Thứ Hai, 16 tháng 8, 2021
Khả năng lây nhiễm và trốn tránh vaccine của Lambda
Về cơ bản, các đột biến ảnh hưởng đến protein S gắn trên vỏ ngoài của virus có thể làm tăng khả năng virus bám vào các tế bào. Vì nhiều loại vaccine được phát triển dựa trên protein S, những thay đổi nhỏ ở biến thể mới cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của vaccine.
Biến thể Lambda nguy hiểm ra sao?
Biến thể Lambda chứa các
đột biến giúp virus dễ dàng bám vào tế bào người, có nguy cơ trốn tránh được kháng
thể tạo bởi vaccine.
Biến thể được báo cáo ở
Peru lần đầu vào tháng 12/2020, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Sau đó, nó lây
lan sang nhiều nước ở Nam Mỹ, hiện chiếm hơn 20% các biến thể đang lưu hành.
Đến nay, Lambda xuất
hiện ở hơn 20 quốc gia. Ngày 15/8, Philippines trở thành nước mới nhất báo cáo
ca nhiễm biến thể Lambda. Người bệnh là một phụ nữ 35 tuổi, không có triệu
chứng và đã phục hồi sau 10 ngày cách ly. Giới chức đang tiến hành truy vết
tiếp xúc.
Trung tâm Kiểm soát và và
Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) châu Âu nói Lambda là "biến thể đang theo dõi",
Cơ quan Y tế Công cộng Anh gọi nó là "biến thể được điều tra".
Tháng 6 năm nay, WHO xếp
Lambda vào nhóm "biến thể đáng quan tâm". Điều này là do đột biến của
Lambda có thể ảnh hưởng đến đặc tính virus, chẳng hạn khiến nó lây nhiễm tế bào
dễ dàng hơn. Dù vậy, WHO chưa coi đây là "biến thể đáng lo ngại" như
Alpha hoặc Delta.
Các chuyên gia vẫn tiếp
tục công bố bằng chứng dịch tễ về mối đe dọa từ biến thể Lambda. Vì vậy, ở giai
đoạn này, cần có thêm nghiên cứu để hiểu rõ cách các đột biến của nó ảnh hưởng đến
khả năng lây nhiễm, khả năng trốn tránh vaccine và mức độ nghiêm trọng của
bệnh.
Bằng chứng cho thấy
Lambda dễ lây nhiễm vào tế bào hơn, có thể né tránh miễn dịch tốt. Nhưng
vaccine vẫn hiệu quả chống lại nó.
Chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng để phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Giáo dục chính trị tư tưởng là công
việc của mọi cấp, mọi ngành. Bởi công tác giáo dục chính trị tư tưởng góp phần
bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng, để khi đối
mặt với khó khăn, thử thách; đứng trước những cám dỗ vật chất, tác động từ
những tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường hay đòn tấn công hiểm độc của các
thế lực thù địch, cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên định, vững vàng, không hoang mang,
dao động, phai nhạt lý tưởng, giảm ý chí chiến đấu. Nếu mọi cán bộ, chiến sĩ đều
có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành
mạnh, thì sự “xâm nhập” của các tác nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” sẽ bị triệt tiêu từ khi có “mầm”.
Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các
cấp cần coi trọng triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, kiên quyết ngăn
chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống
của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Một trong những giải pháp hàng đầu là tổ chức
thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh, gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng,
xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, công tác bảo vệ
chính trị nội bộ, công tác quản lý cán bộ, chiến sĩ; kịp thời phát hiện, ngăn
chặn những biểu hiện suy thoái ngay từ khi mới xuất hiện; tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Chú trọng đúng mức công tác giáo dục
chính trị tư tưởng, xây dựng thành lũy tư tưởng vững chắc cho mọi cán bộ, chiến
sĩ phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ.
Đi đôi với đó, người chủ trì các cơ
quan, đơn vị cần gương mẫu trong rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, đi đầu
trong đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống. Sự nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì sẽ có tác dụng thúc đẩy sự tự
giác, thái độ nghiêm túc của cán bộ, chiến sĩ trong phấn đấu, rèn luyện và đấu
tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, mầm mống của “tự diễn biến”, “tự
chuyển hoá”.
Điều quan trọng, mấu chốt đó là bản thân
mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tự giác rèn luyện, nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, tăng
cường “sức đề kháng” và “độ miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa
bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù
địch và sự tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường; không ngừng tu
dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, xem xét đối chiếu mình với tiêu
chuẩn đạo đức cách mạng, từ đó điều chỉnh hành vi của chính mình, tránh cám dỗ
của lối sống hưởng thụ xa hoa, lãng phí, sách nhiễu, quan liêu, tham nhũng.
Từng bước đẩy lùi cái xấu, làm cho đạo đức cách mạng trong mỗi cá nhân ngày càng
phát triển, góp phần xây dựng các tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD, hoàn thành
tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Một biểu hiện suy thoái “kép”
Với tư cách là chiến sĩ
cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân
tộc Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ lâu đã ăn sâu vào trái tim,
khối óc của nhân dân lao động bởi nói đến đảng viên là nói đến hình ảnh dấn thân,
tinh thần cống hiến, tấm gương hy sinh, trách nhiệm cao cả đối với Tổ quốc và
nhân dân. Điều này đã được biểu hiện sinh động trong các cuộc kháng chiến giải
phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, những năm
qua, trước sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng
viên không những không giữ gìn được vai trò tiên phong, gương mẫu của người
cộng sản, mà còn có biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, không làm tròn chức trách,
nhiệm vụ được giao. Trong số 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nêu ra, có một biểu hiện suy thoái “kép” đáng
báo động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là: “Né tránh trách nhiệm,
thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu
quả” và “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi
hỏi chính đáng của nhân dân”.
Theo kết quả điều tra dư
luận xã hội cách đây chưa lâu của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội, một trong 4
vấn đề liên quan đến cán bộ, đảng viên chưa được đa số nhân dân ghi nhận, đó là
tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên chưa hết lòng vì tập thể, vì việc
chung, vì nhân dân, vì đất nước.
Đã là trách nhiệm thì
phải làm đến nơi đến chốn. Trong khi Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy
sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì còn
không ít người tìm mọi cách để trục lợi, tham nhũng nhằm vinh thân phì gia. Khi
Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên “kiên quyết không nhận quà biếu với động cơ vụ
lợi dưới mọi hình thức; không để cho người thân lợi dụng quyền hạn và ảnh hưởng
của mình để trục lợi”, thì một số người vẫn thản nhiên thu vén, vơ vét quà cáp
của nhân viên, cấp dưới, người lao động và để cho vợ con lén lút làm những việc
không trong sáng, minh bạch, gây điều tiếng xấu. Khi Đảng yêu cầu phải đề cao ý
thức trung thực, công tâm, cầu thị trong tự phê bình và phê bình, thì còn nhiều
cán bộ, đảng viên né tránh khuyết điểm, chạy theo thành tích, thậm chí lợi dụng
phê bình để tâng bốc, tung hô nhau hoặc thành kiến, trù dập những người có ý
kiến cương trực, thẳng thắn. Khi được bổ nhiệm chức vụ mới, đáng ra cán bộ phải
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhưng có những người đã
lợi dụng vị trí công để lo việc tư, cắt xén của công đưa vào nhà riêng, lúc tập
thể có thành tích thì "vơ" công lao về cá nhân mình, khi cơ quan, đơn
vị có khuyết điểm thì lại đổ lỗi trách nhiệm chung nhằm “đánh bùn sang ao”, “hòa
cả làng”! Thậm chí ở một số nơi đã xuất hiện tình trạng người đứng đầu miệng thì
“thao thao bất tuyệt” là phải phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng
khi lại mưu mẹo, khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo “nuông chiều” theo ý kiến cá
nhân, lúc thì lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp
ủy tán thành với chủ kiến bản thân đưa ra. Đây thực chất là biểu hiện dựa dẫm,
ỷ lại vào “trách nhiệm tập thể” nhưng để né tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh
đạo khi có hệ lụy xảy ra.
Một đảng viên bình thường khi thiếu trách nhiệm đã là điều đáng trách. Nhưng đáng phê phán hơn là một bộ phận đảng viên có chức, có quyền thiếu trách nhiệm trong rèn luyện, tu dưỡng, công tác. Vì sự thiếu trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo các cấp không chỉ ảnh hưởng đến tư cách, uy tín cá nhân, mà còn tác động không thuận đến sự phát triển ổn định, lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cán bộ có chức vụ càng cao mà thiếu trách nhiệm thì càng gây ra những hệ lụy, hậu quả lớn.
Đề cao trách nhiệm nêu gương để phòng ngừa, giảm thiểu suy thoái
Sống trong cuộc đời này,
ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công
việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với
cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc
phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá
trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người
chiến sĩ tiên phong của Đảng. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Giải đáp câu hỏi
này, sinh thời, Bác Hồ đã khẳng định: “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên
giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần,
lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm
một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao
làm vậy, v.v.. là không có tinh thần trách nhiệm”.
Nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với chức trách được phân công, góp công góp sức cùng cán bộ, nhân viên, người lao động trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Phải làm sao để theo ngày ngày tháng tháng, mỗi cán bộ, đảng viên càng làm việc càng trôi chảy, hiệu quả, càng đóng góp nhiều hơn cho tập thể. Vì khi tập thể vững mạnh, trưởng thành thì bản thân mình cũng tiến bộ.
Một trong những tiêu chí
cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm
vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân
sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không
chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người
cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi
dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi
thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang
lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu
theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển
biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực. Như vậy, “dám chịu trách
nhiệm” ở đây là tinh thần đề cao “trách nhiệm nhân đôi” và cũng là bản lĩnh
vững vàng của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp.
Trong tình hình hiện
nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm
cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có
chức có quyền luôn bị những cám dỗ bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là,
dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng và
tửu sắc đầy mê hoặc, quyến rũ nhưng chòng chành, mong manh như đứng bên lề vực
thẳm! Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội
ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái.
Đấu tranh đẩy lùi bệnh “Công thần”
Theo từ điển Tiếng việt, về danh từ, công thần là những quan có công lớn với triều chính. Bệnh công thần là những người có tư tưởng dựa vào công lao đóng góp của mình mà sinh ra kiêu ngạo và đòi hỏi đãi ngộ quá đáng. Đây là căn bệnh đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ lâu. Khi nhắc đến bệnh công thần, Người đã từng phân tích bệnh công thần là: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng. Rồi đòi địa vị, đòi danh vọng. Việc to không làm được, việc nhỏ không muốn làm”.
Hiện nay, một số cán bộ đảng viên và quần chúng dựa vào chút công lao đóng góp ít ỏi thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm của mình cho mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương trong quá trình chiến đấu, lao động, công tác... nhưng có lối sống thực dụng, kiêu ngạo, hay đòi hỏi đãi ngộ quá đáng, nếu không được đáp ứng thì lập tức có những phản ứng cực đoan để rồi nói, làm, viết trái với chủ trương, đường lối của Đảng; pháp luật của Nhà nước, thậm chí coi thường kỷ cương, kỷ luật Đảng, bất chấp pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy định của địa phương.
Đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đều ý thức được rằng, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Do đó, việc đem trí tuệ, sức lực, thậm chí sinh mạng để lao động, sáng tạo, phấn đấu là hiển nhiên, thể hiện sâu sắc quyền, nghĩa vụ đã được hiến pháp quy định. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít cán bộ, đảng viên và quần chúng có tư tưởng, hành động so đo, xét lại từ lối sống thực dụng. Coi chút thành tích, công trạng của mình là to lớn, hơn người mà tỏ ra huênh hoang; coi thường tổ chức, coi thường người khác. Thậm chí, vì những quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quy chế của cơ quan, đơn vị mà tổ chức không thể đãi ngộ thỏa đáng thì tỏ ra tiêu cực, chống đối, coi thường, thù hằn và có những hành động nói, làm, viết trái với quan điểm, đường lối của Đảng. Đương nhiên, họ không tự biết mình đang nhiễm căn bệnh “công thần, kiêu ngạo” và tự đánh mất mình.
Bệnh “công thần” là loại “siêu vi rút” ẩn nấp, luồn lách khắp nơi trong cuộc sống của chúng ta. Tuy vậy, những người “mắc bệnh” thường có những biểu hiện rất dễ nhận biết. Đối với cán bộ, đảng viên thì biểu hiện đầu tiên là kiêu ngạo, sa vào lối sống thực dụng, sa sút ý chí phấn đấu; giảm sút niềm tin vào Đảng; phai nhạt lý tưởng cộng sản, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Lâu dần trong quá trình tự thúc đẩy từ bên trong của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiến đến viển vông chủ nghĩa, so đo, đố kị, không còn ý thức rèn luyện, phấn đấu, tách mình ra khỏi tổ chức, coi thường tổ chức, thực hiện nói, viết và làm trái với cương lĩnh, xa rời nền tảng tư tưởng của Đảng. Đấu tranh đòi hỏi quyền lợi, chế độ một cách vô lý, không có trong quyền và nghĩa vụ chính đáng mình được hưởng.
Để đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ bệnh “công thần”, trước tiên, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ trong Quân chủng cần tự soi, tự sửa để xem mình và những người xung quanh mình đã nhiễm “căn bệnh” đó chưa để có biện pháp kịp thời “chữa trị”. Đi đôi với đó, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường quan tâm chăm lo xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Để làm được như vậy, cần đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”... Thông qua đó, tạo sự chuyển biến thành hành động cho mỗi cán bộ, đảng viên, tại mỗi tổ chức cơ sở đảng bằng cách gắn thực hành đạo đức cách mạng với phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phát huy cái tích cực, đẩy lùi tiêu cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu,góp phần quan trọng xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.
Điều không kém phần quan trọng để đẩy lùi, ngăn chặn bệnh “công thần” là cần kiên quyết đấu tranh phòng chống lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đôi với làm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước...
Những sự thật lịch sử không thể đảo ngược và xuyên tạc
Gần tới ngày kỷ niệm Cách mạng tháng 8, một số chiếc “loa rè” lại bắt đầu dàn đồng ca với điệp khúc cũ mèm là “Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim”. Trên Facebook của một người còn ngang nhiên phán rằng “sự kiện ngày 19/8/1945 chỉ là một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền hợp pháp trước đó là Đế quốc Việt Nam, do Đức vua Bảo Đại lập nên với Thủ tướng đầu tiên là ông Trần Trọng Kim”. Và rằng, “với tuyên cáo độc lập vào ngày 11/3/1945 của Đức vua Bảo Đại,… thì Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, mà không phải cần đến cái gọi là “Tuyên ngôn độc lập” vào ngày 2/9/1945 của ông Hồ Chí Minh…”…(?).
Sự thật có phải như vậy? Câu trả lời dứt
khoát là KHÔNG. Bởi vì:
Thứ nhất, Đúng là ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại đã ký
đạo dụ tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Giáp Thân ký với Pháp để người Pháp thiết lập
nền đô hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Thế nhưng vì đâu có đạo dụ này? Đêm 9
tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp và nắm quyền trên toàn cõi Đông Dương.
Phát xít Nhật đã hứa với vua Bảo Đại sẽ giúp để trao trả nền độc lập cho Việt
Nam. Mưu đồ của Phát xít Nhật là thành lập ra bộ máy cai trị để thiết lập nền
cai trị lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam. Lịch sử đã đủ dài và đủ dữ liệu để thấy
rằng thực chất trao trả độc lập chỉ là chiêu bài mua chuộc của phát xít Nhật
đối với Bảo Đại khi ấy. Đó là lý do mà Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Chính
phủ Trần Trọng Kim thành lập ngày 17/4/1945 và danh sách nội các được trình vua
Bảo Đại phê chuẩn. Ngoài Tổng trưởng Nội các Trần Trọng Kim và Phó Tổng trưởng
Nội các kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Chương, nội các Trần Trọng Kim có 9
bộ khác gồm: Nội vụ (Trần Đình Nam), Tư pháp (Trịnh Đình Thảo), Giáo dục và Mỹ
nghệ (Hoàng Xuân Hãn), Tài chính (Vũ Văn Hiền), Thanh niên (Phan Anh), Công
chính (Lê Văn Lang), Y tế (Vũ Ngọc Ánh), Kinh tế (Hồ Tá Khanh), Tiếp tế (Nguyễn
Hữu Thi). Như vậy, nhìn vào danh sách nội các này không thấy có Bộ Quốc phòng,
An ninh. Một chính phủ không có quân đội, danh sách nội các phải trình xin ý
kiến và được sự đồng ý của Đại sứ Nhật Bản tại Huế là Masayuki Yokoyama. Vậy
nên nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định đó là chính phủ chuyển từ lệ thuộc thực
dân Pháp sang Phát xít Nhật. Ngày 30/3/1945, trong một cuộc họp với công chức
người Việt ở Long Xuyên, Toàn quyền Nhật Bản là Minoda đã không dấu giếm mà nói
rằng: “Có một sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc lập này là
hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc lập của đế chế Trung
kỳ và cũng như của Cao Miên đã được tuyên bố. Nam kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm
soát quân sự mà còn dưới cả sự cai trị quân sự của Nhật Bản. Vậy thì không có
sự độc lập của Nam kỳ”. Chính vị Bộ trưởng Thanh niên trong Chính phủ là Phan
Anh sau này đã viết: “Chúng tôi đã lầm rất lớn. Chúng tôi đã tưởng lợi dụng
được một đế quốc chống một đế quốc khác, tranh thủ quyền lợi về ta, nhưng trái
lại bọn Nhật đã lợi dụng chúng tôi, ít nhất cũng là về danh nghĩa. Đó là một
bài học đau đớn!”. Có lẽ vì vậy mà mặc dù phải thoái vị ngày 25/8/1945 để trao
quyền lại cho quốc dân, song vua Bảo Đại cũng đã nói lên được sự thực từ đáy
lòng: “Trong hai mươi năm ở ngôi, trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm
muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước bị trị. Từ nay trẫm lấy
làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Thủ tướng Trần Trọng
Kim trong hồi ký Một cơn gió bụi” đã than phiền rằng mặc dù làm Thủ tướng nhưng
ông cũng không có toàn quyền quyết định mà đều phải xin ý kiến quyết định từ
người Nhật. Chính ông Trần Trọng Kim đã nhìn ra bản chất thật của Phát xít Nhật
nên ông đã viết trong hồi ký “người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng
nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp nhưng thâm ý là muốn
thu hết quyền lợi về mình.”
Thứ hai, Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc
cách mạng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Kể từ khi người Pháp
xâm lược Việt Nam năm 1858, mấy thế hệ người Việt Nam đã lớp nối nhau ra pháp
trường và vào nhà tù. Miền Nam nước Việt đã trở thành lãnh thổ hải ngoại của
nước Pháp và có thống đốc cai trị. Miền Bắc trở thành nửa thuộc địa, vừa có
quan Pháp cai trị lại vừa có quan Nam triều, nhưng trên hết thảy là một Thống
sứ người Pháp. Trung Kỳ được giao cho Nam triều và gọi là An Nam nhưng thực
chất mọi việc đều do Khâm sứ người Pháp quyết định. Sau khi Nhật đảo chính Pháp
ngày 9/3/1945, người Pháp sau đó đã thỏa hiệp với Phát xít Nhật quay lại đè
đầu, cưỡi cổ dân Việt. Một cổ hai tròng nên cuối năm 1944 đầu năm 1945 hai kẻ
chánh phạm và tòng phạm này đã gây ra cái chết cho 2 triệu đồng bào Việt Nam. Tháng
8/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ có vỏn vẹn 5.000 đảng viên, rất nhiều
trong số những này còn bị giam cầm trong nhà tù của đế quốc, thực dân. 5.000
đảng viên đã lãnh đạo nhân dân làm nên một cuộc cách mạng Tháng Tám vĩ đại, giành
lại độc lập tự do cho Tổ quốc, kết thúc hơn 80 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân
Pháp trên đất nước Việt Nam. Thành công nhanh chóng và triệt để của cuộc cách
mạng vĩ đại này chỉ có thể là lòng yêu nước thiết tha cháy bỏng của người dân
Việt Nam khi ấy. Chỉ chưa đầy một tuần sau thắng lợi của cách mạng ở Hà Nội thì
ngày 25/8, cách mạng Tháng Tám đã thành công ở Sài Gòn. Thành trì mấy chục năm
đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và sau này của cả phát xít đã tiêu tan.
Có một điều kỳ lạ diễn ra trong cách mạng Tháng Tám là nhiều quan lại cao cấp
của chính quyền phong kiến, thực dân, nhiều nhà tư sản nổi tiếng, nhiều trí
thức tên tuổi đã đi theo tiếng gọi của Nhân dân, của đất nước để cùng hòa mình
trong dòng thác vĩ đại sục sôi này của dân tộc. Cuộc giành chính quyền ở Hà Nội
sở dĩ thành công nhanh chóng cũng có phần công lao đóng góp quan trọng của vị
Khâm sai Bắc Bộ Chính phủ Trần Trọng Kim là cụ Phan Kế Toại. Ngay trước khi
cách mạng diễn ra, vị Khâm sai yêu nước này đã ra lệnh đóng cửa Phủ Bắc Bộ để giao
quyền cho Việt Minh. Rất nhiều trí thức nổi tiếng là thành viên Chính phủ Trần
Trọng Kim sau này đều đi theo cách mạng hoặc có những đóng góp bằng cách này
hay cách khác cho cách mạng như Trịnh Đình Thảo, Phan Anh, Phan Kế Toạ… Nhiều
quan lại của Nam Triều, tức chính quyền phong kiến của nhà vua Bảo Đại cũng đi
theo cách mạng như: Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe, Đặng Văn Hướng. Nhiều nhà tư
sản nổi tiếng không những đi theo cách mạng mà còn đóng góp phần lớn tài sản
cho cách mạng như các gia đình ông Trịnh Văn Bô - Hoàng Thị Minh, đại điền chủ
Nam Bộ Cao Triều Phát, Giáo chủ Nguyễn Ngọc Tương, Huỳnh Thiện Lộc,...
Thứ ba, Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, cho dù người
Pháp có quay lại cộng tác với Phát xít Nhật thì thực chất cai trị Việt Nam lúc
ấy chính là Phát xít Nhật. Vì vậy, cho đến trước ngày Ủy ban giải phóng và sau
đó là Chính phủ lâm thời được lập ra, tại Việt Nam vẫn không có độc lập, tự do.
Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nhân dân
Việt Nam giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày
2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940,
nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi
Nhật hàng đồng minh thì Nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập
nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước
Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Tác giả người Anh
Thomas Hodgkin trong cuốn “Thế giới bàn về Việt Nam” đã đánh giá về Cách mạng
Tháng Tám: “Đó là một cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một Đảng chỉ
mới ra đời được 15 năm. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật
đổ chính quyền của chế độ thuộc địa… Như vậy, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã đánh
dấu sự bắt đầu của một thời kỳ mới, nó vạch đường ranh giới của thời đại thực
dân bắt đầu nhường chỗ cho thời đại phi thực dân hóa”. Nhà sử học Na Uy
S.Tonnesson trong cuốn sách viết về Việt Nam đã khẳng định: “Cuộc cách mạng ở
Việt Nam năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không chỉ có vậy,
đó còn là một cuộc cách mạng chính trị chống lại nền quân chủ thối nát và là
một cuộc cách mạng xã hội chống lại chủ đất và những người thu thuế”… Đó là
những sự thật lịch sử không thể đảo ngược và xuyên tạc.
Lữ đoàn Công binh 28 hỗ trợ nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội bị ảnh hưởng của dịch COVID-19
Sáng 16-8, Lữ đoàn Công
binh 28 đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Bắc Từ Liêm, TP Hà
Nội để trao tặng 1,5 tấn gạo, 400kg bí đỏ (tổng trị giá trên 25 triệu đồng) cho
nhân dân có hoàn cảnh khó khăn do bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 trên địa bàn
quận.
Toàn bộ phần quà trên được trích
từ nguồn vốn tăng gia sản xuất của đơn vị. Số quà này sẽ được Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam quận Bắc Từ Liêm vận chuyển, giao trực tiếp các hộ gia đình có hoàn
cảnh khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19 tại các xã, phường trên địa bàn quận.
Đây là việc thiết thực, thể hiện
tình cảm, trách nhiệm sẻ chia cộng đồng của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh
28, chung tay cùng với chính quyền và nhân dân TP Hà Nội phòng chống, đẩy lùi dịch
bệnh COVID-19.
Cơ quan, đơn vị phải chủ động phát hiện sớm, xử lý kịp thời các trường hợp mắc COVID-19
Theo đó, trong hướng dẫn
do Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên ký ban hành ngày 16/8, Bộ Y tế đề nghị các đơn
vị phải chủ động phát hiện sớm và xử lý kịp thời các trường hợp mắc COVID-19
(F0), nghi ngờ mắc COVID-19, tiếp xúc gần (F1), tiếp xúc với người tiếp xúc gần
(F2) tại cơ quan, đơn vị - đảm bảo an toàn và thực hiện mục tiêu kép; hạn chế tác
động của dịch bệnh đến hoạt động của cơ quan/ đơn vị.
Các cơ quan, đơn vị phải
xác định nhiệm vụ phòng, chống COVID-19 là trọng tâm, cấp bách và thường xuyên.
Thực hiện nguyên tắc người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trực tiếp chỉ đạo và
chịu trách nhiệm về công tác phòng, chống dịch tại đơn vị. Chủ động phương án
hậu cần, cách ly, xét nghiệm, điều trị để ứng phó kịp thời, khẩn trương, hiệu
quả theo nguyên tắc 4 tại chỗ.
Các cơ quan thành lập Ban chỉ đạo
phòng, chống dịch COVID-19 do Thủ trưởng đơn vị làm Trưởng ban, có đầu mối tham
mưu, tổ chức triển khai công tác phòng, chống dịch. Đồng thời thành lập các Tổ
an toàn COVID của đơn vị gồm thành viên là đoàn viên công đoàn, Đoàn Thanh niên;
mỗi Tổ an toàn COVID có từ 3-5 người, tổ trưởng là thủ trưởng công đoàn hoặc đoàn
thanh niên.
Xây dựng Kế hoạch và các phương án
phòng, chống dịch COVID-19 của đơn vị phải bao gồm sơ đồ và bố trí phân luồng
di chuyển trong đơn vị khi xuất hiện các trường hợp F0, F1, F2 và trường hợp
nghi ngờ mắc bệnh.
Quản lý người lao động về các thông
tin gồm họ tên, năm sinh, số CMND/CCCD/hộ chiếu, địa chỉ nơi ở, địa chỉ nơi trọ,
số điện thoại; yêu cầu người lao động thông báo khi có tiếp xúc với các trường
hợp F0 hoặc F1.
Trường hợp người lao động của đơn
vị làm việc và lưu trú ở những địa phương khác nhau, thủ trưởng đơn vị phải có
trách nhiệm thông báo cho Sở Y tế/Trung tâm kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh của các
địa phương liên quan để quản lý và theo dõi y tế đối với người lao động.
Tổ chức theo dõi sức khỏe của người
lao động hằng ngày; không được bố trí làm việc đối với người có một trong các
triệu chứng như: mệt mỏi, sốt, ho, đau rát họng, khó thở... và người thuộc đối
tượng F1, F2; yêu cầu người lao động đi làm nếu có các biểu hiện sốt, ho, đau họng,
khó thở... và phải báo cho đơn vị quản lý, y tế địa phương để được tư vấn và xử
trí theo qui định.
PHẢI HIỂU ĐÚNG VÀ TÔN TRỌNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ “CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945”
Một số thế
lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta
đối với Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Để biện hộ cho luận điệu đó, họ cho rằng: Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong bối cảnh xuất hiện “khoảng trống quyền
lực”; cuộc cách mạng này không có đối tượng cụ thể, trực tiếp và những người
làm cách mạng chỉ tiến công vào một cánh cửa chính trị khép hờ. Sự thật lịch sử
đã cho thấy, những luận điệu nói trên là hoàn toàn bịa đặt. Chúng ta phải tôn
trọng giá trị lịch sử đích thực của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Bài viết của TS. Trần Tăng Khởi, Học
viện Chính trị khu vực III “Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, sau khi chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm
thời lâm vào tình trạng thoái trào. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch
ở trong nước và nước ngoài, cùng những người bất mãn với chế độ, những kẻ cơ
hội chính trị đã không ngừng xuyên tạc, công kích nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của
Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phê phán Cương lĩnh,
đường lối của Đảng, thì một trong những thủ đoạn thâm độc của họ là bóp méo sự
thật lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khi thổi phồng những
hạn chế, khuyết điểm của Đảng, họ thường hạ thấp ý nghĩa của những thắng lợi to
lớn của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có Cách mạng Tháng Tám
năm 1945.
Không thể phủ nhận là Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi trong điều kiện khách quan có những yếu tố
thuận lợi. Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tạo cho dân tộc ta một cơ hội hết
sức thuận lợi: Kẻ thù của dân tộc ta lúc đó là thực dân Pháp và phát-xít Nhật
đã tự loại nhau. Trên thực tế, từ sau đêm 9-3-1945, đối tượng chủ yếu của cách
mạng Việt Nam là phát-xít Nhật. Khi đội quân Quan Đông mạnh nhất của phát-xít
Nhật bị Hồng quân Liên Xô đánh bại ở Mãn Châu (Trung Quốc), giáng đòn quyết
định buộc phát-xít Nhật đầu hàng Đồng minh, thì ở Việt Nam lúc đó quân Nhật
hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai hoang mang cực
độ, tạo điều kiện khách quan chín muồi cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 giành thắng lợi.
Tuy nhiên, dù điều kiện khách quan
có thuận lợi đến đâu mà điều kiện chủ quan chưa chín muồi cho việc chớp thời
cơ, phát động khởi nghĩa, thì cách mạng cũng không thể thành công. Thực tế đã
cho thấy, cũng trong hoàn cảnh khách quan thuận lợi (thắng lợi của Đồng minh và
thất bại của phát-xít Nhật), không phải nước nào cũng tiến hành được một cuộc
khởi nghĩa để giành lại độc lập dân tộc. Tại thời điểm đó, chỉ ở Việt Nam, dưới
sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần “Đem sức ta mà
tự giải phóng cho ta”, toàn dân đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa lật
đổ sự thống trị của phát-xít Nhật và bọn tay sai, giành lại độc lập, tự do cho
dân tộc. Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của
một quá trình chuẩn bị đầy đủ lực lượng cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, nó
cũng là kết quả của việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực
theo dõi tình hình, dự đoán chính xác thời cơ và kiên quyết lãnh đạo nhân dân
đứng lên chớp thời cơ để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Trong hai yếu tố chủ quan
và khách quan thì yếu tố chủ quan là động lực chính quyết định đến sự thành,
bại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là
thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ với biết bao máu xương của nhân dân ta
trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng
từ cuối thế kỷ XIX. Đảng Cộng sản Đông Dương - người kế tục vai trò lãnh đạo
của các sĩ phu yêu nước trước đó - đã đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc từ
năm 1930 lên một tầm cao mới với một cương lĩnh chính trị đúng đắn cùng trình
độ tổ chức đường lối cách mạng sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của nước
ta lúc bấy giờ. Trong đó, việc xác định chính xác đối tượng cần phải đánh đổ là
thực dân Pháp cùng lực lượng tay sai của chúng được khẳng định từ sớm
trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 2-1930).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong
trào giải phóng dân tộc trải qua nhiều chặng đường thăng trầm, quyết liệt, dẫn
tới cao trào cách mạng mới sau khi Mặt trận Việt Minh được thành lập dưới sự
lãnh đạo của Đảng.
Hai tháng sau khi Chiến tranh thế
giới thứ hai bùng nổ (năm 1939), Trung ương Đảng đã họp từ ngày 6 đến ngày
8-11-1939. Hội nghị đã phân tích sâu sắc bản chất của cuộc chiến tranh, đặc
điểm cơ bản của cách mạng Đông Dương và nhận định: “Cuộc khủng hoảng kinh tế,
chính trị gây nên bởi đế quốc chiến tranh lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông
Dương nổ bùng và tiền đồ cách mệnh giải phóng Đông Dương nhất định sẽ quang
minh rực rỡ”(1). Hội nghị còn chỉ rõ: Chiến tranh đã thúc đẩy các
mâu thuẫn vốn có của xã hội thuộc địa - phong kiến lên đến đỉnh tột cùng, đòi
hỏi phải được giải quyết, gay gắt nhất là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc
Đông Dương; Hội nghị chủ trương đấu tranh chống đế quốc chiến tranh, chống xâm
lược phát-xít, đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bản xứ và tất cả bọn tay sai của
đế quốc, đòi hòa bình, cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn.
Ngày 22-9-1940, quân phát-xít Nhật
tràn vào Việt Nam. Hội nghị Trung ương Đảng họp từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940,
chỉ rõ kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là phát-xít Pháp - Nhật.
Tiếp đó, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương mở rộng (tháng 5-1941)
nhận định: Lúc này, ở Đông Dương, lực lượng phản cách mạng gồm
có: “1. Thống trị Pháp ở Đông Dương và bọn tay sai của chúng. 2. Phát xít Nhật
và bọn tay sai của chúng nó”(2). Nguyện vọng và mục đích của nhân
dân Đông Dương hiện nay là đánh Pháp, đuổi Nhật, làm cho xứ Đông Dương độc
lập. Lực lượng cách mạng ở Đông Dương hiện nay là nhân dân
Đông Dương, không phân biệt dân tộc, giai cấp. Đánh Pháp, đuổi Nhật là nhiệm vụ
chung của nhân dân Đông Dương.
Sau ngày phát-xít Nhật đảo chính lật
đổ quyền thống trị của thực dân Pháp (ngày 9-3-1945), tình hình chính trị ở
Đông Dương có những thay đổi lớn. Chỉ thị ngày 12-3-1945 của Ban Thường vụ
Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương với nhan đề “Nhật, Pháp bắn nhau và
hành động của chúng ta” chỉ rõ: “a, Đế quốc Pháp mất quyền thống trị ở
Đông Dương, không phải là kẻ thù cụ thể trước mắt ta nữa - mặc dầu ta vẫn phải
đề phòng cuộc vận động của bọn Đờ Gôn định khôi phục quyền thống trị của Pháp ở
Đông Dương. b, Sau cuộc đảo chính này, đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính -
kẻ thù cụ thể trước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương. c, Bọn Pháp kháng
chiến đang đánh Nhật là đồng minh khách quan của nhân dân Đông Dương lúc này”(3).
Ngày 24-3-1945, Chính phủ Pháp ra
tuyên bố với những lập luận hết sức xảo trá hòng che đậy và lừa dối dư luận
nhưng vẫn để lộ dã tâm sẽ chiếm lại Đông Dương sau khi Nhật thất bại. Từ đó,
Pháp ráo riết hoạt động, từ Pa-ri, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đờ Gôn, qua Bộ
phận liên lạc của Pháp ở Viễn Đông (SLFEO) đặt ở Can-cút-ta (Ấn Độ), đến Phái
bộ 5 do Xanh-tơ-ny đứng đầu đặt bản doanh tại Côn Minh (Trung Quốc). Đồng thời,
Chính phủ Pháp chỉ thị cho Đại sứ của mình ở Trung Quốc và các viên tướng cầm
đầu số lính Pháp bị Nhật đánh bại sang Hoa Nam (Trung Quốc) phối hợp với Phái
bộ 5 thực hiện các âm mưu chuẩn bị tái xâm lược Đông Dương.
Ngay sau khi Ủy ban Chỉ huy lâm thời
Khu giải phóng ra mệnh lệnh khởi nghĩa (ngày 12-8-1945), thực dân Pháp càng đẩy
mạnh các hoạt động nhằm nhanh chóng tái xâm lược Đông Dương. Ngày 13-8-1945, Đờ
Gôn tuyên bố với Đác-giăng-li-ơ rằng sẽ cử ông ta làm Cao ủy ở Đông Dương, nắm
toàn bộ quyền lực tại đây. Cùng ngày 13-8-1945, Bộ phận liên lạc của Pháp ở
Viễn Đông tại Can-cút-ta quyết định cho máy bay thả dù xuống Đông Dương một bộ
sậu chính trị gồm các ủy viên của nước Cộng hòa Pháp (việc này mãi đến ngày
22-8-1945 mới thực hiện được). Ngày 19-3-1945, tướng A-léc-xan-đri quyết định
cử một đội tiền trạm gồm các sĩ quan tình báo (trước đây chạy trốn sang Trung
Quốc) vào Hà Nội để chuẩn bị đón một phái đoàn đầy đủ của Pháp sẽ có mặt ở đây.
Ngày 14-8-1945, Đờ Gôn cử Lơ-cléc làm Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Pháp
ở Đông Dương.
Thực dân Pháp tổ chức các toán biệt
kích xâm nhập vào Việt Nam bằng hai đường: đường biển, do Phái bộ 5 chỉ huy,
xuất phát từ một số đảo ở Hoa Nam (Trung Quốc); đường hàng không, xuất phát từ
căn cứ quân sự ở Can-cút-ta, do máy bay của tình báo Anh đưa vào và nhảy dù
xuống những địa điểm đã chọn.
Vào 18 giờ ngày 15-8-1945, hai ca-nô
có vũ trang chở chừng 30 người cả Pháp và Việt đi qua Quảng Yên, hướng về cảng
Hải Phòng. Cùng ngày 15-8-1945, một toán biệt kích đường biển gồm 5 tên do
Blăng-sa cầm đầu đổ bộ vào Hải Phòng, định đi ngược sông Hồng lên Hà Nội. Đường
sông bị cấm, cả 5 tên bị quân Nhật bắt giam, đến ngày 23-8-1945 mới đến được Hà
Nội. Ngày 21-8-1945, một toán gồm 5 người Pháp và 1 người Việt nhảy dù xuống
vùng tháp Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bị du kích ta tóm gọn. Ngày 22-8-1945, một
toán biệt kích người Pháp do thiếu tá tình báo Xanh-tơ-ny - người phụ trách
Phái bộ 5 - cầm đầu bám theo máy bay chở đoàn OSS của Mỹ từ Côn Minh đến Hà
Nội. Đêm 22-8-1945, có 3 toán biệt kích nhảy dù: một toán do Mét-xme cầm đầu
nhảy dù xuống Phúc Yên, bị dân quân ta tóm gọn (đến tháng 10-1945 mới được
phóng thích); một toán do Xê-đin cầm đầu nhảy dù xuống Tây Ninh, bị quân Nhật
bắt được và đưa đi Sài Gòn; một toán nhảy dù xuống vùng Hiền Sĩ (Nam Giao, tỉnh
Thừa Thiên), định bắt liên lạc với Bảo Đại nhưng bị dân quân ta bắt gọn. Ngày
23-8-1945, một nhóm 4 tên dùng xuồng lớn đột nhập vào cửa Thuận An, bị dân quân
ta bắt. Ngày 27-8-1945, một toán biệt kích nhảy dù xuống vùng Lai Bằng - cách
Huế khoảng 20km, bị dân quân ta bắt. Tàu biển Cray-xắc đưa 16 tên đổ bộ lên đảo
Cát Bà cũng bị quân ta tóm gọn. Ngày 28-8-1945, một toán biệt kích nhảy dù
xuống vùng đường ven biển gần thị trấn La Gi và mấy ngày sau, một toán nữa nhảy
dù xuống khu vực suối Kiết ở Tánh Linh (tỉnh Bình Thuận) đều bị dân quân ta bắt
giữ...
Đấy là những kẻ thù từ nước ngoài
thâm nhập vào nước ta để chống phá Cách mạng Tháng Tám. Dù chúng vào bằng đường
hàng không hay đường thủy thì cũng cho thấy một điều là: Đây là những hành động
không hề đơn độc, mà là có ý đồ móc nối với những tên tay sai cũ của thực dân
Pháp hòng tổ chức lực lượng chống đối chính quyền cách mạng, chuẩn bị cơ sở cho
quân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam sau khi phát-xít Nhật đầu hàng.
Quân Nhật tuy đã tuyên bố đầu hàng
Đồng minh nhưng vẫn còn nguyên lực lượng và trang bị vũ khí, khí tài chiến
tranh trong tay! Đảng ta chủ trương vận động sĩ quan và binh lính Nhật “án binh
bất động”, trao vũ khí cho Việt Minh và Quân giải phóng Việt Nam để được bảo
toàn tính mạng. Tuy nhiên, không phải ở đâu và lúc nào họ cũng đều hưởng ứng
chủ trương đó của ta. Không ít nơi, quân Nhật vẫn có hành động quân sự chống
phá ta. Ở huyện Lý Nhân (tỉnh Hà Nam), quân Nhật không những không giao kho
thóc cho ta mà còn gọi viện binh từ Phủ Lý về, nổ súng chống lại lực lượng khởi
nghĩa vào ngày 20-8-1945. Ở Hà Nội, quân ta tấn công vào trại bảo an binh, quân
Nhật đưa xe tăng đến bao vây trại, hỗ trợ cho những phần tử bảo an ngoan cố và
đòi tước vũ khí của tự vệ ta. Ta thuyết phục, quân Nhật mới chịu rút. Ở Lộc
Ninh, sĩ quan Nhật ra lệnh bắn vào dân quân và đồng bào ta. Giao tranh đã nổ ra
và chúng chỉ chịu đầu hàng sau khi một lực lượng của chúng bị quân ta tiêu diệt.
Ở Ba Tơ (tỉnh Quảng Ngãi), quân Nhật vẫn tiến hành các hoạt động khủng bố Việt
Minh, bị dân quân ta đánh trả mới chịu co cụm về thị xã. Đặc biệt, trong cuộc
chiến đấu chống quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên từ ngày 19 đến ngày 24-8-1945,
lực lượng cách mạng tiêu diệt một số tên, buộc quân Nhật ở thị xã và các đồn lẻ
trong tỉnh Thái Nguyên phải hạ vũ khí, bức hàng toàn bộ hệ thống chính quyền và
quân đội tay sai của Nhật trong tỉnh.
Với 82.260 quân phát-xít Nhật chờ
ngày nộp vũ khí cho Đồng minh trong bối cảnh chính quyền cách mạng đang trong
giai đoạn “trứng nước”, rõ ràng lực lượng này vẫn là một đối tượng mà ta phải
tập trung đối phó.
Sau đêm Nhật đảo chính Pháp (ngày
9-3-1945), hệ thống chính quyền làm tay sai cho Nhật ở Việt Nam đã được dựng
lên trên cơ sở hệ thống chính quyền của Pháp vừa sụp đổ. Trong cao trào kháng
Nhật, cứu quốc, trước sự tiến công của Việt Minh, bộ máy chính quyền tay sai bị
suy yếu, bất lực và đi đến tan rã từng bộ phận, trước hết là cấp xã, rồi đến
cấp huyện. Đến Tổng khởi nghĩa, chính quyền ở nhiều huyện nhanh chóng thuộc về
nhân dân, nhưng cũng ở nhiều nơi, chúng ta phải dùng áp lực của quần chúng kết
hợp với trấn áp bằng bạo lực, trừng trị những tên ngoan cố để giành chính
quyền. Ở cấp tỉnh và cấp kỳ, cuộc đấu tranh để xóa bỏ bộ máy chính quyền tay
sai diễn ra gay go, phức tạp hơn. Dựa vào lực lượng bảo an, vào tổ chức phản
động và hy vọng được quân Nhật bảo vệ, hầu hết thị trưởng, tỉnh trưởng và khâm
sai đều có hành động phản kháng trước cao trào cách mạng của quần chúng. Đối với
đối tượng này, ta đã phải kết hợp thuyết phục với dùng áp lực của quần chúng và
lực lượng vũ trang. Ngày 23-8-1945, cuộc khởi nghĩa ở Huế đã nổ ra với sức mạnh
của lực lượng chính trị quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang. Khởi nghĩa
giành chính quyền ở Huế có ý nghĩa hết sức to lớn, vì Huế là dinh lũy của chế
độ phong kiến, trung tâm đầu não của chính quyền bù nhìn cả nước, nơi đóng quân
và bộ máy tối cao của cố vấn Nhật.
Cùng với việc đánh đổ bộ máy chính
quyền tay sai, cuộc đấu tranh với các lực lượng vũ trang do Nhật tổ chức và các
đảng phái chính trị phản động cũng diễn ra hết sức gay go, phức tạp.
Hàng chục vạn lính bảo an và cảnh
sát do Nhật tổ chức, trang bị và huấn luyện đã được giao cho những tên tay sai
người Việt chỉ huy. Bọn này vốn là thành viên của các tổ chức chính trị phản
cách mạng hoặc sĩ quan của Pháp chuyển sang làm tay sai cho Nhật. Bằng công tác
binh vận, Việt Minh đã xây dựng cơ sở bí mật trong lực lượng vũ trang của địch.
Đến ngày Tổng khởi nghĩa, nghe theo lời hiệu triệu cứu nước của Việt Minh, cùng
với hoạt động của các cơ sở cách mạng ở bên trong cũng như sức ép của lực lượng
chính trị quần chúng nổi dậy, nhiều đơn vị vũ trang của địch tự nộp vũ khí đầu
hàng. Tuy vậy, ở rất nhiều nơi, để đập tan sự kháng cự của những tên cầm đầu
ngoan cố, chúng ta phải sử dụng sức mạnh quân sự để trấn áp, giành chính quyền.
Ở miền Nam, hai triệu tín đồ đạo Cao
Đài có vũ trang do Trần Quang Vinh cầm đầu theo Nhật chống lại cách mạng.
Cả nước lúc bấy giờ có đến mấy chục
tổ chức chính trị phản động có hoặc không có vũ trang, do Pháp, Nhật hoặc Quốc
dân Đảng Trung Hoa dựng nên. Trong đó, một số tổ chức từng theo Pháp, sau
chuyển sang làm tay sai cho Nhật; một số tổ chức theo Nhật bị Pháp đàn áp và
giam cầm, sau khi Nhật đảo chính Pháp thì được Nhật “hà hơi tiếp sức”, tiến
hành chống phá cách mạng. Các cá nhân và tổ chức từng làm tay sai cho Pháp và
phải nằm im sau ngày Nhật đảo chính Pháp, trước tình hình mới, bắt đầu ngóc đầu
dậy với hy vọng Pháp quay trở lại. Các tổ chức phản động khác từng được bọn quân
phiệt phản động Trung Hoa Dân quốc nuôi dưỡng thì trong bối cảnh quân đội Trung
Hoa Dân quốc tràn vào Việt Nam với danh nghĩa quân đồng minh giải giáp quân
Nhật, cho rằng đây là cơ hội thuận lợi để nhảy ra cướp thành quả cách mạng của
nhân dân ta. Điều cực kỳ nguy hiểm là dù mỗi tổ chức phản động đó có những mưu
đồ, tính toán riêng nhưng đều có chung mục tiêu là lật đổ chính quyền cách
mạng!
Trong hoàn cảnh như vậy, để giành
thắng lợi, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 phải làm tê liệt và tan rã tất cả các
tổ chức chính trị phản động đó. Rõ ràng, đây là công việc không hề đơn giản
trong điều kiện lực lượng vũ trang của ta còn chưa đủ mạnh. Để đập tan sự chống
đối của các thế lực phản động, bóp chết ngay từ trong “trứng nước” những âm
mưu, hành động xâm lược của thực dân Pháp sau khi bị Nhật đảo chính, đạp tung
cánh cửa cản trở con đường tiến lên giành thắng lợi, Đảng ta phải sử dụng rất
nhiều hình thức và biện pháp đấu tranh. Không chỉ tuyên truyền, vận động quần
chúng đấu tranh, không chỉ biết phân hóa kẻ thù, mà Đảng ta còn kiên quyết lãnh
đạo quần chúng nổi dậy trừng trị những tên ác ôn ngoan cố, sử dụng bạo lực cách
mạng để trấn áp, đè bẹp sự phản kháng của các lực lượng quân đội phát-xít Nhật
cũng như làm thất bại ngay từ đầu âm mưu trở lại thống trị Đông Dương của thực
dân Pháp dù phải hy sinh xương máu.
Trong khi lực lượng chống cộng hay
định kiến với Đảng Cộng sản Việt Nam cố tình xuyên tạc lịch sử, thì không ít
người vẫn tôn trọng sự thật khách quan khi nghiên cứu, đánh giá về Cách mạng
Tháng Tám. William J. Duiker, một nhà sử học Mỹ có khá nhiều nghiên cứu về Việt
Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tách biệt rõ những “hoàn cảnh ngẫu nhiên” thuận lợi
cho Cách mạng Tháng Tám với nhân tố chủ quan đóng vai trò quyết định thuộc về
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. William J. Duiker cho rằng: “Nhưng
chỉ riêng các điều kiện khách quan thì không làm nên một cuộc cách mạng, và ở
đây công lao thuộc về những người Cộng sản. Họ đã có thể chớp lấy thời cơ được
mở ra vô cùng thuận lợi vào lúc kết thúc cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Ở
các xứ thuộc địa khác, khoảng trống ấy (tức thời cơ - TG) có thể được lấp đầy
bởi lực lượng dân tộc chủ nghĩa không Cộng sản. Nhưng ở Việt Nam, các phần tử
dân tộc chủ nghĩa đã không thể đứng lên chấp nhận thách thức (...). Chỉ có Đảng
Cộng sản Đông Dương sở hữu ý thức về sự kịp thời và thấu hiểu được sự tinh tế
có tính chiến lược của hoàn cảnh để vùng lên đúng lúc. Điểm cuối cùng này mới
là quan trọng”(4).
Thực tế lịch sử nêu trên hoàn toàn
bác bỏ luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, các phần tử cơ
hội chính trị cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không có đối tượng, Đảng
Cộng sản Đông Dương (tên gọi của Đảng ta lúc bấy giờ) chỉ biết lợi dụng thời
cơ, và thắng lợi của cuộc cách mạng này “là sự ăn may của lịch sử!”./.
--------------------
(1) Văn
kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.
6, tr. 535
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 118
(3) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 366
(4) William J. Duiker: The Communist Road to Power in Vietnam,
Boulder Co., Westview Press, 1981, tr. 100 - 101
Nước mắt thầm lặng của những y bác sĩ tuyến đầu chống dịch
Thứ dễ nhìn thấy nhất ở
bệnh viện dã chiến là nước mắt của F0 và khó thấy nhất là nước mắt của những y
bác sĩ.
Sư cô Thích nữ Nhuận Bình
(sư cô), Phó Thư ký Ban văn hóa Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP.HCM, là một
trong 80 tăng ni, Phật tử được chọn phục vụ hỗ trợ ở các bệnh viện (BV) dã
chiến, điều trị F0 từ ngày 22-7.
Sư cô được phân công về
BV dã chiến thu dung số 12 (BV số 12), TP Thủ Đức hỗ trợ tuyến đầu chống dịch.
Trong suốt thời gian phục vụ, hỗ trợ cho các bệnh nhân tại đây, sư cô đã ghi
nhận được rất nhiều câu chuyện cảm động không chỉ của bệnh nhân mà của cả những
y bác sĩ ở BV.
Trước mặt bệnh nhân
phải luôn mạnh mẽ
Đều nhận được những tin dữ, tin
buồn từ người thân nhưng những ca F0 có thể gào khóc trong sự chăm sóc, động viên
của đội ngũ nhân viên y tế, còn đội ngũ y tế tuyến đầu khi nhận tin chỉ biết lặng
lẽ buồn, lo lắng và khóc một mình.
Ở BV số 12, chuyện F0 khóc diễn
ra hằng ngày. Họ mệt nên khóc, buồn cũng khóc và nhận tin dữ ở nhà thì càng khóc
nhiều hơn.
Đặc biệt, bệnh nhân nhận tin người
thân mất thường rất sốc, quỵ ngã. Họ gào khóc, lúc đó chỉ số SpO2 (nồng độ ôxy
trong máu) xuống thấp vô cùng.
Ngay lập tức, họ được đưa xuống
phòng cấp cứu để chăm sóc đặc biệt. Trên giường bệnh, họ vẫn nằm khóc. Điện thoại
gọi liên tục, nước ngoài gọi về, dưới quê gọi lên hỏi tình hình. Những người chăm
sóc, hỗ trợ như chúng tôi phải đứng cạnh bên trông chừng và khuyên nhủ. Chúng tôi
thường khuyên bệnh nhân: “Có những
cuộc điện thoại không nên nghe, có những cuộc điện thoại chỉ nghe và trả lời có
hay không, đúng hay sai”.
Thực ra, nếu là mình nhận tin dữ
thì cũng sốc như họ nhưng ở thời điểm này, mình phải tự nhủ bản thân phải bình
tĩnh để còn chăm sóc bệnh nhân. Nhìn lại trong hoàn cảnh này, mình còn may mắn
hơn nhiều người khác rồi.
Đội ngũ y tế ở tuyến đầu cũng có
người thân bị nhiễm COVID-19. Tôi nhớ, có lần một nhân viên y tế đang chuẩn bị
lấy thuốc tiêm cho bệnh nhân thì nhận tin người nhà dương tính và phải đi điều
trị ở một nơi khác. Họ bần thần, run tay run chân, không thể tiếp tục làm việc.
Thế là họ ra ghế ngồi thẫn thờ.
Trong bộ đồ bảo hộ kín mít, nhân viên y tế có khóc cũng đâu ai biết. Giọt nước
mắt có chảy ra cũng không ai nhìn thấy.
F0 mệt mỏi gục ngã thì có đội ngũ
y tế, tình nguyện viên bên cạnh, làm điểm tựa. Còn với vai trò của mình, nhân
viên y tế có khóc thì quay lưng đi mà khóc, đứng trước mặt bệnh nhân phải luôn
mạnh mẽ.
Lúc nào chúng tôi cũng động viên
các F0: “Đã ở đây rồi thì mình phải hiểu
rằng mình có phước, may mắn hơn nhiều F0 ngoài kia. Bây giờ nhiều F0 không đến
BV, không nhận được sự chăm sóc của bác sĩ. Mọi người được đến đây rồi thì lo
tĩnh dưỡng. Tất cả để cho tuyến đầu lo, bác sĩ lo”.
Tôi nghĩ lời mình đủ tính thuyết
phục, cho nên họ nghe và tin để có tinh thần tiếp tục chiến đấu với dịch bệnh.
Lâu lâu một số ca F0 lại hỏi tôi:
“Hôm nay con đỡ chưa sư cô, các chỉ số của
con có ổn không, con sắp khỏe chưa, con sắp lành bệnh chưa, con nhớ gia đình lắm
rồi. Con muốn về nhà…!”.
Ở tuyến đầu nhiều tâm sự trái
ngang, những nỗi buồn không tên tuổi. Người ta phải tự trấn an nhau bằng cách nói
rằng họ sắp khỏe rồi, các chỉ số sắp ổn định rồi, chỉ cần cố gắng thêm chút nữa,
ăn nhiều, ngủ đủ giấc, uống đủ nước, tinh thần thoải mái, không lo toan thì ngày
tạm biệt BV sắp đến.
Có nhiều ca khi trấn an xong, chúng
tôi vội quay đi để giấu giọt nước mắt của mình, giấu sự nghẹn ngào thương cảm...
Trả ơn thành phố, Tổ quốc
Đội ngũ những người làm việc ở
tuyến đầu cũng bằng xương, bằng thịt, ai cũng sợ dịch bệnh tấn công mình, tấn công
người thân. Thế nhưng, ai cũng sợ chết thì sẽ không có hàng trăm người đã và đang
ngày đêm ở tuyến đầu chống dịch, bất chấp mọi rủi ro, thậm chí cả hy sinh.
Mấy chục năm nay, tôi được sống
trong một đất nước rất bình yên. Tôi mang ơn Tổ quốc và TP.HCM - nơi nuôi dưỡng
tôi khôn lớn. Bây giờ TP cần, người dân cần thì tôi không từ chối.
Là một tu sĩ, tôi mang ơn những
thí chủ cơm áo gạo tiền. Đây là lúc tôi trả ơn quốc gia, trả ơn TP, trả ơn những
thí chủ đã bảo bọc, nuôi dưỡng mình.
Chỉ cần còn sức khỏe, mọi người cần
đến tôi thì tôi không bao giờ từ chối việc phục vụ ở tuyến đầu. Tôi cũng đã kêu gọi một số tình
nguyện viên đến phục vụ BV dã chiến điều trị COVID-19 quận Bình Thạnh. Qua đó đã
có nhiều trái tim thiện nguyện đã chấp nhận dấn thân vào tuyến đầu, hỗ trợ đội
ngũ y bác sĩ để cùng tuyến đầu chống dịch.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ
khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới,
kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
1. Bối cảnh lịch sử và diễn biến
cuộc Tổng khởi nghĩa
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới
lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Hồng quân Xô Viết liên tiếp giành thắng
lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạt nước và tiến
thẳng vào sào huyệt phát xít Đức tại Béc-lin. Ngày 9-5-1945, phát xít Đức đầu
hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Ngày 8-8-1945, Hồng quân
Liên Xô tiến công như vũ bão vào quân đội Nhật. Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật
đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Theo thỏa
thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và
Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Trong khi đó, thực dân Pháp
lăm le dựa vào Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ
đứng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần tử
phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay thầy đổi
chủ, chống lại cách mạng.
Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn
tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao. Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật
làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ
Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho
tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu
tranh cho thích hợp. Tháng 3-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4-1945, Trung ương triệu tập Hội nghị
quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các
lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt
Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành
lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt
Nam.
Từ tháng 4-1945 trở đi, cao trào
kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu
tháng 5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ
đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Ngày 4-6-1945, Khu giải
phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm
thời, trở thành căn cứ địa của cả nước. Tháng 8-1945, Hội nghị đại biểu toàn
quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta
giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính
quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương;
đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: tập trung, thống
nhất, kịp thời. 23 giờ ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu
triệu toàn dân tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân
trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi
nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung
ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ
Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ:
“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy
đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi
nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18-8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra
giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một
phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng
Nam... Ngày 19-8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8,
khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng
Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25-8, khởi nghĩa thắng
lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa,
Tây Ninh, Bến Tre... Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ
cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền.
Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng
8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả
nước về tay nhân dân.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba
Đình (Hà Nội) lịnh sử, trước cuộc mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch
Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập,
tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay
là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2-9 là Ngày Quốc khánh của
nước ta.
2. Nguyên nhân thắng lợi
- Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành
công mau lẹ do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa
quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khéo léo của Đảng; là sự vận
dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta một
cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng có phương pháp, chiến lược,
chiến thuật cách mạng phù hợp, linh hoạt; nhận thức được thời cơ, chủ động đón
thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền
trong cả nước.
- Cách mạng Tháng Tám thành công là
do tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta,
không chịu sống mãi kiếp nô lệ của người dân mất nước; một lòng đi theo Đảng và
được Đảng lãnh đạo qua các cuộc tổng diễn tập, đã quyết vùng lên giành độc lập
cho dân tộc. Trải qua 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng dưới sự lãnh
đạo của Đảng, đã có biết bao đồng bào, chiến sĩ đã không hề tiếc máu xương, hy
sinh oanh liệt vì mục tiêu độc lập dân tộc.
- Cách mạng Tháng Tám được tiến hành
trong bối cảnh quốc tế có những thuận lợi nhất định. Chủ nghĩa phát xít Đức, Ý,
Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức
và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh.
3. Ý nghĩa lịch sử
- Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành
công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở
ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chính quyền về tay nhân
dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông
Nam Á; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn hơn 80 năm
nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân
phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình.
Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập,
tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền.
- Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi
của chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách
mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của
Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại; là sự thể nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác-Lênin tại một
nước thuộc địa ở châu Á. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử
dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức
mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và
tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước bị chủ nghĩa đế quốc
thực dân áp bức, thống trị. Nó khẳng định rằng, trong điều kiện trào lưu của
cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo
không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản kém phát triển, nơi mắt xích yếu
nhất của chủ nghĩa đế quốc mà còn có thể thành công ở ngay một nước thuộc địa
nửa phong kiến lạc hậu để đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa
xã hội.
4. Một số bài học kinh nghiệm
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 để lại
nhiều bài học quý báu, nổi bật là:
Bài học thứ nhất là có một đảng tiên
phong thật sự cách mạng, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, được tư tưởng Hồ Chí
Minh soi sáng đã nắm vững hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử, đề ra
đường lối cách mạng đúng đắn, có phương pháp và hình thức đấu tranh phù hợp; biết
nắm bắt thời cơ, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng; phát huy
được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng đứng lên
giành và giữ chính quyền.
Bài học thứ hai là vấn đề giành và
giữ chính quyền. Đảng ta đã biết chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng, làm cho
lực lượng cách mạng đủ mạnh, thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, từ đó
làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo ra thời cơ cách mạng để đưa
cuộc cách mạng đến thành công. Để giữ vững chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã
dựa chắc vào nhân dân, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để đấu tranh
thắng lợi với thù trong giặc ngoài. Đảng ta biết kiên quyết dùng bạo lực cách
mạng và sử dụng bạo lực cách mạng thích hợp và đúng lúc để đập tan bộ máy nhà
nước cũ, lập ra nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Bài học thứ ba là vấn đề nắm bắt
được thời cơ, đề ra được những quyết định chính xác và kịp thời. Nghệ thuật chỉ
đạo tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chọn đúng thời cơ,
ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc thể hiện cụ thể trong chỉ thị của Thường
vụ Trung ương Đảng tháng 3-1945 “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng
ta” và bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc phát đi đêm
13-8-1945. Cũng nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của nhân dân ta trong Cách
mạng Tháng Tám được nhân lên gấp bội, đã tiến hành tổng khởi nghĩa thành công
trong phạm vi cả nước trong thời gian ngắn.
Nguồn tin: Ban Tuyên giáo Trung ương
“CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN” ĐÃ BÀO MÒN NHÂN CÁCH
Trước đại hội XIII của Đảng, vấn đề
nhân sự được thảo luận sôi nổi ở các ngành, các cấp. Đặc biệt ở cấp Trung ương,
hai chữ “tài”, “đức” lại được đưa ra làm thước đó để lựa chọn cán bộ. Cả hai vế
đều được coi trọng nhưng có lẽ, thực tế công cuộc phòng chống tiêu cực, tham
nhũng, suy thoái vừa qua cho thấy, “đức” phải là gốc, không có đạo đức thì dù
tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các
học trò của Người đã để lại tiếng thơm cho đời cũng chính bởi đề cao chữ “đức”,
chữ “liêm”.
Qua vụ việc sai phạm mà cơ quan điều
tra kết luận về ông Nguyễn Đức Chung, không thể định nghĩa chính xác hơn trong
4 chữ mà người đứng đầu Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc
tới. Đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Chủ nghĩa cá nhân đã bào mòn nhân cách khiến
con người ta sa ngã một lần thì tiếp tục “nhúng chàm” ở lần tiếp theo. Sai phạm
nọ nối tiếp sai phạm kia, cuối cùng cũng chỉ chung quy hai chữ “quyền” và
“tiền”. Hơn một lần, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng phát biểu: “Tiền bạc lắm
làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý
nhất!”. Với ông Nguyễn Đức Chung từng là tiến sĩ luật, từng là cán bộ hình sự,
được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang khi mới 37 tuổi, được phong tướng
khi mới 46 tuổi, rồi lần lượt giữ các chức vụ lãnh đạo ở đơn vị bảo vệ trật tự
an toàn cho thủ đô, ông Chung được kỳ vọng sẽ là một nhà lãnh đạo quyết liệt,
xông xáo, dám nghĩ dám làm…Nhưng hiện tượng đôi khi không phản ánh hết bản
chất, đúng như Tổng Bí thư nói: Đừng thấy “đỏ” mà tưởng là “chín” và trong một hội nghị kín, mang tính tâm tình, Tổng
Bí thư chia sẻ “Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu”. Nhưng nay, nó
đã chính thức đi vào bài diễn văn tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ
mới, đủ thấy ông trăn trở thế nào đối với danh dự của người cán bộ, đảng viên,
nhất là những người giữ vị trí lãnh đạo.
Không tham lam, không lóa mắt bởi
đồng tiền, không dùng mọi thủ đoạn để đạt được địa vị; đề cao danh dự, đề cao
phẩm chất đạo đức, đề cao sự liêm chính, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên
lợi ích cá nhân thì có lẽ, đã bớt đi những cán bộ lãnh đạo bị kỷ luật và xử lý
hình sự. Cán bộ mà sa vào “chủ nghĩa cá nhân” sẽ dẫn đến thân bại danh
liệt./.
MỘT BÀI THƠ BẤT HỦ VỀ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
Những dòng chia sẻ đầy xúc động của Nhà thơ Anh Ngọc
về Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngay
sau khi hay tin Đại tướng từ trần
VĨNH BIỆT ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP - VỊ
TỔNG TƯ LỆNH VÀ NGƯỜI ANH CẢ CỦA TOÀN THỂ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - VỊ TƯỚNG
HUYỀN THOẠI CỦA LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM!
CẦU CHÚC ANH LINH CỦA ĐẠI TƯỚNG THANH THẢN PHIÊU DU TRÊN THẾ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI HIỀN THIÊN CỔ!
