng cách làm hay, mô hình phòng, chống hiệu quả; đặc biệt, phản ánh nỗ lực của hệ thống chính trị, các cơ quan chức năng, lực lượng tuyến đấu chống dịch chung tay đẩy lùi dịch bệnh COVID-19.

Đồng thời, Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan báo chí, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội trên mạng đổi mới hình thức tuyên truyền phong phú, sinh động, tránh dập khuôn; sáng tạo các thông điệp dễ nhớ, dễ hiểu, dễ tiếp cận; tăng thời lượng, số lượng các tin, bài hướng dẫn, phổ biến kiến thức về bảo vệ sức khỏe; tổ chức các chương trình tọa đàm tư vấn về y tế, phỏng vấn chuyên gia y tế,... phù hợp với từng vùng miền, nhóm đối tượng cụ thể.

Các Đài Phát thanh - Truyền hình tăng cường tần suất phát sóng các chương trình, chuyên mục giáo dục, phổ biến kiến thức bảo vệ sức khỏe tối thiểu 3 lần/ngày, lựa chọn phát sóng vào khung giờ, thời điểm có nhiều người nghe, người xem; đẩy mạnh sản xuất các chương trình giải trí, thông qua đó lồng ghép tuyên truyền về thông điệp 5K, hướng dẫn, tư vấn sức khỏe cho người dân...

Các cơ quan báo chí in và điện tử cần xây dựng chuyên trang, chuyên mục, dành vị trí dễ tiếp cận và thể hiện nội dung thông tin sinh động, đa chiều, sáng tạo về công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo, định hướng, đôn đốc các cơ quan báo chí địa phương, hệ thống thông tin cơ sở triển khai thực hiện việc tuyên truyền phòng, chống dịch COVID-19 theo Nghị quyết số 86/NQ-CP, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia, địa phương và định hướng nêu trên, trong đó, tập trung chỉ đạo truyền thông cơ sở tiếp tục phát huy, có hình thức phù hợp, sinh động hơn nữa trong việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn sâu rộng đến người dân.

            Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội trên mạng chủ động rà quét thông tin trên không gian mạng, chia sẻ, lan tỏa những thông tin truyền cảm hứng, gương người tốt, việc tốt, cách làm hay, hiệu quả trong phòng, chống dịch; kiến nghị các biện pháp xử lý đối với các thông tin xấu, bịa đặt, thông tin giả mạo, xuyên tạc về công tác phòng, chống dịch COVID-19. 

Người dân Pháp hướng về nạn nhân chất độc da cam Việt Nam

 Một nhóm nhân vật có uy tín ở Pháp mong muốn đưa tội ác rải chất độc da cam xuống Việt Nam ra khỏi sự lãng quên và kêu gọi thế giới dành một ngày chính thức để tưởng nhớ các nạn nhân da cam.

Chuyên mục 'Diễn đàn' trên báo Le Monde đã đăng bài viết của Hiệp hội Collectif Vietnam-Dioxine kêu gọi chính giới Pháp và cộng đồng quốc tế ủng hộ các nạn nhân da cam ở Việt Nam và dành cho họ một ngày để tưởng niệm.

Với tiêu đề 'Chúng tôi muốn phá vỡ sự im lặng về hậu quả của chất độc da cam ở Việt Nam,' bài viết nhấn mạnh 60 năm sau ngày quân đội Mỹ bắt đầu chiến dịch rải chất độc da cam, một hóa chất diệt cỏ cực mạnh có chứa dioxin, một tiền tố gây ung thư và các dị tật bẩm sinh, xuống nhiều khu vực ở miền Nam Việt Nam, những hậu quả của chất độc này vẫn còn hiện hữu. Do đó, một nhóm nhân vật có uy tín ở Pháp mong muốn đưa tội ác này ra khỏi sự lãng quên và kêu gọi thế giới dành một ngày chính thức để tưởng nhớ các nạn nhân da cam.

Theo bài viết, trong sách lịch sử và địa lý của Pháp, ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, chiến tranh Việt Nam cũng được đề cập đến. 

Tuy nhiên, nội dung giảng dạy chỉ giới hạn trong những nét chính về cuộc chiến đã qua, nhưng lại không nhắc tới những hậu quả thảm khốc vẫn còn hiện hữu cho đến ngày nay, ảnh hưởng nặng nề đối với hệ sinh thái và cư dân. 

Các giáo viên cũng thường xuyên bỏ qua việc nhấn mạnh sự khác biệt giữa bom napalm và chất độc da cam, điều mà người Pháp không phải lúc nào cũng phân biệt được bởi họ không hề có mặt ở đó khi thảm họa da cam diễn ra, và cũng bởi sự nổi tiếng của tấm hình chụp một em bé Việt Nam bị bỏng bởi bom napalm năm 1972. Điều này dẫn tới những nhận thức mơ hồ về một cuộc chiến tranh ở một nơi xa xôi và trong dĩ vãng. 

Tuy nhiên, cuộc chiến này, đối với các cựu chiến binh và con cháu của họ thì khó có thể quên được, thậm chí họ luôn phải âm thầm chịu đựng cho đến nay.

Bài viết nhấn mạnh đất nước và người dân Việt Nam đã quen nhìn thấy những khuôn mặt và những thân hình biến dạng. Những mảnh đời bất hạnh đó cũng quen sống trong im lặng, chịu đựng nỗi đau mà thậm chí đôi khi họ không hề biết rằng mình là nạn nhân của hậu quả từ vụ rải chất độc da cam trước kia. Vì vậy, cần phải phá vỡ sự im lặng này.

Bài viết cho rằng tất cả nạn nhân da cam không đáng phải chịu đựng nỗi đau và sự thiệt thòi, khi không được chính thức công nhận như các cựu chiến binh Mỹ, sống trong những điều kiện vật chất thiếu thốn và hầu như không được thế giới nhớ đến dù chỉ trong ký ức. Do đó, cần phải đấu tranh giành công lý cho họ kể cả ở Việt Nam cũng như ở các nước khác.

Trong khi đó, các hiệp hội ở Pháp, chịu trách nhiệm xác minh các gia đình và các thế hệ có khả năng bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam vẫn gặp khó khăn lớn trong việc xác định những đối tượng bị tổn thương, một phần bởi những người này thường xấu hổ, muốn che giấu nỗi bất hạnh và cũng bởi thiếu thông tin về nguồn gốc.

Chính vì những điều này, bài viết đề nghị các nghị sỹ Quốc hội Pháp tham gia việc đền bù cho những bất công mà tất cả nạn nhân chất độc da cam phải gánh chịu, bằng cách công nhận tội ác từng được thực hiện ở Việt Nam và ở các nước láng giềng như Campuchia và Lào. 

Hiệp hội Collectif Vietnam-Dioxine kêu gọi lấy một ngày chính thức để tưởng niệm các nạn nhân chất độc da cam, cũng như xem xét đưa vào giảng dạy trong nhà trường về tác động của Chiến tranh Việt Nam đối với con người và hệ sinh thái. Hiệp hội khẳng định sẽ tiếp tục vận động và nỗ lực tham gia để ủng hộ Việt Nam./.

Nguyễn Hải st

Những ý tưởng về cuộc cách mạng xanh trong thời đại 4.0

 

Những năm gần đây đã xuất hiện quan điểm về "Cách mạng xanh" với tư cách là "phương thức sản xuất và lối sống tương lai" ở Việt Nam. Có thể nói những quan điểm này trước hết thể hiện sự tâm huyết của tác gia đối với vấn đề phát triển của đất nước trước sự biển đổi khí hậu, kinh tế thị trường tư bản, tăng dân số thế giới và cách mạng công nghiệp 4.0.

MLN. Nh

Cách mạng xanh lần thứ 2

 

Từ năm 1983, Ấn Ðộ phát động Cách mạng xanh lần thứ hai, với mục tiêu "thay đổi về chất" trong sản xuất nông nghiệp, tiếp tục nghiên cứu, tạo ra các giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu dịch bệnh; áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, nhằm tạo ra năng suất, sản lượng lương thực cao hơn; mở rộng việc cung cấp các yếu tố đầu vào và dịch vụ cho nông dân.

Năm 1991, khi Ấn Ðộ bắt đầu công cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế, nông nghiệp được coi là lĩnh vực trọng tâm. Xuất phát từ nhận thức sâu sắc rằng, cải cách nông nghiệp một cách toàn diện có thể làm cho kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội ổn định thật sự. Hàng loạt những biện pháp được Chính phủ áp dụng, trong đó tập trung vào ba điểm chính: áp dụng công nghệ và kỹ thuật canh tác mới; Quản lý, điều phối nguồn nước tưới tiêu và bảo đảm thu nhập tăng và đời sống tốt hơn cho nông dân. Công nghệ và kỹ thuật canh tác mới đối với nông nghiệp là yếu tố hàng đầu, có vai trò quan trọng trong việc tăng sản lượng lương thực.

Ðối với một nước đông dân như Ấn Ðộ, việc bảo đảm an ninh lương thực là vấn đề lớn của quốc gia. Theo dự báo, đến năm 2020, dân số của Ấn Ðộ sẽ tăng lên 1,4 tỷ người. Ấn Ðộ cần 300 triệu tấn lương thực một năm, phải duy trì mức tăng sản lượng lương thực liên tục ở mức 6% mỗi năm. Nước là yếu tố hàng đầu trong nông nghiệp, đặc biệt trong trồng lúa nước.

Ấn Ðộ có hai lưu vực sông lớn, phía bắc, có lưu vực sông Hằng cùng với sông Jamuna và một số con sông khác, dẫn nước mưa và tuyết tan vào mùa hè từ dãy Himalaya vào vịnh Bengal. Lượng nước dư thừa ở phía bắc tới 34%, đây là hệ thống tưới tiêu chính và cũng là nguồn gây ra lụt lội vào mùa mưa.

Một hệ thống năm sông lớn khác bắt nguồn từ Himalaya chảy qua bang Punjab đổ ra biển Ả-rập. Lưu vực sông miền nam bảo đảm nước sinh hoạt và tưới cho bán đảo Ấn Ðộ. Dù có bốn con sông lớn chảy xuống bán đảo Ấn Ðộ, hằng năm khu vực này vẫn thiếu khoảng 20% lượng nước cần thiết. Trong 50 năm qua, ít nhất đã ba lần Ấn Ðộ có ý định thực hiện dự án sông nhân tạo với chi phí khoảng 200 tỷ USD, nhưng phải dừng lại do nhiều lý do.

Ấn Ðộ đang thực hiện dự án nhỏ hơn, chuyển lượng nước dư thừa ở miền bắc sang hướng tây. Theo đó nối 14 con sông lớn ở vùng núi Himalaya của Ấn Ðộ với 17 con sông lớn nhỏ ở miền nam; một con kênh dài khoảng 2.500 km dẫn nước từ miền bắc cung cấp khoảng 1.000 tỷ m3 nước hằng năm cho từ 25 đến 30 triệu ha lúa ở miền tây và tây-nam, góp phần làm tăng sản lượng lương thực của Ấn Ðộ hằng năm thêm 50-60 triệu tấn. Ðiều quan trọng hơn là Ấn Ðộ sẽ chế ngự được các dòng sông thường gây lụt vào mùa mưa. Tổng chi phí cho dự án này khoảng 40 tỷ USD thực hiện trong vòng 15 năm. Khi dự án hoàn thành, Ấn Ðộ có thể sản xuất  khoảng 450 triệu tấn lương thực (trị giá 60 tỷ USD) hằng năm vào năm 2050, bảo đảm lương thực cho khoảng 1,5 tỷ dân và xuất khẩu.

Thu nhập của nông dân Ấn Ðộ còn có cách biệt lớn. Những người sở hữu nhiều ruộng đất giàu có, được hưởng sự trợ giúp tốt hơn, tiếp cận với nhiều nguồn vốn và nhiều khả năng tiếp thu, áp dụng thành tựu của khoa học và công nghệ. Những người sở hữu ít ruộng đất chiếm đa số, còn rất nghèo. Ðể bảo đảm thu nhập tốt hơn cho những nông dân nghèo, Chính phủ Ấn Ðộ thực hiện nhiều  chính sách, biện pháp, phát triển hạ tầng nông thôn, cơ cấu giá cả, bảo đảm thu nhập công bằng cho nông dân, nâng cao năng suất nông nghiệp, cải thiện mức sống cho nông dân.

MLN. Nh

Cách mạng trắng - sự nối tiếp cách mạng xanh

 


Cuộc cách mạng trắng là còn được gọi là Lũ chiến dịch. Đây là một chương trình phát triển nông thôn bắt đầu từ những năm 1970 ở Ấn Độ. Điều này được khởi xướng bởi Ủy ban Phát triển Nhật ký Quốc gia Ấn Độ. Đặc điểm chính của cuộc cách mạng trắng là nó cho phép Ấn Độ nổi lên trở thành nhà sản xuất sữa lớn nhất trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng màu trắng rất gắn liền với nó bởi vì chương trình liên quan đến các sản phẩm sữa đặc biệt là sữa.

Mục tiêu của chương trình là hỗ trợ nông dân chăn nuôi bò sữa ở nông thôn phát triển khi nó tạo ra một mạng lưới nơi nông dân và người tiêu dùng trên khắp thế giới được kết nối trực tiếp. Điều này cực kỳ thuận lợi cho nông dân vì họ được cung cấp một mức giá tốt hơn cho các sản phẩm của họ.

Mô hình sản xuất sữa đặc thù của Ấn Ðộ được nhiều nước đang phát triển học tập. Với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình, sản lượng sữa tăng hằng năm 6%, đưa Ấn Ðộ đã trở thành một trong những nước sản xuất và xuất khẩu sữa hàng đầu trên thế giới (từ 17 triệu tấn năm 1951, lên 81 triệu tấn năm 2000, 91 triệu tấn năm 2005 và 96,1 triệu tấn năm 2006). Ngành nông nghiệp của Ấn Ðộ phát triển nhanh, hiện đóng góp 22% vào GDP và gần 16% vào doanh thu xuất khẩu. Những thành tựu về cải cách nông nghiệp đã giúp Ấn Ðộ ổn định kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo cho nông dân, thúc đẩy kinh tế phát triển. 

MLN. Nh