Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2021

'Phát huy tối đa nhân tố con người'

 

          Người Việt Nam là một dân tộc diệu kỳ, đã từng làm nên những kỳ tích là điều đã được nói nhiều và khiến chúng ta vô cùng phấn khích. Nhưng thật tĩnh tâm cần phải nhìn thẳng vào một sự thật là cho đến hôm nay chúng ta vẫn chưa thoát khỏi ba chữ N. Ðó là Nông nghiệp vẫn là nền tảng và trụ đỡ cho nền kinh tế, một nếp sinh hoạt, cho dù ở thành thị, vẫn chưa thoát ra khỏi xã hội Nông thôn và con người vẫn mang dáng dấp của những Nông dân, dù có mang trên mình đầy vật dụng tối tân hoặc mặc toàn đồ hiệu. Và đương nhiên, với những căn tính nêu trên, không có hạn chế gì mới là lạ. Nhiều thói quen, tập tính của cư dân nông nghiệp trở thành những hạn chế khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Có thể kể đến nhược điểm không có thói quen nhìn xa, tâm lý "ăn xổi" hay là không có thói quen hạch toán kinh tế. Những sở đoản này cần phải thấy cho hết để chủ động và khiêm tốn học hỏi khắc phục dần từng bước. Ðặc biệt, tâm lý bình quân cào bằng hay truyền thống tự do, tùy tiện, thiếu kỷ luật chặt chẽ và thói quen trọng tục lệ hơn luật pháp cần phải được khắc phục bằng những biện pháp kiên quyết thì mới có thể đi vào xã hội công nghiệp được.

          Ðể xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, cần có nhận thức đầy đủ về chính mình, khắc phục những mặt hạn chế như đã nêu trên và phát huy những phẩm chất, những sở trường, những mặt ưu trội của con người Việt Nam.

          Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức độc lập, tự cường rất cao. Phẩm chất này đã được thể hiện rõ rệt trong những lần Việt Nam phải đối phó với họa xâm lăng từ bên ngoài. Tinh thần dân tộc cao sẽ là động lực và sức mạnh thúc đẩy một dân tộc vươn tới đỉnh cao.

          Tính cách mềm dẻo, cởi mở và dễ hội nhập của con người Việt Nam là một yếu tố hết sức thuận lợi trong hoàn cảnh ngày nay, khi mà thế giới ngày càng phát triển theo xu thế hội nhập và chu kỳ thay đổi công nghệ ngày càng có xu hướng rút ngắn, nhất là trong thời đại 4.0. Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa khi truyền thống hiếu học và khả năng trí tuệ của người Việt đã và đang trở thành một yếu tố bảo đảm cho sự phát triển với tốc độ cao của đất nước và trở thành một thế mạnh trên trường quốc tế. Ðiều quan trọng nhất lúc này là làm thế nào để gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Chúng ta đang hội nhập với thế giới không chỉ với tâm thức học hỏi người, điều chỉnh mình cho phù hợp để khai khác những lợi ích do toàn cầu hóa mang lại, mà còn với mục đích chủ động đem các giá trị của mình đóng góp với thế giới, biến những gì mình có thành lợi thế cạnh tranh quốc tế.

          Các văn kiện của Ðảng đã chỉ ra chiến lược xây dựng và phát triển con người Việt Nam: Phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa, gắn nhân tố con người với xây dựng văn hóa làm nền tảng tinh thần để từ đó phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Ðấy là những định hướng có tầm chiến lược, nhưng trước mắt cần khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Ðại hội XIII của Ðảng. Ðó chính là động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước.

          Trung thực là một phẩm chất tối quan trọng để có thể thiết lập lòng tin trong hợp tác. Trong một thời gian dài chúng ta bị chi phối bởi bệnh thành tích nên vô hình trung đã để cho sự gian dối lên ngôi.

          Vừa qua trong buổi làm việc với Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh yêu cầu "học thật, thi thật, nhân tài thật" và đề nghị các cấp các ngành đánh giá tổng thể, toàn diện, thẳng thắn về tình hình thực hiện, kết quả, thành tựu, mặt chưa được để rút kinh nghiệm, chỉ ra nguyên nhân, giải pháp cũng chính là sự nhắc nhở về vấn đề này. Cùng với ngành giáo dục, chúng ta cũng nên tạo thành một phong trào rộng rãi đề cao những tấm gương trung thực và phê phán những hành vi, biểu hiện gian dối, coi đó là một trong những trở lực cho sự phát triển của đất nước.

          Là công dân của nước CHXHCN Việt Nam, mỗi người dân phải có ý thức làm tròn bổn phận của mình với đất nước và luôn trui rèn lòng trung thành với Tổ quốc, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, để có thể nhận diện những phẩm chất thông qua những nội dung của bảng giá trị con người Việt Nam trong thời đại ngày nay thì có thể nêu ra mấy điểm sau đây.

          Thứ nhất, giá trị hàng đầu của con người Việt Nam phải là người giàu lòng yêu nước, có ý thức dân tộc sâu sắc, biết quý trọng lịch sử và văn hóa truyền thống.

          Kế đó phải là người có khát vọng và sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường. Ðây là ước nguyện của nhiều thế hệ và đang gửi gắm vào thế hệ hôm nay.

          Con người được tôn trọng phải là người có lòng trung thực, phải thành thật với chính mình và với mọi người. Ðây cũng là giá trị mà quốc tế đề cao.

          Một phẩm chất cần phải có trong thang giá trị là phải có lòng tự tin vào bản thân mình, vào đất nước mình và vào tương lai của dân tộc mình.

          Sẽ là thiếu sót nếu trong hệ giá trị con người Việt Nam thiếu vắng phẩm chất nhân ái, vị tha, sẵn sàng giúp đỡ người khác, một truyền thống nhân văn cao đẹp của dân tộc.

          Cũng không thể không nói đến một giá trị vô cùng quan trọng để dân tộc có thể bứt phá vươn lên là trong mỗi người phải có lòng phục thiện, trân trọng tài năng, không kèn cựa đố kỵ, bài xích người có năng lực.

          Và sau hết, trong thời đại toàn cầu hóa với nền tảng của công nghiệp 4.0, phẩm chất vô cùng cần thiết chính là khiêm tốn học hỏi, không ngừng mở rộng và nâng cao hiểu biết về văn hóa, tri thức khoa học và về thế giới để có đủ khả năng trở thành “công dân toàn cầu”.

 

Cội nguồn sức mạnh dân tộc…

 

          Chúng ta đang ở trong những ngày kỷ niệm 76 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; cũng là những ngày căng thẳng nhất của mùa dịch Covid-19. Sức mạnh toàn dân tộc đang được huy động, cả nước chống dịch, mỗi người dân đều là chiến sĩ!

            Tổ quốc lâm nguy!

          Mỗi người dân Việt Nam những ngày này đều biết Tổ quốc đang gặp bước khó khăn. Kẻ thù hôm nay không chỉ là kẻ thù của quốc gia mà là kẻ thù của toàn nhân loại. Chúng có mặt trên khắp thế giới và đang từng phút, từng giây cướp đi sinh mạng; tước đi cuộc sống bình thường của bao con người. Không còn nụ hôn cho những người yêu nhau; không còn quây quần anh em trong ngày rằm, ngày Tết; những đứa con xa không được về thăm mẹ; trẻ không được đến trường; những đám ma không người đưa tiễn... Ðã gần hai năm, tin tức người nhiễm bệnh, người chết dồn dập làm lung lay từng ngõ xóm.

          Giờ là lúc, mỗi người sống và chiến đấu, sống và tin tưởng như Bác Hồ kêu gọi trong ngày Toàn quốc Kháng chiến: “Chúng ta phải đứng lên! ... Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”!

          Trong cuộc chiến chống Covid-19, Ðảng, Nhà nước ta đã nắm thế chủ động từ đầu, đã dồn sức cho ngành y tế, huy động cả hệ thống chính trị, cả lực lượng vũ trang vào cuộc để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của nhân dân. Ðặc biệt là tư tưởng: Con người là trên hết. Ðiều đó đã được thể hiện rất rõ trong Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ngày 30/3/2020: “Với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hãy đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Ðảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh”.

          Kết luận số 07-KL/TW ngày 11/6/2021 của Bộ Chính trị Về một số nhiệm vụ trọng tâm tăng cường công tác phòng, chống dịch Covid-19 và phát triển kinh tế - xã hội khẳng định: Toàn hệ thống chính trị tập trung cao nhất cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 với tinh thần “chống dịch như chống giặc”.

          Ðể chiến thắng nhanh và trọn vẹn trong cuộc chiến này, sự thông suốt về tư tưởng là trên hết. Ðể không lấn bấn, lỡ nhịp. Ðể có thể dốc toàn bộ sức người, sức của; tiếc người nhưng không tiếc của để thắng dịch. Thắng dịch rồi, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

          Sức mạnh dân tộc, sức mạnh lịch sử

          Lịch sử dân tộc, lịch sử nhân dân được gửi gắm ở truyền thuyết, ở văn học nghệ thuật, ở dã sử, tất nhiên cả chính sử, và chính là ở những đau khổ mà dân tộc ấy đã nếm trải, ở những thành tựu mà dân tộc ấy đã đạt được và gửi lại cho đời sau.

          Lịch sử dân tộc ta trước hết là lịch sử của sự cố kết, của tình yêu thương. Từ chuyện “đồng bào”, con cùng một mẹ, đến “thương người như thể thương thân” là một bước phát triển dài, là một kinh nghiệm tích lũy được trong cuộc sống. Và đó không chỉ là chuyện giúp nhau trong hoạn nạn, đó còn là con đường của hạnh phúc.

          Lịch sử nước ta là lịch sử sự hình thành và phát triển của sự dân chủ, của mơ ước đại đồng. Vua đi cày ruộng, vua làm nhà sư; Tiên Dung lấy Chử Ðồng Tử, Từ Thức lấy tiên; Trần Hưng Ðạo thực hiện “phụ tử chi binh”, Nguyễn Trãi viết: Nhân dân bốn cõi một nhà/ Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử/ Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào...

          Lịch sử nước ta là lịch sử anh hùng, bách chiến bách thắng trong việc chống lại thiên tai, địch họa; là lịch sử của tinh thần hòa hiếu, nhân ái vô biên và của sự thích nghi vô hạn với tính cách nước “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” - đây là tuân theo quy luật, không phải cơ hội. Trong đó, “tình thương” là một trong những đức tính, truyền thống quý báu nhất.

          Tất cả những truyền thống ấy, sức mạnh ấy của lịch sử đang sống dậy mạnh mẽ, biểu hiện cao đẹp trong những ngày chống dịch.

          Trên tuyến đầu, nhiều bác sĩ, điều dưỡng viên đã quên mình vì người bệnh, có người làm việc 20-22 giờ một ngày; xa mẹ già, con nhỏ. Ðã có hy sinh... Với họ, hạnh phúc là gì? GS Nguyễn Lân Hiếu đã nói thay cho tất cả các chiến sĩ blu trắng: “Chỉ cần thấy bệnh nhân mở mắt, mỉm cười, chắc chắn không một nhân viên y tế nào không hạnh phúc”...

          Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, bộc lộ rõ nhất phẩm chất vì nhân dân quên mình.

          Những xóm trưởng, trưởng dân phố chính là những tiểu đội trưởng, trung đội trưởng xung kích. Và bởi phải tiếp xúc nhiều, nhiều người đã âm thầm nhiễm bệnh, lặng lẽ hy sinh không có và không cần một tuyên dương công trạng.

          Quán cơm “Tùy hỉ” của anh Vũ Quốc Cường ở phường Bến Nghé, TP Hồ Chí Minh trước đây thu hút nhiều khách ăn vì tính chất “tùy hỉ”, có bao nhiêu trả bấy nhiêu; không có cũng được, cốt để giúp đỡ người nghèo và sinh viên. Khi dịch bệnh ở TP Hồ Chí Minh bùng phát, chuyển thành quán cơm từ thiện, phục vụ những người ở tuyến đầu chống dịch, và là một trung tâm thiện nguyện. Không may, vợ chồng anh và mẹ anh đều bị nhiễm virus. Anh đã mất tại khu cách ly ngày 22/8, để lại không chỉ sự tiếc thương trong bạn bè, trong những người khách từng được anh giúp đỡ, mà còn để lại một tấm gương đạo lý làm người. Chỉ 20 m2 nhà thuê, vẫn thành “ngôi chùa” của lòng bác ái; cả đời lao động vất vả, không để lại tài sản gì, trước khi chết vẫn giữ nụ cười trên môi và nhắn gửi với người thân: Hãy tiếp tục giúp đỡ người nghèo! Chuyện anh Cường chỉ là một trong hàng nghìn, hàng triệu tấm lòng tương thân tương ái; là một giọt nước trong muôn triệu giọt nước kết thành một đại dương mênh mông của lòng nhân ái.

          Một sức mạnh nhân dân đã được phát động.

          Lịch sử cho hay, khi Nhà nước và nhân dân đồng lòng, như thời Trần chống Nguyên - Mông; như thời đại Hồ Chí Minh đuổi giặc... và bây giờ chống dịch, thì không có gì không thể vượt qua, không kẻ thù nào không thể chiến thắng!

          Anh sẽ về bên em!

          Con sẽ về bên mẹ!

          Cuộc chiến đấu cho những điều giản dị, bình thường mà thiêng liêng ấy, nhất định sẽ chiến thắng!

          Tích lũy tri thức, làm giàu văn hóa

          Sau thất bại ở chiến tranh Việt Nam, Ðại tướng Philipe Leclerc của Pháp chợt nhận ra: “Người ta không thể nào dùng sức mạnh để phá tan chủ nghĩa dân tộc Việt Nam”.

          Mc.Namara - cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong hồi ký “Nhìn lại quá khứ” thừa nhận Mỹ thua Việt Nam là thua sức mạnh văn hóa: “Sức mạnh sâu thẳm nhất của một dân tộc không nằm ở mũi nhọn quân sự mà ở sự đoàn kết của dân tộc”, “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó…”.

          Văn hóa Việt Nam là điều đáng tự hào và xây đắp.

          Các cụ ta nói, trong phúc có họa, trong họa có phúc. Trong tai họa này, vượt qua nó đã là một chiến thắng, vượt qua nó và rút được những bài học bổ ích là một chiến thắng kép.

          Trong đại họa của thế giới, càng thấy rõ hơn vai trò của các nhà khoa học, của tầng lớp trí thức.

          Việt Nam cũng đã sản xuất được vaccine trong thời gian kỷ lục. Ðó là kết quả của biết bao lao động khoa học âm thầm trong quá khứ. Ðánh giá đúng, chăm lo tốt cho đội ngũ tinh hoa này thì sẽ làm cho dân tộc có thêm sức mạnh vượt trội, khi gặp bài toán khó, có người giải quyết.

          Ðại dịch đang khiến cho con người thấy rõ việc cần thiết phải sắp lại bảng giá trị. Những điều bình thường nhất hóa ra lại là điều lớn lao nhất. Và con người biết sống yêu thương nhau hơn, giảm bớt bạo lực, bạo hành và những ham muốn tầm thường, ngu tối.

          Ðó là cái ta cần thu hoạch trong hoạn nạn, biến họa thành phúc.

Tầm nhìn mới cho sự nghiệp trồng người

 

          1. Trong bài viết gần đây của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng 'Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam', cùng với việc khẳng định mục tiêu, định hướng, nội hàm, đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội theo quan điểm đổi mới của Ðảng ta, đồng chí đã hơn hai lần nhấn mạnh đến 'thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội' và cho rằng 'nhất thiết phải trải qua thời kỳ quá độ' đó với đặc điểm nổi bật là 'một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp vì nó phải tạo ra sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội' (Báo Nhân Dân 5/2021).

          Ðối chiếu với thực tiễn đất nước những năm qua, tôi thật sự tâm đắc với nhận định sâu sắc đó của Tổng Bí thư. Ðó là kết quả của tổng kết thực tiễn và của tư duy khoa học, tỉnh táo, khách quan.

          Thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao… Song thấm sâu trong tất cả các lĩnh vực đó, tác động trực tiếp và có ý nghĩa quyết định chiều hướng vận động và phát triển của các lĩnh vực này chính là vốn con người, nguồn nhân lực của sự phát triển. Không có cách lý giải nào khác, vì vậy, nhiệm vụ nặng nề nhất, khó khăn, lâu dài, phức tạp nhất chính là nuôi dưỡng, xây dựng, phát triển con người cho chủ nghĩa xã hội trong suốt thời kỳ quá độ và chắc chắn còn phải tính toán xa hơn nữa, khi thời kỳ quá độ kết thúc, hoàn thành!

          Nhận rõ nhiệm vụ sâu xa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai luận điểm rất đặc biệt. Một mặt, Người khẳng định rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa, mặt khác, Người lại cho rằng “vì sự nghiệp 100 năm thì phải “trồng” người”. Tưởng như có gì đó mâu thuẫn, song thật ra rất biện chứng. Phải từ con người hiện thực để bồi đắp, nuôi dưỡng dần những phẩm chất mới theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, và chính những con người hiện thực đang phát triển đó sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội, song không thể nôn nóng, mà cần một sự kiên trì, nhẫn nại, sáng tạo và khoa học để có thể “trồng” nên những con người như vậy. “Sự biến đổi sâu sắc về chất” trong thời kỳ quá độ mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập đến, trước hết và quan trọng nhất chính là quá trình lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp của sự hình thành, phát triển của con người của chủ nghĩa xã hội. Ðó là một quá trình suy nghĩ, đúc kết từ thực tiễn để chọn lọc, tiếp nhận, đấu tranh, sáng tạo không mệt mỏi. Phải chăng, lâu nay, chúng ta dành nhiều tâm trí cho tìm tòi, lựa chọn để từng bước phát triển và dần hoàn thiện đường lối, quan điểm trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội… song trong chỉ đạo thực tiễn và tổ chức thực hiện chưa chú trọng đúng tầm, có chiến lược, chương trình dài hạn, khoa học cho lĩnh vực cực kỳ hệ trọng này. Tôi thật sự thấm thía khi Tổng Bí thư phát biểu rằng: “mất người là mất chế độ”.

          2. Ðặc điểm nổi trội nhất của thời kỳ quá độ, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng con người là sự đan xen, cạnh tranh và cuộc đấu tranh giữa cũ và mới, tiến bộ và lạc hậu, tiên tiến và bảo thủ, trì trệ, cách mạng và phản động, thù địch. Cách đây hơn 50 năm, trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, đó là một “cuộc chiến đấu khổng lồ” để “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi” (Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG.2011, tập 15, tr. 617). Lúc này, ở thời kỳ quá độ, đất nước đang đứng trước “cuộc chiến đấu khổng lồ” đó, đối với cả dân tộc, cả cộng đồng và đối với từng con người, không loại trừ một ai, từ những người lãnh đạo cấp cao đến người dân bình thường. Trong những tháng ngày này, cả nước đang căng mình phòng, chống đại dịch Covid-19, chúng ta đã chứng kiến sự xuất hiện những cái cực tốt, vô cùng nhân văn và cả những cái cực xấu, ác độc đến tận cùng. Hàng vạn người đang âm thầm hy sinh, kiên cường trên tuyến đầu chống dịch. Hàng ngàn vạn những việc làm tình nghĩa đồng bào làm chúng ta xúc động tận đáy lòng. Ngược lại, bao người không cầm được nước mắt khi nghe tiếng nức nở van xin tên cướp của người phụ nữ thu gom rác đêm khuya khi bị cướp đi chiếc xe duy nhất của mình. Sự độc ác, vô lương tâm đến tận cùng của bọn cướp đã dấy lên sự căm phẫn của cả xã hội.

          Thời kỳ quá độ, theo quy luật của chính nó, đang đặt ra rất nhiều sự lựa chọn mang tính đa chiều trong nhận thức và tinh thần, tình cảm dẫn tới cả sự đứng vững, đúng hướng và cả sự lúng túng, chờ thời và chệch hướng bởi vì trong thời kỳ này, hệ giá trị và chuẩn văn hóa đang được sắp xếp lại, mở ra đa dạng hơn, từ đó đặt con người trước thử thách của sự lựa chọn mới. Một sự phân nhánh, phân hóa không tránh khỏi. Những người thủy chung với lý tưởng, luôn khát khao tìm tòi đổi mới, kiên định trong sự sáng tạo và cả những người bảo thủ, thủ cựu cùng xuất hiện. Những người đuối sức, không đi hết được chặng đường đã chọn và những kẻ chờ thời, cơ hội, vội tách ra khỏi đội ngũ, phủ định chính mình và tự coi là đã tìm ra “chân lý mới”! Và cuối cùng là những kẻ phản bội, lợi dụng thời cơ để chống phá. Trong bối cảnh phức tạp đó, để “trồng người” cho chủ nghĩa xã hội, rất cần một “tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới” (Nguyễn Phú Trọng - Bài báo đã trích dẫn). Một mặt, tôn trọng sự phát triển đa dạng, lành mạnh của sự lựa chọn, mặt khác, bằng trí lực, tài lực và tâm huyết ra sức vun trồng, xây đắp và phát triển để tạo nên xu hướng chính, dòng mạch chính của sự lựa chọn đó. Xu hướng đó chính là đội ngũ ngày càng đông và mạnh những người kiên định với lý tưởng, con đường mà Bác Hồ, Ðảng và dân tộc đã lựa chọn, đồng thời đủ bản lĩnh vượt qua mọi thử thách, không ngừng tìm tòi, sáng tạo để hiện thực hóa lý tưởng đó, đúng như nhận định có tầm khái quát cao của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ðây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thách thức, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”.

          3. Trong thời kỳ quá độ này bao giờ cũng chứa đựng ba nhân tố: quá khứ đang là một nhân tố sống trong hiện tại, hiện tại chưa định hình, đang biến đổi, biến động không ngừng và phức tạp và tương lai đang dần hiện ra nhưng chưa thể hoàn chỉnh. Trong điều kiện đặc thù đó, để xây dựng con người Việt Nam dân tộc - hiện đại, có năng lực hội nhập, có khát vọng hiện thực hóa lý tưởng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta, có lẽ phải đồng thời đánh giá ba nhân tố trên để định hướng cho sự phát triển nhân cách và các giá trị căn cốt trong nhân cách con người Việt Nam.

          Ðối với quá khứ, trong quan hệ với sự hình thành và phát triển nhân cách xã hội chủ nghĩa, phải chăng, đồng thời cần xử lý biện chứng hai tác động sau. Một là, xác định, bảo vệ và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững của dân tộc và con người Việt Nam để tạo nên giá trị căn cốt trong nhân cách con người đương đại. Tuy còn những ý kiến khác nhau, nhưng lâu nay, nhiều người đều nhấn mạnh đến các giá trị như lòng yêu nước, sự tự tôn, tự cường dân tộc, tính cộng đồng, tình nghĩa, trọng đạo lý và lòng nhân ái… khuynh hướng hạ thấp hay phủ định các giá trị này là biểu hiện của sự chệch hướng, xa rời “căn cước” vốn có của dân tộc. Hai là, để có con người Việt Nam thời đại mới, cần tỉnh táo và khách quan chỉ ra để vượt qua những hạn chế lịch sử của con người Việt Nam do quá khứ nghìn năm phong kiến và kinh tế tiểu nông để lại. Những năm qua, chúng ta chưa mạnh dạn chỉ ra điều này, vì vậy đã tạo ra những ảo tưởng và hạn chế sự tự vượt lên chính mình của con người. Rất may, Nghị quyết 33-NQ/TW về văn hóa (ngày 9/6/2014) và đặc biệt trong Báo cáo chính trị tại Ðại hội XIII của Ðảng (tháng 1/2021) đều khẳng định “Có giải pháp khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam”. Ta có thể nhận ra những hạn chế đó của quá khứ đang “sống” dai dẳng trong hiện tại, thí dụ như tư duy, đời sống tiểu nông, manh mún, không có nếp quen thực thi pháp luật, chuộng danh, đố kỵ, cào bằng…

          Ðối với hiện tại, quả thật, chúng ta đang đứng trước “cuộc chiến đấu khổng lồ” như Bác Hồ đã chỉ ra và gần đây, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh sự “đan xen, cạnh tranh ngày càng phức tạp và quyết liệt” giữa “các nhân tố xã hội chủ nghĩa và các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa” và nhiệm vụ lớn nhất của Ðảng và toàn dân tộc là “phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng”. Hằng ngày, hằng giờ, cả xã hội, trong từng tập thể, cộng đồng và từng cá nhân phải đương đầu với cuộc đấu tranh đó, tưởng như thầm lặng mà vô cùng quyết liệt, phức tạp. Cái thiện, cái đẹp, cái tử tế, cao thượng, anh hùng kiên cường xuất hiện, đồng thời không ít cái xấu xa, độc ác, vô sỉ, thấp hèn, biến chất cũng mọc lên làm nhức nhối xã hội (Ðảng đã thống kê đến 27 biểu hiện thoái hóa, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên!). Thực tiễn cho chúng ta niềm tin rằng, dù còn trải qua nhiều sóng gió, song xu hướng chi phối, áp đảo sẽ là sự kết hợp, hòa quyện giữa những giá trị truyền thống tốt đẹp với những giá trị mới trong tương lai gần: dân tộc - nhân văn - hiện đại. Phải chăng, lúc này, cần hơn bao giờ hết, bám sát thực tiễn, định hướng sự phát triển, tiến hành khẩn trương và khoa học “tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới” như sự khẳng định tại Ðại hội XIII của Ðảng. Nhiệm vụ đó đã được khởi xướng từ Ðại hội X (năm 2006), chúng ta đã bước đầu làm được một số việc, song còn dang dở. Thực tiễn mới của thời kỳ quá độ hiện nay đòi hỏi chúng ta đồng thời triển khai nhiệm vụ này ở cả ba khâu: nghiên cứu, xác định và triển khai. Ðiều đó tạo nên sức mạnh hiện thực của sự định hướng xây dựng con người cho chủ nghĩa xã hội, của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Có lẽ, cần có một cơ quan của Ðảng và Nhà nước tập trung thực hiện nhiệm vụ lớn này một cách khoa học, bài bản, kiên trì, sáng tạo để hiện thực hóa các thành quả nghiên cứu vào đời sống, vào con người. Công việc thật là khó, song cách đây khoảng 100 năm, V.I Lê-nin đã nói về thời kỳ quá độ (thực hiện chính sách kinh tế mới - NEP) ở đất nước Xô Viết: “Không để cho các ảo tưởng cũng như sự nản chí chi phối” (V.I Lê-nin toàn tập - sđd. t44. tr 520).

 

 

Description: https://photo-baomoi.zadn.vn/w700_r1/2021_09_04_14_40112362/693823ea7ea897f6ceb9.jpg

Đại dịch Covid-19 và đồng thuận xã hội


          Một trong những nguyên nhân chính của việc Việt Nam chống được dịch Covid-19 tốt là quyết tâm chính trị của cả hệ thống.

 

          Đồng thuận xã hội

          Quan trọng hơn, kết quả này còn của chính người dân. Nếu người dân không đồng lòng, người dân coi thường dịch bệnh, các lãnh đạo, chuyên gia cũng bất đồng quan điểm sâu sắc thì sẽ có nhiều phản ứng trái chiều. Và truyền thông sẽ phản ánh rõ điều đó.

          Cho nên nói quyết tâm chính trị, quyết định của chính trị gia, cũng cần hiểu rằng nền tảng chính trị của họ tức là dân, dân chịu đồng thuận thì chính sách mới dễ làm, dễ thực thi và ngược lại. Dân chống lại, chính sách dù có nhân danh gì nữa cũng khó làm.

          Một cách chủ quan, có thể nhận thấy thành quả của việc người dân đồng thuận là:

          Thứ nhất, sức chống chịu của người dân. Người dân Việt Nam gánh chịu nhiều loại khổ như thiên tai, bão lũ, đói rét, đã vượt qua chiến tranh... Trong bối cảnh tấm lưới an sinh xã hội chưa hoàn thiện, người dân chỉ có cách là tự lực, hay nói đúng hơn, tự thích nghi chịu đựng để vượt qua các khổ đau đó.

          Thứ hai, sự đòi hỏi của người dân với Chính phủ ở mức hợp lý. Người dân không đòi hỏi Chính phủ phải cung phụng, hỗ trợ mà nếu không được thỏa mãn thì ra đường đập phá, đốt xe như ở một vài nước có phúc lợi quá tốt.

          Thứ ba, thành phần KOLs (key opinion leaders) chống vắc xin, chống giãn cách xã hội, coi thường bệnh dịch không có tiếng nói trên truyền thông chính thức, thậm chí họ không được ủng hộ trên mạng xã hội.

          Thứ tư, một số quan điểm như “thà chết vài nghìn người vì dịch chứ không phong tỏa”, hay "chết đói đáng sợ hơn chết dịch" không chiếm ưu thế.

          Chống dịch tốt sẽ không phải phong tỏa nhiều

          Quan điểm "chết đói đáng sợ hơn chết dịch" nghe có vẻ đúng, nhưng nó dựa trên một giả định: "chống dịch thì phải chết đói". Không phải. Chính phủ vẫn có thể tăng các gói hỗ trợ kinh tế để giúp cầm cự qua dịch. Quan trọng, nếu chống dịch tốt sẽ duy trì được hoạt động bình thường dài ngày hơn, phong tỏa ngắn ngày hơn, là tốt hơn là chống nửa vời dẫn đến nền kinh tế lâm vào trạng thái bán phong tỏa hay phong tỏa diễn ra ở một số quốc gia EU.

          Mọi người có thể nói tới chuyện ngành du lịch Việt Nam tan hoang, nhưng thử nhìn Tây Ban Nha, Hy Lạp, những nước sống nhờ du lịch và cố tìm cách mở sớm rồi trúng đạn Covid-19. Họ thậm chí không làm du lịch nội địa được như Việt Nam.

          Lấy ví dụ Hy Lạp. Họ có 6.000 tàu du lịch, 6 triệu khách du lịch đi tàu hàng năm, thế mà giờ ngành du lịch của họ chỉ là số 0 tròn trĩnh. Với hơn 20% GDP được tạo ra từ du lịch quốc tế, kinh tế Hy Lạp lâm vào tình trạng te tua nhất có thể.

          Những nền kinh tế háo hức lễ hội, hay mở cửa kinh tế nhanh nhất, mỉa mai thay, sẽ dễ bị cấm cửa nhất vì nhiều khả năng là tỷ lệ nhiễm Covid-19 ở chỗ đó cũng cao và họ lại không có đủ vắc xin. Hơn nữa, người dân nhiều khả năng không giữ giãn cách xã hội hợp lý do có tâm lý hồ hởi quá đà.

          Không có vắc xin nào có tỷ lệ bảo vệ 100%, do đó không giãn cách xã hội một cách nghiêm túc thì phong tỏa lại chỉ là vấn đề thời gian.

          Tóm lại, sự thận trọng của cả chính phủ và người dân, khả năng chịu đựng và sức bật trong dân là yếu tố làm nên kỳ tích của Việt Nam 2020 và cần tiếp tục trong thời gian tới đây dù sẽ còn rất gian khổ.

          Niềm tin vào chính phủ

          Nếu Việt Nam chống dịch hời hợt, có khi là vốn chảy ra ào ào chứ làm sao thu hút thêm vốn FDI hay FFI tốt.

          Thận trọng trong chống dịch không có nghĩa là cần biến mình thành ốc đảo. Nếu ta thận trọng đủ rồi, ta cũng cần hé hé cửa để những người thận trọng như ta (chích vắc xin đủ, đến từ những nước số ca ít, có quan điểm cẩn thận với Covid) đến Việt Nam để làm ăn, đi lại, và... tiêu tiền. Ngành du lịch cần cú hích du lịch trong nước và quốc tế là sự thật.

          Rủi ro dịch bệnh lan mạnh là có thật nếu các lễ hội quá lớn được tổ chức. Nên hạn chế các lễ hội lớn. Nhưng cũng cần để dòng khách du lịch dịch chuyển ở mức hợp lý, chỉ cần qui định giãn cách xã hội hợp lý ở những khu du lịch, vui chơi, để không cần phải phong tỏa hoàn toàn mà vẫn bảo vệ được người dân, và quan trọng là công tác phòng dịch, áp dụng các công nghệ mới để xác định và khoanh vùng ổ dịch tiềm năng nhanh nhất.

          Việt Nam làm được tốt các đợt trước thì vẫn có thể làm được tốt đợt này, miễn là không chủ quan, giữ ý thức đúng.

          Trong đợt dịch có hai luồng quan điểm. Những người rất thận trọng, thà sai về diễn biến dịch, làm hơi quá chặt một chút, còn hơn là bỏ lỏng. Nhóm thứ hai, đặt câu hỏi làm chặt quá là vô lý, dân chết đói hết.

          Vấn đề là nếu mỗi nhóm sai, cái giá phải trả là bao nhiêu? Nhóm thứ hai đặt cược sai, cái giá có thể là rất nhiều sinh mạng và rút cuộc thì cũng phải phong tỏa lâu hơn, tổn thất kinh tế còn lớn hơn.

          Quan trọng hơn, nếu làm theo nhóm thứ hai và thất bại, niềm tin vào năng lực chống dịch của Chính phủ sẽ mất. Lúc đó những chính sách sau dù có đúng cũng không còn ai tin nữa. Đánh mất niềm tin vào chính sách là triển khai cái gì cũng khó. Thử nghiệm và sai lầm rồi thì lấy lại niềm tin rất là khó.

          Ở Anh, chính phủ của Thủ tướng Boris Johnson vất vả lắm mới lấy lại được chút niềm tin dựa vào việc tiêm chủng vắc xin diện rộng theo đúng kế hoạch, khiến người dân mới phần nào chấp nhận là chính phủ Anh đang biết họ đang làm gì.

          Chính phủ Việt Nam có lợi thế là người dân tin tưởng vào nỗ lực của chính phủ trong phòng chống dịch.

 

Phản biện và chê bai

 

Tình hình dịch Covid-19 là mối quan tâm cập nhật thường xuyên của mọi người. Ai ai cũng lo lắng. Số người nhiễm, số người tử vong và thiệt hại về vật chất đã là rất lớn.

Ngày này năm xưa: 5-9-1954: Bác Hồ cảnh báo "đạn bọc đường"

 

Trong “Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô”, ngày 5-9-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ ta phải giữ vững bản lĩnh trước mọi tình huống.

KỊC BẢN PHÁ HỦY LIÊN XÔ KHI STALIN QUA ĐỜI CỦA CIA

 


Ở Mỹ người ta hy vọng rằng sau cái chết của Stalin, ở Liên Xô sẽ xảy ra khủng hoảng chính trị, họ có thể lợi dụng nó vào những lợi ích của mình. Điều chủ yếu đối với Washington là đưa các nước-vệ tinh của Liên Xô ra khỏi tầm ảnh hưởng của nó và có thể thiết lập kiểm soát với chính Moskva.

Nếu Stalin qua đời

Sau khi kết thúc Thế chiến 2, trong khi các đồng minh cũ dần biến thành kẻ thù, tình báo Mỹ đặc biệt chú ý đến tình hình sức khỏe của Stalin. Các ngành đặc biệt bên kia đại dương tích cực hoạt động vào mùa Thu năm 1945, khi lãnh tụ Liên Xô bị đột quỵ tưởng không qua khỏi. Họ biết rằng, những người bạn chiến đấu của Stalin đặc biệt lo lắng cho tình trạng sức khỏe đang xấu đi của ông.