Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

GIẢM HỌP ĐỂ BỚT “HÀNH”

Thời gian gần đây, giữa lúc đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, dư luận xã hội lại ghi nhận, hoan nghênh trước chuyển biến tích cực trong việc tổ chức họp hành của các cấp, các ngành. Ấy là việc giảm bớt số lượng cuộc họp, hạn chế các thủ tục hành chính rườm rà và khâu trang trí vốn ít nhiều gây tốn kém.

   Đặc biệt, việc tổ chức họp online, hội nghị trực tuyến đạt chất lượng tốt, đã giúp kiểm nghiệm, khẳng định tính đúng đắn trong thực hiện chủ trương cải cách hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý điều hành.

   Cái được khi tổ chức hội nghị online, hội họp trực tuyến còn thể hiện ở câu chuyện “có họp mà không có hội”. Nghĩa là, những cuộc họp vẫn diễn ra bảo đảm mục đích, yêu cầu, đạt hiệu quả, nhưng tránh được phần “hội”. Các đại biểu không phải cơ động, đi lại xa xôi, gây tốn kém tiền của, thời gian. Ban tổ chức và cơ quan chủ trì cũng giảm tải gánh nặng kinh phí khi không phải bảo đảm các mặt hậu cần, liên hoan sau hội nghị. Cũng nhờ đó mà Chính phủ và cơ quan nhà nước tiết kiệm được một khoản ngân sách không nhỏ để chi cho các hoạt động khác. Chính điều này cũng minh chứng cho việc, chúng ta đã và đang quyết tâm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề hội họp.

   Trong bài viết “Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội” đăng trên Báo Nhân Dân, số 2563, ngày 27-3-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ rõ: “Phải kiên quyết chống thói hội họp lu bù, mất thì giờ, hại sức khỏe mà không kết quả thiết thực”. Trên thực tế, Người luôn chú trọng rèn luyện tác phong lãnh đạo, chỉ đạo sao cho đem lại hiệu quả cao nhất; hạn chế tối đa việc hội họp, chỉ họp khi cần thiết, hạn chế họp dài, tránh tốn kém về thời gian, công sức của cán bộ, nhân dân. Ngày 3-9-1945, khi chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người phá bỏ những nghi thức thông thường và đi ngay vào nội dung cuộc họp, nêu rõ sáu công việc cấp bách phải làm. Tất cả mọi vấn đề được Bác nêu ra chỉ trong 30 phút với hơn 700 chữ. Trong thời gian ở Việt Bắc (1946-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ chủ tọa 59 phiên họp Hội đồng Chính phủ để chỉ đạo Chính phủ hiện thực hóa đường lối kháng chiến kiến quốc. Từ năm 1958-1960 là giai đoạn bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, Hồ Chí Minh chủ trì 115 cuộc họp các loại (bình quân họp hơn 3 lần/tháng).

   Từ câu chuyện của Bác và từ thực trạng tổ chức hội họp trên thực tế thời gian qua, giúp chúng ta lý giải vì sao dư luận lại hết sức bức xúc, mạnh mẽ lên án, đàm tiếu, gắn “họp” với “hành”-cho rằng đi họp chẳng khác gì việc bị hành; gắn “hội” với “họp” vì phần “hội” vui hơn phần “họp” nên phải “nhẹ phần phát biểu, nặng phần liên hoan”; lại có chuyện cán bộ từ chối tiếp dân, lười về cơ sở cũng chỉ vì “bận họp”,... Họp nhiều trở thành vấn nạn, thế nhưng, công bằng mà nói, việc tiết giảm hội họp không thể nóng vội mà cần có những bước đi phù hợp. Trong điều kiện hiện nay, phải nhất thiết duy trì chặt chẽ, hiệu quả và nâng cao chất lượng các cuộc họp trực tiếp cần thiết, nhất là việc giao ban, điều hành công việc thường xuyên. Đồng thời, cần khéo kết hợp giữa tổ chức hội họp trực tiếp với họp trực tuyến một cách phù hợp. Người chủ trì các cấp cần mạnh dạn ủng hộ tư duy mới, cách làm mới theo hướng tổ chức hội họp trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, nhưng không vì thế mà cổ xúy cho lối nghĩ sính ngoại, đơn thuần vận hành các cuộc họp nặng tính công thức, máy móc, bỏ qua tình đồng chí, đồng nghiệp, thiếu sự gắn bó, sẻ chia trong một hoạt động đặc thù.

   Tất nhiên, không thể phủ định sạch trơn những giá trị của phương thức tổ chức hội họp truyền thống, cũng không thể chậm trễ trong đổi mới phương thức tổ chức hội họp theo hướng hiện đại. Nhưng dù nhấn mạnh, ưu tiên xu thế nào đi nữa, thì cũng tất yếu phải nhất quán chủ trương cắt giảm số lượng, dung lượng và tần suất các cuộc họp, đồng thời nâng cao chất lượng thực chất, tính hiệu quả, sát đúng của nó. Đây vừa là mục tiêu của tiến trình cải cách hành chính, vừa là giải pháp hợp lòng dân, nhận sự đồng thuận cao ở tất cả các cấp. Bởi thế, hơn bao giờ hết, cả hệ thống chính trị phải thật sự đoàn kết, quyết tâm cao, quyết liệt "gọt tỉa" những mảng thừa thãi, rườm rà, tốn của, mất thời gian... trong tổ chức hội họp, để hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, vận hành bộ máy ngày càng trơn tru, hiệu lực, hiệu quả./. 

ĐOÀN QĐND VIỆT NAM ĐỨNG THỨ 7/42 QUỐC GIA, VÙNG LÃNH THỔ THAM DỰ ARMY GAMES 2021

Lần đầu tiên Đoàn QĐND Việt Nam đạt được kết quả này sau 4 năm tham gia Hội thao Quân sự quốc tế - Army Games.

Tại Army Games 2021, Đoàn QĐND Việt Nam có tổng cộng 7 huy chương/15 môn thi trong khuôn khổ Army Games (13 môn thi ở nước ngoài và 2 môn thi tổ chức ở Việt Nam): 1 Huy chương vàng; 2 Huy chương bạc, 4 Huy chương đồng; cùng nhiều huy chương về thể thức cá nhân, đồng đội khác cũng như xếp các thứ hạng cao trong từng nội dung, phần thi.

- Đội tuyển Bắn tỉa: Huy chương vàng môn thi “Xạ thủ bắn tỉa”
- Đội tuyển Hải quân nhân dân: Huy chương bạc môn thi “Cup biển”
- Đội tuyển Cứu hộ - Cứu nạn: Huy chương bạc môn thi “Vùng tai nạn”
- Đội tuyển Kinh tuyến: Huy chương đồng môn thi “Kinh tuyến”
- Đội tuyển Công binh: Huy chương đồng môn thi “Lộ trình an toàn”
- Đội tuyển Bếp dã chiến: Huy chương đồng môn thi “Bếp dã chiến”
- Đội tuyển Thông tin liên lạc: Huy chương đồng môn thi “Kỹ năng thành thục”

Các thành tích khác của Đoàn QĐND Việt Nam:

- Đội tuyển Hóa học: Huy chương bạc và 7 danh hiệu cá nhân xuất sắc phần thi bắn súng trong môn thi “Môi trường an toàn”
- Đội tuyển Huấn luyện chó nghiệp vụ:
Huy chương bạc thể thức đồng đội bài thi “Tay súng thiện xạ” trong môn thi “Người bạn trung thành”
Huy chương đồng thể thức cá nhân (VĐV Triệu Thế Bộ - Noipin) bài thi “Tay súng thiện xạ” trong môn thi “Người bạn trung thành”
- Đội tuyển Văn hóa – Nghệ thuật:
Cúp đội tuyển có video tự giới thiệu được yêu thích nhất
Cúp đội tuyển được khán giả yêu thích nhất
8 giải thưởng lớn khác trong lần đầu tham gia thi
- Đội tuyển Pháo binh:
Giải nhất trong số 5 nước không thuộc khối SNG
Giải cá nhân xuất sắc nội dung bắn súng BB môn thi “Pháo thủ giỏi”
- Đội tuyển Xạ thủ chiến thuật: Xếp thứ 4/10 nước tham gia thi môn “Xạ thủ chiến thuật”

Với các môn thi mà Đoàn QĐND Việt Nam đã từng tham gia, đa số các môn đều có thành tích cao hơn hoặc bằng năm ngoái cho dù số đội tuyển của các nước tham gia thi nhiều hơn và điều kiện môn thi cũng khó hơn.

Ở mỗi nội dung thi, các quân nhân được cử đi tham gia đều là những chiến binh giỏi nhất, xuất sắc nhất của mỗi đơn vị, là niềm tự hào của các quân binh chủng nói riêng, Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung. Trên ngực trái tấm áo thi đấu các anh thêu lá cờ Tổ quốc, và ở vị trí đó, trái tim mỗi người đã luôn đập vì màu cờ ấy, sắc áo ấy suốt quá trình tranh tài. Các tuyển thủ của chúng ta đã được cọ sát, thử sức với những đội tuyển đến từ các quốc gia có nền quân sự, quốc phòng lớn mạnh, thuộc top đầu trong khu vực và trên thế giới.

Đoàn QĐND Việt Nam tham gia Army Games 2021 đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đạt những thành tích tốt nhất qua 4 kỳ tham gia Hội thao Quân sự quốc tế. 

CẦN LAN TỎA TỐT HƠN NỮA “GIÁ TRỊ VĂN HÓA, SỨC MẠNH CON NGƯỜI VIỆT NAM”

Tuyên truyền, lan tỏa tốt hơn nữa “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” chính là đã thiết thực và sâu sát trong kiến tạo niềm tin, bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay. Ngoài ra, còn quán triệt sâu sắc định hướng phát triển văn hóa trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng...

    Bảo vệ giá trị tinh thần cốt lõi

   Văn hóa là tổng thể toàn bộ các giá trị tinh thần và vật chất mà con người sáng tạo ra để thích ứng với hoạt động sống, sinh tồn, phát triển của con người. Văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người và xã hội với vai trò là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, sức mạnh nội sinh, quyền lực mềm của phát triển bền vững; với các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giải trí, giao tiếp, dự báo… đặc thù. Văn hóa đã tác động lớn đến việc xây dựng và hoàn thiện nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; đến việc hình thành, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách con người. Văn hóa còn góp phần nuôi dưỡng tinh thần và kích hoạt các năng lực sáng tạo tiềm ẩn của con người. Thông qua văn hóa và môi trường xã hội, con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của phát triển, nỗ lực đáp ứng yêu cầu của phát triển văn hóa, con người, phát triển bền vững đất nước.

   Trên thực tế, văn hóa - nền tảng tinh thần - chính là không gian tinh thần, hệ tư tưởng, tình cảm, niềm tin, các quan niệm đạo lý, pháp lý, các chuẩn mực chân, thiện, mỹ, khí thế, khát vọng của quần chúng nhân dân trong xã hội. Nền tảng tinh thần ấy chính là sức mạnh quyền lực mềm của văn hóa, là sức mạnh quyền lực mềm của hệ thống giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa đương đại Việt Nam.

   Hiển nhiên, nền tảng tinh thần của quốc gia, dân tộc và của xã hội, của con người Việt Nam hôm nay có chắc, khỏe, vững mạnh mới có cơ sở để thúc đẩy các nhiệm vụ chính trị khác cùng vận hành và phát triển tốt; mới đủ sức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

   Nghị quyết Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII nêu nhiệm vụ “Khơi dây khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế.” Nhiệm vụ này gắn trong bối cảnh xây dựng văn hóa, con người Việt Nam hiện nay đòi hỏi văn hóa, con người phải kế thừa, phát huy được giá trị tích cực, tốt đẹp của văn hóa truyền thống của dân tộc; tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại, khẳng định được bản sắc, cốt cách, bản lĩnh của dân tộc trong giao lưu, hợp tác quốc tế. Muốn vậy, văn hóa, con người Việt Nam cần phải có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng các chuẩn mực trong nước, chuẩn mực khu vực và quốc tế; đủ năng lực đón nhận cơ hội, thách thức do toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại. Chỉ có như vậy, văn hóa, con người Việt Nam  mới trở thành sức mạnh nội sinh, quyền lực mềm của sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Khi đó, văn hóa, con người Việt Nam mới bảo về được nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác được các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Việc “Khơi dây khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong văn hóa, con người Việt Nam khi đó mới thực sự đi vào cuộc sống và có sức lan tỏa kích hoạt các khát vọng, hoài bão, ước mơ.

   Con người và văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những bản sắc riêng đã khẳng định và định vị đươc vị thế trong thực tiễn lịch sử chống giặc ngoại xâm, giữ nước, giành độc lập tự do cho dân tộc; trong các cuộc chiến chống giặc dốt, giặc đói trong thời bình. Thế giới ghi nhận người Việt Nam thông minh, trí tuệ, nhân văn, lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, quân sự, nông nghiệp, văn hóa, thể thao, chính trị… lĩnh vực nào cũng có sự ghi danh, có dấu ấn thành tích của con người Việt Nam; trở thành đất nước có đủ lương thực, thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới, có thứ gạo - ngọc của đất - ngon nhất thế giới; đặc biệt hơn, trong cuộc chiến chống giặc COVID-19, quốc gia hình chữ S trên bản đồ thế giới, được ghi nhận, đánh giá có nhiều điểm sáng trên toàn cầu trong nỗ lực phòng chống dịch bệnh.

   Tuyên truyền, lan tỏa tốt hơn nữa “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” chính là đã thiết thực và sâu sát trong kiến tạo niềm tin, bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay. Ngoài ra, còn quán triệt sâu sắc định hướng phát triển văn hóa trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”. Thể chế chính trị Việt Nam hôm nay đang vào cuộc. Cả hệ thống chính trị đã và đang triển khai đồng bộ, sâu sát đến từng nhà, từng công dân...

   Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng các dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiên cường trong hoạn nạn, bởi khí phách hào hùng trong giữ nước và dựng nước.” …; “Cốt lõi của sức sống đó là văn hóa với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả một hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sức nhạy cảm tiếp thụ cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ bản lĩnh và bản sắc của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để tự bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.”. Thế hệ cha ông đi trước và hôm nay, với trên 97 triệu dân Việt Nam, văn hóa là nền tảng tinh thần, là sức sống, phẩm chất, bản lĩnh, cốt cách của dân tộc, con người Việt Nam, gắn với lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam. Văn hóa ấy cần được bảo tồn, gìn giữ, kế tục và phát huy. Văn hóa ấy sẽ giúp mỗi người Việt Nam có cơ sở, nền tảng lựa chọn cho mình các hành vi văn hóa, bản lĩnh, cốt cách văn hóa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn xã hội Việt Nam trong giao lưu, hội nhập, mở cửa, tôn trọng, cầu thị với các giá trị văn hóa khác biệt. Văn hóa ấy được kế thừa, phát triển sẽ làm nên một diện mạo, đặc trưng, sức sống mới, thể hiện trình độ phát triển, đặc tính nhân văn, ưu việt, vẻ đẹp Chân, Thiện, Mỹ của con người, đất nước Việt Nam.

   Con người Việt Nam, với cộng đồng các dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể của dân tộc đã tạo dựng được những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng phong phú, đa dạng. Những giá trị văn hóa bền vững, trường tồn tiêu biểu cho bản lĩnh, bản sắc, sức sống, phẩm giá của dân tộc, của con người Việt Nam tiếp tục tỏa sáng, soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau vững bước trưởng thành trong xây dựng, kiến tạo môi trường văn hóa Việt Nam tốt đẹp hơn trong giao lưu hội nhập quốc tế vì phát triển bền vững đất nước.

   Các nội dung trên không chỉ “phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần”,  mà còn thúc đẩy quá trình đầu tư xây dựng con người Việt Nam của thế kỷ XXI năng động, sáng tạo, kế thừa, học hỏi, hòa hợp tốt các giá trị văn hóa truyền thống và giá trị văn hóa hiện đại: tiếp nối được truyền thống yêu nước nồng nàn; gia tăng ý chí tự cường, tự tôn dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, cộng đồng; nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao động; tinh tế trong ứng xử, giản dị trong cuộc sống; dân chủ và trách nhiệm trong xã hội; công khai, minh bạch; trung thực, khách quan, bản lĩnh; tương trợ, hợp tác; khoa học và sáng tạo; thượng tôn pháp luật; … Đây là cơ sở để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ giá trị văn hóa Việt Nam hôm nay: vừa in đậm được dấu ấn sắc thái, bản sắc, cốt cách, bản lĩnh Việt Nam không thể hòa tan, trộn lẫn trước bất kỳ ý đồ xâm lăng hay đồng hóa văn hóa nào, vừa kiến tạo được nền văn hóa Việt Nam hòa hợp, hội nhập tốt trong giao lưu, học hỏi các nền văn hóa đa dạng, tiến bộ khác trên toàn cầu. Nền văn hóa Việt Nam ngày càng hoàn thiện, thấm nhuần các giá trị nhân văn, dân chủ, tiến bộ, khoa học và hội tụ đủ sức mạnh nội sinh để thấm sâu, lan tỏa rộng khắp trong toàn bộ đời sống xã hội. Tất cả góp phần dần hoàn thiện hệ giá trị con người Việt Nam trong thế kỷ XXI; kiến tạo ra những công dân của nền văn hóa số, của Chính phủ số Việt Nam, bổ sung thêm những giá trị văn hóa, con người mới. Những con người không chỉ có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc trưng cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, chăm chỉ mà còn có trí tuệ giàu có; đời sống tinh thần phong phú; đạo đức trong sáng; thể chất, thể lực mạnh mẽ; có nếp sống văn minh, hiện đại; có trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; có ý thức thượng tôn pháp luật; có tư duy độc lập, sáng tạo; có tinh thần hợp tác, phục vụ …

   Ngoài ra, họ còn là thế hệ kế tục, tiếp nối, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; chân thành, thẳng thắn, hiếu học, khát khao cập nhật những cái mới về tin học, về khoa học công nghệ hiện đại, về ngoại ngữ và văn hóa toàn cầu… Những con người Việt Nam này chính là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các bước chuyển của Chính phủ số, phát triển kinh tế số, văn hóa số, môi trường xã hội số hiện tại và tương lai. Tất cả sẽ khẳng định chắc chắn và lan tỏa tốt hơn nữa: “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” và “phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần” trong việc đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay.

     Cần lan tỏa tốt hơn nữa “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”

   Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay cần thực thi, lan tỏa rộng khắp và mạnh mẽ trong toàn xã hội “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”. Văn hóa là lĩnh vực quan trọng, một trong các trụ cột phát triển của quốc gia, dân tộc. Văn hóa là nhân tố hàng đầu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng, đạo đức, lối sống vốn là lĩnh vực then chốt của văn hóa, cũng là quan điểm quan trọng trong đường lối lãnh đạo của Đảng.

    Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay từ góc nhìn văn hóa, con người thì cái được lớn nhất sẽ là sớm hoàn thiện, gọi tên, thống nhất, đồng thuận được “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; cũng sớm hướng đích mục tiêu lĩnh vực văn hóa Việt Nam quan tâm, coi trọng, đó là: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”; đồng thời còn tạo được đà bứt phá trong lộ trình đạt mục tiêu tổng quát của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII: “Năm 2025 nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.”

   Khi lan tỏa được được “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”, nền tảng tinh thần Việt Nam cũng có nghĩa đã bước đầu hướng đến hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị con người Việt Nam trong tình hình mới. Cái được tiếp theo của văn hóa, con người Việt Nam hôm nay là khẳng định được bản lĩnh, sức mạnh nội sinh để bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi tình huống, để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá trong tình hình hiện nay. Đồng thời tạo được niềm tin vào sức mạnh, nội lực từ chính nền văn hóa, con người Việt Nam; tin văn hóa, con người Việt Nam có thể làm và hiện thực hóa được những khát vọng lớn lao của cả dân tộc trong mọi tình huống, kể các những tình huống khó khăn nhất đến từ các thế lực thù địch ở trong và ngoài quốc gia; đến từ thiên tai hạn hán, lụt lội, bão tố, mưa giông trong thiên nhiên, hay đến từ đại dịch COVID-19 đã và đang bùng phát liên tục nhiều lượt.

   Để tiếp tục duy trì, phát huy góc nhìn mới còn rất nhiều việc phải làm. Những việc xem như giải pháp vĩ mô để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch hiện nay, có thể kể đến các việc như: Tiếp tục phát huy đổi mới xây dựng văn hóa, con người trong lộ trình hoàn thiện Chính phủ điện tử, chính phủ số, và cải cách hành chính Nhà nước 2021 - 2030; Xây dựng văn hóa, con người cần đặt trong lĩnh vực chính trị và tư tưởng chung của quốc gia dân tộc, đặt trong xây dựng Đảng và thể chế chính trị Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chú trọng đặc biệt mối quan hệ giữa chính trị và văn hóa ở chiều cao và chiều sâu, trong đó cốt lõi là những giá trị văn hóa trong lãnh đạo, cầm quyền và quản lý các cấp trong bộ máy Nhà nước; Xây dựng văn hóa, con người trong xã hội kiến tạo kiểu mới, vì nhân dân phục vụ cần tạo điều kiện nghe, tôn trọng các ý kiến phản biện tích cực của công dân, có lộ trình nâng cao dân trí công dân để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng các thành tựu trong lĩnh vực văn hóa xã hội.

   Góc nhìn mới - xây dựng Văn hóa, con người Việt Nam để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch hiện nay còn cho thấy văn hóa, con người Việt Nam tiếp biến, chuyển hóa, dần hoàn thiện theo chiều hướng tích cực, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn xã hội, chủ động hội nhập toàn cầu trong thế giới phẳng, chủ động bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chủ động hướng đến các giá trị văn hóa, con người tốt đẹp hơn, chân, thiện, mỹ hơn. Và chủ động trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; trong đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch.

   Trong tình hình hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch từ góc nhìn mới - góc xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đích thực, trước hết, sẽ bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác được các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới bằng chính sức mạnh của con người và nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

   Cùng với đó, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ổn định, hòa bình, sớm trở thành nước phát triển; mọi đích đến mục tiêu căn cốt, cụ thể trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thiết thực, hiệu quả vì mục tiêu phấn đấu xây dựng là một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

   Văn hóa, con người Việt Nam hôm nay luôn trong quá trình thức tỉnh, cầu thị, hướng chân, thiện, mỹ vì hạnh phúc cộng đồng chung trên dải đất hình chữ S thân thương và vì cả nhân loại chắc chắn sẽ phát triển bền vững, phồn vinh hạnh phúc. Cuộc chiến bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới tại Việt Nam sẽ thành công, ổn định, hòa bình, thành một nước phát triển không chỉ là kỳ vọng cho tương lại mà sẽ là thực tiễn của khoảnh khắc hạnh phúc trong thực tại./. 

ARMY GAMES- "OLYMPIC" QUÂN SỰ

 Nếu Olympic là sự kiện thể thao quốc tế với những đòi hỏi cao nhất về trình độ chuyên môn thì có thể coi Army Games là một Olympic quân sự, nơi quân đội các nước cử những lực lượng được tuyển chọn tốt nhất tham gia tranh tài ở rất nhiều môn thi đấu. Tham gia Army Games giúp nâng cao khả năng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của quân đội, đồng thời là cơ hội để củng cố lòng tin, tăng cường tình hữu nghị vì hòa bình giữa các quốc gia, dân tộc.

Thực tế thế giới ngày nay cho thấy, quân đội của hầu hết các nước không phải trải qua chiến tranh. Do đó, để đánh giá đúng khả năng sẵn sàng chiến đấu hoặc chiến đấu đối với quân đội của một quốc gia nào đó là vấn đề rất khó. Các cuộc diễn tập trong nước, song phương hoặc đa phương mới chỉ phần nào đánh giá được thực lực. Do vậy, Army Games là cơ hội quý để quân nhân của quân đội các nước trực tiếp cọ xát, tranh tài với nhau một cách sòng phẳng để có đánh giá đúng về năng lực của mình.

Chính Đại tướng Sergei Shoigu, Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang (LB) Nga đã đưa ra ý tưởng tổ chức các cuộc thi trong nội bộ Các lực lượng vũ trang LB Nga năm 2013 sau khi các cuộc kiểm tra cho thấy khả năng sẵn sàng chiến đấu của nhiều đơn vị chưa đạt yêu cầu. Army Games bắt đầu từ đó và tới năm 2015 được nâng lên tầm quốc tế. Cũng từ đó tới nay, Army Games ngày càng trở nên nổi tiếng, thu hút sự tham gia của nhiều nước hơn, số môn thi đấu cũng được mở rộng và số quốc gia cùng LB Nga đăng cai tổ chức cũng ngày càng tăng. Tầm quan trọng của Army Games được khẳng định hơn khi trong lúc đại dịch Covid-19 đang hoành hành thì Army Games 2021 thu hút 277 đội tuyển của 42 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia thi đấu 34 môn thi ở hàng chục thao trường tại 11 quốc gia. Một Army Games-Olympic quân sự-lớn nhất trong lịch sử. Chưa dừng lại ở đó, theo tiết lộ của Thiếu tướng Aleksandr Peryazev, Phó cục trưởng Cục Quân huấn Các lực lượng vũ trang LB Nga, Army Games 2022 sẽ có sự tham gia của ít nhất 49 quốc gia với hơn 300 đội tuyển.

Theo dõi 34 môn thi gồm hàng trăm bài thi mới thấy các nội dung thi đấu rất sát với thực tế chiến đấu. Không chỉ các kíp xe tăng ganh đua nhau tiêu diệt nhiều mục tiêu nhất và về đích với thời gian nhanh nhất, các bác sĩ quân y hay anh nuôi cũng phải biết bắn súng trong khi các xạ thủ bắn tỉa phải thực hiện những bài bắn ở các tư thế khó trong tình huống chiến thuật tấn công hoặc phòng ngự. Tựu trung, mọi nội dung thi của Army Games đều gắn chặt với thực tế huấn luyện và chiến đấu của mọi lực lượng trong quân đội. Đặc biệt, có những nội dung giúp tăng cường khả năng xử lý tình huống có lợi cho cả lĩnh vực dân sự như môn thi Vùng tai nạn khi các tuyển thủ phải xử lý thảm họa và cứu người gặp nạn một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.

Trong xu thế ấy, tham gia Army Games cũng góp phần thiết thực xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Tại Army Games 2021, QĐND Việt Nam không chỉ cử số lượng đội tuyển tham gia thi đấu nhiều nhất từ lần đầu tham gia 4 năm trước mà còn chủ động đứng ra đăng cai hai môn thi Vùng tai nạn và Xạ thủ bắn tỉa ở Việt Nam. Lần thứ tư tham gia, thành tích các đội tuyển của đoàn QĐND Việt Nam đã được cải thiện, lấp lánh nhiều tấm huy chương cho các tập thể và cá nhân. Nổi bật nhất là thành tích 1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc và 4 huy chương đồng của đoàn QĐND Việt Nam tại Army Games năm nay. Thế nhưng, điều thiết thực nhất lại nằm ở chỗ QĐND Việt Nam đã học hỏi, rút kinh nghiệm cho việc tổ chức thi đấu, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cũng như củng cố lòng tin, quảng bá hình ảnh một quân đội vì hòa bình.

Tham gia Army Games, các đội tuyển của QĐND Việt Nam phải thi đấu với các đội tuyển của các nước khác có thể lực tốt, được trang bị tốt và luyện tập với nhiều vũ khí, trang thiết bị tiên tiến. Vậy nhưng, khi nhìn vào thành tích thi đấu, chúng ta sẽ thấy niềm tự hào, kiêu hãnh về một QĐND Việt Nam với khả năng chiến đấu cao. Ở môn thi Cúp biển, Đội tuyển Hải quân nhân dân Việt Nam đã giành huy chương bạc ngay lần đầu tham gia, chỉ đứng sau đội tuyển của nước chủ nhà LB Nga, trong đó có một số nội dung thi đấu có thành tích nhất hoặc ngang bằng với LB Nga. Hay như trong môn thi Kinh tuyến, đội tuyển của QĐND Việt Nam đã giành huy chương đồng trong lần đầu tham gia. Các đội tuyển còn lại đều thi đấu với thành tích tốt hơn hoặc giữ được thứ hạng so với các kỳ Army Games trước.

Với công tác huấn luyện trong nước, một số quân, binh chủng đã lựa chọn, áp dụng một số nội dung, yêu cầu đúng như trong Army Games hoặc theo hướng tổ chức của Army Games. Hội thao của Binh chủng Công binh, Tăng thiết giáp... trong năm 2021 đã nói lên điều đó khi các môn thi được tổ chức theo tính liên hoàn, cạnh tranh theo từng đội, đòi hỏi cao về bản lĩnh, thể lực, kỹ năng, kỹ thuật của cá nhân cũng như công tác phối hợp hiệp đồng trong từng kíp chiến đấu. Những kinh nghiệm quý tích lũy trong quá trình tham gia Army Games đã được áp dụng triệt để trong công tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của Quân đội ta.

Army Games là sự kiện đối ngoại quốc phòng quan trọng của QĐND Việt Nam, cũng như quân đội nhiều nước. Army Games cũng ngày càng trở nên nổi tiếng. Tại Army Games 2021-Olympic quân sự-những tấm huy chương, những thành tích cá nhân và tập thể của đoàn QĐND Việt Nam là những dấu ấn lớn trên đấu trường quốc tế.

PHẢN BIỆN VÀ CHÊ BAI

 Phản ánh là thuộc tính của vật chất dưới mọi hình thức tồn tại.


Bao giờ và ở đâu cũng vậy, sự đánh giá, nhận xét, phản biện, tranh luận một cách công tâm, trung thực, thắng thắn, công khai, khách quan trước mọi sự kiện, hiện tượng xã hội là một việc luôn luôn cần thiết. Đó là sự phản ánh hiện thực, mang tính cảnh báo, nhận diện xu thế và là một trong những động lực góp phần điều chỉnh cho sự phát triển.

Sự vật, hiện tượng nào cũng đều có tính hai mặt: xấu, tốt. Chỉ khác nhau về phạm vi, tính chất và mức độ. Nói chung, không có cái gì tốt cả hoặc cái gì xấu cả. Tấm Huân chương nào cũng đều có mặt trái. Đòi hỏi thái độ nhìn nhận phải khách quan, với mục đích chung là mong muốn mọi việc ngày một tốt hơn. Trong xã hội hễ có điều gì bất bình, thì con người ta - bất cứ là ai - đều có quyền đánh giá, nhận xét, phản ánh dưới mọi hình thức.

Hơn hai năm qua, nhất là thời gian gần đây, cả đất nước ta phải gồng mình để chống đại dịch Covid – 19. Tính đến nay, cả nước ta có tới hơn 43, 5 vạn ca nhiễm. Riêng đợt dịch thứ 4 bùng phát từ ngày 27/4/2021 đến nay là hơn 43, 1 vạn ca. Đã có 21, 7 vạn ca được công bố là khỏi bệnh. Số ca tử vong tính đến nay là hơn 1, 1 vạn người ( chiếm tỷ lệ 2, 5 % số ca mắc ). Số ca mắc mới ngày mỗi tăng. Ngày hôm qua, 30/8/2021, số mắc mới là 14.224 ca, không biết đã là kỷ lục chưa ?! Tình hình dịch bệnh Covid là mối quan tâm cập nhật thường xuyên của mọi người. Ai ai cũng lo lắng. Số người bị nhiễm dịch, số người tử vong và thiệt hại về vật chất đã là rất lớn. Nhưng chưa ai có thể dự báo được đỉnh điểm của dịch Covid sẽ là thế nào và đến bao giờ kết thúc. Hay là, dịch Covid sẽ song song tồn tại với con người dưới một mức độ nhất định nào đó. Thiệt hại về dịch bệnh Covid hiện tại đã là rất lớn, nhưng chắc chắn là tác động ảnh hưởng của nó sẽ còn lâu dài đến đời sống xã hội và nền kinh tế đất nước. Chính phủ và Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch Covid- 19 thường xuyên họp, đánh giá tình hình, kịp thời đưa ra những giải pháp cấp thiết. Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, cùng với việc điều hành phối hợp tầm vĩ mô ở “Tổng Hành Dinh“, đã nhiều lần dành thời gian xông xáo, bất chấp nguy hiểm, xuống tận cơ sở, thị sát các trung tâm ổ dịch, thăm hỏi bà con, nắm bắt tình hình, trực tiếp chỉ đạo tại chỗ. Lãnh đạo các cấp, các ngành đã vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, tháo gỡ từng vấn đề trong chỉ đạo tổ chức thực hiện. Theo sự điều hành của Thủ tướng Chính phủ, dưới sự chỉ huy của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, các đơn vị quân đội – chủ yếu là ngành Quân y – đã cử hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ đến hỗ trợ, chung sức cùng địa phương giúp nhân dân vùng dịch, với nhiều việc làm thiết thực cụ thể, được nhân dân tin tưởng.

Trước tình hình đó, nhiều người trên cương vị phạm vi khác nhau, với truyền thống “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” (mọi người dân đều có trách nhiệm trước các vấn đề hệ trọng của đất nước) đã có những kiến nghị, những ý kiến phản biện đến các cấp, các ngành. Nhà nước và các ngành hữu quan cần ghi nhận, nghiên cứu tham khảo các ý kiến xác đáng đó.

Tuy nhiên, trong khi đại dịch Covid đang hoành hành trên một số địa phương và nguy cơ ở nhiều địa phương khác, thì bên cạnh những ý kiến tâm huyết đề xuất hoặc phản biện với trách nhiệm công dân, trên các trang mạng xã hội cũng xuất hiện ý kiến chê bai, dèm pha, dè bỉu, phê phán sự điều hành của chính quyền các cấp và sự tư vấn, chỉ đạo, hướng dẫn của các cơ quan chức năng.

Khẩu hiệu : “Chống dịch như chống giặc“ là biểu thị quan điểm tư tưởng quyết tâm của cả hệ thống chính trị và toàn thể đất nước, nhằm bảo vệ tính mạng nhân dân và giữ vững nền kinh tế - xã hội đất nước. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc ta đã đương đầu với rất nhiều nhiều loại giặc ngoại xâm khác nhau. Nhưng không có loại giặc nào như “giặc” Covid. Bởi, đây là một loại “giặc”  không hình hài, không phân trận tuyến. Chính nó đã và đang làm khuynh đảo nhiều cường quốc khoa học công nghệ và kinh tế trên thế giới, cướp đi hơn 4 triệu sinh mạng. Coi chống dịch như chống giặc, nhưng chúng ta không vận dụng các hình thức chiến thuật, chiến dịch, chiến lược trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để chống lại đại dịch Covid. Cuộc chiến này chưa có tiền lệ. Do đó, sự lúng túng cụ thể trong khâu điều hành chung hoặc tổ chức triển khai việc nọ, việc kia ở các cấp, các ngành - Âu cũng là điều dễ hiểu. Khi Chính phủ có chủ trương đưa lực lượng quân đội vào hỗ trợ một số địa phương giúp nhân dân an sinh tại một số ổ dịch trọng điểm, thì có người nói rằng, sinh ra lực lượng quân đội là để sẵn sàng đánh giặc giữ nước, chứ không phải đi chợ tiếp phẩm cho dân, không phải là shipper.
Nhiệm vụ kép lúc này là: Chống dịch không được buông; Cuộc sống chẳng thể dừng.

Ở đời, có một hiện tượng thật lạ: Một số người trên thực tế chẳng có tài cán và công đức gì, nhưng họ chê hết mọi thứ từ thượng vàng đến hạ cám. Họ chê bất cứ cái gì, ở đâu, lúc nào . Họ chê nhiều rồi thành thứ bệnh “nghiện chê”, thành một thói quen không hay. Họ nhìn đời toàn một màu xám . Hễ mở miệng cất lời là chê. Tuồng như, không chê được là bứt rứt, khó chịu. Khi họ chê mà không được người khác cộng hưởng đồng tình, thì tự khắc họ không bằng lòng mà cho rằng: người đối thoại không biết nói chuyện, không phải là chỗ đồng cảm, tâm giao.

“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” ( cái gì mình không muốn thì đừng bắt người khác phải chịu ). Mình không thích nghe người khác chê, thì đừng bắt họ phải nghe lời chê từ minh. Nói chung, con người ta từ đứa trẻ đến các bậc danh nhân đều thích được khen, thích được người khác cho là quan trọng. Chê bai là làm ngược lại điều đó. Chê bai là khởi thủy của sự mất đoàn kết. Lời dè bỉu, chê bai sẽ thành mồi lửa làm nổ tung kho thuốc súng của lòng tự trọng, tự tôn, tự ái luôn tiềm ẩn trong mỗi con người. Lời nói xấu người khác ở bất cứ đâu cứ như ném một hòn đá lên trời, sau đó sớm muộn lại rơi đúng đầu mình. Người xưa nói: "Hàm huyết phún nhân, tiên ô ngã khẩu". Có nghĩa là, ai đó ngậm máu phun người, thì trước hết đã là làm bẩn miệng mình. Nhiều người đã tổng kết: "Bệnh tật đi vào cơ thể bằng đường miệng. Tai họa lại từ cửa miệng mà ra". Do đó, ở đời đừng xúc phạm, chê bai ai cái gì đó khi không đủ hiểu biết hoặc không liên quan trực tiếp đến bản thân mình.

Tóm lại, phản biện và chê bai là hai hình thức xuất phát từ hai động cơ hoàn toàn trái ngược nhau. Cần tỉnh táo phân biệt giữa việc phản biện nói lên sự thật với sự chê bai. Xuất phát từ động cơ trong sáng, phương pháp thẳng thắn, chân thành phản biện góp ý xây dựng bằng thái độ tinh tế, lịch lãm là điều rất cần thiết. Ngược lại, mọi người cần lên án việc chê bai, xuyên tạc dưới mọi hình thức.

RỐI NHƯ GIẤY ĐI ĐƯỜNG

 Thông tin được nhiều người dân và doanh nghiệp quan tâm, bàn luận, phản biện trong hai ngày cuối tuần qua là họ sẽ lưu thông như thế nào khi thành phố Hà Nội ban hành quy định về việc cấp giấy đi đường mới.


Không chỉ Hà Nội, người dân, doanh nghiệp ở nhiều địa phương khác cũng luôn theo dõi sát sao địa phương mình, hay địa phương liên quan đến việc lưu thông của mình có thay đổi quy định về việc đi lại hay không. Riêng các doanh nghiệp thì họ xoay như chong chóng trong việc chạy theo thủ tục, giấy tờ vì nó liên quan trực tiếp đến việc đưa ra kế hoạch bảo đảm sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa. Cán bộ một ngân hàng thương mại có trụ sở trên phố Ngô Quyền (Hoàn Kiếm, Hà Nội) cho biết, ngân hàng họp đến 22 giờ ngày thứ bảy để tính toán các biện pháp thực hiện quy định theo chỉ thị mới của thành phố, trong đó trọng tâm là thành phố siết chặt việc đi lại. Phương án cuối cùng được chốt là điều chỉnh một số chỉ tiêu, chỉ đi làm với 30% quân số, một bộ phận thực hiện “3 tại chỗ” dù khó khăn. Tuy vậy, đến tối chủ nhật (5-9), ngân hàng vẫn chưa nhận được hướng dẫn cụ thể việc cấp giấy đi đường mới cho tổ chức tín dụng...

Vì sao người dân hay doanh nghiệp phải theo dõi nhất cử nhất động từng yêu cầu trong quy định về việc đi lại này? Câu trả lời là, vì nó liên quan trực tiếp đến cuộc sống, đến cơm áo gạo tiền, đến công việc làm ăn của họ. Giám đốc một doanh nghiệp từng phát biểu rằng: "Với việc kinh doanh hàng tươi sống như doanh nghiệp chúng tôi, thì phần lưu thông phải có kế hoạch chi tiết đến từng giờ, chứ không thể tính theo ngày”. Trường hợp lưu thông mà bế tắc, xuất nhập hàng hóa trục trặc, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với việc bị kiện, bị phạt hợp đồng. Hệ lụy xấu nhất là đối tác hủy giao dịch, hủy hợp đồng, người lao động mất việc.

Việc các địa phương siết chặt các quy định, trong đó có quy định đi lại để phòng, chống dịch là phù hợp với thực tiễn và được đa số người dân ủng hộ. Tuy vậy, dư luận rất băn khoăn đến thời điểm ban hành và tính khả thi khi thực hiện. Trước mỗi vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội thì nó không đơn thuần là một quyết định hành chính mà phải coi đây là một chính sách vì có sự tác động, ảnh hưởng đến nhiều đối tượng. Chính sách ấy cần được xây dựng chặt chẽ, khoa học, có lộ trình phù hợp. Trên thực tế, thời gian qua, có những địa phương ban hành các quyết định vào ngày nghỉ cuối tuần nhưng lại yêu cầu thực hiện ngay vào ngày đầu tuần mà chưa lường hết những khó khăn, bất cập. Một đại biểu Quốc hội đã từng lên tiếng rằng: Cuối tuần ra quy định, đầu tuần có hiệu lực ngay khiến người dân không kịp xoay xở, họ phải có thời gian chuẩn bị giấy tờ, xin xác nhận, những việc mà có khi một, hai ngày làm chưa xong.

Việc quy định thay đổi giấy đi đường như các địa phương ban hành thời gian qua hoàn toàn có thể dự kiến trước và thông tin sớm đến công chúng để người dân, doanh nghiệp không bị động, có thời gian chuẩn bị. Tình hình dịch ở mỗi tỉnh, thành phố được thông tin hằng ngày trên các phương tiện truyền thông. Địa phương nếu muốn ban hành các quy định hay chính sách mới (đơn cử như vấn đề đi lại) thì có thể chủ động họp bàn, dự kiến sớm phương án để lắng nghe phản biện từ dư luận chứ không nên để dư luận cứ thắc thỏm, suy đoán về các quyết định của mình. Người dân chỉ thực sự tin tưởng, hợp tác và chấp hành tốt nhất các chủ trương, chính sách khi họ được thông tin chuẩn xác, chính thống và sớm nhất. Muốn làm được thế, đòi hỏi công tác tham mưu chính sách phải chuẩn xác, chu đáo, chặt chẽ, tính đến tất cả các yếu tố có lợi và bất cập. Người tham mưu chính sách phải rất hiểu cơ sở, đặt mình vào vị trí của chính người thực hiện thì chính sách đó mới đi vào cuộc sống.

Ai cũng hiểu cái khó và quyết tâm của các địa phương là mong muốn nhanh chóng khống chế được dịch. Dù vậy, trong cái khó ấy, các địa phương phải tính toán thấu đáo những giải pháp, quyết liệt nhưng linh hoạt, sáng tạo và tuân thủ quy định theo đúng nhiệm vụ được giao, không đẩy cái khó cho người dân, doanh nghiệp. Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu các địa phương trong phòng, chống dịch không được “đẻ thêm giấy phép con”. Tinh thần ấy rất cần được quán triệt nghiêm túc.

 Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc”, ngày 07 tháng 9 năm 1957.

Đây là thời điểm cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ mới sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Lúc này, miền Bắc đang trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó đặt ra phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ và năng lực, đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhắc nhở đối với người đảng viên phải luôn cố gắng vươn lên, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, tự nâng cao trình độ của mình. Đây cũng là yêu cầu của Bác, trước khi muốn cải tạo xã hội, tự thân người đảng viên phải tự cải tạo mình, tự học, tự rèn để không ngừng tiến bộ. Lời Bác dạy có tác dụng to lớn trong việc nâng cao nhận thức của người đảng viên, trước hết đối với việc xác định động cơ, thái độ phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực. Đồng thời, câu nói có ý nghĩa là phương châm hành động, mục tiêu phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập, tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên. Là người lãnh đạo, đảng viên phải là lực lượng xung kích, đi đầu, phải nêu gương về mọi mặt trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, đảng viên cần không ngừng cải tạo mình, tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều của đời sống xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực, đòi hỏi người đảng viên phải nâng cao bản lĩnh, trình độ, để không bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải thực sự là một tấm gương tốt cho bộ đội học tập, noi theo, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn; thường xuyên có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện mình. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phải luôn đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi cao, do vậy phải có động cơ, thái độ đúng đắn, rõ ràng. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được ý nghĩa của việc “tự cải tạo”, “tự nâng cao”, coi đó là một nhu cầu tự thân. Không tự ti, giấu dốt, luôn có thái độ cầu tiến bộ, xóa bỏ tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, vì tập thể, đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước. Có như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên mới thực sự mẫu mực về phẩm chất và năng lực, là tấm gương có sức lan tỏa rộng rãi, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

 Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân... đồng thời giảm nhẹ dần sự đóng góp của nông dân”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài xã luận “Lễ mừng Quốc khánh 02/9/1955” đăng trên Báo Nhân dân, số 549, ra ngày 03 tháng 9 năm 1955. Trước đó, lời kêu gọi này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc vào sáng ngày 02 tháng 9 năm 1955 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) trước hàng chục vạn đồng bào gồm đủ các giới, các dân tộc; trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi trọn vẹn, đất nước tạm phân chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đang tiến hành khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; quân dân miền Nam đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, hướng tới cuộc tổng tuyển cử thống nhất hai miền. Trong bối cảnh đó, lời kêu gọi của Bác đã làm nức lòng đồng bào, nhất là tầng lớp nông dân, động viên mọi người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, khắc phục trở ngại, hoàn thành thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Chủ trương: “Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân” và làm “giảm nhẹ đóng góp của nông dân” là một nội dung lớn trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nêu bật nghĩa vụ và trách nhiệm của chính quyền các cấp trong hệ thống chính trị phải làm mọi cách, tìm mọi biện pháp để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đưa nhân dân trở thành người làm chủ, đúng với chủ trương, đường lối xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân”.

Sau hơn 40 năm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, đất nước đang trên con đường phát triển mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng với thế giới, lời của Bác dạy năm xưa vẫn mang tính thời sự sâu sắc, là mục tiêu, động lực của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mỗi người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, là người chủ của đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, là quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; đồng thời, đó còn là một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; do đó hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngừng phấn đấu, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, có trình độ kỹ, chiến thuật cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, tích cực hưởng ứng thực hiện phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”“Quân đội chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, tham gia giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, … góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

 Để lãnh đạo quân đội tiến bộ không ngừng, các đồng chí cần phải trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, gần gũi quần chúng và gương mẫu về mọi mặt”.

Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lễ phong quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ cao cấp trong quân đội, ngày 01 tháng 9 năm 1959. Đây là thời điểm miền Bắc đang thực hiện kế hoạch 3 năm (1958-1960) cải tạo và bước đầu thực hiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; quân dân miền Nam đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chuyển từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đưa phong trào cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ người cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là cán bộ cấp tướng phải luôn phấn đấu, không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, gần gũi với bộ đội, với nhân dân, gương mẫu về mọi mặt. Đội ngũ sĩ quan cấp tướng quân đội đã trở thành những người lãnh đạo có uy tín, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Lời căn dặn của Bác đã trở thành phương châm hành động của mọi cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là đội ngũ tướng lĩnh quân đội đã thấu triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, tạo niềm tin trong quần chúng, cổ vũ, động viên quân và dân trên khắp hai miền Nam - Bắc nỗ lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ ở từng miền, góp phần vào thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Hiện nay, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, lời căn dặn của Bác vẫn là một trong những định hướng quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ. Đồng thời, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất cách mạng, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, làm cơ sở ngăn ngừa, đẩy lùi những nguy cơ tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nói chung, cán bộ cấp tướng nói riêng cần phải học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn giữ vững, phát huy và không ngừng xây dựng bản chất cách mạng, đặc biệt là bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc; xây dựng Quân đội vừa là lực lượng chính trị, vừa là công cụ bạo lực sắc bén, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân; đấu tranh bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát triển các quan hệ đối ngoại quân sự song phương và đa phương phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc trong tình hình mới.

  “Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Bản Cương lĩnh chính trị của Mặt trận là ngọn cờ đại đoàn kết toàn thể Nhân dân miền Nam để cùng nhau chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng. Nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa!”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam ngày 06 tháng 9 năm 1967, nhân dịp Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh chính trị. Bức thư được đăng trên Báo Nhân dân, số 4903, ra ngày 13 tháng 9 năm 1967.
Đây là thời điểm quân và dân cả nước đang tích cực đẩy mạnh kháng chiến, từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược. Ở miền Nam, cuộc kháng chiến có bước phát triển mạnh mẽ, giành được nhiều thắng lợi quan trọng, uy tín và vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và đánh giá cao vai trò của đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng, đó chính là sức mạnh vô địch để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Lời của Bác là sự động viên, khích lệ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam, đồng thời là động lực tinh thần to lớn, có tác dụng phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, để Đảng, Nhà nước quán triệt và cụ thể hoá trong lãnh đạo tốt việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cội nguồn sức mạnh để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Những thành tựu bước đầu của hơn 30 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng đặt nền móng và tạo đà cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo nhằm phát huy những thành tựu trong giai đoạn mới, đưa đất nước ngày càng phát triển, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, đoàn kết thống nhất là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp, trở thành một trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, không ngừng được củng cố và phát huy. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, quân đội là công cụ sắc bén để chiến đấu bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn quán triệt và xây dựng khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Trên cơ sở đoàn kết thống nhất trong nội bộ, không ngừng tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tăng cường củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.



  “Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc”, ngày 07 tháng 9 năm 1957.
Đây là thời điểm cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ mới sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Lúc này, miền Bắc đang trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó đặt ra phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ và năng lực, đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhắc nhở đối với người đảng viên phải luôn cố gắng vươn lên, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, tự nâng cao trình độ của mình. Đây cũng là yêu cầu của Bác, trước khi muốn cải tạo xã hội, tự thân người đảng viên phải tự cải tạo mình, tự học, tự rèn để không ngừng tiến bộ. Lời Bác dạy có tác dụng to lớn trong việc nâng cao nhận thức của người đảng viên, trước hết đối với việc xác định động cơ, thái độ phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực. Đồng thời, câu nói có ý nghĩa là phương châm hành động, mục tiêu phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập, tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên. Là người lãnh đạo, đảng viên phải là lực lượng xung kích, đi đầu, phải nêu gương về mọi mặt trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, đảng viên cần không ngừng cải tạo mình, tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều của đời sống xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực, đòi hỏi người đảng viên phải nâng cao bản lĩnh, trình độ, để không bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực.
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải thực sự là một tấm gương tốt cho bộ đội học tập, noi theo, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn; thường xuyên có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện mình. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phải luôn đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi cao, do vậy phải có động cơ, thái độ đúng đắn, rõ ràng. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được ý nghĩa của việc “tự cải tạo”, “tự nâng cao”, coi đó là một nhu cầu tự thân. Không tự ti, giấu dốt, luôn có thái độ cầu tiến bộ, xóa bỏ tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, vì tập thể, đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước. Có như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên mới thực sự mẫu mực về phẩm chất và năng lực, là tấm gương có sức lan tỏa rộng rãi, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

THÔNG CHỐT, CỰ CÃI LẠI LÒI MẶT PHẢN ĐỘNG NÒI!


          Đúng như dự đoán kẻ thông chốt, chửi bới lăng mạ lực lượng kiểm soát Covid-19 tại Q. Cầu Giấy hôm 5/9/2021 là Lê Trường Thanh - giảng viên ĐH Thủ Đô Hà Nội, một tên phản động nòi, có số má, cùng nhóm với Dũng xe ôm và Thúy Hạnh No.U. Kẻ từng ăn chực, nằm rề đàn đúm ở nhà Lê Quốc Quân và tham gia biểu tình yêu cá, yêu cây, chống giàn khoan...

          Thanh sinh năm 1973, thạc sĩ Địa lí, dạy khoa Sinh - Địa ĐH Thủ đô, theo Kito giáo. Nó từng đại diện cho phản động NoU Phan Văn Phong (chồng Trần Thị Nga Phủ Lý) trong thương vụ ứng viên tự do bầu cử QH 2015. Trong USB và trang cá nhân của y còn lưu trữ nhiều ảnh chụp Thanh tham gia biểu tình và ăn chơi cùng Dũng xe ôm, Bùi Tiến Hưng (anh trai Bùi Thanh Hiếu, người buôn gió), Thúy Hạnh 50k, Chí râu đen, bà đầm xòe ...!

          Mặc dù là thành viên của hội nhóm NoU, chống phá lâu nay, nhưng Thanh còn núp lùm, chưa có nhiều bài viết xuyên tạc chế độ, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia nên chưa đủ chứng cứ để các anh CA "mời trà".

          Sự việc hôm 5/9 có thể coi là "tại nạn nghề nghiệp" của đám rận, khi nhậu nhẹt đàn đúm xong, sẵn có tí hèm trong người, tự nhiên bản chất "côn đồ" nó tuôn ra trước bàn dân thiên hạ. Giờ thì vui rồi, đúng là người tính không bằng trời tính.