Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

 “Giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ chung của toàn dân. Mỗi người dân Việt Nam phải là một chiến sĩ hăng hái đấu tranh cho hòa bình” .

Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình”, Bác viết ngày 16 tháng 8 năm 1958, Báo Nhân dân đăng trên số 1618, ngày 17 tháng 8 năm 1958.
Trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống lại các thế lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trải qua nhiều cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, với biết bao mất mát, hy sinh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam nhận rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Bởi vậy yêu chuộng hòa bình là một trong những truyền thống nổi bật, là nét đẹp văn hóa tiêu biểu và cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ cao cả của mỗi người dân Việt Nam.
Nhận thức sâu sắc qui luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã được Đảng, Nhà nước, nhân dân ta phát triển thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kế tục truyền thống yêu chuộng hòa bình, giữ vững ý chí độc lập, tự do, thâm nhuần lời Bác Hồ dạy, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn nhất quán với chủ trương: “Giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện địa hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng quân đội và dân ta đã đoàn kết, anh dũng đấu tranh giành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược, giải phóng đất nước, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả. Ngày nay, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế… Quân đội ta đã cử cán bộ làm nhiệm vụ quốc tế tại các phái bộ của Liên Hợp quốc thể hiện trách nhiệm quốc tế của quân đội và nhân dân Việt Nam với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các bất ổn và thách thức về an ninh hướng tới xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân ra sức thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, không ngừng nâng cao chất lượng và sức mạnh tổng hợp của quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần xây dựng và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế.






 "Phải dựa vào Nhân dân, vì đông đảo Nhân dân rất nhiều tai mắt, cho nên bộ đội, công an không những phải đoàn kết nội bộ, lại phải đoàn kết với Nhân dân, dựa vào Nhân dân, giáo dục Nhân dân cảnh giác thì địch không làm gì được”.

Lời dạy của Người trích trong “Bài nói chuyện với trường thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình” ngày 17 tháng 8 năm 1962. Đây là thời kỳ cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước của dân tộc ta ở thời kỳ vô cùng ác liệt, Đảng, Nhà nước đã động viên, khích lệ tinh thần xung kích, tình nguyện của các thế hệ thanh niên làm nên những thành tích vẻ vang trong xây dựng trường học kiểu mẫu, góp sức vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; trong đó, có sự ủng hộ, giúp đỡ rất lớn của nhân dân.
Tư tưởng về phát huy sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và giành nhiều công sức xây dựng. Bác luôn nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân, coi nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam, đúng như lời Người đã khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Thực tiễn đã minh chứng, chỉ có đoàn kết chặt chặt chẽ với nhân dân, dựa vào dân, được nhân dân tin yêu thì quân đội và công an mới có được những thuận lợi trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Cách xa dân, không gắn bó với nhân dân, không liên hệ mật thiết với nhân dân, không dựa vào dân thì bộ đội và công an không thể hoàn thành được nhiệm vụ; bởi theo Bác: “Có dân là có tất cả”.
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hai lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, luôn đoàn kết, gắn bó, phối hợp và tạo điều kiện, giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, mỗi lực lượng đều nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy, luôn giữ vững mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, tích cực giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ dân, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm mũi nhọn tấn công trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kích động tư tưởng chống đối, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Hà Nội tăng thời gian giãn cách xã hội toàn thành phố, kiểm soát chặt giấy đi đường

 Chiều 21/8, UBND TP Hà Nội có Công điện số 19 hỏa tốc yêu cầu tăng cường các biện pháp thực hiện nghiêm giãn cách xã hội để ngăn chặn dịch bệnh COVID-19. Theo đó, Hà Nội tiếp tục kéo dài thời gian giãn cách xã hội đến 6h ngày 6/9/2021. Trong thời gian này, việc cấp và quản lý giấy đi đường sẽ được kiểm soát chặt.

Đại tướng Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Hoàng Văn Thái là một trong 34 đội viên đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, được phân công phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến và cũng là Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

ĐỪNG "CẮT" "GHÉP" HÌNH ẢNH GIẢ ĐỂ GÂY NHIỄU LOẠN THÔNG TIN!

 Về “Thiết quân luật” - Xin đừng tiếp tay cho tin tức giả!

Cộng đồng Facebook đang lan truyền những tin tức giả mạo như hình ảnh xe thiết giáp chắn đường, “quân đội mặc đồ bảo hộ cầm súng” để "chứng minh" rằng TPHCM bắt đầu Thiết Quân Luật.


KHÔNG ĐÚNG!


Thứ nhất: Hình ảnh lan truyền là giả mạo, bức hình trên là hình ảnh tại Myanmar, thực tế khẩu súng trong hình là khẩu QBZ-95 do Trung Quốc sản xuất không phải là trang bị của QĐND Việt Nam.


Thứ hai: Việc Chính phủ & Bộ Quốc Phòng đưa Quân đội vào hỗ trợ TPHCM tăng cường cho chỉ thị 16 KHÔNG đồng nghĩa với việc đưa TPHCM vào trạng thái Thiết Quân Luật.


Nói có sách mách có chứng, hãy dành vài phút để tìm hiểu cơ sở Pháp lý để ban bố tình trạng Thiết Quân Luật:

- Về thẩm quyền thì theo quy định tại Luật Quốc Phòng: để ban bố tình trạng Thiết Quân Luật cần căn cứ vào lệnh của Chủ tịch nước và quyết định của Thủ tướng chính phủ, khi đó Bộ trưởng BQP mới có đủ căn cứ để chỉ đạo các lực lượng vũ trang thi hành lệnh.

- Theo điều 21 của Luật Quốc Phòng thì Thiết quân luật là biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt do Quân đội thực hiện, áp đặt kiểm soát quân sự trực tiếp đối với các chức năng dân sự thông thường và/hoặc đình chỉ luật dân sự của chính phủ. 

Thiết quân luật (có thời hạn) nhằm mục đích đặt sự kiểm soát xã hội (tạm thời) trong tay Quân đội để khôi phục dần dần lực lượng hành pháp dân sự.

Điều này đồng nghĩa với việc lực lượng hành pháp dân sự - tức là chính quyền, công an...đã bị vô hiệu hóa, áp đảo và/hoặc không còn hoạt động được.

Chính quyền và các lực lượng hành pháp tại TPHCM vẫn ổn, vì vậy không cần có tình trạng Thiết Quân Luật.


Vậy sự thật là gì?

Sau nhiều tháng ròng rã chống dịch và áp dụng các CT15, CT16, các lực lượng chống dịch tại chỗ của TPHCM đã có biểu hiện mệt mỏi & hao hụt nhân lực rất nhiều do phơi nhiễm, nguồn lực của người dân & doanh nghiệp đang dần cạn kiệt trong khi số F0 và tử vong vẫn tiếp tục tăng. 

Nếu tiếp tục tình trạng này sẽ khiến TPHCM kiệt quệ cả về nhân lực và vật lực, TPHCM ốm thì cả nước ốm theo.

Vì vậy, chính phủ quyết định mở kho dự trữ Quốc gia, giao cho quân đội hỗ trợ TPHCM, Quân đội với truyền thống kỷ luật cao và khác với Công an và các lực lượng chống dịch tại TPHCM - các chiến sĩ quân đội sinh hoạt tập trung tại doanh trại nên không vướng bận gia đình, cộng với nguồn lực quốc phòng mạnh mẽ sẽ hỗ trợ tăng cường chỉ thị giãn cách và cung cấp lương thực thực phẩm / nhu yếu phẩm cho người dân TPHCM.

Trong thời gian tới chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện của Quân đội và các phương tiện của Quân đội (chủ yếu là xe vận tải) xuất hiện nhiều trên đường phố, đó là Quân đội hỗ trợ chính quyền để lực lượng Công An TPHCM có thời gian tập trung vào việc đảm bảo an ninh an toàn và trật tự xã hội.

Đất nước chúng ta dù đang rất khó khăn trong đại dịch vẫn tuyệt đối yên bình, xin đừng chia sẻ những hình ảnh "đằng đằng sát khí" "xì khói chiến tranh" khiến cộng động quốc tế sẽ có cái nhìn không đúng, không ai muốn du lịch hay đầu tư vào đất nước đầy đường súng đạn hay xe thiết giáp cả!

Thiết Quân Luật là việc NGHIÊM TRỌNG, ảnh hưởng nặng nề đến hình ảnh của Đất nước chúng ta trên bình diện Quốc tế vì vậy đừng hồn nhiên tiếp tay cho bọn phản động muốn phá hoại hình ảnh đất nước.

Đừng làm đất nước khó khăn hơn...

Không chỉ ngồi yên về mặt vật lý, hãy tìm hiểu và chọn lọc thông tin, đừng “loạn cào cào” lên nữa./.


Yêu nước ST.

Ý NGHĨA CỦA VIỆC HUY ĐỘNG QUÂN ĐỘI GIÚP TP.HCM CHỐNG DỊCH

 

“Quân đội đã sẵn sàng triển khai lực lượng theo chỉ đạo của Thủ tướng, theo yêu cầu của TP.HCM và các tỉnh. Bộ Quốc phòng sẽ làm việc trực tiếp với từng địa phương để tính toán phương án cung ứng hàng hóa cho nhân dân TP.HCM và các tỉnh”, đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng, khẳng định với Thủ tướng tại cuộc họp Thường trực Chính phủ tối 19/8.

Một ngày sau, lãnh đạo Cục Vận tải (Tổng cục Hậu cần) cho biết đến ngày 23/8, các chuyến bay dân dụng sẽ đưa 1.000 quân nhân từ Hà Nội vào TP.HCM. Số quân nhân này là y bác sĩ, giảng viên và học viên của Học viện Quân y.

“Với diễn biến dịch phức tạp ở TP.HCM, việc huy động công an, quân đội có ý nghĩa tăng cường lực lượng có tổ chức chặt chẽ và có tính kỷ luật rất cao”, ông Lê Việt Trường (nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội) chia sẻ với Zing.

TĂNG TÍNH KỶ LUẬT

Đánh giá cao sự vào cuộc của lực lượng như công an, quân đội, ông Lê Việt Trường cho rằng việc kiểm soát dịch tại TP.HCM có ý nghĩa, tác động với cả nước chứ không riêng địa phương này.

"Chống dịch còn khó hơn chống giặc, vì kẻ thù xâm lược chúng ta có thể nhìn nhận rõ, nhưng dịch là kẻ thù không thể nhìn thấy", ông Trường nói.

Đặc biệt, để việc thực hiện các giải pháp chống dịch đạt hiệu quả cao, ông cho rằng cần sự vào cuộc của lực lượng có ý thức tổ chức kỷ luật cao như công an, quân đội. Các lực lượng này đã quen rèn luyện, làm việc trong môi trường công tác gian khổ, nên với nhiệm vụ chống dịch, họ có thể nhanh chóng tiếp cận và bắt nhịp.

Bên cạnh đó, hoạt động của như công an, quân đội gửi đi một thông điệp rằng “với sự tham gia của lực lượng vũ trang, tính kỷ luật, nghiêm khắc trong chống dịch được nâng cao, mọi người dân sẽ tuân thủ và chấp hành tốt hơn”.

Theo ông Trường, khi được điều động vào TP.HCM chống dịch, lực lượng y tế của công an nhân dân và lực lượng quân y của quân đội có thể làm nhiệm vụ tham gia trực tiếp lấy mẫu xét nghiệm, cấp cứu và điều trị bệnh nhân.

Còn các lực lượng khác có thể tham gia bảo đảm giữ gìn an ninh trật tự, cung cấp lương thực, thực phẩm cho người dân mà không để xảy ra tình trạng lộn xộn.

Ông cũng đánh giá cao vai trò của lực lượng quân đội tại TP.HCM khi vừa qua đã đảm nhiệm công việc lo an táng cho nạn nhân xấu số tử vong do Covid-19, để sau đó bàn giao tro cốt lại cho gia đình.

Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh đồng thời lưu ý dù công an, quân đội không thiếu lực lượng, song việc điều động cần tính toán hợp lý vì chúng ta đang hạn chế tiếp xúc. Huy động nhiều quân có thể gây chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ.

Trong xử lý công việc, lực lượng này cũng cần mềm dẻo, linh hoạt, tránh làm ảnh hưởng tới mối quan hệ quân - dân.

Khẳng định năm nào đất nước cũng cần sự góp sức của lực lượng vũ trang, song theo ông Trường, đây là lần đầu tiên chúng ta huy động công an, quân đội vào một trận chiến rất đặc biệt. Từ câu chuyện chống dịch lần này ở TP.HCM, Quốc hội cần sớm nâng cấp Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp lên thành luật để khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra, địa phương có cơ sở pháp lý vững chắc để áp dụng các biện pháp cần thiết mà không phải do dự.

CẦN LỰC LƯỢNG KIỂM SOÁT VIỆC GIÃN CÁCH

Sau 4 lần giãn cách xã hội nhưng tình hình dịch tại TP.HCM vẫn diễn biến phức tạp, số ca nhiễm tăng cao, PGS.TS Nguyễn Viết Nhung (Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương) nhấn mạnh lần này việc giãn cách phải thực chất và phải có lực lượng kiểm soát, đó có thể là lực lượng công an hoặc quân đội.

Ngoài ra, thắt chặt giãn cách phải đi kèm làm tốt chính sách an sinh, lo cho người dân có cái ăn.

“Dù ăn cháo cũng phải lo cho dân có ăn”, ông Nhung nhấn mạnh và cho rằng biện pháp quyết liệt nhưng phải có phương pháp để người dân làm theo và thực hiện hiệu quả.

Trước thực tế số ca mắc Covid-19 vẫn tăng cao những ngày qua, trong đó phần lớn là số ca nhiễm cộng đồng, ông cho rằng có một thực tế là dịch chưa được kiểm soát và các biện pháp can thiệp chưa mang lại hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt, việc giãn cách xã hội chưa thực sự chặt chẽ, thể hiện qua việc lượng người qua lại đông đúc trên đường TP.HCM gần đây.

Với những khu vực dịch diễn biến phức tạp và có số ca mắc tăng cao như TP.HCM, Bình Dương hay một số tỉnh phía Nam, ông Nhung cho rằng có thể nhìn nhận ở hai góc độ.

Thứ nhất, nếu số ca nhiễm tăng do có chiến lược mở rộng xét nghiệm để phát hiện ra F0, bóc tách F0 khỏi cộng đồng thì đó là tín hiệu tốt, cho thấy chiến lược đúng hướng.

Nhưng ở góc độ thứ hai, nếu bóc tách mãi mà số ca nhiễm không giảm, không lên đến đỉnh thì lại cho thấy có vấn đề, đó chính là tình trạng lây nhiễm mới, lây nhiễm chéo trong cộng đồng.

"Bóc tách F0 ra khỏi cộng đồng không có nghĩa là đem người ta đến chỗ này, chỗ khác, mà cách ly ngay tại nhà cũng là bóc tách", PGS Nguyễn Viết Nhung phân tích.

TP.HCM thực hiện điều này nhưng lại làm một cách bắt buộc khi không còn cách nào khác, mất đi tính chủ động nên hiệu quả có thể không được như mong muốn.

Khi số ca nhiễm tăng nhanh, vị chuyên gia một lần nữa nhấn mạnh giãn cách phải thực sự nghiêm ngặt, chặt chẽ theo tinh thần “người cách ly với người”, “nhà cách ly với nhà”. Thậm chí, những người trong cùng gia đình cũng đảm bảo giãn cách với nhau.

PGS.TS Nguyễn Viết Nhung tái khẳng định ngoài vaccine và thuốc đặc trị, không có biện pháp nào chống dịch hiệu quả bằng giãn cách để không lây nhiễm từ người sang người.

Bên cạnh những lý do khách quan, vị chuyên gia nhấn mạnh ý thức chủ quan của người dân rất quan trọng. Nếu người dân vẫn tiếp tục đổ ra đường, vẫn giao tiếp thì biện pháp giãn cách cũng không có hiệu quả.

“Đầu tư để hỗ trợ, giúp người dân yên tâm giãn cách, góp phần chống dịch là đầu tư cần thiết, sau đó kinh tế sẽ phát triển trở lại. Nếu hà tiện trong việc này thì việc chống dịch không thể hiệu quả”, ông Nhung nêu quan điểm, đồng thời cho rằng chính sách hỗ trợ này phải do Chính phủ cùng TP.HCM thực hiện.


CỤC DÂN QUÂN TỰ VỆ ĐỀ XUẤT BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG BAN HÀNH CHỈ THỊ VỀ TIẾP TỤC NÂNG CAO HIỆU

 

Căn cứ vào nhiệm vụ Thủ trưởng Bộ Quốc phòng giao về triển khai thực hiện các nội dung liên quan tại Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 06/8/2021 của Chính phủ về các giải pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 để thực hiện Nghị quyết số 30/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội khoá XV; để chỉ đạo kịp thời các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức lực lượng Dân quân tự vệ tham gia phòng, chống dịch đạt hiệu quả hơn nữa, Cục Dân quân tự vệ đã có Công văn số 768/DQ-KHTH ngày 20/8/2021 về việc đề nghị Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu ký công văn báo cáo Thủ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Chỉ thị về tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng Dân quân tự vệ trong phòng, chống dịch Covid-19.

Theo dự thảo Chỉ thị, hiện nay tình hình dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp, đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam, gây tổn thất rất lớn về tính mạng, sức khoẻ và đời sống nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Công tác phòng, chống dịch tiếp tục được triển khai rộng khắp với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp và của toàn dân. Trong đó, Dân quân tự vệ là một trong các lực lượng xung kích luôn ở tuyến đầu chống dịch. Cán bộ, chiến sĩ Dân quân tự vệ đã tận tâm, nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, nhất là phối hợp với các lực lượng trong kiểm soát hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; được cấp uỷ, chính quyền địa phương và nhân dân đánh giá cao. Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, chỉ huy Dân quân tự vệ trong phòng, chống dịch có mặt còn hạn chế; công tác thông tin, truyền thông, thi đua, khen thưởng có nơi, có lúc chưa kịp thời.

Dự thảo cũng nêu rõ, các cơ quan, đơn vị, địa phương: Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phòng, chống dịch Covid-19, nhất là Chỉ thị 15, Chỉ thị 16, Chỉ thị 19 của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản lãnh đạo của Bộ Quốc phòng với quan điểm “chống dịch như chống giặc”; phát huy vai trò, vị trí của lực lượng Dân quân tự vệ trong phòng, chống dịch; đồng thời, duy trì nghiêm hoạt động sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; tổ chức huấn luyện bổ sung cho lực lượng Dân quân tự vệ tập trung vào các nhiệm vụ, biện pháp phòng, chống dịch; cơ quan, đơn vị khi huy động Dân quân tự vệ làm nhiệm vụ phòng, chống dịch phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, tổ chức chỉ huy chặt chẽ, quản lý thống nhất, bảo đảm đầy đủ trang thiết bị, phương tiện an toàn và chế độ, chính sách cho Dân quân tự vệ đúng quy định pháp luật (trợ cấp ngày công lao động, tiền ăn, giải quyết chế độ chính xác, kịp thời cho Dân quân tự vệ bị ốm đau, bị tai nạn, chết, bị thương, hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ); tăng cường công tác tuyên truyền, nhân rộng mô hình mới tiêu biểu, nêu gương tập thể, cá nhân Dân quân tự vệ có cách làm mới, sáng tạo, hành động dũng cảm, khen thưởng, xử lý vi phạm kịp thời; một số nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, đơn vị, địa phương về sử dụng lực lượng Dân quân tự vệ và phối hợp hoạt động khi thực hiện Chỉ thị 15, Chỉ thị 16, Chỉ thị 19 của Thủ tướng Chính phủ

MỘT TÍN HIỆU VUI CHO F0 ĐIỀU TRỊ TẠI GIA ĐÌNH 60 TỔ QUÂN Y SẼ ĐẾN TẬN NHÀ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN COVIC-19 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳


Mỗi tổ 2 bác sĩ và 3 học viên của Học viện Quân y đến từng nhà thăm khám, chăm sóc điều trị bệnh nhân COVIC-19 theo Trung  tướng ĐỖ Quyết

Sáng 21/8, tại lễ xuất quân tiễn Đoàn bác sĩ, học viên lên đường vào TP HCM chống dịch, Giám đốc Học viên Quân y, Trung tướng Đỗ Quyết cho biết, Đoàn công tác tổ chức thành 60 tổ quân y lưu động, trong đó có 113 bác sĩ, 2 cán bộ, 180 học viên do Đại tá Nguyễn Anh Tuấn, Hệ trưởng hệ sau Đại học, làm Trưởng đoàn.

Dưới sự chỉ đạo, điều phối của Sở chỉ huy phòng, chống dịch phía Nam, Đoàn công tác sẽ lấy mẫu xét nghiệm, tiêm phòng vaccine, quản lý, điều trị, chăm sóc sức khỏe ban đầu các bệnh thông thường; quản lý, chăm sóc các trường hợp F0, cách ly, điều trị tại gia đình; phối hợp vận chuyển, chuyển tuyến và thực hiện các nhiệm vụ khác khi được giao.

Theo tướng Quyết, không giống các đợt tăng cường trước vào công tác tại bệnh viện dã chiến, các bác sĩ lần này có nhiệm vụ đến tận phường, tổ dân phố, từng gia đình phát hiện, điều trị cho bệnh nhân mắc Covid-19 và điều trị cả những bệnh nền khác. Các học viên Quân y không chỉ đi lấy mẫu mà sẽ thực hiện công việc như đi lâm sàng, tức là xuống chăm sóc bệnh nhân tại nhà, tại khu phố và làm bất cứ nhiệm vụ gì người dân yêu cầu.

Do đó, Giám đốc Học viện Quân y yêu cầu các bác sĩ, học viên chuyên khoa 1, chuyên khoa 2, cao học, đại học phát huy kiến thức đã học được, đồng thời tiếp tục cập nhật thêm hướng dẫn của Bộ Y tế, Cục Quân y, Học viện Quân y trong suốt thời gian thực hiện nhiệm vụ. "Chưa bao giờ người dân TP HCM, người dân miền Nam cần sự giúp đỡ của chúng ta như lúc này", tướng Quyết nói, mong muốn từng thành viên trở thành những chiến sĩ xung kích, đảm trách tốt vai trò quân y.

Trung tướng Đỗ Quyết nói có hai điểm quyết định trong sự thành công của đoàn công tác là tính kỷ luật và tình thương yêu người dân, người bệnh. Ông nhắc nhở thành viên đoàn công tác tuyệt đối tuân thủ các quy định về phòng chống lây nhiễm vì "cầm súng đi đánh giặc mà để bị thương, sẽ thất bại".

"Trong số những người nhiễm Covid-19, có thể có trường hợp chịu nhiều tác động về tâm lý nên đôi khi có những câu nói khó nghe, đòi hỏi các em phải có tinh thần trách nhiệm và cả tình thương yêu khi tiếp xúc, thực hiện nhiệm vụ", Giám đốc Học viện Quân y nói.

Trung tướng Đỗ Quyết cho biết rất vui khi chỉ cần một lời kêu gọi, hàng trăm cán bộ, y bác sĩ, học viên của Học viện Quân y đã tình nguyện đi vào những nơi khó khăn nhất, nơi người dân đang cần nhất để thực hiện trách nhiệm của người lính trong thời bình.

Thay mặt đoàn công tác, Đại tá Nguyễn Anh Tuấn khẳng định tất cả các thành viên đoàn đều cảm thấy vinh dự khi nhận nhiệm vụ mà Bộ Quốc phòng và Học viện Quân y giao. "Chúng tôi xin hứa và quyết tâm đoàn kết, phát huy tối đa kiến thức và kỹ năng chuyên môn, khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm phục vụ, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao", Đại tá Thắng nói.



Đại tướng Nguyễn Quyết: Suốt đời vì nước, vì dân

 

Tháng Tám này, Đại tướng Nguyễn Quyết bước sang tuổi 100. Một thế kỷ cuộc đời, hơn 80 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng đã góp phần làm nên lịch sử và thúc đẩy lịch sử phát triển, để lại dấu ấn trong những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ và trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

1. Sinh ngày 20-8-1922 trong một gia đình nông dân có 10 người con ở thôn Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Đại tướng Nguyễn Quyết (tên thật là Nguyễn Tiến Văn) chỉ được học đến hết bậc tiểu học. 15 tuổi, ông lên Hà Nội kiếm sống và bắt đầu hoạt động cách mạng. Năm 1939, ông được Đảng giao nhiệm vụ trở về gây dựng phong trào phản đế ở tỉnh Hưng Yên. Đầu năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1941, ông tham gia lãnh đạo phong trào phản đế ở phía nam Hưng Yên, năm 1943 là Tỉnh ủy viên. Năm 1944, ông là Thành ủy viên, tham gia Ban Cán sự xây dựng phong trào phản đế ở Hà Nội. Tháng 3-1945, ông được giao nhiệm vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Thủ đô.

Những ngày gây dựng phong trào ở Hưng Yên và ở Hà Nội, người đảng viên trẻ xuất thân nông thôn đã tự học hỏi, dựa vào dân, nhờ dân che chở, bảo vệ an toàn để hoạt động. Ông được gia đình quan phủ Nam triều Nguyễn Diệp Quảng ở 96 phố Hàng Bột cho ở trong nhà, được hai cô “thiên kim tiểu thư” nhanh trí cứu thoát khỏi sự lùng sục của quân Nhật. Ông kết bạn với những thanh niên tiến bộ “tầng lớp trên”, đưa họ vào con đường hoạt động cách mạng.

Chiều 16-8-1945, nghe báo cáo hôm sau có cuộc mít tinh của Tổng hội Viên chức ủng hộ chính quyền thân Nhật ở Nhà hát Lớn Hà Nội, Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết quyết định giao nhiệm vụ cho ông Phạm Thái Hy, Đội phó cùng Đội Thanh niên thành Hoàng Diệu cướp diễn đàn, biến cuộc mít tinh của địch thành cuộc tuần hành thị uy của quần chúng cách mạng.

Trưa 17-8, tại làng Vạn Phúc, Hà Đông, các đồng chí Nguyễn Khang, Trần Tử Bình, đại diện Xứ ủy hội ý, quyết định: Dựa vào Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, cho Hà Nội tổng khởi nghĩa, không chờ lệnh cấp trên. Ngay tối 17-8-1945, Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết triệu tập cuộc họp Ủy ban Quân sự ở Dịch Vọng, quyết định Hà Nội Tổng Khởi nghĩa vào ngày 19-8-1945. Và cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội đã thành công, ta chiếm Trại Bảo an binh, Phủ Khâm sai, Tòa Thị chính, Sở Cảnh sát... không tốn một viên đạn, không đổ một giọt máu, “mở đường cho Cách mạng Tháng Tám thành công trên cả nước” như đánh giá của Tổng Bí thư Trường Chinh.

2. Tại trang 119 cuốn “Thủ đô Hà Nội - Truyền thống, nguồn lực, định hướng phát triển” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2015 có ghi: “Nếu tiếp tục chấp hành các chỉ thị trước đó của Đảng, nhất là Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc thì chắc chắn cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và trên cả nước sẽ rất khó khăn, thậm chí không giành được thắng lợi”.

Sự đánh giá đó dựa trên thực tế lịch sử. Lúc đó, quân Nhật ở Hà Nội có 1 vạn lính được trang bị hiện đại, thiện chiến, đã điều 2 xe tăng và rất nhiều lính bao vây Trại Bảo an binh, ra tối hậu thư buộc Việt Minh đầu hàng. Ta đã sáng tạo, vận dụng biện pháp “ngoại giao quân sự” với hậu thuẫn là khí thế ngút trời của quần chúng cách mạng, cử đoàn đại diện Việt Minh do đồng chí Lê Trọng Nghĩa, Ủy viên Ủy ban Quân sự và Cố vấn Trần Đình Long dẫn đầu, trực tiếp đàm phán với tướng Tsuchihashi - Tổng Tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật tại Đông Dương - ngay tại Tổng hành dinh quân đội Nhật (nay là 33 Phạm Ngũ Lão). Phía Nhật đồng ý án binh bất động, không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam, đổi lại, họ được Việt Minh bảo đảm an toàn, không bị tấn công để chờ ngày về nước.

Kết quả đàm phán với Nhật mang ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, bởi phe Việt Minh đã không chỉ tránh được cuộc đối đầu trực tiếp với lực lượng vũ trang của Nhật mà còn dập tắt mọi hy vọng của các lực lượng chính trị khác vào khả năng đảo ngược tình thế tại Hà Nội vào thời điểm đó.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Quyết gia nhập đội quân Nam tiến, vào Liên khu V, lần lượt được giao những cương vị lãnh đạo Liên khu V. Trong kháng chiến chống Pháp, Liên khu V đã lập nhiều chiến công vang dội, đánh bại cuộc hành quân Atlante của Pháp, phối hợp chia lửa với chiến trường Điện Biên Phủ. Liên khu V cũng là địa phương duy nhất trong cả nước có vùng giải phóng do chính quyền nhân dân quản lý Trong thời gian lãnh đạo Quân khu 3, Đại tướng nắm chắc tình hình, quyết đoán, sáng tạo. Năm 1972, ông cùng Bộ Tư lệnh Quân khu tổ chức cho nhân dân Hải Phòng sơ tán triệt để trước khi máy bay B-52 Mỹ đánh phá, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản.

Đại tướng còn có tầm nhìn chiến lược về phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế biển đảo. Năm 1976, khi là Chính ủy Quân khu 3, ông đã phát động phong trào “Vươn ra Biển Đông, làm giàu, đánh thắng”...

3. Tháng 5-1989, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Quyết được Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh giao nhiệm vụ làm Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam dự Hội nghị Bí thư Trung ương các Đảng Cộng sản và Công nhân các nước xã hội chủ nghĩa về công tác tổ chức, xây dựng Đảng tại La Havana, thủ đô nước Cộng hòa Cuba trong 2 ngày 6 và 7-6-1989. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam gồm 3 người, ngoài Đại tướng có Trợ lý Trần Can và Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản Nguyễn Phú Trọng. Đại tướng đã có bài phát biểu quan trọng, nêu bật 6 nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo công cuộc Đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định sự cần thiết tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản.

Tại hội nghị này, lần đầu tiên Đảng ta vạch rõ nguy cơ “thù trong” có thể dẫn đến tình trạng tự suy thoái trong Đảng Cộng sản và nguy cơ tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Muốn chống “thù trong”, Đảng phải giáo dục, rèn luyện đảng viên ở tất cả các cấp, từ trung ương tới cơ sở, từ người lãnh đạo cấp chiến lược đến đảng viên thường. Lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn của những lời cảnh báo đó. 2 năm sau, ngày 26-12-1991, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) đã chính thức chấm dứt tồn tại. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt sụp đổ. Trong nước xuất hiện xu hướng đòi đa nguyên, đa đảng. Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Quyết đã kiên quyết chống lại xu hướng này.

Từ kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, Đại tướng khẳng định nguyên lý: Cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo phải dựa vào quần chúng, sức mạnh của cách mạng là ở nhân dân. “Không có quần chúng kém, chỉ có lãnh đạo tồi. Người lãnh đạo, nhất là ở cấp chiến lược càng phải biết dựa vào quần chúng, phải biết sửa sai, chống tả khuynh, chống hữu khuynh để giành thắng lợi. Ta vẫn quen nói, Đảng muôn năm, lãnh tụ muôn năm, nhưng nếu có sai lầm mà không sửa thì muôn năm thế nào được”. Ông đã được trao tặng Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và Huân chương Sao Vàng cao quý.

Nguồn: Báo HNM

CÓ THỂ THIẾU MỘT MIẾNG ĂN NHƯNG KHÔNG THỂ THIẾU LIỀU THUỐC


TPHCM áp dụng mức độ phòng dịch cao hơn kể từ ngày 23.8, người dân phải tuyệt đối chấp hành để dập dịch. Nhưng có hai mối lo, một là người dân có được cung cấp thực phẩm, hai là có được chăm sóc y tế, cung cấp thuốc men.

Trong thời gian qua, đối với những trường hợp khó khăn, họ được sự hỗ trợ từ nhiều kênh, trong đó có những nhóm thiện nguyện. Khi quy định về đi lại gắt gao, ai sẽ đem từng hộp cơm đến cho người nghèo để cứu đói?

Theo thượng tướng Võ Minh Lương - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, quân đội sẽ vừa tuyên truyền, giám sát người dân thực hiện nghiêm việc cách ly theo Chỉ thị 16, vừa đưa lương thực, thực phẩm, gói an sinh, gói thuốc điều trị đến từng nhà dân.

Có quân đội hỗ trợ, chắc chắn kỷ luật chấp hành giãn cách sẽ được giữ nghiêm, người dân sẽ được giúp đỡ về thực phẩm. Nhưng chuyện cấp cứu, điều trị bệnh nhân không đơn giản như giao túi quà, mà liên quan đến chuyên môn, chỉ có bác sĩ mới giải quyết được.

Tính đến ngày 20.8, thông tin từ Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TPHCM, thành phố có 40.451 trường hợp F0 đang cách ly, theo dõi, điều trị tại nhà.

Những người điều trị tại nhà rất cần sự hỗ trợ, không chỉ là thực phẩm mà còn máy thở, bình ôxy dự phòng, thuốc men và đặc biệt là khám bệnh, chữa bệnh.

TPHCM có 6 trạm y tế lưu động được thành lập, trong đó có 1 trạm đặt tại quận 3 và 5 trạm đặt tại quận 7 nhằm chủ động và tăng cường chăm sóc sức khỏe cho F0 cách ly tại nhà.

Nhưng với thành phố lớn nhất nước, hơn 10 triệu dân, thì 6 trạm y tế lưu động là quá ít, không thể đáp ứng được nhu cầu trên thực tế. Cho nên, các đội thiện nguyện hỗ trợ y tế rất quan trọng, giúp được bệnh nhân trong cơn nguy cấp, chờ cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ của cơ sở y tế hoặc nhập viện.

Chưa kể, người dân không chỉ bị bệnh vì COVID-19, mà rất nhiều bệnh tật khác, cần được khám bệnh, tối thiểu là đi mua thuốc.

Được cho phép đi lại, khi đau ốm, chỉ cần chỉ định của bác sĩ, người bệnh có thể mua thuốc uống. Nhưng trong trường hợp cách ly nghiêm ngặt, tuyệt đối không được ra ngoài, bệnh nhân sẽ mua thuốc bằng cách gì?

Đối với mối lo lớn này của người dân, phải có sự chuẩn bị thật kỹ lưỡng, các phương án lo cho dân chu đáo, đảm bảo phục vụ dân tốt.

Miếng ăn đến không kịp thì chịu đói một chút, nhưng cấp cứu bệnh nhân thì không thể chậm trễ.

Có thể thiếu một miếng ăn nhưng không thể thiếu liều thuốc cho người bệnh

ANH CHỜ NGÀY HẾT DỊCH VỀ THĂM EM

 

Lá cờ đỏ sao vàng theo anh bước

Suốt chặng đường con dốc ngược cheo leo

Vũ khí mang lưng anh cõng anh đèo

Chiều mưa tạnh gió về theo  dịu mát


Những thanh củi khoác theo cùng tăng bạt

Dao đã cài xoong bát ở ba lô

Tự mang thôi không cần sức ngựa thồ

Vì người lính Cụ Hồ đâu có ngại


Đường lên chốt vẫn còn xa xôi mãi

Men  cánh rừng băng qua dải núi cao

Đất đỏ trơn chân anh bấm chặt vào

Quyết tâm lớn khó khăn nào ngăn nổi


Đêm tĩnh lặng canh chừng trên những lối

Mà bao người vẫn đợi để vượt biên

Khi dịch đang diễn biến ở ba miền

Vùng sơn cước giữ bình yên khống chế


Ngày chiến thắng dịch không còn anh kể

Từng phút giây là như thế em à

Nhoẻn nụ cười như tia nắng tỏa ra

Anh cắt phép về thăm nhà nhé vợ.

Chiều Biên Giới

ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG - NHÀ CHỈ HUY THAM MƯU CHIẾN LƯỢC XUẤT SẮC

 

   Đại tướng Văn Tiến Dũng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, là một vị tướng tài ba, mưu lược, nhà quân sự xuất sắc của dân tộc Việt Nam.

   Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định, Văn Tiến Dũng là “một vị tướng có tinh thần quyết thắng lớn và tài thao lược xuất chúng, một người cộng sản kiên cường, bất khuất đã cống hiến cả cuộc đời cho lý tưởng của Đảng, cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

   Đại tướng Văn Tiến Dũng sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội). Ông có bí danh là Lê Hoài. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực, lầm than của đồng bào, tội ác của thực dân, đế quốc và tay sai, ông đã sớm giác ngộ, đi theo con đường của Đảng và để lại nhiều dấu ấn trên con đường hoạt động cách mạng.

   Năm 1936, Đại tướng Văn Tiến Dũng tham gia phong trào đấu tranh của công nhân và tham gia tổ chức cuộc bãi công của công nhân dệt Hà Nội. Hai năm sau, ông trở thành Bí thư Chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội.

   Trong quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã ba lần bị địch bắt, tra tấn, buộc tội “làm Việt Minh” và bị giam cầm ở Nhà tù Hỏa Lò, Nhà tù Sơn La. Tháng 7-1939, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam, song vì không có chứng cứ, sau ba ngày, chúng buộc phải trả tự do. Ra hoạt động công khai giữa lòng địch, hai tháng sau (cuối tháng 9-1939), đồng chí bị bắt lần thứ hai và bị kết án hai năm tù. Tháng 9-1941, trên đường bị địch áp giải từ nhà tù Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, đồng chí đã trốn thoát. Từ tháng 3-1943, đồng chí bắt được liên lạc với Đảng, sau đó tham gia hoạt động và được chỉ định làm Bí thư Ban Cán sự Đảng tỉnh Hà Đông, Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh.

   Tháng 4-1944, đồng chí được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ; tháng 8-1944 bị địch bắt lần thứ 3, tháng 12-1944 vượt ngục ra tiếp tục hoạt động. Ngày 12-1-1945, đồng chí bị chính quyền thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt tại tòa án tỉnh Bắc Ninh.

   Từ tháng 4-1945, đồng chí là Ủy viên Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ, được phân công phụ trách việc tổ chức và giữ chức vụ Bí thư Khu ủy Chiến khu Quang Trung. Tháng 8-1945, ông chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.

   Từ tháng 11-1945 đến 1946,  đồng chí là Ủy viên Quân ủy Trung ương, chỉ đạo chiến đấu chống Pháp ở khu “Nam Tiến” và khu vực từ Vân Nam (Trung Quốc) đến Sầm Nưa (Lào), chỉ huy lực lượng tiến công vào Lai Châu, Sơn La. Ông là Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam – Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam từ tháng 2-1947 đến 10-1949.

   Năm 1948,  đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng.

   Từ tháng 10-1949, ông là Chính ủy Liên khu 3. Năm 1951-1953,  đồng chí là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở đồng bằng Bắc Bộ.

    Từ tháng 11-1953, ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam. Tháng 7-1954, ông là Trưởng đoàn đại diện Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam tại Hội nghị Trung Giã (từ 27-7-1954 chuyển thành Ủy ban Liên hợp đình chiến Trung ương), và tiếp tục giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng đến tháng 5-1978.

   Đồng chí Văn Tiến Dũng được thăng vượt cấp quân hàm Thượng tướng năm 1959, Đại tướng năm 1974.

   Trong kháng chiến chống Mỹ, trên cương vị Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã cùng Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang, đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không - không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc.

   Với chiến trường miền Nam, ông được giao trực tiếp chỉ đạo nhiều chiến dịch có ý nghĩa quan trọng làm thay đổi cục diện chiến trường như Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30-12-1970 đến 3-3-1971), đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân đội Sài Gòn được Mỹ yểm trợ; Chiến dịch Trị - Thiên (3-1972) tiêu diệt Sư đoàn 3 cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của ngụy quân Sài Gòn, giải phóng tỉnh Quảng Trị; Chiến dịch Tây Nguyên (1975) mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

   Tháng 4-1975, là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, Văn Tiến Dũng đã chỉ đạo những cách đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, tạo và nắm thời cơ, chủ động tiến công, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

   Từ 1980-1986, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

   Đại tướng Văn Tiến Dũng mất ngày 17-3-2002, hưởng thọ 85 tuổi./.

Sưu tầm.

Quân y được chi viện từ Hà Nội sẽ đến tận nhà chăm sóc F0 ở TP.HCM


Khi TP.HCM siết chặt giãn cách, gần 300 tổ quân y sẽ đến tận nhà chăm sóc bệnh nhân Covid-19 và hỗ trợ y tế ch
o người dân.

Trao đổi với Zing sáng 21/8, thiếu tướng Hoàng Văn Lương, Phó giám đốc Học viện Quân y, cho biết 300 bác sĩ ở Học viên Quân y đã xuất quân từ Hà Nội vào TP.HCM để hỗ trợ người dân trong giai đoạn siết chặt giãn cách sắp tới.

Tổng quân số của Học viên Quân y được điều động vào TP.HCM đợt này có 1.400 người. 300 người lên đường ngày 21/8; 1.100 người còn lại đi ngày 23-24/8.

1.400 quân nhân được chia thành gần 300 tổ quân y, mỗi tổ gồm 2 bác sĩ/giảng viên và 3 học viên. Khi đến TP.HCM, các tổ quân y sẽ cơ động đến các khu dân cư để chăm sóc sức khỏe cho người dân, điều trị trường hợp F0 và làm một số nhiệm vụ khác theo sự phân công của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19.

Tại lễ xuất quân, trung tướng Đỗ Quyết, Giám đốc Học viên Quân y, nhắn nhủ đoàn công tác rằng "chưa bao giờ người dân TP.HCM, người dân miền Nam cần sự giúp đỡ của chúng ta như lúc này".

Tướng Quyết yêu cầu cán bộ, chiến sĩ phát huy kiến thức chuyên môn khám, chữa bệnh, đồng thời dành tình yêu thương khi tiếp xúc với người dân.

Tối 19/8, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo dưới sự chỉ huy thống nhất của địa phương, quân đội sẽ chủ trì lo lương thực, thực phẩm cho người dân; công an sẽ đảm bảo an ninh trật tự và góp phần an dân.

Báo cáo tại cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang cho biết quân đội sẵn sàng triển khai lực lượng theo chỉ đạo của Thủ tướng và theo yêu cầu của TP.HCM cùng các tỉnh, trong đó có lực lượng y bác sĩ điều trị; tham gia vận chuyển, cung ứng hàng hóa tới người dân...

Nguồn: Báo mới


VŨ TRANG QUẦN CHÚNG CÁCH MẠNG, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN - “BINH THƯ” THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH


   Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra nhiều vị tướng tài ba được cả thế giới ghi nhận. Mỗi triều đại lịch sử, chúng ta đều tự hào vì có được các danh tướng đủ đức, đủ tài để lãnh đạo nhân dân đánh bại hầu hết các thế lực ngoại xâm, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước và sự yên bình cho dân tộc. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh - Người Anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam là một vị tướng như thế. Ông đã có công lớn xây dựng một đội quân hùng mạnh và trực tiếp chỉ huy đội quân hùng mạnh đó lập nên những chiến công hiển hách, cùng toàn dân đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

   Trong tất cả những bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và những chiến dịch quân sự trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần làm nên những chiến thắng vĩ đại, tác động mạnh mẽ vào dòng chảy lịch sử dân tộc; trở thành vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự thời đại và nhận được sự ngưỡng mộ, kính trọng của nhiều nguyên thủ quốc gia, chính khách, học giả, nhà sử học, nhà báo, nhà văn và đông đảo nhân dân thế giới. Không chỉ khẳng định là nhà quân sự lỗi lạc khi trực tiếp tổ chức, kiến tạo những trận đánh lớn và đánh bại những danh tướng hàng đầu của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Ðại tướng còn có công lao đóng góp to lớn trong việc hình thành, phát triển Học thuyết quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, lấy chính nghĩa thắng bạo tàn, được hình thành trên cơ sở đường lối chiến tranh của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy những bài học giá trị lịch sử của cha ông chống giặc ngoại xâm trong thời đại mới, với những luận điểm rất cơ bản, như: phải tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện; trường kỳ kháng chiến với tự lực cánh sinh là chính, viện trợ bên ngoài là quan trọng; xây dựng lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân (dân quân du kích, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực); tiến hành chiến tranh du kích kết hợp chiến tranh chính quy với quy mô thích hợp trong từng giai đoạn; toàn dân đánh giặc với nhiều hình thức linh hoạt, lấy yếu địch mạnh, lấy nhỏ đánh lớn, lấy chất lượng tinh thắng số lượng đông, v.v. Điểm nhấn trong Học thuyết đó là quan điểm: Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân, ví như “Binh thư” thời đại Hồ Chí Minh, được vận dụng hiệu quả trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. 

   Là nhà sử học, đồng thời là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thấy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử khi họ được giác ngộ và tổ chức đứng lên làm cuộc cách mạng; từ đó, tiến hành đường lối chiến tranh nhân dân hết sức độc đáo, sáng tạo, sinh động và hiệu quả, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đường lối ưu việt của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kháng chiến trường kỳ đã đánh bại và làm phá sản hoàn toàn đường lối chiến lược tốc chiến, tốc thắng và các chiến lược khác của những đế quốc hùng mạnh nhất (Pháp và Mỹ) thế kỷ XX. Đây là sự kiện có một không hai trong lịch sử quân sự thế giới. Khi bàn về chiến tranh nhân dân, quan điểm của Đại tướng là “Chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân ở địa phương là một nội dung rất cơ bản của đường lối quân sự của Đảng ta trong suốt các giai đoạn cách mạng. Chiến tranh nhân dân ở địa phương, dân quân tự vệ và bộ đội địa phương là cơ sở vững chắc nhất, rộng rãi nhất của toàn bộ cuộc đấu tranh vũ trang và toàn bộ lực lượng vũ trang nhân dân. Và lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân ở các địa phương, xây dựng các lực lượng vũ trang địa phương là khâu rất cơ bản trong toàn bộ công tác quân sự của Đảng, …”.

   Để tiến hành chiến tranh nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh chiến đấu của quần chúng trong cách mạng và đấu tranh cách mạng, theo Đại tướng, Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo và rất thành công lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam về vấn đề vũ trang toàn dân và xây dựng quân đội nhân dân. Khi quần chúng được vũ trang đứng dậy và giành chính quyền, để bảo vệ thành quả cách mạng, chỉ cần tổ chức ra những lực lượng vũ trang như dân binh, dân cảnh hoặc những đơn vị vũ trang tương đối tập trung ở từng địa phương, chủ yếu là phải vũ trang quần chúng. Song, vấn đề vũ trang quần chúng cách mạng phải đi đôi với xây dựng Quân đội nhân dân; sự phối hợp tác chiến giữa hai lực lượng này tạo sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân trên khắp các chiến trường.

   Trên cơ sở chủ trương của Đảng ngay từ khi mới thành lập về tổ chức Đội tự vệ và huấn luyện quân sự cho quần chúng: Vừa có vũ trang quần chúng vừa thành lập quân đội cách mạng; trải qua thực tiễn lãnh đạo lực lượng vũ trang trong chiến tranh cách mạng, Đại tướng chỉ ra quy luật phát triển của lực lượng cách mạng ở nước ta là trước hết phát triển lực lượng cách mạng trong quần chúng cơ bản, trong nông dân lao động và cả trong công nhân, ở nông thôn và cả ở thành thị; vũ trang cho họ để “không những mỗi người nông dân phải trở thành một chiến sĩ mà mỗi người công nhân, mỗi người dân lao động ở thành thị cũng phải trở thành một chiến sĩ”, “không những chú trọng xây dựng mỗi thôn xóm thành một pháo đài mà càng phải chú trọng xây dựng mỗi xí nghiệp, mỗi đường phố thành một chiến lũy”. Sức mạnh của toàn dân vũ trang là một ưu thế tuyệt đối của nhân dân để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, mặc dù kẻ thù đó mạnh đến như thế nào; lực lượng vũ trang của quần chúng chính là cơ sở vững chắc của mọi lực lượng vũ trang. Khi đấu tranh chính trị phát triển lên thành đấu tranh vũ trang, cùng với lực lượng quần chúng được vũ trang phải thành lập ra quân đội cách mạng làm nòng cốt tác chiến trên các chiến trường. Theo quan điểm của Đại tướng, “muốn phát huy đầy đủ sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân thì nhất thiết phải phát động sâu rộng toàn dân đứng dậy; phải tổ chức ra lực lượng vũ trang của quần chúng, lại phải có đội quân cách mạng; phải biết kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang của quần chúng với quân đội cách mạng. Có như thế mới thực hiện đầy đủ vũ trang toàn dân, mới có chiến tranh nhân dân sâu rộng vô địch”.

   Trong lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam thường diễn ra theo chân lý phổ biến chung, song lại có đặc điểm riêng của nó. Đó là các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta là chiến tranh chính nghĩa của một nước nhỏ đứng lên chống lại những kẻ xâm lược phong kiến và đế quốc mạnh hơn gấp nhiều lần. Để giải quyết vấn đề đặc thù đó, theo Đại tướng phải thực hiện cả nước chung sức đánh giặc, toàn dân kháng chiến; phải có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Từ trong thực tiễn chiến tranh, đúc kết ra tư tưởng quân sự Việt Nam: lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn. Và ngày nay, phát huy truyền thống đó vào chiến tranh nhân dân trong thời đại mới, đòi hỏi khoa học quân sự Việt Nam phải giải quyết thành công vấn đề lấy ít thắng nhiều, lấy trang bị thường kém hơn địch đánh thắng quân địch trang bị hiện đại hơn. Để làm được điều đó, theo quan điểm của Đại tướng là phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân; phải có quân đội - bộ phận nòng cốt rất quan trọng của toàn bộ lực lượng vũ trang nhân dân thật tinh, tinh thần chiến đấu cao, phương pháp chiến đấu giỏi, “giỏi đánh tập trung lại giỏi đánh du kích”, quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược. Đó là những đơn vị, binh đoàn chính quy có nhiều binh chủng hợp thành, trang bị tốt, huấn luyện tốt, lãnh đạo, chỉ huy tốt, làm nhiệm vụ cơ động về chiến dịch, chiến lược, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, đánh những đòn quyết định để tiêu diệt những lực lượng lớn, những đơn vị chủ lực tập trung lớn của địch. Chính vì thấy vai trò to lớn của bộ đội chủ lực mà Đảng ta luôn luôn chăm lo xây dựng và nâng cao chất lượng chiến đấu, làm cho bộ đội chủ lực ta ngày càng lớn mạnh, phát triển nhanh chóng, vững chắc và chiến thắng vẻ vang.

   Sự kết hợp xây dựng Quân đội nhân dân với vũ trang quần chúng cách mạng là kết hợp xây dựng lực lượng nòng cốt với lực lượng rộng rãi; lực lượng cơ động với lực lượng tại chỗ để đánh bại những đội quân xâm lược đông, được trang bị hiện đại, có sức cơ động cao, hỏa lực mạnh. Do đó, phải xây dựng lực lượng nòng cốt, lực lượng cơ động trên phạm vi cả nước, lại phải xây dựng lực lượng nòng cốt, lực lượng cơ động trên từng địa phương; phải xây dựng lực lượng tại chỗ rộng khắp, ở cả rừng núi, trung du và đồng bằng, nông thôn và thành thị. Lực lượng nòng cốt cơ động trên phạm vi cả nước là bộ đội chủ lực. Lực lượng nòng cốt trên từng địa phương là bộ đội địa phương. Lực lượng rộng rãi là dân quân tự vệ. Từ thực tế đó, lực lượng vũ trang nhân dân đã hình thành ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương hợp thành Quân đội nhân dân. Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng. Sự kết hợp giữa quân đội nhân dân với lực lượng vũ trang quần chúng và ngược lại là hình thức tổ chức lực lượng vũ trang thích hợp nhất để phát huy sức mạnh của toàn dân, của cả nước, của cả dân tộc. Đồng thời, là tổ chức quân sự thích hợp nhất để gắn chặt lực lượng vũ trang với lực lượng chính trị, đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị tạo sức mạnh tổng hợp trong khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh giải phóng; cũng như trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. 

   Tư tưởng nghệ thuật quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về “vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân” đến nay vẫn còn nguyên giá trị chỉ đạo thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, cần được nghiên cứu và vận dụng phù hợp, sáng tạo trong điều kiện mới.

   Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của sức mạnh quần chúng nhân dân, “thế trận lòng dân”. Xây dựng “thế trận lòng dân” thực chất là xây dựng, quy tụ, khơi dậy và nhân lên sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, ý chí của toàn dân tộc để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Thế trận lòng dân” là một bộ phận hết sức quạn trọng trong thế trận quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân và xây dựng “thế trận lòng dân” phải được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm làm cho nhân tố chính trị - tinh thần của toàn dân luôn được bồi đắp, củng cố và phát huy cao độ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việc xây dựng “thế trận lòng dân” trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân không thay thế các chiến lược khác, nhưng nó tạo ra nền tảng vững chắc để xây dựng các chiến lược, chương trình, kế hoạch của Đảng, Nhà nước. Do vậy, phải giáo dục, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ và tuyên truyền cho nhân dân nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân và xây dựng “thế trận lòng dân” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng; chuẩn bị cho họ tâm thế sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc khi có tinh huống xảy ra. Hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội. Một trong những mục tiêu tiến công của chúng là đánh vào lòng dân, làm rạn nứt khối đại đoàn kết dân tộc, làm cho nhân dân không tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân và xây dựng “thế trận lòng dân” phải được quán triệt sâu sắc trong tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị và mọi người dân; coi đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, chứ không phải của riêng Quân đội.

   Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền về truyền thống đoàn kết, yêu nước, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, các cơ quan, đơn vị tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong Quân đội, các tầng lớp nhân dân quán triệt sâu sắc, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng các chủ trương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trong thế trận phòng thủ chung của cả nước và các phong trào, các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương phát động. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nhất là đối với thế hệ trẻ về chủ nghĩa yêu nước, tinh thần quật khởi, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; về vai trò lãnh tụ, cá nhân anh hùng lịch sử, về các tấm gương mẫu mực trong lãnh đạo, chỉ huy, lao động sản xuất, huấn luyện, chiến đấu, học tập, công tác, giúp dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, v.v. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục phải kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị kích động, gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội với Nhân dân, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Qua đó, củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

   Ba là, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đây là chủ trương chiến lược của Đảng, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Trong quá trình xây dựng cần thống nhất quan điểm: xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu là nhiệm vụ thường xuyên, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy, sự điều hành của chính quyền, cơ quan quân sự làm tham mưu. Trên cơ sở đó, đề ra những biện pháp lãnh đạo sát thực, phù hợp từng đối tượng, địa bàn và khả năng của từng địa phương. Trước hết, cần đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo; tập trung hoàn thành tốt việc xây dựng các nghị định và thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Dự bị động viên; tổ chức tập huấn, xây dựng và triển khai Đề án tuyên truyền, làm cơ sở triển khai Luật nghiêm túc, hiệu quả. Công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò, ý nghĩa chiến lược về xây dựng lực lượng dự bị động viên trong tình hình mới; gắn xây dựng lực lượng dự bị động viên với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Tập trung nâng cao chất lượng chính trị, bảo đảm cho lực lượng này luôn trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; đồng thời, tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

   Bốn là, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, làm nòng cốt thực hiện công tác quốc phòng, quân sự ở cơ sở, góp phần tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Dân quân tự vệ là lực lượng nòng cốt tham gia bảo vệ Đảng, chính quyền, tính mạng, tài sản của nhân dân; tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự, bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở. Để phát huy vai trò quan trọng đó trong tình hình hiện nay, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương cần tập trung triển khai các biện pháp đồng bộ, hiệu quả. Trước hết, phải quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trong khu vực phòng thủ. Nâng cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức và cá nhân trong xây dựng, huấn luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ. Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân quân tự vệ không chỉ thể hiện ở các chỉ thị, nghị quyết mà còn ở các nội dung, chương trình hành động cụ thể, gắn với đặc điểm, tình hình của từng địa phương, đơn vị, địa bàn, tạo điều kiện cho lực lượng này hoạt động thuận lợi, hiệu quả. Trong xây dựng lực lượng dân quân tự vệ phải thực hiện theo phương châm “vững mạnh, rộng khắp, vững chắc”, có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp ngày càng cao, lấy xây dựng chất lượng chính trị là chính; tổ chức biên chế tinh, gọn, chặt chẽ; trang bị vũ khí phù hợp. Quy mô tổ chức cân đối giữa các thành phần lực lượng, giữa số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương. Chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng dân quân tự vệ ở các địa bàn trọng điểm về quốc phòng và những địa bàn phức tạp. Đồng thời, làm tốt công tác giáo dục chính trị, pháp luật nhằm giúp lực lượng dân quân tự vệ nâng cao nhận thức về chính trị, pháp luật để có đủ khả năng tham gia xử trí các tình huống về quốc phòng, an ninh, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ.

   Năm là, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao. Đi đôi với xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, cần tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, thực sự là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trước mắt, tập trung quán triệt phương hướng xây dựng Quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Theo đó, đến năm 2025, cơ bản hoàn thành việc điều chỉnh tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030 một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại. Các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm các chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, xây dựng chính quy, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, kỷ luật quan hệ quân dân, v.v. Đồng thời, thực hiện tốt nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, sẵn sàng trên tuyến đầu tham gia giúp dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn. Qua đó, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tiêu biểu; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, không ngừng tô thắm, lan tỏa hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần làm phong phú thêm Học thuyết quân sự - đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh./.

St.

TẤT CẢ DỒN SỨC CHO TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG THẮNG LỢI

Lập ra trận đánh cuối cùng 
Hi vọng chiến thắng lẫy lừng mở ra 
Mong rằng toàn thể dân ta 
Đồng lòng cùng chiến sĩ ra chiến trường.
 Bởi giặc nguy hiểm khó lường 
Gây bao tang tóc đau thương quá rồi
Quân , dân phải quyết chí thôi 
Tôi tin dịch sẽ đẩy lùi nay mai. 
Giờ này chắc chẳng riêng ai 
Mà không mong mỏi ngày mai , an bình
 Những mong cả nước đồng tình 
Để không ai phải hy sinh phen này. 
Thề cùng nhau quyết ra tay 
Thực hiện nghiêm để sớm ngày hoàn ca 
St

VỀ "THIẾT QUÂN LUẬT" - XIN ĐỪNG TIẾP TAY CHO TIN TỨC GIẢ

 

Cộng đồng Facebook đang lan truyền những tin tức giả mạo như hình ảnh xe thiết giáp chắn đường, “quân đội mặc đồ bảo hộ cầm súng” để "chứng minh" rằng TPHCM bắt đầu Thiết Quân Luật.

KHÔNG ĐÚNG!

Thứ nhất: Hình ảnh lan truyền là giả mạo, bức hình trên là hình ảnh tại Myanmar, thực tế khẩu súng trong hình là khẩu QBZ-95 do Trung Quốc sản xuất không phải là trang bị của QĐND Việt Nam 



Thứ hai: Việc Chính phủ & Bộ Quốc Phòng đưa Quân đội vào hỗ trợ TPHCM tăng cường cho Chỉ thị 16 KHÔNG đồng nghĩa với việc đưa TPHCM vào trạng thái Thiết Quân Luật.

Nói có sách mách có chứng, hãy dành vài phút để tìm hiểu cơ sở Pháp lý để ban bố tình trạng Thiết Quân Luật:

- Về thẩm quyền thì theo quy định tại Luật Quốc Phòng: để ban bố tình trạng Thiết Quân Luật cần căn cứ vào lệnh của Chủ tịch nước và quyết định của Thủ tướng chính phủ, khi đó Bộ trưởng BQP mới có đủ căn cứ để chỉ đạo các lực lượng vũ trang thi hành lệnh.

- Theo điều 21 của Luật Quốc Phòng thì Thiết quân luật là biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt do Quân đội thực hiện, áp đặt kiểm soát quân sự trực tiếp đối với các chức năng dân sự thông thường và/hoặc đình chỉ luật dân sự của chính phủ. 

Thiết quân luật (có thời hạn) nhằm mục đích đặt sự kiểm soát xã hội (tạm thời) trong tay Quân đội để khôi phục dần dần lực lượng hành pháp dân sự.

Điều này đồng nghĩa với việc lực lượng hành pháp dân sự - tức là chính quyền, công an...đã bị vô hiệu hóa, áp đảo và/hoặc không còn hoạt động được.

Chính quyền và các lực lượng hành pháp tại TPHCM vẫn ổn, vì vậy không cần có tình trạng Thiết Quân Luật.

VẬY SỰ THẬT LÀ GÌ?

Sau nhiều tháng ròng rã chống dịch và áp dụng các CT15, CT16, các lực lượng chống dịch tại chỗ của TPHCM đã có biểu hiện mệt mỏi & hao hụt nhân lực rất nhiều do phơi nhiễm, nguồn lực của người dân & doanh nghiệp đang dần cạn kiệt trong khi số F0 và tử vong vẫn tiếp tục tăng. 

Nếu tiếp tục tình trạng này sẽ khiến TPHCM kiệt quệ cả về nhân lực và vật lực, TPHCM ốm thì cả nước ốm theo.

Vì vậy, chính phủ quyết định mở kho dự trữ Quốc gia, giao cho quân đội hỗ trợ TPHCM, Quân đội với truyền thống kỷ luật cao và khác với Công an và các lực lượng chống dịch tại TPHCM - các chiến sĩ quân đội sinh hoạt tập trung tại doanh trại nên không vướng bận gia đình, cộng với nguồn lực quốc phòng mạnh mẽ sẽ hỗ trợ tăng cường chỉ thị giãn cách và cung cấp lương thực thực phẩm / nhu yếu phẩm cho người dân TPHCM.

Trong thời gian tới chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện của Quân đội và các phương tiện của Quân đội (chủ yếu là xe vận tải) xuất hiện nhiều trên đường phố, đó là Quân đội hỗ trợ chính quyền để lực lượng Công An TPHCM có thời gian tập trung vào việc đảm bảo an ninh an toàn và trật tự xã hội.

Đất nước chúng ta dù đang rất khó khăn trong đại dịch vẫn tuyệt đối yên bình, xin đừng chia sẻ những hình ảnh "đằng đằng sát khí" "xì khói chiến tranh" khiến cộng động quốc tế sẽ có cái nhìn không đúng, không ai muốn du lịch hay đầu tư vào đất nước đầy đường súng đạn hay xe thiết giáp cả!

Thiết Quân Luật là việc NGHIÊM TRỌNG, ảnh hưởng nặng nề đến hình ảnh của Đất nước chúng ta trên bình diện Quốc tế vì vậy đừng hồn nhiên tiếp tay cho bọn phản động muốn phá hoại hình ảnh đất nước.

ĐỪNG LÀM CHO ĐẤT NƯỚC KHÓ KHĂN HƠN

Không chỉ ngồi yên về mặt vật lý, hãy tìm hiểu và chọn lọc thông tin, đừng “loạn cào cào” lên nữa.

Hải Đăng ST


Việt Nam đã thành công và kiên quyết giữ vững độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

 

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính là lôgíc phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Qua hơn 75 năm giành, giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt 35 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng ta xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Tỏ rõ tính độc lập tự chủ trong đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; có quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đó là sự khẳng định về tính đúng đắn tuyệt đối của Đảng và Nhân dân ta lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.

Đã qua hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Thế giới đã chứng kiến bao cảnh đau thương của nhiều dân tộc ở châu Phi, ở Trung Đông, dù đã giành được độc lập nhưng đất nước bị hoang tàn bởi các xung đột chia rẽ nội bộ và sự can thiệp từ bên ngoài. Ngay một số nước dù có độc lập dân tộc nhưng việc tranh giành giữa các lực lượng chính trị trong nước làm cho tình hình luôn nóng bỏng, cuộc sống của nhân dân không được bình yên. Vậy nên, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hóa, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị lóa mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.

 

Đấu tranh với những quan điểm sai trái, hạ thấp uy tín lãnh đạo đảng, nhà nước hiện nay

 

Một trong những thủ đoạn chống phá Đảng và chế độ ta mà các thế lực thù địch triệt để sử dụng trong bối cảnh, tình hình mới là tung tin xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Vào những dịp như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; công tác bổ nhiệm, luân chuyển sau Đại hội; những khó khăn, phức tạp liên quan đến tình hình dịch bệnh COVID-19... là cơ hội để chúng ráo riết tìm mọi cách tấn công trực diện vào công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ cấp cao. Thông qua Internet và mạng xã hội, với những kịch bản được chuẩn bị khá kỹ, chúng đã tổ chức các “cấp độ” chiến dịch vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ có thể nói là khá bài bản. Thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Một là, không chỉ bằng những thông tin, hình ảnh cắt ghép, sai lệch, lẫn lộn thật-giả, chúng còn sử dụng những phát ngôn, bình luận của một số “chuyên gia” và “học giả” bất mãn để “lập luận” quy chụp, biến không thành có, có “ít suýt ra nhiều”, gây hoài nghi trong dư luận, tạo hiệu ứng tiêu cực trong tâm lý, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân và cán bộ thiếu bản lĩnh.

Hai là, chúng lợi dụng, kích động hoặc mua chuộc một số đối tượng bất mãn, bất hảo để tung đơn thư nặc danh, mạo danh trên các trang mạng xã hội; lan truyền những thông tin sai trái nhằm kích động chia rẽ nội bộ; bôi nhọ danh dự, nhân phẩm những cán bộ trong nguồn quy hoạch; xuyên tạc quan điểm, ý kiến chỉ đạo, định hướng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước những vấn đề quan trọng, nhạy cảm của đất nước và xã hội... Đồng thời tạo ra hàng loạt bình luận (comnent) tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn, hoài nghi trong dư luận, khiến không ít người bị rơi vào “trận đồ bát quái” - không hiểu đúng sai thế nào!

Ba là, chúng thêu dệt, bịa đặt về nguồn gốc xuất thân, gia đình cũng như bản thân cán bộ lãnh đạo cấp cao, trong đó hầu hết là những nội dung theo kiểu “thâm cung bí sử”, đen tốitiêu cực... để rồi quy chụp rằng mọi bí ẩn, khuất tất, xấu xa đều liên quan đến cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng lu loa rằng dân chủ ở Việt Nam chỉ là “chiếc bánh vẽ”, đồng thời để hạ thấp uy tín đại biểu Quốc hội, chúng rêu rao “tất cả những người mà được gọi là đại biểu quốc hội đều được lựa chọn quyết định từ trước, bầu cử chỉ là hình thức.

Bốn là, các thế lực phản động, thù địch luôn “nhấn mạnh” cái gọi là “nguyên nhân của những tiêu cực xuất phát từ công tác nhân sự. Chúng đưa ra các bài viết, phỏng vấn, trao đổi, bình luận với những luận điệu như: công tác nhân sự của Đảng, nhất là nhân sự cấp cao “là cuộc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng nội bộ”, “thủ tiêu đối phương”, “theo lợi ích nhóm”… công tác nhân sự trong Đảng chỉ là sự ngụy tạo, chỉ là hợp thức hóa, là dịp để hội hè, tốn kém tiền bạc của nhân dân, còn nhân sự đã được sắp đặt theo lợi ích nhóm!”. Cùng với đó, chúng cho rằng “cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhóm người đặc quyền đặc lợi”, “tự cho mình cái quyền được ban phát quyền lực, bổng lộc, chức tước, biến quyền lực của nhân dân thành quyền lực của mình”...

Vẫn là “mô-típ” cũ, những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ nói chung, lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói riêng trong tình hình hiện nay chỉ là “phần nổi của tảng băng”, nguy hiểm và sâu xa hơn - điều mà các thế lực thù địch, phản động nhắm đến chính là “tung hỏa mù” để gây nghi ngờ, hoang mang trong dư luận, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Bằng tri thức lý luận và từ thực tiễn đời sống chính trị, xã hội của đất nước, chúng ta hoàn toàn có cơ sở và luận cứ khoa học để đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch.

Thứ nhất, không phải chỉ ở Việt Nam, mà mỗi đảng chính trị, đảng cầm quyền ở bất kỳ quốc gia hay thể chế chính trị nào, đều phải bầu ra bộ máy lãnh đạo của mình và phải tiến hành công tác lựa chọn, bầu cử ra đội ngũ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu dưới hình thức dân chủ trực tiếp hoặc gián tiếp. Đó là công việc quan trọng và được tiến hành theo quy định, quy trình chặt chẽ.

Thứ hai, quán triệt những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh“cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”công tác nhân sự của Đảng ta luôn được tiến hành theo đúng quy địnhquy trình chặt chẽ, nghiêm túc, công tâm, khoa học, dựa trên các nguyên tắc xây dựng Đảng và sự đồng thuận của nhân dân.

Thứ ba, những cán bộ được giới thiệu, bầu vào các vị trí chủ chốt của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XIII nhìn chung đều được đào tạo bài bản, trải nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lýđặc biệt là được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm.

Thứ tư, Đảng ta luôn coi trọng và thực hiện thường xuyên việc bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên. Những cán bộ có biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc đều bị xử lý nghiêm khắc, thích đángNhững kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua đã thể hiện rõ tính quyết liệt, thường xuyên và không có vùng cấm” của Đảng. Đại hội XIII của Đảng xác định: “...phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Thứ tư, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh “phải nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật”. Theo đó, Cương lĩnh, Điều lệ, kỷ luật Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; sự tín nhiệm của nhân dân là những yếu tố quyết định đến chất lượng giám sát quyền lực, khắc phục những biểu hiện tha hóa, lộng quyền, củng cố và phát huy vai trò, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thứ năm, xét trên phương diện thực tiễn, phần lớn đội ngũ cán bộ đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo của ĐảngNhà nước luôn giữ vững tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; cống hiến trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết, đóng góp xứng đáng vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” của đất nước. Vì thế, không thể “lấy ví dụ” một số trường hợp suy thoái, sai phạm đã bị xử lý kỷ luật, truy tố để coi là “cái phổ biến” và “là bản chất” của đội ngũ lãnh đạo Đảng, Nhà nước - như những luận điệu sai trái mà các thế lực thù địch, phản động tung ra./.