Thứ Ba, 24 tháng 8, 2021

Chống dịch COVID-19, toàn quân vì nhân dân quên mình

Đó là yêu cầu của Đại tướng Lương Cường - Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, đối với cán bộ, chiến sĩ toàn quân, vào sáng 23/8.
Sáng 23/8, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức trực tuyến lễ phát động Phong trào thi đua đặc biệt “Quân đội cùng cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19”, tại 220 điểm cầu trong toàn quân.
Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Bộ Quốc phòng phát động phong trào thi đua đặc biệt này, Đại tướng Lương Cường nêu rõ: Từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện đến nay, cán bộ, chiến sĩ toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ trong cả nước đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh tại nhiều nơi có ổ dịch lớn, nhiều tâm dịch được kiểm soát, giúp Nhân dân trở lại cuộc sống bình thường.
Dự lễ phát động ở điểm cầu Bộ Quốc phòng có Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và nhiều tướng lĩnh cấp cao
Theo Đại tướng Lương Cường, toàn quân đã triển khai hơn 1.900 tổ, chốt chống dịch với trên 13 nghìn lượt người, kiểm soát chặt chẽ tuyến biên giới trên đất liền và trên biển, ngăn chặn xuất nhập cảnh trái phép. Quân đội cũng phối hợp với các địa phương tổ chức gần 5.000 tổ, chốt phòng dịch với sự tham gia của hơn 22 nghìn cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ tại các địa bàn có dịch.
Quân đội cũng đã triển khai 190 điểm cách ly phục vụ hơn 270 nghìn người; tổ chức 10 bệnh viện dã chiến truyền nhiễm, chuyển đổi công năng 1 bệnh viện đa khoa quân dân y thành bệnh viện điều trị COVID-19, thành lập 1 trung tâm điều trị bệnh nhân vừa và nặng với hàng ngàn bác sĩ, nhân viên quân y; đóng góp 510 tỷ đồng ủng hộ Quỹ vắc xin phòng chống COVID-19. Điều động hàng ngàn xe ô tô vận chuyển vắc xin đến các địa phương; khử khuẩn hàng ngàn khu vực, điểm có dịch.
“Nhiều đơn vị đã có cách làm sáng tạo, mô hình hay thể hiện sâu sắc tình cảm tốt đẹp Quân - Dân "cá - nước" như hiến máu tình nguyện, tổ chức các gian hàng 0 đồng, phối hợp giúp địa phương thu hoạch nông sản cho nông dân vùng có dịch…”, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Bộ Quốc phòng nói.
Nêu cao trách nhiệm, sẵn sàng đi đầu
Đại tướng Lương Cường cho biết, tiếp tục hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư… Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phát động phong trào thi đua đặc biệt này, trong đó xác định nhiều nhiệm vụ trọng tâm.
Lễ phát động được tổ chức tại 220 điểm cầu
Nổi bật là cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19.
Qua đó, làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn thấu triệt sâu sắc tinh thần "chống dịch như chống giặc", "càng khó khăn thì càng phải ra sức thi đua"…, nêu cao trách nhiệm vì dân, vì nước, ý thức tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng đi đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng và coi đó là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của Quân đội. Tuyệt đối chống biểu hiện chủ quan, thỏa mãn dừng lại hoặc bi quan trong công tác phòng, chống dịch.
“Toàn quân tập trung thi đua, thể hiện ý chí "quyết chiến, quyết thắng", trái tim nhiệt huyết, tấm lòng nhân ái, tận tâm, tận lực "vì Nhân dân quên mình", "vì Nhân dân phục vụ", “bộ đội chủ động đến với dân, chứ không chờ dân khó khăn phải tìm đến bộ đội”, tích cực đi dầu trong tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phòng chống dịch”, Đại tướng Lương Cường nhấn mạnh.
Quân đội cũng tiếp tục sâu sát bám nắm tình hình cơ sở và diễn biến của dịch, nhất là các địa bàn trọng điểm để kịp thời tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổ công tác đặc biệt của Chính phủ ở khu vực phía Nam, lãnh đạo, chỉ huy và Ban Chỉ đạo phòng chống dịch các cấp chỉ đạo hiệu quả công tác phòng, chống dịch.
Lực lượng quân đội cũng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương duy trì chặt chẽ hoạt động của các tổ, chốt trên tuyến biên giới, biển, kiên quyết ngăn chặn xâm nhập trái phép; tổ chức tốt các khu cách ly, các bệnh viện dã chiến tích cực tham gia chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm và tiêm phòng vắc xin cho nhân dân, điều trị bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nặng tại các bệnh viện trong và ngoài Quân đội...
Tăng cường các hoạt động phối hợp, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết khó khăn, chăm sóc người mắc bệnh, giúp thu hoạch nông sản, hoa màu, cung cấp hàng hóa thiết yếu phục vụ đời sống Nhân dân; chuẩn bị phương án phòng, chống dịch ở cấp độ cao hơn để kịp thời ứng phó, xử lý, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống
Theo Đại tướng Lương Cường, cùng với thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19, các đơn vị chủ động rà soát, chuẩn bị tốt kế hoạch, phương án, lực lượng, trang bị phương tiện để sẵn sàng đối phó với tình hình thiên tai, mưa bão, lũ lụt trong những tháng tới. Tiếp tục thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính, các hoạt động về công nghiệp quốc phòng, sản xuất kinh doanh, xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện "Mẫu mực, tiêu biểu"...

CÔNG ĐIỆN CỦA THỦ TƯỚNG VỀ TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG DỊCH TRÊN TOÀN QUỐC

 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký ban hành Công điện số 1102/CĐ-TTg ngày 23/8/2021 về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trên toàn quốc.

Công điện gửi Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Nội dung công điện như sau:

Trên thế giới và trong khu vực, dịch bệnh COVID-19 với biến chủng Delta hiện đang gia tăng nhanh chóng. Trong nước, dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp, có nơi rất nghiêm trọng, nhất là tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương phía nam. Thực tiễn thời gian qua cho thấy các biện pháp phòng, chống dịch theo chỉ đạo của Trung ương và thực hiện của các địa phương, đặc biệt là biện pháp giãn cách xã hội đã được áp dụng kịp thời, đúng đắn, đạt kết quả tích cực, dịch bệnh có chiều hướng giảm tại 13/23 địa phương thực hiện giãn cách xã hội. Tuy nhiên, dịch bệnh có thể bùng phát bất cứ khi nào, ở bất cứ đâu.

Đảng, Nhà nước ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao những nỗ lực của các lực lượng tuyến đầu, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là tinh thần đoàn kết, sự ủng hộ và tham gia của các tầng lớp Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp trong công tác phòng, chống dịch bệnh.

Để nhanh chóng ngăn chặn, đẩy lùi, kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của Nhân dân là trên hết, trước hết, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan liên quan tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện triệt để, nghiêm ngặt, quyết liệt, hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19; trong đó đặc biệt lưu ý một số nội dung sau đây:

I. TẬP TRUNG LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO VÀ ĐẨY MẠNH HUY ĐỘNG SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN

1. Kết hợp linh hoạt, hiệu quả giữa tập trung chỉ đạo và phân cấp thực hiện, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu về phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương. Lấy xã, phường, thị trấn là “pháo đài”, người dân là “chiến sĩ”, là trung tâm phục vụ, là chủ thể phòng, chống dịch. Sự tham gia, chấp hành, tuân thủ quy định của người dân đóng vai trò quyết định thành công trong phòng, chống dịch; đây là trách nhiệm, là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người dân để bảo vệ sức khỏe cho chính mình, gia đình mình và cộng đồng. Chiến thắng dịch bệnh là chiến thắng của Nhân dân.

Đối với các địa phương đang thực hiện giãn cách xã hội, yêu cầu thực hiện nghiêm Chỉ thị số 16/CT-TTg. Đối với địa phương thực hiện tăng cường giãn cách xã hội (như Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh: Bình Dương, Đồng Nai, Long An), ngoài thực hiện nghiêm các quy định của Chỉ thị số 16/CT-TTg, yêu cầu người dân không ra khỏi nhà, “ai ở đâu ở đó”, cách ly người với người, nhà với nhà, xã phường với xã phường… và phải bảo đảm các yêu cầu y tế, lương thực, thực phẩm, dịch vụ thiết yếu và trật tự an toàn xã hội cho Nhân dân ngay tại xã, phường, thị trấn.

2. Người đứng đầu cấp ủy phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả công tác phòng, chống dịch trên địa bàn. Bảo đảm lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, xuyên suốt, dứt khoát, quyết liệt, hiệu quả. Thành lập Trung tâm chỉ huy phòng, chống dịch các cấp do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân đứng đầu, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, ban hành quy chế hoạt động; phân công ứng trực 24/24 giờ để kịp thời tiếp nhận, xử lý, báo cáo theo thẩm quyền mọi vấn đề liên quan phòng, chống dịch trên địa bàn.

Phải ưu tiên cao nhất cho công tác phòng, chống dịch bệnh. Tuy nhiên, tùy tình hình, cần quan tâm chỉ đạo phát triển các mặt kinh tế - xã hội và các công việc quan trọng khác trên nguyên tắc bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng, chống dịch.

3. Huy động sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các đoàn thể xã hội, tổ chức tôn giáo, các tổ chức khác và cộng đồng doanh nghiệp trong công tác phòng, chống dịch, nhất là vận động, hướng dẫn, giải thích, thuyết phục và yêu cầu người dân chấp hành nghiêm việc tăng cường giãn cách xã hội và các biện pháp phòng, chống dịch.

4. Công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 là nhiệm vụ cấp bách trước mắt và lâu dài; không được tự mãn với kết quả phòng, chống dịch; tuyệt đối không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; phải luôn sẵn sàng cho mọi tình huống dịch bệnh có thể xảy ra.

5. Đại dịch COVID-19 diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, đặc biệt là sự xuất hiện của các biến thể mới, nguy hiểm; công tác phòng, chống đại dịch chưa có tiền lệ. Vì vậy, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cần nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất; phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể, bám sát thực tiễn, cầu thị, khiêm tốn, lắng nghe; khi thực hiện cần chủ động, linh hoạt, sáng tạo, không cầu toàn, không nóng vội, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời bổ sung, hoàn thiện phù hợp với tình hình, đạt hiệu quả cao nhất.

II. CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, nhất là ở một số xã, phường, thị trấn. Các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao khẩn trương khắc phục các hạn chế, yếu kém, tổ chức thực hiện quyết liệt hơn, nghiêm hơn, hiệu quả hơn các giải pháp:

1. Giãn cách xã hội là yếu tố quyết định để hạn chế tối đa lây nhiễm dịch bệnh; phải thực hiện nghiêm, thực chất, kịp thời việc cách ly nguồn lây nhiễm trong cộng đồng, không để “chặt ngoài lỏng trong”. Phải tranh thủ “thời gian vàng” giãn cách để kiểm soát dịch bệnh nhanh nhất có thể, không để dịch bệnh lây lan.

2. Thần tốc xét nghiệm trên diện rộng là then chốt để phát hiện sớm, cách ly nhanh, phân loại kịp thời và điều trị phù hợp, hiệu quả người nhiễm COVID-19 theo quy định của Bộ Y tế.

3. Điều trị giảm tử vong là ưu tiên hàng đầu. Các địa phương chuẩn bị đầy đủ về cơ sở thu dung, chăm sóc điều trị người bệnh và người nhiễm COVID-19, bảo đảm đủ ô xy y tế, thuốc, trang thiết bị, vật tư và nhân lực y tế cho các cơ sở này. Tại các xã, phường, thị trấn đang thực hiện tăng cường giãn cách xã hội phải khẩn trương thiết lập các trạm y tế lưu động để bảo đảm hỗ trợ y tế, điều trị người nhiễm COVID-19.

Tổ chức huy động, tập huấn và phân bổ nhân lực cần thiết cho các địa phương có số ca nhiễm lớn, nhiều bệnh nhân nặng. Huy động nguồn lực, nhân lực, cơ sở vật chất y tế của các bộ, ngành, doanh nghiệp, tư nhân cho công tác điều trị. Bảo đảm việc phân loại, điều phối, chuyển tuyến kịp thời để điều trị tất cả bệnh nhân, đặc biệt đối với bệnh nhân có diễn biến nặng.

4. Bảo đảm an sinh xã hội là trọng yếu. Tại các địa bàn thực hiện giãn cách xã hội, phải bảo đảm lương thực, thực phẩm, các dịch vụ thiết yếu cho người dân, nhất là người nghèo, người già, phụ nữ và trẻ em, nhóm người yếu thế, người dễ bị tổn thương; huy động mọi nguồn lực xã hội, phát huy tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, hoạt động thiện nguyện, không để bất cứ người dân nào thiếu ăn, thiếu mặc.

5. Vaccine, thuốc điều trị là chiến lược. Tiếp tục đẩy mạnh “ngoại giao vaccine” để có sớm nhất, nhiều nhất vaccine. Thúc đẩy mạnh mẽ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine trong nước. Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nhập khẩu vaccine nhưng phải bảo đảm vaccine thuộc danh mục Bộ Y tế cấp phép và rõ nguồn gốc xuất xứ. Bộ Y tế chịu trách nhiệm cấp phép nhập khẩu, kiểm định và tổ chức tiêm chủng.

Tổ chức tiêm chủng miễn phí, an toàn, kịp thời, hiệu quả, không phân biệt các loại vaccine; không tổ chức tiêm dịch vụ có thu tiền. Thông tin đến người dân tinh thần vaccine tốt nhất là vaccine được tiêm sớm nhất; khắc phục ngay tình trạng chờ đợi lựa chọn vaccine.

Bộ Y tế tập trung chỉ đạo việc nhập khẩu, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất trong nước thuốc điều trị COVID-19.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp Bộ Y tế đề xuất cấp có thẩm quyền tăng phụ cấp cho lực lượng làm công tác tiêm vắc xin.

6. Bảo đảm an dân, an ninh, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ quan trọng, nhất là tại các địa phương thực hiện giãn cách xã hội, tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ sở sản xuất khác... Tăng cường công tác phòng, chống dịch tại các cơ sở giam, giữ, cơ sở cai nghiện, bảo trợ xã hội. Bảo đảm an toàn, an ninh trên không gian mạng.

7. Các địa phương chịu trách nhiệm: (a) Chủ động bảo đảm nhân lực, cơ sở vật chất theo phương châm “4 tại chỗ” để thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Trung ương, nhất là tại các địa phương thực hiện tăng cường giãn cách xã hội; (b) Ưu tiên nguồn lực, tăng cường tiết kiệm chi thường xuyên, nhất là các khoản chi chưa cần thiết, các khoản chi sự nghiệp có tính chất đầu tư, sử dụng tiết kiệm quỹ dự phòng ngân sách, quỹ dự trữ tài chính để tập trung cho phòng, chống dịch; (c) Có phương án và sẵn sàng về nhân lực, trang thiết bị, vật tư y tế, phương tiện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để kịp thời hỗ trợ các địa phương khác khi có yêu cầu.

8. Tăng cường công tác truyền thông, bảo đảm thống nhất, kịp thời, chính xác.  Giao 01 đầu mối có thẩm quyền ở các cấp chủ động cung cấp thông tin thường xuyên cho người dân về tình hình và các biện pháp phòng, chống dịch. Chú ý lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, phản ánh của người dân; kịp thời hướng dẫn, cổ vũ, động viên để Nhân dân biết, hiểu, đồng cảm, tin tưởng và tự giác thực hiện giãn cách xã hội và các biện pháp phòng, chống dịch. Phát huy vai trò quan trọng của toàn bộ hệ thống truyền thông, nhất là mạng lưới thông tin cơ sở. Lan tỏa những mô hình tốt, điển hình tiên tiến, cách làm hiệu quả của tổ chức và cá nhân. Kiên quyết đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, xấu độc.

9. Bảo đảm vận tải, lưu thông hàng hóa kịp thời, thông suốt mọi lúc, mọi nơi. Các địa phương thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với tinh thần chỉ kiểm tra tại điểm đi, điểm đến và bảo đảm các quy định an toàn phòng, chống dịch; bãi bỏ ngay các quy định không phù hợp. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các bộ, ngành và các địa phương để xử lý linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận tải, lưu thông hàng hóa, nhất là hàng hóa thiết yếu phục vụ phòng, chống dịch, phục vụ đời sống nhân dân và nguyên vật liệu sản xuất, hàng hóa xuất nhập khẩu...

10. Duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh ở những nơi đủ điều kiện theo nguyên tắc “an toàn mới sản xuất, sản xuất phải an toàn”. Các bộ, ngành, địa phương lắng nghe phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, người dân và căn cứ tình hình thực tế, hướng dẫn, tổ chức sản xuất, kinh doanh an toàn. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp thiết thực, hiệu quả; kịp thời đánh giá, sơ kết, tổng kết các mô hình như: “3 tại chỗ”, “3 cùng”, “1 cung đường 2 điểm đến”, “doanh nghiệp xanh”… để rút kinh nghiệm, hoàn thiện và tổ chức thực hiện phù hợp với diễn biến tình hình. Lãnh đạo các cấp ở địa phương thường xuyên gặp gỡ, tiếp nhận, xử lý, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp tại địa phương. Tăng cường kiểm tra, giám sát bảo đảm an toàn phòng, chống dịch bệnh tại các doanh nghiệp.

11. Các Thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các cấp ở địa phương, các cơ quan, đơn vị có liên quan, nhất là người đứng đầu, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, chủ động chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về giãn cách xã hội, tăng cường giãn cách xã hội và các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định của Trung ương và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện này. 

Các bộ, ngành, địa phương hỗ trợ tối đa cho các địa phương trong phòng, chống dịch; kịp thời động viên, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công điện này, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề phát sinh./

Nguồn:Báo Chính phủ

 BỘ ĐỘI TIẾP TỤC MANG CÁ TƯƠI, RAU XANH ĐẾN TẬN NHÀ DÂN, THẬT SỰ CẢM ƠN SỰ VÀO CUỘC CỦA CÁC ANH


Hàng chục chiến sĩ Sư đoàn bộ binh 5 (Quân khu 7) cùng Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và UBND phường 25 (quận Bình Thạnh) chia các túi an sinh gồm: gạo, dầu ăn, nước tương, thịt hộp, sữa, rau củ phát cho gần 100 hộ dân. Bà Nguyễn Thị Trà My, Hội phụ nữ phường 25, quận Bình Thạnh cho biết, mỗi ngày dự kiến "đi chợ thay" cho 300 đến 400 hộ tại phường.
Hội sẽ gửi thực đơn đi chợ giúp dân gồm các gói cá thịt, rau củ, gạo, sữa, tã, giá từ 240.000 đến 270.000 đồng để người dân đăng ký thông qua tổ trưởng dân phố. Thức ăn nhận từ các siêu thị sẽ được đóng gói để bộ đội giao tận nhà trước 10h mỗi ngày.
Tại phường Hiệp Phú (TP Thủ Đức, TPHCM) có 13 chiến sĩ được tăng cường xuống hỗ trợ địa phương. Ông Nguyễn Lê Hiệp, Chủ tịch UBND phường Hiệp Phú cho biết, ngoài trực chốt, tuần tra trên địa bàn thì lực lượng này còn hỗ trợ lực lượng của địa phương trong việc chuyển nhu yếu phẩm, đi chợ giúp người dân.
Tại phường 1 (quận 6, TPHCM), bà Nguyễn Thị Nhàn, Bí thư Đảng ủy phường 1 cho biết, bắt đầu từ hôm nay (23-8), tổ công tác của phường sẽ đi từng khu phố để phát nhu yếu phẩm, túi thuốc nghĩa tình và đi chợ thay dân trong thời gian TPHCM tăng cường giãn cách xã hội. Hiện tại phường đang khẩn trương đi phát càng sớm càng tốt cho người dân để chia sẻ những khó khăn cũng như giúp người dân yên tâm ở nhà.
Bà Lâm Hoa Phụng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ phường 1, quận 6 cho biết, phường có 5 tổ đi chợ thay người dân. Người dân có nhu cầu mua hàng hóa sẽ liên lạc với các tổ trưởng tổ khu phố, sau đó lập danh sách gửi lên phường chốt đơn hàng. Mỗi ngày từ 8 giờ sáng sẽ đi chợ sau đó mang hàng hóa thiết yếu giao đến tận nhà cho người dân. Người dân có thể gửi lại tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Trưa 23.8, trung tá Huỳnh Văn Hừng, Chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự Q.7 (TP.HCM) cho biết, trong 2 ngày qua, ban chỉ huy quân sự Q.7 đã chia thành 3 đội, mang 1.600 phần quà vào tận các hẻm sâu, các dãy trọ trao tặng bà con của P.Tân Thuận Đông, Phú Mỹ và Phú Thuận. Mỗi phần quà gồm: 5 kg gạo, 1 kg cá tươi Phan Thiết, 1 kg rau xanh, 1 kg cải dúm, 10 gói mì, nửa ký khô mực (loại bằng 3 ngón tay), 2 lốc sữa, băng vệ sinh, khẩu trang.
Là người trực tiếp đi trao quà đến tận tay bà con, trung tá Huỳnh Văn Hừng chia sẻ: "Nhìn bà con phấn khởi, tôi cũng quên đi hết mệt nhọc của mình, quên đi nắng nôi, đêm hôm, mưa gió. Qua đó, tôi động viên cán bộ chiến sĩ phải tập trung làm nhiều hơn nữa cho bà con an tâm trong cuộc sống. Hôm trước tôi đi đến cảng A5 của P.Tân Thuận Đông, bà con ở trọ trong những căn phòng bí bách, không có cửa sổ nhìn xót lắm. Trong đó có cả những người dân tộc thiểu số, người dân rất mừng khi thấy quân đội đến trao đồ ăn tận nhà".

ĐỘI TUYỂN XE TĂNG VIỆT NAM BẮN HẠ 5/5 MỤC TIÊU NGÀY ĐẦU THI ĐẤU

 

Chiều 23/8 (giờ địa phương) tại thao trường Alabino ở ngoại ô thủ đô Moskva, LB Nga, Kíp xe số 1 Đội tuyển Xe tăng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã bước vào thi đấu vòng loại (vòng thi đấu đơn) ở bảng 1 (gồm 11 đội) cuộc đua Xe tăng hành tiến cùng các đội tuyển của Mông Cổ, Venezuela và Syria.

Theo phóng viên TTXVN tại Moskva, ba thành viên Kíp xe số 1 gồm có: Đại úy Vũ Bá Trọng, Trưởng xe; Trung úy Lê Quang Hiệp, Pháo thủ; Trung úy Đỗ Quốc Tuấn, Lái xe. Nhập cuộc tự tin trận đầu ra quân, kíp xe số 1 đã thi đấu đầy nỗ lực. Kết quả, Kíp xe số 1 hạ gục 5/5 mục tiêu, thời gian về đích là 24 phút 58 giây. Sau khi họp tổ trọng tài, thành tích các đội được xác định như sau: đội Mông Cổ hạ gục 5/5 mục tiêu, thời gian về đích là 23 phút 57 giây, tạm đứng thứ nhất nhóm thi đấu. Đội tuyển Việt Nam đứng thứ 2 với thành tích hạ gục 5/5 mục tiêu, thời gian về đích là 24 phút 58 giây. Vị trí thứ 3 và thứ 4 lần lượt thuộc về các đội tuyển Venezuela (31 phút 55 giây) và Syria (39 phút 35 giây).

Theo lịch thi đấu, trong các ngày 26 và 29/8, Kíp xe số 2 và số 3 Đội tuyển Xe tăng QĐND Việt Nam sẽ tiếp tục thi đấu vòng loại. Tổng kết quả thi đấu của 3 kíp xe sẽ được tính là thành tích chung của mỗi đội tuyển để làm căn cứ quyết định 8 đội mạnh nhất vào thi đấu vòng bán kết bảng 1 cuộc thi Xe tăng hành tiến.

TTXVN

WHO KÊU GỌI HOÃN MŨI TIÊM TĂNG CƯỜNG ĐỂ NHIỀU NGƯỜI ĐƯỢC TIÊM CHỦNG


     WHO kêu gọi các quốc gia giàu có không nên đặt mua thêm vaccine phòng COVID-19 để tiêm nhắc lại cho những người dân vốn đã được tiêm chủng đầy đủ, trong bối cảnh nhiều nước khác vẫn chưa có vaccine.

     Ngày 23/8, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus nhấn mạnh các nước cần trì hoãn tiêm mũi tăng cường vaccine phòng COVID-19 bởi cần ưu tiên nâng tỷ lệ tiêm chủng tại những quốc gia mới chỉ có 1% hoặc 2% dân số được hưởng quyền lợi này.

     Phát biểu tại cuộc họp báo chung với Ngoại trưởng Hungary Peter Szijjarto trong chuyến thăm tới Budapest, Tổng Giám đốc Adhanom Ghebreyesus nêu rõ trong trường hợp tỷ lệ tiêm chủng không được cải thiện trên toàn cầu, các nước sẽ đối mặt với nguy cơ xuất hiện nhiều biến thể mới có khả năng lây nhiễm mạnh hơn.

   Do vậy, những mũi tiêm tăng cường nên dành để hỗ trợ các quốc gia hiện chưa đủ vaccine để tiêm cho người dân ít nhất một liều hoặc tiêm mũi thứ hai. Ông cũng nhấn mạnh rằng hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về hiệu quả của mũi tiêm tăng cường

          Nguồn TTXVN

PHÁT HIỆN KHÁNG THỂ CHỐNG LẠI NHIỀU BIẾN CHỦNG NCOV

 

Các nhà nghiên cứu đã xác định một loại kháng thể có khả năng bảo vệ cao trước một loạt các biến chủng của SARS-CoV-2 chỉ với liều lượng thấp, theo Press Trust of India.

Phát hiện nói trên được đăng trên tạp chí Immunity. Loại kháng thể mới xác định được kỳ vọng có thể giúp phát triển các liệu pháp điều trị đối với các loại biến chủng của virus corona.

Nhóm tác giả của nghiên cứu nói trên cho biết kháng thể mới xác định gắn vào một phần của virus và đặc điểm này khá tương đồng giữa các biến thể. Điều này đồng nghĩa với việc hiện tượng virus kháng thuốc sẽ khó xảy ra hơn.

"Các kháng thể hiện tại có thể phát huy tác dụng trước một số biến chủng song không hiệu quả với nhiều loại khác", giáo sư Michael S Diamond thuộc Đại học Washington ở St Louis, Mỹ, thành viên nhóm nghiên cứu, nhận xét.

"Qua thời gian và không gian, chủng virus corona có thể tiếp tục phát triển và biến đổi. Việc kết hợp nhiều loại kháng thể phát huy hiệu quả một cách độc lập có thể giúp ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc", giáo sư Diamond nói.

SARS-CoV-2 sử dụng một loại gai protein để bám chặt và xâm nhập vào các tế bào trong đường hô hấp của cơ thể. Các kháng thể ngăn chặn protein đột biến gắn vào tế bào sẽ vô hiệu hóa virus.

Để tìm ra các kháng thể trung hòa hoạt động chống lại một loạt biến thể của virus corona, các nhà nghiên cứu đã tiêm chủng cho chuột bằng một phần quan trọng trong protein đột biến được gọi là vùng liên kết thụ thể (RBD).

Sau đó, họ chiết xuất các tế bào sản xuất kháng thể và thu được 43 kháng thể từ RBD. Nhóm nghiên cứu đã sàng lọc 43 kháng thể bằng cách đo mức độ hiệu quả trong việc ngăn chặn biến thể ban đầu của SARS-CoV-2, xuất hiện vào năm 2019.

9 trong số các kháng thể trung hòa mạnh nhất sau đó đã được thử nghiệm trên chuột để xem liệu chúng có thể bảo vệ động vật bị nhiễm virus ban đầu khỏi chứng viêm phổi cấp hay không. Theo các nhà nghiên cứu, nhiều kháng thể đã vượt qua cả hai thử nghiệm, với các mức độ hiệu quả khác nhau.

Theo: zing

NHÀ CHÍNH TRỊ VÌ DÂN


   Sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng có lần tâm sự: "Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó". Thật vậy, trọn đời phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc; ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, Đại tướng không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc trên chiến trường, ông còn là một nhà chính trị tiêu biểu – Nhà chính trị vì dân.

     Chiến lược hòa bình trong độc lập, tự do

   Năm 2004, nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp D.Ba-ri về chiến lược của Việt Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Chiến lược của chúng tôi là chiến lược hòa bình”. Cũng với câu hỏi tương tự khi trả lời Z.Brezinski, nguyên cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ trong một lần sang thăm Algeria, Đại tướng nói: Chiến lược của tôi là hòa bình, hòa bình trong độc lập tự do.

   Thật vậy, hòa bình trong độc lập tự do, đó là lý tưởng mà Đại tướng đã phấn đấu, hy sinh để giành về cho đất nước. Ngược dòng thời gian về những ngày đầu chuẩn bị Toàn quốc kháng chiến, tháng 3-1946, nhằm tránh cho đất nước phải bước vào một cuộc chiến ngoài ý muốn, theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ ta xuống Hải Phòng để gặp viên Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp Leclerc. Nội dung cuộc gặp được Đại tá Trần Trọng Trung viết trong cuốn Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh: Sau cái bắt tay và mấy câu nghi lễ xã giao, Leclerc nói: “Tôi yêu nước Pháp. Tôi muốn bất kỳ ở đâu danh dự của nước Pháp cũng được tôn trọng”.

   Đáp lại giọng điệu không lấy gì làm nhã nhặn đó của kẻ xâm lược, Võ Nguyên Giáp kiềm chế đáp: “Tôi là một người cộng sản chiến đấu cho độc lập của đất nước chúng tôi”.

   Để chuẩn bị cho một cuộc điều đình giữa Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chính phủ Pháp tại Fontainebleau vào đầu tháng 7-1946, cả hai phía nhất trí cử đoàn đại biểu gặp nhau tại Đà Lạt. Võ Nguyên Giáp được cử làm Phó trưởng đoàn Chính phủ Liên hiệp.

   Do nắm được vai trò của Võ Nguyên Giáp, nên một số thành viên Phái đoàn Pháp như Messmer, Bousquet và Salan rất để tâm “săn đón” ông. Salan đã từng quen biết Võ Nguyên Giáp qua những ngày đầu đàm phán ở Hà Nội. Tại hội nghị này, mỗi lần có bất đồng căng thẳng trong tranh luận, nhất là các vấn đề về quân sự, Salan thường đến gặp Võ Nguyên Giáp để dàn xếp, nhưng viên tướng Pháp thường vấp phải cái mà sau này trong hồi ký ông ta gọi là “những lập luận cứng rắn được che đậy bằng thái độ mềm mỏng lịch thiệp”.

   Trong một cuộc họp của Tiểu ban Chính trị bàn về vấn đề đình chiến ở miền Nam, Võ Nguyên Giáp đặt vấn đề: Lúc này tiếng súng vẫn nổ ở trong Nam. Phía Pháp các ngài nói rằng đó là dẹp giặc. Xin hỏi, nếu nói quân đội chúng tôi ở miền Nam là giặc thì quân, du kích Pháp chiến đấu chống phát-xít Đức trong Thế chiến II cũng là giặc hay sao? Tiếp đó, trong một phiên toàn thể tranh luận về vấn đề Nam Bộ, Võ Nguyên Giáp khẳng định: Người ta không thể dùng những cuộc hành binh càn quét để buộc quân và dân yêu nước ở miền Nam Việt Nam hạ vũ khí. Khi lên án âm mưu Pháp về vấn đề Liên bang Đông Dương, Võ Nguyên Giáp nghiêm nghị nói: Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố kết liễu thời đại của các vị toàn quyền. Nếu Nam Bộ bị cắt khỏi Việt Nam thì tất cả tinh thần và nghị lực của dân tộc chúng tôi sẽ hướng vào cuộc đấu tranh để kéo Nam Bộ trở lại khối Việt Nam thống nhất.

   Trong lúc không khí hội nghị rất căng thẳng, ngột ngạt, Võ Nguyên Giáp bỗng đứng phắt dậy dõng dạc tuyên bố: “Nếu các ông cố tình phá hoại cuộc thương thuyết để tiếp tục chiến tranh xâm lược thì chắc chắn Việt Nam sẽ trở thành mảnh đất buộc người Pháp các ông phải đền tội”. Nói xong ông cắp cặp bước ra khỏi phòng.

   Hội nghị trù bị Đà Lạt không đạt được thỏa thuận nào, nhưng ta đã thể hiện một lập trường cứng rắn, gạt bỏ những điều không phù hợp với quyền lợi và ý nguyện của dân tộc. Mặc dù vẫn bám vào lập trường thực dân, nhưng người Pháp đã nhận thấy ý chí độc lập tự do của dân tộc Việt Nam toát lên từ lời nói và thái độ của vị Phó trưởng đoàn Võ Nguyên Giáp. Chính viên trưởng đoàn đám phán cũng phải thừa nhận Võ Nguyên Giáp là “một nhà biện lý đáng gờm, một nhà thương thuyết đáng kính nể”.

   “Nhà biện lý đáng gờm” Võ Nguyên Giáp thay mặt Cụ Hồ đến hội nghị với mục đích sau cùng là tìm kiếm cơ hội hòa bình cho đất nước, tránh cuộc chiến tranh đổ máu, trong đó có cả nhân dân Pháp. Tiếc rằng, giới cầm quyền thực dân đã khước từ thiện chí đó.

     Người đặt viên gạch đầu tiên cho nền hành chính vì dân

   Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập. Võ Nguyên Giáp được giao đảm nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, với trọng trách tham mưu cho Chính phủ xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự trị an, theo dõi, điều hành công tác nội trị, ….Tuy thời gian làm bộ trưởng không lâu chỉ 06 tháng (từ ngày 28-8-1945 đến ngày 2-3-1946), nhưng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã có công lao to lớn cho nhiệm vụ này.

   Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ viết: “Trong khoảng thời gian ngắn này, Ông đã kịp tham mưu cho Chính phủ ban hành trên 100 sắc lệnh, trong đó có khoảng 30 sắc lệnh do chính Ông ký, có tính chất pháp quy hành chính trên nhiều ngành, lĩnh vực. Với khối lượng công việc đồ sộ trong khoảng thời gian ngắn mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đã làm khi đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp chính là người đã tham gia đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của người dân Việt Nam!”

   Ngày 2-9-1945, ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã có bài diễn văn quan trọng nêu lên tám vấn đề cấp bách của Chính phủ cách mạng lâm thời. Diễn văn nhấn mạnh: “... chỉ nay mai Chính phủ lâm thời sẽ ra sắc lệnh triệu tập Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ. Các đại biểu của Quốc hội đều do dân bầu theo lối phổ thông đầu phiếu. Quốc hội sẽ đem lại cho chúng ta một Hiến pháp và một Chính phủ chính thức”.

   Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của Tổng tuyển cử, được sự tin cậy, giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 14 ngày 8-9-1945, trong đó nêu rõ trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội. Theo đó, tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường…

   Sắc lệnh số 14 đã góp phần làm nên thành công của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta vào ngày 6-1-1946, đưa người dân thực sự trở thành chủ nhân của đất nước. Ngay sau đó, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I đã công nhận Chính phủ chính thức, qua đó mở đường cho việc xây dựng một nền hành chính dân chủ, vì dân - nền tảng để chăm lo cho cuộc sống ấm no về vật chất, đầy đủ về tinh thần, vì hạnh phúc của người dân Việt Nam.

   Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phụ trách việc thành lập Ban dự thảo Hiến pháp. Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự giúp đỡ của các chuyên gia giàu kinh nghiệm, Dự thảo Hiến pháp đã được trình lên Quốc hội khóa I thông qua. Trong tiến trình đó có công lao đóng góp to lớn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp.

     Lo cho dân những điều thiết yếu nhất

   Sau Cách mạng Tháng Tám, thấu hiểu vấn đề cấp bách và nhu cầu trên hết của người dân lúc bấy giờ là cơm ăn, áo mặc. Để chống “giặc đói”, thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 07 ngày 5-9-1945.

   Sắc lệnh này đã góp phần tháo gỡ kịp thời những khó khăn trong việc vận chuyển, buôn bán thóc gạo, chống lại nạn đầu cơ, tích trữ lương thực trong bối cảnh nạn đói đang hoành hành dữ dội khi đó. Cũng nhờ đó, việc buôn bán, chuyên chở thóc gạo ở Bắc Bộ hoàn toàn được tự do, Chính phủ cần thóc gạo dùng vào việc công sẽ mua thẳng của tư gia. Còn đối với những người có hành vi đầu cơ, tích trữ gạo mà làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thì sẽ bị nghiêm phạt theo luật và bị tịch thu gia sản.

   Việc Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp kịp thời ký ban hành Sắc lệnh số 07 cũng chính là việc làm thiết thực, kịp thời của Chính phủ, phản ánh sinh động một thực tế rằng, nền hành chính dân chủ non trẻ buổi đầu ấy đã luôn biết đặt lợi ích, nhu cầu của người dân Việt Nam lên trên hết, biết vì hạnh phúc của người dân bắt đầu từ những điều dung dị nhất là cơm ăn, áo mặc.

   Bên cạnh “giặc đói” là “giặc dốt”, phải giải quyết làm sao cho nhân dân được hưởng niềm hạnh phúc thực sự cả vật chất lẫn tinh thần, để làm được điều đó nhất thiết phải xóa nạn mù chữ. Ngay trong buổi họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ vào ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra sáu việc cấp bách, trong đó, việc chống nạn mù chữ xếp thứ hai, chỉ sau nạn đói. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ” (Hồ Chí Minh toàn tập).

   Thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành liền ba Sắc lệnh số 17, số 19 và số 20. Từ những sắc lệnh này, phong trào Bình dân học vụ diễn ra rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, nhân dân đi học không phải mất tiền, thoát khỏi cảnh không thể viết tên mình. 

   Chỉ trong một năm (từ tháng 8-1945 đến tháng 8-1946), phong trào Bình dân học vụ đã xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người, phát triển được gần 96.000 giáo viên, mở được gần 75.000 lớp học. Sau 5 năm (đến ngày 30-6-1950), gần 12,2 triệu người biết chữ. 10 tỉnh với 80 huyện, hơn 1.400 xã và 7.200 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ (Sách Việt Nam chống nạn thất học, NXB Giáo dục, 1980).

   Thành công của cuộc chiến chống “giặc dốt” đã đặt nền móng quan trọng cho việc cải thiện, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Đây cũng là một trong những tiêu chí rất quan trọng của nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, vì hạnh phúc của người dân mà chúng ta đang xây dựng hiện nay. Như Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch... Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”.

     Những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của bậc trưởng lão

   Nhớ lời Bác Hồ dạy rằng nước có độc lập mà dân không có tự do và cơm no áo thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho đến khi đã về với đời thường, bằng tâm huyết và trí tuệ của mình vẫn thường xuyên đề xuất với Đảng và Chính phủ vấn đề cần làm, cần tránh, sao cho chính phủ ta thực sự là chính phủ của dân, do dân, vì dân. Trong nỗi lo chung ấy, Đại tướng đặc biệt quan tâm tầng lớp nông dân nghèo, vốn chiếm 80% dân số.

   Ngay từ năm 1937, khi cùng với đồng chí Trường Chinh viết cuốn “Vấn đề dân cày”, ông đã đề cập thực trạng về cuộc sống của người dân cày dưới chính sách phản động của đế quốc phong kiến, vị trí của họ trong cách mạng Việt Nam. Đến khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, nhiều giải pháp được đặt ra trong “Vấn đề dân cày” đã được hiện thực hóa.

   Khi trao đổi với báo chí, Đại tướng từng cảnh báo về những bất cập trong tiến trình công nghiệp hóa ở nông thôn, những thiếu sót, cho rằng chúng ta “có lỗi với người nông dân”. Đại tướng vui vì những chuyện xưa cũ như: Hằng năm, nhà thợ cày phải ăn đói đến bảy, tám tháng đã lùi về dĩ vãng nhưng lại trăn trở vì đời sống vật chất, tinh thần của nông dân vẫn còn nhiều hạn chế, thiệt thòi. Ông nhắc lại nghịch lý khi kiểm tra ở thủy điện Hòa Bình: Người dân hy sinh cả nhà cửa, ruộng vườn vì dòng điện của Tổ quốc nhưng nhà máy xây xong, có chỗ sát thủy điện mà lại không… có điện.

   Một ví dụ khác nói lên sự thấu hiểu và trăn trở của Đại tướng về cuộc sống còn nhiều khó khăn vất vả của người nông dân, được ông Đinh Khắc Đính, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chia sẻ trong một bài viết, như sau: Năm 2000, ngành thuế dự thảo chính sách dự kiến đưa đối tượng nông dân sản xuất kinh doanh giỏi (những hộ có thu nhập cao hàng trăm triệu đồng/năm trở lên) vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước thường xuyên phải hứng chịu thiên tai, kinh doanh nông nghiệp của đại đa số nông dân, kể cả nông dân sản xuất giỏi vẫn phải chịu nhiều rủi ro, trong khi đó bảo hiểm nông nghiệp vẫn chưa được triển khai. Vì vậy Hội Nông dân Việt Nam đã lên tiếng kiến nghị ngành thuế chưa đưa nông dân vào diện đóng thuế thu nhập cá nhân để tạo điều kiện cho phong trào nông dân sản xuất giỏi phát triển mạnh hơn nữa. Biết được tin này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gọi điện, viết thư, đề nghị Đảng và Nhà nước chưa đánh thuế thu nhập đối với các hộ nông dân giỏi có thành công bước đầu. Sau đó, việc thu thuế thu nhập đối với các hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đã không trở thành chính sách. Đại tướng là người góp tiếng nói chung để có kết quả này.

   Năm 2000, tham gia cuộc Hội thảo về quá trình hình thành, phát triển và vai trò của Quốc hội, lấy tư cách là một người đã tham gia cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên, là đại biểu Quốc hội từ khóa I, Đại tướng phát biểu: “Chính phủ phải coi trọng dân sinh, lo cho dân mọi mặt, tôn trọng nhân tài. Phải nâng cao dân trí... Những người nào có tài đức phải được mời ra phục vụ đất nước…” 

   Hay như có lần Đại tướng đã viết: “Tôi nghĩ rằng phải làm đúng tư tưởng của Bác Hồ, là có dựa vào nhân dân mới chống được tham nhũng. Phải định ra cơ chế để phát huy vai trò giám sát, kiểm soát của cơ quan dân cử: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể quần chúng đối với công tác chống tham nhũng. Phải định ra cơ chế, để nhân dân phát hiện, tố giác những người tham nhũng, tạo mọi điều kiện để phát huy hết trách nhiệm của các cơ quan pháp luật, cơ quan kiểm tra, thanh tra của Đảng và Nhà nước. Hết sức tránh lối làm việc vừa đá bóng vừa thổi còi, vì tự mình kiểm tra mình thì khó lòng chống được tham nhũng”.

   Tất cả những suy nghĩ, trăn trở của Đại tướng xuất phát từ tấm lòng thiết tha với dân với nước, tin tưởng ở khả năng của Đảng và con đường đi lên của dân tộc. Đúng như cố Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã viết năm 2006, nhân mừng đại thọ tuổi 95 của Đại tướng: “Tuy là tuổi của lớp người trưởng lão, nhưng hàng ngày, Đại tướng vẫn rất chăm chú theo dõi tình hình đất nước và quốc tế. Những ý kiến đầy trách nhiệm và tâm huyết của Đại tướng gửi tới Đảng và nhà nước rất sâu sắc, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, trước kia đã vậy, nay cũng vậy”./.

TOÀN QUÂN CHUNG SỨC, ĐỒNG LÒNG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19


   Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các kết luận, nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, hưởng ứng Lời kêu gọi toàn dân đoàn kết phòng, chống đại dịch Covid-19 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thời gian qua, cùng với cả nước, cán bộ, chiến sĩ toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, không quản ngại gian khổ, hy sinh, vừa huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa là lực lượng nòng cốt, cùng các cấp, các ngành, các địa phương chủ động, xung kích trên tuyến đầu chống dịch, bảo vệ sức khỏe, tính mạng, tài sản nhân dân, góp phần ổn định tình hình để phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

   Toàn quân đã triển khai hơn 1.900 tổ, chốt phòng, chống dịch (PCD) với hơn 13.000 người tiến hành tuần tra, kiểm soát chặt chẽ tuyến biên giới trên đất liền cũng như trên biển; phối hợp với các địa phương tổ chức gần 5.000 tổ, chốt kiểm soát PCD với sự tham gia của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ; triển khai 190 điểm cách ly với hơn 270.000 người; thành lập hàng chục bệnh viện dã chiến truyền nhiễm điều trị bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2; đóng góp hơn 510 tỷ đồng ủng hộ Quỹ Vaccine phòng, chống Covid-19; các mô hình khu phong tỏa, phân loại cách ly, phân tầng điều trị do quân đội triển khai được phổ biến, nhân rộng trong cả nước; công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức được triển khai kịp thời đã động viên, cổ vũ toàn dân trong công tác PCD; phong trào hiến máu tình nguyện, “Phiên chợ nghĩa tình”, “Gian hàng 0 đồng”... do quân đội tổ chức thiết thực giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khăn do dịch Covid-19 gây ra.

   Trong cuộc chiến cam go với kẻ thù vô hình, những kết quả quan trọng đó thể hiện sự vào cuộc trách nhiệm của quân đội, công tác lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, nhất là tinh thần cống hiến, hy sinh thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân và DQTV cả nước. Biết bao cán bộ, chiến sĩ phải trải qua những ngày đêm “mưa rừng, cơm vắt” để bảo vệ biên cương, hải đảo, tận tình chăm sóc công dân trong các khu cách ly, phong tỏa. Biết bao người đã tình nguyện gác niềm riêng khi người thân mất không thể về chịu tang; cha mẹ, vợ con ốm đau không thể ở bên chăm lo, phụng dưỡng; chưa kịp nghỉ ngơi khi hoàn thành nhiệm vụ chống dịch tại địa bàn này đã lên đường vào nơi tâm dịch khác. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã bị phơi nhiễm với SARS-CoV-2... Thế nhưng không ai sờn lòng, nản chí, khi Đảng gọi, dân cần, họ lại sẵn sàng hướng về “tiền tuyến” làm điểm tựa cho nhân dân.

   Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, tác động và ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế-xã hội, tính mạng và sức khỏe nhân dân, đứng trước khó khăn, thách thức của nhiệm vụ PCD, hưởng ứng Phong trào thi đua đặc biệt “Quân đội cùng cả nước chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19” do Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phát động, toàn quân cần thấu triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”; tiếp tục tuyên truyền, lan tỏa đến mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội và DQTV Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và Phong trào thi đua đặc biệt “Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19” do Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương Phạm Minh Chính phát động, tiếp tục nêu cao trách nhiệm vì dân, vì nước, vượt lên gian khổ, hy sinh, xung kích đi đầu trong công tác PCD.

   Với truyền thống anh hùng, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, với trái tim nhiệt huyết, tấm lòng nhân ái, cán bộ, chiến sĩ toàn quân và DQTV cả nước cần ra sức thi đua, chung sức, đồng lòng, tận tâm, tận lực phục vụ, chăm sóc, cứu chữa, bảo vệ sức khỏe, tính mạng và tài sản của nhân dân, chủ động đến với nhân dân. Đồng thời nắm chắc tình hình dịch bệnh, sẵn sàng phương án, lực lượng đối phó với các cấp độ dịch, sáng tạo trong công tác, quyết liệt hành động, hoàn thành tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cấp ủy, chính quyền địa phương, ban chỉ đạo PCD các cấp thực hiện hiệu quả công tác PCD. Toàn quân phải chủ động, linh hoạt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với quân đội “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, xứng đáng với niềm tin tưởng, yêu mến của Đảng, Nhà nước, nhân dân dành cho quân đội./.

 Các quận huyện TP.HCM bắt đầu tiếp nhận lực lượng hỗ trợ từ quân đội

Từ trưa đến chiều 22-8, các quận huyện tại TP.HCM bắt đầu tiếp nhận lực lượng hỗ trợ từ quân đội về phân bổ cho các phường, chuẩn bị đợt tăng cường thực hiện chỉ thị 16 từ 0h ngày 23-8.
Trao đổi với phóng viên, thượng tá Lê Xuân Hưng - chính trị viên Ban chỉ huy quân sự quận Bình Thạnh - cho biết trong sáng 22-8 đã tiếp nhận lực lượng bổ sung từ quân đội. Sau khi tiếp nhận, UBND quận Bình Thạnh triển khai lực lượng về cho các phường để phối hợp với y tế. Lực lượng hiện tại của quận sẽ có nhiệm vụ tuần tra chốt chặn, chuyển các gói an sinh cho người dân gặp khó khăn và tuyên truyền phòng dịch.
Còn tại quận 5, ông Nguyễn Mạnh Cường - bí thư quận ủy - cho biết đã tiếp nhận 5 nhóm quân y để triển khai 5 trạm quân y cơ động. Mỗi trạm có 1 bác sĩ và 2 điều dưỡng để hỗ trợ y tế địa phương trong công tác y tế.
Ở quận 11, ông Trần Phi Long - chủ tịch UBND quận 11 - cho biết quận đã tiếp nhận 106 chiến sĩ về hỗ trợ quận trong công tác kiểm tra tại các chốt, vận chuyển hàng hóa lương thực, đi chợ giúp dân. Hiện tại quận đã tiếp nhận và triển khai về cho các phường để chuẩn bị cho đợt tăng cường chỉ thị 16 từ 0h ngày 23-8.
Thượng tá Nguyễn Trung Sơn - chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự quận Tân Bình - cho biết lực lượng tăng cường cho quận Tân Bình tổng cộng 75 bác sĩ, phân bổ cho 15 phường, mỗi phường 5 bác sĩ. Thượng tá Sơn cho biết quận cũng được chi viện 100 bộ đội để bố trí về các phường thực hiện nhiệm vụ.
Cũng trong ngày 22-8, 2.000 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 5, Quân khu 7 đã xuất quân hỗ trợ TP.HCM phòng chống dịch.

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2021

Lật tẩy “màn ảo thuật” cổ xúy thay đổi chế độ chính trị của những giọng điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị ở Việt Nam

Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch diễn ra trên tất cả các mặt của ý thức xã hội. Trong đó, chung quanh vấn đề nhận thức và giải quyết của Đảng ta về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam là một trong những tiêu điểm công kích, chống phá và xuyên tạc của kẻ thù. Vì vậy, nhận diện đúng để xác định trúng những luận cứ khoa học nhằm đấu tranh phê phán, bác bỏ những luận thuyết, âm mưu và hành động nói trên của các thế lực thù địch trở thành một trong những vấn đề trọng tâm của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay. Trong âm mưu và luận điệu xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, đã và đang có những “lý sự” xuyên tạc rằng: Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam chỉ mang tính chất nửa vời, chỉ có đổi mới kinh tế, không có đổi mới chính trị; những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam “không dám” thực hiện đổi mới chính trị, vì sợ bị mất “cây gậy quyền lực”, bị “thay máu” bản chất chế độ... Chúng còn rêu rao rằng, đổi mới chính trị ở Việt Nam “lệch pha”, không đồng bộ, không tương xứng so với đổi mới kinh tế; đổi mới ở Việt Nam chẳng qua là sự “học đòi”, “bắt chước” một cách khiên cưỡng công cuộc cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Trung Quốc, nên tất yếu sẽ đi đến “kết cục” đổ vỡ cả kinh tế lẫn chế độ chính trị mà thôi. Tinh vi và xảo quyệt hơn, có quan điểm còn vin vào nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “kinh tế quyết định chính trị” để trắng trợn tuyên bố rằng, về mặt kinh tế đã là kinh tế thị trường, kinh tế đa thành phần và nhiều hình thức sở hữu thì nhất thiết tương ứng với nó về mặt chính trị phải là chế độ đa nguyên, đa đảng. Chúng xuyên tạc rằng, ở Việt Nam thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần nhưng chính trị lại duy trì chế độ độc đảng, vẫn giữ nguyên bộ máy lãnh đạo “chuyên quyền” của Đảng Cộng sản, đó là sự pha trộn giữa “dầu với nước”, chắc chắn sẽ kém hiệu quả. Chúng còn lợi dụng một số yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý và điều hành đất nước, nhất là tình trạng tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,... để xuyên tạc rằng, không có đa nguyên sẽ không có đấu tranh và điều đó sẽ làm cho hệ thống chính trị không thể đổi mới, mưu toan đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi Chính phủ Việt Nam vận dụng các lý thuyết, trường phái kinh tế học tư sản mới giúp tránh được sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường, tức là tránh được sự can thiệp của chính trị vào kinh tế. Những luận điệu kể trên là một “tư duy thiển cận”, sự nhận thức mơ hồ, phiến diện, bộc lộ rõ những ý đồ chính trị hết sức thâm độc với mục đích cổ xúy, kích động cho sự hình thành các tổ chức chính trị phản động đối lập với Đảng, Nhà nước ta, tiến hành tạo phản, lật đổ, gây bất ổn định chính trị - xã hội ở Việt Nam... Những luận cứ phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh, nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị luôn là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến chiều hướng, nội dung, nhịp độ, hiệu quả và mức độ bền vững của sự phát triển đối với mỗi quốc gia, dân tộc, nhất là những quốc gia đang tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới; đồng thời, quyết định vận mệnh chính trị của các đảng phái và các thể chế chính trị đương thời. Đối với Việt Nam, từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới cho đến nay, chúng ta luôn coi trọng hàng đầu việc giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Trên thực tế, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại,... trong một tổng thể thống nhất. Tuy nhiên, bước đi của đổi mới là vấn đề vô cùng nhạy cảm và hệ trọng. Theo đó, quan điểm của Đảng ta là đổi mới toàn diện, nhưng đặt trọng tâm vào đâu, lĩnh vực nào đi trước, lĩnh vực nào đi sau,... để bảo đảm cho đổi mới vận hành đúng hướng, giành thắng lợi, đòi hỏi một tư duy lý luận sâu sắc và nghệ thuật lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Đứng vững trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đã cân nhắc cẩn trọng, lựa chọn và ưu tiên tập trung giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đặc biệt, xuyên suốt quá trình đó, Đảng ta luôn nhấn mạnh, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một “nội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay”(1). Xét trên tổng thể, “Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác”(2). Mặt khác, Đảng cũng nhấn mạnh: “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị,... là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho công cuộc đổi mới nói chung đi tới thắng lợi”(3). Đó còn là ban hành Hiến pháp mới (năm 1992 và năm 2013), hàng trăm đạo luật, pháp lệnh bảo đảm cho đổi mới kinh tế; đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước, cả về lập pháp, hành pháp và tư pháp; phát huy tốt hơn vai trò của nhân dân, thực hành dân chủ về chính trị, huy động nhân dân vào công tác quản lý nhà nước, giám sát và phản biện xã hội. Những đổi mới đó phải chăng không phải là đổi mới chính trị? Không có những đổi mới chính trị đồng bộ đó thì không thể có thành tựu đổi mới kinh tế như đã thấy. Song, đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, đúng như Đảng ta đã xác định rõ: “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị không phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó, mà là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân”(4). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (tháng 1-2015): Đổi mới chính trị không phải là làm thay đổi chế độ chính trị, thay đổi bản chất của Đảng ta, Nhà nước ta mà là đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy, kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức công tác, lề lối làm việc, cải cách hành chính, chống tệ quan liêu, lãng phí, tham nhũng gây phiền hà cho dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan trong hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Suy đến cùng, thực chất của đổi mới chính trị là đổi mới tư duy nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đổi mới cơ chế, chính sách mà hạt nhân cơ bản là giải quyết hợp lý, hài hòa quan hệ lợi ích; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh, thực hiện tốt nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó một lần nữa khẳng định, công cuộc đổi mới ở Việt Nam vừa có đổi mới kinh tế, vừa có đổi mới chính trị. Mặt khác, dựa trên cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa kinh tế và chính trị, chúng ta sẽ có đủ luận cứ, luận chứng để phản bác các mưu đồ thâm độc, tinh vi nói trên của các thế lực thù địch. Trong đó, lý luận mác-xít đã chỉ ra rằng, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kinh tế quyết định chính trị. Nhưng một điều hết sức quan trọng nữa cần nhắc lại là các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê-nin không bao giờ xem kinh tế là yếu tố duy nhất. Như Ph.Ăng-ghen nhấn mạnh: “Theo quan điểm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa”(5). Và sau này V. I. Lê-nin một lần nữa khẳng định “chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”, “chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế”. Điều đó có nghĩa, chính trị hoàn toàn không chỉ là gương phản chiếu đời sống kinh tế, mà là sự “biểu hiện tập trung” của kinh tế. Chính trị phản ánh mang tầm khái quát, làm bộc lộ cái bản chất nhất của đời sống kinh tế, cái cơ bản nhất, cái mang tính chi phối trong đời sống kinh tế. Chính loại yếu tố đó quy định nội dung căn bản nhất của chính trị thuộc chủ thể cầm quyền. Cho nên, không phải kinh tế có kết cấu đa dạng như thế nào thì chính trị cũng có sự đa dạng tương ứng như thế. Hơn nữa, “trong những nước thực hiện đa nguyên chính trị, hay đa đảng chính trị, kể cả các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại họ cũng không thể hiểu kinh tế có bao nhiêu thành phần thì chính trị có bấy nhiêu tổ chức chính trị khác nhau”(6). Hơn thế nữa, có những nước chỉ có một thành phần kinh tế hay một phương thức sản xuất nhưng lại có tới hai, thậm chí nhiều tổ chức chính trị khác nhau. Các tổ chức chính trị này đều thuộc cùng một giai cấp, nhưng họ lại luôn tranh giành quyền bính và chẳng khác nào như những lực lượng đối lập trong xã hội. Trong khi đó, thực tiễn lịch sử Việt Nam đã minh chứng, xét về mặt kinh tế, không hề có cơ sở để nảy sinh chế độ chính trị đa nguyên. Vì, trong các thành phần kinh tế ở nước ta, kinh tế tư bản (nhất là kinh tế tư bản tư nhân) chưa bao giờ giữ được vị trí thống trị. Chế độ phong kiến ở Việt Nam tồn tại hàng nghìn năm cũng không tạo ra được thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong lòng nó. Kinh tế tư bản chủ nghĩa kiểu thực dân ở nước ta được du nhập cùng với chế độ thuộc địa trước đây. Do đó, những nhà tư sản đầu tiên là tư sản Pháp, sau đó dần dần mới xuất hiện các nhà tư sản người Việt. Tuy nhiên, giai cấp tư sản này ngay khi mới hình thành đã bị tư sản Pháp chèn ép, cùng với đó là hoàn cảnh của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nên giai cấp tư sản Việt Nam bị phân hóa thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc. Trong đó, “tư sản mại bản gắn bó với đế quốc nước ngoài. Tư sản dân tộc chỉ phát triển rất hạn chế. Ngay cả những nhà tư sản yêu nước cũng không đủ sức lãnh đạo đất nước giành độc lập. Sứ mệnh này phải do giai cấp công nhân mà lực lượng tiên phong của nó là Đảng Cộng sản đảm nhận”(7). Qua 35 năm đổi mới, gắn với nền kinh tế nhiều thành phần, ở Việt Nam đã và đang định hình khu vực kinh tế tư nhân ngày càng lớn mạnh, được Đảng và Nhà nước tôn trọng, khuyến khích phát triển, đem lại nhiều kết quả ích nước, lợi nhà, nhưng phần lớn vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Đội ngũ doanh nhân ngày càng đông đảo, có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước. Nhưng cần thấy rằng, trong điều kiện có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì mối quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp (kể cả quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp tư nhân) không giống như trong chế độ do giai cấp bóc lột nắm chính quyền. Bằng hàng loạt các công cụ trong tay của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ hệ thống pháp luật, chính sách (quy hoạch, thuế, tín dụng, thương mại, đầu tư...), kinh tế nhà nước gắn với nguồn lực nhà nước (đất đai, đầu tư công, vốn trong doanh nghiệp nhà nước) đến các biện pháp hành chính, tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân,... bảo đảm phát huy mặt tích cực, giảm thiểu mặt tiêu cực của kinh tế tư nhân, giữ vững định hướng đóng vai trò quyết định bảo đảm cho sự thắng thế của yếu tố xã hội chủ nghĩa đối với yếu tố phi xã hội chủ nghĩa, trong đó có yếu tố tư bản chủ nghĩa, vốn vẫn tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh rất khó khăn, phức tạp. Mặt khác, cần khẳng định rằng, chúng ta thực hiện đổi mới nhưng kiên trì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực. Đổi mới để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn chứ không phải quay lại chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường tự do, nhà nước pháp quyền (tư sản) và đa nguyên chính trị là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Chúng ta không đi theo hướng đó vì nó không phù hợp và không đáp ứng nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta thực hiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Với những cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động, đầy thuyết phục nói trên, có thể nhất quán khẳng định, chúng ta thực hiện kinh tế đa thành phần nhưng vẫn bảo đảm nhất nguyên về chính trị, giữ vững vai trò và sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn hợp lý, đúng đắn. Đặc biệt, qua 35 năm đổi mới, “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(8). Thành tựu đó là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, nhiều nhân tố, nhưng giữ vai trò quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự sáng tạo và độc đáo của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhất định trong quá trình nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, song nếu chỉ dựa vào những khiếm khuyết (mặt thứ yếu, không cơ bản) của vấn đề này mà lại vội vàng quy chụp cho rằng, ở Việt Nam chỉ có đổi mới kinh tế, không có đổi mới chính trị; hoặc đổi mới chính trị “lệch pha” so với đổi mới kinh tế,... thì quả là một sự “ngụy biện” lố bịch; một sự xuyên tạc, bóp méo trắng trợn, thô thiển của các thế lực thù địch. Bởi vì, sự kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là nét độc đáo riêng có của Việt Nam, hoàn toàn khác với Liên Xô, với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây, và Trung Quốc hiện nay. Nếu như ở Liên Xô, ngay trong bước đầu của cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đi vào cải tổ chính trị vô nguyên tắc, nêu ra “dân chủ hóa”, “công khai hóa”, thúc đẩy vô chính phủ, làm xuất hiện các lực lượng đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tách Đảng khỏi Nhà nước, tách Nhà nước ra khỏi Đảng. Xét đến cùng, đây là sự vô hiệu hóa Đảng, nên đã dẫn đến tan vỡ Đảng, sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa và sự tan rã của Liên bang Xô-viết. Ở Việt Nam, ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới cũng như trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta xác định: “Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị”(9); “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị”(10); “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp”(11)... Điều đó có nghĩa, ở Việt Nam, đổi mới kinh tế không phải là đổi mới một cách tùy tiện, vô nguyên tắc mà theo một định hướng chính trị nhất định, một cơ sở khoa học đầy đủ. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị vừa là cơ sở của nhau, vừa là điều kiện để triển khai sâu rộng và vững chắc công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đối ngoại, quốc phòng - an ninh,... Đổi mới, phát triển kinh tế tạo ra môi trường và điều kiện để củng cố cơ sở kinh tế cho đổi mới chính trị, là nhân tố suy đến cùng quyết định sự ổn định chính trị - xã hội. Ngược lại, đổi mới chính trị tạo ra cơ sở chính trị - pháp lý cho sự phát triển kinh tế; đồng thời, tạo động lực và gia tăng sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế. Với những luận cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên chứng minh một cách rõ ràng rằng, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam luôn song hành, hỗ trợ, bổ sung cho nhau; làm cơ sở, tiền đề, điều kiện của nhau; giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng và thống nhất hữu cơ với nhau. Một số yêu cầu đặt ra về đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta trong thời gian tới Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận xung quanh mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta đã, đang diễn ra khó khăn, phức tạp. Trong những năm tới, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu, với những diễn biến khó khăn hơn, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài,... đan xen một cách phức tạp. Đặc biệt là sự gia tăng những âm mưu, thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt hơn của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Tình hình đó đặt ra những yêu cầu cơ bản, cấp thiết đối với cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta như sau: Một là, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của hệ thống chính trị đối với sự nguy hại của những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam. Vì sự nghiệp đổi mới càng được đẩy mạnh, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trở thành mối quan hệ lớn phải được nhận thức và xử lý đúng đắn hơn để tạo động lực trực tiếp cho sự phát triển đất nước. Như Đảng ta chỉ rõ: “Đổi mới càng đi vào chiều sâu, trên quy mô rộng lớn, việc nhận thức đúng và xử lý tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị càng trở nên quan trọng và bức thiết. Giai đoạn tới, cần đặt đúng vị trí vấn đề đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế phải đồng bộ, phù hợp, có bước đi thích hợp,... để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững”(12). Trong khi đó, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, đấu tranh phản bác những quan điểm xuyên tạc mối quan hệ này nói riêng là một hoạt động khó khăn, nhạy cảm, do đó, cần được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc của mọi tổ chức, lực lượng. Chỉ có trên cơ sở tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức mới làm cho các tổ chức, các lực lượng xã hội có thái độ đúng, ủng hộ, đồng thuận với Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, thao túng và phát huy đầy đủ trách nhiệm trong tham gia vào cuộc đấu tranh phản bác, từ đó mới bảo đảm cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có chất lượng và mang lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tránh không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác; nhưng không tuyệt đối hóa, chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Hai là, tiếp tục có những đột phá mới trong tư duy lý luận của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo đó, vấn đề đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam phải tích cực nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thường xuyên tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước; bám sát sự vận động, biến đổi của tình hình trong nước, quốc tế để từng bước nhận thức đầy đủ, sáng rõ. Tức là, những vấn đề trên đây đã, đang đòi hỏi ở Đảng ta một tư duy lý luận không chỉ mang tính sáng tạo, độc đáo mà còn có khả năng đột phá và mang lại hiệu quả cao hơn nữa trong việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đây không chỉ là phương thức hữu hiệu nhất để đấu tranh phê phán, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch chung quanh mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, mà còn trở thành tiền đề trực tiếp, cơ sở khoa học, kim chỉ nam dẫn dắt cho thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta nói riêng trong thời gian tới. Ba là, tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ và năng lực của lực lượng chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng. Tham gia vào cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, chứ không chỉ là công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Tuy nhiên, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời, nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh đòi hỏi phải xây dựng một lực lượng chuyên trách giữ vai trò nòng cốt, xung kích. Trong điều kiện hiện nay, cần tích cực bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ mọi mặt của lực lượng này. Bởi thực tiễn đã chứng minh, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào đều không thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái, các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam với một bản lĩnh chính trị non yếu và trên một nền tảng lý luận nghèo nàn; một hệ thống tri thức không đầy đủ, xa rời những vấn đề thực tiễn đang diễn ra... Do vậy, yêu cầu vừa có tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài là cần tiếp tục bồi dưỡng lực lượng chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách toàn diện, trước tiên phải đào luyện họ trở thành những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ tư duy lý luận cao, có phương pháp luận chiến nhạy bén, sắc sảo; thậm chí là những chuyên gia giỏi cả về lý luận lẫn chuyên môn, nghiệp vụ, những cây bút chiến sắc bén, am hiểu thời cuộc./.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, HẠ THẤP UY TÍN LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

Một trong những thủ đoạn chống phá Đảng và chế độ ta mà các thế lực thù địch triệt để sử dụng trong bối cảnh, tình hình mới là tung tin xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Vào những dịp như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; công tác bổ nhiệm, luân chuyển sau Đại hội; những khó khăn, phức tạp liên quan đến tình hình dịch bệnh COVID-19... là cơ hội để chúng ráo riết tìm mọi cách tấn công trực diện vào công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ cấp cao. Thông qua Internet và mạng xã hội, với những kịch bản được chuẩn bị khá kỹ, chúng đã tổ chức các “cấp độ” chiến dịch vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ có thể nói là khá bài bản. Thể hiện ở một số khía cạnh sau: Một là, không chỉ bằng những thông tin, hình ảnh cắt ghép, sai lệch, lẫn lộn thật-giả, chúng còn sử dụng những phát ngôn, bình luận của một số “chuyên gia” và “học giả” bất mãn để “lập luận” quy chụp, biến không thành có, có “ít suýt ra nhiều”, gây hoài nghi trong dư luận, tạo hiệu ứng tiêu cực trong tâm lý, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân và cán bộ thiếu bản lĩnh. Hai là, chúng lợi dụng, kích động hoặc mua chuộc một số đối tượng bất mãn, bất hảo để tung đơn thư nặc danh, mạo danh trên các trang mạng xã hội; lan truyền những thông tin sai trái nhằm kích động chia rẽ nội bộ; bôi nhọ danh dự, nhân phẩm những cán bộ trong nguồn quy hoạch; xuyên tạc quan điểm, ý kiến chỉ đạo, định hướng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước những vấn đề quan trọng, nhạy cảm của đất nước và xã hội... Đồng thời tạo ra hàng loạt bình luận (comnent) tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn, hoài nghi trong dư luận, khiến không ít người bị rơi vào “trận đồ bát quái” - không hiểu đúng sai thế nào! Ba là, chúng thêu dệt, bịa đặt về nguồn gốc xuất thân, gia đình cũng như bản thân cán bộ lãnh đạo cấp cao, trong đó hầu hết là những nội dung theo kiểu “thâm cung bí sử”, đen tối, tiêu cực... để rồi quy chụp rằng mọi bí ẩn, khuất tất, xấu xa đều liên quan đến cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng lu loa rằng dân chủ ở Việt Nam chỉ là “chiếc bánh vẽ”, đồng thời để hạ thấp uy tín đại biểu Quốc hội, chúng rêu rao “tất cả những người mà được gọi là đại biểu quốc hội đều được lựa chọn quyết định từ trước, bầu cử chỉ là hình thức”. Bốn là, các thế lực phản động, thù địch luôn “nhấn mạnh” cái gọi là “nguyên nhân của những tiêu cực” xuất phát từ công tác nhân sự. Chúng đưa ra các bài viết, phỏng vấn, trao đổi, bình luận với những luận điệu như: công tác nhân sự của Đảng, nhất là nhân sự cấp cao “là cuộc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng nội bộ”, “thủ tiêu đối phương”, “theo lợi ích nhóm”… công tác nhân sự trong Đảng chỉ là sự ngụy tạo, chỉ là hợp thức hóa, là dịp để hội hè, tốn kém tiền bạc của nhân dân, còn nhân sự đã được sắp đặt theo lợi ích nhóm!”(1). Cùng với đó, chúng cho rằng “cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhóm người đặc quyền đặc lợi”, “tự cho mình cái quyền được ban phát quyền lực, bổng lộc, chức tước, biến quyền lực của nhân dân thành quyền lực của mình”(2)... Vẫn là “mô-típ” cũ, những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ nói chung, lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói riêng trong tình hình hiện nay chỉ là “phần nổi của tảng băng”, nguy hiểm và sâu xa hơn - điều mà các thế lực thù địch, phản động nhắm đến chính là “tung hỏa mù” để gây nghi ngờ, hoang mang trong dư luận, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Bằng tri thức lý luận và từ thực tiễn đời sống chính trị, xã hội của đất nước, chúng ta hoàn toàn có cơ sở và luận cứ khoa học để đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch. Thứ nhất, không phải chỉ ở Việt Nam, mà mỗi đảng chính trị, đảng cầm quyền ở bất kỳ quốc gia hay thể chế chính trị nào, đều phải bầu ra bộ máy lãnh đạo của mình và phải tiến hành công tác lựa chọn, bầu cử ra đội ngũ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu dưới hình thức dân chủ trực tiếp hoặc gián tiếp. Đó là công việc quan trọng và được tiến hành theo quy định, quy trình chặt chẽ. Thứ hai, quán triệt những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, công tác nhân sự của Đảng ta luôn được tiến hành theo đúng quy định, quy trình chặt chẽ, nghiêm túc, công tâm, khoa học, dựa trên các nguyên tắc xây dựng Đảng và sự đồng thuận của nhân dân. Thứ ba, những cán bộ được giới thiệu, bầu vào các vị trí chủ chốt của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XIII nhìn chung đều được đào tạo bài bản, trải nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm. Thứ tư, Đảng ta luôn coi trọng và thực hiện thường xuyên việc bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên. Những cán bộ có biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc đều bị xử lý nghiêm khắc, thích đáng. Những kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua đã thể hiện rõ tính quyết liệt, thường xuyên và “không có vùng cấm” của Đảng. Đại hội XIII của Đảng xác định: “...phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(3). Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thứ tư, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh “phải nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật”. Theo đó, Cương lĩnh, Điều lệ, kỷ luật Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; sự tín nhiệm của nhân dân là những yếu tố quyết định đến chất lượng giám sát quyền lực, khắc phục những biểu hiện tha hóa, lộng quyền, củng cố và phát huy vai trò, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Thứ năm, xét trên phương diện thực tiễn, phần lớn đội ngũ cán bộ đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước luôn giữ vững tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; cống hiến trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết, đóng góp xứng đáng vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” của đất nước. Vì thế, không thể “lấy ví dụ” một số trường hợp suy thoái, sai phạm đã bị xử lý kỷ luật, truy tố để coi là “cái phổ biến” và “là bản chất” của đội ngũ lãnh đạo Đảng, Nhà nước - như những luận điệu sai trái mà các thế lực thù địch, phản động tung ra./.