Thứ Ba, 24 tháng 8, 2021

Đại sứ Hùng Ba khẳng định Trung Quốc mong muốn cùng Việt Nam kiểm soát tốt bất đồng, xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển

 

Đại sứ Hùng Ba khẳng định Trung Quốc mong muốn cùng Việt Nam kiểm soát tốt bất đồng, xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển

Ngày 24/8, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hùng Ba.

Trong không khí cởi mở và hiểu biết lẫn nhau, Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc; tin tưởng Đảng Cộng sản Trung Quốc với vai trò hạt nhân của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình sẽ lãnh đạo nhân dân Trung Quốc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đã đề ra.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định, Việt Nam coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, coi đây là sự lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; công cuộc Đổi mới của Việt Nam và sự nghiệp Cải cách mở cửa của Trung Quốc đều đang ở giai đoạn then chốt, việc củng cố và phát triển quan hệ Việt - Trung ổn định, lành mạnh có ý nghĩa quan trọng đối với thành công của mỗi nước và đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Thủ tướng khẳng định, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, tích cực chủ động hội nhập quốc tế và là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; Việt Nam không liên minh liên kết với nước này để chống lại nước khác.

Thời gian tới, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn hai bên tăng cường tin cậy chính trị giữa hai Đảng, hai nước; đẩy mạnh giao lưu, tiếp xúc cấp cao và các cấp; đẩy mạnh hợp tác toàn diện qua kênh Đảng, Nhà nước, quốc phòng, an ninh, nhân dân và giữa các địa phương; phát huy tốt cơ chế Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc. Trong bối cảnh hiện nay, hai bên cần ưu tiên hợp tác phòng chống dịch COVID-19. Thủ tướng nhấn mạnh, cần có cách tiếp cận toàn cầu và bình đẳng về vaccine, chung tay đoàn kết đẩy lùi dịch bệnh, khẳng định vaccine tốt nhất là vaccine được tiêm sớm nhất. Thủ tướng cảm ơn Chính phủ Trung Quốc viện trợ thêm cho Việt Nam 2 triệu liều vaccine, khẳng định đây là sự hỗ trợ quý báu và kịp thời, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn; đồng thời, mong muốn Trung Quốc tiếp tục hỗ trợ thêm vaccine, chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine và thuốc điều trị COVID-19, trao đổi chuyên gia y tế, chia sẻ phác đồ điều trị, kinh nghiệm phòng chống dịch bệnh.

Về hợp tác kinh tế, Thủ tướng đề nghị hai bên nỗ lực giải quyết vấn đề nhập siêu của Việt Nam, đưa cán cân thương mại cân bằng, lành mạnh hơn; mong muốn Trung Quốc tạo thuận lợi về thông quan hàng hóa, không để gián đoạn chuỗi cung ứng, tăng cường nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vào thị trường Trung Quốc, nhất là các mặt hàng nông, lâm, thủy hải sản, các loại hoa quả mùa vụ; phối hợp thúc đẩy tháo gỡ vướng mắc của một số dự án, trong đó có tuyến đường sắt Cát Linh - Hà Đông.

Về vấn đề trên biển, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh hai bên cần nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định, xử lý ổn thỏa bất đồng trên biển theo tinh thần nhận thức chung cấp cao, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển và tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, nỗ lực cùng ASEAN thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), thúc đẩy đàm phán xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất.

Bày tỏ nhất trí với đánh giá của Thủ tướng Phạm Minh Chính về quan hệ hai Đảng, hai nước, Đại sứ Hùng Ba khẳng định Đảng và Chính phủ Trung Quốc coi trọng quan hệ với Việt Nam, sẵn sàng tăng cường tin cậy chính trị trước hết thông qua tiếp xúc cấp cao; bày tỏ sau đợt viện trợ 2 triệu liều vaccine ngừa COVID-19 lần này, Trung Quốc sẵn sàng xem xét tiếp tục hỗ trợ vaccine cho Việt Nam.

Về kinh tế - thương mại, Đại sứ Hùng Ba nhấn mạnh, Trung Quốc không theo đuổi xuất siêu với Việt Nam, sẵn sàng phối hợp xử lý các vướng mắc trong xuất nhập khẩu, xem xét mở cửa thị trường đối với hàng hóa chất lượng cao của Việt Nam; sớm hoàn tất một số dự án hợp tác trọng điểm trong đó có tuyến đường sắt Cát Linh - Hà Đông.

Đại sứ Hùng Ba khẳng định Trung Quốc mong muốn cùng Việt Nam kiểm soát tốt bất đồng, xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển theo nhận thức chung cấp cao./.

 

Tổng Bí thư: Phải dự liệu sau TPHCM, dịch Covid-19 "êm" hơn hay không!

 

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước thống nhất phân công Thủ tướng làm Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia chống dịch Covid-19 và giao nhiều nhiệm vụ cho Ban chỉ đạo…

Chiều 24/8, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Minh Hưng thông báo về kết luận của lãnh đạo chủ chốt đối với việc triển khai các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19. 

Trong ngày, các lãnh đạo chủ chốt, gồm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng và đại diện các ban, bộ, ngành đã họp để nghe Ban cán sự đảng Chính phủ báo cáo về tình hình dịch bệnh và công tác triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 tại TPHCM và các tỉnh phía Nam.

Thủ tướng làm Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia chống dịch

Phát biểu kết luận cuộc làm việc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, công tác phòng, chống dịch thời gian qua đã đạt được một số kết quả bước đầu đáng ghi nhận, nhưng tình hình cho thấy còn một số vấn đề cần lưu ý, rút kinh nghiệm trong chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện ở các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương; có lúc, có việc chưa cụ thể, nhất quán, còn lúng túng, một số địa phương còn chủ quan, công tác tuyên truyền chưa kịp thời, hiệu quả.

Tổng Bí thư nhấn mạnh dự báo thời gian tới, diễn biến dịch bệnh còn phức tạp, có khả năng kéo dài, nhất là tại TPHCM và các tỉnh phía Nam, gây nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch và các hoạt động kinh tế - xã hội; tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống của nhân dân. Trước tình hình đó, các lãnh đạo chủ chốt Đảng, Nhà nước thống nhất phân công Thủ tướng Phạm Minh Chính làm Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch. Thủ tướng trực tiếp chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất từ Trung ương xuống địa phương, đáp ứng yêu cầu huy động nhanh nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực, biện pháp để sớm ngăn chặn, kiểm soát dịch bệnh trên phạm vi cả nước.

Tổng Bí thư chia sẻ: "Đối phó với dịch bệnh rất khó khăn, cả thế giới như vậy. Các cấp lãnh đạo đều đã vất vả lắm, tôi biết Chính phủ nhiều hôm họp đến 12h30 đêm".

Ông nêu vấn đề, tới đây phải dự báo được tình hình dịch bệnh diễn biến ra sao, khả năng các biến thể mới phát sinh hay dự liệu sau TPHCM "dịch liệu đã êm chưa". Tổng Bí thư quán triệt, phải lường đến những khả năng xấu nhất để có phương án, kịch bản phù hợp.

"Ban chỉ đạo quốc gia phải làm việc này, phải có kế hoạch bài bản, chặt chẽ, thực hiện đúng vai, thuộc bài" - Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Chống dịch phải có kế hoạch bài bản, thực hiện đúng vai, thuộc bài

Tổng Bí thư yêu cầu các Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống dịch, khẩn trương triển khai đánh giá tổng thể việc thực hiện chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch trong thời gian qua, phát huy những kết quả đạt được, phân tích thẳng thắn, rút kinh nghiệm sâu sắc những mặt chưa làm được, dự báo đúng tình hình, trên cơ sở kinh nghiệm trong nước, quốc tế, ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học để thống nhất giải pháp chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương.

Tổng Bí thư nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động chỉ đạo tập trung, quyết liệt, đến từng quận/huyện, phường/xã. Lãnh đạo cao nhất của Đảng chỉ rõ, chủ trương chống dịch phải thông suốt trong cả hệ thống vì "một người, một cơ quan không làm được".

Các địa phương phải hoàn thiện các phương án, kịch bản phòng, chống dịch phù hợp với tình hình mới, ngăn chặn không để dịch lan rộng, nhất là những khu vực trọng yếu như Thủ đô Hà Nội, các khu đô thị lớn tập trung đông dân cư, khu công nghiệp...

Tổng Bí thư lưu ý, tập trung nguồn lực chăm lo sức khỏe, bảo vệ tính mạng cho nhân dân, ưu tiên cho công tác khám, chữa bệnh, nhất là các bệnh nhân nặng, hạn chế thấp nhất lây nhiễm chéo, giảm thiểu số ca tử vong, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho an sinh xã hội, bảo đảm cung ứng kịp thời nhu yếu phẩm, lương thực thiết yếu và các hỗ trợ cần thiết cho người dân khi thực hiện cách ly, giãn cách, bảo đảm thực hiện nghiêm giãn cách xã hội. Tổ chức tốt việc bảo quản, mai táng các trường hợp tử vong phù hợp với phong tục tập quán.

Lưu ý khác của người lãnh đạo đứng đầu Đảng là khẩn trương tập trung triển khai chiến lược vắc xin, đặc biệt là việc cung ứng, tổ chức tiêm vắc xin tại các địa phương, nhất là các địa bàn trọng điểm đang có dịch bùng phát mạnh, như TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An..., sớm thực hiện tiêm vắc xin diện rộng để giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu tiếp tục kêu gọi tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, huy động cả hệ thống chính trị cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia tích cực vào công tác phòng, chống dịch; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền vận động, hướng dẫn người dân chấp hành nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch.

Sau cùng, các lãnh đạo thống nhất chủ trương đối với các kiến nghị của Chính phủ về các giải pháp huy động lực lượng, bổ sung nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch, Ban cán sự đảng Chính phủ phối hợp chặt chẽ với Đảng đoàn Quốc hội triển khai các bước để khẩn trương cụ thể hóa, bố trí ngay nguồn nhân lực, vật lực cần thiết cho các cấp, ngành, địa phương; đồng thời tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, bảo đảm việc thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Phương Thảo

Mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần tích cực đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên không gian mạng hiện nay

 

Hiện nay, trên mạng xã hội đã và đang xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm xuyên tạc, bóp méo sự thật đủ Điều 65, Hiến pháp năm 2013: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng, Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”, cũng như các vụ việc xảy ra trong quân đội gần đây. Theo chúng, quân đội chỉ cần làm tốt nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là đủ, còn việc đấu tranh trên không gian mạng đã có lực lượng khác đảm nhiệm, không phải chức năng của quân đội. Vì vậy, quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng là lấn sân, lạm quyền, sai chức năng nhiệm vụ, đụng chạm đến chức năng của các bộ, ngành khác. Hay ấu trĩ hơn, chúng còn cho rằng quân đội làm gì có đủ lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất mà đòi tham gia đấu tranh trên mạng xã hội. Tất cả luận điệu này là hết sức phi lý, trơ trẽn, xuyên tạc, hòng phủ nhận vai trò tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam. Hoặc sự việc xảy ra  tai Trường quân sự quân khu 1, trong khi chưa có két luận rõ ràng, chúnglợi dụng vào đó để bóp méo sự thật về quân đội . Do đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải nang cao nhận thức, kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái đó, không để cho chúng lợi dụng không gian mạng để bôi nhọ quân đội ta. Vì vậy, Quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng,  làm sạch môi trường Internet ở Việt Nam là hết sức cần thiết, phù hợp Hiến pháp, pháp luật Việt Nam . Việc đấu tranh trên không gian mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, từng bước làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động../

QUÂN ĐỘI TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY

                 Hiện nay đấu tranh tư tưởng, lý luận là một vấn đề có tính quy luật của cách mạng nước ta. Nhận thức đúng vai trò của đấu tranh tư tưởng, lý luận trong những năm đất nước đổi mới, Đảng ta đã tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo mặt trận đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái thù địch. Nhờ đó nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, góp phần quan trọng vào việc đổi mới tư duy lý luận, định hướng tư tưởng, nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận của quân đội đã có bước trưởng thành, đạt được những thành tựu to lớn. Quân đội đã nhận thức sâu sắc nghị Quyết số 35 của TW về  tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới. Nâng cao cảnh giác cách mạng; định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức, củng cố lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đề xuất với Đảng những chủ trương biện pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái thù địch, nhất là trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng vững chắc trận địa tư tưởng trong quân đội, bảo đảm quân đội luôn kiên định, vững mạnh về chính trị trong mọi tình huống.

Tuy nhiên, với âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là "mũi đột phá" hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những "khoảng trống" để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, nhân dân nhằm chuyển hoá, xoá bỏ tư tưởng XHCN. Vì vậy, trong thời gian tới cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở Việt Nam diễn ra ngày càng quyết liệt, vẫn là mặt trận nóng bỏng hàng đầu.

Do đó. quân đội không chỉ giỏi tác chiến trên mặt trận đấu tranh vũ trang mà còn phải giỏi tác chiến trên mặt trận chính trị - tư tưởng, đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Quân đội không những phải xây dựng vững chắc trận địa tư tưởng, chống mưu đồ "phi chính trị hoá" quân đội, mà còn phải góp phần đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao cảnh giác, giữ vững bản lĩnh chính trị trước những âm mưu thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay./.

Quân đội ngày càng phát huy tốt tinh thần trên mặt trận chống COVID - 19

            Hiện nay, dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, Quốc phòng, an ninh và sức khỏe của nhân dân,. Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội  luôn luôn giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong phòng, chống dịch COVID-19. Y thức sâu sắc về sự cần thiết, tự hào và luôn tự giác làm chủ bản thân, tự giác tu dưỡng rèn luyện trong phòng, chống dịch COVID-19 trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Thực biến quá trình bồi dưỡng, rèn luyện thành quá trình tự bồi dưỡng, rèn luyện tu dưỡng, có ý chí phấn đấu vươn lên, luôn nghiêm khắc và yêu cầu cao với chính mình, luôn biết đặt cho mình những mục tiêu rèn luyện, tu dưỡng. Xây dựng niềm tin vào khả năng của bản thân, tinh thần lạc quan, không ngại khó khăn, gian khổ trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19.

          Đặc biệt, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần tích cực, chủ động tự đối chiếu, tự đánh giá kết quả rèn luyện, tu dưỡng của bản thân so với yêu cầu đặt ra để liên tục phấn đấu thực hiện. Các tổ chức, các lực lượng cần kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện lười học tập, rèn luyện, phấn đấu cầm chừng, thỏa mãn, dừng lại; động viên, phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với mọi suy nghĩ, hành động, việc làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh  “Bộ đội Cụ Hồ” trong phòng, chống dịch COVID-19, hình ảnh người quân nhân cách mạng trong tình hình mới. Đồng thời không ngừng tuyên truyền, vận dộng quần chúng nhân dân chấp hành nghiêm chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phòng chống Covid, làm tốt 5K trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi./.

Vạch trần các luận điệu thù địch, bảo vệ những giá trị cốt lõi về quyền con người ở Việt Nam

Bài 2: Bảo vệ và phát huy những giá trị, thành tựu về quyền con người ở Việt Nam (Tiếp theo và hết)

Trước các luận điệu xuyên tạc, phương thức, thủ đoạn, mục tiêu chống phá, vu cáo về nhân quyền ở Việt Nam, chúng ta cần xem xét, đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện âm mưu, thủ đoạn và xác định rõ bản chất của các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Những mâu thuẫn nội tại trong chính các luận điệu xuyên tạc, chống phá

Khi tiếp cận những thông tin, cần vạch rõ tính hạn chế và mâu thuẫn của các luận điệu xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, đến nay, các luận điệu xuyên tạc ở trong nước thường nhại lại những luận điệu của một số tổ chức phi chính phủ quốc tế và chính quyền ở một số nước phương Tây. Các luận điệu đó, như trong bản “Phúc trình toàn cầu 2021” của Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), có hạn chế lớn là dựa trên những thông tin được thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén rời rạc, độ nghiên cứu lại không sâu nên thường phiến diện. Tính vô lý và mâu thuẫn của các luận điệu này xuất phát từ ý thức hệ chính trị phương Tây, “coi nhân quyền cao hơn chủ quyền” và lại bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự nước ngoài không thiện chí với Việt Nam và theo cơ chế thị trường, nên dễ hiểu là chúng thường sai sự thật, thiên vị, mang màu sắc chính trị thực dụng, vụ lợi, nhiều khi có tính chống đối công khai, trắng trợn, quyết liệt.

Từ phương diện lý luận, thực tiễn và khoa học cho thấy các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc như trên đều không phản ánh đúng thực tế khách quan về những thành tựu to lớn trong bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam.

Việt Nam thực thi nhiều chính sách để bảo đảm quyền con người trong thực tiễn

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người (1). Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, Việt Nam cam kết thực hiện và coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước.

Cùng với việc tích cực tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó tích cực nội luật hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người; bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Hiến pháp năm 2013 cùng với các luật, bộ luật được ban hành tạo khuôn khổ pháp lý cho việc tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; không chỉ xác lập cơ sở pháp lý về các quyền của chủ thể hưởng quyền (cá nhân, công dân, các nhóm yếu thế trong xã hội), mà còn đặt nghĩa vụ cho các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước và các tổ chức phi nhà nước (chủ thể nghĩa vụ) phải nâng cao tinh thần trách nhiệm xã hội, trách nhiệm pháp lý tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người. Nhờ đó, thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trải rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trên lĩnh vực bảo đảm các quyền dân sự, chính trị: Các quyền con người đã được bảo đảm một cách chủ động trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Chẳng hạn, bảo đảm quyền sống, được quy định tại Điều 19 Hiến pháp năm 2013. Pháp luật quy định trừng phạt nghiêm khắc các hành vi tước đoạt mạng sống của con người một cách tùy tiện; nghiêm cấm tra tấn nhục hình; chỉ áp dụng án tử hình với các loại tội đặc biệt nghiêm trọng nhất. Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục bỏ án tử hình ở 8 tội danh; không áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội… Việc bảo đảm quyền sống còn được quan tâm về khía cạnh kinh tế, xã hội thông qua việc thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững; tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ sơ sinh; thực hiện các biện pháp cứu trợ khẩn cấp đối với những vùng chịu thiệt hại nặng do thiên tai…

Trên lĩnh vực bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa: Được thực hiện một cách tích cực trong các chương trình, chính sách quốc gia, như: Bảo đảm quyền thoát nghèo; quyền về việc làm, thu nhập; quyền sở hữu; quyền được chăm sóc y tế, sức khỏe; quyền được học tập, giáo dục; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa. So với trước đổi mới, đặc biệt trong khoảng 20 năm trở lại đây, đời sống của nhiều tầng lớp nhân dân, kể cả ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa đã được cải thiện rõ rệt; nhiều quyền đã được bảo đảm với các chi phí phù hợp.

Bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, như: Phụ nữ, trẻ em, người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người có HIV/AIDS… đã đạt được nhiều kết quả tích cực xét theo các tiêu chí: Tăng cường mức độ sẵn có của các dịch vụ; khả năng tiếp cận bình đẳng và chất lượng các dịch vụ, cơ hội; mức độ bao phủ của hệ thống bảo hiểm xã hội; chi phí phù hợp… Kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV (nhiệm kỳ 2021-2026), số lượng nữ đại biểu Quốc hội là 151 người, chiếm 30,26% (đạt tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay); tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia Quốc hội khóa XV là 89 người, chiếm 17,84%. Từ năm học 2017-2018, đã có 22 tỉnh, thành phố tổ chức dạy học tiếng dân tộc thiểu số (715 trường); 8 ngôn ngữ của dân tộc thiểu số được đưa thành môn học; nhiều bộ sách giáo khoa được xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số…

Trong năm 2020 và 7 tháng đầu năm 2021, trong khi đại dịch Covid-19 đang hoành hành trên thế giới và ở Việt Nam, hàng loạt chính sách an sinh xã hội được Chính phủ Việt Nam ban hành nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Gói an sinh xã hội lần thứ nhất đã được triển khai có quy mô 62.000 tỷ đồng và hiện nay đang thực hiện gói an sinh xã hội lần thứ hai với tổng trị giá 26.000 tỷ đồng là những giải pháp cấp bách, kịp thời, nhằm giảm tối đa tác động của đại dịch Covid-19 đối với quyền sống, quyền được chăm sóc y tế và mưu sinh của người dân. Trong hoàn cảnh khó khăn của dịch bệnh và thiên tai, những chính sách hỗ trợ trực tiếp, kịp thời đối với người dân là nền tảng để bảo vệ các quyền con người, đồng thời cho thấy nỗ lực và quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam.

Chủ động tham gia hiệu quả vào việc thúc đẩy quyền con người trên thế giới

Không chỉ triển khai, thực thi chính sách bảo đảm quyền con người ở trong nước, những năm qua, Việt Nam đã chủ động, tích cực đóng góp vào việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Điều này thông qua mức độ tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng ‎thuận rất cao những lần Việt Nam gia nhập Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến với sự tham dự của đại diện AICHR, các nước thành viên ASEAN và Ban Thư ký ASEAN, diễn ra cuối tháng 11-2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020, đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước những tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác AICHR trong thời gian tới.

Việt Nam quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác trong AICHR, trong đó đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch Covid-19, được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Đồng thời, Việt Nam tham gia đóng góp tích cực vào định hình các chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, trong đó Việt Nam đã cùng với Philippines và Bangladesh trực tiếp soạn thảo Nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền về biến đổi khí hậu và quyền con người đã được chính thức thông qua vào tháng 7-2019, tại trụ sở Liên hợp quốc ở Geneva, Thụy Sĩ.

Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Như vậy có thể khẳng định rằng, những kết quả, thành tựu to lớn trên lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trong suốt 35 năm qua là minh chứng sinh động về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, là vì quyền con người. Điều này tiếp tục được Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(2).

(Nguồn Báo QĐND)

————————————–

(1) Đến nay, Mỹ là nước thường xuyên rao giảng về quyền con người, nhưng đang là nước còn lại duy nhất trên thế giới chưa phê chuẩn Công ước quốc tế về trẻ em năm 1989; hiện cũng chưa phê chuẩn Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, tr.28. 

Không thể đánh đồng sự kiện ở Afghanistan với Chiến thắng 30/4/1975 của Việt Nam

 

Ngày 15/8 (giờ địa phương), Người phát ngôn văn phòng chính trị của Taliban Mohammad Naeem thông báo trên truyền hình, cuộc chiến ở Afghanistan đã kết thúc. Một thể chế và quy định mới sắp hình thành ở Afghanistan và Taliban đã sẵn sàng đàm phán với các nhân vật trong chính quyền Afghanistan.

Ở chiều ngược lại, chính quyền của Tổng thống Ashraf Ghani đã thừa nhận thất bại. Trong bài đăng trên trang facebook, Tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani xác nhận, Taliban đã giành chiến thắng và bây giờ lực lượng này có trách nhiệm bảo vệ tài sản và người dân Afghanistan. Ông Ashraf Ghani cũng cho biết lý do ông rời đất nước là vì “không muốn có thêm thương vong và thủ đô Kabul bị phá hủy”.

Trước chiến thắng của Taliban và sự sụp đổ của chính quyền Tổng thống Ashraf Ghani, trên mạng xã hội một số người tỏ ra hả hê, vui sướng. Một số người còn đem so sánh sự kiện này với sự kiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ở Việt Nam ngày 30/4/1975; so sánh cảnh tượng Mỹ vội vã sơ tán người khỏi thủ đô Kabul với cảnh quân đội Mỹ rút khỏi Sài Gòn năm 1975 và mô tả nó như “sự tái hiện lịch sử”. Đặc biệt, họ còn so sánh Taliban với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Họ chế nhạo những ca từ của các bài hát cách mạng như “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Tiến về Sài Gòn”… và đánh đồng hai cuộc chiến với nhau.

Trang BBC tiếng Việt đăng tải một số bài viết so sánh hai sự kiện này với những lời lẽ xuyên tạc lịch sử Việt Nam, như: “Vì sao chiến thắng của Taliban tại Kabul được so với sự kiện Sài Gòn thất thủ?”; “Kabul chưa đánh đã hàng, có giống chiến tranh Việt Nam”… Cùng với đó là những ngôn từ, bình luận mang tính xuyên tạc lịch sử Việt Nam như “tái hiện hình ảnh Sài Gòn thất thủ”, so sánh Taliban với “quân Bắc Việt”, từ đó miệt thị “Chính phủ Cộng sản Bắc Việt Nam”, “Việt Cộng đánh chiếm Sài Gòn”…

Đúng là nếu chỉ nhìn bề ngoài có thể thấy một số điểm trùng hợp giữa sự kiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ở Việt Nam năm 1975 và sự kiện Taliban tiến vào thủ đô Kabul ở Afghanistan năm 2021. Đó là việc Mỹ đưa quân vào Afghanistan lật đổ Taliban, dựng lên chính phủ do Mỹ hậu thuẫn, tồn tại đến 20 năm; so với việc Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam với thời gian gần tương tự, cũng lập nên chính phủ bù nhìn do Mỹ hậu thuẫn. Rồi hình ảnh những chiếc trực thăng Mỹ vội vã di tản nhân viên khỏi Sài Gòn năm 1975 và Kabul năm 2021… Nhưng, hình ảnh chỉ phản ánh sự việc diễn ra chứ hình ảnh không phản ánh bản chất bởi hai sự kiện này là khác nhau.

Về mặt bản chất, cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là một cuộc chiến tranh chính nghĩa giữa nhân dân Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam –  những lực lượng được cộng đồng quốc tế thừa nhận với thế lực xâm lược và phản động, tay sai. Nó khác với cuộc chiến tranh giành quyền lực diễn ra ở Afghanistan giữa Taliban – một lực lượng chưa được cộng đồng quốc tế thừa nhận với một chính quyền thân Mỹ, do Mỹ và đồng minh dựng lên. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Taliban cũng là hai lực lượng, hai phạm trù lịch sử khác nhau.

Ngày 15/2/1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng, trực tiếp hoạt động trên chiến trường miền Nam, đặt dưới sự lãnh đạo về mọi mặt của Trung ương Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam và sự chỉ đạo, chỉ huy thống nhất của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, mà thường xuyên là Ban Quân sự thuộc Trung ương Cục (từ tháng 10/1963 là Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh Miền). Về mặt chính trị, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Lực lượng này có nhiệm vụ chủ yếu là làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau 14 năm được thành lập, Quân Giải phóng miền Nam đã cùng quân và dân cả nước mưu trí, sáng tạo, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh đánh bại đế quốc Mỹ và lực lượng tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Taliban được thành lập năm 1994 ở thành phố miền Nam Kandahar bởi Mullah Mohammad Omar, thành viên một bộ lạc Pashtun và từng là một chỉ huy phiến quân Mujahideen chống lại chiến dịch quân sự của Liên Xô ở Afghanistan trong thập niên 1980. Hầu hết thành viên của Taliban là người Pashtun, dân tộc đông dân nhất Afghanistan. Tên Taliban có nghĩa là “những giáo sinh Pashto”. Khởi đầu với khoảng 50 tay súng có tham vọng thiết lập lại trật tự dựa trên sự nghiêm khắc của Hồi giáo nguyên thủy năm 1994, Taliban nhanh chóng lớn mạnh về quân số, mở rộng ảnh hưởng ở Kandahar, sau đó là toàn vùng Tây Nam Afghanistan nhờ lời hứa mang lại ổn định và công bằng thông qua luật Sharia, trong bối cảnh các nhóm quyền lực khác chỉ tập trung bắn giết.

Tuy nhiên, mặt trái của Taliban chính là sự tàn khốc, hà khắc. Năm 1996, Taliban tiến vào Kabul, lật đổ chế độ của Tổng thống Burhanuddin Rabbani – một trong những cha đẻ của tổ chức Mujahideen, buộc Rabbani ra nước ngoài sống lưu vong. Sau khi bị liên quân Mỹ, đồng minh lật đổ năm 2001, Mullah Omar và nhiều thủ lĩnh Taliban chạy sang Pakistan, đồng thời mở những chiến dịch quân sự trên khắp lãnh thổ Afghanistan để giành lại quyền lực.

Như vậy, không thể đồng nhất Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam – lực lượng cách mạng của nhân dân Việt Nam với Taliban. Việc so sánh hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam với Afghanistan cũng là kiểu so sánh rất khập khiễng, không thể nói “đồng nhất”. Đó là một hành vi làm sai lệch bản chất cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta, hạ thấp ý nghĩa, sức nặng chiến thắng của dân tộc ta, hạ thấp những gì mà nhân dân ta và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã trải qua trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bởi cuộc chiến tranh chính nghĩa, bảo vệ nền độc lập dân tộc, được nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới ủng hộ nên ngay khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập vào năm 1969, đã có tới 23 quốc gia công nhận, trong đó có 21 quốc gia đặt quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ và khoảng 50 quốc gia khác đặt những liên hệ ngoại giao.

Về ý nghĩa, Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh trí tuệ và tài thao lược của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, cũng như chứng minh tinh thần quật khởi của người dân Việt Nam trong đấu tranh chống ngoại xâm. Chiến thắng đã chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc, cả nước cùng tiến lên CNXH. Thắng lợi này đã đi vào lịch sử nước ta và của thế giới, như một trang sử chói lọi của thế kỷ XX, mang tầm quốc tế, tầm thời đại sâu sắc.

Chiều 19/8, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, báo chí trong nước và quốc tế đặt nhiều câu hỏi về quan điểm của Việt Nam đối với tình hình Afghanistan hiện nay. Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định, Việt Nam quan tâm theo dõi tình hình Afghanistan và mong Afghanistan sớm ổn định vì lợi ích của người dân Afghanistan, vì hòa bình, ổn định của khu vực. Là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam kêu gọi các bên liên quan không sử dụng vũ lực, bảo đảm an ninh, trật tự, cơ sở hạ tầng thiết yếu, tính mạng và tài sản cho người dân Afghanistan và người nước ngoài, nhất là phụ nữ và trẻ em, cũng như đảm bảo tiếp cận nhân đạo khi cần thiết.

Một hãng tin quốc tế đặt câu hỏi về việc gần đây một số hãng truyền thông so sánh cảnh tượng Mỹ vội vã sơ tán người khỏi thủ đô Kabul với cảnh quân đội Mỹ rút khỏi Sài Gòn năm 1975 và mô tả nó như “sự tái hiện lịch sử”, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định, với chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ, anh dũng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra trang sử mới của Việt Nam, kỷ nguyên độc lập tự do, hòa bình, toàn dân tộc chung tay xây dựng, phát triển đất nước. Thắng lợi của cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã đem lại lòng tin, phấn khởi, khâm phục, mến mộ của lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng đó là không thể lay chuyển.

Nguyễn Sơn

Vạch mặt kẻ viết bài "giặc ở sau lưng nhà vua đó"

 Mấy ngày qua trên trang mạng các đối tượng bất mã trong nước và các đố tượng phản động nước ngoài, chống phá Nhà nước đã dang tải chia sẻ 1 video sai sự thật. Bọn này lợi dụng công nghệ cắt xén, thêu dệt sai sự thật, nếu người tinh ý thì sẽ hiểu mục đích và sự việc nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo cua Đảng, sự quan tâm của Nhà nước, làm mất niềm tin của nhân dân, làm giảm uy tín, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đang ngày đêm cùng cả hệ thống chính trị, cùng cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng quyết tâm cao đánh thắng đại dịch Covid-19. Dù họ có nói gì nhưng mọi người sẽ không bao giờ tin khi hằng ngày hình ảnh Bộ độ Cụ Hồ đang quên mình cùng nhân dân vượt qua đại dịch. Những kẻ giấu mặt không thấy hổ thẹn khi đưa video này lên khi cả nước đồng lòng chung tay chống dịch thì họ lại thừa cơ ngồi rồi cắt gọt đưa thông tin sai lệch, hãy để thời gian đó mà lo chống dịch, nếu cứ nói vậy có ngày Covid-19 nó dính vào mồm bị bệnh thì không ai thương đâu.

Hà Nội phát hiện 51 ca COVID-19 trong một buổi sáng, 23 ca cộng đồng

 Sở Y tế Hà Nội trưa 24/8 công bố số ca mắc COVID-19 ghi nhận trong sáng nay ở TP là 51, trong đó 23 ca tại cộng đồng.

 THỦ ĐOẠN VÀ CÔNG CỤ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Hiện nay, nền tảng mà các thế lực phản động, thù địch dựa vào là hệ tư tưởng tư sản với nội dung cơ bản, đó là quan niệm một cách phiến diện, thậm chí tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân, các quyền dân sự, chính trị đến mức đồng nhất chúng với quyền con người nói chung; coi nhẹ quyền của tập thể, của dân tộc và chủ quyền quốc gia; coi nhẹ tính bình đẳng của các chủ thể quyền và các nội dung quyền, nhất là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, vốn chiếm vị trí cơ bản và là yêu cầu có tính bức thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.
Về mặt chính trị, đây là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, coi tư tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia. Các thủ đoạn và phương thức mà các thế lực phản động, thù địch thường sử dụng, đó là: (1) Đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá nền tảng tư tưởng lý luận XHCN ở Việt Nam; (2) Tiến hành các hoạt động chống phá thực tiễn về thành quả bảo đảm nhân quyền trên tất cả các lĩnh vực của đời sống; (3) Tuyên truyền, ca ngợi các giá trị của nhân quyền tư sản nhằm kích động, cổ vũ việc phân hóa, chuyển hóa tư tưởng, chính trị XHCN đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản-mà hiện nay thường được gọi là “giá trị phương Tây”-trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước; (4) Tạo dựng ngọn cờ về dân chủ, nhân quyền thông qua việc tuyên truyền, ca ngợi, trao giải thưởng cho nhiều nhân vật chống đối, lôi kéo, cổ vũ để biến những kẻ vi phạm pháp luật, trở thành cái gọi là “nạn nhân của vi phạm nhân quyền”, nhằm kích động, hình thành nhóm chống đối, tạo dư luận chú ý ở trong nước và quốc tế, từng bước hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong và ngoài nước và tìm cách xác lập cơ chế “đa nguyên, đa đảng” trong thực tế ở nước ta.
Về chủ trương, các thế lực phản động, thù địch lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi nhọn; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, môi trường, chủ quyền biển, đảo làm ngòi nổ; dùng ngoại giao, đầu tư kinh tế để hỗ trợ, hậu thuẫn.
Về công cụ, họ triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW…) để xuyên tạc, kích động về tư tưởng, chính trị. Họ lợi dụng các sai sót trong quản lý để xuyên tạc, kích động khiếu kiện, biểu tình trái phép. Họ tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm nhưng tác hại lâu dài rất thâm độc. Các thế lực thù địch dùng chiêu bài “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để không chỉ gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, suy thoái về tư tưởng, chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên./.

 NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI THÙ ĐỊCH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Vì nhiều lý do khác nhau, các thế lực cực đoan trong chính giới ở một số nước ở phương Tây, các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài như Việt Tân, Chính phủ Việt Nam tự do, Đảng nhân dân hành động, Hiệp hội đoàn kết công nông, Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam, Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam…; một số tổ chức phi chính phủ quốc tế như Theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AI), Phóng viên không biên giới (RSF), Ngôi nhà tự do (FH)… thường xuyên vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam, bằng việc ra bản phúc trình hằng năm về nhân quyền. Bên cạnh đó, các lực lượng cạnh tranh về tư tưởng, chính trị, núp bóng nghiên cứu lý luận, bất mãn, suy thoái về tư tưởng chính trị, bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, cũng lợi dụng ngọn cờ “dân chủ, nhân quyền” ra sức chống phá, tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam.
BẢY LĨNH VỰC ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ
Thứ nhất: Phủ nhận thành tựu về các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng về dân chủ, nhân quyền, các kết quả thực tiễn về quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trong suốt 35 năm đổi mới. Lợi dụng các hiệp định, dự án hợp tác với nước ngoài, nhất là khi nước ta đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các nước, các tổ chức quốc tế; phá hoại, vu cáo xuyên tạc Việt Nam vi phạm quyền con người, làm cản trở quá trình ký kết.
Thứ hai: Lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc thiểu số để xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền con người trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc. Họ cho rằng, Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”: Chính sách bảo đảm hình thức và “chính sách” không bảo vệ, không bảo đảm quyền tự do tôn giáo trong thực tế thông qua “cơ chế xin-cho” và tạo lập các “tôn giáo quốc doanh”; chỉ trích các văn bản, chính sách, pháp luật về tôn giáo và lợi dụng Nhà nước xử lý các đối tượng, vụ việc phức tạp liên quan tới tôn giáo để xuyên tạc, vu cáo. Các thế lực phản động cho rằng “nhiều văn bản pháp luật Việt Nam về dân tộc không tương đồng với các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”; pháp luật Việt Nam không có điều khoản bảo đảm quyền của “người bản địa” theo tuyên ngôn, công ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã tham gia…
Thứ ba: Phê phán, xuyên tạc Nhà nước Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp. Chỉ trích chính quyền trì hoãn ban hành luật biểu tình, luật về hội; lợi dụng giãn cách xã hội trong phòng, chống dịch Covid-19 để tiếp tục bạo lực, đàn áp, bắt giam những nhà hoạt động nhân quyền, các nhà báo độc lập, những người có ý kiến phản biện, trái ý kiến với Nhà nước. Họ còn kích động khuynh hướng cực đoan nhằm “hạ bệ thần tượng”, đòi “giải thiêng” các giá trị lịch sử dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, bôi nhọ, xúc phạm lãnh tụ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đòi khơi thông dòng văn chương của những cây bút chống Cộng trước năm 1975; thành lập “Nhóm mở miệng” (xuất hiện từ khoảng năm 1995) chủ trương thơ tục, thơ rác, thơ bụi để “đẩy thơ vào ngõ cụt” nhằm thúc đẩy “lề trái” (phi chính thức) thay thế “lề phải” (chính thống), tạo tiền đề cho việc chuyển sang hệ tư tưởng tư sản.
Thứ tư: Xuyên tạc cái gọi là “việc áp dụng một cách bất công Bộ luật Hình sự”, nhất là các điều 19, 79, 87, 88 và 258 của Bộ luật Hình sự năm 1999, mặc dù bộ luật này đã được sửa đổi từ năm 2015. Các luận điệu xuyên tạc Việt Nam có chính sách hai mặt trong việc giam giữ tù nhân chính trị: Công khai thì khép vào tội “vi phạm luật pháp” nhưng thực tế là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”; hay các luận điệu xuyên tạc về sử dụng cách tra tấn, bức cung, nhục hình đối với những người bị tạm giữ, tạm giam; phân biệt đối xử giữa tù nhân chính trị với tù nhân khác, ngăn cản thân nhân vào thăm; bắt giữ và xét xử tùy tiện; duy trì án tử hình; cáo buộc tình trạng đàn áp, ngăn chặn, cản trở hoạt động của luật sư…
Thứ năm: Xuyên tạc, kích động trên lĩnh vực giáo dục, văn hóa, nghệ thuật. Thời gian qua, các thế lực thù địch tăng cường ưu tiên cấp học bổng để thu hút học sinh, sinh viên tham gia tìm hiểu, “nghiên cứu nhân quyền”, đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức hội nhóm tôn giáo… nhằm “thay máu” giới trẻ. Họ tăng cường‎ tung “tin vịt” đủ loại một cách thâm độc và với sự phụ họa một cách vô ý thức của truyền thông đại chúng theo cơ chế thị trường và dựa trên nền tảng internet, nhằm phá hoại kỷ cương, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự suy đồi, rối loạn tư tưởng, đạo đức, lối sống trong xã hội.
Thứ sáu: Hoạt động xâm nhập, kích động, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sang tư tưởng nhân quyền tư sản. Các thế lực thù địch tăng cường tác động “từ bên ngoài”, như đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay tiêu chuẩn về các quyền dân sự, chính trị (tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước…) tương tự các quốc gia phát triển phương Tây. Họ gắn dân chủ, nhân quyền với các vấn đề hợp tác phát triển, dân chủ, tôn giáo, tiếp cận thông tin và các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp; đặc biệt đòi dân sự hóa hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nhằm thúc đẩy phát triển tối đa của xã hội dân sự. Họ móc nối và tìm cách mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là ở cấp chiến lược và cơ quan trọng yếu nhằm thay đổi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN trong bảo đảm dân chủ, nhân quyền và quá trình đổi mới đất nước.
Thứ bảy: Kích động các cá nhân, tổ chức trong nước tổ chức bạo động, bạo loạn và nhờ nước ngoài khiếu kiện Việt Nam. Thí dụ, trong UPR chu kỳ I (năm 2009), II (năm 2014) và III (năm 2019), một số tổ chức phi chính phủ thù địch người Việt và quốc tế có quy chế quan sát viên tại Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc-ECOSOC (như Ủy ban bảo vệ quyền con người cho người Việt Nam-VCHR của Võ Văn Ái, tổ chức đảng cấp tiến xuyên quốc gia-TRP…) lợi dụng diễn đàn của Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người. Ví dụ gần đây, HRW công bố báo cáo hằng năm với tiêu đề “Phúc trình toàn cầu 2021”, dài 761 trang, về đánh giá việc thực hành nhân quyền tại hơn 100 quốc gia(*). Trong đó bản phúc trình này phê phán Việt Nam trong năm 2020 “tiếp tục vi phạm các quyền dân sự và chính trị cơ bản một cách có hệ thống”, qua việc siết chặt quyền tự do biểu đạt, tự do lập hội, tự do tôn giáo, chặn truy cập nhiều trang mạng, gây sức ép buộc các công ty viễn thông phải gỡ bỏ những nội dung phê phán Đảng Cộng sản và chính quyền… Đây không phải là lần đầu tiên HRW đưa ra những thông tin sai trái như vậy để công khai chỉ trích Việt Nam và nhiều quốc gia có chủ quyền khác.

Lợi dụng dịch bệnh trục lợi

 


Liên quan vấn đề một số cá nhân lợi dụng dịch bệnh Covid-19 trục lợi, kiếm tiền bất chấp hành vi, thủ đoạn; trong khi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; các ban, bộ ngành từ trung ương đến địa phương đang đóng góp sức người, sức của, ngày đên, để hỗ trợ người dân, cùng với lực lượng y bác sỹ cả nước nhanh chóng ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh.

Hành vi dựa vào dịch bệnh để kiếm tiền là xấu, đáng phải lên án, cần phải có chế tài xử phạt nghiêm minh đối với những cá nhân, tổ chức có những biểu hiện trên vì hành vi đó đi ngược lại với số đông các tổ chức, cá nhân đã và đang chung tay hộ trợ người bệnh, hỗ trợ ngành Y trong kiểm soát, ngăn ngừa và đẩy lùi dịch bệnh; hành vi đó không góp phần cho bộ máy chính quyền, các lực lượng trong quản lý xã hội, an dân, mà hành vi đó hoàn toàn đi ngược lại, nó làm mất trật tự xã hội, lòng dân không an.

Muốn ngăn chặn, đẩy lùi hành vi trên phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, là một giải pháp quan trọng, rất cần thiết và xử lý nghiêm để răn đe cũng là biện pháp cứng rắn quan trọng trong thời điểm hiện nay./.

TRƯỜNG TỒN

Huy động lực lượng chống dịch Covid-19

 


Nhìn lại thời gian trước khí xảy ra dịch bệnh lớn tại Thành phố HCM; Chủ tịch UBND Thành phố HCM đề nghị ngành y tế thành phố có kế hoạch cụ thể để kêu gọi, huy động lực lượng sinh viên y khoa, các y bác sĩ về hưu tham gia chống dịch Covid1-19.  Về đội ngũ y - bác sĩ, ngoài lực lượng cơ hữu, ông Nguyễn Thành Phong cho rằng phải huy động đội ngũ y - bác sĩ đã nghỉ hưu, sinh viên trường y. "Rà soát, thống kê số lượng, có những phương án nhân sự cụ thể để đáp ưng nhu cầu. Việc này không thừa, phải làm chu đáo ngay từ đầu thì không bao giờ lúng túng" - ông Nguyễn Thành Phong nhấn mạnh.

Thành phố đã thực hiện nhiều biện pháp nhưng sự nguy hiểm của dịch Covid19 là rất khó lường, người dân TP HCM vẫn chưa thấy hết sự nguy hiểm của nó; hiện nay Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an huy động lực lượng, phương tiện của Bộ mình vào Thành phố HCM cùng với chính quyền, nhân dân địa phương để chống dịch Covid19; với sự quyết tâm, trên dưới đồng lòng, chắc chắn trong thời gian tới dịch bênh sẽ được kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi mang lại an bình, hạnh phúc cho người dân./.

TRƯỜNG TỒN